Ktetaichinh’s Blog

December 9, 2010

“Hô biến” lát sắn thành giọt xăng: Tốt nhưng..

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:22 pm
Tags: ,

.

“Hô biến” lát sắn thành giọt xăng: Tốt nhưng… (09/12/2010) – Tại sao Trung Quốc đất đồi núi, đất nông nghiệp nhiều hơn Việt Nam mà không phát triển trồng sắn? Trong khi, hiện tại, Trung Quốc là nhà nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam.Hội thảo Sử dụng và phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam tổ chức sáng nay 9/12 đăt câu hỏi, từ lát sắn biến thành xăng thân thiện môi trường đã thành hiện thực nhưng làm thế nào để ethanol là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế, xóa đói giảm nghèo?

Ông Nguyễn Phú Cường, Vụ Phó vụ KHCN Bộ Công thương cho rằng hiện nay chúng ta ¾ là đất đồi núi, diện tích trồng sắn chỉ 550.000ha, vậy nên không chỉ tập nên tập trung vào sắn mà phải đặt quy hoạch sắn với quy hoạch chiến lược của các vùng nguyên liệu cây khác. Bài học mía đường được đại diện bộ Công thương nhắc lại khi nhà máy mía đường có nhà máy nhưng lại thiếu nguồn nguyên liệu. Ông Cường nói tới hệ lụy trồng sắn ồ ạt có thể mất rừng: “Tây Nguyên có trường hợp người dân chui vào tận lõi rừng trồng sắn”
Ông Cường đặt câu hỏi, tại sao Trung Quốc đất đồi núi, đất nông nghiệp nhiều hơn Việt Nam mà không phát triển trồng sắn? Hiện tại, Trung Quốc là nhà nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam. Trong 10 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn sắn
“Trung Quốc nhập tinh bột sắn làm rượu Mao Đài rồi lại xuất sang chính Việt Nam”, ông Cường nói.
Ông Đỗ Tấn Bình, Chủ tịch HĐQT công ty TNHH BT, một doanh nghiệp lớn sản xuất ethanol từ sắn cũng lưu ý: “Tháng 9/2009 trong khi chúng ta đang tổ chức hội nghị ethanol thì Trung Quốc cũng làm hội nghị với tỉnh Tây Ninh (tỉnh có diện tích trồng sắn lớn nhất VN). Viện trưởng IpSard, TS Đặng Kim Sơn đánh giá việc phát triển trống sắn hiện nay tuy không ảnh hưởng tới an ninh lương thực nhưng trồng sắn không tác động lớn tới xóa đói giảm nghèo.
Nghiên cứu IpSard cho thấy, quy mô nhỏ và không có cơ chế hợp tác bền vững là những yếu tố tác động tiêu cực tới việc tạo ra giá trị gia tăng và sự liên kết giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị.
“Điều này khiến người trồng không đầu tư dài hạn, sẵn sàng bán sản phẩm kém chất lượng vì thương lái vẫn thu mua, dẫn tới thu nhập không ổn định.”
Còn theo ông Đỗ Thanh Hòa, Giám đốc Sở Công thương Tây Ninh, tỉnh có diện tích trồng sắn 50.000ha việc trồng sắn ồ ạt cũng dẫn tới các cơ sở chế biến sắn chưa chuẩn bị đầy đủ hạ tầng để bảo đảm môi trường. Hiện Tây Ninh có 82 cơ sở sản xuất tinh bột sắn.
“Việc ô nhiễm 82 cơ sở ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường và rất khó giải quyết”, ông Hòa thừa nhận.

Advertisements

July 9, 2010

Không dễ xuất hàng sang Trung Quốc

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:22 am
Tags: ,

SGTT – Sau khi có tin Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ (NDT) so với đôla Mỹ, tại Móng Cái, NDT cũng tăng giá so với đồng Việt Nam, những tưởng doanh nghiệp xuất khẩu sang Trung Quốc sẽ dễ dàng hơn. Nhưng không…

Bến vận chuyển hàng hoá xuất khẩu qua sông Ka Long thời gian gần đây cũng vắng vẻ, không sầm uất, nhộn nhịp như thời gian trước khi Trung Quốc tăng giá đồng NDT, siết chặt quản lý biên mậu. Ảnh: Hữu Lực

Mấy ngày gần đây, các thương nhân Việt Nam ở Móng Cái hầu như đã thuộc “nằm lòng” những thông tin từ các ngân hàng bên Trung Quốc đưa sang, đó là việc nâng giá đồng nhân dân tệ (NDT) với mức 0,43% so với đồng USD, tức là từ 6,832 NDT/USD, lên 6,790 NDT/USD và dự báo đến cuối năm NDT sẽ tăng 1,9%.

Lợi tỷ giá nhưng… tắc đường

Ông Phạm Văn Tuệ, phó tổng giám đốc công ty cổ phần thương mại Đồng Tâm – Móng Cái (Quảng Ninh) cho biết, hiện nay các thanh toán giao dịch biên mậu với doanh nghiệp Trung Quốc vẫn áp dụng lối “truyền thống” là thanh toán bằng đồng NDT qua các ngân hàng thương mại của Việt Nam, có chi nhánh tại Móng Cái.

Ông Tuệ phân tích, trong xuất khẩu hàng Việt Nam sẽ có lợi vì các doanh nghiệp Việt Nam mua hàng bằng tiền VND đã có hợp đồng thoả thuận thanh toán trước cho các cơ sở thu mua trong nước, nay phía Trung Quốc nâng giá NDT thì doanh nghiệp Việt Nam bán hàng thu NDT có lợi. Hiện tại giá NDT đã tăng khoảng 15 đồng, từ 2.780 – 2.795 đồng/NDT.

Tuy nhiên, nói là có lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng sang Trung Quốc nhưng “lợi quá ít” vì phía Việt Nam chủ yếu xuất theo đường tiểu ngạch, mà đường này đang tắc vì nhiều nguyên nhân.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, chủ tịch UBND thành phố Móng Cái cho biết, các hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam gần đây gặp nhiều khó khăn do Trung Quốc tăng cường công tác quản lý biên mậu và kiểm tra chặt chẽ về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, tuyến đường quốc lộ 18A đang trong giai đoạn sửa chữa, nâng cấp nên thường xuyên gây ra tắc nghẽn; hạ tầng phục vụ xuất nhập khẩu, điểm thông quan hàng hoá trên địa bàn thành phố xuống cấp dẫn đến việc xuất khẩu hàng hoá sang Trung Quốc ách tắc.

Gần 2.000 container hàng hoá ách tắc ở Móng Cái

“Đồng NDT tăng giá, Trung Quốc tăng cường siết chặt các hoạt động biên mậu, các mặt hàng tạm nhập tái xuất như hàng đông lạnh, thiết bị máy tính cũ, lốp xe ôtô cũ đã qua sử dụng, khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam khốn đốn”, ông Nguyễn Hồng Hải, giám đốc công ty xuất nhập khẩu Hồng Hải chuyên làm dịch vụ vận tải, kinh doanh hàng điện tử than thở.

Theo thống kê nhanh của UBND thành phố Móng Cái ngày 24.6, hiện tại trên địa bàn thành phố còn tồn đọng 1.769 xe hàng các loại, trong đó có hàng thực phẩm đông lạnh là 721 container. Bảng giá của các kho ngoại quan tại Móng Cái ghi rõ, mỗi ngày để cắm điện cho một container hàng đông lạnh là 350.000 đồng, lưu container là 40 USD/ngày, lưu xe container vận chuyển 1 triệu đồng/ngày. Các cơ quan chức năng ở Móng Cái hiện nay đều trong tình trạng “nơm nớp” lo ngại các doanh nghiệp kinh doanh hàng đông lạnh “bỏ của chạy lấy người” và phải tăng cường người giám sát vì sợ chủ hàng đổ hàng đông lạnh đã trữ lâu trong container ra môi trường.

Ở nhiều ngành hàng, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu theo đường mậu biên. Điển hình là mủ cao su, xuất sang Trung Quốc chiếm 63,6% tổng sản lượng 231.000 tấn của sáu tháng đầu năm. Trong đó, xuất tiểu ngạch tới 80%.

Thương nhân Vương Quan Trung, người Trung Quốc kinh doanh mặt hàng ăn uống Trung Quốc tại chợ trung tâm Móng Cái cho biết kể từ 1.6, luật An toàn vệ sinh thực phẩm của Trung Quốc đã có hiệu lực nên hiện nay Trung Quốc chỉ cho các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu chính ngạch để kiểm soát chất lượng, tạm dừng làm thủ tục nhập khẩu tiểu ngạch và tăng cường chống buôn lậu, không cho mặt hàng thực phẩm lậu vào nội địa.

Theo tiết lộ của một số thương nhân Việt Nam tại Móng Cái, trong các container đông lạnh có khá nhiều hàng tạm nhập tái xuất không thể chuyển sang xuất khẩu chính ngạch được do các mặt hàng đông lạnh nhập từ nước ngoài không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ và vệ sinh an toàn thực phẩm. Và trong số những lô hàng này, có cả những container “chân gà và nội tạng gia súc, gia cầm” đang được cắm điện bảo quản.

Trước tình hình này, UBND thành phố Móng Cái đã có công văn đề nghị UBND tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo cục Hải quan tỉnh có văn bản đề nghị chi cục Hải quan Hải Phòng thông báo cho doanh nghiệp biết và dừng các thủ tục tái xuất các mặt hàng đông lạnh ra Móng Cái.

Về chính sách biên mậu với Trung Quốc, chủ tịch UBND thành phố Móng Cái đề nghị tỉnh Quảng Ninh nên có chủ trương thành lập trung tâm nghiên cứu thị trường đặt tại Móng Cái để nghiên cứu thu thập thông tin các chính sách biên mậu của Trung Quốc, tránh thụ động như hiện nay, tránh tổn thất cho doanh nghiệp

June 1, 2010

Đổi danh mục hàng mua, bán qua biên giới từ 1/6

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:50 pm
Tags: , ,
Đổi danh mục hàng mua, bán qua biên giới từ 1/6
Cập nhật lúc : 9:08 AM, 01/06/2010

Từ ngày 1/6 tới các quy định về hàng hóa, đối tượng được hưởng cơ chế ưu đãi càng cụ thể bao nhiêu, các lực lượng chức năng càng dễ tổ chức thực hiện, quản lý hiệu quả hơn.

Lực lượng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu tỉnh Lạng Sơn đã chuẩn bị đủ điều kiện để triển khai thực hiện Quyết định 139/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới.

Đồng thời, việc chuẩn bị này còn để triển khai thực hiện Thông tư quy định hàng hóa được sản xuất từ nước có chung biên giới nhập khẩu vào Việt Nam dưới hình thức mua, bán, trao đổi hàng hóa cư dân biên giới thời kỳ 2010-2012 có hiệu lực từ ngày 1/6, nhằm ngăn chặn tình trạng chủ đầu nậu lợi dụng chính sách ưu đãi để thuê cư dân biên giới vận chuyển hàng lậu, tiếp tay cho gian thương, gây khó khăn cho công tác chống buôn lậu.

Đối tượng được hưởng cơ chế

Đối tượng được hưởng cơ chế mua, bán, trao đổi hàng hóa không phải nộp thuế nhập khẩu được quy định rõ hơn, trước hết là khái niệm về cư dân biên giới là công dân có hộ khẩu thường trú tại các khu vực biên giới Việt Nam và các nước có chung biên giới được mua, bán, trao đổi hàng hóa theo quy định.

Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hóa, chợ được lập ra trong Khu kinh tế cửa khẩu, Ban chỉ đạo thương mại biên giới; Chợ khu kinh tế cửa khẩu là chợ được lập ra trong các khu kinh tế cửa khẩu.

Ông Nguyễn Hữu Trí, Chi Cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Cốc Nam, huyện Văn Lãng cho rằng có những thời điểm cửa khẩu Cốc Nam có hàng nghìn lượt cư dân mỗi ngày đăng ký thủ tục sang biên giới mua, bán, trao đổi với giá trị hàng hóa hàng tỷ đồng không phải chịu thuế nhập khẩu.

Không chỉ loại hàng hóa này mà cả hàng lậu đi qua đường mòn cũng lợi dụng quy chế này để trà trộn, hợp thức hóa bằng chứng từ hóa đơn trên khâu lưu thông để vận chuyển sâu vào thị trường nội địa.

Từ ngày 1/6 tới các quy định về hàng hóa, đối tượng được hưởng cơ chế ưu đãi càng cụ thể bao nhiêu, các lực lượng chức năng càng dễ tổ chức thực hiện, quản lý hiệu quả hơn.

Hàng hóa mua, bán, trao đổi

Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam dưới hình thức mua, bán, trao đổi hàng hóa cư dân biên giới được sản xuất từ nước có chung biên giới phù hợp với danh mục hàng hóa do Bộ trưởng Bộ Công thương công bố (sau khi đã thống nhất với các bộ, ngành, cơ quan liên quan) được miễn thuế nhập khẩu và các loại thuế khác với giá trị không quá hai triệu đồng/người/ngày/lượt.

Để hàng hóa mua, bán, trao đổi phù hợp với nhu cầu phục vụ đời sống của cư dân biên giới, không bị chủ hàng lợi dụng cư dân vận chuyển hàng trốn thuế, Bộ Công thương có Thông tư quy định 35 nhóm mặt hàng.

So với quy định tại Quyết định 254 trước đây, các mặt hàng được quy định mới cho phù hợp và cụ thể hơn như sản phẩm nông nghiệp, giống cây, vật liệu xây dựng nhằm tạo cơ hội cho cư dân biện giới trao đổi hàng hóa thiết yếu, cải thiện nâng cao đời sống.

Đặc biệt là nhóm mặt hàng linh kiện điện tử, vải các loại, hàng sành sứ đã không nằm trong danh mục trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới nhằm ngăn chặn tình trạng bị lợi dụng.

Ông Vũ Thanh Minh, Phó Trạm trưởng Trạm kiểm soát liên ngành Dốc Quýt, tỉnh Lạng Sơn cho biết lực lượng của Trạm đã học tập và chuẩn bị kỹ việc triển khai Quyết định và Thông tư quy định về hàng hóa mua, bán, trao đổi của cư dân biên giới, tạo điều kiện cho cư dân biên giới được hưởng cơ chế ưu đãi; đồng thời ngăn chặn kẻ lợi dụng quy chế này để thuê mướn, buôn bán hàng nhập khẩu trốn thuế đã kéo dài trong nhiều năm qua.

May 27, 2010

Ôtô nhập khẩu: Bán ra chậm, nhập vẫn tăng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:26 pm
Tags: ,
Cập nhật lúc : 8:40 AM, 26/05/2010
Lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu về nước vẫn đang khá lớn – Ảnh: Đức Thọ.

Mặc dù tình hình bán hàng của phần lớn các salon ôtô nhập khẩu đang gặp nhiều khó khăn song theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, lượng xe về nước qua hệ thống các cảng biển trong tháng 5/2010 dự tính vẫn sẽ tăng đáng kể.

Cụ thể, Tổng cục Thống kê vừa đưa ra con số ước tính kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc tháng 5 đạt khoảng 4.500 chiếc về lượng và 78 triệu USD về giá trị, tăng khoảng 1.000 chiếc và 17 triệu USD so với tháng liền kề trước đó.

Cách đây một tháng, cơ quan này đã đưa ra con số ước tính kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc tháng 4/2010 đạt khoảng 3.000 chiếc, giảm khoảng 1.000 chiếc so với tháng 3. Tuy nhiên, con số thực hiện sau khi đã có thống kê đầy đủ cho thấy kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc trong tháng 4 cao hơn ước tính 500 chiếc.

Tính cộng dồn 4 tháng đầu năm, lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu về nước đã đạt 13.100 chiếc, tương ứng giá trị kim ngạch 223 triệu USD. Nếu cộng cả con số chưa chính thức của tháng 5, ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc 5 tháng đầu năm đạt khoảng 17.600 chiếc về lượng và 301 triệu USD về giá trị, tăng 2,1% về lượng trong khi giảm 2,6% về giá trị so với cùng kỳ 2009.

Từ các con số trên có thể thấy rằng tình trạng ế ẩm tại thị trường ôtô nhập khẩu chưa “sâu” đến mức có thể ảnh hưởng lớn đến kim ngạch nhập khẩu ôtô nói chung.

Qua khảo sát của phóng viên có thể thấy hai biểu hiện khá rõ nét tại thị trường ôtô nhập khẩu hiện nay.

Một là tình trạng ế ẩm thực tế chỉ đang diễn ra cục bộ tại thị trường Hà Nội. Bởi lẽ, trong khi lượng xe bán ra của các salon ôtô Hà Nội rất chậm thì gần như ngược lại, không khí tại các salon ở khu vực Tp.HCM lại đang khá sôi động.

Hai là tình trạng ế ẩm hầu như chỉ diễn ra đối với các loại xe nhập khẩu qua kênh không chính thức. Khi trao đổi với phóng viên, đại diện một số nhà phân phối ôtô chính thức như Euro Auto (BMW), PSC (Porsche) hay Liên Á Quốc tế (Audi) đều cho biết tình hình bán hàng đang rất khả quan, thậm chí thường xuyên rơi vào cảnh thiếu hàng để giao cho khách.

Những biểu hiện này cũng có thể coi là lời giải cho câu hỏi vì sao trong khi đa số các salon gặp nhiều khó khăn ở khâu bán hàng thì kim ngạch nhập khẩu vẫn chưa giảm hoặc thậm chí còn tăng lên như ước tính của Tổng cục Thống kê.

Kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc 5 tháng gần đây
Lượng (chiếc) Giá trị (triệu USD)
Tháng 1/2010 3.400 55
Tháng 2/2010 3.000 45
Tháng 3/2010 4.000 62
Tháng 4/2010 3.500 61
Tháng 5/2010 (ước tính) 4.500 78
Nguồn: Tổng cục Thống kê

May 17, 2010

Doanh nghiệp điện tử, điện lạnh, CNTT: Nguy cơ “chết” vì thuế nhập khẩu!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:07 pm
Tags: , ,


Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 13:21:00
Đại diện cho Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam, Phó Chủ tịch Trần Quang Hùng, đề nghị Bộ Tài chính xem xét giảm thuế nhập khẩu cho một loạt sản phẩm điện tử, điện lạnh, CNTT. Ảnh: B.M.

Ngành công nghiệp phụ trợ trong nước chưa thể đáp ứng nhu cầu nên doanh nghiệp sản xuất lắp ráp hàng điện tử, điện lạnh, CNTT buộc phải nhập khẩu linh kiện từ nước ngoài. Với mức thuế nhập khẩu khá cao như hiện nay thì nhiều doanh nghiệp điện tử, điện lạnh, CNTT đang “khóc dở mếu dở” do quá yếu thế cạnh tranh trên thương trường.

Ngành sản xuất máy tính Việt Nam tổn thất hơn 1.000 tỷ đồng/năm(!)

Hiện có khoảng 10 doanh nghiệp sản xuất – lắp ráp máy tính có thương hiệu như CMS, FPT Elead, VTB, Mekong Xanh… và hàng ngàn doanh nghiệp, cửa hàng lớn nhỏ cung cấp khoảng 60% sản lượng máy cho nhu cầu sử dụng trong nước. Mức giá chênh lệch giữa 1 bộ máy tính trong nước và 1 bộ máy tính nước ngoài trung bình khoảng 1 triệu đồng). Nếu không có ngành sản xuất máy tính trong nước thì 60% vừa nêu sẽ phải mua của thương hiệu nước ngoài. Dựa theo dự báo của IDC về tổng nhu cầu máy tính trong nước năm 2010 là 1,77 triệu máy, năm 2011 là 2,12 triệu máy, năm 2012 là 2,46 triệu máy, thì ước tính sự tổn thất kinh tế sẽ là 1.060 tỷ đồng (năm 2010), 1.270 tỷ đồng (2011), và 1.470 tỷ đồng (2010).

Những con số vừa nêu cho thấy rất cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp nội địa. Song có một thực tế là nguồn cung cấp phụ tùng linh kiện máy tính hiện tại phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu từ nước ngoài.

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho biết vẫn chưa có doanh nghiệp trong nước nào (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) sản xuất hoặc dự kiến sẽ sản xuất phụ tùng linh kiện máy tính. Cách đây một vài năm, đã có doanh nghiệp xây dựng đề án tiền khả thi sản xuất bàn phím và chuột máy tính song thực tế đến giờ đề án vẫn chỉ nằm trên giấy.

Trong khi đó, thuế nhập khẩu lại vẫn đang là “lực cản” đối với các doanh nghiệp trong nước.

Ông Trần Quang Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam khẳng định: mặc dù đã có một số bộ phận, linh kiện được điều chỉnh giảm trong biểu thuế năm 2010 so với năm 2009 nhưng các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp máy tính trong nước vẫn tiếp tục phải chịu bất lợi về chênh lệch mức thuế nhập khẩu giữa “bộ phận, linh kiện điện tử, máy tính” và “sản phẩm nguyên chiếc”. Cụ thể, do đặc điểm toàn cầu hoá và chuyên môn hoá của ngành sản xuất máy tính, hầu hết các nhà sản xuất máy tính lớn đều có cơ sở sản xuất ở Trung Quốc, nghĩa là đạt “tiêu chuẩn” để được nhận C/O form E – được hưởng mức thuế suất ưu đãi đặc biệt 0% theo quy định cắt giảm thuế quan ACFTA. Trong khi các nhà sản xuất máy tính Việt Nam phải chịu thuế nhập khẩu linh kiện máy tính với mức 3% (nghĩa là thuế nhập khẩu đối với sản phẩm nguyên chiếc “ưu đãi” hơn hẳn so với linh kiện).

Thực tế, một số nhà đầu tư nước ngoài trong ngành điện tử – CNTT ở Việt Nam đã chuyển từ hình thức liên doanh sang 100% vốn sử hữu, chuyển từ sản xuất sang nhập khẩu và phân phối sản phẩm. Hiện trạng nhập khẩu ồ ạt hàng nguyên chiếc với mẫu mã đẹp, giá thành hạ từ Trung Quốc và các nước ASEAN đang buộc các doanh nghiệp trong nước phải chuyển hướng sản xuất kinh doanh, thu hẹp quy mô sản xuất, đa dạng hoá các ngành nghề kinh doanh để tồn tại, thậm chí một số doanh nghiệp có thể phải ngừng sản xuất.

Để tháo gỡ nguy cơ thua lỗ nêu trên cho doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp máy tính trong nước, Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam vừa kiến nghị Bộ Tài chính xem xét giảm thuế nhập khẩu tất cả các loại phụ tùng linh kiện lắp ráp máy tính xuống 0%.

“Nếu việc giảm thuế nhập khẩu linh kiện máy tính không được giải quyết sớm thì các doanh nghiệp Việt Nam hoặc phải chuyển sang thuê sản xuất – lắp ráp máy tính ở nước ngoài, hoặc đình chỉ sản xuất, chuyển sang nhập khẩu và phân phối máy tính thương hiệu nước ngoài. Điều này đi ngược lại Quyết định số 160/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tổng thể và chính sách bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước”, ông Hùng lưu ý.

Điện tử, điện lạnh “chịu thiệt” khi ngành công nghiệp phụ trợ còn “non”

Trước hết, về sản phẩm điện tử tiêu dùng, trong nước không còn doanh nghiệp nào sản xuất đèn hình màu CRT nên các nhà sản xuất ti vi trong nước phải nhập khẩu CRT (chiếm tới 50% giá thành ti vi) để sản xuất ti vi màu phục vụ người tiêu dùng có thu nhập thấp.

Với thuế nhập khẩu CRT hiện hành (thuế MFN là 10% cho loại 21” hoặc 5% cho các loại khác) thì ti vi “made in Vietnam” không thể cạnh tranh nổi với ti vi nguyên chiếc nhập khẩu từ các nước ASEAN (chỉ phải chịu mức thuế nhập khẩu 5%”.

Một số sản phẩm điện tử tiêu dùng khác như đầu đĩa ĐV, dàn âm thanh… cũng đang trong tình trạng tương tự.

Để trợ giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh với hàng nhập khẩu, Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam kiến nghị Bộ Tài chính xem xét giảm thuế nhập khẩu linh kiện cho các sản phẩm điện tử, trong đó, điều chỉnh thuế suất MFN xuống 05 đối với các loại đèn hình màu CRT.

Chung cảnh “dở khóc dở cười” với các sản phẩm điện tử và CNTT, các sản phẩm điện lạnh cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước ASEAN. Do ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa phát triển nên doanh nghiệp điện lạnh cũng phải nhập khẩu linh kiện từ nước ngoài.

Hiện tại, giá nhập linh kiện trong khối ASEAN không có tính cạnh tranh hoặc không phải linh kiện nào cũng đủ điều kiện tiêu chuẩn được được hưởng ưu đãi thuế. Vì thế, Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cũng đã kiến nghị giảm thuế cho 27 mã hàng hoá – linh kiện cho các sản phẩm điện lạnh.

Dựng “hàng rào bảo hộ”

Biện pháp dựng “hàng rào bảo hộ” đã được các nước trên thế giới áp dụng để bảo hộ hàng sản xuất trong nước, song tại Việt Nam, dường như các cơ quan quản lý vẫn còn e ngại và chưa tận dụng được “sức mạnh” của biện pháp này.

Nhằm giúp doanh nghiệp nội tăng thế và lực thông qua việc tăng tính cạnh tranh về giá, Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam đã đề xuất một “chiêu” mới, đó là áp dụng mức thuế VAT 5% cho sản phẩm điện tử sản xuất trong nước và giữ nguyên mức 10% cho các sản phẩm nhập khẩu nguyên chiếc.

“Có thể nói các nhà sản xuất trong nước đang bị “lép vế” trên sân nhà khi sản phẩm nội không thể cạnh tranh với sản phẩm nhập ngoại mặc dù về mẫu mã, chất lượng không hề thua kém. Nguyên nhân chỉ do tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng Việt Nam, thích chọn sản phẩm nhập ngoại để thể hiện “đẳng cấp”, bất kể sản phẩm trong nước có tính năng nổi trội và giá “mềm” hơn”. Biện pháp áp thuế VAT nêu trên sẽ giúp đưa sản phẩm Việt Nam tới người tiêu dùng Việt Nam với giá cả cạnh tranh và giúp người tiêu dùng thay đổi cách nhìn đối với “hàng nội””, ông Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam khuyến nghị.

May 12, 2010

“Nhà giàu” chuộng nông sản ngoại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:38 am
Tags: , ,
09/05/2010 06:17:35

Mặc dù là nước nông nghiệp với thế mạnh là các sản phẩm nông sản, nhưng con số thống kê hàng tỉ USD nhập khẩu nông sản, thực phẩm ở nước ta khiến người ta giật mình.

Số liệu thống kê tháng 4 cho thấy, nhập khẩu nhiều loại nông sản, thực phẩm tiếp tục tăng. Trước đó, một báo cáo chi tiết hơn của Bộ Công thương cho biết, hai tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng nông sản và thực phẩm chủ yếu đạt khoảng 280 triệu USD, tăng 56% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong đó mặt hàng tăng nhiều nhất là gạo tăng 152%; rau, củ tăng 127%; dầu mỡ động thực vật đã tinh chế tăng 96%; chế phẩm từ ngũ cốc, tinh bột, sữa (bánh kẹo, sữa đóng hộp…) tăng 99%; sản phẩm thịt cá, động vật tăng 79% và chế phẩm ăn được khác tăng 84%.

Năm 2009, tổng kim ngạch nhập khẩu các nhóm hàng là 1,5 tỉ USD.

Mô tả ảnh.
Hai tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng nông sản và thực phẩm chủ yếu đạt khoảng 280 triệu USD

Theo ông Đoàn Xuân Hòa, Phó cục trưởng Cục chế biến, Thương mại, Nông lâm thủy sản và Nghề muối, hiện nay VN mới chỉ chú trọng đến thị trường xuất khẩu mà chưa quan tâm đúng mức đến sự quan trọng của thị trường trong nước.

Một thực tế là rất nhiều sản phẩm của nước ta được xuất khẩu đi “nửa vòng trái đất” nhưng lại không đi được đoạn đường từ Nam ra Bắc. Ví dụ, xoài, dưa hấu của VN được xuất khẩu đi rất nhiều nước nhưng ta vẫn phải nhập hoa quả từ Mỹ, Úc…

Những mặt hàng xuất khẩu đi nước ngoài chủ yếu là những loại có chất lượng cao, trong khi đó, nông sản tiêu dùng trong nước lại thiếu những loại có chất lượng cao. Điều đó khiến cho một bộ phận người dân có thu nhập cao phải tìm đến các sản phẩm nhập ngoại.

Ông Hòa cho biết, vấn đề hiện nay là phải chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng chuyển từ lượng sang chất. Một thực tế là các mặt hàng nông sản trong nước đang rơi vào tình trạng thừa về số lượng nhưng thiếu về chất lượng.

Đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, vì vậy muốn hướng đến thị trường nội địa thì sản phẩm đó phải có chất lượng tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, phải đa dạng hóa sản phẩm, bao bì, kiểu dáng đẹp, bắt mắt, giá cả phải chăng, phù hợp với khẩu vị của người dân từng vùng, miền.

Đặc biệt, muốn phát triển được thị trường nội địa, các sản phẩm cũng phải xây dựng thương hiệu cho riêng mình và quáng bá rộng rãi tới người tiêu dùng.

Một ví dụ được ông Hòa đưa ra là trước đây, nước ta chủ yếu là bán hạt điều nhân (chiếm đến 90% thị trường), bây giờ do không đủ lao động, nên chuyển sang dùng cơ giới hóa. Vì vậy, số lượng hạt điều vỡ dập rất nhiều. Tuy nhiên, nếu nhà sản xuất biết sử dụng những nhân vỡ này làm nhân bánh kẹo thì chất lượng cũng ngon không kém gì hàng nhập ngoại, lại có thể tạo nên những sản phẩm rất phong phú từ hạt điều.

Mô tả ảnh.
Chế biến hạt điều trong nước

Một yếu tố nữa khiến cho việc nhập khẩu nông sản tăng đột biến, theo ông Hòa là do tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng VN.

“Không phủ nhận những loại hoa quả nước ngoài là rất ngon và họ có những thành tựu KHKT tốt để làm ra những sản phẩm tốt. Nhưng không hẳn chúng ta cứ phải ăn những sản phẩm ấy mới là tốt và chắc gì những sản phẩm Tây đã tốt hơn những sản phẩm Ta”, ông Hòa khẳng định.

Tuy nhiên, một bộ phận người dân có tâm lý có tiền thì phải xài hàng sang và hàng sang thì phải là hàng nhập ngoại. Dùng hàng càng đắt tiền thì lại càng cảm thấy yên tâm về chất lượng.

Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước thì nhập hàng ngoại về bán có thể thu nhập được lợi nhuận cao hơn vì lợi dụng tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng, nhiều cơ sở sản xuất có tâm lý không thích sản xuất đồ cho người Việt Nam.

Còn theo lý giải của Bộ Công thương trước đó với báo chí, lượng nông sản và thực phẩm nhập tăng mạnh do đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện: “Ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM nhu cầu đối với hoa quả cao cấp nhập khẩu từ các nước phát triển như Úc, Mỹ… ngày càng tăng cao nên lượng nhập khẩu cũng gia tăng. Đối với mặt hàng thịt và sản phẩm thịt, ngoài nhu cầu nhập khẩu để chế biến hàng thực phẩm, nhu cầu sử dụng thịt nhập khẩu của người dân cũng gia tăng”.

Mặt khác, đối với mặt hàng rau, củ, quả, ta nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc – chiếm 70% kim ngạch nhập khẩu rau quả năm 2009 – qua đường biên mậu do rau quả được trồng với kỹ thuật cao, lại trồng được quanh năm nên lượng rau, củ, quả tương đối dồi dào… Trong khi đó, rau quả của Việt Nam hay bị thiếu hụt nguồn cung trong những lúc trái vụ. Một số loại hoa quả chất lượng kém và chỉ có thời vụ ngắn.

Tuy nhiên, theo ông Hòa, thực tế số lượng hoa quả nhập khẩu này không đáng kể, chủ yếu phục vụ những đối tượng cao cấp, dùng trong khách sạn, nhà hàng sang trọng. Hiện nay chúng ta cũng không phải nhập khẩu rau vì rau sạch, rau tươi, rau trái vụ trong nước đều sản xuất được và nguồn cung rất dồi dào.

Giá trị nhập khẩu tăng đột biến là do lượng cao su và bông, đều tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước

“Nếu xét riêng giá trị nhập khẩu nông sản trong tháng 4 thì con số 1,5 tỷ USD là khá cao, nhưng nếu xét trên tổng giá trị nhập khẩu của cả nước thì là con số không lớn, nhóm mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất phải kể đến điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số, ô tô, xe máy,…”, ông Hòa cho biết.

April 18, 2010

Xung quanh đề xuất “gạt” vàng khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu

Nếu loại trừ “yếu tố” vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng so với cùng kỳ.

Một lần nữa, nhập khẩu vàng lại được cho là nguyên nhân chính dẫn tới nhập siêu trong quý 1/2010.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm đã giảm 1,6%, nhưng với việc nhập khẩu hơn 10 tấn vàng trong cùng thời kỳ, kim ngạch nhập khẩu tăng tới 37,6%.

Kết quả là nhập siêu 3 tháng đầu năm 2010 ước đạt 3,5 tỷ USD, tương đương trên 25% kim ngạch xuất khẩu, một tỷ lệ vượt chỉ tiêu Quốc hội đặt ra, khống chế dưới 20%.

Và sự việc càng được xới xáo lên, sau khi Hiệp hội Kinh doanh vàng dự kiến đề nghị Ngân hàng Nhà nước “gạt” vàng ra khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu. Vậy đâu là mục tiêu các bên liên quan đặt ra trong sự việc này?

Lý do “gạt” vàng

Tại báo cáo trình lên Chính phủ trong kỳ họp cuối tháng 3, đầu tháng 4 vừa rồi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán, nếu loại trừ “yếu tố” vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng 11,9%.

Với báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mà thực chất người “chắp bút” thường lệ là Tổng cục Thống kê, những tác động của vàng trong hoạt động thương mại quốc tế, cũng như cân đối xuất nhập khẩu thường được đưa ra công khai để người xem hiểu đúng vấn đề.

Nhưng đã vậy, Bộ Công Thương dường như còn “rộng tính” hơn. Theo ý kiến một thứ trưởng của bộ này, cách tính toán của Bộ Công Thương cho thấy, nếu không tính vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng xấp xỉ 18%; và thậm chí có thể tăng đến 24% nếu dầu thô không phải “để dành” khoảng 2 triệu tấn cho sử dụng trong nước.

“Rõ ràng, việc chúng ta đưa vàng vào cân đối xuất nhập khẩu và cân đối nhập siêu hoàn toàn không phản ánh đúng tương quan thực tế. Bởi vì, vàng thực ra không phải hàng hóa đơn thuần mà đây là một thứ ngoại tệ, cho nên nhập vàng làm tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia lên, nói chung”, vị thứ trưởng trên cho biết.

Không lâu sau khi những thông tin trên được báo chí đưa tin, xuất hiện ý kiến “ủng hộ” từ phía Hiệp hội Kinh doanh vàng. Theo hiệp hội này, Ngân hàng Nhà nước nên đưa vàng ra khỏi danh sách mặt hàng xuất nhập khẩu, và xem vàng như một ngoại tệ mạnh.

Không tạo được đồng thuận

Tuy nhiên, những quan điểm nghiêng về kiến nghị gạt vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu dường như khá đơn độc với đề xuất của mình. Theo tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 7/4, Ngân hàng Nhà nước chưa tính đến việc này.

Là người có lẽ sẽ phúc đáp đề xuất của Hiệp hội Kinh doanh vàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu giải thích rằng, việc nhập vàng phải dùng đến ngoại tệ, như vậy vẫn có ảnh hưởng đến cán cân thanh toán.

Chịu trách nhiệm chính trước con số nhập siêu lớn trong quý 1, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, trong một cuộc trả lời trực tiếp VnEconomy bên lề Hội nghị cấp cao ASEAN 16, khẳng định: “Vàng vẫn phải tính vào thống kê xuất nhập khẩu, vì nó nằm trong các hoạt động trao đổi thương mại”.

Giải thích cho việc bộ này đưa ra con số tăng trưởng xuất khẩu khi loại vàng khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu, Bộ trưởng Hoàng cho rằng, khi so sánh tăng trưởng và xu hướng xuất nhập khẩu thì không nên tính vàng vào.

Bởi nếu không, sẽ làm sai lệch cách nhìn nhận về xuất, nhập khẩu và nhập siêu, do cân đối này sẽ lệ thuộc nhiều vào thời điểm xuất hay nhập khẩu vàng, và việc điều chỉnh chính sách tiền tệ, đặc biệt là tỷ giá, Bộ trưởng Hoàng cho biết.

Ông khẳng định: “Chúng tôi chỉ đề nghị, khi xem xét so sánh tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu thì không nên tính vàng vào, chỉ riêng cái đó thôi. Chứ còn thống kê vẫn phải tính”.

Về phía cơ quan lập và công bố báo cáo tình hình xuất nhập khẩu hàng tháng, Tổng cục Thống kê cho rằng việc đưa vàng vào danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu như hiện nay là đúng thông lệ quốc tế.

Theo một số tài liệu được bà Lê Thị Minh Thủy, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại, Dịch vụ và Giá cả (Tổng cục Thống kê) gửi cho VnEconomy trước đó, từ năm 1998, phương pháp thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa đã tuân theo các chuẩn mực của thống kê Liên hợp quốc (khuyến nghị IMTS.Rev.2), và Qũy tiền tệ quốc tế (liên quan đến thống kê Cán cân thanh toán – BPM5).

Theo bà Thủy, việc thống kê vàng trong danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu như hiện nay thể hiện đúng luồng hàng hóa vào/ra khỏi phạm vi quốc gia và phản ánh trong cán cân xuất, nhập khẩu.

Làm rõ thêm quan điểm trên, Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê) Bùi Bá Cường khẳng định, chỉ có Ngân hàng Nhà nước xuất, nhập khẩu vàng mới coi là vàng tiền tệ, còn các doanh nghiệp ngân hàng hoặc phi ngân hàng khác khi nhập hay xuất vàng đều coi là hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa bình thường.

“Khi quan niệm vàng là xuất hay nhập khẩu hàng hóa thì nó sẽ tác động đến tính toán vĩ mô. Nếu loại bỏ vàng ra khỏi thống kê xuất, nhập khẩu thì sẽ tác động ngay đến việc nhìn nhận về cán cân thương mại”, ông nói.

* Theo thông lệ quốc tế hiện nay, vàng với ba chức năng là hàng hóa (sử dụng cho sản xuất, chế tác, kinh doanh), phương tiện lưu giữ giá trị và phương tiện thanh toán, được phân làm hai loại: vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ, hay còn gọi là vàng hàng hóa.

Vàng tiền tệ là vàng do các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ sở hữu và nắm giữ làm tài sản dự trữ quốc gia. Nếu cơ quan này mua, bán vàng với cơ quan điều hành chính sách tiền tệ của nước khác hoặc một tổ chức tiền tệ quốc tế thì giao dịch này không được thống kê vào xuất nhập khẩu hàng hóa.

Vàng phi tiền tệ là vàng ở các dạng đã hoặc chưa gia công (thanh, thỏi, bột, vảy…) được xuất nhập khẩu bởi các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại cho mục đích sản xuất, kinh doanh, lưu giữ giá trị, được tính vào thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa.

April 9, 2010

Xuất khẩu thủy sản: Khát nguyên liệu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:11 pm
Tags: , ,

Ông Huỳnh Minh Tường cho biết, trước tình hình khan hiếm nguyên liệu, Cty Baseafood đã chuyển hướng chiến lược trong sản xuất kinh doanh và đồng thời thực hiện một số giải giáp cơ bản như: đầu tư và làm những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, tức làm hàng tinh chế, để giảm lượng nguyên liệu nhưng vẫn đảm bảo doanh thu và lợi nhuận; xây dựng hệ thống kho lạnh để trữ nguyên liệu thu mua trong những lúc dồi dào; tăng cường nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài; chuyển dịch cơ cấu từ sử dụng nguyên liệu đánh bắt (biển) sang nguyên liệu nuôi trồng. http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=191116&ChannelID=3

April 4, 2010

Kiến nghị gạt vàng khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:40 pm
Tags: , ,

Hiệp hội Kinh doanh vàng dự định kiến nghị Ngân hàng Nhà nước đưa vàng ra khỏi danh sách mặt hàng xuất nhập khẩu và yêu cầu xem vàng như một ngoại tệ mạnh.
> Thống kê xuất nhập khẩu cần chỉnh lại

Theo ông Đinh Nho Bảng, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh Vàng, gạt vàng ra khỏi danh sách, lý do chính vì bản chất đây không phải là hàng hóa. Việc kim loại quý này có mặt trong danh sách mặt hàng nhập khẩu sẽ làm tăng tỷ lệ nhập siêu. Lo ngại này cũng dẫn đến hậu quả thị trường vàng trong nước bị kìm hãm. Tính thanh khoản của kim loại quý này rất cao, vốn là một ngoại tệ mạnh, chứ không như các loại hàng hóa khác có sự hao mòn về giá trị. Sau khi nhập khẩu, vàng cũng có thể được tái xuất mà vẫn bảo đảm giá trị quốc tế. Ông Bảng cho biết, quý một năm 2009 khi Việt Nam xuất siêu tới 1,64 tỷ USD, xuất khẩu vàng chiếm phần lớn.

Ngoài ra, ông nhận định việc Việt Nam chưa xem vàng là ngoại tệ mạnh khiến vai trò của nó trong kho dự trữ ngoại tệ hiện ở mức rất thấp so với Mỹ hay Trung Quốc. Vàng trong kho cũng khó sinh lời khi mua từ thời giá khoảng 200 USD, cho đến nay thị trường đã vượt xa 1.000 USD mà vẫn không xuất được. Hiệp hội kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần đánh giá lại hiệu quả của việc dự trữ vàng và nới lỏng kiểm soát để được xuất được nhập khi có nhu cầu.

Hiệp hội không cho rằng việc nới lỏng nhập vàng sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ, thậm chí còn ngược lại. Khi việc xuất nhập bị hạn chế, hoạt động buôn lậu vàng sẽ gây căng thẳng trên thị trường ngoại tệ tự do.

Tuy nhiên, theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, không việc gì phải đưa vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu. “Nếu nói gạt vàng ra để hạn chế nhập siêu thì chỉ là biện pháp tự ru ngủ mình”, ông nhận định. Trong khi đó, Việt Nam lại không phải là nước sản xuất vàng. Để thỏa mãn nhu cầu vàng cất giữ, trang sức trong nước, chỉ có cách nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu vàng cần một lượng ngoại tệ lớn. Tóm lại, việc gạt vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu không đem lại lợi ích thực chất nào về mặt kinh tế học, ông Doanh khẳng định.

Mặt khác, vàng trong nước hiện nay cũng không khan hiếm. Nhiều nguồn tin ước đoán trong dân đang nắm giữ khoảng 500 tấn vàng. Nới lỏng dây cương cho xuất nhập vàng cũng không đồng nghĩa với việc ngăn chặn hoạt động buôn lậu. “Cứ có chênh lệch giá giữa thị trường trong và ngoài nước thì có buôn lậu. Không ai đảm bảo được là cho xuất nhập vàng thì giá nội địa và quốc tế sẽ cân bằng nhau. Thực tế thì lâu nay, rất ít khi chúng ta thấy có sự cân bằng này”, ông Doanh nói.

Từ phía Tổng cục Thống kê, đại diện của Vụ Thương mại Giá cả cho biết vẫn giữ nguyên quan điểm từ trước đến nay là thống kê xuất nhập khẩu cần tính cả vàng miếng. Không chỉ Việt Nam mà nhiều nước cũng chung quan niệm vàng do Nhà nước, ngân hàng trung ương nhập về để dự trữ thì được coi là phương tiện thanh toán, tích trữ. Còn vàng do các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp nhập, xuất để phục vụ mục đích kinh doanh cần được đưa vào danh mục hàng xuất nhập khẩu.

March 27, 2010

XK thủy sản 2010 : Nỗi lo trong cuộc

Báo  vừa có bài “XK thủy sản 2010: Không quá lạc quan” phản ánh về dự báo khá lạc quan trong khi thực trạng sản xuất, xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức. Để làm rõ các cơ hội và thách thức,PV   đã trao đổi với các nhà chế biến, XK thủy sản về những lo toan và ghi nhận tình hình vùng nguyên liệu tại ĐBSCL.
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức

Nói về thuận lợi, khó khăn của hoạt động XK thủy sản 2010, ông Phạm Hoàng Việt – Phó TGĐ Cty cổ phần thực phẩm Sóc Trăng (Sao Ta – Fimex VN) cho rằng: Với DN, cơ hội phát triển và thách thức luôn cùng tiềm tàng. DN không thể lạc quan kiểu “hồn nhiên” mà phải căn cứ trên những cơ sở vũng chắc, từng thời điểm, giai đoạn của tiến trình vận động. Thành hay bại đều do sự ứng phó linh hoạt, hợp thời của DN.

Dự định và thực tế

Ba tháng đầu năm nay, Fimex đã XK hơn 9 triệu USD (tương đương cùng kỳ năm trước); mặt hàng chủ lực vẫn là tôm sứ; thị trường chủ yếu vẫn là Nhật Bản, EU chỉ chiếm khoảng 10%. Hoạt động hiện tại khá yên ổn – sự yên ổn trong tình trạng thiếu nguyên liệu chung của tất cả các DN chế biến, XK thủy sản. Hai mối lo lớn mà Fimex đang tập trung quan tâm là nguồn nguyên liệu và công nhân. Từ trước Tết đến nay, giá và sản lượng nguyên liệu trồi sụt liên tục nên hầu hết các nhà máy ở ĐBSCL đều hoạt động với hơn nửa công suất. Fimex trong bối cảnh đó vẫn tuyển dụng thêm công nhân có tay nghề vững để giảm giờ làm cho 2.000 công nhân hiện có. Hoạt động đều và ổn thỏa mọi mặt, Fimex cần có 3.000 công nhân. “Tăng trưởng chắc chắn và ổn định là điều Fimex luôn tâm niệm. Năm 2009 xuất khẩu hơn 52 triệu USD thì năm nay cố gắng đảm bảo tăng 10-12% khi hội đủ các điều kiện cần và đủ để phát triển an toàn” – ông Phạm Hoàng Việt cho biết.

Còn ông Trần Văn Phẩm – Tổng Giám đốc Stapimex (Cty CP Thủy sản Sóc Trăng) chia sẻ mối lo toan về nguồn nguyên liệu mà theo ông là năm nay có những nét khác. Ông Phẩm nhận định nguồn nguyên liệu năm nay sẽ khả quan hơn, ví như tôm thẻ chân trắng miền Trung đang rất “đắt hàng”. Nhắc đến trở ngại trong nuôi trồng vì ảnh hưởng mặn và hạn, ông cho hay: So với Cà Mau và Bạc Liêu, diện tích nuôi của Sóc Trăng nhỏ hơn nhưng bù lại năng suất cao gấp 5-7 lần. Chuyện cứu lúa, làm ảnh hưởng tôm ở Bạc Liêu là có thật nhưng nếu giảm chút ít sản lượng ở đây không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng chung, trong khi tổng diện tích nuôi trồng trong cà vùng ĐBSCL đang mở rộng.  Năm 2010, Stapimex không đặt nặng tăng trưởng doanh số mà quan tâm hiệu quả cân đối nhiều mặt. Giá điện tăng sẽ tạo mặt bằng giá nguyên liệu, chế biến và giá thành sản phẩm; nói cách khác, sẽ làm ảnh hưởng kết quả chung cho toàn bộ ngành hàng.

Cạnh tranh nhân công

Trở lại vấn đề kinh doanh XK, TGĐ Trần Văn Phẩm cho biết: Nhận định của Vasep về triển vọng XK 2010 với 500 ngàn tấn cá và 200 ngàn tấn tôm là có cơ sở. Ở Stapimex, 3 tháng đầu 2010 đã XK được 6 triệu USD (thấp chút ít so cùng kỳ 2009) nhưng kinh doanh 2009 có cái dễ, cái khó khác. Năm 2009 nhờ có gói hỗ trợ lãi suất, người nuôi tôm duy trì được diện tích và làm ra nguyên liệu tốt hơn cho chế biến.

Hiện Stapimex có 2.500 công nhân (vào vụ sẽ lên 3.500 công nhân). “Ở VN nói thiếu công nhân là không chính xác. Có chăng là do cạnh tranh, lúc vào vụ chế biến DN nào nuôi công nhân tốt thì ổn định hơn. Mặt bằng lương công nhân ở ĐBSCL là trên dưới 4 triệu đồng/người/tháng, nếu không đủ nguyên liệu sản xuất mà có công nhân đông sẽ khó khăn. Không những thế, vẫn còn hiện tượng thu nhận công nhân nhưng ngoài lương không mua bảo hiểm cho họ. DN sử dụng công nhân rẻ đó sẽ có giá thành chế biến thấp, đó là cạnh tranh không công bằng” – ông Trần Văn Phẩm nhấn mạnh.

Thách thức từ nguồn nguyên liệu

Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức, đe dọa do nguy cơ biến đổi khí hậu (mặn và hạn hán) đang hiển hiện. Ở ba tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng có hơn 50 DN thu mua chế biến thủy sản xuất khẩu với gần 100 nhà máy.  Để đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu cho số nhà máy chế biến này hàng năm cần gần gấp đôi tổng sản lượng tôm nuôi toàn vùng. Chuyện khan hiếm nguồn nguyên liệu đã được cảnh báo từ trước do công tác quy hoạch và đầu tư diện tích nuôi trồng. Bộ NN-PTNT trong năm 2009 đang tái khởi động công việc này, tuy nhiên, nông dân mỗi khi biến động giá lên/xuống hoặc mặt hàng ế thì vẫn luẩn quẩn trồng/chặt (lúa, mía) hoặc đào/lấp hay “treo” ao đầm.

Tháng 3/2010, 14 DN ở Cà Mau áp dụng phương án cho công nhân nghỉ việc luân phiên. Lãnh đạo Cty Chế biến thủy sản XK Cà Mau (Camimex) nhận định đây là tình trạng chung của các nhà máy khi hết mùa tôm nên đã tổ chức mạng lưới thu mua đến tận cơ sở với giá cao, dù vậy, vẫn không tìm đủ nguồn nguyên liệu để chế biến. Tại Bạc Liêu, hiện 13 DN chế biến thủy sản hầu hết hoạt động không đủ công suất, cầm chừng vì thiếu nguyên liệu. Cty chế biến thủy sản xuất khẩu Giá Rai, huyện Giá Rai hơn tháng nay hoạt động có thời điểm chỉ 30% công suất thiết kế do thiếu nguyên liệu. Động thái này liên quan đến chủ trương trên 20.000ha lúa đông xuân cuối vụ đang khát nước nghiêm trọng. Tỉnh Bạc Liêu quyết định hạn chế lấy nước mặn vào vùng ngọt hóa Quản Lộ – Phụng Hiệp. Việc làm này vô tình ảnh hưởng trực tiếp đến trên 40.000 ha diện tích nuôi tôm tại khu vực lân cận. Ở xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai có 2.427ha nuôi tôm, đến thời điển này đã có đến 1.519ha bị thiệt hại, trong đó có đến 419ha thiệt hại trên 50% không khả năng khắc phục. Phòng NN-PTNT Giá Rai – cho biết: Trong 20.000 ha đã thả tôm, có đến 5.482 ha bị thiệt hại, mức độ thiệt hại từ 30% trở lên. Đáng báo động là có đến trên 10.000 ha đang đứng trước nguy cơ thiếu nước. Ông Võ Hồng Ngoãn, người nuôi tôm có tiếng tăng ở Bạc Liêu cho biết: “Ai cũng biết nuôi trồng cái gì trái mùa, nếu thành công sẽ lời rất nhiều, nhưng đối với con tôm nuôi trái vụ rất nhiều rủi ro, nếu thất bại là thiệt hại tiền tỉ như chơi”.

Trước thực trạng này – Phó giám đốc Sở NN-PTNT Bạc Liêu Tạ Minh Phú, cho biết: “Chúng tôi khuyến cáo nông dân ở nơi nào điều kiện thuận lợi thì sản xuất, nơi nào có khả năng thiếu nước thì hãy chậm lại để tránh thiệt hại”.
Next Page »

Blog at WordPress.com.