Ktetaichinh’s Blog

June 10, 2010

“Góc tối” nơi dòng sáng thuỷ điện

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:12 pm
Tags: ,
Lao Động số 127 Ngày 05/06/2010 Cập nhật: 7:50 AM, 05/06/2010
Gia đình H’Chát ăn ở tạm bợ ở buôn tái định cư Xây Dựng. Ảnh: L.P.
(LĐ) – Đồng bào dân tộc thiểu số ở miền sơn cước chịu nhiều thiệt thòi khi phải rời bỏ làng mạc, bờ xôi ruộng mật, di dời đến ở nơi khác, để nhường chỗ cho công trình xây dựng thuỷ điện Sông Ba Hạ (thuộc địa phận hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai).

Nhưng khi dòng sáng thuỷ điện này đã hoà điện lưới quốc gia, đã bừng sáng muôn nơi, thì người dân ở đây vẫn tiếp tục gánh chịu khổ cực, ở tạm bợ khi phải di dời nhà nhiều lần vì nước dâng ngập làng tái định cư (TĐC) mới.

Không những thế, đã 6 năm đến TĐC, họ vẫn chưa được cấp tấc đất nào để sản xuất. Đói nghèo, không việc làm, họ “buộc bụng” kéo nhau đi phá rừng cấm quốc gia Krông Trai để tìm kế sinh nhai… Đây đang là “góc tối” nơi dòng sáng thuỷ điện Sông Ba Hạ (TĐSBH)!

Khổ vì nhiều lần dời nhà

Con đường đất đào như cái rãnh kênh xói lở, nham nhở. Vài nhà tạm bợ trên khoảng đất san ủi trông còn dang dở. Một cơn gió nhẹ thoảng qua đã tung bụi mù mịt khắp làng. Những em thơ đen trùi trũi đang nô đùa bên cái “vực” làng, chỉ cần sơ sẩy chân là có thể rơi tõm xuống lòng hồ chết đuối. Các mí, ma đang gùi từng bầu nước dưới cái nắng như đổ lửa. Vợ con Y Moa chui vào ở trong hai mái tôn che tạm nằm sát mặt đất để nghỉ ngơi, nấu ăn!…

Không thể tin vào mắt mình, đây đang là “bức tranh” khu TĐC mới buôn Xây Dựng (xã Suối Trai, huyện Sơn Hoà ở sát lòng hồ TĐSBH! Một công trình thuỷ điện khá lớn với công suất 220MW và tổng vốn đầu tư lên đến hơn 4.274 tỉ đồng, nhưng lại xây dựng một khu TĐC cho dân một cách tạm bợ, tệ hại đến thế! Bà H’Chát – vợ ông Y Moa – chua chát nói: “Năm 2004, nhà tôi đã dỡ đi để giao đất làm lòng hồ. Vừa dựng lại được căn nhà ở đây thì năm ngoái thuỷ điện tích nước, nước dâng ngập làng xóm nên phải tiếp tục dỡ nhà ra ở tạm, rồi chờ thuỷ điện nâng cao nền khu TĐC này. Bây giờ, gia đình tôi đã có mặt bằng, nhưng khó khăn nên chưa làm lại nhà để ở”.

Lật lại “sổ tay” của phóng viên Lao Động về công trình xây dựng TĐSBH, tôi còn ghi chép rõ: Ngày 11.6.2009, TĐSBH đã phát điện tổ máy 1 hoà vào điện lưới quốc gia; phát điện hoà lưới tổ máy 2 vào ngày 26.11.2009. Nhưng, cũng trong thời gian dòng điện bắt đầu bừng sáng thì nước lòng hồ thuỷ điện dâng đến cao trình 105m làm ngập nhà cửa, vườn tược của người dân TĐC buôn Xây Dựng (66 hộ/30ha đất). Không thể hiểu nổi đơn vị chức năng thuỷ điện quy hoạch, đo đạc, xây dựng khu TĐC kiểu gì mà để xảy ra cơ sự như vậy?

Ngay lập tức, Cty CP TĐSBH và chính quyền địa phương thống nhất phương án TĐC tại chỗ cho 17 gia đình bị ngập nước ở buôn Xây Dựng, bằng cách di dời dân rồi nâng mặt bằng khu TĐC buôn này lên mốc cao trình 106,5m, xây dựng đê bao, hàng rào lưới B40 bên bờ hồ đảm bảo vững chắc trước mùa mưa 2009. Vậy là một lần nữa đời sống của dân bị xáo trộn, phải tháo dỡ, dời nhà lần 2 ra ở tạm bợ trong cảnh “màn trời chiếu đất” để chờ nâng cấp mặt bằng…

Nhưng thật trớ trêu, một lần nữa dân lại chờ dài cổ, đến tháng 4-5.2010 mới có được mặt bằng tạm để xây dựng lại nhà mới. Bởi giữa tháng 7.2009, Ban Giám đốc Cty CP TĐSBH đã hợp đồng Cty TNHH đầu tư xây dựng và PTNT Phú Thành triển khai xây dựng mặt bằng, nhưng sau khi bên B bỏ vốn thi công được 50% khối lượng công việc thì Hội đồng Quản trị Cty CP TĐSBH quyết định đưa công trình nâng cấp, bổ sung khu TĐC này vào diện đấu thầu, chứ không theo cơ chế 797/400 – tức là vừa thiết kế, vừa thi công!

Điều này làm cho dự án có thời điểm phải ngừng và tiến độ thi công rất chậm; đến nay vẫn chưa xây dựng hoàn thành đường sá, đê bao, hàng rào lưới B40 bên bờ hồ để phục vụ dân sinh. Chính những việc làm tắc trách, không thống nhất trong nội bộ của BQL thuỷ điện đã “hành” người dân ở khu TĐC buôn Xây Dựng phải gánh chịu những vất vả, gian khổ kéo dài (mà lẽ ra không đáng có) ở nơi ăn, chốn ở mới!

Dân đói vì không đất sản xuất

Về các khu TĐC TĐSBH, tôi như muốn… vỡ tung màng nhĩ khi đông đảo bà con “bủa vây” lớn tiếng phàn nàn chuyện họ nhường bờ xôi ruộng mật để tích nước lo TĐSBH, nhưng đến nay đã 6 năm trôi qua vẫn chưa được cấp một tấc đất để sản xuất nhằm ổn định đời sống kinh tế tại nơi ở mới!

Trước đây, nhà ông Ma Hon có 8,6 sào ruộng lúa, hơn 5ha rẫy trồng bắp, mè, sắn… Nhờ vậy, cả nhà làm quần quật quanh năm suốt tháng mà vẫn không hết việc, lúa bắp đầy nhà. Nhưng mấy năm qua, khi đến TĐC ở buôn Xây Dựng, 6 người trong nhà Ma Hon đành phải “ngồi chơi xơi nước”! Giờ tuổi đã cao, không còn đủ sức đi làm thuê, hằng ngày, ông Ma Hon đan lưới rồi xuống hồ thuỷ điện đánh cá kiếm ăn.

Vợ và các con Ma Hon đào xới mảnh đất mấy chục mét vuông ở ngay sau nhà và lấy nước giếng tưới để gieo trồng lúa… Tình cảnh gia đình chị HNhoi càng bi đát hơn, khi tiêu xài hết tiền đền bù, rồi ăn nhờ ở đậu nhà người khác và chẳng biết việc gì để làm. “Cái bụng đói thì cái tay, cái chân phải đi rẫy làm ăn. Nhưng ngặt nỗi chẳng lấy đâu ra đất để sản xuất cải thiện đời sống gia đình” – chị HNhoi buồn rầu nói.

Công cuộc “giải phẫu” lòng hồ TĐSBH bắt buộc 420 hộ dân (trong đó có 208 hộ thuộc các huyện Sơn Hoà, Sông Hinh – Phú Yên, 212 hộ thuộc huyện Krông Pa – tỉnh Gia Lai) phải di dời TĐC và mất hàng ngàn hécta đất nông nghiệp. Theo ông Nguyễn Quốc Hoàn – Phó Chủ tịch UBND huyện Sơn Hoà – chỉ tính riêng ở địa bàn huyện Sơn Hoà có đến 386 hộ bị mất 890,93ha đất sản xuất, trong số đó có 98 hộ thuộc diện TĐC bị mất trắng đất sản xuất.

Suốt 6 năm qua, họ đau đáu chờ cấp đất nông nghiệp ở nơi mới để sản xuất, nhưng đến nay, tất cả các dự án xây dựng cánh đồng 110ha ở xã Suối Trai do tỉnh Phú Yên và Cty CP TĐSBH đầu tư; dự án trạm bơm Buôn Lé tưới cho 300ha; trạm bơm điện Ia Rmok (xã Ia Rmok, huyện Krông Pa, Gia Lai) cung cấp nước tưới cho 150ha lúa, hoa màu; trạm bơm Krông Năng (xã Krông Năng, huyện Krông Pa, Gia Lai) tưới cho 160ha… vẫn còn “treo” trên giấy!

Khi hỏi về công tác chậm xây dựng các công trình thuy lợi, cải tạo mặt bằng đồng ruộng để cấp đất cho dân, ông Đặng Văn Tuần – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Cty CP TĐSBH – đã đổ lỗi cho việc “vướng” về đền bù, về thủ tục đầu tư, thiết kế, thẩm định dự án…, đồng thời “hứa” quý IV năm nay sẽ hoàn thành xây dựng đồng ruộng Suối Trai, trạm bơm Buôn Lé; còn các trạm bơm thuộc các khu TĐC huyện Krông Pa (Gia Lai) sẽ thực hiện khi… có quy hoạch của địa phương!

Lâm tặc bất đắc dĩ

Không đất sản xuất, bà con lén lút phá rừng cấm quốc gia KRông Trai vì kế sinh nhai.

Không đất sản xuất, không vụ mùa thu hoạch, không được tập huấn, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, không việc làm…, hàng trăm người dân ở các khu TĐC TĐSBH đành “bấm bụng” kéo nhau đi phá rừng cấm quốc gia Krông Trai và họ bất đắc dĩ trở thành “lâm tặc” vì kế sinh nhai. Buổi trưa “đội” nắng gay gắt đi dọc con đường xuyên rừng cấm này vào các khu TĐC, tôi vẫn nghe văng vẳng bên mình tiếng máy cưa gỗ trái phép trong rừng, nhưng không thấy lực lượng kiểm lâm tuần tra, xử lý!

Đến đây, không ai không khỏi xót xa khi chứng kiến nhiều khu đồi với nhiều loại cây gỗ quý thuộc rừng cấm đã thay bằng những nương lúa, đám sắn, và đây đó còn những khoảng rừng đang bị đốt dở, tạo thành những đám cây cháy “da beo” trên các triền dốc dọc theo các buôn Xây Dựng, Thống Nhất, Đoàn Kết…

Ông Nguyễn Bá Chánh – cán bộ Trạm kiểm lâm Thống Nhất (thuộc BQL rừng cấm Krông Trai) – cho hay: “Trước đây, khu vực xã Suối Trai rất ít xảy ra các vụ phá rừng cấm. Nhưng từ ngày dân bức bách không có đất sản xuất, đã phá rừng rất dữ. Chúng tôi không thể nào quản lý xuể!”.

Trước khi rời TĐSBH, ông Trương Hiếu Hoàng – Trưởng BQL rừng cấm Krông Trai – bức xúc nói: Trước đây, rừng cấm Krông Trai với diện tích hơn 22.900ha, bây giờ thu “gọn” chỉ còn 13.700ha. Tình trạng phá rừng cấm gia tăng đột biến. Chỉ tính riêng từ đầu năm đến nay đã xảy ra 89 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng ở địa bàn rừng cấm Krông Trai, trong đó có 70 vụ khai thác rừng cấm trái phép để làm rẫy, với tổng diện tích hơn 295.000m2.

Mới đây, Toà án Nhân dân huyện đã đưa ra xét xử và tuyên phạt ông Ma Cam và bà H’Trai (cùng ở buôn Xây Dựng) lần lượt 5 năm, 3 năm tù giam về tội phá hơn 17.000m2 rừng cấm, nhằm để răn đe, giáo dục, nhưng xem ra tình hình phá rừng vẫn chưa tạm lắng. Nếu tình trạng dân thiếu đất kéo dài, đời sống dân sinh ở các khu TĐC không ổn định, thì nạn phá rừng làm rẫy sẽ diễn ra gay gắt hơn, và cứ đà này, chẳng bao lâu sau, rừng cấm quốc gia Krông Trai sẽ biến thành rẫy sắn, nương mía và đồi trọc…

Advertisements

May 27, 2010

Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:48 pm
Tags: ,
Cập nhật lúc : 1:45 PM, 26/05/2010
Luật Cư trú và những nghị định hướng dẫn đã góp phần giải quyết nhanh chóng quyền lợi của nhân dân liên quan đến hộ khẩu, thường trú, tạm trú…

Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Đối với chỗ ở do thuê, mượn hoặc ở nhờ tại thành phố Hà Nội, Tp.HCM phải bảo đảm diện tích tối thiểu là 5m2 sàn/người.

Đây là những nội dung quan trọng được Chính phủ quy định tại Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú.

Các quy định mới này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/7/2010.

Cụ thể, các hành vi lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị nghiêm cấm trước đây gồm 5 trường hợp, nay được sửa đổi, bổ sung thêm 2 trường hợp: Cho người khác nhập hộ khẩu vào sổ hộ khẩu, chỗ ở của mình để trục lợi hoặc cho nhập hộ khẩu vào cùng một chỗ ở, nhưng không đảm bảo diện tích sàn tối thiểu trên đầu người theo quy định; ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người lao động không thuộc doanh nghiệp của mình để nhập hộ khẩu.

Theo đó, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Đây cũng là nội dung mới được sửa đổi, bổ sung tại Điều 3 của Nghị định 107/2007/NĐ-CP trước đây.

Về nơi cư trú của công dân, trước đây chỉ quy định: “Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.  Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật”.

Nay, nghị định mới đã bổ sung thêm quy định: mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Đối với chỗ ở do thuê, mượn hoặc ở nhờ tại thành phố Hà Nội, Tp.HCM phải bảo đảm diện tích tối thiểu là 5m2 sàn/người.

Giấy tờ chứng minh để đăng ký thường trú, tạm trú

Ngoài 10 loại giấy tờ khác đã được quy định tại khoản 1 Điều 5 thì giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú còn bao gồm cả giấy tờ chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân (trường hợp hợp đồng cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cá nhân phải được công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp xã).

Đối với nhà ở, nhà khác tại thành phố Hà Nội, Tp.HCM trong hợp đồng phải ghi rõ diện tích cho thuê, mượn, ở nhờ.

Đối với giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký tạm trú chỉ cần là một trong những giấy tờ quy định tại khoản 1 nói trên, trừ trường hợp giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp là hợp đồng cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cá nhân thì hợp đồng đó không cần công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp xã. Ngoài ra, cần văn bản cam kết của công dân về việc có chỗ ở thuộc quyền sử dụng của mình và không có tranh chấp về quyền sử dụng nếu không có một trong các giấy tờ quy định nói trên.

Tạm trú liên tục một năm tại chỗ ở hợp pháp là điều kiện để đăng ký thường trú

Đối với điều kiện công dân tạm trú được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương, trước đây quy định tạm trú liên tục tại một chỗ ở tại thành phố trực thuộc Trung ương mà thời hạn tạm trú tại chỗ ở đó từ một năm trở lên; hoặc tạm trú liên tục tại nhiều chỗ ở khác nhau tại thành phố trực thuộc Trung ương mà thời hạn tạm trú tại tất cả các chỗ ở đó từ một năm trở lên.

Theo nghị định mới, công dân sẽ được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương nếu công dân đó đang tạm trú có đủ các điều kiện: Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc Trung ương và tạm trú liên tục tại chỗ ở đó từ một năm trở lên; nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú.

Nghị định mới cũng quy định rõ, giấy tờ chứng minh thời hạn tạm trú là một trong các giấy tờ sau: Sổ tạm trú cấp cho hộ gia đình hoặc cấp cho cá nhân theo mẫu quy định của Bộ Công an; xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn về thời gian và nơi đăng ký tạm trú (đối với các trường hợp đăng ký tạm trú nhưng không cấp sổ tạm trú).

Luật Cư trú đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. Chính phủ cũng đã có Nghị định số 107/2007/NĐ-CP, ngày 25/6/2007, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú.

(Theo Chinhphu.vn, VnEconomy)

Motorbikes against HCm, or the consumption icons of a social transformation of Vn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:22 pm
Tags: ,

Today Vietnam counts more motorbikes per capital than neighboring countries: nearly 169 per thousand inhabitants, agaisnt 44 in China and 79 in Indonesia. nearly 16 million officially recorded motorbikes circulate throughout the country. in 1990 there were only 1.2 million motorbikes in VN. this figure was thus multiplied by 10 over 14 year period although similar motorbikes can be twice as expensive in VN due to taxes applied to imports. Undeniable, motorbikes became one of the most visible goods and a symbol of mass consumption in Doi Moi society

the practices of consumption “the choice of the necessary , present the ‘habitus of the working class as the learned outcome their material situation. The manner of consuming is statutory and takes part in the cosial reproduction processes. the distance with the consumed object (eg., in VN, ammong the urban populations, one describes the motorbike as something of almost no importance, whereas rural population see it as an investment) differentiates pp from a certain socio- economic category and marks their social status. the differences in the practices of consumpetion that one notes herebecome ‘differences in symbolic systems (Bourdieu 1996)

social relations are dirven by hedonistic and individualistic patterns, which are primarily related to modern conusumers in a market. modern capitalistic markets and societies are characterized by individualistic relations in the sense that the process of exchanges between consumers are impoersonal. (Simmel 2004). the literature also shows that the emergence of ‘modern’ consumption not only means the ‘growing autonomy of a consumerist mentality’ but also the erosion of traditional social relations, as in portmodern consumerism pp tend to be more individualistic

Motorbikes and Consumerism

a lot of ‘value’ can be identified in relation to consumersim. among others, the acceptance that the ‘ephemerality ‘ of products is better than their durability may be other key values of consumerism, with as a consequence a permanent unsatisfied and renewed needs triggered by mass consumption practices (bauman 2005) . after the WWII , Arvidsson 2001 demonstrated in an article that motorbikkes  had become the icons of ‘youth international culture’ linked to a vision of ‘lifestyle choice’ and hedonistic values

in many wats, the story of the Vespa supplies and ideal case study : presented as a central component of the material culture of a new, modern, post- Fascist Italy in the immediate post-war years, Vaspa soon become something of a fetish for the emerging transnational counterculture. however, contrary to the Italian casae described by Arvidson, in VN motorbike producers were not capturing the codes of counter-culture values but were displaying instead signs and symbols of mass consumption modes.

for young pp it soon became the symbol of an ideological gap between them and the older generation, the former ‘citizen model’ (promoting an image of a standardized citizen following certain ‘socialist values and attitudes’ common also in other former socalise countries”) . the consumer in centrally planned economies like VN before 1986 was rather ascetic. the communist consumer was being called upon to make sacrifices’ in order to focus on the needs of production with the promise, despite recurrent shortages, of a brighter standard of living through meeting the material needs of pupolations as in many former communies countries (Marurek and Hilton 2007)

the egalitarianism and the uniformit preached by the authorities through its ‘citixen models’ are overtaken by the emergence of individual values, consumer sociey , consumerism and visible social classification processes, in particular among the young VN. the younger generation is embracing theese new values of consumption, which is also an act of symbolic violence against previous generations. the lack of attention to consumtion matters was one of the root causes of the collapse of the Eastern bloc (Mazurek and Hilton 2007) and it is certain that after 1989 to survive the VN gov had no other choice than to open its economy and society to foreign influences

consumtion practices are not totally deprived of political significance: certain practices have political content. thus buying certain brands or boucotting others has been considered a form of political participation in Western countries . the meaning and efffectiveness of this form of political participation as underline by Stolle 2005 is not clear. ‘ a growing number of citizens are turngng to the market to express their political and moral concerns, but do not tell us whether political consumerism can also be considered as a meaningful or effective form of polictial participation’

certain practices related to motorbikes such as the illegal races taking place during the night in urban areas in Vietnam are an expression of both the contruction of a social male identiry and an act of defiance linked to a political dimession of a consumerism. by using a mass-consumption symbol of a pleasure-seeking society inverting the long-promoted ascetic socialist moral values, the nightracers also display a tacit political message going beyond simple outlawed practices

the youth (60% of the population is under 30 years of age, neither experienced times of deprivation (from 1975 to 19986) nor the war periods of the country and they are seraching for other lifestyle experiences in a context that has witnessed tremendous changes since 1975.

except the founding figure of modern Vietnam, HCM, the society does not put forward individuals and does not encourage pp to affirm their peronalities.  with regards to the emergence of new gvalues, Thomas and NGuyen Bich Thuan (2004) evoke the changes among young women, while underlinging the role of the state in the modelling of social values “Asserting its control through purging pleasure, the state’s power to define popular culture has a contradictory effect: the state is developing a new relationship with consumers, testing the ground of posibility by simultaneously authorizing and ddisallowng. wrking in tandem with mass culture, a new mass-oriented state has become the mark of the post- socialist ear.” as dexcribed by theese 2 authors, the state, as a new form of social control . thus tries to incorporate such emergent values in a new mass culture centred on consumerism. Motobikes also fit in the emergence of a commercial economy where leisure activities gain a new importance through certain consumer goods (mobiles, TVs,…)

Adam Fforde 2003 mentions another amusing eg that fits this pattern: in VN, the market for cosmetic products is one of the most important of the region. its size exceeds that of other asian countries, which however have higher per capita incomes. other indicators, such as the increasing rate of divorce, rural -urban migration trneds and changes in family structure also show that new gvalues are emerging

the notion of intimacy on motorbikes in the light of public/private spaces

the principal hypothesis claiming that motorbikes are considered by pp as places where they can get some intimacy and privacy. it was already mentioned that the state remains somewhat intrusive in various social spaces, including family relations. the state thus organizaes and intervenes in all aspects of sicial life: in the birth-rate (by family planning) , in the private spere (the system of merit for the households in 80s, the registration of the households and their members..) and in domestic ritual spaces (each household must have a bust or portrait of HCM..). private as well as public spaces are places where the state expresses its authority (Anh Nghuyen Pham 2005)

what about the public spaces? for a common visitor to VN, it is difficult to believe that the busy sidewakds, occcupied by all kidns of activities were empty befire the Doi Moi. the informal sector seized this territyry once the Doi Moi was lauched, which authorized private trade and profit. since the 80s, the public authorites in large citis have tried to limit the too-anarchistic development of activies on the streets. for instance, according to Koh 2004, the decree 36 CP from May 1995 in Hanoi was instigated in the purest sytle of propaganda campaigns, with posters and audio messages broadcast by the innumerable loudspeakers of the city, the objective was to domesticate activities in public space and to overcome urban traffic. this decree also ended the activities of 35 illegal markets, but these attempts had poor results. Why? Drummond 2000 shows that if private spaces are the places of socal reproduction, public spaces belong to the community, but are strongly controled by the state. in public spaces, broadcast messsages (by posting pr public loudspeakers) and organized events are under the strict scrutiny of the authorits. the appropriation of public space remains tolerable for economic activities (handicraft, cafes, informal work, etc.) and even sporting activities or entertainment . but the problem is that today, a victory of the national VN football team brings many more pp into the streets than an official procession, and this type of spontaneous demonstration overlaps with the control exerted by the stte. actually, there are plenty of occasions for pp to occupy public spaces. an illustration is the visit of former US Pres Bill Clinton in 2006, who gathered an unexpectedly large, young and lively crowd on the streets of HN during a private walk close to Hoan Kiem lake, as a real rock star would do. the apperance of this type of transpgreesive gathering is related to the re-appropriation of public spaces in the cities in Vn do not enjoy the same importance as elseswhere becayse of their recent existence (which date back to colonial times) , the level of control existing before the Doi Moi has disappeared,.

furthemore, these 2 large VN urban centres there is little or no private space avaliable. population density reaches high levels: 3500 habitants/km2 for the capital and 2800 for HCM. the national average is 250. each person has only 5m2 of habitable surface in HN, 6.2m2 in HCM (guidebooksto French Co-operation in Vietnam 20002). in Geneva pp have 47m2 and 30m2 in Paris

So private space is deprived and stronghly controlled, and public space is almost a place of quasi0contestation. Motorbikes would be places where pp could have some privacy without feeling the constraints of the domestic space

a tool of multiple purposes and an object of social classification . more than a sumple tool or transportation, cetain Vn even consider them as their legs! some pp confirm that all thri yourneys , even short ones, are carried out on motorbikes. in urban arteries the flow of traffic can reach yup to 10000 bikes per hour

Hsu TienPen 2003 afirms that HCm inhabitants and HNans respectivelymake 3 and 2.6 trips per day on their bikes, against 2.2 in Manila, 1.7 in arkata and 2.3 in Bangkok. according to Naohito Kitano 2000, the most used means of transportation would be the motorbike with nearly 95% and 92% of journeys for Hn and HCM. in Bangkok and Jakarta motorbikes account for only appr 25% . there are no huge diff in the publi transport infrastructures between these various cities (except for Bangkok). on the contrary , HN and HCm have a decent netwrok of reliable and affordable buses, unlike some large INdonesian cities. so, the use of motorbike in Vn is related to a variety of activities, whether economic, social or recreational

the motor bike is seen as an investment for the poor to earn income. the wealthier depict their bikes as a usual or sometimes even as a “fashionable” device

those under 35 spend on avg more than 200k dong per month for maintenance and customization, against a few thousands for the elders. compared to the living cost, is can be high

Motorbikes appear to be important in the search for some intimacy. all users mention that being on a motorbike offers the ‘luxury’ of isolation. thus, several pp choose the motorbike to find some privacy, ‘to think’, ‘to reflect’ and even ‘to depress’ or ‘to cry’. some pp even affirms that the bike is a more open space to discuss than a cafe. the choice of the person who sits behind the friver is thus based on the nature of the relationship, a strong tie according to Mark Granovetter 1973. the destination of the tour has hardly any importance, even if respondents acknowldge preferring to drive in very crowded places such as the large avenues of the HoanKiem

however the nature of the conversations can also be more casual. it is worhwhile noting that among the interviewees, the youngest have expressed more intensively these perceptions of intimacy and freedom. here again, we can observe the emergenceof new values among the younger generations moving away from what is preached by the authorities. thus it is not surpring that the olderst respondents do not share this enthusiasm, asuing that it is sad to drive all alone or that the bike does not represent a place of intimacy or privacy

while walking aroung the streets of HN , one can easily observe the couple holding hands or kissing while driving on bikes. this is striking since it is uncommon for pp to show signs of affection in the streets. it illustrates the perfect intefration of the motorbikes in the modern and urban values and lifesyle as flirting on bikes. the bike became a place or a tool and a symbol of libertiange. nonetheless, not all the respondents share such flirting on bikes. here the gap between generations is slearly observable

Bike racing indicates thatconstruction of a male social identity similar to a ritual of passage between the end of adolescence and the beginning of adulthood. races are illegal and they reffer to a certain political dimension of consumerism, an act of defiance towards the authorities, to tease the police.

http://www.viet-studies.info/kinhte/Motorbikes_in_VN.pdf

Vốn xã hội và phát triển kinh tế Trần Hữu Dũng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:24 pm
Tags: , ,
http://www.viet-studies.info/kinhte/SocialCapital_Unpacked.pdf

Bài viết cho Hội Thảo về Vốn Xã Hội và Phát Triển
do tạp chí Tia SángThời Báo Kinh Tế Sài Gòn tổ chức

Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 6/2006

________________________________________________________



Department of Economics
Wright State University
Dayton, Ohio – Mỹ

Một cách tóm tắt xu hướng phát triển của kinh tế học (tây phương) về phát triển trong nửa thế kỉ qua là: nó đi từ các mô hình căn cứ trên những quan niệm khá hẹp hòi, thậm chí thiếu nhất quán, đến những mô hình phức tạp hơn, với nhiều yếu tố “ngoại kinh tế” (thể chế, văn hoá, lịch sử, địa lí).  Hai yếu tố nổi bật mà lý thuyết này đã dần dần hội nhập trong xu hướng ấy là con người và xã hội.

Có lẽ nên nhắc lại: theo kinh tế học cổ điển, ba thành tố quyết định tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, và vốn vật thể.  Cho đến khoảng những năm 1990, gần như mọi thuyết về phát triển kinh tế đều xem quan hệ xã hội là thứ yếu, thậm chí không cần bàn đến.  Vào những thập niên 50 và 60, chẳng hạn, các liên hệ xã hội, lối sống cổ truyền bị xem là trở ngại cho phát triển (hiểu là hiện đại hoá).[1] Tiếp theo thời kì này là giai đoạn lên ngôi của kinh tế học tân cổ điển, và dù trường phái này (cụ thể là Theodore Schultz và Gary Becker) có đề nghị thêm vốn con người vào số các thành tố phát triển, nó cũng không chú ý đến các quan hệ xã hội.  Thậm chí, một số kinh tế gia tân cổ điển cực đoan còn cho rằng có thể giải thích các hiện tượng xã hội (kể cả tôn giáo) bằng mô hình tối đa hoá (lợi nhuận cho doanh nghiệp, dụng ích cho cá nhân).  Tất nhiên, tiếp cận kinh tế cổ điển lẫn tân cổ điển đều hầu như không có đề nghị nào về chính sách đối với quan hệ xã hội.

Khái niệm vốn xã hội xuất hiện trong kinh tế trong bối cảnh ấy.[2] Qua cụm từ này, nhiều nhà phân tích cảm thấy đã tìm ra một “đáp số” cho hai nhu cầu cùng lúc: vừa vẫn duy trì tiếp cận kinh tế (“vốn”), vừa hội nhập vào tiếp cận ấy những yếu tố “xã hội”.

I.  “Vốn xã hội” là gì?

Trong bài “Vốn xã hội và kinh tế” (Thời Đại số 8, 2003) tôi đã trình bày sơ về ý niệm “vốn xã hội”.  Xin tóm tắt như sau: Tuy rằng động cơ khiến các học giả[3] đặt ra khái niệm này xuất phát từ nhiều hướng (xã hội, kinh tế, chính trị, giáo dục) song đại để là với nhận xét rằng (1) sự tin cẩn giữa những người cùng một “cộng đồng” (không nhất thiết bao trùm toàn thể quốc gia), (2) sự họ tuân theo thói lề, phong tục của cộng đồng ấy (không cần pháp luật cưỡng chế, hoặc vì hấp lực của quyền lợi vật chất), và (3) nói chung là “mạng lưới” xã hội (có thể là những hiệp hội, liên hệ gia tộc, vv), những “thứ đó” có ảnh hưởng thường là tốt đối với xã hội nói rộng, thậm chí có những lợi ích kinh tế rõ rệt.  Từ những nhận xét “chung chung” (và khó phủ nhận) này, nhiều học giả đã gọi nguồn lực ấy là một thứ “vốn” – “vốn xã hội”.

Trước khi khai triển thêm về  khái niệm này, cần nhận xét ngay rằng không ít bàn tán về nó là xung quanh câu hỏi thật sự căn bản: tại sao gọi nguồn lực này là “vốn”?

Người biện hộ cho bản chất “vốn” của nguồn lực này đưa ra ba lí do chính.[4] Thứ nhất, nó giống những loại vốn (đã được công nhận) khác ở chỗ có thể tích lũy từ các loại nguồn lực khác[5] với mong mỏi sẽ có thêm thu hoạch (dù không chắc) trong tương lai. Thứ hai, vốn xã hội có thể được sử dụng trong nhiều việc khác nhau (Coleman 1988).[6] Thứ ba, vốn xã hội có thể được chuyển thành những loại nguồn lực khác, vốn khác (Bourdieu 1985).[7]

Tất nhiên, cũng như những loại vốn khác ở chỗ có nhiều khác nhau song vẫn là “vốn”, vốn xã hội (theo những người đề xuất ý niệm này) có vài dị biệt với những loại vốn khác.  Chẳng hạn, khác vốn tài chính (nhưng giống vốn vật thể và vốn con người), vốn xã hội cần được nuôi dưỡng, bảo trì, để tiếp tục có ích.[8] Rồi, cũng không thể tiên đoán suất chiết cựu của vốn xã hôi.  Về đặc tính này, vốn xã hội giống với vốn con người, nhưng khác với vốn vật thể .[9]

Căn bản hơn, không giống mọi loại vốn khác, vốn xã hội là sản phẩm của tập thể, không của chỉ một cá nhân.  Nó tuỳ vào “lòng tốt” của kẻ khác, sự “có đi có lại” của nhiều người, và lợi ích của nó cũng là của chung. Dùng thuật ngữ kinh tế, có thể nói vốn xã hội là một loại hàng hoá công.  Không một ai có thể độc quyền “sở hữu” mạng lưới xã hội, ngăn chặn lợi ích đến người khác.  Song, ngược lại, chỉ một vài cá nhân thôi cũng đủ làm đổ vỡ vốn xã hội mà tập thể đã dày công xây dựng.[10]

Gần đây, nhiều nhà kinh tế chính thống (Arrow, Solow, Stiglitz) đã phân tích cặn kẽ khái niệm vốn xã hội và nêu ra một số dè dặt về sự thích hợp của chữ “vốn” trong cụm từ này. Arrow nhắc lại rằng vốn vật thể có ba đặc tính: dãi ra trong thời gian (extension in time), hàm chứa những hi sinh cho lợi ích mai sau, và có thể được chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác. Theo Arrow, “vốn xã hội” có đặc tính thứ nhất nhưng thiếu đặc tính thứ hai và thứ ba. Solow đặt thêm câu hỏi: vốn vật thể có “suất thu hoạch” và có thể đo bằng cách tổng cộng tất cả đầu tư trong quá khứ, trừ đi phần tiêu hao, còn vốn xã hội thì làm sao đo? “Suất thu hoạch” của nó là cái gì? Và Ostrom châm thêm: vốn xã hội có đặc tính là càng sử dụng thì giá trị càng tăng, hoàn toàn trái ngược với vốn vật thể.

II.  Vốn xã hội và phát triển kinh tế

Vậy thì cái “nguồn lực” ấy (từ đây sẽ gọi là “vốn xã hội” cho gọn, dù vẫn tồn nghi tính “vốn” của nó, như đã nói ở trên) có những ích lợi kinh tế nào?

(1) Vốn xã hội giúp giải quyết nhữngbài toán tập thể”.  Cụ thể, có những tình huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy. Ví dụ đầy dẫy chung quanh ta: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến những việc tầm thường như ngừng ở đèn đỏ, hoặc không xả rác nơi công cộng.  Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội – như là kết tinh của một chuẩn mực cư xử, một kì vọng chung của thành viên cùng một cộng đồng — giúp giải quyết các “bài toán phối hợp” (coordination problems).[11] Đi xa hơn (dù chưa thấy ai đề nghị), nhớ lại rằng nhiều nhà kinh tế đã giải thích những vấn đề kinh tế vĩ mô như là hậu quả của sự “thất bại phối hợp” (coordination failures), người viết bài này nghĩ rằng “tiếp cận vốn xã hội” có thể rất hữu ích cho phân tích những hiện tượng vĩ mô tổng quát (như thất nghiệp, lạm phát…).[12]

(2) Vốn xã hội tiết kiệm phí giao dịch (transaction costs).  Mọi giao địch xã hội và kinh tế sẽ ít rủi ro hơn nếu những đối tác liên hệ ngầm hiểu rằng mọi người đều theo một chuẩn tắc cư xử (tự trọng, sợ mất danh giá gia đình, giữ lời hứa, chẳng hạn), bởi vì như vậy thì những cá nhân liên hệ sẽ không tốn nhiều thời giờ và tiền bạc để bảo đảm rằng đối tác sẽ chu toàn trách nhiệm của họ.

(3) Vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy của những loại vốn khác.[13] Chẳng hạn, vốn xã hội có thể làm tăng vốn con người (Coleman 1988)

(4) Trong những xã hội ít tin cẩn (tức là nghèo vốn xã hội), quyết định thuê mướn nhân viên thường bị ảnh hưởng của những đặc tính cá nhân người ấy (chẳng hạn như thân nhân hoặc quen biết riêng), ít dính dáng đến khả năng làm việc.  Ở xã hội nhiều tin cẩn thì những yếu tố khác như học vấn, tay nghề, sẽ được quan tâm hơn.  Do đó, muốn tiến thân, người trong xã hội thiếu tin cẩn hay tìm cách móc nối thay vì trau giồi khả năng, hay kiến thức của mình.

(5) Một xã hội nhiều vốn xã hội là một xã hội ít tội phạm.[14] Khi sinh ra trong một xã hội mà thành viên tin cẩn nhau thì con người cũng dễ có lòng tốt với người khác.  Hậu quả là xã hội sẽ ít tội phạm hơn. Lợi ích kinh tế không phải nhỏ.

(6) Vốn xã hội của nhà nước[15] là cái sườn, là thành tố của pháp chế. Càng nhiều vốn xã hội thì tư pháp càng vững chắc, khế ước càng nhiều khả năng thực thi, tham nhũng càng ít, quyết định của nhà nuớc càng minh bạch, dễ kiểm soát, và bộ máy hành chính càng hữu hiệu.

(7) Vốn xã hội, qua dạng tin cẩn, sẽ tăng mức khả tín của quan chức nhà nước, đặc biệt là khi họ tuyên bố về chính sách kinh tế và tài chính.[16] Do đó vốn xã hội sẽ nâng cao mức đầu tư và những hoạt động kinh tế khác.

(8) Một xã hội đoàn kết, ít chia rẽ (tức là phong phú vốn xã hội) sẽ dễ hồi phục sau những cú “sốc” kinh tế.  Theo Rodrik (1999), những cú sốc này đòi hỏi sự quản lí những quyền lợi khác nhau trong xã hội.  Vốn xã hội giúp hài hoà những xung khắc mà một cơn khủng hoảng kinh tế sẽ phơi trần.  Thiếu vốn xã hội, ảnh hưởng của các cú sốc kinh tế sẽ trầm trọng và lâu dài hơn

III. Vốn xã hội và chính sách phát triển kinh tế

Ý niệm “vốn xã hội” là một cầu nối giữa tiếp cận kinh tế và tiếp cận xã hội, và do đó cung cấp những lí giải phong phú và thuyết phục hơn về hiện tượng phát triển kinh tế.  Nó cho thấy bản chất và chừng mực tương tác giữa các cộng đồng và thể chế có ảnh hưởng quan trọng đến thành tựu kinh tế.  Nhận định này có nhiều hệ luận quan trọng cho chính sách phát triển mà cho đến nay hầu như chỉ nhắm vào mặt kinh tế.

(1) Mọi chính sách đều có một bối cảnh xã hội, và mỗi bối cảnh ấy là một hỗn hợp tế nhị giữa các tổ chức không chính thức (informal), những mạng (quen biết cá nhân), và các thể chế.  Do đó, quy hoạch chính sách đòi hỏi, trước hết, một phân tích xã hội và thể chế để nhận dạng mọi thành phần liên hệ, và liên hệ giữa các thành phần ấy.  Cụ thể, khi hoạch định một phương thức can thiệp kinh tế hay xã hội, cần lưu ý đến khả năng các nhóm thế lực có thể động viên ảnh hưởng của họ theo cách có hại cho cộng đồng chung.

(2)  Phải xem vốn xã hội là một nguồn lực như các nguồn lực khác trong mọi công trình  xây dựng, dự án phát triển, từ cơ sở hạ tầng, đến giáo dục, y tế, vv.  Cũng nên nhớ rằng vốn xã hội là một loại “hàng hoá công” và, cũng như các loại hàng hoá công khác, nó sẽ không được thị trường cung ứng đầy đủ.   Sự hỗ trợ của nhà nước là cần thiết.

(3)  Nói chung, cần vun quén vốn xã hội, song cũng nên nhớ (a) vốn xã hội không phải bao giờ cũng tốt, (b) vốn xã hội thường là thuộc tính của một “cộng đồng”, một nhóm, đan xen, chồng chéo nhau —  ít khi của toàn thể quốc gia.  Do đó, chính sách “phát triển vốn xã hội” cần được cẩn thận chọn lọc, cụ thể, trong đó có cả biện pháp kết nối những cộng đồng (mà nội bộ có vốn xã hội riêng) trong một nước (Granovetter).  Nó không thể là một chính sách chung chung. Sự phân cực, manh mún trong xã hội sẽ làm giảm vốn xã hội.  Muốn phát triển kinh tế, chúng ta phải vuợt lên những chia rẽ trong xã hội, làm xã hội gắn kết hơn.

(4) Cần tăng cường khả năng tổ chức, phối hợp của người thu nhập thấp (nhưng lại có thể rất giàu vốn xã hội), và giúp những tập thể, những nhóm xã hội, liên kết với nhau.  Đặc biệt quan trọng là “bắt cầu” (danh từ của Granovetter) giữa những nhóm xã hội, bởi lẽ nhiều quyết định có ảnh hưởng đến người nghèo là không xuất phát từ địa phương.  Nhằm mục đích này, phải cổ động sự tham gia đông đảo để tiến đến sự đồng thuận, cũng như tương tác xã hội, giữa những người (khác nhau về quyền lợi và chênh nhau về nguồn lực) trong tầm ảnh hưởng của quyết định ấy.

(5) Các tổ chức viện trợ của nước ngoài thường có một câu hỏi bức xúc: làm sao để trợ giúp thành phần nào đó trong một xã hội vô cùng phức tạp, xa lạ đối với họ.  Tiếp cận “vốn xã hội” nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn chấp thuận một dự án hỗ trợ như thế không thể chỉ dựa vào các tiêu chuẩn công nghiệp và tài chính, mà còn phải để ý đến vốn xã hội địa phương.

(6) Từ quan điểm vốn xã hội, ta càng thấy cần có những chính sách “tiết lộ thông tin” (information disclosure) ở mọi cấp để công dân có nhiều thông tin hơn, và do đó tăng cường “tính trách nhiệm” ở khu vực công lẫn tư.  Quan niệm vốn xã hội đưa đến ý nghĩ là một chính sách tăng cường thông tin, nhất là giữa các tầng lớp xã hội, là cần thiết – thêm một lí do để nhà nước đầu tư vào những phương tiện truyền thông đại chúng.

(7) Liên hệ giữa các loại vốn xã hội thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế.  Những lối sống “cổ truyền” (dựa vào vốn xã hội giữa dân chúng) dần dần được thay thế bằng những tổ chức xã hội có quy cũ hơn.  Thị trường ngày càng mở rộng, quy mô sản xuất ngày càng lớn, nhưng sự phát triển ấy chỉ có thể bền vững nếu số lượng và chất lượng vốn xã hội là đầy đủ và thích hợp.  Nhìn cách khác, ở mỗi giai đoạn phát triển là một tỷ lệ tổ hợp tối ưu giữa vốn-xã-hội-dân-sự và vốn-xã-hội-nhà-nước và, trong chừng mực có thể, chính sách phải linh động đồng nhịp với những thay đổi ấy.

IV. Kết luận

Tôi nghĩ rằng “vốn xã hội” là một ý niệm hữu ích, cơ bản là nó giúp ta nhớ rằng liên hệ quen biết, sự tin cẩn, thể chế xã hội (và lịch sử) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, và do đó cần những chính sách thích hợp.  Tuy nhiên, phải cảnh giác rằng ý niệm này rất linh động, thậm chí mập mờ, chưa đủ chính xác để đưa vào mọi phân tích kinh tế.  Hơn nữa, có nhiều tình huống, vấn đề, mà sự phân tích không thật sự cần khái niệm “vốn xã hội”.  Fukuyama (2006) cảnh báo là chớ nên xem (tiếp cận) “thể chế” như “viên đạn thần” cho phát triển.  “Vốn xã hội” cũng thế  Nên xem nó như một quan niệm bổ túc để hiểu tiến trình phát triển, không phải là thành tố quan trọng nhất trong tiến trình này.

Trần Hữu Dũng
Dayton, Ohio (Mỹ)
7-5-06

Tham khảo

Adler, P. và Kwon, 1998, “Social capital: The good, the bad and the ugly,” trong E.L. Lesser (chủ biên) Knowledge and social capital: Foundations and applications, Boston: Butterworth Heineman

Bourdieu, Pierre, 1986, “The Forms of Capital”, trong Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education (John Richardson, chủ biên). New York: Greenwood Press, 241-258.

Bowles, S., và Gintis, H., 2002, “Social Capital and Community Governance,” Economic Journal 112, F419-F436.

Coleman, J. 1988. “Social capital in the creation of human capital.” American Journal of Sociology, 94, S95–S120.

Cooper, Russell, 1999, Coordination Games, MIT Press

Cooper, Russell, và Andrew John, 1988, Coordinating Coordination Failures in Keynesian Models, Quarterly Journal of Economics, Vol. 103, No. 3 (Aug., 1988) , pp. 441-463

Dasgupta, P., và Serageldin, I., 1999, Social Capital: A Multifaceted Perspective, Washington, DC: The World Bank.

De Soto, Hernando, 2000, The Mystery of Capital: Why Capitalism Triumphs in the West and Fails Everywhere Else, New York: Basic Books.

Dũng, Trần Hữu, 2003, “Vốn xã hội và kinh tế“, Thời Đại, số 3, tr. 82-102.

Durlauf, Steven, 1999, “The Case ’Against’ Social Capital,” Focus 20, 1-5.

Durlauf, Steven, 2000, “Bowling Alone: A Review Essay,” Working Paper.

Durlauf, Steven, 2002, “On the Empirics of Social Capital,” Economic Journal 112, F459-F479.

Fukuyama, Francis, 1995, Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity. NY: Free Press.

Fukuyama, Francis, 2006, America at the crossroads, New Haven: Yale University Press.

Granovetter, Mark, 1973, “The Strength of Weak Ties,” American Journal of Sociology, số 78, tr. 1360-80.

Lin, Nan, 2001, Social Capital, NY: Cambridge University Press,

Nguyen, V. T., Weinstein, M., và  Meyer, A. 2005. “Development of trust: A study of interfirm relationships in Vietnam.” Asia Pacific Journal of Management, 22(3), 211–235.

Putnam, Robert, 2000, Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community, NY: Simon & Schuster.

Rodrik, Dani, 1999, “Where Did All the Growth Go? External Shocks, Social Conflict and Growth Collapses,” Journal of Economic Growth, December.

Sobel, Joel, 2002, “Can We Trust Social Capital?”, Journal of Economic Literature 40, 139-154.

Woolcock, M., 1998, “Social capital an economic development: Toward a theoretical synthesis and policy framework”, Theory and Society 27(2), tr. 151-208.

Woolcock, M. và D. Narayan, “Social capital: Implications for development theory, research and policy,” World Bank Research Observer (15(2), 2000.


[1] Một tài liệu của Liên Hợp Quốc năm 1951 hô hào phá vở những xã hội truyền thống nếu muốn phát triển

[2]Dù nó đã có trong xã hội học gần cả thế kĩ trước.

[3]Những tên tuổi chính: Bourdieu, Coleman, Putnam, Fukuyama, De Soto, …

[4] Xem Adler và Kwon (1998)

[5] Chẳng hạn như vốn tài chính là do tiết kiệm mà có.

[6] Ví dụ, một người bạn của anh là một thứ vốn xã hội mà anh có thể dùng khi nhờ người ấy giới thiệu chỗ làm cho anh, và cũng có thể dùng để “tâm sự” (khỏi tốn tiền gặp bác sĩ tâm lý!).

[7]Tuy nhiên, sự chuyển đổi này không phải luôn luôn dễ (vốn tài chính là dễ chuyển đổi nhất).

[8]Ví dụ, “móc nối xã hội” giữa một nhóm người sẽ phai nhạt qua thời gian nếu những người ấy không giữ liên lạc với nhau.

[9]Một chiếc ôtô cũ chẳng hạn, xài càng lâu thì chắc chắn giá trị càng giảm.  Nhưng không thể tiên đoán giá trị của một liên hệ sẽ thay đổi ra sao với tầm mức hai người giữ liên lạc với nhau.

[10]Trong một hội đoàn, chỉ vài người lươn lẹo là không ai còn tin ai nữa.

[11] “Thế lưỡng nan của người tù”, chẳng hạn.

[12] Xem Cooper và John, 1988; Cooper 1999.

[13] Nói theo kinh tế, vốn xã hội sẽ chuyển dịch (shift) hàm sản xuất gộp (aggregate production function) của cả nước..

[14] Trừ khi “vốn xã hội” này là của các băng đảng tội phạm!

[15] Phân biệt với “vốn xã hội dân sự”, như nhiều học giả đề nghị.

[16] Về lãi suất hoặc thuế má, chẳng hạn.

May 26, 2010

MỘT SỐ QUAN NIỆM ĐƯƠNG ĐẠI VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ- TRẦN HỮU QUANG

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:47 am
Tags: ,

http://www.viet-studies.info/kinhte/TranHuuQuang_XaHoiDansu_2.pdf

March 25, 2010

Sự thật khi lái xe cố tình cán chết người

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:37 pm
Tags: ,

Sự thật là cánh tài xế vẫn bảo nhau rằng: “Thà nó chết hẳn còn hơn bị thương. Mất mấy chục triệu một lúc còn hơn phải nuôi nó cả đời ! Đi tù cùng lắm chỉ vài năm, có ai “đóng hộp” hết án đâu. Nó sống thì mình chết !”. “Nó” ở đây chính là nạn nhân của bánh xe.
> Bức xúc hành động cán chết người của tên lái xe tải

Sự thật là việc cố tình cán chết nạn nhân quá kinh khủng, đây là tâm lý có sẵn của không ít lái xe chứ không phải là “một phút bồng bột”. Cho dù tại nguyên do nào thì hành động ác nhân này cũng không chấp nhận được. Rõ ràng là giết người có chủ ý, bằng hành vi côn đồ, dã man chẳng khác nào dùng các vũ khí khác. Hơn nữa là nạn nhân lúc này đang bị kẹt trong đau đớn, không có khả năng kháng cự. Trước đó họ không thù không oán với nhau, hoàn toàn có thể cứu mạng nhau trong những tình huống khác. Vậy mà…

Sự thật là những vụ việc kiểu này đã có từ rất lâu, như một ung nhọt nhức nhối chưa giải quyết được. Phải chăng cánh lái xe không hiểu hết pháp luật đã được cấp bằng cho chạy rầm rập ngoài đường ? Phải chăng pháp luật có điều gì thiếu sót hay do việc phổ biến chưa đến nơi đến chốn? Để cho người lái xe luôn nơm nớp lo sợ cảnh nuôi hết đời người bị nạn, sợ cái nỗi khổ khi “cán mà người ta không chết”, sợ bị ăn vạ đến sạt nghiệp. Và bao nhiêu cảnh thương tâm đã xảy ra. Tôi run cả tay khi gõ những dòng chữ này, nhưng đó là sự thật.

Sự thật là có những nạn nhân bị thương đã hành cho gia đình tài xế “sống chẳng bằng chết”. Kiếm được bao nhiêu tiền phải nuôi người ta bằng hết. Nào thuốc men, nào viện phí, nào bồi dưỡng sức khỏe… đằng đẵng hàng chục năm trời. Tài xế ấy có khá khẩm gì đâu, cha mẹ già yếu, vợ con nheo nhóc, trông cậy cả vào đồng lương lái xe. Vậy mà gia đình nạn nhân dùng đủ mọi biện pháp từ “đỏ” đến “đen” để hạch tiền. Nhiều khoản họ cố tình vẽ ra và đổ lỗi cho vụ tai nạn để bắt chi tiền. Cái nước ấy, anh tài xế nghĩ, thà “nó” chết mình chỉ đền “một phát” là xong, còn rẻ chán, sướng chán!

Pháp luật đã quy định từ lâu về việc “ai sai người ấy chịu”. Vậy kẽ hở nào khiến cho lái xe nói rằng “người chết không mệt bằng bị thương”? Kẽ hở nào khiến cho người bị thương trở thành một gánh nặng sợ hãi của lái xe? Có lần tôi còn thấy một bà bán phở vỉa hè nói với tài xế chiếc xe máy suýt đâm vào hàng bà rằng: “May cho mày đấy, cái nồi nước sôi này mà đổ vào tao thì mày phải nuôi tao, nuôi cả nhà tao hết đời là cái chắc!”. Bà ấy không đùa tí nào. Tất nhiên gây ra thì phải đền thích đáng, nhưng vấn đề rõ ràng là người chết “nhẹ gánh” hơn nhiều so với người bị thương. Đây là nguyên nhân mà lái xe coi rẻ sinh mạng con người. Nếu “cứu người là cứu mình” hay “giết người là giết mình” và “thương tích đền bù thỏa đáng có giới hạn và thời hạn nhất định” thì tài xế có nhẫn tâm như thế không?

Sự thật là những năm tù của tài xế, dù 8 năm, 15 năm, 20 năm hay nhiều hơn thế cũng chẳng trả hết cái nợ này. Quy luật Nghiệp – Quả sẽ theo tài xế sang tận đời con, đời cháu, thậm chí cả kiếp sau. Cuộc đời tài xế cũng coi như khép lại sau 8 năm “đóng hộp”. Chưa kể việc day dứt lương tâm về tội lỗi đã gây ra thì sau này ra tù cũng khó kiếm được một công việc làm ăn tử tế. Vạ lây sang cha mẹ, anh em, vợ con phải sống trong sự khinh rẻ, xa lánh của xã hội. Cái Quả phải trả tuy đến sau nhưng bao giờ cũng lớn hơn cái Nghiệp gây ra trước đó. Đã có không ít anh Tài sau đó phải thốt lên rằng: “Trời ơi, chỉ vì lo sợ trách nhiệm với một người tàn tật mà ra nông nỗi này, giá như mình chết đi còn hơn !”.

Tôi quen một cựu lái xe như vậy, gần hai chục năm nay bác ấy chưa có một giấc ngủ ngon. Mặc dù cũng đi tù, cũng đền tiền nhưng không thể lấy lại cuộc sống như trước. Hình ảnh người phụ nữ chết quằn quại đau đớn trong gầm xe không làm bác ấy ám ảnh bằng khuôn mặt gia đình cô ấy, trong phiên tòa đầy tiếng gào khóc của người mẹ, người chồng và đứa trẻ ba tháng đang khát sữa. Con cái bác cựu lái này hiện nay rất nghèo hèn và gặp toàn rủi ro trong cuộc sống. Bà vợ liệt gần chục năm chỉ nằm một chỗ. Anh con cả, trong một lần đi làm ca đêm trên đường cao tốc đã bị một chiếc xe tải cán phải rồi bỏ chạy. Bây giờ cứ thấy anh lăn xe đi xin ở các chợ hay đền chùa trong vùng người ta lại bảo: “thằng cha ăn mặn, thằng con khát nước đấy mà !”. Nhiều lần bác muốn tự tử nhưng lại không dám vì còn gánh nặng trĩu vai, bác vẫn phải lo kinh tế trong nhà bằng đồng tiền nhặt nhạnh phế liệu và gánh nước thuê.

Sự thật là mỗi khi xảy ra tai nạn giao thông thì cả tài xế và nạn nhân cùng lâm vào tình cảnh bi đát. Cả hai con người, hai gia đình cùng bất hạnh. Và bất hạnh này chỉ có thể thay đổi khi tất cả cùng vì đức hiếu sinh, vì lòng nhân nghĩa, đạo đức để đừng làm khổ lẫn nhau và làm khổ chính mình. Và dù là bất cứ điều gì, việc cố tình lùi xe để giết người là quá côn đồ, dã man, mất hết nhân tính. Xót xa cho người chết oan ức – một sinh mạng vô tội. Và cũng đau lòng cho lái xe – một cuộc đời khổ ải.

Sự thật là không còn đau đớn nào hơn nhìn người thân của mình bị giết chết một cách tức tưởi, oan nghiệt không đáng có. Tôi không dám nghĩ đến hình ảnh cha mẹ em Hoa sau cái chết của con gái. Họ sẽ sống ra sao những năm tháng còn lại của đời người ? Nỗi đắng cay, xót xa, uất hận của họ biết lấy cái gì bù đắp nổi, nguôi ngoai nổi ? Tiền bạc ư ? Những năm đi tù hay cả mạng sống của lái xe ? Khốn khổ là đều không thể được ! Tài xế không chỉ giết chết một sinh mạng mà còn gieo nhân đau thương cho những thân nhân người ta, đâu kém gì cái chết. Xin chân thành chia sẻ mất mát đau thương với gia đình em Hoa, cầu cho linh hồn em được siêu thoát.

Không biết đến bao giờ thì lái xe hết mình cứu mạng sống nạn nhân? Bao giờ thì nạn nhân không lợi dụng thương tích để bắt vạ lái xe? Bao giờ những sự thật trên biến mất khỏi cuộc sống này? Câu trả lời trông cậy trước hết vào những người soạn thảo và phổ biến luật pháp, sau đó là những đơn vị cấp bằng lái xe, tiếp theo mới đến những vấn đề khác.

March 17, 2010

Sợ cháy, một số chung cư ngừng đổ rác qua đường ống

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:37 pm
Tags: , ,

17/03/2010 06:54:12

Người dân sống tại các chung cư dựng thêm lồng sắt bịt kín ban công, tự chặn lối thoát của mình khi có thảm họa cháy. Những chuồng cọp vẫn nằm im lìm không được mở.

TIN LIÊN QUAN

TS Trịnh Thế Dũng – Trưởng khoa Phòng cháy (ĐH PCCC) cho rằng, chính những ban công biến thành chuồng cọp làm cản trở lớn đối với công tác chữa cháy. Xe thang hoạt động chữa cháy đành bó tay.

Khi có sự cố cháy, xe thang cứu cháy đành bó tay  vì chuồng cọp.
Khi có sự cố cháy, xe thang cứu cháy đành bó tay  vì chuồng cọp.

Chuồng cọp xuất hiện ở nhiều nhà chung cư cao tầng trong các khu đô thị Trung hòa – Nhân chính, Nam Trung Yên, Yên Hòa, Dịch Vọng… để trưng cây cảnh, lồng chim và ngăn trộm.

Một nhà chung cư cao tầng trên đường Hoàng Quốc Việt chỉ còn vài ban công chưa bị… chuồng cọp hóa.

Anh L. sống tại khu ĐTM Yên Hòa (Cầu Giấy – Hà Nội) cho biết: “Bỏ lồng sắt thi lo trộm đột nhập. Trước mắt để thế vẫn cứ thấy yên tâm hơn”.

“Nếu an ninh tốt hơn và có quy định tất cả cùng gỡ chuồng cọp vì mục đích an toàn phòng cháy chung thì mình cũng gỡ”. Một người dân sống tại nhà C – khu chung cư phường Dịch Vọng cho hay.

Không chỉ chuồng cọp, ống đổ rác không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn cháy cũng là mối đe dọa với người dân ở các chung cư. Một số chung cư đã bắt đầu ngừng đổ rác qua đường ống.

ggg
Phòng rác nằm trong tầng hầm để nhiều ô tô – xe máy.

Tại nhà CT 6 – khu ĐTM Yên Hòa, phòng rác tập trung lại nằm ở tầng hầm của tòa nhà, nơi để nhiều ô tô, xe máy. Cửa phòng rác không có gioăng che kín khiến thảm họa cháy tăng lên gấp đôi.

Ông Nguyễn Hồng Quang – Phó GĐ Công ty TNHH MTV quản lý BĐS Constrexim khẳng định: “Một số nhà chung cư có phòng rác bên ngoài, một số thì ở phía trong hầm.

Không thể thay đổi thiết kế ống rác tại các nhà chung cư này được. Trước mắt, người dân đang ngừng đổ rác qua ống rác.

Từng tầng sẽ có thùng đựng rác riêng và thuê nhân công thu gom rác hàng ngày trong thời gian không dùng ống đổ rác”.

March 14, 2010

Ván bài lật ngửa – một đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:22 pm
Tags: ,
Nguyễn Chánh Tín trong phim Ván bài lật ngửa – Ảnh tư liệu

TTO – Ở quê tôi những năm thập niên 1980, món ăn tinh thần điện ảnh duy nhất chỉ là những lần có đội chiếu bóng về chiếu ở khu huyện đội trình chiếu một loạt phim về chiến tranh hay như Cánh đồng hoang, Biệt động Sài Gòn… Ván bài lật ngửa, bộ phim 8 tập kể về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo, đã gây ấn tượng mạnh trong tiềm thức của tôi.

>> Nguyễn Chánh Tín – 20 năm sau Ván bài lật ngửa

Bộ phim đã mô tả một xã hội đầy biến động, phong cách sống của thành phố Sài Gòn, có thể gọi là một đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam.

Bộ phim được trình chiếu và thành công nhiều mặt. Trước hết là kịch bản của nhà văn Nguyễn Bạch Đằng biết chọn lọc những chi tiết rất đắt, dẫn dắt người xem tới những âm mưu, thủ đoạn, những vụ áp phe thường thấy trên chính trường thời đó một cách mạch lạc, dễ hiểu và đầy lôi cuốn với những lời thoại đầy ấn tượng, đầy chất trí tuệ.

Ván bài lật ngửa là bộ phim truyền hình đen trắng 8 tập về đề tài tình báo của đạo diễn Khôi Nguyên (tên thật Lê Hoàng Hoa), do Xí nghiệp phim Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (nay là Hãng phim Giải Phóng) sản xuất trong những năm 1982-1987.

Bộ phim kể về quãng đời hoạt động của nhân vật lịch sử có thật ngoài đời – anh hùng liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo. Bộ phim do nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) viết kịch bản, có sự tham gia diễn xuất của các diễn viên như Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân – tức anh hùng Phạm Ngọc Thảo), ca sĩ Thanh Lan và Thúy An (vai nữ điệp viên tình báo Thùy Dung – vợ của Nguyễn Thành Luân)…

Bộ phim có tám tập như sau:

1. Đứa con nuôi vị giám mục (1982)
2. Quân cờ di động (1983)
3. Phát súng trên cao nguyên (1983)
4. Cơn hồng thủy và bản tango số 3 (1984)
5. Trời xanh qua kẽ lá (1985)
6. Lời cảnh cáo cuối cùng (1986)
7. Cao áp và nước lũ (1987)
8. Vòng hoa trước mộ (1987

(Theo Wikipedia)

Những đoạn đối thoại ấn tượng, thể rõ tính cách từng nhân vật, cũng như tính chất sống còn, căng thẳng trong những pha đấu trí. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng hiện rõ trong thông điệp của bộ phim.

Thứ đến, đạo diễn Lê Hoàng Hoa không những đã tạo được sự căng thẳng, những giây phút nguy hiểm kề cận sống – chết, thành công – thất bại, vốn dĩ phải có ở một phim nói về tình báo mà còn tạo nhịp phim thông thả nhịp nhàng nhưng hấp dẫn bởi nét hào hoa trong cách dựng phim. Ông tạo những khuôn hình đẹp, dựng lại chân thực cảnh trí, văn hóa Sài Gòn, trang phục nhân vật đúng trước năm 1975, nhạc nền là những bản nhạc thịnh hành ở Sài Gòn thời đó.

Người xem còn cảm nhận Sài Gòn hiện lên thật mềm mại, đẹp, lãng mạn. Khán giả còn thấy vẻ kiêu sa, xa hoa ở một đô thị bù nhìn của đế quốc Mỹ, bị ảnh hưởng văn hóa và lối sống phương Tây. Đà Lạt, Tây nguyên, Phan Thiết, miền Đông Nam bộ, Lào, Campuchia… những vùng đất xuất hiện trong phim người xem rất dễ nhận ra bởi đạo diễn đã lựa chọn những nét độc đáo văn hóa vùng đó đưa vào phim.

Thành công bộ phim phải kể đến hai diễn viên chính Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân), Lâm Bình Chi (vai Ngô Đình Nhu). Nguyễn Chánh Tín thể hiện được nét hào hoa, lịch lãm, thông minh, điềm đạm của một nhà tình báo chuyên nghiệp. Lâm Bình Chi thể hiện được nét khôn ngoan, thâm trầm, quỷ quyệt cáo già của một chính trị gia lão luyện.

Họ đã tạo nên vai diễn để đời trong thời buổi công nghệ làm phim Việt Nam còn non nớt và đời sống thiếu thốn là cả một sự cố gắng cao độ. Đó là cái thời mà diễn viên đi diễn hàng tháng trời, thù lao không đủ sống, thiếu thốn trăm bề nhưng biết đầu tư vào vai diễn, tìm cách thể hiện sao cho đạt nhất.

Theo tôi, đây khuôn thước cho một bộ phim Việt Nam nói chung để những người làm phim ngày nay có thể rút tỉa được những kinh nghiệm. Trước hết, phải thể hiện độc đáo bản sắc của đạo diễn (đối với đạo diễn Hoàng Hoa là sự hào hoa) nhưng văn vẫn mang văn hóa Việt trong sự thể hiện đó. Đó là một kịch bản gãy gọn, khúc chiết, hấp dẫn, giàu ý nghĩa, với những lời đối thoại phù hợp. Sau cùng là một dàn diễn viên phù hợp với từng nhân vật và yêu nghề.

Tôi  nghĩ người Việt mình hoàn toàn có thể làm được những tác phẩm điện ảnh đầy sức sống, đủ sức lay động lòng người. Vấn đề là con người, ở đây là các nhà làm phim sáng tạo có bản sắc, diễn viên tận lực, chăm chút từng vai diễn… tất cả đặt trách nhiệm cao nhất với đứa con tinh thần của chính mình.

TRẦN THANH GIẢNG

Mời bạn đọc tham gia viết về những bộ phim Việt Nam yêu thích

Nhằm hưởng ứng Ngày điện ảnh Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức (15-3), giải Cánh diều vàng 2010, và cũng là dịp tôn vinh những bộ phim điện ảnh Việt Nam, TTO mời bạn đọc tham gia viết về những ấn tượng, bài học, giá trị mà những bộ phim điện ảnh Việt Nam đã mang lại cho bạn.

Mỗi tác giả có quyền gửi nhiều bài viết, mỗi bài viết dài khoảng 500 – 1.000 chữ. Bài viết phải được viết bằng tiếng Việt. Những bộ phim được đề cập phải là những bộ phim điện ảnh Việt Nam.

Thời gian nhận bài viết từ ngày 8 đến hết  15-3-2010.

Bài viết xin gửi về địa chỉ tto@tuoitre.com.vn; tiêu đề ghi: tham dự chuyên mục “Viết về những bộ phim điện ảnh yêu thích”. Dưới bài viết vui lòng ghi rõ họ tên, bút danh, địa chỉ, số điện thoại liên lạc… để chúng tôi tiện liên hệ.

Bài được chọn đăng trên Tuổi Trẻ Online sẽ được trả nhuận bút.

Ván bài lật ngửa – một đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam

Nguyễn Chánh Tín trong phim Ván bài lật ngửa – Ảnh tư liệu

TTO – Ở quê tôi những năm thập niên 1980, món ăn tinh thần điện ảnh duy nhất chỉ là những lần có đội chiếu bóng về chiếu ở khu huyện đội trình chiếu một loạt phim về chiến tranh hay như Cánh đồng hoang, Biệt động Sài Gòn… Ván bài lật ngửa, bộ phim 8 tập kể về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo, đã gây ấn tượng mạnh trong tiềm thức của tôi.

>> Nguyễn Chánh Tín – 20 năm sau Ván bài lật ngửa

Bộ phim đã mô tả một xã hội đầy biến động, phong cách sống của thành phố Sài Gòn, có thể gọi là một đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam.

Bộ phim được trình chiếu và thành công nhiều mặt. Trước hết là kịch bản của nhà văn Nguyễn Bạch Đằng biết chọn lọc những chi tiết rất đắt, dẫn dắt người xem tới những âm mưu, thủ đoạn, những vụ áp phe thường thấy trên chính trường thời đó một cách mạch lạc, dễ hiểu và đầy lôi cuốn với những lời thoại đầy ấn tượng, đầy chất trí tuệ.

Ván bài lật ngửa là bộ phim truyền hình đen trắng 8 tập về đề tài tình báo của đạo diễn Khôi Nguyên (tên thật Lê Hoàng Hoa), do Xí nghiệp phim Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (nay là Hãng phim Giải Phóng) sản xuất trong những năm 1982-1987.

Bộ phim kể về quãng đời hoạt động của nhân vật lịch sử có thật ngoài đời – anh hùng liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo. Bộ phim do nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) viết kịch bản, có sự tham gia diễn xuất của các diễn viên như Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân – tức anh hùng Phạm Ngọc Thảo), ca sĩ Thanh Lan và Thúy An (vai nữ điệp viên tình báo Thùy Dung – vợ của Nguyễn Thành Luân)…

Bộ phim có tám tập như sau:

1. Đứa con nuôi vị giám mục (1982)
2. Quân cờ di động (1983)
3. Phát súng trên cao nguyên (1983)
4. Cơn hồng thủy và bản tango số 3 (1984)
5. Trời xanh qua kẽ lá (1985)
6. Lời cảnh cáo cuối cùng (1986)
7. Cao áp và nước lũ (1987)
8. Vòng hoa trước mộ (1987

(Theo Wikipedia)

Những đoạn đối thoại ấn tượng, thể rõ tính cách từng nhân vật, cũng như tính chất sống còn, căng thẳng trong những pha đấu trí. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng hiện rõ trong thông điệp của bộ phim.

Thứ đến, đạo diễn Lê Hoàng Hoa không những đã tạo được sự căng thẳng, những giây phút nguy hiểm kề cận sống – chết, thành công – thất bại, vốn dĩ phải có ở một phim nói về tình báo mà còn tạo nhịp phim thông thả nhịp nhàng nhưng hấp dẫn bởi nét hào hoa trong cách dựng phim. Ông tạo những khuôn hình đẹp, dựng lại chân thực cảnh trí, văn hóa Sài Gòn, trang phục nhân vật đúng trước năm 1975, nhạc nền là những bản nhạc thịnh hành ở Sài Gòn thời đó.

Người xem còn cảm nhận Sài Gòn hiện lên thật mềm mại, đẹp, lãng mạn. Khán giả còn thấy vẻ kiêu sa, xa hoa ở một đô thị bù nhìn của đế quốc Mỹ, bị ảnh hưởng văn hóa và lối sống phương Tây. Đà Lạt, Tây nguyên, Phan Thiết, miền Đông Nam bộ, Lào, Campuchia… những vùng đất xuất hiện trong phim người xem rất dễ nhận ra bởi đạo diễn đã lựa chọn những nét độc đáo văn hóa vùng đó đưa vào phim.

Thành công bộ phim phải kể đến hai diễn viên chính Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân), Lâm Bình Chi (vai Ngô Đình Nhu). Nguyễn Chánh Tín thể hiện được nét hào hoa, lịch lãm, thông minh, điềm đạm của một nhà tình báo chuyên nghiệp. Lâm Bình Chi thể hiện được nét khôn ngoan, thâm trầm, quỷ quyệt cáo già của một chính trị gia lão luyện.

Họ đã tạo nên vai diễn để đời trong thời buổi công nghệ làm phim Việt Nam còn non nớt và đời sống thiếu thốn là cả một sự cố gắng cao độ. Đó là cái thời mà diễn viên đi diễn hàng tháng trời, thù lao không đủ sống, thiếu thốn trăm bề nhưng biết đầu tư vào vai diễn, tìm cách thể hiện sao cho đạt nhất.

Theo tôi, đây khuôn thước cho một bộ phim Việt Nam nói chung để những người làm phim ngày nay có thể rút tỉa được những kinh nghiệm. Trước hết, phải thể hiện độc đáo bản sắc của đạo diễn (đối với đạo diễn Hoàng Hoa là sự hào hoa) nhưng văn vẫn mang văn hóa Việt trong sự thể hiện đó. Đó là một kịch bản gãy gọn, khúc chiết, hấp dẫn, giàu ý nghĩa, với những lời đối thoại phù hợp. Sau cùng là một dàn diễn viên phù hợp với từng nhân vật và yêu nghề.

Tôi  nghĩ người Việt mình hoàn toàn có thể làm được những tác phẩm điện ảnh đầy sức sống, đủ sức lay động lòng người. Vấn đề là con người, ở đây là các nhà làm phim sáng tạo có bản sắc, diễn viên tận lực, chăm chút từng vai diễn… tất cả đặt trách nhiệm cao nhất với đứa con tinh thần của chính mình.

TRẦN THANH GIẢNG

Mời bạn đọc tham gia viết về những bộ phim Việt Nam yêu thích

Nhằm hưởng ứng Ngày điện ảnh Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức (15-3), giải Cánh diều vàng 2010, và cũng là dịp tôn vinh những bộ phim điện ảnh Việt Nam, TTO mời bạn đọc tham gia viết về những ấn tượng, bài học, giá trị mà những bộ phim điện ảnh Việt Nam đã mang lại cho bạn.

Mỗi tác giả có quyền gửi nhiều bài viết, mỗi bài viết dài khoảng 500 – 1.000 chữ. Bài viết phải được viết bằng tiếng Việt. Những bộ phim được đề cập phải là những bộ phim điện ảnh Việt Nam.

Thời gian nhận bài viết từ ngày 8 đến hết  15-3-2010.

Bài viết xin gửi về địa chỉ tto@tuoitre.com.vn; tiêu đề ghi: tham dự chuyên mục “Viết về những bộ phim điện ảnh yêu thích”. Dưới bài viết vui lòng ghi rõ họ tên, bút danh, địa chỉ, số điện thoại liên lạc… để chúng tôi tiện liên hệ.

Bài được chọn đăng trên Tuổi Trẻ Online sẽ được trả nhuận bút.

Hàng ngàn phụ nữ và trẻ em VN bị bán như là “nô lệ tình dục”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:21 pm
Tags: , ,

AsiaNews: Từ 1998-2010 ít nhất 4.500 phụ nữ và trẻ em đã bị đưa ra khỏi biên giới của Việt Nam để cung cấp cho các đường dây mại dâm. Khoảng 65% đến Trung Quốc, số còn lại tới Campuchia, Lào, đến Europea, châu Phi và Mỹ. Nhiều trẻ em bị giao bán trực tuyến trên các trang Internet. Đây là  hình thức mới của chế độ nô lệ thế kỷ 21.


Trẻ em bị bán đấu giá trên mạng Internet cho người nào trả giá cao nhất, thông qua các trang web chuyên ngành với các thông tin cập nhật ít nhất “ba hay bốn lần mỗi ngày với người mới”. Những phụ nữ trong các đường dây mại dâm bị đối xử như nô lệ tình dục. Họ bị  kẻ buôn bán chuyển từ các quốc gia lân cận – Campuchia và Trung Quốc – sang tới các thị trường châu Âu, Mỹ và châu Phi. Ở Việt Nam, trong lúc cuộc sống còn nhiều khó khăn, số lượng phụ nữ bị buôn bán cho các đường dây mại dâm tăng lên hàng năm.

Một tài liệu của chính phủ được công bố gần đây, cho thấy rằng từ năm 1998 đến đầu năm 2010 khoảng 4.500 phụ nữ và trẻ em đã bị đưa ra khỏi biên giới của Việt Nam, để rời vào tay của kẻ buôn lậu vô đạo đức.

Hiện tượng đó đã bắt đầu vào năm 1987 khi Hà Nội mở cửa biên giới của mình cho một nền kinh tế thị trường, mọi việc trở nên nghiêm trọng bởi nhiều trường hợp tham nhũng liên quan đến chính quyền địa phương hoặc những người của “tầng lớp trung lưu.” Tình trạng buôn bán gia tăng khi các can thiệp của những tổ chức từ thiện phi chính phủ và sự phối hợp  giữa Việt Nam, Campuchia và Thái Lan trở nên yếu đi.

Trong năm 2009, hoạt động phối hợp của Chính phủ Việt Nam và Campuchia đã dẫn đến việc bắt giữ được 31 kể dẫn mối, cứu được 70 nạn nhân chuẩn bị vượt biên giới vào Campuchia. Một nhà hoạt động xã hội, báo cáo rằng, một lần nữa năm ngoái, 981 phụ nữ và trẻ em đã được bán tại Campuchia hoặc Trung Quốc.

Hoạt động buôn người diễn ra ’sôi động’ nhất ở biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam; ước tinh chiếm khoảng 65% toàn bộ số lượng phụ nữa và trẻ em gái bị buôn bán ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đó là những phụ nữ để cung cấp cho thị trường mại dâm, hoặc dưới hình thức cô dâu được bán cho người trả giá cao nhất. 10% khác được ghi nhận dọc theo biên giới giữa Việt Nam và Campuchia: những phụ nữ này được sử dụng làm gái mại dâm hoặc ở Campuchia hoặc chờ để quá cảnh sang các nước Châu Âu như Anh, Pháp và Đức. Ngoài ra còn có 6,3% băng qua biên giới Việt Nam tới Lào, từ vùng biên giới ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá và Quảng Trị.

Trong một số trường hợp, các nạn nhân bị lừa gạt bằng các chiêu bài (đi lao động – Danchimviet) và xuất cảnh qua cửa khẩu Tân Sân Nhất và Nội Bài sang các thị trường Malaysia, Hồng Kông, và Ma Cao hoặc các quốc gia Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ. Kể từ khi chính quyền Bangkok ra tay đàn áp với tệ nạn mại dâm, đặc biệt là mại dâm trẻ em, Việt Nam đã trở thành “vùng nóng mới” cho du lịch tình dục. Các quán bar, vũ trường, các khu du lịch của thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Hải Phòng và Đà Nẵng luôn là điểm thu hút khách du lịch.

P. Martino, thành viên của một chức phi chính phủ về các vấn đề xã hội, giải thích rằng, mục tiêu của tổ chức này là “giúp trẻ em Việt Nam, những người đang bị bán như ‘nô lệ tình dục’ ở Campuchia.” Trẻ em bị bán bằng hàng trăm cách, cả trên internet, trên các trang web mà họ luôn quảng cáo là có “sản phẩm mới” được cập nhật ít nhất “ba hay bốn lần một ngày.” Thị trường tình dục, ông kết luận, là “một hình thức mới của chế độ nô lệ đặc trưng của thế kỷ 21.”

Nguồn: AsiaNews

March 13, 2010

Chữa cháy ở Hà Nội chỉ có thể vươn tới tầng 10′

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:53 am
Tags:
Thượng tá Nguyễn Đình Bính. Ảnh: Hoàng Anh.

Trao đổi với VnExpress.net, Phó phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an Hà Nội Nguyễn Đình Bính cho biết, gần 50% cao ốc ở Hà Nội có vấn đề về phòng cháy chữa cháy, trong khi phương tiện hiện nay chỉ có thể cứu hỏa từ tầng 10 trở xuống.
> ‘Có người đã vứt chất gây cháy vào hầm rác chung cư 18 tầng’

– Sau vụ cháy chung cư JSC, nhiều cư dân rất lo lắng. Ông nói gì về công tác phòng cháy chữa cháy tại các cao ốc của Hà Nội hiện nay?

– Thành phố hiện có 364 nhà cao tầng đã đưa vào sử dụng. Có thể nhiều hơn nữa vì có những tòa nhà đang trong giai đoạn hoàn thiện hoặc chưa được nghiệm thu. Trong số này có 247 nhà chung cư, 34 nhà vừa làm chung cư vừa làm văn phòng, 47 văn phòng, 17 khách sạn và 16 nhà đa năng (văn phòng, khách sạn, cửa hàng, trung tâm thương mại).

Tất cả tòa nhà cao tầng trước khi đưa vào sử dụng đều được nghiệm thu và phải đảm bảo thực hiện đúng luật phòng cháy chữa cháy như ban hành nội quy thoát nạn; thành lập lực lượng phòng cháy chữa cháy tại chỗ, được huấn luyện sử dụng thành thạo các phương tiện chữa cháy; bảng kê theo dõi phương tiện chữa cháy; lập phương án chữa cháy…

Tuy nhiên, hiện nay chỉ có hơn 200 nhà cao tầng lực lượng phòng cháy tại chỗ vận hành trơn tru các phương tiện cứu hỏa. Nhiều tòa nhà cao tầng nội quy chưa được hoàn thiện, lực lượng phòng cháy cơ sở (tại chỗ) còn mỏng và yếu. Cá biệt có ngôi nhà lực lượng phòng cháy chữa cháy chưa sử dụng thành thạo các phương tiện.

Ngoài ra, hệ thống phòng cháy chữa cháy xuống cấp một cách nghiệm trọng, không được duy tuy bảo dưỡng, sự hợp tác của một số hộ dân sống trong những tòa nhà đó chưa được tốt. Họ để những chướng ngại vật ra hành lang, cầu thang thoát nạn hoặc những vật cản trở ở nơi chữa cháy. Khi có cháy, công tác cứu hộ gặp nhiều khó khăn.

– Theo ông nói, trước khi đưa vào sử dụng, các tòa nhà cao tầng đều được nghiệm thu về phòng cháy chữa cháy, vậy tại sao chung cư JSC vẫn xảy ra hỏa hoạn giữa ban ngày?

– Một vụ cháy xảy ra trước hết phải xem xét ý thức trách nhiệm của cư dân, cơ quan quản lý tòa nhà rồi mới đến cơ quan quản lý nhà nước. Vụ cháy tòa nhà JSC lỗi do ai, lãnh đạo công an thành phố đã giao cho cơ quan điều tra làm rõ. Hỏa hoạn xảy ra dứt khoát phải có lỗi ở nơi nào đó. Nếu tuân thủ tốt quy định làm sao có thể xảy ra hỏa hoạn.

Tầng 17 tòa nhà JSC sau vụ cháy chiều tối 10/3. Ảnh: Nguyễn Hưng.
Tầng 17 tòa nhà JSC sau vụ cháy chiều tối 10/3. Ảnh: Nguyễn Hưng.

– Trong vụ cháy tòa nhà JSC nhiều người dân than phiền về thiết bị chữa cháy của cảnh sát, cụ thể là việc xe thang không thể với tới tầng 17, 18. Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu có hỏa hoạn ở tòa nhà trên 20 tầng?

– Đúng là lực lượng trang thiết bị phòng cháy chữa cháy của thủ đô còn yếu và thiếu. Phương tiện hiện nay chỉ có thể chữa cháy được từ tầng 10 trở xuống. Toàn thành phố mới có một xe thang 52 mét, 2 xe thang 32 mét và gần 50 chiếc chuyên dụng (xe thang, chữa cháy và chở nước).

Chúng tôi đã báo cáo Bộ Công an và UBND thành phố để nâng cao trang thiết bị cho lực lượng cứu hỏa, đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy trong các tòa nhà cao tầng. Theo tôi, trong tương lai, mỗi quận huyện phải có một đội phòng cháy chữa cháy riêng, chứ hiện nay 29 quận, huyện chỉ có 9 đội. Con số này quá ít.

– Trong vụ cháy JSC, nhiều cư dân đã thoát nạn bằng cách đắp khăn lạnh hoặc chui vào nhà vệ sinh. Theo ông, đâu là cách xử lý tốt nhất khi hỏa hoạn tấn công cao ốc?

– Với lượng khói nhiều, người dân nên lấy khăn hay mảnh vải nhúng nước bịt vào mùi, bò dưới mặt sàn rồi nhanh chóng đến khu vực thoát hiểm gần nhất. Nếu không đắp khăn ướt nạn nhân sẽ bị ngạt khói.

Trong một số vụ cháy, cách chui vào nhà vệ sinh để tránh lửa chưa phải là tốt bởi oxy chiếm dưới 16% thể tích không khí sẽ gây suy hô hấp. Đã suy hô hấp là bị tê liệt thần kinh, người lúc đó sẽ bồng bềnh và không biết gì.

Với những trường hợp như chập điện, hở bình ga… có nguy cơ gây cháy nổ, chúng tôi cũng đã có văn bản cảnh báo gửi đến các cơ sở để họ phổ biến cho người dân nắm rõ.

Theo thượng tá Nguyễn Đình Bính, Phó trưởng phòng Phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Công an Hà Nội, nhà cao tầng được xác định là nhà có 10 tầng từ mặt đất trở lên. Nguyên nhân cháy tại tòa nhà JSC cao 18 tầng được xác định ban đầu trùng với nguyên nhân vụ cháy tòa nhà 13 tầng tại 25 Vũ Ngọc Phan hồi tháng 6/2009, đều do người dân đưa vật liệu dễ cháy vào thùng rác.

Next Page »

Blog at WordPress.com.