Ktetaichinh’s Blog

March 25, 2010

Thị xã bị đầu độc- Bạc mặt vì có… vàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:28 am
Tags: ,

Tại xã Canh Tân, Cao Bằng, sông suối bị bới lanh tanh bành, dòng chảy chính biến mất, các ụ đất chất cao như núi. Tiếng máy nổ đinh tai nhức óc, hệ thống sàng tuyển đãi vàng hoạt động náo nức.

>> Chuyện khó tin bên “dòng sông chết”
>> “Vàng tặc” thách thức cơ quan…

Chúng tôi đi một chiếc xe BKS màu trắng, dán kính đen (tức là không phải xe “biển xanh”, “biển đỏ” mà cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang chống “vàng tặc” tỉnh Cao Bằng thường dùng), chạy rất thong dong để tránh sự theo dõi của các “chim cú” (lực lượng canh gác của “giặc vàng”).

Thế nhưng, suốt mấy chục cây số từ rìa thị xã Cao Bằng, xe chúng tôi vẫn không tài nào cắt đuôi được người đàn ông trung tuổi, đeo khẩu trang, đi xe Dream bám đuổi nhằng nhẵng. Chúng tôi dừng, người đàn ông cũng dừng, cứ nhìn trân trối, đầy thách thức, hỏi gì cũng không biết và không biết. Thấy các vị khách lạ vác camera, cầm máy ảnh, lập tức tiếng hú vang lên, họ nói bằng tiếng địa phương, các máy làm vàng tắt phụp, cánh “vàng tặc” lũ lượt bỏ đi trong các sườn đồi và các tràn ruộng rậm rịt.

“Không thể bắt được vàng tặc” – chỉ là lời nói dối?

Tại xã Canh Tân, sông suối bị bới lanh tanh bành, dòng chảy chính biến mất, các ụ đất chất cao như núi. Tiếng máy nổ đinh tai nhức óc, hệ thống sàng tuyển đãi vàng hoạt động náo nức. Một người dân khẳng khái: Tôi cũng là dân làm vàng ở… bãi trên, máy này là của anh D, là đảng viên, công an viên của xã đấy.

Mới đây, ngày 30.12.2009, UBND tỉnh Cao Bằng còn có chỉ thị nêu rõ thực trạng ở chính 3 cái xã miền tây này, “phương tiện cơ giới tham gia (đào vàng trái phép) với quy mô lớn, thời gian kéo dài”, “gây thất thoát, lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng xấu tới môi trường, an toàn lao động và an ninh khu vực”.

Chỉ thị phân tích cụ thể: Để xảy ra tình trạng nêu trên là do “một số địa phương (cấp xã) còn có hiện tượng một số cán bộ bao che hoặc trực tiếp tham gia khai thác khoáng sản trái phép”; cần phải “kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm” của các cá nhân, đơn vị này. Sau khi 12 vị cán bộ bị xử lý, sẽ tiếp tục đến lượt ai nữa đây?

Chúng tôi đi đến đâu, tiếng máy làm vàng tắt đến đó, nhưng trong những thung lũng rộng dưới sông, suối thượng lưu sông Hiến, vì đường “tụt dốc” xuống các máy múc, máy sàng tuyển quá xa, nên “vàng tặc” nghiễm nhiên nhìn đoàn cán bộ… xem họ làm việc.

Khi thấy có dấu hiệu bị đột nhập hiện trường, họ mới thực sự bỏ chạy. Ở điểm vàng Phiêng Đẩy, xã Quang Trọng, doanh nghiệp Bảo Phát với hơn 200 công nhân, đào bới trên diện tích 8ha, cũng thật sự biến thượng nguồn sông Hiến thành một túi bùn đất nhào ngấu như ruộng cấy!

Đêm, điện sáng như sao sa, ngày nườm nượp “công nhân” và người dân tự do “khoét núi, ngủ hầm”, bốn bề chỉ thấy núi tan hoang, sông biến thành ụ đất bùn, nước đặc quánh như chảo bột màu vàng ai vừa quấy. Bể lắng lọc của công ty, đắp bằng bùn, mưa nhỏ đã vỡ tan hoang, bao bẩn thỉu, độc hại tràn trực tiếp ra sông, suối.

Đúng như ông Bí thư Nguyễn Đặng và ông Chi cục trưởng Bùi Đào Diện đã nói, việc đuổi – chạy, chạy – đuổi giữa cán bộ và “vàng tặc” nơi này nó đã bị “nhờn thuốc” rồi. Hai mươi bảy Tết âm lịch, đoàn cán bộ cực kỳ quy mô của tỉnh Cao Bằng “xông pha” đi xử lý nạn khai thác vàng trái phép ở 3 xã miền tây huyện Thạch An.

Công văn giấy tờ rất công phu, báo cáo xuống, trình báo lên khá tốn giấy mực, lúc lên đường thì… đến đâu cũng thấy lơ thơ vài cái máy hỏng. Và bản báo cáo ra đời (Phó Giám đốc Công an tỉnh Cao Bằng đã ký ngày 11.2.1010): “Hiện tại trên địa bàn 3 xã không có đối tượng nào tiến hành khai thác vàng trái phép. Trong quá trình kiểm tra không phát hiện loại máy móc nào đang hoạt động”.

Một cán bộ tỉnh che miệng cười, 27 tết mới ra quân, các đồng chí ấy đi chúc tết… người đào vàng cho vui ấy mà. Và, nếu nói là không tài nào bắt được mấy gã đào vàng trái phép, với máy xúc, máy ủi nặng vài tấn, đi chậm hơn con rùa ở ngoài sông suối, thì hơi bị… khó tin. Thì, chúng ta sẽ không thể hiểu được rằng, với sự “thần thông quảng đại” tới mức nào mà cảnh sát môi trường có thể tóm được các nguồn xả thải, các đường ống ngầm bí mật, tinh vi của Công ty Vedan khi “bọn chúng” đầu độc sông Thị Vải!

Ngang nhiên đào đãi vàng.  Ảnh: Đ.D.H

Cũng may, có những cuộc điều tra tìm ra được một phần của bản chất câu chuyện “vàng tặc”. Đoàn kiểm tra của huyện Thạch An chỉ kiểm tra trong các ngày từ 7 đến 15.1.2010 đã phát hiện rất nhiều máy móc khổng lồ đang “ăn thịt” sông Hiến và các con suối đầu nguồn của nó.

Cụ thể, bắt quả tang 16 công  nhân, 4 máy xúc, 2 giàn tuyển, 4 máy nổ đang khai thác vàng trên suối Nà Giàn (xã Quang Trọng); tại suối Nà Pạc, đoàn cũng đẩy đuổi ông Hoàng Xuân Hoà (người tỉnh Bắc Cạn) cùng 5 công nhân, với đủ bộ máy xúc, máy tuyển, máy nổ, máy bơm kềnh càng về “phía tỉnh bạn”; dọc suối Nậm Cung, tổ công tác cũng xử lý ông Hạ Văn Giới (người Ngân Sơn, Bắc Cạn) cùng 10 lao động và hệ thống máy móc đắt tiền đang “mổ bụng” con suối thượng nguồn…

Đấy là chưa kể rất nhiều hộ gia đình, với máy móc lớn, đắt tiền, đều là người Thạch An cũng bị xử lý, yêu cầu khênh máy móc về nhà, ký cam kết không tái phạm. Dọc Nậm Cung, đoàn còn phát hiện có ít nhất 7 tổ khai thác vàng rầm rộ, trải dài từ huyện Thạch An của Cao Bằng sang huyện Ngân Sơn của tỉnh Bắc Cạn.

Điều đó lý giải vì sao ngay cả khi “chiến dịch” ra quân, các máy vàng trái phép ở Thạch An ngừng hoạt động toàn bộ thì nước sông Hiến và các dòng suối vẫn đục ngầu, sền sệt. Huyện Thạch An đã đề nghị lực lượng công an của mình, tổ chức hội nghị giáp ranh với công an Ngân Sơn, tỉnh Cao Bằng cũng đã có kế hoạch tổ chức đoàn đại biểu sang làm việc với tỉnh Bắc Cạn, ngõ hầu chung tay cứu lấy dòng sông Hiến thơ mộng, nơi cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho thị xã Cao Bằng và nhiều huyện lỵ khác.

Đào vàng trong “bể nước ăn” của thị xã!

Những phân tích trên cho thấy: Cơ quan chức năng tỏ ra bất lực, không hiệu quả trong việc dẹp nạn khai thác vàng trái phép (ít nhất là) ở Thạch An. Có những nguyên nhân vô cùng khó hiểu cho tình trạng này.

Bởi máy đào vàng to và đi chậm hơn xe lu, tiếng nổ của nó thì ở cách vài cây số đã nghe tiếng, nước đục nó phun ra, thì nó chảy thẳng về trước ngay trước cổng tỉnh uỷ, Uỷ ban rồi đi vào nhà máy nước “ăn” của bà con ta, dòng đục dòng trong thế nào, ai chả biết.

Không biết tỉnh Cao Bằng đã quản lý nghiêm với các doanh nghiệp được cấp phép đào vàng chưa, khi mà các đoàn kiểm tra gần đây liên tục phát hiện ra những chuyện tày trời, như: Chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường được duyệt đã “làm vàng”, làm rồi xả thẳng nước ra sông suối, đập ao làm chiếu lệ sơ sài.

Bản báo cáo đề ngày 14.1.2010 của UBND tỉnh Cao Bằng viết rõ: Khu vực 3 xã kể trên có 3 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động khoáng sản, trong đó doanh nghiệp Bảo Phát đang khai thác điểm vàng Phiêng Đẩy: “Tại thời điểm kiểm tra, có 220 công nhân lao động, đơn vị biên chế thành 10 tổ khai thác bằng hình thức hầm lò là chủ yếu, với 10 đường lò đang hoạt động; (…). Hệ thống xử lý nước thải của đơn vị hầu như không có tác dụng, vì các đập chắn chưa hình thành, nước thải hầu như chảy trực tiếp ra suối (…)”.

Mới đây, Chủ tịch UBND huyện Thạch An, ông Nguyễn Văn Dừa đã ký văn bản yêu cầu cấp trên kiểm tra hoạt động (gây ô nhiễm môi trường) của các doanh nghiệp trên 2 xã Minh Khai và Quang Trọng; đề nghị Công ty Đại Bảo, trước đây đã được cấp phép thăm dò khai thác vàng (nay đã hết hạn) mang máy móc ra khỏi hiện trường, bởi quá trình “thăm dò” của họ đã làm ô nhiễm môi trường rất nặng nề.

Đừng đổi sức khoẻ của dân lấy “vàng”

Một so sánh nhỏ: Tỉnh Gia Lai có một thắng cảnh tuyệt mỹ, “đôi mắt Pleiku Biển Hồ đầy”. Vì Biển Hồ là nguồn nước ăn của thành phố, nên địa phương chấp nhận hy sinh nguồn lợi, cấm tuyệt đối cả hoạt động tắm hồ, khai thác du lịch ảnh hưởng đến sự trong lành của nước hồ. Trong khi đó, Cao Bằng lại cấp phép cho doanh nghiệp đào bới, chấp nhận tạm thời “bó tay” trước nạn đào vàng trên hàng chục cây số dọc thượng du sông Hiến – nguồn nước sinh hoạt của mình.

Tôi không tin và không một ai có thể tin được, rằng lực lượng tinh nhuệ của liên ngành tỉnh Cao Bằng không thể tóm cổ được các cỗ máy đào vàng ù lỳ to như xe tăng dưới bùn nhão của sông suối, hang hốc kia! Có lẽ, vấn đề chỉ còn là: Người ta có thật sự muốn cứu dòng sông ngắc ngoải của mình không, có muốn cứu hàng vạn người đang bị đầu độc nguồn nước sinh hoạt kia không?

UBND huyện Thạch An cũng vừa có báo cáo chính thức lên UBND tỉnh Cao Bằng: “Đề nghị đình chỉ ngay lập tức mọi hoạt động khai thác vàng trái phép ở 3 xã miền tây Canh Tân, Minh Khai, Quang Trọng”.

Điều mà các cán bộ nhà máy cung cấp nước cho thị xã Cao Bằng và tất cả chúng tôi băn khoăn nhất: Liệu có đúng là hàng vạn cư dân của Cao Bằng đang bị “đầu độc” không chỉ bằng bùn nhão, nước đục ngầu, mà còn có cả thuỷ ngân và xianua không?

Giám đốc nhà máy ông Đặng Nhật Quân – đã có công văn gửi UBND tỉnh Cao Bằng, với nội dung: “Đề nghị (tỉnh) không cấp phép khai thác vàng trên toàn bộ lưu vực phía trên các nhà máy nước (kể cả sông Bằng, sông Hiến) vì các đơn vị khai thác có thể sử dụng thuỷ ngân và xianua là hoá chất cực độc để xử lý vàng mà chúng ta không thể kiểm soát được. Lợi ích do khai thác vàng đem lại khó có thể bù lại nguy cơ thiệt hại về sức khoẻ cho nhân dân, nhất là khu vực đông dân như thị xã Cao Bằng”.

PV Lao Động đã tham khảo ý kiến nhiều chuyên gia, gồm các tiến sĩ vật lý, hoá học, các vị từng là lãnh đạo cấp cao của Bộ Tài nguyên – Môi trường, thì nguy cơ nhiễm độc thuỷ ngân và xianua trên sông Hiến do đào đãi vàng là không có gì khó hiểu, lời “tố cáo” của bà con xung quanh việc doanh nghiệp đào vàng xả thẳng nước thải ra sông, suối với cả thuỷ ngân và xianua là có cơ sở. Bởi, trên nguyên tắc, thật khó  có “ông” nào tìm được vàng mà không cần đến hai thứ độc tố “giết người” đó.

Nếu đúng như thế thì có lẽ thị xã Cao Bằng đang bị “đầu độc tập thể” không chỉ bằng bùn đất ô tạp? Vâng, xin trả lại bài toán kỳ quặc này về cho người Cao Bằng.

Advertisements

March 17, 2010

Vì sao Trung Quốc chỉ thích đàm phán song phương?

Ngoài việc tranh chấp với các nước ở vùng biển phía Đông Việt Nam, Trung Quốc còn có tranh chấp với Nhật Bản ở ba khu vực trong vùng biển phía Đông Trung Hoa. Một trong những tranh chấp đó liên quan tới bãi đá Okinotori, cách Tokyo khoảng 1.700 km về phía Nam. Trung Quốc không tranh chấp với Nhật về chủ quyền của bãi đá Okinotori, mà chỉ phản đối Nhật khi nước này đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho bãi đá này.

Trung Quốc dựa vào điều 121 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) để phản đối Nhật đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mở rộng ở Okinotori.

Trong công hàm phản đối Nhật vào đầu tháng 2 năm ngoái, Trung Quốc viện dẫn khoản 3, điều 121 của UNCLOS và cho rằng: Những hòn đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Trung Quốc lập luận rằng Okinotori chỉ là một tảng đá, nên không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như một hòn đảo.

Thế nhưng, ba tháng sau, khi Việt Nam cùng với Malaysia đệ trình bản đăng ký chung lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hiệp Quốc (CLCS), Trung Quốc lại phản đối bản đăng ký đó theo một lập luận khác với lập luận mà Trung Quốc đã phản đối Nhật.

Trung Quốc đã nói với 10 thành viên trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á rằng, họ nên làm việc với nhau trước khi làm việc với Trung Quốc để thảo luận vấn đề Biển Đông.

Giáo sư Carl Thayer

Công hàm phản đối của Trung Quốc viết: Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và vùng nước xung quanh, được hưởng những quyền chủ quyền và quyền tài phán bao quanh vùng nước cũng như tầng đất và đáy biển có liên quan… Chính phủ Trung Quốc yêu cầu Ủy ban không xem xét việc đệ trình của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Qua công hàm phản đối này, Trung Quốc đã biến “các bãi đá ngầmở biển Đông thành “những hòn đảo”, do vậy nên đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa trên các bãi đá này. Bất kể các bãi đá này, tương tự như bãi đá Okinotori, không có đời sống kinh tế riêng, do đó không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hiện nay, Trung Quốc đang dựa vào các bãi đá vừa kể để đòi chủ quyền khoảng 80% khu vực biển Đông.

Mới đây, trong một buổi họp báo giữa vào tháng 1, ông Mã Triệu Húc, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, tuyên bố: Đảo san hô Okinotori chỉ khoảng 10 mét vuông trên mặt biển khi nước thủy triều lên. Nó chỉ là một tảng đá, theo Công ước Liên Hiệp quốc về Luật Biển. Không thể đòi vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa quanh một tảng đá như thế.

000_Hkg2991146.jpg
Hội thảo quốc tế về vấn đề “Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển” tổ chức ở HN hôm 26/11/2009. AFP photo/Hoang Dinh Nam

Nói cách khác, cùng là bãi đá ngầm nhưng với Nhật thì Trung Quốc bảo Okinotori không thể có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa vì nó không phải là một hòn đảo, không có đời sống kinh tế tự lập. Còn ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi có các bãi đá ngầm như Okinotori thì Trung Quốc lại cho rằng, “các bãi đá ngầm” ấy có đời sống kinh tế độc lập để dựa vào đó đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng.

Những lập luận mà Trung Quốc sử dụng để phản đối Nhật khi Nhật đăng ký vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho bãi đá Okinotori mâu thuẫn với những lập luận mà Trung Quốc sử dụng khi đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trên các bãi đá ngầm ở biển Đông, trong tranh chấp với Việt Nam và các nước trong khu vực.

Phải chăng vì các lập luận này mâu thuẫn với nhau nên Trung Quốc không thích đàm phán đa phương? Nhật có thể dựa vào lập luận mà Trung Quốc đưa ra để đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà bác bỏ phản đối của Trung Quốc về đá ngầm Okitonori.

Tương tự, Việt Nam và các quốc gia khác đang có tranh chấp với Trung Quốc tại biển Đông có thể sử dụng lập luận của Trung Quốc về bãi đá Okinotori để bác bỏ đòi hòi của Trung Quốc.

March 14, 2010

Đồng bằng sông Cửu Long: Thiếu nước gay gắt

TP – Vùng sông nước ĐBSCL đang gồng mình hứng chịu khô hạn khốc liệt, xâm nhập mặn. Ngày 12-3, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cùng các địa phương tìm giải pháp chống hạn, xâm nhập mặn cho ĐBSCL.

Khoan lấy nước ngầm để nuôi tôm ở Bạc Liêu  – Ảnh: Phan Thanh Cường

Thiếu nước ngọt cho lúa

ĐBSCL có 1.564.000 ha lúa đông xuân, đã thu hoạch xong 677.000 ha. Diện tích còn lại, có trên 620.000 ha của các tỉnh ven biển Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre đang bị khô hạn.

Các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân (Bạc Liêu) có 44.631ha lúa đông xuân, đã thu hoạch 13.000ha, còn lại đến giữa tháng 4-2010 mới thu hoạch.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cáo Đức Phát cho biết, các cơ quan chuyên môn dự báo hạn và mặn còn gay gắt hơn trong thời gian tới.

Ông Lương Ngọc Lân, PGĐ Sở NN& PTNT Bạc Liêu cho biết: “Nếu không có mưa trái mùa, diện tích trên sẽ khó sinh trưởng, phát triển”. Hiện nay, hơn 20.000 ha lúa đông xuân thiếu nước ngọt. Các tuyến kinh cấp 3 ở các xã Vĩnh Hưng, Vĩnh Hưng A (Vĩnh Lợi, Bạc Liêu) đã trơ đáy.

Ở tỉnh Sóc Trăng, các huyện Long Phú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị nước mặn xâm nhập và nông dân phải lựa nguồn nước rất gian nan để tránh bơm nhầm nước mặn cho đồng lúa.

Ông Trương Thanh Bình, GĐ Sở NN&PTNT Sóc Trăng, cho biết, Sóc Trăng đã xuống giống vụ xuân hè khoảng 50.000 ha, có 20.000 ha thiếu nước.

Tại tỉnh Cà Mau, khô hạn đang đặt 36.000 ha rừng tràm báo động nguy cơ cháy cấp 4, cấp 5. Ông Trần Văn Thức, PGĐ Sở NN&PTNT Cà Mau nhận định: “Nắng hạn kéo dài đến cuối tháng 4 và đầu tháng 5 sẽ thiếu nước chữa cháy rừng, nếu cháy rừng xảy ra”.

Hiện nay, các kinh rạch đang cạn nước, sụt giảm hơn 0,5m so với những năm trước.

Lượng mưa hụt nhiều, lại kết thúc sớm, nắng nóng ngay đầu năm, xâm nhập mặn sâu đến 70km. Lượng nước sông Mekong sụt giảm, thiếu nước thượng nguồn, không có nước đổ về ĐBSCL.

Từ đó, nước mặn theo các sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Tiền, Sông Hậu, Hàm Luông, Cổ Chiên, Quản lộ Phụng Hiệp… Vùng bán đảo Cà Mau, xâm nhập khu vực ngọt sớm gần 2 tháng so với những năm trước.

Thiếu nước mặn nuôi tôm

Mực nước tại các kinh rạch vùng bán đảo Cà Mau sụt giảm, tăng độ mặn tại các vuông tôm lên đến 28-30%. Người nuôi tôm ở Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân phải bơm nước để nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Lẹ ở xã An Xuyên (TP Cà Mau) cho biết, bà con ở hai bên sông Bạch Ngưu phải đặt máy bơm, chờ nước lớn để bơm vô vuông tôm. Nhà nhà bơm nước mặn nên sông cũng thiếu nước mặn nuôi tôm.

Ông Lương Ngọc Lân, PGĐ Sở NN&PTNT Bạc Liêu, cho biết, các cống lớn vùng mặn chỉ vận hành đóng lại hoặc mở ra để không cho mặn lấn sâu lên kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp về phía tỉnh Sóc Trăng.

Trong khi đó, các cống ở tỉnh Cà Mau, sông Cái Lớn tỉnh Kiên Giang còn bỏ ngỏ, dẫn đến thiếu nước cho khoảng 25.000 ha/55.000 ha đất nuôi tôm ở huyện Giá Rai, Phước Long.

Tỉnh Bạc Liêu lắp đặt 144 máy để bơm nước pha loãng khối mặn xâm nhập vào các huyện Giá Rai, Phước Long, Hòa Bình cho người nuôi tôm.

Lo nước ngọt cho người và lúa

Ông Nguyễn Văn Đồng, GĐ Sở NN&PTNT Hậu Giang đề nghị Bộ NN&PTNT hỗ trợ nông dân bơm nước thông qua tỉnh làm đầu mối thành lập các trạm bơm theo từng tiểu vùng, từng cụm dân cư.

Nguồn vốn kiên cố hóa kinh mương, tỉnh Hậu Giang sử dụng 45 tỷ đồng tận dụng nguồn nước ngọt để cứu lúa, đảm bảo sản xuất trên 50.000 ha.

Sở NN&PTNT Bạc Liêu đề nghị Bộ NN&PTNT hướng dẫn, phối hợp liên tỉnh, liên vùng vận hành các công trình đầu mối thuộc hệ thống thủy lợi Quản lộ  Phụng Hiệp để sử dụng nguồn nước ngọt.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết, các cơ quan chuyên môn dự báo hạn và mặn còn gắt hơn trong thời gian tới. Nên các cấp phải chuẩn bị nguồn tài chính, giải pháp kỹ thuật để chống khô hạn, chống xâm nhập mặn sâu hơn.

Trước mắt, triển khai ngay các giải pháp kỹ thuật để cung cấp nước cho dân, nước ngọt cứu lúa. Khôi phục đập tạm để chống hạn, tích trữ nước. Các địa phương từ tỉnh đến xã cần theo dõi sát tình hình, có biện pháp cụ thể cho địa phương mình.

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết thêm, đang theo dõi nguồn nước toàn tuyến sông Mê Kông và Bộ sẽ báo cáo Chính phủ để có biện pháp hỗ trợ dân, bảo đảm sản xuất.

March 13, 2010

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỐI MẶT VỚI THÁCH THỨC KÉP CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:23 am
Tags: , ,

http://www.vncold.vn/modules/cms/upload/10/PhatTrienNuoc/100309/bckh_icold_2010_1.pdf

Mighty Mekong is drying up- China dams blamed by Thais downstream for fishing and crop woes

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:52 am
Tags: , , ,

Nirmal Ghosh, Thailand Correspondent

CHIANG KHONG: Resentment is simmering among Thai fishing communities along the Mekong River facing a prolonged dry spell and record-low water levels.

Local residents blame China’s dams upstream for disrupting fish and other marine life, causing a sharp drop in fish catches and in turn affecting their livelihoods.

Experts and Chinese officials, however, are not convinced that the problem lies with the dams.

China’s Assistant Foreign Minister told Thai Prime Minister Abhisit Vejjajiva when they met in Bangkok yesterday that its dams in Yunnan province do not have a significant impact on water levels downstream.

‘China would not do anything to damage mutual interest with neighbouring countries in the Mekong,’ Mr Hu Zheng-yue was quoted by the Thai media as saying.

The country is experiencing an unusually long dry spell. Some locals say they last saw rain in October last year.

This reporter spent two days visiting communities along the Mekong and talking to people there.

Summer has yet to peak, but already forests and roadsides are littered with tinder-dry teak leaves that crush into a million fragments underfoot.

Smoke from brush and forest fires – some started deliberately to clear land for cultivation – hangs like a shroud over the region and fills the river valley.

The Mekong is one of the world’s longest rivers.

Beginning in the Tibetan plateau, it runs through China’s Yunnan province, Myanmar, Laos, Thailand, Cambodia and Vietnam.

The river has dropped to its lowest level in at least 20 years, according to residents.

Shipping between China and Thailand has literally ground to a halt – calling into question the utility of a new port being built at Chiang Saen to accommodate 500-tonne ships instead of the current maximum of 300 tonnes.

Riverbed crops continue to wither, and household taps are running dry as the water levels in wells drop.

More than a dozen communities in towns from Chiang Saen, near Thailand’s northern border, to Pa Dai, where the Mekong leaves Thailand for a while to run through Laos, have been affected.

The locals say they have seen the river’s water level go up or down by as much as a metre in a single day.

The erratic water levels have disrupted breeding and spawning in the Mekong, where about 70per cent of the fish stock is migratory.

Locals told The Straits Times that their catches of fish had dropped and that large fish were now a rarity.

They also said that unexplained fluctuations in water levels had destroyed dry season crops such as chillies, vegetables and tobacco grown on the exposed portions of the river bed.

Thai senator Prasarn Marukpitak, who is the chairman of a senate sub-committee on the Mekong, said that ‘China does not seem concerned’.

While acknowledging that the Chinese need water for their own needs, he said they ‘should not think the river is theirs’.

Mr Niwat Roykaew, 50, the head of a conservation group based in Chiang Khong, told The Straits Times: ‘Governments can’t solve these problems. It is the people who are the key.’

Mr Niwat, who is a teacher, is part of a growing number of activists across the four lower Mekong countries who are networking at a community level to exert pressure on their governments to demand an end to the exploitation of the Mekong.

He listed other issues that add to the problem: navigation, the use of chemical fertilisers in fields adjoining the river, the use of dynamite and electricity to catch fish, and encroachments on wetlands.

But much of his ire is directed at China – and at experts who say that the drought, not the dams, is to blame for the current situation.

China, they point out, contributes just 16 per cent of the water flow in the Mekong, while Laos contributes 35 per cent.

‘Academics and experts often ignore local knowledge,’ Mr Niwat said. ‘But for us here, we just know the dams are a major factor.’

Last month, a Chiang Rai provincial official wrote to Yunnan’s governor to ask that water be released to ease the shortage in the lower Mekong, Mr Niwat said.

In his reply, the governor said he could not do so because Yunnan needed water for agriculture during the dry season.

A Thai conservationist and former senator, Ms Tuenjai Deetes, told The Straits Times it was time for a six-party agreement on sharing the waters of the Mekong.

‘There is clear evidence that development projects that do not consider trans-boundary social and environmental impacts have disastrous impacts on downstream areas,’ she said.

March 12, 2010

Canh bạc với hàng xóm- TQ và Lào


Thielke, Thilo

Ngày 11-1-2010

Trung quốc âm thầm dịch chuyển biên giới của họ xuống phía nam. Các nhà đầu tư từ quốc gia rộng lớn đông dân này thuê hẳn một thành phố và xua đuổi dân bản xứ.

George Huang đang phởn chí. Khi gã người Trung quốc này mở cửa sổ văn phòng rộng cỡ cái 2 ga-ra ra, cả một luồng không khí mát rượi ùa vào. Cuốn theo nó là tiếng ồn ào của máy ủi, tiếng đập thình thịch của máy nện và tiếng chói tai nhức óc của máy khoan cắt bê-tông. Du khách phương Tây nếu phải đến đây sẽ không thể chịu được, nhưng đối với Huang thì cái thứ âm thanh hỗn tạp ở thị trấn Bò thèn khỉ ho cò gáy sát biên giới Lào-Trung này lại là âm nhạc.

Gã doanh nhân đóng trong bộ đồ Tây kẻ sọc nhỏ, áo sơ-mi kẻ đen trắng và kravat xám màu. Từ bàn làm việc gã có thể phóng tầm mắt xa tít tới vùng đất đẹp thơ mộng đang dần biến thành công trường. Gã ta là sếp của cái thị trấn bắc Lào này, hay đúng hơn là Tổng Giám đốc công ty Golden Boten City Co. Ltd. Gã thích được gọi là Chủ tịch hơn, còn anh chàng gày gò luôn kè kè bên cạnh mỗi khi có đám khách ngoại quốc lạc vào đây được Huang gọi là Ngoại trưởng.

Mà mấy khi có khách ngoại quốc. Đơn giản bởi vì cái thị trấn Bò-thèn trên đất Lào này hoàn toàn có thể coi là đất Trung Quốc. Ngôn ngữ chính là tiếng Trung, biển hiệu toàn ký tự chữ Hán, thanh toán bằng Nhân dân tệ, đến cả giờ cũng là giờ Bắc Kinh chứ không phải giờ Vientian. Danh chính ngôn thuận thì đây là đất Lào, nhưng cái “thị trấn vàng” Bò-thèn với 21 cây số vuông Đặc quyền kinh tế này nằm chắc trong tay những người Trung quốc.

Những tay cò mồi của các quốc gia giàu có đang dòm ngó đất đai tại những nước đang phát triển. Dẫn đầu là Trung Quốc, họ đã có được những nông trường rộng lớn ở các nước như Sambia, Uganda hay Congo.

Nhưng đặc biệt ở Đông Nam Á hình thái mới của Chủ nghĩa thực dân này đang hiển diện ngày một rõ nét nhất. Tại chính đây Trung Quốc đang mở rộng bờ cõi bằng cách âm thầm di dời đường biên giới vào sâu trong đất của các quốc gia lân bang có chủ quyền.

Theo đánh giá của tổ chức Hợp tác Kỹ thật Đức GTZ thì riêng tại nước nhiệt đới cộng sản nghèo với vẻn vẹn sáu triệu dân này đã bị Trung Quốc đưa vào dự án khoảng 10 ngàn cây số vuông đất, cỡ 4 % diện tích của cả nước Lào. Khoảng chừng 15 % đất của Lào đã nằm trong tay các công ty nước ngoài, trong đó có cả của Việt Nam và Thái Lan.

Theo bản tin điện tử “Asia Time” thì: “Trung Quốc đã nắm trong tay phần lớn nền kinh tế Lào. Từ khai mỏ, thuỷ điện đến cao-su, từ bán lẻ đến dịch vụ khách sạn. Họ kiểm soát hầu hết các mảng trong nền kinh tế”. Ngay từ năm 2007, Trung quốc đã đầu tư hơn một tỷ dollar, chiếm 40 phần trăm tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Lào.

Chính quyền tỉnh Vân Nam Trung Quốc tiếp giáp với Lào đã có hẳn một chương trình cho sự nghiệp công nghiệp hoá miền bắc Lào cho tới năm 2020. Chương trình với cái tên “Dự án phương bắc” đã được đệ trình lên chính phủ Lào và chờ được sự phê chuẩn của đại hội đảng lần thứ 9 Đảng Cộng sản Lào. Dự án chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp then chốt như nông-lâm nghiệp cũng như điện, khai mỏ và du lịch.

Người Trung Quốc đã vào cuộc ngay từ bây giờ. Họ đang cho xây một khách sạn hoành tráng 700 giường Royal Jinlun Hotel, một casino 11 sảnh với một tốc độ chóng mặt.

Đồng thời họ cũng đang hoàn thành một khách sạn 700 giường khác, muộn nhất đầu tới phải xong, một sân golf, một đường đua xe, một công viên, một trường đua ngựa và một trường bắn thể thao. Bò-thèn đang phát – Huang khoe khoang; giờ hiện đang có 7000 người sống ở đây, nhưng không bao lâu nữa sẽ là 6 vạn nguời. Chúng tôi sẽ có đầy đủ khách sạn với tất cả các hạng giá cả. Ngay giờ chúng tôi đã không có đủ phòng để cho thuê.

Bò-thèn nay trở thành trốn truỵ lạc, người dân Lào không dám bén mảng đến đây nữa. Dân Lào bị cấm chơi cờ bạc và đến động mại dâm. Số ít người Lào còn sót lại nơi đây thì giữ khoảng cách với lũ thống trị mới đến từ phương bắc. Một chế độ Apartheid đang hiển diện ở miền bắc Lào.

Huang thì khẳng định còn ít nhất 20% dân số là người Lào gốc còn sống ở đây. Nhưng họ hầu như không xuất hiện. Nhưng tay công an và những chiếc xe cảnh sát không biển kiểm soát lo giữ an ninh trên đường phố đều đến từ Trung Hoa. Cũng như những đầu bếp chuyên gia chế biến thịt gấu hay những chị lao công, các cô váy ngắn đứng phát tờ rơi trước cửa khách sạn hay những tay hồ lì đóng bộ ngồi trong sòng bài đều đến từ đất nước rộng lớn này.

Đường dây điện thoại và đường điện được kéo đến từ Trung Quốc, ổ cắm điện Trung Quốc, bia Tsingtao và thuốc lá được nhập từ Trung Quốc. Ngay cả hải quan Lào cũng rút hẳn khỏi nơi đây, trạm hải quan không còn nằm tại biên giới Lào – Trung mà nằm phía nam của Bò-thèn. Dường như thị trấn này không còn thuộc về Lào nữa.

Phần lớn số dân Lào sau khi bị người Hoa chiếm đất phải sống cách đó 20 km trong khu tạm bợ bên lề con đường liên huyện. Ngay sau khi hợp đồng chuyển nhượng nhằm biến khu thị trấn thành ổ sòng bài được ký thì quân đội Lào được điều động đến.

Một cô gái tên Sida kể: “Quân đội chất chúng tôi lên những chiếc xe tải và thả chúng tôi xuống đây. Họ cấm chúng tôi quay trở lại thị trấn”. Cho một khởi đầu mới mỗi một người dân Bò-thèn được nhận trợ cấp 800 dollar. Nhưng số tiền không giúp họ được bao lâu.

Sida trong chiếc quần jeans lửng và áo T-shirt đỏ này có 3 đứa con phải nuôi. Cô bán Coca-cola, dép tông nhựa và hạt dưa rang. Chồng cô còn có việc làm trong mỏ muối còn sót lại ở Bò-thèn. Chẳng bao lâu nữa cái nghề truyền thống này cũng sẽ bị xoá sổ. Cách duy nhất còn lại để sống là họ phải di xuống phía nam, nơi đất Lào còn là của nguời Lào.

Người dịch: Lê Viết Linh

March 8, 2010

Mê Kông dòng nước uống chung

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:20 am
Tags:

<!–NGay gio Modified

–>

07/03/2010 2:43

Uống chung một dòng nước, một bộ phim tài liệu về sông Lan Thương – Mê Kông (thượng nguồn sông Mê Kông trong lãnh thổ Trung Quốc được gọi là sông Lan Thương – PV), do Đài truyền hình Trung Quốc hợp tác với các nước tiểu vùng sông Mê Kông thực hiện.

Đầu năm 2008, bộ phim cùng lúc được phát sóng trên kênh truyền hình quốc gia của 6 nước tiểu vùng sông Mê Kông. Bộ phim có kinh phí sản xuất lên đến 2 triệu USD, được đánh giá là phim tài liệu truyền hình khái quát nhất, hệ thống nhất về dòng Lan Thương – Mê Kông đầy quyến rũ và bí ẩn. Nhưng trên hết, bộ phim nhằm nói lên mối dây liên hệ không thể tách rời, đồng sở hữu và sự phụ thuộc của sinh kế người dân vào dòng sông này.

Khi xem bộ phim, đến giờ tôi cứ nhớ mãi chi tiết kết ở tập một của bộ phim. Đó là hình ảnh những đứa trẻ xếp thuyền giấy thả xuống dòng sông. Hình ảnh đó được chồng mờ bằng cảnh một chiếc tàu đang băng băng ra biển lớn. Những nhà làm phim đã bình luận: “Những người sống ở gần sông nước luôn có khao khát được ra khơi”. Điều này có lẽ hoàn toàn hợp với quy luật tự nhiên. Chỉ có điều, phim ảnh và hiện thực lại khác nhau quá xa. Mơ ước, khát khao được ra khơi của người dân đang bị “suy kiệt, bức tử” bởi hàng loạt hệ thống đập thủy điện trên thượng nguồn và sự thiếu hợp tác của một số nước trong khu vực.

Nói về vấn đề hợp tác giữa các nước tiểu vùng sông Mê Kông, TS Lê Anh Tuấn, trường ĐH Cần Thơ cho rằng: Các số liệu địa lý, thủy văn về dòng sông có thu thập tương đối đầy đủ và có trao đổi so sánh thường xuyên chỉ được thực hiện ở đoạn từ Thái Lan ra đến biển Đông, chiếm chừng 75% diện tích toàn lưu vực. Hợp tác quốc tế thể hiện qua sự hình thành Ủy ban sông Mê Kông (MRC) với 4 thành viên là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Các thông tin phía trên thượng nguồn dòng sông, chiếm gần 25% diện tích lưu vực, rất ít ỏi và thiếu cơ sở kiểm chứng do Trung Quốc và Myanmar đến nay vẫn không tham gia vào MRC và không có sự chia sẻ thông tin đến các quốc gia hạ nguồn. Tuy nhiên, điều này không thể là cơ sở để Trung Quốc, kể cả Myanmar, phủ nhận trách nhiệm của mình trong việc gây ảnh hưởng đến con sông quốc tế này.

Thông tin từ nhiều nguồn cho biết đã có 16 con đập được xây dựng trên dòng sông này chủ yếu trên lãnh thổ Trung Quốc và cả trăm dự án khác trên các chi lưu. Với hệ thống đập dày đặc như thế, người ta có thể dễ dàng hình dung ra dòng Mê Kông đang bị “băm nát”. Trong số các con đập trên, có cái cao tới 292m, cao nhất thế giới hiện nay. Liên quan đến các con đập, đã có nhiều cảnh báo đáng lo ngại. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng 58% các dự án thủy điện trên thế giới được lên kế hoạch và xây dựng mà không hề tính đến tác động môi trường, kể cả khi các tác động này có thể dẫn đến tình trạng ô nhiễm, xói mòn nghiêm trọng. Hãng tin Reuters thì dẫn lại thông tin từ Tân Hoa xã cảnh báo 40% đập ở Trung Quốc không an toàn.

Theo nhiều nhà khoa học, hệ thống các đập trên là nguyên nhân chính gây nên tình trạng khô hạn gay gắt hiện nay ở cả Trung Quốc và các nước trong khu vực. Hiện tại, miền nam Trung Quốc đang trải qua đợt hạn hán tồi tệ nhất trong vòng 60 năm qua. Ở Thái Lan, có đến 23 tỉnh đang đối mặt với thiếu nước nghiêm trọng. Tình trạng tương tự cũng đang xảy ra với người dân Lào, Campuchia và Việt Nam. Mực nước sông Mê Kông xuống thấp nhất trong lịch sử 50 năm trở lại đây.

Trở lại với câu chuyện về bộ phim Uống chung một dòng nước, đạo diễn Lý Hiểu Sơn (Trung Quốc) từng trả lời báo chí Việt Nam rằng: Uống chung một dòng nước là bộ phim kết hợp của 6 quốc gia, nó mang tính quốc tế và sự nhìn nhận cũng rộng lớn hơn. Ngay khi lãnh đạo của chúng tôi duyệt cho làm bộ phim này cũng nhấn mạnh rằng cần phải nhìn từ góc nhìn của những người phương Đông, góc nhìn của người châu Á về dòng sông của mình”. Tinh thần quốc tế về dòng Mê Kông như thế là đã rõ. Có điều tinh thần và hành động lại không song hành

March 7, 2010

Cả nước đối mặt với khô hạn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:05 am
Tags: ,

TP – Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, El Nino tiếp tục hoạt động mạnh trong tháng ba, đồng nghĩa với việc cả nước đối mặt với tình trạng thời tiết khô hạn.

Sông Bồ (Thừa Thiên – Huế) cạn trơ đáy từ đầu năm 2010 – Ảnh: Ngọc Văn

Ông Nguyễn Hữu Hải, Trưởng phòng Dự báo Khí tượng Hạn vừa – Hạn dài, Trung tâm Khí tượng Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, cho biết, thời tiết bất thường trong năm vừa rồi có một phần nguyên nhân do biến đổi khí hậu.

Cụ thể, El Nino năm nay gây ra hiện tượng thời tiết bất thường trong tháng hai, sau 10 ngày nóng là đợt rét 10 ngày,  rồi lại 10 ngày nóng cho đến giờ.

Trước đó, tháng 2-2009, thời tiết đã rất ấm, thậm chí ấm nóng cả tháng. Ông Hải cho biết, hiếm khi xảy ra liên tục hai năm liền kề đều có tháng hai nóng như vậy, mức độ nóng tăng dần.

Thập kỷ 70 về trước, thời tiết cực đoan xuất hiện theo quy luật. Giờ đây, thời tiết cực đoan thay đổi bất thường, mức độ nhiều và khắc nghiệt hơn.

Nắng nóng năm nay đến từ tháng hai, tháng ba được coi là sớm. Hơn nữa, theo kinh nghiệm dân gian, giữa mùa đông có gió nồm thì thường không tốt cho sức khỏe.

Theo số liệu về các vùng nắng nóng và mưa tháng hai năm nay, cả nước đều có những ngày nắng nóng như mùa hè, có thời điểm nhiệt độ lên tới 36 – 37oC.

Trong khi đó lượng mưa đều hụt. Lượng mưa trên toàn quốc phổ biến ở mức thấp hơn trung bình (cùng kỳ nhiều năm) từ 50 đến 90%. So với tháng 2-2009, lượng mưa tháng 2-2010 ở Đăk Nông, Sóc Trăng và một số tỉnh ở Tây Nam Bộ hụt 100%, gần như không có mưa, Hà Nội hụt 60 – 85%.

Trong khi đó, ở Nam Bộ, tháng hai năm nay hầu như không có mưa trái mùa. Mưa chuyển mùa đến muộn nên tình hình khô hạn kéo dài, gây cháy rừng diện rộng.

Thời gian tới, thậm chí tận tháng năm, cả nước vẫn sẽ bị ảnh hưởng bởi hiện tượng El Nino, vẫn ít mưa, trong đó mưa chuyển mùa hầu như không có.

Cả nước đang ở vào giai đoạn khô hạn hiếm có và tình trạng này có thể kéo dài đến tháng 5 – 2010. Một trong những tác động rõ rệt nhất của khô hạn là nạn cháy rừng diễn ra hầu như khắp nơi.

Quan sát từ vệ tinh hôm qua cho thấy, cả nước hiện có 176 điểm cháy rừng, trong đó, riêng tỉnh Sơn La có gần 50 điểm.

Rừng tràm U Minh Hạ trên chảo lửa

Rừng tràm U Minh Hạ những ngày đầu tháng ba năm nay, nắng nóng hầm hập, nước cạn kiệt, đất chân rừng khô rang, đọt tràm khô xám. Ông Nguyễn Văn Thế, GĐ Vườn Quốc gia U Minh Hạ, nhận định: “Nếu nắng nóng kiểu này thì đến tháng tư sẽ cạn nước, không đủ nước chữa cháy nếu lỡ xảy ra cháy”.

Rừng tràm U Minh Hạ đang chịu mùa khô khốc liệt

Chúng tôi chuẩn bị khẩu trang, áo khoác và nước uống để chống nắng chuyến đi vào rừng tràm mùa khô. Nắng đổ lửa, hơi nóng hầm hập, không chút gió giữa rừng tràm U Minh Hạ.

Nước dưới kinh mương vàng úa màu cau khô, rút nhanh. Dớn nước vàng khè mé rừng. Bước chân trên lớp thực bì rừng tràm U Minh Hạ khô khốc, chỉ cần sơ ý quăng tàn thuốc lá cũng có thể cháy.

Ngày 5-3, ông Lê Văn Hải, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cho biết, đã xuất hiện 2 đám cháy rừng tràm U Minh Hạ.

Đám cháy gần đây nhất xảy ra tại Tiểu khu 044, Phân trường U Minh 1, Cty Lâm nghiệp U Minh Hạ gây thiệt hại khoảng 500 m2, xảy ra ngày 2-3.

Trước đó, ngày 28-2, một đám cháy rừng xảy ra tại Phân trường Trần Văn Thời, làm thiệt hại gần 1.000 m2 rừng sản xuất.

Trạm canh lửa trung tâm đặt giữa Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Hạ có thể quan sát miệt rừng bằng ống nhòm quan sát rừng. Ở chiều cao hơn 50 m, dây chọi leo quanh thân cây tràm ngả màu vàng. Nắng làm bạc đầu, trơ trọi lá.

Cán bộ kiểm lâm Vùng 3 Trịnh Hữu Thanh cho biết: “Ba anh em chúng tôi vừa được tăng cường để cùng với anh em kiểm lâm tuyên truyền giáo dục phòng chống cháy rừng, cung cấp thêm thiết bị chữa cháy và thông tin kịp thời diễn biến khô hạn”.

VQG U Minh Hạ xây dựng 27 chốt trạm, 134 người là kiểm lâm, công an, cán bộ VQG để canh lửa. Trên bờ kinh 21 – cạnh đường ống dẫn khí PM3 – Cà Mau là lán trại của tổ kiểm lâm cơ động Chi cục Kiểm lâm Cà Mau tăng cường cho VQG U Minh Hạ kể từ mùa khô bắt đầu.

Anh Nguyễn Thanh Đoàn – tổ trưởng vừa phân công anh em nấu cơm, vừa phân công người lên chòi canh lửa canh trực. Anh Lê Xuân Vương tâm sự: “Anh em chúng tôi phân công nhau chở nước ngọt, nấu ăn từ sáng sớm để kịp canh trực lúc nắng nóng, khởi động máy bơm nước chữa cháy và tuần tra dọc tuyến giáp vùng đệm”.

Thiếu nước ở rừng ngập nước

Trên lâm phần U Minh Hạ có 98 chốt, trạm với khoảng 500 lực lượng canh trực chữa cháy rừng, các đơn vị quản lý bảo vệ rừng, các xã ven rừng đã tổ chức hơn 2.500 người tham gia phòng cháy chữa cháy rừng.

Trần Thị Vân, 70 tuổi, ở tổ 2, ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi (Trần Văn Thời) khoe: “Đàn ông con trai ở đây không dám đi xa nhà vài tiếng đồng hồ. Có công có chuyện gì phải đi mau mau về canh lửa.

Thằng con trai tôi làm tổ trưởng tổ phòng chống cháy rừng với 40 người nữa tuần tra suốt, phòng người lạ vô rừng”.

Ông Lê Văn Hải, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau nói: “Lực lượng kiểm lâm cùng với cán bộ lâm nghiệp, công an và nhân dân sống trên lâm phần làm tất cả những gì để sẵn sàng chiến đấu với giặc lửa.

Ông Nguyễn Văn Thế, GĐ VQG U Minh Hạ, nhận định: “Mỗi tháng, nước rút xuống 2-3 tấc. Trong 3 tháng nữa không mưa, nắng nóng kiểu này thì không có nước chữa cháy”.

Tổng chiều dài tuyến kinh mương trên lâm phần 143 km chứa 3,7 triệu mét khối vào đầu mùa khô. Nay đã giảm 648.000 mét khối. Mực nước tại các kinh mương cạn dần, chỉ còn 0,5- 1m, với trữ lượng nước mặt 1,3 triệu mét khối, khó đủ nước bơm chữa cháy nếu chẳng may cháy rừng xảy ra.

Thanh Hóa: Lần đầu tiên, ngăn sông Mã chống hạn

Trước thực trạng mực nước sông Mã xuống quá thấp, lần đầu tiên trong lịch sử, ngành chức năng tỉnh Thanh Hóa và Cty Thủy nông Nam sông Mã phải triển khai phương án ngăn sông này tại xã Yên Trường, huyện Yên Định để bơm nước chống hạn cứu lúa.

Để thực hiện việc ngăn sông, chống hạn, ngành chức năng đặt các bao tải chứa cát, kết hợp với thuê sáu sà lan (mỗi chiếc dài 40 m) nối dài để ngăn ngang sông.

Từ năm 1962 đến nay, đây là năm mực nước sông Mã xuống thấp kỷ lục (năm 1962, mực nước sông Mã ở trạm bơm xã Yên Trường là 3,28m).

Rừng ở huyện Mường Lát lại cháy

Những đám cháy rừng xảy ra từ sáng 2-3 chưa được dập tắt hoàn toàn đã bùng cháy trở lại thiêu rụi thêm gần 10 ha rừng tại huyện Mường Lát.

Đám cháy tập trung chủ yếu ở khu vực rừng vành đai biên giới của xã Tam Chung (giáp nước bạn Lào), trong nắng nóng 36 độ C.

Để thực hiện việc ngăn sông, chống hạn, ngành chức năng đặt các bao tải chứa cát, kết hợp với thuê sáu sà lan (mỗi chiếc dài 40 m) nối dài để ngăn ngang sông.

Các khoang của sà lan chứa đầy cát để đáy sà lan chạm đáy sông, nhằm mục đích cho mực nước sông Mã tại khu vực này dâng cao, dẫn dòng vào bể hút của trạm bơm.

Tại vị trí hai bên mép sông, mực nước cạn hơn thì dùng đá hộc và các bao tải chứa cát đắp chặn dòng để dồn nước về phía bể hút của trạm bơm.

Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, ngoài sông Mã các sông chính như sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày cũng xuống mức thấp lịch sử.

Lạng Sơn: Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lạng Sơn, hiện nay trên địa bàn có 382.000 ha diện tích rừng đang ở mức độ nguy hiểm, trong đó huyện biên giới Tràng Định có nhiều vùng đang ở cấp 5, cấp cao nhất.

Quảng Ngãi: 11 giờ 30 phút ngày 4-3, một ngọn lửa lớn bắt đầu bùng cháy, sau đó lây lan nhanh thiêu rụi khoảng 10  ha rừng sản xuất thuộc địa phận thôn Trà Ong, xã Trà Quân, huyện miền núi Tây Trà (Quảng Ngãi). Hầu hết số diện tích rừng nói trên gồm có cây keo lai xen lẫn với cây gỗ lim từ hai đến ba năm tuổi.

Sau hơn 4 giờ nỗ lực, lực lượng chữa cháy mới khống chế, dập tắt hoàn toàn ngọn lửa. Hạt Kiểm lâm huyện Tây Trà quyết định thưởng nóng 1 triệu đồng cho người địa phương tham gia dập tắt đám cháy.

Quảng Nam: Hầu khắp các trạm bơm tưới tiêu tại các huyện cánh bắc của Quảng Nam và huyện Hòa Vang của Đà Nẵng đang cố chạy hết công suất để chống hạn và đối phó với nước mặn xâm nhập vào ruộng, bể chứa của các trạm bơm.

Hàng trăm hécta lúa đang trong tình trạng thiếu nước kéo dài. Nước mặn với nồng độ khá cao xâm nhập từ 28 Tết đến nay.

Quảng Nam: Hàng nghìn hécta lúa trên địa bàn huyện Điện Bàn, Duy Xuyên có nguy cơ thiếu nước do nắng nóng kéo dài, mực nước sông xuống thấp và tình trạng nước mặn xâm thực nhanh.

Thống kê toàn huyện Điện Bàn có khoảng 5.700 ha lúa đang kỳ làm đòng trong cảnh không đủ nước tưới tiêu.

Sóc Trăng: Theo Sở NN&PTNT Tỉnh Sóc Trăng, nước mặn năm nay xâm nhập sớm và sâu vào nội đồng so với năm 2009. Sóc Trăng đã có khoảng 17.000ha lúa vụ hè thu sớm bị ảnh hưởng mặn và thiếu nước trầm trọng.

Lâm Đồng: Toàn bộ diện tích rừng (600.000 ha) ở Lâm Đồng đang đối mặt với nguy cơ cháy rừng cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm). Gần một tháng rưỡi qua không có một trận mưa nào ở địa phương vốn có lượng mưa lớn nhất nước này.

Hầu hết các khu rừng đều trong tình trạng khô hanh, độ ẩm không khí bị đẩy lên mức từ 43 – 48% nên tất cả các kiểu rừng đều dễ bị bắt lửa, tốc độ lây lan rất nhanh.

Việc chữa cháy sẽ vô cùng khó khăn, đặc biệt là các cánh rừng thông, bạch đàn, trảng cỏ, cây bụi…

Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng cho biết từ đầu mùa khô đến nay, toàn tỉnh xảy ra 13 vụ cháy rừng và thảm cỏ với diện tích hơn 46 ha.

March 6, 2010

China all at sea over Japan island row

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:37 pm
Tags: , ,

Japan’s Okinotori Island, which has a Tokyo postal address even though it lies roughly 1,770 kilometers south of the capital and it is actually a pair of tiny islets, has become a bone of contention for China.

Among other things, China refuses to grant it island status, and refers to it instead as an atoll, reef or simply a rock. By doing so, China hopes to throttle back Japan’s plan to create an exclusive economic zone (EEZ) there. The dispute over Okinotori, which Japan calls Okinotorishima, persists because it involves strategic concerns and rights to undersea resources over an area that is roughly equivalent to the entire land mass of the four main Japanese islands.

At an undersea resource development conference hosted by

Kyushu University last December that was attended by experts from China, Japan and South Korea and elsewhere, the cobalt-rich manganese crusts around Okinotori were highlighted. Although “rich natural resources” in the area are frequently mentioned as well by China, details are lacking.

At the East Asian Seas Congress in Manila last November, Japan’s submission to the United Nations Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) in March 2009 was discussed. This document addressed seven regions between Japan and the Philippines comprising 740,000 square kilometers. Besides potential overlapping claims with the United States and the Republic of Palau – not involving Okinotori – Japan is confronted by both China and the Republic of Korea (South Korea), which filed complaints last year with the CLCS concerning Japan’s actions on Okinotori. [1]

When the Democratic Party of Japan-led government headed by Prime Minister Yukio Hatoyama came to power last year, it wasted no time in declaring that Japan is allocating US$7 million in 2010 to create a facility on Okinotori in a bid to firmly establish yet another foothold there. This may seem like a large sum, but it represents less than 3% of the total amount spent thus far by Japan to sustain this remote island. Hundreds of millions of dollars have been allocated by the Japanese over the past two decades.

Japan now finds itself indebted to Vietnam, albeit indirectly. Vietnam is exposing curious contradictions that it has detected in China’s case against Japan in this instance.

Vietnam, along with other Southeast Asian nations, has a territorial dispute with China in the South China Sea. Last year, the Vietnamese government submitted a national report on the limits of its continental shelf “which lie 200 nautical miles beyond the country’s baselines in the northern part of the East Sea [Vietnam’s name for the South China Sea]” to the CLCS. This took place in late August.

Together, Vietnam and Malaysia also presented another joint report to the CLCS on the continental shelves of both countries, “which extend out over 200 nautical miles from their baselines in the southern part of the East Sea”.

The Vietnamese national report and the Vietnam-Malaysia joint report preceded the approval by the Japanese Diet (parliament) of a law in 2010 that authorizes the central government – not local government – to manage and control both Okinotori and the even more remote Minamitori Island, southeast of Tokyo – and about 290 kilometers more distant than Okinotori.

While China dismisses all of these actions by Japan as illegal, it is anxiously looking over its shoulder at the emboldened Vietnamese.

“The construction of infrastructure will not change Okinotori Reef’s legal position,” said China’s Foreign Ministry spokeswoman Jiang Yu at a press briefing in January, adding that this violates international maritime law. [2]

Japan claimed Okinotori, also known as Douglas Reef or Parece Vela, in 1931 as part of Ogasawara village in the prefecture of Tokyo, and officially named it Okinotorishima.

“The Japanese claim to an EEZ and continental shelf around Okinotorishima is based on several factors,” said Associate Professor Peter Dutton of the China Maritime Studies Institute at the US Naval War College. “First, Japanese scholars claim that Okinotorishima is an island that qualifies under the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) for an EEZ and continental shelf in that it sustains economic activity, even though it is apparently not much more than 10 square meters in size at high tide.

“This argument has only the most tenuous support under the current state of international law. The Japanese seem to recognize this fact and have set out a second legal basis, namely that Japan has longstanding historic interests in Okinotorishima, the adjacent waters, and the resources of the surrounding seabed. In Japan’s view, these interests have consolidated over time into legally protected rights.”

China points to Article 121 of UNCLOS, which defines an island as “a naturally formed area of land, surrounded by water, which is above water at high tide”. China designates it as a rock under the same article – rocks cannot sustain human habitation or economic life – because a rock by itself cannot be used to claim either an EEZ or by extension a continental shelf submerged in a relatively shallow sea.

By acting as if it has legal standing under UNCLOS, China has suddenly opened the door for Vietnam, and Vietnam has seized the opportunity.

The strategic importance of Okinotori cannot go unnoticed as it sits halfway on a line between the huge US military base on the island of Guam and Taiwan. While divergent Chinese and Japanese strategic interests are driving this dispute, China’s need to navigate freely is increasing.

“China has staked legal positions that have de-legitimized foreign military operations in a coastal country’s EEZ. China’s objections to US military activities in its EEZ are based on these legal perspectives,” said Dutton. “On the other hand, as China’s naval power has grown over the last couple of decades, China’s strategy for controlling the outcome of events throughout East Asia in times of crisis has also evolved. During times of crisis, China now has aspirations of challenging outside naval powers for control of the waters between the first and second island chain.” (The first island chain encompasses the Yellow Sea, the East China Sea and the South China Sea. The second encompasses the Japan Sea, the Philippines Sea and the Indonesia Sea.)

This puts China in an awkward position to say the least.

“To be consistent with its demand that the US cease performing military operations in and above China’s EEZ, China would not be able to undertake military operations in the waters of Japan’s EEZ surrounding Okinotori. As such, to preserve their own security interests, China refuses to recognize Japan’s claim,” said Dutton.

Prior to Vietnam’s move, the chief objective here for Japan had been to politely ignore China’s protests and to ensure that, above all else, Okinotori should not somehow sink beneath the sea.

“There is no change in the nature of the dispute. Japan has been planting coral on Okinotori to secure its status as an ‘island’, while China keeps criticizing [and asserting that] it is a ‘rock’, so as not to allow Japan’s EEZ,” said Yukie Yoshikawa, senior research fellow at the Reischauer Center for East Asian Studies in Washington, DC.

Planting coral there is just one of the latest Japanese measures, which have included pouring tons of concrete, at a cost of $280 million, to encase both of the islets, as well as covering them with a titanium net which cost another $50 million.

In 2005, Japan mounted a large address plaque there so that everyone would immediately know on arrival that they had reached “1 Okinotori Island, Ogasawara Village, Tokyo.” Soon after this was put in place, Tokyo governor Shintaro Ishihara was photographed kissing the plaque and waving the Japanese flag over it. He kept his life jacket on at the same time. [4]

As China attempts to convince the rest of Asia that what Japan is now undertaking actually harms its neighbors, Vietnam shakes its head.

“If Japan’s efforts succeed, other countries will not be allowed to fish or share other rich natural resources in a region that is currently regarded as international high seas,” said Wang Hanling, an expert in maritime affairs and international law at the Chinese Academy of Social Sciences. “Besides, for some neighbors such as China and the Republic of Korea, the fleets’ freedom of navigation along some key routes in the area will also be hampered. That will pose risks to their national security.”

In its dealings with Japan, China has even raised the issue of fairness at times, a tactic which must amuse Hanoi.

“Japan’s claim over Okinotori, which lies between Taiwan and Guam, is in a strategically important position for Japan’s benefit,” said Jin Yongming, a researcher at the Shanghai Academy of Social Sciences. “But the move has harmed other countries’ navigation interests and marine survey in the sea waters around Okinotori, and is contrary to the principle of fairness.” [4]

Why China is beginning to realize that the stance it has adopted here might backfire is becoming increasingly apparent. Vietnam still claims sovereignty over the Paracel Islands – China’s Xisha Islands – in the South China Sea, while the Spratlys, or Nansha Islands as China calls, them are claimed by China, Vietnam, the Philippines, Brunei and Malaysia.

In early 2009, or perhaps earlier, Vietnam started picking apart the “reefs and islands” argument raised by China supposedly under UNCLOS rules in its case against Japan, and said in effect, “Wait a minute, China, you are arguing the exact opposite regarding our claims in the East Sea.”

One minute, argues Vietnam, China asserts that Okinotori cannot have an exclusive economic zone or determine the limits of a continental shelf because it is an atoll, reef or rock and does not have an independent economic life, and the next minute China asserts that so-called “islands” in the East Sea all have independent economic life so they can support a claim to exclusive economic zones and continental shelves of 200 nautical miles covering 80% of the East Sea.

None of this rings true, or not to the extent that it allows China to proceed down the path it is taking. Ownership of the islands in the East Sea is really not central to the outcome because Vietnam contends that “no country can claim up to 80% of the East Sea on the basis of a claim to ownership of these islands”. [5]

In other words, look closely and one can detect dozens of little “Okinotoris” dotting the South China Sea. China is just hoping that the rest of the world – at least the rest of the world which has been following China’s attempt to derail Japan – will overlook them.
“It seems as though Vietnam is signaling that it would be satisfied with sovereignty over the islands and to leave most of the South China Sea as high seas. The implication of Vietnam’s perspective, were Vietnam to consolidate its claims at China’s expense, is that most of the South China Sea would remain open for all states to fish and extract seabed resources,” said Dutton. “That is not the effect of China’s claims over the South China Sea.”

At the same time, if China is attempting to counter this clever tactic by Vietnam, it is not doing a very effective job. In fact, China appears to be turning a blind eye to Vietnam here.

“This position presents China with an additional dilemma that it has not yet publicly begun to reconcile,” said Dutton.

Beijing’s decision to build a luxury resort in the Paracels in the South China Sea has not helped the situation.

“[Vietnam] demanded in early January 2010 that China abandon the project, which [it] said causes tension and further complicates the situation,” said Yoshikawa.

Still, when Chen Bingde, chief of the general staff of the Chinese People’s Liberation Army and a member of the Central Military Commission, met with Nguyen Chi Vinh, Vietnam’s deputy defense minister, in Beijing in early March, there was no mention of this dispute, not publicly anyway.

China has been diligent in other maritime matters despite any protests elsewhere. Just last month, for example, China finished work on the last of 13 permanent facilities on islands and reefs in the East China Sea as part of another intensive EEZ extension and development process. A new lighthouse at Waikejiao is the latest addition.

“Because Japan and China tend to look at foreign policy in a more relationship-oriented manner – rather than Washington’s event-driven policies – if both countries are on good terms, which you can say for now, the Okinotori Island issue will be taken care of so that it does not dampen the relationship,” said Yoshikawa.

Japan is not likely to suffer any consequences as it proceeds with its plans on Okinotori.

“I do not see that happening for the foreseeable future as this is a peripheral issue which is more likely to be affected by overall Sino-Japanese relations,” said Yoshikawa.

Nevertheless, China has a very good reason for persisting in its efforts here, regardless if it annoys Japan or not.

“There is not much that China can do about Japan’s claim, given China’s own claims in the South China Sea,” said Dutton. “However, China will probably continue to diplomatically object to Japan’s claim in order to preserve Chinese freedom of military action in the waters surrounding Okinotori.”

Notes: 1.) EAS CONGRESS 2009 HIGHLIGHTS , Nov 24, 2009
2.)Beijing slams Tokyo move on atoll, China Daily, Jan 8, 2010
3.)Japan and China Dispute a Pacific Islet , New York Times, July 10, 2005
4.) Japan atoll expansion ‘hurts neighbors’, China Daily, Feb 11, 2010
5.) Vietnam delimits its continental shelf in UN report. Vietnamnet, Aug 2009
Peter J Brown is a freelance writer from the US state of Maine.

(Copyright 2010 Asia Times Online (Holdings) Ltd. All rights reserved. Please contact us about sales, syndication and republishing.)

March 5, 2010

Vietnam Feels the Heat of a 100-Year Drought

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:22 am
Tags: , ,

Every year, even at the peak of Vietnam’s dry season, when the Red River is at its lowest, Hanoi’s skilled captains manage to negotiate their flat-bottomed boats through its shallow waters. But this year, with a drought gripping the entire country and water levels at record lows, the river is eerily quiet. What is normally a bustling waterway is becoming a winding river of sand, and farmers who depend upon the river for irrigation are watching the expanding sandbars as nervously as the boat captains. “If there is no water in the coming days,” says 59-year-old farmer Vu Thi La, who just put in her spring rice seedlings, “it will all die.”

Across Vietnam, high temperatures and parched rivers are setting off alarm bells as the nation grapples with what’s shaping up to be its worst drought in more than 100 years. At 0.68 meters high, the Red River is at its lowest level since records started being kept in 1902. With virtually no rainfall since September, timber fires are burning in the north and tinder-dry conditions threaten forests in the south. Soaring temperatures in the central part of Vietnam have unleashed a plague of rice-eating insects, damaging thousands of hectares of paddies. “It’s the beginning of everything,” Nguyen Lan Chau, vice director of the National Center for Hydro-Meteorological Forecasting, says gloomily. (See pictures of the world’s water crisis.)

The region most affected — and the one that affects the most — is the Mekong River Delta in the south. Water levels in the nation’s rice bowl have fallen to their lowest points in nearly 20 years, threatening the livelihoods of tens of millions of people who depend on the river basin for farming, fishing and transportation. The biggest problem, however, is not the water. It’s the salt. During the dry season, when channels and tributaries run dry, seawater can creep more than 18 miles (30 km) inland. Vietnam has installed a series of sluice gates to hold back high tides as well as control annual monsoon flooding. This has allowed farmers to switch between growing rice in the wet season and raising shrimp in the brackish waters in the dry. The result has been more-effective land use and higher crop yields, and a doubling of farmers’ incomes in the Delta since 1999.

Those high-yield days may be over. As the drought intensifies, in some places seawater has crept nearly 40 miles (60 km) inland, says Dam Hoa Binh, deputy director of the Irrigation Department at the Ministry of Agriculture and Rural Development in Hanoi. Most of the winter-spring crop has already been harvested, but saltwater is reaching where it has never gone before, putting the summer-fall crop in jeopardy, says Binh. “We are trying to strengthen our irrigation systems to prevent further salinization,” he adds, but the extreme conditions are making it “one of the most difficult situations in 100 years.” (See pictures of drought in Kenya.)

Because of the hydropower projects on its side of the border, China frequently gets the blame for water shortages downstream. Indeed, Vietnam’s neighbor has been on an aggressive campaign to damn the Mekong River, which begins on the Tibetan plateau and travels through five other countries before it empties into the South China Sea. According to the Mekong River Commission, a regional advisory agency, China has built or is planning to build eight dams along the Mekong. But while dams raise huge concerns about interfering with sediment flow and fish migration, they can also have a positive impact, says Jeremy Bird, the commission’s chief executive officer. “They will redistribute the flow of water, therefore there will be more water available in the dry season,” he says. But at the moment, with China also experiencing extreme drought, there appears to be little dammed water to release.

Up north, Vietnam has been busy building hydropower dams as well. The government recently released enough water from those projects to help farmers in the Red River Delta with spring planting. Now with reservoir levels in the north at critical lows, the state-owned electricity company says it can’t let go of much more; power demand is expected to break records as temperatures soar this month. Even with the small amount released, Nguyen Van Thang, director of the agriculture department in Vinh Phuc province, is not hopeful. High temperatures and evaporation are the enemy. “Even if farmers bail every single drop of water to nurture the rice,” he says, he fears that a third of the rice crop in his province could be lost. (See TIME’s photo-essay “China-Vietnam Border War, 30 Years Later.”)

The crisis has been a “wakeup call” for Vietnam, says Ian Wilderspin, senior technical adviser for disaster risk management at the U.N. Development Program in Hanoi. The drought was predicted, he says, referring to last year’s projections that El Niño would bring an unusually warm and dry winter. Yet Vietnam traditionally prepares for floods and typhoons, which are more dramatic and devastating when they hit. “Drought is a slow, silent disaster, which in the long run will have a more profound impact on peoples’ livelihoods,” he says.

And when are the rains due to finally bring some relief? Meteorologists forecast that in the north, rain will arrive later this month. But other parts of the country might not see any precipitation until August, which for many will be too late.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.