Ktetaichinh’s Blog

December 9, 2010

Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:13 pm
Tags:

Thursday, 9. December, 09:05

Tác giả: Phương Loan

Nhìn về Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu và người dân quốc đảo Singapore thường đặt câu hỏi, tại sao Việt Nam ngồi trên nhiều núi vàng mà vẫn nghèo?

Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc.

Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong…. mà vẫn không cách gì khai thác được. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn.

Thực tế như một sự thách đố sự hiểu biết của người Singapore lại không quá khó hiểu với những người có chút kinh nghiệm làm việc ở xứ này. Người ta có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước.

Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình

Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình.

Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh… nhưng lại không biết mình thực sự muốn gì, muốn phát triển theo hướng nào. Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa…., tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng.

Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào. Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời. Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long.

Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức “thu bạc lẻ”, lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. “Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua”, chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu sự đầu tư.

Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu.

Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là “nền kinh tế GDP tỉnh”, các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án… nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào.

Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình, cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong khi đó, “bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ”, GS Michael Porter đã đúc kết quy luật chung trong phát triển như vậy.

Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau

Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước.

Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới.

Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.

Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển. Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng. Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi.

Dọc bờ biển phía Tây dài 1900km của Mỹ cũng chỉ có 3 cảng chính trong khi 10 năm tới, Việt Nam định phát triển thêm 39 cảng biển.

Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển. Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn.

Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép…, tỉnh nào cũng lo có cho được cảng biển riêng…, mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện đi kèm.

Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế. Ta có một số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư. Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ ngỏ. Cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.

Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng Cái Mép – Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế.

Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm.

Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác. Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu “mạnh ai nấy làm”. Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất.

Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm.

Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc “chạy đua xuống đáy”, khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ.

Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước.

Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác

“Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành”, GS Michael Porter khuyến nghị. “Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương”.

Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới.

Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Advertisements

November 10, 2010

Ngân hàng Nhà nước không nhượng bộ thị trường vàng’

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:45 pm
Tags:

Cho rằng thị trường hỗn loạn trong sáng 9/11 có yếu tố đầu cơ, làm giá, song Thống đốc Nguyễn Văn Giàu tuyên bố quyết định cấp phép nhập khẩu là kế hoạch tính toán kỹ càng của Ngân hàng Nhà nước, chứ không chịu bất cứ sức ép nào.
> Giải mã cơn điên giá vàng / Thực phẩm mượn giá vàng đô

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu trao đổi với báo chí chiều 9/11, ngay sau khi ký quyết định cấp quota nhập vàng cho một số ngân hàng và doanh nghiệp.
Thống đốc Nguyễn Văn Giàu. Ảnh: T.T.

– Lý do nào khiến Ngân hàng Nhà nước bất ngờ cấp phép nhập khẩu vàng lần thứ hai trong vòng hơn một tháng qua?

– Giá vàng trên thị trường thế giới ngày 8/11 tăng thêm 18 USD lên 1.410 USD mỗi ounce, khiến trong nước tăng theo. Nhưng ngoài nguyên nhân tác động từ thế giới, thị trường trong nước sáng 9/11 có một số biểu hiện bất thường. Giá cao mà người dân vẫn đi mua, cho dù lượng mua không quá lớn. Đáng chú ý, một số cửa hàng bất ngờ đóng cửa sớm, có nơi không chịu bán ra, tạo tâm lý tiêu cực trên thị trường. Sau khi tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn, trưa 9/11, Ngân hàng Nhà nước quyết định cấp phép nhập khẩu vàng cho một số ngân hàng có nguồn ngoại tệ nhằm can thiệp vào thị trường và giải tỏa tâm lý.

Khác lần cấp quota đầu tháng 10, lần này thời hạn của giấy phép dài hơn, tới 2 tuần, để doanh nghiệp có thời gian cân nhắc, chọn thời điểm thích hợp mua về sao cho vừa có thể hỗ trợ thị trường và giảm thiểu rủi ro.

– Từ đầu năm đến nay Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần cấp quota nhập vàng. Ông đánh giá thế nào về sức lan tỏa của các quyết định đó với thị trường?

– Hiệu quả dễ nhìn thấy ngay, sau khi cấp phép nhập khẩu giá đều giảm mạnh. Nhưng cho phép nhập khẩu vàng không phải là giải pháp cho mọi vấn đề hiện nay của nền kinh tế như nhập siêu hay lạm phát.

Thực tế tâm lý của người dân còn khá nặng nề về vấn đề lạm phát, trượt giá. Trong khi đó, hằng năm chúng ta phải tăng lương, đồng thời dần đưa giá một số mặt hàng thiết yếu như điện, than, xăng dầu vận hành theo cơ chế thị trường. Đây là hai yếu tố gây lạm phát “cứng”, nếu mạnh có thể góp thêm 3-4% vào tốc độ tăng giá chung, ít thì cũng phải 1-2%. Bên cạnh đó còn do yếu tố cơ cấu nền kinh tế. Vì vậy, để ổn định lạm phát, cần một giải pháp tổng thể, hài hòa cả chính sách tài khóa, đầu tư, chứ không chỉ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ, tỷ giá.

– Thị trường vàng gần đây thường diễn biến theo kịch bản: giá thế giới tăng cao, các đầu mối kinh doanh trong nước kêu khan nguồn cung và khi giá bị đẩy tới mức kịch điểm thì Ngân hàng Nhà nước công bố thông tin cấp quota nhập khẩu. Dư luận đặt câu hỏi phải chăng việc đồng ý cấp quota nhập khẩu là sự nhượng bộ của Ngân hàng Nhà nước trước sức ép của thị trường?

– Thị trường diễn biến khôn lường, khó ai có thể đưa ra dự báo chính xác. Về phần mình, cơ quan quản lý nhà nước phải theo dõi sát sao, cân nhắc thời điểm hợp lý để ra tay hành động. Hoàn toàn không có chuyện Ngân hàng Nhà nước phải nhượng bộ hay chịu sức ép khi cấp quota.

– Nhưng giá vàng thường tăng rất mạnh ít phút trước khi Ngân hàng Nhà nước công bố cho phép nhập khẩu, rồi nhanh chóng giảm xuống ngay sau đó. Liệu thông tin cho phép nhập khẩu có bị trục lợi?

– Trong nền kinh tế thị trường, các bên tham gia đều có những tính toán sao cho mình có lợi nhất, và không loại trừ khả năng nơi này nơi kia đầu cơ, thao túng giá khi tình hình biến động. Nhưng trong phạm vi những nhà làm ăn chuyên nghiệp, trong đó có các ngân hàng, tôi nghĩ không có chuyện họ trục lợi thông tin để làm giá.

– Vậy theo ông đâu là lý do chính khiến thị trường tăng hơn 1 triệu đồng một lượng chỉ trong vòng buổi sáng 9/11?

– Như tôi nói ở trên, trong nước tăng là do thế giới. Trong bối cảnh biến động mà chưa có những cảnh báo nào rõ ràng và chính thức từ các cơ quan chuyên môn, cùng với những toan tính cá nhân, nhiều người thường có tâm lý sợ giá còn lên cao nữa và vội vàng đi mua dù không có nhu cầu thực sự.

Không loại trừ khả năng một bộ phận nhỏ những nhà kinh doanh cũng tham gia đẩy giá. Biểu hiện bất thường của một số tiệm kinh doanh như tôi nói ở trên càng gây hiệu ứng tâm lý tiêu cực với thị trường.

– Việc các ngân hàng phải mua vàng để tất toán các hợp đồng theo quy định của Thông tư 22 Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành có phải là một nguyên nhân khiến thị trường sốt nóng?

– Hiện chưa có số liệu chính thức, nhưng nhiều khả năng đây không phải là lý do. Khối lượng vàng các ngân hàng đã chuyển hóa thành tiền đồng cho vay và nay cần thu lại để tất toán hợp đồng chỉ vào khoảng 10 tấn. Trong khi họ có tới 8 tháng để thực hiện. Giá đang cao như hiện nay không ai dại gì đi mua vào để tất toán. Diễn biến giá dầu 3 năm qua là một bài học. Giá dầu có lúc lên 150 USD, thậm chí có người còn dự báo giá sẽ lên 200 USD nhưng rồi tụt dốc xuống 50 USD. Giá dầu mới tăng trở lại thời gian gần đây nhưng hiện cũng chỉ quanh quẩn dưới 90 USD. Vì vậy tôi nghĩ mua vàng vào lúc này để tất toán thực sự mạo hiểm.

– Một số ý kiến cho rằng vàng cũng là nguồn lực có ích, việc ban hành thông tư hạn chế huy động và cho vay khiến một lượng lớn vàng bị đẩy ra ngoài ngân hàng, vừa lãng phí mà có thể trở thành nguồn lực khuynh đảo thị trường? Xin cho biết quan điểm của Thống đốc?

– Phương tiện thanh toán của nền kinh tế là đồng tiền quốc gia. Nhưng thời gian qua lại tồn tại song song 2 công cụ khác là vàng và đôla. Cũng có ý kiến cho rằng nên phát huy công cụ này, nhưng cũng có người đề nghị giảm dần đôla hóa và vàng hóa vì nó làm khó khăn chung cho điều hành của nền kinh tế. Với hai luồng quan điểm này có hai cách xử lý khác nhau, một là phải có cách để hút hết số vàng trong dân vào hệ thống ngân hàng để tạo ra của cải cho xã hội. Nhưng cũng có luồng tư tưởng mới là một khi ngân hàng không tạo điều kiện cho việc găm giữ vàng, người dân thấy không còn nhiều lợi ích, tức khắc sẽ bán ra, lấy tiền đó đầu tư để thúc đẩy nền kinh tế nhanh hơn.

Ngân hàng Nhà nước thấy cách thứ hai hợp lý và Thủ tướng cũng có cùng quan điểm này. Dĩ nhiên nói như vậy không có nghĩa mình loại bỏ vàng ra khỏi hoạt động kinh tế, đời sống xã hội; mà cần tìm ra giải pháp làm sao để vừa phát huy hiệu quả số vàng hiện có, vừa góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế. Thời gian qua, việc sử dụng lượng vàng huy động chưa hợp lý, khoảng 51% dùng để đầu tư vào phi sản xuất, không tạo ra của cải. Đứng về mặt nào đó sẽ tác động ngược gây khó khăn cho tình hình vĩ mô.

– Diễn biến giá vàng thời gian qua có liên hệ chặt chẽ tới tỷ giá, vàng tăng giá đôla cũng lên theo. Nguyên nhân của tình trạng này là gì thưa ông?

– Chuyện vàng lên ngoại tệ lên theo có thật, một phần nguyên nhân là tình trạng gom đôla nhập lậu vàng. Nhưng có một nguyên nhân quan trọng khác đó là quyền được giữ ngoại tệ của những người nhận kiều hối từ nước ngoài. Pháp lệnh Ngoại hối cho phép cá nhân nhận tiền kiều hối có thể gửi ngân hàng, có thể rút ra cất đi, hoặc mang theo mình. Một khi việc cầm giữ đôla là hợp pháp thì không thể can thiệp việc người ta toan tính số tiền đó làm thế nào có lợi. Tới đây nếu có điều kiện, Ngân hàng Nhà nước sẽ đề xuất chỉnh sửa quy định này sao cho hợp lý.

– Mặc dù Chính phủ chủ trương mạnh tay bơm ngoại tệ can thiệp thị trường, nhưng từ cuối tuần trước tới nay các ngân hàng cho biết vẫn chưa mua được từ Ngân hàng Nhà nước. Thực hư chuyện này thế nào thưa ông?

– Mua hay bán còn phải phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, ngân hàng phải có đơn xin mua và có nhu cầu thực sự phục vụ thanh toán nhập khẩu mặt hàng thiết yếu thì mới được mua. Việc bán ngoại tệ lần này tôi yêu cầu làm chặt chẽ, nghiêm túc. Một tổ công tác độc lập trực thuộc Thống đốc cũng vừa được thành lập để giám sát chặt chẽ hoạt động cho vay ngoại tệ phục vụ thanh toán.

Có người chất vấn tôi là Thủ tướng đã cho phép bán can thiệp thì hà cớ gì Ngân hàng Nhà nước không cho bơm tiền ra. Nhưng làm sao có thể bơm ra thoải mái, tùy tiện được nhất là khi mình phải chắt chiu cả những đồng ngoại tệ thu được từ bà con Việt kiều, từ những công nhân làm việc cực nhọc ở nước ngoài.

Chủ trương của Chính phủ rất rõ, ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế nhập siêu. Bộ Công Thương cũng đã xây dựng danh mục hàng hóa không khuyến khích nhập khẩu và danh mục các loại hàng hóa trong nước sản xuất được. Trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ phục vụ ngoại tệ nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu không nằm trong hai danh mục trên.

Đến chiều 9/11, một số ngân hàng bắt đầu lập hồ sơ đăng ký mua và tôi sẽ ký quyết định bán ra. Tất nhiên việc bán ra này không thể thỏa mãn mọi doanh nghiệp. Vì vậy không thể tránh khỏi chuyện doanh nghiệp này, doanh nghiệp kia than phiền không mua được, đặc biệt là những đơn vị kinh doanh hàng hóa trong danh mục không khuyến khích.

June 1, 2010

20 tấn vàng xuất cảnh bằng hộ chiếu “trang sức”?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:30 pm
Tags:

SGTT – 500 tấn vàng, theo ước tính, trong dân ở dạng của để dành, do lãi suất ngân hàng cực kỳ thấp, còn doanh nghiệp xuất vàng miếng phải xin phép. Nhưng trong nửa đầu tháng 5, kim ngạch xuất khẩu nhóm đá quý và kim loại quý tăng vọt lên trên 500 triệu USD.

Cả năm 2009, PNJ chỉ xuất khẩu được 16 triệu USD trang sức. Ảnh: Lê Quang Nhật

Số liệu do tổng cục Thống kê công bố, xuất khẩu trong tháng 5 của nhóm đá quý, và kim loại quý lên đến 800 triệu USD, chiếm 90% tổng kim ngạch xuất khẩu từ đầu năm đến nay. Trong đó, theo số liệu của tổng cục Hải quan, chỉ 15 ngày đầu tháng 5 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng đá quý, kim loại quý đã đạt hơn 517 triệu USD, luỹ kế từ đầu năm là 623,7 triệu USD.

Kim ngạch xuất khẩu bốn tháng nhóm đá quý và kim loại quý là 77 triệu USD. Đột biến trong xuất khẩu nhóm này diễn ra sau khi giá vàng tăng đột biến.

Giới kinh doanh ước tính có khoảng 20 tấn vàng được xuất khẩu trong tháng qua.

Thu lãi nhanh

Theo nguồn tin từ giới kinh doanh vàng, các đơn vị tham gia xuất khẩu nhiều nhất trong tháng 5 thuộc về tám doanh nghiệp bao gồm các công ty chuyên kinh doanh vàng bạc đá quý trang sức và các công ty kinh doanh nữ trang thuộc ngân hàng.

Hiện nay trong giấy phép đăng ký kinh doanh của tất cả các ngân hàng không có hoạt động xuất vàng. Nhưng các công ty kim hoàn trực thuộc hoặc liên doanh của các ngân hàng có chức năng xuất khẩu vàng nữ trang như ngân hàng ACB có công ty cổ phần Sài Gòn kim hoàn ACB – SJC, Sacombank có công ty vàng bạc đá quý Sacombank, Agribank có công ty vàng bạc đá quý Agribank…

Phụ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, có hơn 20 đơn vị có đội ngũ thợ sản xuất và chế tác nữ trang cùng các đầu mối buôn bán sỉ vàng và bộ phận mua bán kinh doanh vàng của các ngân hàng.

Từ ngày 1 – 25.5, giá vàng trong nước thường thấp hơn thế giới trong khoảng 350.000 – 450.000 đồng/lượng. Với tỷ giá 19.000 đồng/USD, mỗi tấn vàng xuất khẩu sau khi trừ chi phí các loại doanh nghiệp còn lãi khoảng 130.000 – 150.000 USD.

Một giám đốc phụ trách kinh doanh vàng của một ngân hàng tại TP.HCM nhìn nhận: “Đây là khoản lợi nhuận lý tưởng trong thời gian ngắn, nên các đơn vị nào thấy có thể tham gia vào đều không đứng ngoài cuộc”.

Năm 2009, ngân hàng Nhà nước cấp quota cho doanh nghiệp xuất khẩu vàng nguyên liệu. Chỉ trong năm tháng đầu 2009, tổng số lượng vàng xuất của Việt Nam đạt 2,6 tỉ USD.

Nữ trang gì?

Theo quy định, các doanh nghiệp chỉ được phép xuất khẩu vàng dưới dạng trang sức hoặc hàng thủ công mỹ nghệ. Các đơn vị từng được cấp phép xuất khẩu vàng tự động cho hay, từ cuối năm 2009 đến nay, ngân hàng Nhà nước, cơ quan quản lý xuất khẩu vàng, đã bỏ chế độ cấp phép tự động. Ông Trương Công Nhơn, phó tổng giám đốc SJC cho biết: “Cho đến thời điểm này, ngân hàng Nhà nước chưa cho phép các doanh nghiệp hay ngân hàng được tự động xuất khẩu vàng nguyên liệu. Theo quy định, doanh nghiệp chỉ được xuất khẩu vàng trang sức”.

Trong vòng chưa đầy một tháng, trên 500 triệu USD vàng xuất khẩu, có thể chủ yếu dưới dạng nữ trang hoặc thủ công mỹ nghệ. Hiện nay số công ty sản xuất và chế tác trang sức có đội ngũ nhân công và máy móc công nghệ hiện đại để sản xuất trang sức cho các hãng nước ngoài chỉ đếm trên đầu ngón tay như PNJ, SJC, Prima Gold… Đơn vị có xưởng sản xuất lớn nhất Việt Nam hiện nay là PNJ thì năng lực xuất khẩu trang sức cả năm 2009 đạt 16 triệu USD. Đại diện SJC xác nhận từ đầu năm đến nay mới sản xuất hơn 100kg trang sức vàng để xuất khẩu.

Theo một lãnh đạo phụ trách lĩnh vực vàng của một ngân hàng, nữ trang thì không ai quy định hình dáng như thế nào, nên những công ty này có thể tự gia công vàng nữ trang dưới một hình dạng nhất định nào đó, đăng ký đúng chất lượng thì được hải quan chấp nhận.

Một trưởng phòng kinh doanh vàng của một doanh nghiệp tại TP.HCM tiết lộ: “Gọi là trang sức, hầu hết các sản phẩm đều là dạng vòng tròn rất đơn giản. Có nơi đổ những khối vàng 1kg, khoét trũng ở giữa trông giống gạt tàn thuốc lá. Có nơi dùng luôn miếng vàng đục một lỗ ở giữa gọi là mề đay…” Vị này nhìn nhận, số hàng này khi xuất ra nước ngoài sẽ được đúc lại thành vàng thỏi. Nhà nhập khẩu chỉ quan trọng tuổi vàng, thì hầu hết các doanh nghiệp đều mua vàng chuẩn của SJC, AAA hoặc PNJ, nên khi đưa vào kiểm nghiệm không có lô hàng nào bị chê cả.

Lượng vàng xuất khẩu trong tháng 5 làm thay đổi cán cân thương mại, giúp nhập siêu trong tháng 5 giảm. Nếu loại trừ kim ngạch xuất khẩu vàng, nhập siêu tháng 5 ước 1,5 tỉ USD, cao nhất kể từ đầu năm tới nay.

May 27, 2010

500 tấn vàng trong dân chỉ là của để dành!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:47 pm
Tags:
Cập nhật lúc : 10:18 AM, 26/05/2010
Nhiều cửa hàng kinh doanh vàng bạc rơi vào tình trạng ế ẩm sau khi sàn vàng đóng cửa.

Ngày 25/5, giá vàng thế giới lại tăng sau bốn ngày liên tục giảm. Thị trường trong nước một lần nữa ít phản ứng: mua bán chậm. Đặc biệt đây là hiện tượng lặp đi lặp lại, sau khi các sàn vàng đóng cửa.

Đầu giờ sáng giá vàng mua vào và bán ra ở các tiệm xoay quanh mức 27,45 – 27,52 triệu đồng/lượng, đến buổi chiều giá nhích lên 27,52 – 27,58 triệu đồng/lượng. Các quan sát của nhiều giới đều cho rằng hoạt động mua bán trên thị trường rất chậm.

Mất đất đầu tư

Bà Võ Thị Ngọc Lan, phụ trách kinh doanh vàng của ngân hàng Nam Á nói: “Việc đóng cửa các sàn vàng, đóng các tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài đã làm cho các nhà đầu tư không còn mạnh dạn lướt sóng vàng mỗi khi có biến động giá.” Bởi hiện nay, không còn công cụ vàng tài khoản, trong khi vàng vật chất không liên thông với thế giới, giá thay đổi chậm, nhà đầu tư rất khó lướt sóng.

Ở thời điểm năm 2009, thị trường còn khoảng 20 sàn giao dịch vàng. Riêng các sàn lớn như của ACB, Sacombank, những khi giá vàng biến động có lúc lượng giao dịch trên tài khoản đến 300.000 lượng/ngày, kéo theo vàng vật chất mua bán lên hàng chục ngàn lượng/ ngày do các sàn vàng phải mua bán đối ứng tài khoản.

Khi có quyết định đóng cửa sàn vàng vào ngày 30.3.2010, thì các giao dịch vàng trên sàn giảm dần. Và hoạt động mua bán vàng vật chất đã giảm theo. Mặc dù quyết định trên được gia hạn đến 30.6.2010, nhưng hầu hết các sàn lớn mà chúng tôi tiếp xúc đều cho biết đã hoàn tất việc đóng tài khoản và không còn tham gia mua bán vàng vật chất để cân đối tài khoản nữa. Điều này giải thích tại sao các tiệm vàng lớn cho biết, vắng bóng những khách hàng mua khối lượng lớn (cỡ ngàn lượng), ngay cả khi gần đây giá vàng trong nước rẻ hơn thế giới gần nửa triệu đồng mỗi lượng kéo dài suốt cả tháng.

Cũng theo bà Lan, sức mua bán trên thị trường vàng từ đầu năm đến nay đã giảm mạnh, chỉ bằng 10 – 20% so với cùng kỳ năm ngoái.

Một kênh đầu tư khác của vàng là gửi tiết kiệm vàng cũng không còn hấp dẫn, khi mà các doanh nghiệp ngại vay vàng, ngân hàng ngừng huy động hoặc giảm lãi suất huy động vàng xuống gần bằng 0. Hiện tại nếu gửi vàng ở ngân hàng Eximbank thì lãi suất chỉ còn 0,05%/năm – thấp hơn lãi suất tiết kiệm tiền đồng tới… 230 lần!

Còn “cửa” để dành

Trên kênh giao dịch thanh toán, các sàn giao dịch địa ốc lớn cho biết có sự chuyển dịch từ thanh toán bằng vàng sang thanh toán bằng tiền đồng.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, vàng vẫn là một phương tiện “tích cốc phòng cơ” của một bộ phận người dân, bên cạnh ngoại tệ mạnh, nhà đất.

Hiện tại, không ai có thể xác định chính xác lượng vàng để dành trong dân là bao nhiêu. Nhưng theo số liệu của hội đồng Vàng thế giới, chỉ trong năm năm trở lại đây, mỗi năm thị trường Việt Nam nhập 63 – 73 tấn vàng. Trong đó khoảng 30% được dùng trong sản xuất và xuất khẩu trang sức, phần còn lại hầu hết được dập thành vàng miếng (còn gọi vàng tiền tệ) phục vụ nhu cầu cất trữ và thanh toán (nhà đất).

Gần đây, công ty PNJ chỉ mua bán dưới 2.000 lượng/ngày, SJC: gần 3.000 lượng/ngày.

Lúc cao điểm năm 2009, SJC bán ra đến 34.000 – 35.000 lượng/ngày. Ở PNJ, lượng giao dịch năm 2009 hàng ngày đạt trên dưới 8.000 lượng, lúc cao điểm lên 18.000 lượng.

Ông Huỳnh Trung Khánh, phó chủ tịch hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho biết: “Nếu chỉ tính theo số lượng vàng Việt Nam đã nhập từ lúc Việt Nam cho nhập khẩu vàng – trước năm 2000, trừ đi số xuất khẩu, lượng vàng tích trữ trong dân lên đến hơn 500 tấn, trị giá hơn 20 tỉ đôla”.

Còn theo ước tính của một công ty kinh doanh vàng lớn tại TP.HCM, con số sẽ lớn hơn bởi còn nguồn nhập không chính thức, và số vàng còn lại từ trước 1975.

Để đồng vốn sinh lợi?

Đến thời điểm này, có thể khẳng định việc Nhà nước đóng cửa sàn vàng có tác dụng tích cực, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối. Tuy nhiên, việc hàng trăm tấn vàng, trị giá hàng chục tỉ USD nằm im trong dân, theo đánh giá của các chuyên gia, là lãng phí một nguồn tài lực của đất nước.

Trước khi Nhà nước quyết định đóng cửa sàn vàng, nhiều ý kiến cho rằng đây chỉ là giải pháp tạm thời, khi Nhà nước chưa xây dựng được các công cụ quản lý hiệu quả.

Người dân sẽ gửi vàng vào ngân hàng khi có lãi. Nhưng các ngân hàng thì chỉ có thể huy động vàng khi có đầu ra. Ngân hàng Nhà nước cũng có thể huy động trái phiếu bằng vàng và bán vàng để đầu tư vào nền kinh tế, rồi mua vàng vào thời điểm thuận lợi để khi đáo hạn có vàng trả lại cho dân…

Muốn làm được những điều trên, cần có công cụ chính sách. Trái bóng đang trong chân Nhà nước.

(Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Không dễ tiếp cận mỏ vàng 8,1 triệu tấn của Campuchia

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:35 pm
Tags:
Cập nhật lúc : 9:32 AM, 26/05/2010
Ảnh minh họa.

Mỏ vàng khổng lồ có trữ lượng 8,1 triệu tấn này nằm ở tỉnh Mondulkiri, phía Đông Bắc Campuchia gần biên giới Việt Nam và cách thủ đô Phnom Penh 521 km. Thông tin về mỏ vàng có trữ lượng lên tới 8,1 triệu tấn của Campuchia đã khiến dư luận xôn xao.

Ông Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Năng lượng và Khoáng sản Campuchia Sok Leng đã mừng rỡ tuyên bố đây là phát hiện lớn nhất kể từ khi nước này bắt đầu tìm kiếm vàng 17 năm về trước.

Các chuyên gia nhận định, với trữ lượng lớn như vậy, mỏ vàng này sẽ cho ra lò 605.000 ounce vàng. Nhưng rồi chính ông Sok Leng phải thừa nhận mọi chuyện không hề “ngon ăn” chút nào.

Mỏ vàng khổng lồ có trữ lượng 8,1 triệu tấn này nằm ở tỉnh Mondulkiri, phía Đông Bắc Campuchia gần biên giới Việt Nam và cách thủ đô Phnom Penh 521 km. Đây là một tỉnh miền núi với dân số ít ỏi, cơ sở hạ tầng cực kỳ yếu kém. Hầu hết đất đai ở đây vẫn còn hoang sơ và núp dưới những tán lá dày đặc của các khu rừng nhiệt đới xa xôi.

Để “đào” được vàng ở đây, các công ty khai khoáng phải cần có thời gian và vốn mạnh. Họ phải đầu tư cơ sở hạ tầng, đường xá và bảo đảm các vấn đề về môi trường bởi một số tổ chức giám sát môi trường, trong đó có Global Witness, đã lên tiếng về vấn đề này.

Hiện ở Campuchia có tất cả 60 công ty khai khoáng trong và ngoài nước, trong đó có các công ty khai khoáng Việt Nam, đang hoạt động. Tuy nhiên, công ty nào đủ tiềm lực để “nhảy” vào địa bàn này khi mà hiệu quả kinh tế còn chưa thực sự rõ ràng. 8,1 triệu tấn vàng mới chỉ nằm trên lý thuyết.

Theo đánh giá của ông Douglas Broderick, Trưởng đại diện Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc tại Campuchia, ngành khai khoáng của đất nước Chùa Tháp này có triển vọng. “Nhưng phải mất khoảng 10 năm nữa mới có thể nói đến điều này. Mọi thứ không thể thay đổi chỉ sau một đêm được”.

Mặt khác, những dự án như thế này cần phải mang lại lợi ích cho người dân. Tuy nhiên, bất chấp việc vốn đầu tư nước ngoài chảy mạnh vào Campuchia trong những năm qua, người dân vẫn đói nghèo và không được đền bù thỏa đáng. Việc khai thác vàng ở một tỉnh nghèo đói như Mondulkiri chắc chắn sẽ phải vượt qua nhiều khó khăn mới tìm thấy “cái gật đầu” của người dân.

Năm 2005, các dự án khai khoáng đã đem lại cho Campuchia 181 triệu USD. Nhưng 2 năm vừa qua, nhiều dự án khai khoáng đã bị treo do suy thoái kinh tế toàn cầu.

April 18, 2010

Xung quanh đề xuất “gạt” vàng khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu

Nếu loại trừ “yếu tố” vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng so với cùng kỳ.

Một lần nữa, nhập khẩu vàng lại được cho là nguyên nhân chính dẫn tới nhập siêu trong quý 1/2010.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm đã giảm 1,6%, nhưng với việc nhập khẩu hơn 10 tấn vàng trong cùng thời kỳ, kim ngạch nhập khẩu tăng tới 37,6%.

Kết quả là nhập siêu 3 tháng đầu năm 2010 ước đạt 3,5 tỷ USD, tương đương trên 25% kim ngạch xuất khẩu, một tỷ lệ vượt chỉ tiêu Quốc hội đặt ra, khống chế dưới 20%.

Và sự việc càng được xới xáo lên, sau khi Hiệp hội Kinh doanh vàng dự kiến đề nghị Ngân hàng Nhà nước “gạt” vàng ra khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu. Vậy đâu là mục tiêu các bên liên quan đặt ra trong sự việc này?

Lý do “gạt” vàng

Tại báo cáo trình lên Chính phủ trong kỳ họp cuối tháng 3, đầu tháng 4 vừa rồi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán, nếu loại trừ “yếu tố” vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng 11,9%.

Với báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mà thực chất người “chắp bút” thường lệ là Tổng cục Thống kê, những tác động của vàng trong hoạt động thương mại quốc tế, cũng như cân đối xuất nhập khẩu thường được đưa ra công khai để người xem hiểu đúng vấn đề.

Nhưng đã vậy, Bộ Công Thương dường như còn “rộng tính” hơn. Theo ý kiến một thứ trưởng của bộ này, cách tính toán của Bộ Công Thương cho thấy, nếu không tính vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng xấp xỉ 18%; và thậm chí có thể tăng đến 24% nếu dầu thô không phải “để dành” khoảng 2 triệu tấn cho sử dụng trong nước.

“Rõ ràng, việc chúng ta đưa vàng vào cân đối xuất nhập khẩu và cân đối nhập siêu hoàn toàn không phản ánh đúng tương quan thực tế. Bởi vì, vàng thực ra không phải hàng hóa đơn thuần mà đây là một thứ ngoại tệ, cho nên nhập vàng làm tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia lên, nói chung”, vị thứ trưởng trên cho biết.

Không lâu sau khi những thông tin trên được báo chí đưa tin, xuất hiện ý kiến “ủng hộ” từ phía Hiệp hội Kinh doanh vàng. Theo hiệp hội này, Ngân hàng Nhà nước nên đưa vàng ra khỏi danh sách mặt hàng xuất nhập khẩu, và xem vàng như một ngoại tệ mạnh.

Không tạo được đồng thuận

Tuy nhiên, những quan điểm nghiêng về kiến nghị gạt vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu dường như khá đơn độc với đề xuất của mình. Theo tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 7/4, Ngân hàng Nhà nước chưa tính đến việc này.

Là người có lẽ sẽ phúc đáp đề xuất của Hiệp hội Kinh doanh vàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu giải thích rằng, việc nhập vàng phải dùng đến ngoại tệ, như vậy vẫn có ảnh hưởng đến cán cân thanh toán.

Chịu trách nhiệm chính trước con số nhập siêu lớn trong quý 1, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, trong một cuộc trả lời trực tiếp VnEconomy bên lề Hội nghị cấp cao ASEAN 16, khẳng định: “Vàng vẫn phải tính vào thống kê xuất nhập khẩu, vì nó nằm trong các hoạt động trao đổi thương mại”.

Giải thích cho việc bộ này đưa ra con số tăng trưởng xuất khẩu khi loại vàng khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu, Bộ trưởng Hoàng cho rằng, khi so sánh tăng trưởng và xu hướng xuất nhập khẩu thì không nên tính vàng vào.

Bởi nếu không, sẽ làm sai lệch cách nhìn nhận về xuất, nhập khẩu và nhập siêu, do cân đối này sẽ lệ thuộc nhiều vào thời điểm xuất hay nhập khẩu vàng, và việc điều chỉnh chính sách tiền tệ, đặc biệt là tỷ giá, Bộ trưởng Hoàng cho biết.

Ông khẳng định: “Chúng tôi chỉ đề nghị, khi xem xét so sánh tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu thì không nên tính vàng vào, chỉ riêng cái đó thôi. Chứ còn thống kê vẫn phải tính”.

Về phía cơ quan lập và công bố báo cáo tình hình xuất nhập khẩu hàng tháng, Tổng cục Thống kê cho rằng việc đưa vàng vào danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu như hiện nay là đúng thông lệ quốc tế.

Theo một số tài liệu được bà Lê Thị Minh Thủy, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại, Dịch vụ và Giá cả (Tổng cục Thống kê) gửi cho VnEconomy trước đó, từ năm 1998, phương pháp thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa đã tuân theo các chuẩn mực của thống kê Liên hợp quốc (khuyến nghị IMTS.Rev.2), và Qũy tiền tệ quốc tế (liên quan đến thống kê Cán cân thanh toán – BPM5).

Theo bà Thủy, việc thống kê vàng trong danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu như hiện nay thể hiện đúng luồng hàng hóa vào/ra khỏi phạm vi quốc gia và phản ánh trong cán cân xuất, nhập khẩu.

Làm rõ thêm quan điểm trên, Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê) Bùi Bá Cường khẳng định, chỉ có Ngân hàng Nhà nước xuất, nhập khẩu vàng mới coi là vàng tiền tệ, còn các doanh nghiệp ngân hàng hoặc phi ngân hàng khác khi nhập hay xuất vàng đều coi là hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa bình thường.

“Khi quan niệm vàng là xuất hay nhập khẩu hàng hóa thì nó sẽ tác động đến tính toán vĩ mô. Nếu loại bỏ vàng ra khỏi thống kê xuất, nhập khẩu thì sẽ tác động ngay đến việc nhìn nhận về cán cân thương mại”, ông nói.

* Theo thông lệ quốc tế hiện nay, vàng với ba chức năng là hàng hóa (sử dụng cho sản xuất, chế tác, kinh doanh), phương tiện lưu giữ giá trị và phương tiện thanh toán, được phân làm hai loại: vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ, hay còn gọi là vàng hàng hóa.

Vàng tiền tệ là vàng do các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ sở hữu và nắm giữ làm tài sản dự trữ quốc gia. Nếu cơ quan này mua, bán vàng với cơ quan điều hành chính sách tiền tệ của nước khác hoặc một tổ chức tiền tệ quốc tế thì giao dịch này không được thống kê vào xuất nhập khẩu hàng hóa.

Vàng phi tiền tệ là vàng ở các dạng đã hoặc chưa gia công (thanh, thỏi, bột, vảy…) được xuất nhập khẩu bởi các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại cho mục đích sản xuất, kinh doanh, lưu giữ giá trị, được tính vào thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa.

April 9, 2010

Bùng nổ đầu tư vàng ‘chui’

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:07 pm
Tags: , ,

Hàng loạt đơn vị như Công ty Hồng Hối, Trung tâm vàng 24K, Công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh vàng quốc tế (IGI), Vàng Ngọc Thanh… sau ngày đóng cửa sàn vàng đã công bố hoạt động kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn, với yêu cầu đặt cọc 5%.

Sau ngày 30/3, khi các sàn vàng đóng cửa theo lệnh của Thủ tướng, những đơn vị trên đã công bố trên website của mình hoạt động kinh doanh vàng vật chất, chỉ cần đặt cọc 5%. Khi Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ thanh tra, kiểm tra các sàn vàng biến tướng, họ nhanh chóng gỡ toàn bộ thông tin về hoạt động kinh doanh vàng vật chất theo kỳ hạn ra khỏi trang web.

Tuy vậy, nhiều nhà đầu tư cho biết vẫn đang được một số đơn vị như Trung tâm mua bán vàng Ngọc Thanh, vàng 24K…mời chào ký hợp đồng. “Người chơi chỉ cần đặt cọc khoảng 5% có thể giao dịch vàng vật chất như với vàng tài khoản. Nếu đến kỳ hạn quy định, nhà đầu tư chưa đủ tiền nộp mua vàng sẽ phải chịu lãi suất ký gửi để duy trì trạng thái”, một khách hàng tại Trung tâm vàng 24K nói.

Một số môi giới cũng đang ráo riết giới thiệu dịch vụ mở tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài (trên các trang web như FXPRO, FXDD, FXCM…). Chỉ cần hai bước, chuẩn bị hồ sơ sau đó gửi đến email của môi giới để được hướng dẫn hoàn thiện mở tài khoản và nhận chuyển tiền…

Hoạt động kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn bắt đầu bùng nổ. Ảnh: Hoàng Hà

Theo một chuyên gia về kinh doanh vàng tại TP HCM, thực chất hình thức đặt cọc 5% cũng tương tự như ký quỹ, là cách để kinh doanh vàng tài khoản phổ biến bấy lâu nay. Vì nếu đã là đầu tư vàng vật chất thì phải đưa đủ 100% tiền mặt mới được nhận vàng, chứ không doanh nghiệp nào lại chấp nhận khoản tiền cọc chỉ 5%.

Ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tại TP HCM cho biết, cơ quan chức năng sẽ tăng cường kiểm tra, nếu phát hiện các trường hợp vi phạm như hoạt động sàn chui, mở tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài… sẽ xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Riêng những biến tướng sau khi sàn vàng đóng cửa, Ngân hàng Nhà nước TP HCM sẽ tập hợp và ghi nhận, đề xuất hướng xử lý gửi lên Vụ quản lý ngoại hối Ngân hàng Nhà nước.

“Rồi đây, sẽ có nhiều người tiếp tục “chết” vì vàng nếu những hình thức này không được kiểm soát”, vị chuyên gia này nói.

Thực tế, trước và trong khi có sàn vàng, hình thức kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn đã hoạt động và “dìm chết” rất nhiều người tham gia.

Lãnh đạo một công ty kinh doanh vàng tại TP HCM cho rằng, trường hợp vỡ nợ của chủ tiệm vàng Tuấn Tài hồi tháng 11 năm ngoái cũng chính vì tham gia vào hình thức “đánh vàng ngoài sàn” như trên. Họ chỉ cần mang một số tiền đến ngân hàng ký quỹ 5-7%, còn nhà băng chịu 93-95%, để vay một số vàng lớn. Sau đó, người chơi chờ giá vàng xuống để hưởng phần chênh lệch. Cách chơi này giới đầu cơ gọi là đánh xuống.

Tuy nhiên, tháng 11 năm ngoái, khi giá vàng vượt 29 triệu đồng một lượng khiến người chơi hoảng loạn, tìm cách mượn vàng bạn hàng, vay của dân, mua giá cao để cắt lỗ nhưng vẫn không trả đủ cho ngân hàng. Cuối cùng, người chơi chấp nhận thanh lý hợp đồng ngay thời điểm giá cao, đồng nghĩa với việc chịu thua lỗ nặng.

Năm 2007, cuộc chơi kinh doanh “vàng ngoài sàn” cũng diễn ra tương tự, để lại nhiều nạn nhân với những cuộc kiện tụng cho đến nay vẫn chưa giải quyết xong. Nhiều người sau đợt sốt vàng 3 năm trước giờ cũng chìm trong nợ nần với khoảng vài trăm lượng.

Mấy tháng nay, ông Trương Văn Tấn (Hóc Môn, TP HCM), một người chơi vàng năm 2007, cầm lá đơn khởi kiện vừa nhận được từ một ngân hàng thương mại tại TP HCM mà lo lắng không yên. Ông bị nhà băng này đưa ra tòa vì “không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết”.

Ông Tấn cho biết, trong đơn khởi kiện, ngân hàng yêu cầu ông phải trả hơn 600 lượng vàng là nợ gốc cộng lãi phát sinh, lãi phạt chậm. Đơn khởi kiện còn liệt kê các loại tài sản thế chấp cho khoản nợ mà ông đã trót lao vào cuộc chơi vàng năm ấy, bao gồm một ôtô Mitsubishi 7 chỗ, 18 thửa đất ở Long An, 36 thửa đất ở Tây Ninh…

Nhớ lại diễn biến của ba năm về trước, ông Tấn nghẹn giọng kể, nếu giá vàng tại thời điểm khoảng 12,5 triệu đồng một lượng, ông nộp ngân hàng khoảng 1,5 tỷ đồng tiền ký quỹ (7%), nhà băng mở cho ông một sổ tiết kiệm có giá trị 14 tỷ đồng (ngân hàng 93%). Đổi lại, ông phải ký với ngân hàng một hợp đồng vay 1.000 lượng vàng với lãi suất 3,5% một năm, còn sổ tiết kiệm trị giá 14 tỷ đồng được xem là tài sản cầm cố để đảm bảo khoản vay. Nếu giá vàng xuống dưới 12,5 triệu đồng mỗi lượng (tức 12,5 tỷ đồng cho 1.000 lượng vàng) ông thu được khoản lời chênh lệch. Ngoài ra, ông Tấn còn được hưởng tiền lãi từ sổ tiết kiệm, nếu trừ lãi suất vàng mỗi tháng cũng thu lời 40-50 triệu đồng (trong trường hợp giá vàng ổn định và ít biến động).

Thấy số tiền lời quá hấp dẫn, ông Tấn lao vào chơi. Chưa đầy 3 tháng, toàn bộ tài sản lần lượt ra đi do giá kim loại quý liên tục tăng cao. Không chỉ tài sản của gia đình bị ném vào khoản tiền bổ sung ký quỹ, nhà đầu tư này còn đi vay mượn tiền bạc, đất đai, nhà cửa của anh em, dòng họ để bổ sung vào. “Đến khi, mọi nguồn lực cạn kiệt, không thể chống đỡ nổi, tôi đành mang khoản nợ 600 lượng vàng mà không có cách nào trả được”, ông Tấn nói.

Nhà đầu tư vàng này bức xúc, khoản nợ của mình có thể sẽ nhẹ hơn nếu như theo đúng hợp đồng, khi dư nợ vượt quá 98% giá trị tài sản cầm cố (sổ tiết kiệm), ngân hàng tự động cắt lỗ, tất toán hợp đồng cho khách hàng. Đằng này, nhà băng cho rằng, khi ông Tấn không yêu cầu thì họ có quyền cắt hoặc không cắt. Do đó, ngân hàng vẫn cứ để mặc cho nhà đầu tư say máu, chìm ngập trong thua lỗ đến mức tài khoản của họ vượt 130% so với tài sản cầm cố (tức bị âm đến 30%), mới tất toán. Đến lúc này, ông Tấn bị cột chặt vào hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ để trở thành con nợ của ngân hàng.

Ngoài ra, hơn chục nhà đầu tư khác như bà Hiệp, bà Nhân, bà Hà…sống tại TP HCM cũng đang chung cảnh nợ nần như ông Tấn khi trót dính vào cuộc chơi vàng 2007. Giờ đây, họ phải ngày đêm chạy trốn chủ nợ và sống cảnh vất vưởng khắp nơi.

April 4, 2010

Kiến nghị gạt vàng khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:40 pm
Tags: , ,

Hiệp hội Kinh doanh vàng dự định kiến nghị Ngân hàng Nhà nước đưa vàng ra khỏi danh sách mặt hàng xuất nhập khẩu và yêu cầu xem vàng như một ngoại tệ mạnh.
> Thống kê xuất nhập khẩu cần chỉnh lại

Theo ông Đinh Nho Bảng, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh Vàng, gạt vàng ra khỏi danh sách, lý do chính vì bản chất đây không phải là hàng hóa. Việc kim loại quý này có mặt trong danh sách mặt hàng nhập khẩu sẽ làm tăng tỷ lệ nhập siêu. Lo ngại này cũng dẫn đến hậu quả thị trường vàng trong nước bị kìm hãm. Tính thanh khoản của kim loại quý này rất cao, vốn là một ngoại tệ mạnh, chứ không như các loại hàng hóa khác có sự hao mòn về giá trị. Sau khi nhập khẩu, vàng cũng có thể được tái xuất mà vẫn bảo đảm giá trị quốc tế. Ông Bảng cho biết, quý một năm 2009 khi Việt Nam xuất siêu tới 1,64 tỷ USD, xuất khẩu vàng chiếm phần lớn.

Ngoài ra, ông nhận định việc Việt Nam chưa xem vàng là ngoại tệ mạnh khiến vai trò của nó trong kho dự trữ ngoại tệ hiện ở mức rất thấp so với Mỹ hay Trung Quốc. Vàng trong kho cũng khó sinh lời khi mua từ thời giá khoảng 200 USD, cho đến nay thị trường đã vượt xa 1.000 USD mà vẫn không xuất được. Hiệp hội kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần đánh giá lại hiệu quả của việc dự trữ vàng và nới lỏng kiểm soát để được xuất được nhập khi có nhu cầu.

Hiệp hội không cho rằng việc nới lỏng nhập vàng sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ, thậm chí còn ngược lại. Khi việc xuất nhập bị hạn chế, hoạt động buôn lậu vàng sẽ gây căng thẳng trên thị trường ngoại tệ tự do.

Tuy nhiên, theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, không việc gì phải đưa vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu. “Nếu nói gạt vàng ra để hạn chế nhập siêu thì chỉ là biện pháp tự ru ngủ mình”, ông nhận định. Trong khi đó, Việt Nam lại không phải là nước sản xuất vàng. Để thỏa mãn nhu cầu vàng cất giữ, trang sức trong nước, chỉ có cách nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu vàng cần một lượng ngoại tệ lớn. Tóm lại, việc gạt vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu không đem lại lợi ích thực chất nào về mặt kinh tế học, ông Doanh khẳng định.

Mặt khác, vàng trong nước hiện nay cũng không khan hiếm. Nhiều nguồn tin ước đoán trong dân đang nắm giữ khoảng 500 tấn vàng. Nới lỏng dây cương cho xuất nhập vàng cũng không đồng nghĩa với việc ngăn chặn hoạt động buôn lậu. “Cứ có chênh lệch giá giữa thị trường trong và ngoài nước thì có buôn lậu. Không ai đảm bảo được là cho xuất nhập vàng thì giá nội địa và quốc tế sẽ cân bằng nhau. Thực tế thì lâu nay, rất ít khi chúng ta thấy có sự cân bằng này”, ông Doanh nói.

Từ phía Tổng cục Thống kê, đại diện của Vụ Thương mại Giá cả cho biết vẫn giữ nguyên quan điểm từ trước đến nay là thống kê xuất nhập khẩu cần tính cả vàng miếng. Không chỉ Việt Nam mà nhiều nước cũng chung quan niệm vàng do Nhà nước, ngân hàng trung ương nhập về để dự trữ thì được coi là phương tiện thanh toán, tích trữ. Còn vàng do các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp nhập, xuất để phục vụ mục đích kinh doanh cần được đưa vào danh mục hàng xuất nhập khẩu.

March 25, 2010

Thị xã bị đầu độc- Bạc mặt vì có… vàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:28 am
Tags: ,

Tại xã Canh Tân, Cao Bằng, sông suối bị bới lanh tanh bành, dòng chảy chính biến mất, các ụ đất chất cao như núi. Tiếng máy nổ đinh tai nhức óc, hệ thống sàng tuyển đãi vàng hoạt động náo nức.

>> Chuyện khó tin bên “dòng sông chết”
>> “Vàng tặc” thách thức cơ quan…

Chúng tôi đi một chiếc xe BKS màu trắng, dán kính đen (tức là không phải xe “biển xanh”, “biển đỏ” mà cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang chống “vàng tặc” tỉnh Cao Bằng thường dùng), chạy rất thong dong để tránh sự theo dõi của các “chim cú” (lực lượng canh gác của “giặc vàng”).

Thế nhưng, suốt mấy chục cây số từ rìa thị xã Cao Bằng, xe chúng tôi vẫn không tài nào cắt đuôi được người đàn ông trung tuổi, đeo khẩu trang, đi xe Dream bám đuổi nhằng nhẵng. Chúng tôi dừng, người đàn ông cũng dừng, cứ nhìn trân trối, đầy thách thức, hỏi gì cũng không biết và không biết. Thấy các vị khách lạ vác camera, cầm máy ảnh, lập tức tiếng hú vang lên, họ nói bằng tiếng địa phương, các máy làm vàng tắt phụp, cánh “vàng tặc” lũ lượt bỏ đi trong các sườn đồi và các tràn ruộng rậm rịt.

“Không thể bắt được vàng tặc” – chỉ là lời nói dối?

Tại xã Canh Tân, sông suối bị bới lanh tanh bành, dòng chảy chính biến mất, các ụ đất chất cao như núi. Tiếng máy nổ đinh tai nhức óc, hệ thống sàng tuyển đãi vàng hoạt động náo nức. Một người dân khẳng khái: Tôi cũng là dân làm vàng ở… bãi trên, máy này là của anh D, là đảng viên, công an viên của xã đấy.

Mới đây, ngày 30.12.2009, UBND tỉnh Cao Bằng còn có chỉ thị nêu rõ thực trạng ở chính 3 cái xã miền tây này, “phương tiện cơ giới tham gia (đào vàng trái phép) với quy mô lớn, thời gian kéo dài”, “gây thất thoát, lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng xấu tới môi trường, an toàn lao động và an ninh khu vực”.

Chỉ thị phân tích cụ thể: Để xảy ra tình trạng nêu trên là do “một số địa phương (cấp xã) còn có hiện tượng một số cán bộ bao che hoặc trực tiếp tham gia khai thác khoáng sản trái phép”; cần phải “kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm” của các cá nhân, đơn vị này. Sau khi 12 vị cán bộ bị xử lý, sẽ tiếp tục đến lượt ai nữa đây?

Chúng tôi đi đến đâu, tiếng máy làm vàng tắt đến đó, nhưng trong những thung lũng rộng dưới sông, suối thượng lưu sông Hiến, vì đường “tụt dốc” xuống các máy múc, máy sàng tuyển quá xa, nên “vàng tặc” nghiễm nhiên nhìn đoàn cán bộ… xem họ làm việc.

Khi thấy có dấu hiệu bị đột nhập hiện trường, họ mới thực sự bỏ chạy. Ở điểm vàng Phiêng Đẩy, xã Quang Trọng, doanh nghiệp Bảo Phát với hơn 200 công nhân, đào bới trên diện tích 8ha, cũng thật sự biến thượng nguồn sông Hiến thành một túi bùn đất nhào ngấu như ruộng cấy!

Đêm, điện sáng như sao sa, ngày nườm nượp “công nhân” và người dân tự do “khoét núi, ngủ hầm”, bốn bề chỉ thấy núi tan hoang, sông biến thành ụ đất bùn, nước đặc quánh như chảo bột màu vàng ai vừa quấy. Bể lắng lọc của công ty, đắp bằng bùn, mưa nhỏ đã vỡ tan hoang, bao bẩn thỉu, độc hại tràn trực tiếp ra sông, suối.

Đúng như ông Bí thư Nguyễn Đặng và ông Chi cục trưởng Bùi Đào Diện đã nói, việc đuổi – chạy, chạy – đuổi giữa cán bộ và “vàng tặc” nơi này nó đã bị “nhờn thuốc” rồi. Hai mươi bảy Tết âm lịch, đoàn cán bộ cực kỳ quy mô của tỉnh Cao Bằng “xông pha” đi xử lý nạn khai thác vàng trái phép ở 3 xã miền tây huyện Thạch An.

Công văn giấy tờ rất công phu, báo cáo xuống, trình báo lên khá tốn giấy mực, lúc lên đường thì… đến đâu cũng thấy lơ thơ vài cái máy hỏng. Và bản báo cáo ra đời (Phó Giám đốc Công an tỉnh Cao Bằng đã ký ngày 11.2.1010): “Hiện tại trên địa bàn 3 xã không có đối tượng nào tiến hành khai thác vàng trái phép. Trong quá trình kiểm tra không phát hiện loại máy móc nào đang hoạt động”.

Một cán bộ tỉnh che miệng cười, 27 tết mới ra quân, các đồng chí ấy đi chúc tết… người đào vàng cho vui ấy mà. Và, nếu nói là không tài nào bắt được mấy gã đào vàng trái phép, với máy xúc, máy ủi nặng vài tấn, đi chậm hơn con rùa ở ngoài sông suối, thì hơi bị… khó tin. Thì, chúng ta sẽ không thể hiểu được rằng, với sự “thần thông quảng đại” tới mức nào mà cảnh sát môi trường có thể tóm được các nguồn xả thải, các đường ống ngầm bí mật, tinh vi của Công ty Vedan khi “bọn chúng” đầu độc sông Thị Vải!

Ngang nhiên đào đãi vàng.  Ảnh: Đ.D.H

Cũng may, có những cuộc điều tra tìm ra được một phần của bản chất câu chuyện “vàng tặc”. Đoàn kiểm tra của huyện Thạch An chỉ kiểm tra trong các ngày từ 7 đến 15.1.2010 đã phát hiện rất nhiều máy móc khổng lồ đang “ăn thịt” sông Hiến và các con suối đầu nguồn của nó.

Cụ thể, bắt quả tang 16 công  nhân, 4 máy xúc, 2 giàn tuyển, 4 máy nổ đang khai thác vàng trên suối Nà Giàn (xã Quang Trọng); tại suối Nà Pạc, đoàn cũng đẩy đuổi ông Hoàng Xuân Hoà (người tỉnh Bắc Cạn) cùng 5 công nhân, với đủ bộ máy xúc, máy tuyển, máy nổ, máy bơm kềnh càng về “phía tỉnh bạn”; dọc suối Nậm Cung, tổ công tác cũng xử lý ông Hạ Văn Giới (người Ngân Sơn, Bắc Cạn) cùng 10 lao động và hệ thống máy móc đắt tiền đang “mổ bụng” con suối thượng nguồn…

Đấy là chưa kể rất nhiều hộ gia đình, với máy móc lớn, đắt tiền, đều là người Thạch An cũng bị xử lý, yêu cầu khênh máy móc về nhà, ký cam kết không tái phạm. Dọc Nậm Cung, đoàn còn phát hiện có ít nhất 7 tổ khai thác vàng rầm rộ, trải dài từ huyện Thạch An của Cao Bằng sang huyện Ngân Sơn của tỉnh Bắc Cạn.

Điều đó lý giải vì sao ngay cả khi “chiến dịch” ra quân, các máy vàng trái phép ở Thạch An ngừng hoạt động toàn bộ thì nước sông Hiến và các dòng suối vẫn đục ngầu, sền sệt. Huyện Thạch An đã đề nghị lực lượng công an của mình, tổ chức hội nghị giáp ranh với công an Ngân Sơn, tỉnh Cao Bằng cũng đã có kế hoạch tổ chức đoàn đại biểu sang làm việc với tỉnh Bắc Cạn, ngõ hầu chung tay cứu lấy dòng sông Hiến thơ mộng, nơi cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho thị xã Cao Bằng và nhiều huyện lỵ khác.

Đào vàng trong “bể nước ăn” của thị xã!

Những phân tích trên cho thấy: Cơ quan chức năng tỏ ra bất lực, không hiệu quả trong việc dẹp nạn khai thác vàng trái phép (ít nhất là) ở Thạch An. Có những nguyên nhân vô cùng khó hiểu cho tình trạng này.

Bởi máy đào vàng to và đi chậm hơn xe lu, tiếng nổ của nó thì ở cách vài cây số đã nghe tiếng, nước đục nó phun ra, thì nó chảy thẳng về trước ngay trước cổng tỉnh uỷ, Uỷ ban rồi đi vào nhà máy nước “ăn” của bà con ta, dòng đục dòng trong thế nào, ai chả biết.

Không biết tỉnh Cao Bằng đã quản lý nghiêm với các doanh nghiệp được cấp phép đào vàng chưa, khi mà các đoàn kiểm tra gần đây liên tục phát hiện ra những chuyện tày trời, như: Chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường được duyệt đã “làm vàng”, làm rồi xả thẳng nước ra sông suối, đập ao làm chiếu lệ sơ sài.

Bản báo cáo đề ngày 14.1.2010 của UBND tỉnh Cao Bằng viết rõ: Khu vực 3 xã kể trên có 3 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động khoáng sản, trong đó doanh nghiệp Bảo Phát đang khai thác điểm vàng Phiêng Đẩy: “Tại thời điểm kiểm tra, có 220 công nhân lao động, đơn vị biên chế thành 10 tổ khai thác bằng hình thức hầm lò là chủ yếu, với 10 đường lò đang hoạt động; (…). Hệ thống xử lý nước thải của đơn vị hầu như không có tác dụng, vì các đập chắn chưa hình thành, nước thải hầu như chảy trực tiếp ra suối (…)”.

Mới đây, Chủ tịch UBND huyện Thạch An, ông Nguyễn Văn Dừa đã ký văn bản yêu cầu cấp trên kiểm tra hoạt động (gây ô nhiễm môi trường) của các doanh nghiệp trên 2 xã Minh Khai và Quang Trọng; đề nghị Công ty Đại Bảo, trước đây đã được cấp phép thăm dò khai thác vàng (nay đã hết hạn) mang máy móc ra khỏi hiện trường, bởi quá trình “thăm dò” của họ đã làm ô nhiễm môi trường rất nặng nề.

Đừng đổi sức khoẻ của dân lấy “vàng”

Một so sánh nhỏ: Tỉnh Gia Lai có một thắng cảnh tuyệt mỹ, “đôi mắt Pleiku Biển Hồ đầy”. Vì Biển Hồ là nguồn nước ăn của thành phố, nên địa phương chấp nhận hy sinh nguồn lợi, cấm tuyệt đối cả hoạt động tắm hồ, khai thác du lịch ảnh hưởng đến sự trong lành của nước hồ. Trong khi đó, Cao Bằng lại cấp phép cho doanh nghiệp đào bới, chấp nhận tạm thời “bó tay” trước nạn đào vàng trên hàng chục cây số dọc thượng du sông Hiến – nguồn nước sinh hoạt của mình.

Tôi không tin và không một ai có thể tin được, rằng lực lượng tinh nhuệ của liên ngành tỉnh Cao Bằng không thể tóm cổ được các cỗ máy đào vàng ù lỳ to như xe tăng dưới bùn nhão của sông suối, hang hốc kia! Có lẽ, vấn đề chỉ còn là: Người ta có thật sự muốn cứu dòng sông ngắc ngoải của mình không, có muốn cứu hàng vạn người đang bị đầu độc nguồn nước sinh hoạt kia không?

UBND huyện Thạch An cũng vừa có báo cáo chính thức lên UBND tỉnh Cao Bằng: “Đề nghị đình chỉ ngay lập tức mọi hoạt động khai thác vàng trái phép ở 3 xã miền tây Canh Tân, Minh Khai, Quang Trọng”.

Điều mà các cán bộ nhà máy cung cấp nước cho thị xã Cao Bằng và tất cả chúng tôi băn khoăn nhất: Liệu có đúng là hàng vạn cư dân của Cao Bằng đang bị “đầu độc” không chỉ bằng bùn nhão, nước đục ngầu, mà còn có cả thuỷ ngân và xianua không?

Giám đốc nhà máy ông Đặng Nhật Quân – đã có công văn gửi UBND tỉnh Cao Bằng, với nội dung: “Đề nghị (tỉnh) không cấp phép khai thác vàng trên toàn bộ lưu vực phía trên các nhà máy nước (kể cả sông Bằng, sông Hiến) vì các đơn vị khai thác có thể sử dụng thuỷ ngân và xianua là hoá chất cực độc để xử lý vàng mà chúng ta không thể kiểm soát được. Lợi ích do khai thác vàng đem lại khó có thể bù lại nguy cơ thiệt hại về sức khoẻ cho nhân dân, nhất là khu vực đông dân như thị xã Cao Bằng”.

PV Lao Động đã tham khảo ý kiến nhiều chuyên gia, gồm các tiến sĩ vật lý, hoá học, các vị từng là lãnh đạo cấp cao của Bộ Tài nguyên – Môi trường, thì nguy cơ nhiễm độc thuỷ ngân và xianua trên sông Hiến do đào đãi vàng là không có gì khó hiểu, lời “tố cáo” của bà con xung quanh việc doanh nghiệp đào vàng xả thẳng nước thải ra sông, suối với cả thuỷ ngân và xianua là có cơ sở. Bởi, trên nguyên tắc, thật khó  có “ông” nào tìm được vàng mà không cần đến hai thứ độc tố “giết người” đó.

Nếu đúng như thế thì có lẽ thị xã Cao Bằng đang bị “đầu độc tập thể” không chỉ bằng bùn đất ô tạp? Vâng, xin trả lại bài toán kỳ quặc này về cho người Cao Bằng.

March 18, 2010

“Giá vàng trong nước sẽ còn chịu áp lực”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:25 pm
Tags: , ,

Một câu hỏi đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm là có nên dự trữ vàng trong thời điểm hiện tại?

Thời gian đóng cửa sàn vàng đang được tính từng ngày. Nhiều ngân hàng đang tồn lượng vàng khá lớn. Thừa cung dẫn đến việc giá vàng giảm và lãi suất huy động vàng từ các ngân hàng cũng sẽ giảm.

Một câu hỏi đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm là có nên dự trữ vàng trong thời điểm hiện tại? Xung quanh chủ đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Trung Anh, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Vàng Vina.

Nhiều ngân hàng đang giảm mạnh lãi suất huy động vàng, chỉ còn trên dưới 0,5%/năm, trong khi thời điểm này của năm 2009 từ 6-7%. Theo ông, có phải do nguyên nhân đóng cửa sàn vàng?

Việc các ngân hàng giảm mạnh lãi suất huy động vàng, theo tôi có các lý do sau. Thứ nhất, việc cho vay vàng của các ngân hàng khá khó khăn. Như chúng ta biết thì từ trước tới nay các ngân hàng cho vay vàng chỉ phục vụ mục đích thanh toán mua bán nhà đất, đầu cơ, tự doanh.

Nhưng thời gian qua giá vàng biến động quá mạnh và khó lường, do đó việc vay vàng để thanh toán hoặc thậm chí là bán kiếm chênh lệch như lúc trước trong thời điểm này là rất rủi ro, nhất là khi nguy cơ lạm phát có thể quay trở lại bất kỳ lúc nào. Vì vậy, với việc không có đầu ra cho vay, thì các ngân hàng cũng không mặn mà lắm với việc đẩy mạnh đầu vào huy động.

Thứ hai, nhu cầu đầu tư của giới kinh doanh vàng vật chất cũng không còn mạnh như thời điểm năm 2009, nhu cầu tự doanh của các ngân hàng cũng sụt giảm, vì vậy họ cũng không còn nhiều hứng thú đối với việc huy động vàng, nên đã chủ động giảm lãi suất huy động vàng xuống.

Thứ ba, là hiện nay chính các ngân hàng cũng không dám huy động vàng nhiều. Trong thời điểm năm 2009, các ngân hàng huy động vàng với lãi suất lên đến 6-7% nhằm bán ra lấy tiền VND phục vụ nhu cầu cho vay hoặc kiếm lợi nhuận. Nhưng lúc đó họ có thể cân đối lại tài khoản bằng cách mua vàng trên tài khoản ở nước ngoài để tránh rủi ro.

Còn hiện tại thì Ngân hàng Nhà nước đã cấm hình thức kinh doanh vàng trên tài khoản, nên các ngân hàng cũng không dám huy động nhiều vì sợ rủi ro cao. Vì thế lãi suất huy động hiện nay giảm chỉ còn trên dưới 0,5% là điều dễ hiểu.

Thậm chí có khả năng sắp tới các ngân hàng thương mại có thể sẽ còn thu phí giữ hộ vàng cho khách hàng.

Như vậy, theo ông nhu cầu vàng vật chất trên thị trường trong thời gian tới sẽ như thế nào?

Về nhu cầu vàng vật chất trên thị trường, theo tôi là khá thấp trong thời điểm hiện tại, nhưng điều này được xem là tất yếu trong thời điểm đầu năm. Ngoài ra, giá vàng thế giới ít biến động mạnh nên cũng không kích thích lực mua vàng vật chất. Nhu cầu vàng của các ngân hàng thương mại cũng sụt giảm so với thời điểm trước Tết.

Nhưng theo ý kiến cá nhân tôi, nhu cầu mua vàng vật chất trong thời gian tới với mục đích dự trữ của người dân sẽ vẫn cao, do chỉ số giá hàng hóa vẫn đang cho thấy khó có thể kiềm chế.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nên lưu ý một điều là nếu lãi suất huy động VND lên quá cao, như thời điểm trong năm 2008 lên gần 20%/năm, thì khi đó người dân sẽ không còn mặn mà gì với vàng nữa, mà ngược lại có thể sẽ còn bán vàng ra lấy VND gửi tiết kiệm.

Xu hướng trong thời gian tới giá vàng sẽ diễn biến như thế nào? Nhà đầu tư và người dân có nên giữ vàng trong giai đoạn này không, thưa ông?

Giá vàng thế giới trong 3 tháng tới theo tôi sẽ vẫn ổn định trong biên độ hẹp, khi giới đầu tư thế giới ngày càng thận trọng hơn trước những diễn biến nợ công của một số nền kinh tế. Trong khi đó, các nhà đầu tư trung và dài hạn trong giai đoạn này cũng sẽ không tham gia trạng thái lớn, do đó sóng lớn là khó có thể xảy ra. Đây cũng được xem là giai đoạn trầm lắng của thị trường vàng thế giới hàng năm.

Giá vàng trong nước trong thời gian tới sẽ chạy sát với giá vàng thế giới hơn. Hiện tại thì giá vàng trong nước đang cao hơn khoảng 600.000 đồng so với giá vàng thế giới nếu tính theo tỷ giá ngân hàng. Tuy nhiên, nếu tính theo tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do, cộng với các chi phí nhập khẩu khác thì giá trong nước chỉ cao hơn giá thế giới khoảng 100.000 đồng/lượng.

Về vấn đề nhà đầu tư và người dân có nên giữ vàng trong giai đoạn này hay không, theo tôi là vẫn nên phân bổ một phần tài sản vào vàng để đề phòng lạm phát trở lại. Tuy nhiên, tôi xin nhấn mạnh là chỉ nên nắm giữ một phần, vì hiện tại đang có những kênh đầu tư khác với tỷ suất sinh lợi cũng khá hấp dẫn.

Ngoài ra do lãi suất huy động vàng thấp, trong khi lãi suất huy động VND đang khá cao, nên có thể sẽ khiến một dòng vốn từ vàng chuyển sang VND để gửi tiết kiệm, vì vậy giá vàng trong nước thời gian tới có thể sẽ còn chịu áp lực.

Next Page »

Blog at WordPress.com.