Ktetaichinh’s Blog

May 27, 2010

Câu chuyện thu hút FDI và hiệu quả đầu tư

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:33 pm
Tags:
Cập nhật lúc : 2:42 PM, 25/05/2010
Ảnh minh họa.

(eFinance) –  (Tạp chí Tài chính Điện tử số 82 ngày 15/4/2010) – Dự kiến năm 2010, Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được khoảng 22 – 25 tỷ USD (tăng 10% so với năm 2009). Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, đã lến lúc Việt Nam cần lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, phân tích tác động của vốn FDI và có ý kiến còn cho rằng, nên bắt đầu đánh thuế cả FDI để sử dụng vốn cho hiệu quả hơn?

FDI nhìn từ những con số

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH-ĐT), FDI đăng ký vào Việt Nam cả năm 2009 đạt 21,48 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 10 tỷ USD. Xét trên tổng lượng xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu khí) năm 2009 đạt 29,9 tỷ USD; nếu không tính dầu thô đạt 23,6 tỷ USD. Nhập khẩu của khu vực này đạt 24,8 tỷ USD. Về tổng thể, cả năm 2009, khu vực FDI xuất siêu tổng cộng 5,03 tỷ USD.

Xét về lĩnh vực đầu tư, dịch vụ lưu trú và ăn uống đứng với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Kinh doanh bất động sản (BĐS) thứ 2 với 7,6 tỷ USD. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và 749 triệu USD vốn tăng thêm.

Về quan hệ đầu tư, năm 2009 đã có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Hoa Kỳ đứng đầu với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ USD (chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam), Cayman Islands thứ 2 (với 2,02 tỷ USD, chiếm 9,4%). Thứ 3 là Samoa với 1,7 tỷ USD (chiếm 7,9%); Hàn Quốc thứ 4 (với 1,66 tỷ USD, chiếm 7,7%)…

Các địa phương thu hút lượng vốn FDI lớn phải kể đến Bà Rịa -Vũng Tàu (6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm); tiếp đến là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

Theo ông Nguyễn Xuân Trung, Phó cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài (Bộ KH-ĐT): Căn cứ mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5-7% năm 2010, huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 39,6% GDP, Cục đầu tư nước ngoài đã đề ra mục tiêu thu hút vốn FDI năm 2010 tăng 10% so với ước thực hiện 2009, đạt từ 22-25 tỷ USD. Trong đó, vốn đăng ký mới dự kiến khoảng 19 tỷ USD; vốn tăng thêm khoảng 3 tỷ USD.

Nhìn lại tổng số FDI đăng ký tại Việt Nam năm 2008 đạt 64,011 tỷ USD (tăng gấp đôi năm 2007); Năm 2009 đạt 21,48 tỷ USD (bằng 30% so năm 2008) và năm 2010 dự kiến tăng khoảng 10% so với năm 2009… Tuy nhiên nhiều chuyên gia cho rằng, khi lượng vốn FDI vào Việt Nam bắt đầu có xu hướng chậm lại, là lúc Việt Nam định hướng, chọn lọc nhà đầu tư chiến lược, phân tích và đánh giá tác động cần được  tính tới…

Tuy nhiên thực tế theo nhiều chuyên gia nhận định, tốc độ giải ngân, đầu tư đúng, trúng và phát huy tác dụng FDI, tạo ra những giá trị thiết thực trong đời sống xã hội chưa thực sự chủ động. Ngoài mục tiêu vốn đăng ký được bao nhiêu, quan trọng hơn, vốn thực hiện được hấp thụ thế nào cho nền kinh tế, thiết thực đối với đời sống xã hội. Việt Nam đã có quá nhiều bài học về các “siêu” dự án rất “hoành tráng”, vốn đầu tư hàng ngàn tỷ đồng, các phương tiện truyền thông đưa tin rất hứng khởi, nhưng tính khả thi và tiến độ lại hoàn toàn ngược lại. Điều quan trọng hơn, đó là vốn đi vay và hệ lụy là dự án đầu tư bị kéo dài lê thê, giảm hiệu quả đầu tư, thậm chí phải dừng lại.

FDI nhìn từ chính sách

Cảnh báo là thế, vậy Việt Nam phải làm gì? Theo nhiều chuyên gia, phân tích FDI hãy nhìn nhận theo bản chất đầu tư, tính chất dòng vốn, động cơ của nhà đầu tư. Phải trả lời câu hỏi, tại sao lại để nước ngoài dưới hình thức đầu tư vốn FDI nhưng chỉ đưa một nguồn vốn nhỏ vào, rồi huy động vốn trong nước để hưởng lợi quá nhiều. Nhà nước cần sớm điều chỉnh sự bất công này để có thể được hưởng lợi cùng với họ? Hay chúng ta có chuôi mà… không biết cầm?

Hiện tình trạng các địa phương cấp phép tràn lan dự án FDI thời gian qua cũng đáng suy ngẫm. FDI đang là lĩnh vực tăng nguồn thu lớn trước mắt cho các tỉnh, ví dụ năm 2006, riêng thuế từ Công ty Ford Việt Nam đã chiếm 50% số thu nội địa của tỉnh Hải Dương. Tỉnh nào cũng xúc tiến đầu tư, đôn đáo mở khu công nghiệp, xin dự án… dẫn tới trong 3 năm (2006-2008), nhiều địa phương đã khai tăng vốn đáng kể để có thành tích, cạnh tranh nhau (chỉ số PCI), cấp phép dự án quá nhiều cho cùng một loại sản phẩm mà không tính đến khả năng thị trường gây dư thừa, lãng phí cũng như theo một quy hoạch nào. Việc “bội thực”các dự án sản xuất thép, xi măng, sân golf và cảng biển là vì thế.

Một tác động khác mà Việt Nam cũng mới chỉ “cảnh báo” là tác động của các dự án FDl với môi trường và đời sống xã hội. Ông Võ bức xúc, sao chúng ta toàn phải đợi đến lúc DN xả thải gây ô nhiễm trầm trọng rồi mới đi kiểm tra, chết người rồi mới đi giám sát công trình; rồi khi kiểm tra, xử phạt cũng không đến nơi đến chốn, và câu chuyện Vedan, Keangnam vẫn mới nguyên…

Trong khi đó nhiều chuyên gia lo ngại, một trong những mục tiêu thu hút FDI là tiếp thu khoa học công nghệ -trình độ quản lý và tiếp cận tài nguyên của nước khác. Trước đây FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Thì hiện tại chiều ngược đang có xu thế mạnh mẽ hơn nữa; Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ là những bài học cho Việt Nam. Người Nhật đã tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia. Trung Quốc cũng làm tương tự khi Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của IBM (Mỹ) để tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính. TCL thì sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, National Offshore Oil Corporation mua lại ngành khai thác dầu lửa của Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.

Gần đây các Tập đoàn của Việt Nam cũng “hướng ngoại” với mục đích như vậy; Vietel là xâm nhập Campuchia, Haiti, Lào với dịch vụ viễn thông; VTC là dịch vụ nội dung số và PVN tiếp cận hợp tác với nhiều nước để khai thác dầu khí…Tuy nhiên đây chỉ là những cái tên hiếm hoi và Việt Nam cần tận dụng tốt hơn chiến lược này, bên cạnh sử dụng đội ngũ lao động đang được đào tạo và làm việc tại các nước Việt Nam có quan hệ xuất khẩu lao động…

Đã đến lúc đánh thuế vốn đầu tư FDI?

Khi vốn FDI toàn cầu giảm gần 40% trong năm 2009, xuống còn 1.040 tỷ USD. Vốn FDI đổ vào các nước đang phát triển giảm 34,7%, sau 6 năm tăng liên tục. Nhưng Tổ chức phát triển LHQ (UNCTAD) khuyến cáo, khi lượng vốn FDI đổ vào các nước giảm đi, nhất là các nước đang phát triển thì đây là lúc các nền kinh tế có cơ hội đánh giá lại toàn diện FDI. Hướng mục tiêu đầu tư vào những kĩnh vực chọn lọc với những ưu đãi hợp lý.

Những quốc gia nhận FDI cao năm 2009 đứng đầu là Mỹ (137 tỷ USD); Trung Quốc (90 tỷ USD); Pháp (65 tỷ USD). Tuy nhiên, theo ông James Zhan, Giám đốc Chi nhánh Đầu tư và Doanh nghiệp (UNCTAD): Khi năm 2010 sự hồi phục kinh tế “vừa phải”, vốn FDI sẽ tăng thì các nước cần có những chiến lược liên kết đầu tư, thu hút nguồn vốn sạch cho mình. Nhiều nước đã lập “hàng rào” mềm cho vốn FDI cùng là vì lí do đó, và biện pháp đánh thuế FDI cũng đã được nhiều nước đặt lên bàn nghị sự.

Ở Việt Nam, theo nhiều chuyên gia: Chúng ta chưa thu hút được nhiều FDI đến mức cần đánh thuế, nhưng cần kiểm soát các dự án tốt hơn, chọn lọc nhà đầu tư và sử dụng hiệu quả vốn FDI, ngay cả vốn vay trong nước thật tốt đã là thành công…

Advertisements

Công nghệ thổi giá đất Đông Anh

Chỉ trong vòng hai tháng, đất làng ở huyện phía Bắc Hà Nội bị thổi lên gấp 2-3 lần giá trị thực, đánh dấu mốc tăng kỷ lục cao nhất từ trước đến nay.

Dọc đường 6 thuộc xã Hải Bối, huyện Đông Anh có khoảng chục văn phòng môi giới bất động sản mọc lên tạm bợ, đối diện với bên kia là cánh đồng xanh mướt. Theo ghi nhận của VnExpress.net, nhiều văn phòng môi giới khá vắng khách, số khác cửa đóng then cài. Lượng giao dịch chững lại, song đất làng ở huyện cách nội đô hơn 20km này đã thiết lập mặt bằng giá mới.

Anh Thế Vũ, đại diện một văn phòng môi giới tiết lộ, giao dịch đã chững lại song giá vẫn cứ tăng chóng mặt chủ yếu do đầu cơ thổi giá. Anh Vũ tiết lộ, để kiếm lời, mỗi văn phòng môi giới sẽ liên kết với khoảng 10 văn phòng khác. Các cò đất tập hợp nhau lại, đặt ra mục tiêu thu gom lượng lớn đất, càng nhanh càng tốt. Sau khi thu gom hết đất làng, các cò này sẽ tạo khan hiếm giả và bắt đầu công nghệ đẩy giá lên. “Khi thị trường khan hiếm nhất, môi giới bắt đầu dần dần xả hàng. Nguồn cung được bơm thêm, khiến nhiều người a dua, đua nhau đi mua. Nhờ vậy, giá đất không ngừng bị đẩy cao vượt giá trị thực”, anh Vũ bật mí.

Anh Trường Giang, Giám đốc một văn phòng môi giới ở huyện Đông Anh cho hay, đây là thời điểm tốt để thu gom đất làng vì Đông Anh sắp lên quận. Theo vị môi giới này, chỉ trong vòng 3 năm, anh đã ôm khoảng 30 mảnh đất ở khu vực Tây Hồ và Đông Anh. Mới mua mảnh đất rộng khoảng 200 m2 với giá khoảng 10 triệu/m2, đến 2 tháng sau, giá đất đã tăng tới 30 triệu đồng. “Đông Anh sắp mở ra 3 quận lớn là Bắc Thăng Long, Đông Kỳ và Cổ Loa nên đầu tư ở khu vực này vẫn có “cơ” lên”, anh Giang nói.

Ảnh: Hoàng Lan
Giao dịch đã chững lại, song giá đất vẫn không ngừng bị thổi lên. Ảnh: Hoàng Lan.

Bên cạnh lực lượng môi giới chuyên nghiệp, người nông dân cũng có mánh riêng đẩy giá đất lên cao. Đất làng tại thôn Vạn Lộc, xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, Hà Nội cũng được người nông dân đua nhau chào giá mới. Thấy khách lạ hỏi mua đất, nhiều người trong làng đổ xô ra mời chào đon đả khiến khu làng vốn bình yên rộn rã hẳn lên. Bác Thanh Nạnh, một người dân trong thôn cho biết, trước kia giá đất chỉ vài triệu đồng thì nay đã dao động quanh mức 15-30 triệu đồng tùy khu vực. Tất tả đi lấy số điện thoại để liên hệ với chủ đất, bác cho biết, đất phía sâu trong ngõ ngách được rao bán 15 triệu, ngõ to gần đường lớn giá cao gấp đôi. Chỉ mảnh đất cỏ tốt um cạnh ao, bác Thanh Nạnh cho hay, miếng đất này được chào 30 triệu đồng mỗi m2. Sau một hồi gọi điện thoại, bác thông báo, người chủ không muốn bán, và hẹn hai hôm nữa quay lại. Theo bác, phải mua nhanh vì đất Đông Anh sắp tới sẽ chẳng còn mà mua.

Đế lời của bác, một người phụ nữ khác cho hay, thôn Cầu Cả phía trong làng, đất rẻ hơn cũng lên tới chục triệu đồng; còn thôn Vạn Lộc gần quốc lộ 3 nên giá cả đắt đỏ hơn. Người này minh chứng, đất ao, giá “bèo” nhất cũng lên tới 7 triệu đồng. Riêng miếng đất thổ cư cạnh ngôi mộ có giá “nhẹ nhàng” hơn, khoảng 15 triệu đồng mỗi m2. Theo người phụ nữ này, Đông Anh sẽ trở thành… trung tâm hành chính quốc gia nên giá đất sẽ không ngừng tăng cao.

Cứ như vậy, kẻ tung người hứng, những người trong thôn thi nhau đẩy giá đất lên. Trong khi đó, theo quy hoạch chung, trung tâm hành chính quốc gia dự kiến được đặt ở Ba Vì.

Một người dân trong thôn cho hay, kể từ khi khởi công cầu Nhật Tân bắc qua sông Hồng nối quận Tây Hồ với Đông Anh, nơi đây nhộn nhịp hẳn lên. Đất quanh cầu Nhật Tân giá tăng chóng mặt, từ 20 đến 60 triệu đồng tùy vị trí. Đất Kim Chung cũng lên tới trên 30 triệu đồng, Vĩnh Ngọc từ 17 triệu đồng cũng lên tới 60 triệu đồng. Các hộ nông dân nào có đất thì bán, người không có đất sẵn sàng làm môi giới để hưởng chênh lệch. Cách đây khoảng 2 tháng, đã có nhiều nhà bán đất với giá 10 triệu đồng. Bởi vậy, nhiều hộ nông dân lấy mốc đó để định giá đất trong làng. “Mặc dù lượng khách hàng hỏi mua đã giảm đi nhiều so với tháng trước, nhưng giá đất vẫn hét ở mức cao. Nông dân thi nhau làm ‘cò’, vì mỗi lần mách thành công, cũng được chủ trả cho vài triệu đồng”, một người dân nói.

Ảnh:
Đất thôn Vạn Lộc giá dao động quanh mức 15-30 triệu đồng. Ảnh: Hoàng Lan.

Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Đăng Nam, Phó phòng Quản lý Đô thị huyện Đông Anh cho hay, đây là thời điểm đất Đông Anh tăng cao nhất từ trước đến nay. Nguyên nhân cơ bản là Đông Anh đang dần hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Từ trung tâm thành phố lên đến Đông Anh sẽ hình thành 3 cây cầu mới là cầu Nhật Tân, Đông Trù đang thi công và Tứ Liên dự kiến sẽ triển khai vào năm 2012. Khi ba cây cầu được hoàn thành, từ Đông Anh vào trung tâm thành phố chỉ mất khoảng 10 phút. Ngoài ra, ông Nam cũng cho biết, Đông Anh đang có một số khu đô thị đã được phê duyệt như Nam Hồng, Kim Chung…”Cơ sở hạ tầng thuận lợi khiến người dân các tỉnh đặc biệt là nội thành Hà Nội đổ về Đông Anh mua đất. Cầu nhiều trong khi nguồn cung có hạn dẫn đến giá đất bị đẩy lên”, ông Nam nói.

Theo ông Nam, Đông Anh hiện có 22 xã, thị trấn. Giá đất đang tăng theo dạng lan truyền từ các xã. Hồi cuối năm 2009, giá đất tăng chậm, tuy nhiên trong mấy tháng trở lại đây lên gấp 2-3 lần. Khu Xuân Canh, Vĩnh Ngọc dao động trung bình từ 25-40 triệu đồng. Một số xã lân cận cũng lên tới 15-20 triệu đồng mỗi m2.

Ngoài cơ sở hạ tầng làm Đông Anh thiết lập mặt bằng giá mới, ông Nam cho rằng cũng phải kể đến một bộ phần cò đất và giới đầu cơ thổi lên. Ông Nam dẫn chứng, ở xã Xuân Canh có trường hợp xuất hiện đại gia gom đến 10 miếng đất làng khiến giá đất không ngừng tăng cao. “Thị trường phát triển đến một mức nào đó khi quá nóng sẽ nảy sinh bong bóng và buộc phải điều phối lại. Người mua nếu thấy đất tăng chóng mặt cần phải tỉnh táo”, ông Nam nói.

Về tin đồn Đông Anh sắp lên quận, ông Nam cho biết, huyện đã đề xuất xin chia tách thành 3 quận từ trước khi sáp nhập Hà Tây cũ nhưng đến nay vẫn chưa có quyết định từ phía UBND TP Hà Nội. “Tên của quận còn chưa được đặt và UBND TP Hà Nội cũng chưa có quyết định chính thức nào về đề xuất của huyện”, ông Nam khẳng định.

Quy hoạch và cơn say giá đất

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 09:09:00
picture

Một khu đô thị mới ở Từ Liêm, Hà Nội. Đất đai nhiều khu vực ở Hà Nội đang lên cơn sốt sau các thông tin về quy hoạch.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cơn sốt đất lần này tại Hà Nội do thông tin ảo và những yếu tố đầu cơ đang chi phối thị trường

Trước cơn sốt đất một số khu vực ở Hà Nội, nhất là khu vực Ba Vì, những ngày qua các chuyên gia liên tục cảnh báo nguy cơ vỡ bong bóng có thể diễn ra trong thời gian tới. Bởi nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cơn sốt đất lần này do thông tin ảo và những yếu tố đầu cơ đang chi phối thị trường.

Quả thật, có nhiều dấu hiệu cho thấy bong bóng bất động sản đang hình thành. Hơn một tháng trở lại đây, như nhiều báo đã phản ánh, giá đất tại nhiều khu vực ở Hà Nội tăng chóng mặt, với mức tăng nóng 35 – 40% và lượng giao dịch cũng lên 25 – 30% chỉ trong vòng hơn một tháng qua. Sôi động nhất ở thời điểm này là Ba Vì.

Thị trường nhà đất Hà Nội bị tác động mạnh khi nhiều người tin rằng, sẽ xây trục Thăng Long từ trung tâm Hà Nội đến Ba Vì và nơi đây sẽ là trung tâm hành chính quốc gia. Do đó, người ta rủ nhau về Ba Vì mua đất, đẩy giá đất tại đây tăng 2 – 3 lần chỉ trong thời gian ngắn.

Với hy vọng “bỏ ra một đồng, không ăn mười cũng ăn tám” nên thị trường đất ở Ba Vì được mô tả là “ai có mảnh đất muốn bán, chỉ cần tung tin ra hôm trước là hôm sau có khách ngay. Người này bước ra, người khác bước vào, có nhà đã bán xong đất rồi vẫn phải tiếp cả chục khách đến hỏi vì cứ tưởng là còn đất. Nhiều gia đình xưa nay có con cháu đi làm ăn ở xa, nay cũng bỏ việc tìm về tranh bán đất, chia tiền, mua xe”.

Thế nhưng, trả lời báo chí về cơn sốt đất đang diễn ra ở Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam, nói việc chuyển trung tâm hành chính quốc gia lên Ba Vì là câu chuyện của 50 năm nữa. Đó là chưa nói tới việc trong tương lai có khi còn điều chỉnh. Ông Nam minh chứng bằng việc điều chỉnh quy hoạch chung Hà Nội năm 1998 do Thủ tướng duyệt thì “nay cũng đã sửa rồi”.

Kinh nghiệm đã chỉ ra, việc quy hoạch và thực hiện xây dựng theo quy hoạch trên thực tế luôn có một khoảng cách xa. Ở đây quy hoạch chưa được phê duyệt nhưng việc mua bán, đầu cơ đất đai đã diễn ra sôi động. Điều này có nghĩa, đến nay thị trường bất động sản vẫn vận hành theo kiểu “nghe nói, nghe đồn” từ tai người nọ qua người kia.

Một thị trường vận hành theo tin rỉ tai như vậy chắc chắn sẽ là mảnh đất béo bở cho chủ đầu tư, nhà đầu tư, môi giới hoạt động kiểu đội, nhóm làm giá, “đục nước béo cò” trước đám đông thiếu thông tin xác thực. Ở đây cũng không loại trừ khả năng các đại gia, giới đầu tư đã mua đất từ lâu, nay thổi phồng giá lên để kiếm lời.

Mặt khác, như các chuyên gia bình luận, chuyện giao dịch đất diễn ra rầm rộ một phần là do “tâm lý đầu tư bầy đàn”. Thay vì phải tính toán, phân tích cụ thể dựa trên những thông tin xác thực thì người này bắn tin cho người kia: “Ba Vì sẽ thành trung tâm hành chính quốc gia, do đó chắc chắn giá đất sẽ còn tăng”, rồi lao vào mua đất như thiêu thân.

Tuy nhiên, việc nhà đầu cơ lợi dụng thông tin quy hoạch để kiếm lợi có phần từ lỗi của nhà quản lý khi chưa cung cấp đủ thông tin. Nói cách khác là còn thiếu thông tin chính thức, nhất quán từ các cơ quan quản lý nhà nước và không mang tính tổng thể. “Nếu như chúng ta cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân rằng đây mới chỉ là dự án chưa được thông qua nên việc có thực hiện hay không vẫn chưa khẳng định, thì chắc chắn người dân sẽ không bị mắc lừa”, một chuyên gia phát biểu.

Ở góc độ khác, theo ông Đặng Hùng Võ, cố vấn cấp cao của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thị trường Hà Nội có chiều hướng sôi động trong thời gian gần đây do một bộ phận người dân Hà Nội có tiền nhàn rỗi đổ đi đầu tư bất động sản. Song, ông Võ cho rằng “ngoài một bộ phận khách hàng có nhu cầu thực, cũng không tránh khỏi hiện tượng làm giá do nhiều nhà đầu tư lướt sóng, tìm cách làm khan hàng thổi giá lên cao quá mức bình thường”.

Thị trường bất động sản trên thực tế vẫn chưa phục hồi sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra năm 2008. Tín dụng dành cho bất động sản đang trong tình trạng nhỏ giọt và kinh tế vĩ mô chưa thực sự khởi sắc thì thị trường bất động sản chưa thể ấm lại.

* Báo cáo Quốc hội biến động bất động sản Hà Nội

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam vừa có văn bản đề nghị UBND thành phố Hà Nội yêu cầu Sở Xây dựng Hà Nội phối hợp với Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng) lập báo cáo và chỉ đạo các huyện Quốc Oai, Ba Vì, Thạch Thất, Thường Tín báo cáo tình hình thực hiện các dự án bất động sản theo quy hoạch; tình hình chuyển nhượng đất đai (đất thổ cư và đất canh tác) và tình hình biến động giá bất động sản từ đầu năm 2010 đến nay trên địa bàn.

Trước đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với Văn phòng Chính phủ thừa uỷ quyền Thủ tướng, lập báo cáo trình Quốc hội về thực trạng mua bán bất động sản và giá các loại đất chuyển nhượng trên thị trường tự do ở các địa điểm đang quy hoạch tại Hà Nội. Báo cáo trình Quốc hội phải hoàn tất trước ngày 30/5/2010.

Đất phía Đông Hà Nội không hề “sốt” giá như đồn đoán
Cập nhật lúc : 8:51 AM, 26/05/2010
Gần hai chục lô đất thổ cư mà khách nhờ ông Hùng bán giúp vẫn nằm trong ngăn kéo bàn từ năm ngoái đến nay – Ảnh: N.N

Trước hàng loạt thông tin về việc đất nền cả 4 hướng tại Hà Nội đang lên cơn sốt, trong đó khu phía Đông bao gồm quận Long Biên và huyện Gia Lâm cũng tăng giá chóng mặt vài tháng trở lại đây nhưng thực tế cho thấy, tình hình lại không hoàn toàn như vậy.

Bất động

Thời tiết tại Hà Nội những ngày vừa qua nắng nóng hầm hập nhưng không khí giao dịch nhà đất lại có vẻ khá “lạnh” tại hàng chục văn phòng môi giới xung quanh khu đô thị Việt Hưng.

Mặc dù chỉ có một mình với hai chiếc quạt cây chạy hết công suất tại tầng 1 của căn nhà 4 tầng, ông Hùng – chủ văn phòng giao dịch nhà đất số 1 nhà P1 những ngày này, áo ba lỗ vẫn vén lên ngang bụng.

Sự “tự nhiên” này rõ ràng không chỉ do thời tiết quá nóng bức, mà còn bởi khách tìm đến giao dịch không có khiến ông Hùng chẳng còn nghĩ đến việc giữ ý.

Theo chủ văn phòng, từ Tết trở ra, nếu mảng căn hộ chung cư đã rất chậm thì tình hình giao dịch đất nền lại càng trở nên tồi tệ khi “bất động” từ giữa năm ngoái đến nay.

Vừa nói, ông Hùng vừa dẫn chứng bằng cách rút từ ngăn kéo bàn làm việc ra chiếc cặp tài liệu rồi trải lên mặt bàn khoảng 20 cặp giấy tờ công chứng sổ đỏ của từng ấy lô đất mà người dân quanh khu vực Long Biên, Sài Đồng, Thượng Thanh, Đức Giang… nhờ bán giúp.

“Mọi người cứ bảo đất sốt lên nhưng thực tế có người mua đâu! Đây toàn là những lô đất giãn dân, đất đấu thầu rất đẹp mà giá hợp lý, thế mà chẳng có ai vào hỏi. Từ năm ngoái đến nay chưa bán được lô nào, vậy thử hỏi sốt ở đâu?” – ông Hùng thắc mắc.

Quả vậy, đó hầu hết là những lô đất thổ cư có diện tích từ 100m2 trở lên. Nếu năm ngoái các hộ nhờ ông Hùng chào bán ở mức 12-13 triệu đến 16-17 triệu đồng/m2, thì năm nay tất cả đều vọt lên 19-20 triệu đồng/m2. Thậm chí có nhà còn “đòi” lên 25 triệu đồng/m2.

Số lượng người nhờ bán ngày càng nhiều lên, không ngày nào ông Hùng không nhận được những cuộc điện thoại bày tỏ sự sốt ruột, thúc giục bán nhanh của bên cung. Trong lúc “cầu” không có, ông chỉ biết tư vấn: “nếu không giảm giá xuống thì tôi chịu, không có ai mua thì tôi cho vào ngăn kéo cất đi”, hoặc trường hợp tăng giá quá đáng hơn, ông nói thẳng: “giá thế này thì mời ông đi gửi văn phòng khác”…

Không dùng từ “sốt”

Là văn phòng có vị trí đắc địa – ngay mặt đường vào, biển hiệu bắt mắt, lại có quy mô lớn hơn hẳn những văn phòng khác tại đây nhưng trung tâm giao dịch bất động sản Thành Công ở Khu 2 của đô thị mới Việt Hưng những ngày này lượng người vào ra cũng không có gì đáng kể.

Trong lúc vắng khách, Phó Giám đốc của trung tâm xin giấu tên chia sẻ, không thể dùng từ “sốt” để nói về giá đất cũng như tình hình giao dịch đất nền hiện tại ở khu vực này. Bởi lẽ, ngoại trừ việc tăng giá trông thấy ở một số khu đấu giá ra (mà số lượng cũng rất hạn chế), các khu còn lại giá đất có nhích lên từ cuối năm ngoái nhưng hoàn toàn theo quy luật thông thường của thị trường, chứ không phải tăng ở mức “ồ ạt, đột biến” như người ta vẫn nói.

Bằng chứng là khi bắt đầu mở văn phòng Thành Công vào quãng năm 2007-2008, giá đất quanh khu Giang Biên, Quán Tình mới rơi vào trên dưới 10-12 triệu đồng/m2. Cũng những miếng đó sau 2-3 năm, giá ở mức hơn 20 triệu đồng. “Trong 20 triệu này cũng có 1 quãng lên, nhưng là lên từ từ. Mà đây đều là ăn theo đô thị thì mới có mức giá như vậy” – vị này nói thêm.

Đồng tình với nhận xét trên, chủ sàn giao dịch bất động sản trực tuyến Nhà đất Gia Lâm, ông Nguyễn Thế Cường ước lượng, mức tăng giá 20-30% tại một số khu vực của huyện Gia Lâm như Thạch Bàn, Cự Khối, Bát Tràng, Đông Dư, Kiêu Kỵ… thời gian gần đây chỉ được coi là ấm lên, chứ không phải “sốt” theo kiểu hôm trước hôm sau một giá. “Có những thông tin gì tốt thì cũng đã ra rồi. Nhìn chung, thị trường sẽ không thể tăng hơn được nữa” – ông Cường dự đoán.

Ẩm ương vì “tâm lý”

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Mô tả ảnh.
Mô tả ảnh.
Thực trạng “sốt” đất là khi các văn phòng môi giới nhà đất tại khu Việt Hưng đóng cửa im ỉm hoặc vắng lặng như tờ khi mở cửa.  Ảnh: N.N

Những thông tin giá đất tăng vù vù trong và sau các cuộc đấu giá đất dự án tại Đặng Xá, Trâu Quỳ, khu vực chân cầu Vĩnh Tuy hoặc lâu hơn là Tầm Dâu thuộc địa bàn huyện Gia Lâm thời gian qua chính là khởi điểm của cái gọi là “cơn sốt” đất nền khu vực này.

Có hơn 100 m2 đất tại khu vực chân cầu Vĩnh Tuy, từ mức khởi điểm là 16-17 triệu đồng, anh Mạnh – một nhà đầu tư ở Long Biên khấp khởi mừng khi giá vọt lên trên 20 triệu đồng/m2 sau cuộc đấu giá. Vì rất cần tiền, anh Mạnh để lại cho một người quen ở mức 22 triệu đồng/m2, nhưng chỉ đúng 1 tuần sau anh ngỡ ngàng hay tin, mảnh đất đã được sang tay với giá 28 triệu đồng/m2.

Thông tin được lan truyền và đồn thổi nhanh chóng, khiến nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ mắt tròn mắt dẹt, tạo nên làn sóng đổ xô vào thị trường. Phó Giám đốc văn phòng Thành Công nhận xét việc tăng giá không ngừng lên gấp đôi so với giá khởi điểm tại các khu đất đấu giá vừa qua hoàn toàn là do yếu tố tâm lý của nhà đầu cơ, khi mỗi người đều có sự tính toán riêng, đã mua ở mức đỉnh là 32 triệu đồng/m2 thì tất yếu họ phải bán ra giá cao hơn.

Tâm lý “tạo sốt” này còn được giới kinh doanh liên hệ đến việc đấu giá đất khu Tầm Dâu trước đó. Cụ thể, cách đây khoảng 1 năm, đất mặt đường to khu vực này chỉ khoảng 16-17 triệu đồng/m2, nhưng từ lúc có thông tin trung tâm thương mại Savico sắp được xây dựng thì lập tức, nhà đầu tư nhảy vào mua, đẩy giá lên mức chót vót là 45-50 triệu đồng/m2 hiện tại.

“Dân mình thường chưa quan tâm đến cái mình được hưởng thụ. Việc xây trung tâm thương mại như vậy, chưa chắc người sống lân cận đã vào đó mua đồ. Việc đổ xô đầu tư vào đây chỉ là cơ hội để giới đầu tư thực hiện hoá lợi nhuận” – đại diện một trung tâm đánh giá.

Ngoài ra, việc các nhà đầu tư lâu niên với quỹ đất rộng đang có xu hướng chia nhỏ lô đất ra năm bảy phần để bán theo hình thức “mua sỉ, bán lẻ” cũng là động thái góp phần làm giá đất khu Gia Lâm nhích lên.

Nhưng khách quan mà nói, không thể phủ nhận việc tăng giá xuất phát từ tâm lý của chính người bán đất. Trước tình hình người mua không có mà người nhờ bán đất cứ tăng giá ầm ầm, ông Hùng – chủ văn phòng nhà đất ở khu Việt Hưng không ít lần phải thốt lên với những người nhờ bán: “Đắt như thế thì bán cho ai?”.

Theo ông, tâm lý so sánh, đối chiếu về giá của người bán ví dụ căn cứ vào một điểm giá đang sốt lên, người dân tại khu khác cũng tự cân đối và đưa ra giá của mình, đại để như “khu đó 50 triệu thì đất của tôi tối thiểu cũng phải 25” là nguyên nhân chủ yếu khiến giao dịch đất nền bất động từ đầu năm đến giờ. Đó cũng là lý do sâu xa của việc hàng loạt văn phòng môi giới nhà đất khu vực Việt Hưng hiện đóng cửa triền miên.

Đất Hà Nội bị “làm giá”?

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 10:20:00

Tình trạng sốt đất ở Hà Nội phần lớn do tin đồn – Ảnh: Hoài Nam

Khoảng một tháng trở lại đây, giá đất tại nhiều khu vực của Hà Nội tăng đến hơn 30% so với hồi đầu năm. Theo ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), hiện tượng trên có yếu tố tăng ảo do nhiều nhà kinh doanh thổi giá lên, đồng thời cũng do người dân không nắm được thông tin nên đã đổ xô đi mua đất, càng làm giá đất tăng bất thường.

Đất gì cũng tăng giá

Mở đầu cho “cơn sốt” đất tại Hà Nội có lẽ là Dự án Thanh Hà. Ngay sau Tết Canh Dần, chỉ với một hợp đồng vay vốn không có giá trị pháp lý, CTCP Xây dựng và dịch vụ 1/5 đã huy động vốn của hàng trăm người với số tiền lên tới hơn 700 tỷ đồng. Từ giá gốc trong thỏa thuận là 12 triệu đồng/m2, các cò đất đã “thổi giá” lên 19 triệu đồng/m2. Thậm chí, chỉ 3 ngày trước khi cơ quan công an vào cuộc, có nhà đầu tư đã phải chấp nhận mua đất tại dự án này với giá tới 27 triệu đồng/m2.

Kéo theo “cơn sốt” tại Dự án Thanh Hà, đất nền tại Dự án Kim Chung – Di Trạch do Tổng CTCP Thương mại xây dựng làm chủ đầu tư, cũng tăng từ 26 triệu đồng lên khoảng 30 triệu đồng/m2. Giá đất tại Dự án Bắc quốc lộ 32 do CTCP Phát triển đô thị Từ Liêm làm chủ đầu tư trước Tết Canh Dần cũng chỉ 24 triệu đồng/m2, nay đã tăng lên trên 30 triệu đồng/m2 vào thời điểm hiện tại.

Cũng trong khoảng thời gian trên, giá đất trong Khu đô thị Ciputra thuộc quận Tây Hồ đang từ 75 triệu đồng/m2 đã tăng vọt lên 110 triệu đồng/m2. Tại dự án Đặng Xá thuộc khu vực Gia Lâm, phía Đông Hà Nội, giá đất đang là 18 triệu đồng/m2 thời điểm đầu năm, nay cũng có giá khoảng 25 triệu đồng/m2.

Đất thổ cư ở nhiều nơi cũng tăng chóng mặt. Tại các vùng ven đô như Quốc Oai, Hoài Đức, Đan Phượng…, giá đất tăng từng ngày. Những thửa đất gần đường quốc lộ có giá từ trên 10 triệu đồng/m2 đến gần 20 triệu đồng/m2; những thửa ở sâu hơn cũng có giá không dưới 5 triệu đồng/m2. Đặc biệt, giá đất tại các xã vùng sâu khu vực Ba Vì như Tiến Xuân, Đông Xuân, Yên Bình cũng tăng gấp 2 đến 3 lần, từ 700.000 đồng/m2 đã tăng lên đến gần 2 triệu đồng/m2.

Tăng giá phần lớn do tin đồn

Phân tích nguyên nhân của tình trạng tăng giá đất một cách đột biến thời gian qua tại Hà Nội, nhiều chuyên gia nhận định phần lớn do tin đồn. Theo đại diện Trung tâm bất động sản Thiên Cơ trên đường Khuất Duy Tiến, thị trường bị tác động mạnh nhất kể từ khi có Triển lãm “Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050” do Bộ Xây dựng tổ chức vào cuối tháng 4/2010, trong đó Hà Nội có 5 đô thị vệ tinh và “trục Thăng Long” bắt đầu từ đường Hoàng Quốc Việt tới chân núi Ba Vì.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, cho rằng, việc quy hoạch đưa trung tâm hành chính quốc gia lên chân núi Ba Vì là mang tính định hướng dài hạn 50 năm. Trước mắt Trung tâm Hành chính Quốc gia vẫn được xây dựng ở khu Mỹ Đình, Mễ Trì. “Nếu có sốt đất thì chỉ là chuyện tâm lý và cũng không loại trừ tình trạng đầu cơ thổi giá”, ông Nam nói.

Đồng tình với đánh giá trên, ông Đào Trung Chính, Tổng cục Phó Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ TN&MT) cho rằng, đất đai là một loại hàng hóa đặc biệt và nó chịu ảnh hưởng của quy hoạch. Mặt khác vì đất đai có tính khan hiếm và nhiều người cùng đổ xô vào mua nên khi có tin đồn thì ngay lập tức xảy ra tình trạng “sốt đất”.

Còn theo ông Đỗ Đức Đôi, Giám đốc Trung tâm tin học thuộc Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ TN&MT), việc để cho một số nhà đầu cơ lợi dụng thông tin quy hoạch để kiếm lợi bất chính cũng có một phần là lỗi của nhà quản lý khi chưa cung cấp đủ thông tin. “Nếu như chúng ta cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân là vùng nào được quy hoạch, vùng nào mới chỉ đang xem xét thì chắc nhiều nhà đầu tư sẽ không bị mắc lừa”, ông Đôi nhấn mạnh.

Mặt khác, theo ông Vũ Đình Ánh, Viện nghiên cứu khoa học Thị trường giá cả (Bộ Tài chính), hiện có đến 80% các giao dịch trên thị trường bất động sản là phi chính thức. Vì vậy, tình trạng “sốt đất” như vừa qua cũng có thể do chính những người có đất tự tung tin rồi hét giá lên nhằm tạo ra sốt ảo, còn thực hư việc mua bán đất này có thành công hay không thì không ai có thể biết được.

“Mặc dù tình trạng sốt đất do tin đồn ở nước ta đã xảy ra nhiều năm nay, nhưng đến nay vẫn chưa có cách nào để khắc phục hữu hiệu. Ngoài những điểm yếu trong việc quản lý đất đai của Nhà nước thì tâm lý đầu tư kiểu “bầy đàn” của người dân cũng là sơ hở để giới đầu cơ trục lợi”, ông Ánh nhận định.

Thị trường bất động sản vẫn hút vốn nước ngoài
Cập nhật lúc : 1:39 PM, 25/05/2010
Ảnh minh họa.
Dù thị trường bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đầu tư nhiều dự án quy mô trị giá hàng chục triệu USD vào thị trường Việt Nam.

Nhiều nhà đầu tư nước ngoài nhận định năm 2010 và những năm tiếp theo Việt Nam vẫn là một địa chỉ đầu tư hấp dẫn. Trong đó, bất động sản tiếp tục là kênh hấp thụ vốn ngoại rất lớn.

Mới đây nhất, Tập đoàn Allrgeen – một trong những tập đo

Thị trường bất động sản vẫn hút vốn nước ngoài
Cập nhật lúc : 1:39 PM, 25/05/2010
Ảnh minh họa.

Dù thị trường bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đầu tư nhiều dự án quy mô trị giá hàng chục triệu USD vào thị trường Việt Nam.

Nhiều nhà đầu tư nước ngoài nhận định năm 2010 và những năm tiếp theo Việt Nam vẫn là một địa chỉ đầu tư hấp dẫn. Trong đó, bất động sản tiếp tục là kênh hấp thụ vốn ngoại rất lớn.

Mới đây nhất, Tập đoàn Allrgeen – một trong những tập đoàn phát triển bất động sản lớn nhất Singapore, đã triển khai dự án căn hộ cao cấp Regency Park đầu tiên tại Việt Nam.

Dự án nằm ở vị trí đắc địa tại quận 2, bao gồm 515 căn hộ cao cấp với hai, ba và bốn phòng ngủ, trong đó có 12 căn penthouse hứa hẹn sẽ thu hút được khách hàng bởi thương hiệu mà Tập đoàn Allrgeen gây dựng từ nhiều năm nay.

Giữa tháng Sáu tới, dự án sẽ chính thức công bố với khách hàng.

Khi được hỏi tại sao Allgreen chọn thời điểm này để vào thị trường Việt Nam, đạ diện của tập đoàn Allgreen cho biết: “Chúng tôi đặt tầm nhìn dài hạn về vị trí của mình ở thị trường Việt Nam. Những thay đổi tích cực trong các quy định pháp luật gần đây về kinh doanh và sở hữu bất động sản, cũng như Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển mạnh mẽ nhất khu vực châu Á-Thái Bình Dương, khiến nơi đây thành địa điểm đầu tư hấp dẫn với chúng tôi.”

Tháng Ba vừa qua, VinaCapital Group, tập đoàn quản lý tài sản và phát triển bất động sản, đã liên doanh với Tập đoàn inProjects (Hongkong) để lập Công ty VinaProjects chuyên quản lý các dự án bất động sản tại thị trường Việt Nam.

Một số dự án trọng điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng sẽ được VinaProjects triển khai với giá trị đến trên 500 triệu USD, như dự án khu biệt thự The Garland tại quận 9 (Thành phố Hồ Chí Minh) rộng 3ha, vốn xây dựng 13,7 triệu USD; dự án Đại Phước Lotus cũng thuộc quận 9 rộng 22ha, vốn xây dựng 39 triệu USD.

Bên cạnh đó còn có khu căn hộ cao cấp WTC tại thành phố Đà Nẵng có vốn xây dựng 35 triệu USD; khu biệt thự The Ocean Danang Beach Resort có diện tích 21ha, vốn xây dựng 26 triệu USD; khu phức hợp Times Square tại Hà Nội có tổng vốn xây dựng 115 triệu USD.

Từ thông tin Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án là khu đất công trường Lam Sơn-Hai Bà Trưng -Đông Du (300 triệu USD), dự án của Tập đoàn Lotte (2 tỷ USD) và của Capital Group (2 tỷ USD) cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đã sẵn sàng quay trở lại với các dự án.

Nhận định được làn sóng khởi sắc trong thời gian tới, nhiều quỹ đầu tư nước ngoài cũng đã bắt đầu huy động vốn.

Dù vậy, theo Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, tuy lượng vốn FDI chảy vào lĩnh vực bất động sản tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cao, với tổng vốn đăng ký đạt 9,6 tỷ USD (143 dự án còn hiệu lực), nhưng chỉ mới giải ngân được 3,6 tỷ USD.

Thành phố Hồ Chí Minh vừa ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đầu tư của 40 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có vốn đăng ký là 1,77 tỷ USD, hoạt động trong lĩnh vực bất động sản trên địa bàn.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:52 pm
Tags:

http://cafef.vn/2010052309015898CA31/hon-6-ty-usd-von-ngoai-tren-ttck-viet-nam.chn

Nếu cái FII này mà thay thế FDI và vay vốn xây đường sắt Bắc Nam thì cán cân thanh toán của VN chính thức đủ tiêu chuẩn so sánh với cán cân thanh toán của … Hy Lạp.

http://cafef.vn/20100518112437942CA32/adb-dong-von-dau-tu-vao-chau-a-tiem-an-nhieu-rui-ro.chn

VN nói năng vầy là bỏ qua những gì ADB cảnh báo!

May 26, 2010

Foreign direct investment and economic growth in Vietnam Sajid Anwara* and Lan Phi Nguyenb

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:50 am
Tags:

http://www.viet-studies.info/kinhte/FDI_Growth_VN.pdf

Foreign direct investment and economic growth in Vietnam
Sajid Anwara* and Lan Phi Nguyenb
aUniversity of the Sunshine Coast, Australia and University of South Australia, Australia; bNational
Economics University, Vietnam
By making use of a recently released panel dataset that covers 61 provinces of Vietnam
from 1996–2005, this study examines the link between foreign direct investment and
economic growth. Our analysis, which is based on a simultaneous equations model,
reveals that in overall terms a mutually reinforcing two-way linkage between FDI and
economic growth exists in Vietnam. However, this is not the case for each and every
region of Vietnam. The results presented in this study suggest that the impact of foreign
direct investment on economic growth in Vietnam will be larger if more resources are
invested in education and training, financial market development and in reducing the
technology gap between the foreign and local firms.
Keywords: economic growth; foreign direct investment; globalization; Vietnam
Introduction
Foreign direct investment (FDI) has contributed to impressive economic growth in a
number of developing countries. Generally speaking, FDI not only increases the supply of
capital but, given the appropriate host-country policies, it can also facilitate technology
transfer. Technology transfer contributes to human capital formation which can further
enhance prospects of economic growth. In other words, FDI can facilitate economic
growth through direct as well as indirect channels.1
The introduction of the reform policy known as Doi Moi in 1986 marked the beginning
of Vietnam’s impressive economic growth. The reform process has resulted in a general
increase in the standard of living in Vietnam as measured by real GDP per capita. Vietnam
started attracting significant FDI from 1988, which can be attributed to promulgation of a
liberal foreign investment law in 1987. FDI inflow into Vietnam increased from US$0.32
billion in 1988 to approximately US$4.0 billion in 2005, with an annual growth rate of
28% (GSO 2007).2 In the early stages, the contribution of FDI to employment growth was
small but there was a large increase in industrial output. In recent years, FDI inflows have
played an important role, not only in providing investment capital but also in stimulating
export growth. Figure 1 shows an interesting transition in Vietnamese economy; from
2001 onwards, the contribution of the manufacturing sector to GDP is consistently larger
than that of the agricultural sector.
It is interesting to note that the presence of foreign firms also resulted in a significant
increase in Vietnam government’s tax revenue (Freeman 2002). Up until the late 1990s,
most FDI was in the form of joint ventures where the local partner generally provided 30%
of the total value of the investment (Binh and Haughton 2002). The entry of foreign firms
ISSN 1360-2381 print/ISSN 1743-792X online
q 2010 Taylor & Francis
DOI: 10.1080/10438590802511031
http://www.informaworld.com
*Corresponding author. Email: Sajid.Anwar@unisa.edu.au and lannp@neu.edu.vn
Asia Pacific Business Review
Vol. 16, Nos. 1–2, January–April 2010, 183–202
resulted in greater diversity and increased competition in Vietnam. FDI not only injected
badly needed capital but also expanded the size of the private sector. In overall terms, the
expansion of FDI in Vietnam can be viewed as the expansion of private sector in the
country which greatly helped the economic reform process. The amount of actual
investment reached its peak in 1995–1996. As highlighted by Freeman and Nestor (2004),
due to the involvement of more than one government agencies and related factors, the
actual investment in Vietnam has been well below the registered FDI. In addition, most
FDI has been concentrated in a few regions of Vietnam. Changes to the foreign investment
law in 1996 were aimed at achieving a relatively more even distribution of FDI across all
regions of Vietnam. However, there has been only limited success. While the output of
foreign firms in Vietnam has registered a steep rise from 1996 to 2005 and beyond, most
foreign firms are still concentrated in Red River Delta and South East regions.
The flow of FDI to Vietnam was significantly affected by the Asian financial crisis of
1997–1998. Despite improvements to FDI related laws and a general improvement in
foreign investor confidence, FDI activity in Vietnam remained subdued till 2001. Freeman
(2001), among others, has argued that this reflects the failure of at least some aspects of
government policy towards FDI. Changes to the foreign investment law, new enterprise
law and signing of a free trade agreement with the US in 2001 led to substantial
improvement in foreign investor sentiments toward Vietnam but there was not much
increase in the FDI inflow. Other policies introduced by the Vietnamese government
include the opening of a stock market and the resumption of IMF lending. These policies
contributed to a slow increase in FDI during 2001–2003. Since then there has been a rapid
rise in FDI in Vietnam. During the first seven months of 2008, FDI has already reached the
amount of US$45.2 billion (GSO 2008). This can also be attributed to Vietnam’s accession
to WTO in 2006. The accession to WTO is a clear recognition of Vietnam’s economic
reform policies and engagement with global economy. The process of accession to WTO
started in early 1995 and ended in late 2006.
Literature review
Endogenous growth literature (for example see Romer 1986, Lucas 1988, 1993) highlights
the role of human capital in attracting foreign investment in developing countries. This
literature suggests that foreign investment enhances economic growth through technology
diffusion.3 Multinational corporations (MNCs) that are a vehicle of FDI can have a
positive impact on human capital in host countries, for example through training courses
Figure 1. GDP by type of economic activity at 1994 constant prices (billion VND).
Source: GSO (2008).
184 S. Anwar and L.P. Nguyen
offered to their subsidiaries’ local workers. The training courses can be beneficial to all
employees ranging from less skilled to highly skilled workers. Research and development
activities undertaken by MNCs also contribute to human capital growth in host countries
and thus enable their economies to grow in the long run (Balasubramanyam and Salisu
1991, Blomstro¨m and Kokko 2001).
On the other hand, the eclectic theory of FDI, developed by Dunning (1988), provides
an alternative tool to analyse the relationship between FDI and economic growth. Based
on location advantages, many empirical studies have found that economic growth is an
important determinant of FDI. Chakrabarti (2001), for example, argues that higher
economic growth results in higher FDI inflow. Recent empirical studies have used
endogenous growth models to investigate the impact of FDI on economic growth in host
developing countries. Borensztein et al. (1998) examine the impact of FDI on economic
growth in 69 developing countries for the periods 1970–1979 and 1980–1989. They have
utilized a model where economic growth is determined by FDI, human capital,
government expenditure, domestic investment, inflation rate and institutions. In order to
overcome the endogeneity problem, the model is estimated by two stage least squares
(2SLS). They found that: (i) FDI inflows positively influence economic growth, and (ii)
FDI and domestic investment were complementary.
By making use of panel data for the period 1970–1990 involving OECD and non-
OECD countries, De Mello (1997) examined the impact of FDI on capital accumulation,
output and total factor productivity growth. De Mello suggests that FDI provides a boost
for economic growth in the long run through technological progress and knowledge
spillovers. However, de Mello emphasises that FDI-led growth depends on the degree of
complementarity and substitution between FDI and domestic investment. By using panel
data for 18 countries in Latin America during the period 1970–1999, Bengoa and
Sanchez-Robles (2003) found that the impact of FDI on economic growth is positive only
when host countries had adequate human capital, economic stability and liberalized
markets. Alfaro et al. (2004), using cross-country data for the period 1975–1995, found
that FDI plays an important role in contributing to economic growth. However, countries
with well-developed financial markets tend to gain more from FDI. This means that
countries with relatively well-developed financial systems can better exploit FDI. As a
result, FDI can make a larger contribution to economic growth. This finding is supported
by Hermes and Lensink (2003) and Aghion et al. (2006). Moreover, these studies also
emphasise that less developed countries should reform their domestic financial system
before liberalizing the capital account to allow for enlarged FDI inflows.
Tsai (1994) employed a simultaneous system of equations to test two-way linkages
between FDI and economic growth for 62 countries for the period 1975–1978 and for 51
countries for the period 1983–1986. His work supports the view that two-way linkages
exist between FDI and growth. Berthelemy and De´murger (2000) used a simultaneous
equation model involving 24 Chinese provinces for the period 1985–1996. They found
that FDI inflows play an important role in promoting provincial economic growth. Bende-
Nabende et al. (2001) investigated whether FDI caused economic growth in the ASEAN-5
economies during the period 1970–1996 and if that was so, whether economic growth had
a significant affect in attracting FDI to the region. Their analysis shows that FDI promotes
economic growth most effectively through human capital and learning by doing effects
and, in turn, economic growth influences FDI.
Using panel data involving 84 countries over the period 1970–1999, Li and Liu (2005)
utilized both single and simultaneous equation models to examine the relationship
between FDI and economic growth. They found that only from the mid-1980s, FDI and
Asia Pacific Business Review 185
economic growth became significantly complementary to each other. Moreover, they
show that FDI not only directly promotes economic growth but also, indirectly, through its
interaction with other variables. There is a strong positive interaction effect, for example,
involving FDI and human capital and a strong negative interaction effect involving FDI
and technology gap. Wang and Gu (2006) have investigated the impact of absorptive
capacity in the context of FDI in Canadian manufacturing industries. Wang and Gu found
that FDI promotes economic growth only when host countries have an adequate level of
human capital. Driffield and Love (2007), among others, have shown that through
spillover effects, FDI can also boost productivity.
Although these studies provide ample evidence of a link between FDI and economic
growth in both developed and developing countries, few studies have considered the role of
FDI in promoting economic growth within different regions of developing countries. Mai
(2003) has considered the impact of FDI on economic growth in Vietnam for the period
1988–1998. He concludes that FDI flows have resulted in enhancing domestic saving and
investment. While providing a review of earlier studies on the role of FDI in Vietnam,
Nguyen and Nguyen (2007) have conceded that the literature on Vietnam is still in its
infancy. Moreover, the two-way linkage between FDI and economic growth in which FDI
promotes economic growth and, in turn, economic growth is viewed as a tool to attract FDI is
not thoroughly investigated. This study attempts to fill this gap in the existing literature.
By making use of panel data on 61 Vietnamese provinces for the period 1996–2005,
this study attempts to empirically examine the two-way linkage between FDI and
provincial economic growth in Vietnam. Most available empirical studies that deal with
the effect of FDI in Vietnam have been severely limited due to the lack of appropriate
data.4 This study makes use of the most detailed annual dataset that has been recently
released by the Vietnam government. Figure 2 shows the output of foreign and domestic
firms for the period 1996–2005. It is clear that both foreign and domestic firms have
experienced strong growth during the sample period.
Hypotheses
The hypotheses tested in this study are as follows:
H1: A mutually reinforcing two-way linkage between FDI and economic growth exists in
Vietnam.
Figure 2. Output of foreign and domestic firms in Vietnam – 1994 constant prices (VND billion).
Source: GSO (2008).
186 S. Anwar and L.P. Nguyen
H2: A mutually reinforcing two-way linkage between FDI and economic growth exists in
all seven regions of Vietnam.
H3: Regions with better infrastructure, more skilled labour and larger market size are
relatively more attractive to foreign investors.
H4: FDI significantly affects Vietnam’s economic growth through its absorptive
capacity.
H5: Education and training enhances the impact of FDI on economic growth in Vietnam.
H6: A smaller technology gap between the foreign and local firms enhances the impact of
FDI on economic growth in Vietnam.
Empirical model and data sources
In order to test the above hypotheses, this study makes use of panel data. Analysis of panel
data yields more reliable statistical results because such data takes into account variation
over time, as well as variation across all subjects (which in the present case are the 61
provinces of Vietnam). A good introduction to panel data techniques can be found in
Greene (2008).
Based on the existing literature, it can be argued that economic growth and FDI depend
on a number of factors. Some of the main determinants are discussed below. The
discussion is used to develop an empirical model.
Determinants of economic growth
Human capital
Human capital is long regarded as a determinant of economic growth (see Barro and Salai-
Martin 2004 and references therein). Human capital also affects growth through its
interaction with FDI. A number of proxies have been used to measure human capital. This
study uses the number of university and college enrolment per thousand persons as a proxy
for human capital in Vietnam.
Learning by doing
Another well-known determinant of economic growth is learning by doing. Grossman and
Helpman (1991) among others have emphasised that learning by doing can have a positive
effect on growth during economic transition, as well as in the long term. Bende-Nabende
et al. (2001) found that technological learning by doing has stimulated economic growth in
the ASEAN-5 economies from 1970–1996. They used annual manufacturing value added
as a percentage of GDP as a proxy for learning by doing. This study uses the same proxy to
measure the extent of learning by doing in Vietnam.
Exports
The endogenous growth theory pioneered by Romer (1986) and Lucas (1988) has provided
persuasive evidence for the proposition that an increase in exports as a percentage of GDP
has a positive effect on economic growth. Grossman and Helpman (1991) and Barro and
Sala-i-Martin (2004) have argued that a more open trade regime leads to a greater ability to
absorb technological progress and export goods that stimulates economic growth.
Grossman and Helpman (1991) and Rodrik (1992) have pointed out that exports can
potentially create growth-accelerating forces.
Asia Pacific Business Review 187
Macroeconomic stability
While early studies, such as Friedman (1977) have highlighted the role of the inflation rate,
recent studies have used the real exchange rate as an indicator of macroeconomic stability.
The real exchange rate volatility is regarded as an indicator for poor macroeconomic
policies that lead to real exchange rate misalignment thereby hindering economic growth
(Kamin and Rogers 2000, Husain et al. 2005). This study uses the real exchange rate as an
indicator of macroeconomic stability in Vietnam.
Level of financial development
Barro (1991) has argued that financial development has a significant positive impact on
economic growth. King and Levine (1993) have suggested that higher levels of domestic
investment are positively related to faster economic growth. Hermes and Lensink (2003)
have argued that that the development of the financial system of a host country is an
important precondition for FDI to have a positive effect on economic growth. They further
argue that a well-developed financial system positively contributes to the process of
technological diffusion associated with FDI. Since the data on the usual measures of
financial development is not available for Vietnam, this study uses domestic investment,
as a percentage of GDP, as a proxy for financial development in Vietnam.
Public investment
In the case of developing countries, the effect of public investment on economic growth
can be negative. Durham (2004) argues that when public investment is financed by
increasing taxes, it could further raise distortions in developing countries and increase
input costs and hence, its effect on output growth can be negative. Public investment is
likely to have a positive effect on output growth if it is directed towards activities such as
infrastructure improvement and human capital accumulation. Blankenau and Simpson
(2004) have argued that governments play an essential role in human capital accumulation
by providing funds for formal schooling. Public education expenditures directly affect
human capital accumulation and consequently influence long-term growth. Accordingly,
an increase in public investment spending is expected to have a positive effect on
economic growth. This study uses the annual government investment expenditure as a
percentage of GDP as a measure of public investment in Vietnam.
Other determinants
Recent studies by Sachs (2003) and Presbitero (2006) have argued that geography plays a
direct and essential role in promoting economic growth through many channels including
human health, agricultural productivity, physical location, and proximity and ownership of
natural resources. Presbitero further argues that geographical conditions, especially
climate and natural endowment, could directly influence the level of current income
through the availability of natural resources as well as enabling access to international
trade and commercial routes. On the other hand, geography also influences the disease
ecology such as malaria and other tropical diseases, which hamper social and economic
growth in different ways. The other well-known determinants of economic growth are
labour force growth rate and FDI, both of which have been included as determinants of
economic growth in Vietnam. While the above is not an exhaustive list, we believe that we
have covered all major determinants of economic growth.
188 S. Anwar and L.P. Nguyen
Determinants of FDI
Market size
Market size which is one of the most important determinants of FDI is usually measured
by GDP per capita. Several empirical studies have shown that an increase in GDP per
capita is associated with increased FDI inflows into host countries. Rising income levels
are a signal of an increase in the market size and purchasing power. Kravis and Lipsey
(1982) found a positive relationship between the market size in host nations and the
location decision of US multinationals. Chakrabarti (2001) found a strong positive
relationship between the market size of a host country and FDI. Following the existing
literature, this study uses GDP per capita as a measure of Vietnamese market size.
Infrastructure development
Availability of international standard infrastructure is a major determinant of FDI in host
countries. A number of empirical studies have used different proxies to measure the level
of infrastructure development in host economies. For example, expenditure on road
transport was used as a proxy by Hill and Munday (1992). Per capita usage of energy by
Mudambi (1995), telephones per thousand of population by Asiedu (2002), railway
transport by Bengoa and Sanchez-Robles (2003) and a general transportation/urbanization
index by Glickman and Woodward (1988). This study utilizes telephones per thousand of
population as a measure of infrastructure development in Vietnam. This choice is dictated by
data availability constraints.
Labour market conditions
Availability of cheap labour is a major determinant of FDI in developing countries. Moore
(1993) and Lucas (1993) have suggested that FDI inflows tend to dry up as the cost of labour
increases. The empirical studies by Biswas (2002) and Brainard (1997) found a negative
relationship between the cost of labour and FDI inflows. This study uses the monthly
average wage of employees as a measure of the labour cost in Vietnam. The other aspect of
the labour market is the availability of skilled labour which is widely accepted as a
determinant of FDI. This study uses the percentage of skilled labour in the total labour force
as an additional labour market factor.
The level of openness
A decrease in the level of openness (that is, more trade restrictions) tends to increase
horizontal FDI in host countries. However, vertical FDI that is viewed as a non-market
seeking investment may prefer to locate in more open economies (that is, where trade
barriers are few). Balasubramanyam and Salisu (1991), Jackson and Markowski (1995) and
Chakrabarti (2001) have used export volume as a measure of the openness of an economy.
They have found a positive relationship between exports and FDI inflow. Buckley et al.
(2007) has used a similar measure. This study uses exports per capita as a measure of
openness of the Vietnamese economy.
Other determinants
The other well-known determinants of FDI in host developing countries include the GDP
growth rate, macroeconomic stability and domestic investment per capita. These three
variables are also regarded as the determinants of FDI in Vietnam. A recent study by
Asia Pacific Business Review 189
Buckley et al. (2007) highlights the importance of many of the above determinants of FDI.
Once again it is perhaps worth mentioning that the above is not an exhaustive list of the
determinants of FDI.
For the purposes of the present study, we make use of a recently released panel dataset
which provides annual data on 61 provinces of Vietnam for the period 1996–2005.
Unfortunately, comparable provincial data on relevant variables is not available
for previous years. The choice of the determinants of FDI and economic growth used in
the empirical model specified below is dictated by the availability of data. Most
of the data are collected from the General Statistics Office (GSO), the Ministry of
Planning and Investment (MPI), the Ministry of Labour Invalids and Social Affairs
(MOLISA) and the Ministry of Industry (MOI). See Table 1 for variable definition and
data sources.
Based on the existing literature and given the data availability constraints, the two-way
linkage between GDP growth and FDI in Vietnam is empirically examined by making use
of the following system of equations, where FDIit is FDI in province i in period t and so on,
and ai and bi are the unknown population coefficients.
Git ¼ a0 þa1FDIit þa2SIit þa3XGit þa4HCit þa5DIGit þa6LAit þa7LDit
þa8RERit þ 1it ð1Þ
FDIit ¼ b0 þb1Git þb2Yit þb3DIit þb4Xit þb5SKILLit þb6WAit þb7TELit
þb8RERit þmit ð2Þ
Table 1. Variable definitions and data sources.
Abbreviations Variable definition Source
G Provincial economic growth rate (annual %) GSO
Y GDP per capita (in thousands of VND at constant prices) GSO
FDI Stock of FDI per capita (in thousands of VND at constant prices) MPI
SI The ratio of annual government expenditure to GDP GSO
X Export of goods and services per capita (thousands of VND at constant
prices)
GSO
XG Ratio of exports to GDP GSO
HC Number of university and college students per thousand persons GSO
DIG The ratio of gross domestic investment to GDP GSO
DI Gross domestic investment per capita (thousands of VND at constant
prices)
GSO
TEL Telephones per thousand persons GSO
LD Learning by doing (annual manufacturing value added as a percentage
of GDP is used as a proxy)
MOI
RER Real exchange rate GSO
SKILL Percentage of skilled labour in total labour force MOLISA
WA Monthly average wage of employee (in thousands of VND at constant
prices)
MOLISA
LA The growth rate of labour (annual %) MOLISA
DUMMY Dummy ¼ 1 if cities and provinces located in the key economic regions;
zero otherwise
1it, mit Error terms
190 S. Anwar and L.P. Nguyen
Based on the existing literature, the expected signs of the estimated coefficients are
described in Table 2.
The above simultaneous equations were estimated by making use of two-stage least
squares (2SLS), three stage least squares (3SLS) and the generalized method of moments
(GMM). In the following, we only report the results of GMMestimation (with and without
a regional dummy variable). While the parameter estimates remained similar in magnitude
and sign, the GMM estimation results were generally found to be statistically more
robust.5
Data analysis
While estimating the two-way linkage between FDI and economic growth, SI, XG, HC,
DIG, LA, LD, RER, Y, DI, X, WA, SKILL, TEL and RER were used as instrumental
variables. The Durbin-Wu-Hausman test was used to test for endogeneity. The null
hypothesis was rejected, suggesting that ordinary least squares (OLS) estimates might be
biased and inconsistent and hence OLS was not an appropriate estimation technique.
In addition, the Pagan-Hall test was used to test for the presence of significant
heteroskedasticity. The null hypothesis of homoscedasticity was rejected, suggesting that
the GMM technique is consistent and efficient (see Greene 2008).
Based on the diagnostic tests (see Tables 3, 4, 5 and 6), the GMM results were found to
be reliable in relative terms. The estimated coefficients are given in Tables 3 and 4.
Table 3 suggests that FDI is an important determinant of the provincial economic
growth in Vietnam. The estimated coefficient of FDI in Table 3 is significant at 1% level.
In other words, one can argue with 99% confidence that increase in FDI in Vietnam
increases economic growth. Specifically, it is possible to argue that, other things remaining
constant, a one thousand Vietnamese dong (VND) increase in FDI in Vietnam would
contribute to an approximate 0.000054% increase in economic growth.
Other important determinants of economic growth in Vietnam are exports, government
expenditure, the level of financial market development, the growth of labour force, learning
Table 2. The expected signs of the estimated coefficients.
Dependent variables
Provincial economic growth rate (G) FDI
G n.a þ
FDI þ n.a
SI þ/2 n.a
XG þ n.a
HC þ n.a
DIG þ n.a
LA þ n.a
LD þ n.a
RER 2 þ
Y n.a þ
DI n.a þ
X n.a þ
SKILL n.a þ
WA n.a 2
TEL n.a þ
Asia Pacific Business Review 191
by doing, human capital and the real exchange rate. The ratio of exports to GDP is significant
at 1% level. The growth of the labour force is significant at 1% level. The estimated
coefficient of government expenditure in Equation (1) is not statistically significant. The
estimated coefficient of learning by doing is statistically significant at a 1% level and its sign
is consistentwith expectations. The significance of learning by doing perhaps reflects the fact
that some production activities involve assembling only. In addition, the Vietnamese labour
force is benefiting from knowledge spillovers thereby improving its productivity and hence,
stimulating economic growth. The estimated coefficient of the real exchange rate has an
expected negative sign and it is significant at the 1% level. The impact of human capital and
Table 4. Estimated results for Equation (2).
Dependent variable: FDI
GMM estimation without
regional dummy variable
GMM estimation with
regional dummy variable
Economic growth (G) 992.8359 (2.73)* 802.3072 (2.34)**
Market size (Y) 1.451904 (11.32)* 1.460676 (12.53)*
Domestic investment (DI) 0.050031 (5.71)* 0.052338 (6.64)*
Exports (X) 0.934665 (7.00)* 0.934665 (7.47)*
Labour skills (SKILL) 141.1244 (2.70)* 120.3292 (2.44)**
Labour cost (WA) 25.460528 (24.64)* 24.867383 (24.41)*
Infrastructure (TEL) 49.79898 (6.62)* 47.9732 (4.90)*
Real exchange rate (RER) 161.6789 (3.05)* 145.9019 (3.05)*
Regional dummy (DUMMY) 1179.619 (3.05)*
Constant 234,870.23 (23.86)* 231,513.77 (23.83)*
Hansen test ( p-value) 0.13 0.12
Durbin-Wu-Hausman test ( p-value) 0.00 0.00
Pagan-Hall test ( p-value) 0.01 0.01
Observations 543 543
Note: Robust standard errors in parentheses. ***Significant at 10%; **significant at 5%; *significant at 1%.
Table 3. Estimated results for Equation (1).
Dependent variable: provincial economic growth
Independent
variables
GMM estimation without
regional dummy variable
GMM estimation with
regional dummy variable
FDI 0.000054 (4.80)* 0.000049 (3.99)*
Exports (XG) 0.243119 (1.95)** 0.245129 (1.92)**
Government expenditure (SI) 0.068351 (0.29) 0.417532 (0.41)
Financial development (DIG) 1.256011 (2.93)* 1.184253 (2.71)*
Labour growth (LA) 0.157515 (2.58)* 0.408601 (2.88)*
Learning by doing (LD) 0.018336 (3.05)* 0.017551 (3.08)*
Human capital (HC) 0.038917 (2.64)* 0.037175 (2.58)*
Real exchange rate (RER) 20.094108 (24.27)* 20.136351 (24.82)*
Regional dummy (DUMMY) 0.391238 (1.13)
Constant 18.706020 (6.34)* 19.005950 (6.46)*
Hansen test ( p-value) 0.15 0.29
Durbin-Wu-Hausman test ( p-value) 0.00 0.05
Pagan-Hall test ( p-value) 0.01 0.02
Observations 563 563
Note: Robust standard errors in parentheses. ***Significant at 10%; **significant at 5%; *significant at 1%.
192 S. Anwar and L.P. Nguyen
Table 5. Impact of FDI on economic growth via absorptive capacity.
Dependent variable: provincial economic growth
Independent
variables
GMM estimation with
interaction between FDI
and human capital
GMM estimation with
interaction between FDI
and financial development
FDI 20.000089 (21.83) 0.000084 (4.53)*
Exports (XG) 0.264740 (2.16)** 0.334157 (2.22)**
Government expenditure (SI) 20.390307 (20.69) 20.569683 (20.57)
Financial development (DIG) 1.419888 (3.30)* 1.747579 (3.89)*
Labour growth (LA) 0.165762 (2.69)* 0.167893 (2.73)*
Learning by doing (LD) 0.020171 (3.42)* 0.018908 (3.01)*
Human capital (HC) 0.028890 (1.90)** 0.036969 (2.50)*
Real exchange rate (RER) 20.096025 (24.39)* 20.094292 (24.30)*
FDI* Human capital 0.000004 (2.25)**
FDI* Financial development 20.000059 (22.22)**
Constant 19.19335 (6.54)* 18.59838 (6.34)*
Hansen test ( p-value) 0.21 0.34
Durbin-Wu-Hausman test ( pvalue)
0.01 0.00
Pagan-Hall test ( p-value) 0.00 0.01
Observations 563 563
Note: Robust standard errors in parentheses. ***Significant at 10%; **significant at 5%; *significant at 1%.
Table 6. Economic growth and FDI (impact of education and training and technology gap).
Dependent variable: provincial economic growth in Vietnam
Independent
variables
GMM estimation with
education and training
and technology gap
GMM estimation
with interaction
between
FDI and education
and training
GMM estimation
with interaction
between FDI and
technology gap
FDI 0.000028 (2.81)* 0.000053 (3.19)* 20.000006 (20.05)
Exports (XG) 0.139887 (1.28) 0.148923 (1.25) 0.133530 (1.23)
Government expenditure
(SI)
21.592068 (21.99)** 21.628443 (22.04)**21.574779 (22.00)**
Financial development
(DIG)
0.957675 (2.42)* 1.033599 (2.66)* 0.999145 (2.62)*
Labour growth (LA) 0.124454 (2.31)** 0.120881 (2.25)** 0.127988 (2.43)*
Learning by doing (LD) 0.018639 (3.73)* 0.018457 (3.27)* 0.021126 (4.47)*
Education and training 0.153391 (1.64)*** 0.167511 (1.83)*** 0.169995 (1.86)***
Technology gap 22.178576 (23.83)* 22.210997 (24.00)* 21.442873 (22.70)*
Real exchange rate (RER) 20.064482 (23.65)* 20.063214 (23.25)* 20.056075 (23.23)*
FDI*Education and training
20.000025 (22.01)**
FDI*Technology gap 20.000225 (24.07)*
Constant 17.05742 (7.33)* 16.87612 (7.21)* 15.74285 (6.88)*
Hansen test ( p-value) 0.19 0.19 0.25
Durbin-Wu-Hausman test
( p-value)
0.00 0.01 0.00
Pagan-Hall test ( p-value) 0.04 0.00 0.00
Observations 563 563 563
Note: Robust standard errors in parentheses. ***Significant at 10%; **significant at 5%; *significant at 1%.
Asia Pacific Business Review 193
financial market development on economic growth is statistically significant at the 5% level
and the signs are positive.
Table 4 shows that economic growth has a significant positive effect on FDI in
Vietnam. The estimated coefficient is significant at 5% level. The estimated coefficient
indicates that, other things remaining constant, a 1% increase in economic growth would
lead to an increase in the stock of FDI per capita by approximately VND993,000. This
suggests that higher economic growth in Vietnam does send positive signals to prospective
foreign investors. It also shows an increasingly larger market size for investment in
Vietnam. GDP per capita, which is used as a measure of market size, has a positive and
significant effect on FDI (GMM estimation yields an estimated coefficient which is
significant at a 1% level, see column 1, Table 3). The estimated coefficient of domestic
investment is positive and statistically significant at 1% level, implying that FDI and
domestic investment in Vietnam are complements. In other words, increase in domestic
investment increases FDI in Vietnam and vice versa. The coefficient of exports is
consistent with expectations and statistically significant at the 1% level. The skill level of
the labour force is an important determinant of FDI in Vietnam. An increase in the
proportion of the skilled labour force leads to a significant increase in FDI in Vietnam.
The negative coefficient of the labour cost is significant at 1% level. This suggests that an
increase in the cost of labour in Vietnam can reduce FDI. The impact of infrastructure
development on FDI is positive and statistically significant at 1% level. Finally,
depreciation of the real exchange rate in Vietnam tends to raise FDI and this effect is
statistically significant at 1% level.
The geographical distribution of FDI in Vietnam is characterized by its concentration
in the key economic cities and provinces in the South such as Ho Chi Minh City, Dong
Nai, Binh Duong and Baria Vung Tau, and in the North such as Hanoi, Hai Duong, Vinh
Phuc, Hai Phong and Quang Ninh. Thus, we extended our model by introducing a dummy
variable for provinces in the key regions including Red River Delta and South East, which
have the highest inflows of FDI. It is expected that cities and provinces in the key
economic regions with better infrastructure, skilled workers, and higher income tend to
attract more FDI and grow faster. Column 3 of Table 3 and Table 4 show the estimated
results when Equations (1) and (2) are re-estimated by GMM after inclusion of a regional
dummy variable. The regional dummy variable has a positive sign in both the economic
growth and FDI equations. In economic growth equation, it is not significant. In FDI
equation, the regional dummy variable is significant at 1% level. The introduction of the
dummy variable leads to a minor change in the magnitude of the estimated coefficients
without affecting their significance level. The estimated results suggest that cities and
provinces in the key economic regions such as Red River Delta and South East with better
infrastructure, more skilled labour and larger market size tend to attract more FDI.
Recent empirical studies have argued that the impact of FDI on economic growth also
depends on the existence of adequate absorptive capacity in host economies. Absorptive
capacity of an economy can be measured by factors such as the stock of human capital, the
level of financial market development and the extent of technology gap between the
foreign and local firms. It has been argued that FDI has a direct and indirect effect on
economic growth. The direct effect arises from a FDI-led increase in the supply of capital
which increases the overall production capacity of the host economy. The indirect effect
on economic growth arises from FDI’s interaction with factors such as the level of
financial development, the stock of human capital and the extent of technology gap.
In order to examine the effect of FDI on economic growth through Vietnam’s absorptive
capacity, Equation (1) is re-estimated after introducing: (i) the interaction of FDI and
194 S. Anwar and L.P. Nguyen
human capital, and (ii) the interaction of FDI and the level of financial market
development, as additional independent variables.
Table 5 shows the estimated results when absorptive capacity has been explicitly taken
into account. As can be seen in Table 5, the estimated coefficient of the interaction
between FDI and human capital is positive and statistically significant at 5% level. This
implies that as far as the stock of human capital is concerned, Vietnam has reached the
minimum required threshold. Table 5 shows that the estimated coefficient of the
interaction between FDI and the level of financial market development is negative and
statistically significant at 5% level. This suggests that as far as the level of financial market
development is concerned, Vietnam has not reached the required minimum threshold. In
other words, by further developing its financial markets, Vietnam can take additional
advantage of FDI inflows.
The endogenous growth theory suggests that expenditure on education and training
and the extent of technology gap affects the capacity of host countries to absorb
externalities from FDI (Lucas 1988, 1993). Thus, we further investigate the effect of real
spending on education and training and the extent of technology gap on provincial
economic growth in Vietnam, as well as their effect on economic growth via the absorptive
capacity. Since human capital and spending on education and training are highly
correlated, we replace human capital variable with real spending on education and
training in Equation (1) and introduce the technology gap as an additional independent
variable (the estimated results are shown in column 2, Table 6). The impact of the
interaction between the new measure of human capital and FDI on economic growth (the
estimated results are shown in column 3, Table 6) is also investigated. Column 4 of Table 6
shows the estimated results when the interaction between FDI and technology gap has
been explicitly taken into account. The technology gap is measured as the percentage
difference between the average growth of foreign and domestic firms in Vietnam.
The estimated coefficient of the education and training variable was expected to be
positive, while the estimated coefficient of the technology gap variable is expected
to be negative.
Column (2) of Table 6 indicates that the estimated coefficient of education and training is
positive and statistically significant at a 10% level. This means investment in education and
training contribute positively to provincial economic growth in Vietnam. The estimated
coefficient of the technology gap is negative and significant at the1%level. This confirms that
Vietnamese provinces with lower technology gap experience a higher rate of economic
growth. We also investigate the effects of FDI on economic growth via absorptive capacity
(see column 3 and 4 in Table 6). The estimated coefficient of the interaction between FDI and
education and training is found to be negative and statistically significant at 5% level. This
suggests that as far as education and training is concerned, Vietnam has not reached the
required minimum threshold. In other words, a certain level of investment in education and
training is an important prerequisite for FDI to have a positive effect on economic growth in
Vietnam. The coefficient of the interaction between FDI and technology gap is negative and
statistically significant at 1%level. This suggests that technology gap between the foreign and
local firms in Vietnam remains very large. In other words, an increase in FDI will lead to a
larger positive effect on economic growth as the technology gap narrows.
Finally in order to focus on the link between FDI and regional economic growth in
Vietnam, the dataset was dived into seven regions namely Red River Delta, North East,
North Central Coast, South Central Coast, Central Highland, South East and Mekong
River Delta. Equations (1) and (2) were estimated for each region. The estimated results
are reported in Tables 7 and 8.
Asia Pacific Business Review 195
Table 7. FDI and economic growth across regions of Vietnam – estimation of Equation (1).
Dependent variable: provincial economic growth
Red River Delta North East North Central Coast South Central Coast Central Highlands South East Mekong River Delta
Independent
variables (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2)
FDI 0.00014
(1.77)***
0.00012
(1.73)***
0.00023
(2.53)*
0.00017
(2.47)**
0.00014
(0.31)
0.00022
(0.44)
20.00010
(20.91)
20.00004
(20.64)
0.00005
(0.34)
0.00001
(0.09)
0.00005
(2.53)**
0.00004
(1.75)***
0.00021
(2.42)**
0.00011
(1.79)***
Exports 6.42506
(1.90)***
5.20811
(1.92)***
0.08556
(0.74)
0.04785
(0.47)
1.26410
(0.25)
21.46854
(20.40)
0.90797
(0.88)
1.29376
(1.57)
12.85454
(2.19)**
12.07474
(2.43)**
20.33064
(20.78)
0.38598
(1.04)
20.88852
(20.67)
21.03949
(21.04)
Government
expenditure
21.10107
(20.24)
24.69388
(20.85)
0.28395
(0.13)
21.30221
(20.82)
2.01699
(0.84)
2.01335
(1.08)
22.36012
(20.48)
20.19845
(20.07)
5.05208
(0.87)
23.61032
(20.56)
0.77686
(0.22)
4.44505
(1.36)
8.83748
(1.02)
20.42617
(20.08)
Financial
development
20.14261
(20.13)
20.25519
(20.32)
1.51797
(1.80)***
0.39584
(0.67)
21.12959
(20.81)
21.29045
(21.16)
3.99309
(1.81)***
2.43389
(1.49)
2.61229
(2.00)***
2.98583
(2.31)**
20.08251
(20.08)
20.17981
(20.25)
4.52427
(1.45)
2.05649
(1.04)
Labour growth 0.46764
(2.45)*
0.45587
(2.74)*
0.23917
(1.80)***
0.22345
(2.18)**
0.48521
(2.51)**
0.41823
(2.23)**
20.22503
(20.70)
0.09818
(0.42)
20.18133
(20.87)
20.22505
(21.55)
0.34520
(2.53)**
0.43912
(3.33)*
0.07403
(0.37)
0.12387
(0.87)
Learning by
doing
0.06731
(3.19)*
0.02357
(1.57)***
0.01858
(1.10)
0.01471
(1.07)
0.02984
(2.43)**
0.02041
(1.55)
0.04942
(2.04)**
0.02118
(1.26)
0.26953
(3.94)*
0.19977
(4.03)*
0.02560
(2.08)**
0.03464
(2.98)*
20.01125
(20.71)
20.00213
(20.19)
Human
capital
0.20041
(4.17)*
0.02785
(0.78)
0.04928
(1.18)
0.08575
(1.18)
20.07627
(20.69)
0.08841
(2.20)**
0.11025
(1.82)***
Education and
training
20.08913
(20.20)
0.37265
(3.82)*
20.13639
(20.59)
0.08318
(0.24)
0.52046
(0.95)
0.98549
(2.82)*
0.52633
(0.76)
Technology
gap
25.33767
(26.64)*
22.25395
(3.82)*
22.73439
(25.64)*
23.04810
(25.02)*
20.87227
(25.87)*
22.41062
(23.39)*
23.19066
(24.89)*
Real exchange
Rate
20.02963
(20.60)
20.07732
(22.25)**
20.06106
(21.51)
20.07811
(22.41)**
20.13964
(23.83)*
20.11399
(23.74)*
20.12597
(23.06)*
20.08180
(22.61)*
20.33944
(22.46)**
20.30676
(22.61)**
20.08565
(22.00)**
20.06054
(22.03)**
0.01439
(0.22)
20.02301
(20.43)
Constant 3.87943
(0.59)
20.65596
(4.25)*
14.54761
(2.48)**
18.65215
(4.22)*
23.46286
(4.18)*
23.71362
(5.74)*
19.83040
(3.95)*
17.68807
(4.03)*
46.38253
(2.78)*
42.72019
(2.96)*
16.72060
(2.91)*
17.72980
(4.36)*
7.76355
(0.87)
12.02118
(1.67)***
Hansen test
( p-value)
0.30 0.12 0.15 0.38 0.11 0.13 0.15 0.48 0.26 0.33 0.38 0.16 0.24 0.25
Durbin-Wu-
Hausman test
( p-value)
0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00
Pagan-Hall
test
( p-value)
0.00 0.00 0.00 0.01 0.00 0.00 0.00 0.00 0.01 0.01 0.00 0.00 0.00 0.00
Observations 114 114 99 99 59 59 52 52 52 52 72 72 126 126
Note: Robust t-statistics in parentheses. ***Significant at 10%; **significant at 5%; *significant at 1%. (1) refers to estimation without human capital but with education and training
and technology gap; (2) refers to estimation without human capital.
196 S. Anwar and L.P. Nguyen
The estimated results indicate that the effect of FDI on economic growth is positive
and significant only in Red River Delta, North East, South East and Mekong River Delta
which can be attributed to the fact that infrastructure, financial system and education
systems in these regions are relatively more developed. Table 8 shows that except for
North Central Coast, the effect of economic growth on FDI in all regions is positive. This
implies that the hypothesis of a two-way linkage between FDI and economic growth holds
only in Red River Delta, North East, South East and Mekong River Delta regions. In
summary, except for H2, data analysis supports all hypotheses.
Discussion
The growth of FDI in Vietnam and its desired effect on economic growth appear to support
the Vietnamese government policy, specifically the Law of Foreign Investment which was
introduced in 1987. Our analysis suggests that in the case of Vietnam, exports and FDI are
complementary which explains why FDI in Vietnam is mainly concentrated in
Table 8. FDI and economic growth across regions of Vietnam – estimation of Equation (2).
Dependent Variable: FDI
Independent
variables
Red River
Delta North East
North Central
Coast
South Central
Coast
Central
Highlands South East
Mekong
River
Delta
Economic
growth
(G)
357.1346
(2.13)**
1420.024
(2.14)**
16.1933
(0.10)
1752.165
(1.84)***
1092.428
(3.43)*
800.5879
(2.24)**
1359.939
(4.36)*
Market size
(Y)
20.35611
(20.73)
1.17561
(2.13)**
0.57826
(2.60)**
0.09475
(0.07)
23.16549
(1.28)
1.48112
(11.20)*
2.35996
(4.69)*
Domestic
investment
(DI)
0.06045
(4.45)*
20.00144
(20.12)
0.00791
(1.66)***
0.19618
(5.10)*
0.01204
(0.51)
0.09811
(4.88)*
20.01034
(20.33)
Exports
(X)
3.52437
(5.64)*
0.00055
(0.09)
1.61541
(2.84)*
0.41549
(0.59)
3.32545
(1.49)
1.12183
(6.99)*
1.31494
(5.89)*
Labour skills
(SKILL)
220.5079
(20.27)
261.04864
(20.29)
28.31117
(20.17)
21.98845
(0.09)
908.0682
(1.56)
2 53.01174
( 2 0.64)
264.8906
(3.96)*
Labour cost
(WA)
23.98111
(22.05)**
29.00163
(23.29)
0.16291
(0.18)
4.76716
(1.06)
23.74196
(22.74)*
29.36981
(24.38)
25.67121
(22.95)*
Infrastructure
(TEL)
29.8732
(1.66)***
46.58105
(2.10)**
1.62203
(0.15)
4.51481
(0.15)
252.2178
(4.04)*
63.50253
(5.05)*
67.3222
(2.35)**
Real
exchange
rate
(RER)
111.8684
(2.21)**
72.02627
(1.02)
14.28568
(0.50)
546.9898
(3.54)*
24.09019
(20.03)
207.5025
(2.80)*
71.84067
(0.87)
Constant 217,005.18
(22.37)**
219,180.60
(21.61)***
22169.047
(20.42)
2966,643.58
(23.56)*
6673.767
(0.28)
236,870.3
(23.19)*
28555.537
(20.67)
Hansen test
( p-value)
0.11 0.38 0.63 0.79 0.19 0.21 0.44
Durbin-Wu-
Hausman
test
( p-value)
0.00 0.00 0.00 0.01 0.00 0.00 0.00
Pagan-Hall
test
( p-value)
0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00
Observations
114 99 59 52 52 72 126
Note: Robust t-statistics in parentheses. ***Significant at 10%; **significant at 5%; *significant at 1%.
Asia Pacific Business Review 197
the export-oriented manufacturing sector. Other factors, such as the stock of human
capital, investment in education and training, the level of financial market development
and the extent of technology gap between foreign and local firms are also important
determinants of economic growth in Vietnam. The results presented in this study also
highlight the role of the level of infrastructure development, the availability of skilled
labour and market size in attracting FDI to the Red River Delta and South East regions of
Vietnam.
Our empirical analysis suggests that as far as the level of financial market
development, spending on education and training and technology gap are concerned,
the Vietnamese economy has not reached the required minimum threshold that would
ensure that the indirect effect (also known as the spillover effect) of FDI on economic
growth is positive. In other words, the empirical evidence suggests that Vietnam is
unable to take full advantage of FDI inflows because: (i) its financial market is
insufficiently developed, (ii) spending on education and training is insufficient, and (iii)
technology gap between the foreign and local firms is too large.
Region wise, analysis reveals that a two-way linkage between FDI and economic
growth exists only in four regions: Red River Delta, North East, South East and Mekong
River Delta. This suggests that Vietnam is facing the problem of uneven economic
development. This problem is not specific to Vietnam. Other fast developing economies,
such as China and India, are facing the same problem. Indeed, the ruling party in India lost
the general election held in 2004 due to public dissatisfaction arising from income
distributional concerns.
The issue that is not explicitly considered by this study is the lack of focus in FDI in
Vietnam. Freeman (2002) and Kokko et al. (2003), among others, have argued that FDI
in Vietnam is largely unfocused. While the government of Vietnam has been inviting
foreign investment in all sectors, during the first seven months of 2008, the real estate
and tourism sectors received more than 47% of FDI (GSO 2008). There is also evidence
that FDI is contributing to the trade deficit in Vietnam. Rapid globalization has resulted
in a situation where MNCs are dispersing production activities to various locations
around the globe. Based on its comparative advantage, Vietnam needs to recognize its
place in the value chain. A policy which directs FDI to industries where Vietnam has
cost advantage over competing locations is highly desirable.
Implications
The empirical analysis presented in this study confirms that, in overall terms, an increase
in the stock of FDI increases Vietnam’s economic growth rate which attracts further FDI
into Vietnam. FDI boosting polices are likely to lead to further increase in exports and
hence the rate of economic growth. Policy makers in Vietnam need to develop long-term
strategies that would increase the country’s rate of human capital accumulation. Human
capital growth (for example, through increased spending on advanced education and
training) contributes to economic growth by facilitating the adoption of foreign
technologies. Additional investment in infrastructure development (including transportation
and telecommunication systems) and education are likely to result in a higher level
of foreign investment in Vietnam. The empirical analysis presented in this study also
suggests that the Vietnamese government needs to take immediate steps to: (i) further
develop the local financial market; (ii) increase spending on education and training; and
(ii) reduce the technology gap between the foreign and local firms. These steps will allow
the Vietnamese economy to take greater advantage of FDI-related spillover effects.
198 S. Anwar and L.P. Nguyen
In other words, policy makers need to develop strategies that will enhance the country’s
absorptive capacity. Singapore has been very successful in this regard and policy makers
in Vietnam should consider utilizing some of the successful Singaporean strategies in
Vietnam.
Regional analysis shows that FDI is a significant determinant of economic growth in
only four out of seven regions of Vietnam. This suggests that policy makers need to
develop strategies that would help to attract more FDI to the three regions that are
presently not very attractive to foreign investors. This, among other things, requires better
coordination among different levels of government and industry involvement.
For MNCs, the implication is that while investment in four regions, where there is a
strong mutually reinforcing link between FDI and economic growth, is likely to continue
to result in excellent returns on investment at least in the short term, investment in the
remaining three regions through first mover advantage is likely to lead to handsome
returns in the long-term.
Conclusions
The causal relationship between FDI and economic growth remains an issue of intense
debate among researchers. While this debate has provided rich insights into the
relationship between FDI and economic growth in a number of developing countries, few
empirical studies have considered the case of Vietnam.
By making use of a recently released panel dataset which covers 61 provinces of Vietnam
over the period 1996–2005, this study attempts to examine a series of hypotheses concerning
the link between FDI and economic growth and related issues. The empirical analysis, which
is based on a simultaneous equationsmodel, supports the view that in overall terms amutually
reinforcing two-way linkage between FDI and economic growth exists inVietnam.While the
direct effect of FDI on economic growth inVietnamis positive, the indirect effect through the
economy’s absorptive capacity (as measured by factors such as the level of financial market
development, spending on education and training and the extent of technology gap)was found
to be negative. Finally, we also explored the link between FDI and economic growth across
seven regions of Vietnam.The empirical analysis reveals that a two-way linkage between FDI
and economic growth exists only in four regions:Red RiverDelta,North East, South East and
Mekong River Delta.
Limitations and future research
While the sample size, which is in excess of 500 observations, is sufficiently large for the
present study, comparable provincial data for the period 1988–1995 is not available. It is
therefore not possible to compare the impact of FDI on economic growth during the preand
post-Asian crisis periods. The quality of data as highlighted by Freeman and Nestor
(2004) is also an issue that has to be kept in mind. However, such problems are common in
most developing countries. Due to the lack of data, it was not possible to consider other
variables such as the quality of local government and the level of corruption which
remains a serious concern.
It may also be worthwhile to re-examine the two-way linkage hypothesis and related
issues by using the growth rate of total factor productivity (TFP), instead of the growth rate
of total production. This study uses proxies for some variables such as the level of financial
development and infrastructure development. Future studies should consider using better
proxies. An emerging area of research which has started to receive some attention is
Asia Pacific Business Review 199
measurement of the spillover (that is, indirect) effect of FDI. In other words, most existing
studies on Vietnam have solely considered the direct effect of FDI on economic growth.
Spillover effect can be horizontal, vertical-forward or vertical-backward. It will be useful
to investigate the impact of FDI-related spillovers on total factor productivity. This will
allow one to evaluate the impact of FDI on technological progress in Vietnam. Finally, this
research can be further extended by examining the impact of FDI-led economic growth on
income distribution in Vietnam.
Acknowledgements
The authors are grateful to five anonymous referees for very useful comments and suggestions.
An earlier version of this study was presented to the 2007 Australasian Econometric Society Meeting
held in Queensland, Australia. The authors are grateful to the participants of the meeting for helpful
comments and suggestions. The usual disclaimer applies.
Notes
1. See Keller (2004), Meyer (2003, 2004), Lipsey (2002) and Marino (2002) for an interesting
survey.
2. From 1 January 2008 to 22 April 2008, Vietnam has already attracted FDI in the amount of
US$7.22 billion (GSO 2008).
3. Prior to this, Findlay (1978) has argued that FDI increases the rate of technological progress in
host economies through a ‘contagion’ effect arising from the introduction of more advanced
technology, management practices, and so forth.
4. See Nguyen and Nguyen (2007) and references therein.
5. It is well-known that the GMM method provides consistent and efficient estimates in the
presence of arbitrary heteroskedasticity (Greene 2008). Moreover, most of the diagnostic tests
discussed in this study can be cast in a GMM framework. Hansen’s J-test was used to test for
over-identification of GMM (that is the null hypothesis of correct model specification and valid
over-identifying restrictions was tested and the results were found to be satisfactory).
Notes on contributors
Sajid Anwar is Professor of Finance at the University of the Sunshine Coast. He holds a PhD from the
University of British Columbia (Vancouver, Canada).
Lan Phi Nguyen is Assistant Professor of Economics at National Economics University (Hanoi,
Vietnam). He holds a PhD from the Univeristy of South Australia.
References
Aghion, P., Comin, D., and Howitt, P., 2006. When does domestic saving matter for economic
growth? NBER working paper no. 12275, Cambridge.
Alfaro, L., Chandna, A., Kalemli-Ozcan, S., and Sayek, S., 2004. FDI and economic growth: the role
of local financial markets. Journal of international economics, 64 (1), 445–465.
Asiedu, E., 2002. On the determinants of foreign direct investment to developing countries: is Africa
different? World development, 30, 107–119.
Balasubramanyam, V. and Salisu, A., 1991. Export promotion, import substitution and direct foreign
investment in less developed countries. In: A. Koekkoek and L. Mennes, eds. International trade
and global development. London: Routledge, 191–210.
Barro, R., 1991. Economic growth in a cross section of countries. Quarterly journal of economics,
106, 407–443.
Barro, R. and Sala-i-Martin, X., 2004. Economic growth. 2nd ed. Cambridge: MIT Press.
Bende-Nabende, A., Ford, J., and Slater, J., 2001. FDI, regional economic integration and
endogenous growth: some evidence from Southeast Asia. Pacific economic review, 6, 383–399.
200 S. Anwar and L.P. Nguyen
Bengoa, M. and Sanchez-Robles, B., 2003. Foreign direct investment, economic freedom and
growth: new evidence from Latin America. European journal of political economy, 19 (3),
529–545.
Berthelemy, J. and De´murger, S., 2000. Foreign direct investment and economic growth: theory and
application to China. Review of development economics, 4 (2), 210–250.
Binh, N. and Haughton, J., 2002. Trade liberalization and foreign direct investment in Vietnam.
ASEAN economic bulletin, 19 (3), 302–318.
Biswas, R., 2002. Determinants of foreign direct investment. Review of development economics, 6
(3), 492–504.
Blankeanu, W., 2005. Public schooling, college subsidies and growth. Journal of economic dynamics
and control, 29 (3), 487–507.
Blankeanu, W. and Simpson, N., 2004. Public education expenditures and growth. Journal of
development economics, 73, 583–605.
Blomstro¨m, M. and Kokko, A., 2001. Foreign direct investment and spillovers of technology.
International journal of technology management, 22 (5/6), 435–454.
Borensztein, E., De Gregorio, J., and Lee, J.W., 1998. How does foreign direct investment affect
economic growth? Journal of international economics, 45 (1), 115–135.
Brainard, L., 1997. An empirical assessment of the proximity-concentration trade-off between
multinational sales and trade. American economic review, 87, 520–544.
Buckley, P., Clegg, L.J., Cross, A.R., Liu, X., Voss, H., and Zheng, P., 2007. The determinants of
Chinese outward foreign direct investment. Journal of international business studies, 38,
499–518.
Chakrabarti, A., 2001. The determinants of foreign direct investment: sensitivity analyses of crosscountry
regressions. Kyklos, 54, 89–113.
De Mello, L., 1997. Foreign direct investment in developing countries and growth: a selective
survey. Journal of development studies, 34 (2), 1–34.
Driffield, N. and Love, J.H., 2007. Linking FDI motivation and host economy productivity effects:
conceptual and empirical analysis. Journal of international business studies, 38, 460–473.
Dunning, J., 1988. The eclectic paradigm of international production: a restatement and some
possible extensions. Journal of international business studies, 19, 1–31.
Durham, J., 2004. Absorptive capacity and the effects of foreign direct investment and equity foreign
portfolio investment on economic growth. European economic review, 48, 285–306.
Findlay, R., 1978. Relative backwardness, direct foreign investment and the transfer of technology:
a simple dynamic mode. Quarterly journal of economics, 92, 1–16.
Freeman, N.J., 2001. Understanding the decline in foreign investor sentiment towards Vietnam
during the 1990s. Asia Pacific business review, 8 (1), 1–18.
Freeman, N.J., 2002. Foreign direct investment in Vietnam: an overview. In: DfID Workshop on
Globalisation and poverty in Vietnam. Working Paper, Hanoi, 23–24 September.
Freeman, N.J. and Nestor, C., 2004. FDI in Vietnam: fuzzy figures and sentiment swings. In: D.
McCargo, ed. Re-thinking Vietnam. London: Routledge, 179–196.
Friedman, M., 1977. Nobel lecture: inflation and unemployment. Journal of political economy, 85,
451–472.
General Statistics Office, 2007. Statistical yearbook 2006. Hanoi: Statistical Publishing House.
General Statistics Office, 2008. General statistics office of Vietnam [online]. Available from: http://
http://www.gso.gov.vn (Accessed 20 June 2008).
Glickman, N. and Woodward, D., 1988. The location of foreign direct investment in the United
States: patterns and determinants. International regional science review, 11, 137–154.
Greene, H., 2008. Econometric analysis. 6th ed. New York: Prentice Hall.
Grossman, G. and Helpman, E., 1991. Innovation and growth in the global economy. Cambridge:
MIT Press.
GSO. See General Statistics Office.
Hermes, N. and Lensink, R., 2003. Foreign direct investment, financial development and economic
growth. Journal of development studies, 40 (1), 142–163.
Hill, S. and Munday, M., 1992. The regional distribution of foreign direct investment: analysis and
determinants. The journal of the regional studies association, 26 (6), 535–544.
Husain, A., Mody, A., and Rogoff, K., 2005. Exchange rate regime durability and performance in
developing versus advanced economies. Journal of monetary economics, 52, 35–64.
Asia Pacific Business Review 201
Jackson, S. and Markowski, S., 1995. The attractiveness of countries to foreign direct investment.
Journal of world trade, 29, 159–180.
Kamin, S. and Rogers, J., 2000. Output and the real exchange rate in developing countries: an
application to Mexico. Journal of development economics, 61, 85–109.
Keller, W., 2004. International technology diffusion. Journal of economic literature, XLII,
752–782.
King, R. and Levine, R., 1993. Finance and growth: Schumpeter might be right. Quarterly journal of
economics, 108, 717–738.
Kokko, A., Kotoglou, K., and Krohwinkel-Karlsson, A., 2003. Characteristics of failed FDI projects
in Viet Nam. Transnational corporations, 12 (3), 41–77.
Kravis, I. and Lipsey, R., 1982. Location of overseas production and production for export by US
multinational firms. Journal of international economics, 12, 201–223.
Li, X. and Liu, X., 2005. Foreign direct investment and economic growth: an increasingly
endogenous relationship. World development, 33, 393–407.
Lipsey, R., 2002. Home and host country effects of FDI. NBER working paper no. 9293.
Lucas, R., 1988. On the mechanics of economic development. Journal of monetary economics, 22,
3–42.
Lucas, R., 1993. On the determinants of US direct investment in the EEC: further evidence.
European economics review, 13, 93–101.
Mai, P.H., 2003. The economic impact of foreign direct investment flows on Vietnam: 1988–1998.
Asian studies review, 27 (1), 81–98.
Marino, A., 2002. The impact of FDI on developing countries growth: trade policy matters.
CEMAFI, Working Paper, Universite´ de Nice-Sophia Antipolis, France.
Meyer, K., 2003. FDI spillovers in emerging markets: a literature review and new perspectives. DRC
working paper, no. 15.
Meyer, K., 2004. Perspectives on multinational enterprises in emerging economies. Journal of
international business studies, 35, 259–276.
Moore, M., 1993. Determinants of German manufacturing direct investment: 1980–1988.
Weltwirtschaftliches archiv, 129, 120–138.
Mudambi, R., 1995. The MNE investment location decision: some empirical evidence. Mangerial
and decision economics, 16, 249–257.
Nguyen, A.N. and Nguyen, T., 2007. Foreign direct investment in Vietnam: an overview and
analysis of the determination of spatial distribution, Development and polices research center,
Working Paper, Hanoi, Vietnam.
Presbitero, A., 2006. Institutions and geography as sources of economic development. Journal of
international development, 18 (3), 351–378.
Rodrik, D., 1992. Closing the productivity gap: does trade liberalization really help? Oxford:
Clarendon Press.
Romer, M., 1986. Increasing returns and long-run growth. Journal of political economy, 94,
1002–1037.
Sachs, J., 2003. Institutions don’t rule: direct effects of geography on per-capita income. NBER
working paper no. 9490.
Tsai, P., 1994. Determinants of FDI and its impact on economic growth. Journal of economic
development, 19, 137–162.
Wang, Y. and Gu, W., 2006. FDI, absorptive capacity, and productivity growth: the role of interindustry
linkages. Working Paper, Social Sciences Research Network, No. 924771.
202 S. Anwar and L.P. Nguyen

FOREIGN DIRECT INVESTMENT IN VIETNAM AND ITS IMPACT ON ECONOMIC GROWTH Hossein Varamini, Elizabethtown College, Elizabethtown, Pennsylvania, USA Anh Vu, Elizabethtown College, Elizabethtown, Pennsylvania, USA

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:49 am
Tags:

􀀃http://www.viet-studies.info/kinhte/FDI_Growth_VN_2.pdf
􀀃
FOREIGN DIRECT INVESTMENT IN VIETNAM AND ITS IMPACT ON ECONOMIC GROWTH
Hossein Varamini, Elizabethtown College, Elizabethtown, Pennsylvania, USA
Anh Vu, Elizabethtown College, Elizabethtown, Pennsylvania, USA
ABSTRACT
While a large amount of existing literature discusses the relationship between Foreign Direct Investment
(FDI) and economic growth, very few empirical studies have been carried out for Vietnam, one of the
fastest growing economies in the world. This paper reviews the experience of Vietnam in attracting FDI
and examines the relationship between economic growth and FDI, utilizing data on FDI inflows, GDP,
Export and Money Supply of Vietnam during the last two decades. The results suggest that FDI is an
important factor for the growth of the Vietnam’s economy.
Keywords: Foreign Direct Investment, FDI, Vietnam, Economic Growth
1. INTRODUCTION
Prior to 1986, Vietnam witnessed tremendously tough challenges: the aftermath of war, social evils, the
mass flow of refugees, the war at the southwest border with Cambodia, the dispute at the northern border
with China, the isolation and embargo from the United States and Western countries, in addition to
continual natural calamities. In 1986, the Vietnamese government launched the “Doi Moi” or all-round
renovation process; the country started to shift from a centrally-planned economy to a socialist-oriented
market economy. One year after the Doi Moi, the Law on Foreign Direct Investment was passed by the
VII National Assembly. Since then, annual Foreign Direct Investment (FDI) inflows into Vietnam have
increased dramatically from USD 0.34 billion in 1988 to $5.3 billion in 2005, with an annual growth rate of
28 percent (GSO, 2006). During this period, FDI inflows to Vietnam have played a very important role
such as stimulating export activities, introducing technology know-how, generating job opportunities, and
providing the capital to meet the economic growth target. The Vietnam economy has shown a remarkable
performance as one of the fastest growing economies in the world. After three decades of transforming
from a central-planned economy to a form of capitalism, it is now Asia’s second-fastest-growing economy,
with the annual growth rate of 8.4 percent, trailing only China. This paper provides an overview of FDI in
Vietnam and studies the impact of FDI on GDP growth in this country. The analysis is important for
Vietnam in designing government policies to enhance economic development. It also contributes to the
literature of FDI and economic growth in general and Vietnam in particular.
2. AN OVERVIEW OF FDI IN VIETNAM
FDI activities in Vietnam can be divided into four main time periods: 1988-1990, 1991-1995, 1996-2000
and 2001-2005. The opening of Vietnam economy to FDI in 1987 along with other subsequent measures
to liberalize the FDI regime led to rapid increase of FDI inflows from 1988-1996. FDI inflows rose from
2.47% in 1987 to 34.89% of GDP in 1996. According to the Foreign Investment Advisory Service (FIAS)
of World Bank, Vietnam had the highest level of FDI as percentage of GDP among all the developing and
transition economies during this period. Factors that stimulated the foreign investor appetite for Vietnam
included the market size, the attractiveness of a transitional economy, the strong work ethos, the high
levels of education yet relatively low labor rate, plentiful resources, and so on. Geographical location was
also one reason that led to the impressive rise in FDI inflows to Vietnam. Freeman (2002) suggested that
during 1980s and 1990s, there was a “bull market” flood of foreign capital into the merging market. And
within “the emerging market universe” Southeast Asia was a major beneficiary of this capital flow. In
1990, for example, Southeast Asia attracted 36% of all FDI flows to developing countries and the region
exceed China’s FDI inflows by more than three times (Freeman, 2002). The author also observed that
there was a flow of foreign capital into the transitional economies of the former socialist bloc, where new
business opportunities (and profits) could exist. Another force was the beginning of substantial
intraregional FDI flows within Southeast Asia as countries such as Malaysia, Thailand and Singapore
INTERNATIONAL JOURNAL OF BUSINESS RESEARCH, Volume VII, Number 6, 2007 132
􀀃
􀀃
began to export capital. Freeman concluded that as a transitional economy, located in Southeast Asia,
Vietnam was “very well positioned to ride” the three forces (Freeman, 2002).
The impressive growth of FDI however was abruptly interrupted after 1996, from 34.89% to 17.65%. The
1997 Asian crisis played a part, since the bulk of FDI in Vietnam in the early 1990s had come from these
countries. However, according to Jenkins (2006), the beginning of the downward trend in FDI was already
evident before the crisis hit. Some scholars suggested that it was because the economic reform process
in Vietnam was slowing down in the mid 1990s, while others emphasize the “euphoric” nature of
expectations concerning investment opportunities in the country, which were almost bound to be
disappointed (Freeman, 2002). Freeman explained that after nearly a decade, all the business
embargoes had now been lifted, all the international business who wanted to be in Vietnam, were already
present. Besides, the forecasts for domestic demand were proved to be exaggerated. The hurdles to
business also became more apparent.
An important feature of FDI in Vietnam is that it comes from a wide variety of countries. In fact, investors
from 76 different countries and economies have invested in Vietnam during the past two decades, but the
United States is not the dominant investor. Singapore (14.08%), Taiwan (13.07%), Japan (10.43%), and
Korea (9.28%) are the biggest investors with 46.85% of the total committed capital. Nguyen Phi Lan
(2006) in his study observed that FDI inflows from these big investors fluctuated considerably from 1995
to 2005 because of the Asian financial crisis, such countries maintained relative constant FDI positions in
Vietnam. In contrast, European countries such as France, the Netherlands, Germany and United
Kingdom have shown declining FDI positions. But according to the author, these reductions were
exchanged with the growth of FDI from the United States, British Virgin Islands, Luxembourg and China.
The growth from the United States has increased during the past years, but its investment volume is still
low compared to its potential. The United States in fact, ranks ninth, partly because the flows only began
after the embargo was lifted in 1994. And even with the 1994 embargo lift, there were still a lot of
obstacles for American companies to invest in Vietnam.
In December 2001, the bilateral trade agreement (BTA) between Vietnam and the US went into effect.
The US agreed to grant most favor nation (MFN) status to Vietnam. Haughton and Nguyen (2002)
quantify the effect that BTA had on FDI flows to Vietnam by using data from 16 Asian countries for 1990-
1999. They found out that BTA lead to 30% more FDI into Vietnam in the first year, and an eventual
doubling of the flow. This also boosted the economic growth by 0.6 percent annually. BTA is explained to
affect the flow of FDI in four main ways. First, it makes foreign investment easier by requiring Vietnam to
change from its current licensing regime to a registration system. (Registration is automatic while license
involves permission). Second, BTA makes Vietnam a more attractive platform with an open access to the
US market, the biggest economy in the world. The authors took an example that Korean footwear firms
are more likely to expand their existing factories in Vietnam in order to better serve the US market. Third,
the BTA in some way ensure the US investors of doing business in Vietnam and lastly, the BTA forces
Vietnam to open up more of the economy and reduce barriers to FDI (Haughton & Nguyen Nhu Binh,
2002).
With government’s initiatives of public administrative reform and economic reform towards openness and
global integration, Vietnam’s FDI increased again to $5.3 billion in 2005. Of the total figure, more than $3
billion came from 970 newly licensed FDI projects and the rest from additional investment injected into
existing projects. The total number of licensed projects invested in by foreigners has increased from 37 in
1988 to 7,279 in 2005, worth a total of $66.20 billion over the period 1988-2005 (GSO).
Most of the investment in Vietnam have focused on industries such as manufacturing (50.11%), real
estate (9.45%), construction (7.81%), hotels and restaurants (7.78%), transport (7.04%) and concentrated
their investments geographically in key economic areas in the south as Ho Chi Minh City, Dong Nai, Binh
Duong, Baria Vung Tau and key economic areas in the north such as Hanoi, Ha Duong, Hung Yen, Hai
Phong and Quang Ninh. From 1988 to 2005, Ho Chi Minh City attracted the most FDI (24 percent of the
total capital) and accounted for over $15.87 billion, followed by Hanoi with 17 percent of total capital,
equivalent to over $11.47 billion.
INTERNATIONAL JOURNAL OF BUSINESS RESEARCH, Volume VII, Number 6, 2007 133
􀀃
􀀃
3. LITERATURE REVIEW
Prior to 1986, Vietnam as well as many other Communist countries such as China, Cambodia, and Cuba
was influenced by Marxist radical view on political and economic theory. According to Marx and other
radical writers, multinational corporations (MNC) are an instrument of imperialist domination and a tool for
exploiting host countries to the exclusive benefit of their home countries. MNCs extract profits from the
host country and take them to their home country, give nothing of value to the host country in exchange.
FDI by MNCs therefore keeps the less developed countries relatively backward and dependent on
advanced capital nations for investment, jobs, technology, and economic growth (Hill, 2006). By the end
of the 1980s, the radical position was however retreat almost everywhere, including Vietnam.
Existing literature often discusses the relation between FDI and growth based on the theories of
exogenous growth and endogenous growth. Exogenous growth model, also known as the Neo-classical
model or Solow growth model, was developed by Robert Solow, Nobel Prize Winner in 1987 for his work
on this model. Empirical tests based on this theory conclude that output growth results from factors such
as increases in labor quality and quantity through population growth and education, increases in capital
through foreign capital and progress in technology. The long-run rate of growth for a country is
exogenously determined by assuming a savings rate or a rate of technical progress (Solow, 1956).
However, the criticism of exogenous model is that it fails to explain why or how technological progress
occurs. This failing has led to the development of endogenous growth theory.
Endogenous growth theory takes the Solow model one step further by explaining the effect of FDI on
economic growth through knowledge spillover and the existence of human capital. Knowledge spillover is
a channel of knowledge (technology) transfer from foreign subsidiaries to host country firms, which have
been widely studied by various scholars. Blomstrom and Kokko (1998) revise the four channels of FDI
spillover. Demonstration-imitation effect occurs when domestic firms learn superior technologies from
foreign subsidiaries. Competition effect happens when foreign subsidiaries competition force domestic
rivals to update their technologies and techniques. Foreign linkage effect implies that domestic firms also
learn to export from foreign subsidiaries. Training effect suggests that there is always a movement of staff
from foreign subsidiaries to domestic firms and training course for local employees (Blomstrom & Kokko,
1998). As a result of knowledge spillover, local firms can increase their output growth and hence
contribute to the increase of GDP growth.
Many studies compared the efficiency between FDI and domestic investment. For developing countries,
FDI has proved to be more efficient than domestic investment (Borenzstein et al., 1998). De Gregorio
(1992) in his study finds that FDI was three times more efficient than domestic investment. Blomstrom et
al. (1992) confirms that is no evidence of “crowd out” effect on domestic investment. In contrast, after
running the model for 12 countries during the period 1971-2000, Agosin and Machado (2005) conclude
that in three developing regions (African, Asia and Latin America), FDI has left domestic investment
unchanged. There are several sub-periods for specific regions where FDI displaces domestic investment.
In particular, there seems to be crowding out of domestic investment by FDI in Latin America. The
empirical findings of existing literature find a mixed result for the impact of FDI on domestic investment.
The effects of FDI, therefore, are not always favorable.
Another interesting finding is that many studies stress the importance of human capital for FDI. Nelson
and Phelps (1996) suggest that larger stock of human capital makes it easier to absorb new products and
ideas brought from multinational corporations (MNCs). Human capital is important for countries to benefit
from the entrance of long-term capital flows. Barro (1991) used a sample of 98 countries in the period of
1960-1985 to conclude that the growth rate of real per capita GDP is positively related to initial human
capital. Since FDI increases human capital and human capital fosters economic growth, FDI has a
positive impact on economic growth. Borenzstein et al. (1998) take the importance of human capital to the
next level when they discover that with low levels of human capital, FDI actually has a negative impact on
economic growth. The study used data on FDI flows from industrial countries to 69 developing countries
over the last two decades and the result suggested that FDI is an important vehicle for transfer of
technology, contributing relative more to growth than domestic investment.
INTERNATIONAL JOURNAL OF BUSINESS RESEARCH, Volume VII, Number 6, 2007 134
􀀃
􀀃
The impact of FDI on economic growth has been an interest for many empirical studies. An empirical
analysis by Alfaro et al. (2002) using cross-country data for the period of 1975-1995 suggests that total
FDI exerts an ambiguous effect on economic growth. However, countries with well-developed financial
markets gain significantly from FDI. Wang (2003) finds that FDI in manufacturing sector has a positive
impact on economic growth of host economies; but FDI in non-manufacturing sectors does not play a
significant role in promoting economic growth.
Many samples from different locations of the world have also been tested and taken into consideration.
Sánchez-Robles & Bengoa-Calvo (2002) explore empirically the interplay between economic freedom,
FDI and economic growth. They pursue a panel data analysis on a sample of 18 Latin-America countries
over the period of 1970-1999. The result implements that first, economic freedom in host country is found
to be positive determinant of FDI inflows and second, FDI is positively correlated with economic growth in
the host countries of the example considered. The authors also point out that human capital, economic
stability and liberalized markets in host countries are important for the countries to benefit from the
entrance of long term capital flows.
Graham and Wada (2001) applied an econometric test of whether FDI in China had contributed to
increase the total factor productivity growth in provinces that have received large amounts of FDI. The
tests suggested that the result was positive, and hence that FDI had contributed significantly to economic
growth in China beyond that which results from faster capital accumulation. Bende-Nabende et al. (2001)
also studied the casual relationship between FDI and economic growth of the ASEAN-5 economies over
the period of 1970-1996. The study found that FDI has promoted economic growth most effectively
through human capital factors and learning by doing effects.
Empirical studies have been conducted in different areas and countries of the world to examine the
relationship between FDI and economic growth; however, not much literature has been found for the case
of Vietnam. One main obstacle is that there is not enough data available to conduct any system of
regression equation; hence the sample might be small due to a short timeframe.
In an attempt to study the linkage between FDI and economic growth, Nguyen Phi Lan (2006) used three
statistical techniques in analyzing a panel dataset for 61 Vietnamese provinces over the period of 1996-
2003. The empirical result implies that FDI has a positive and statistically significant impact on economic
growth in Vietnam over the period 1996-2003. After reviewing the Eclectic Theory of FDI by Dunning and
other studies by Chakrabarti (2001), Asiedu (2002) and Zhao (2003), Nguyen Phi Lan tests the other way
of the linkage and finds that economic growth is an important factor to lure FDI inflows into Vietnam.
In addition, the author points out some other interesting findings. Labor force and exports have a positive
impact on FDI, which is consistent with the fact that FDI in Vietnam mainly concentrated on laborintensive
and export-oriented manufacturing activities. The study also provides new evidence on the role
of human capital and infrastructure in attracting FDI in Vietnam. Another important result from Nguyen Phi
Lan’s regression is that FDI in Vietnam crowds in domestic investment in Vietnam over the period 1996-
2003.
4. METHODOLOGY
4.1 DATA
The data for the study was collected from a wide variety of resources, namely the World Development
Indicators (World Bank), International Financial Statistics (IMF), and other Vietnamese government
websites, including the General Statistic Office of Vietnam (GSO) and Ministry of Planning & Investment
(MPI). One set was annual data from 1989 to 2005. The starting year, 1989, was the year that Vietnam
started to witness the positive outcomes of “Doi Moi” and 2005 was one year before Vietnam joined the
World Trade Organization. The second set of data consisted of quarterly figures from 1996 to 2005.
INTERNATIONAL JOURNAL OF BUSINESS RESEARCH, Volume VII, Number 6, 2007 135
􀀃
􀀃
4.2 MODEL
The empirical segment of this study is based on the application of the Ordinary Least Squares (OLS)
technique to examine the relationship between FDI and the level of economic growth for Vietnam.
However, before running the regression analysis, we need to test for the stationarity of the data. The nonstationarity
of any type of time series may raise serious doubts about the consistency of the estimated
coefficients. One of the most common methods of correcting for non-stationary time series data is to use
the first differences of the series. However, this method imposes many unit roots for the variable and
some potentially important information may be lost. An alternative method is to use the Dickey-Fuller unit
root test (Dickey and Fuller, 1979 and 1981). This test of the unit root determines whether or not the
variables in the study are stationary. In the presence of unit roots for the time series data, this study will
follow Engle and Granger (1987) to construct the co-integration model.
As mentioned above, most time series data follow a pattern and therefore are non-stationary. Let’s
assume two of the time series variables in this study, xt (the level of GDP) and yt (the amount of exports)
are non-stationary variables. If the first difference of each time series is stationary, i.e. Dxt and Dyt are
both I(0), the series are integrated of order 1. If there is a linear combination of xt and yt such as zt= yt – 􀁄
xt in which zt is stationary, then xt and yt are co-integrated. Let’s further assume the following general
regression model:
xt = a + b yt + zt
where zt is the residual of the model. The application of OLS to this equation is appropriate only if xt and
yt are stationary, or if the two series are co-integrated. In other words, co-integration requires that their
first differences (Dxt and Dyt) be stationary and that the residuals of the model (zt) exhibit a stationary
process. This study will apply the DF test to the first differences of the time series as well as the residuals
to test their stationarity status.
The final step is to identify the appropriate regression models to test for the impact of FDI on economic
growth of Vietnam. The following regression equations are developed to examine the statistical
relationship between the variables in the model:
g = 􀄮 + 􀈕1 FDI + 􀈕2 X + 􀈕3 M + μ (1)
g = 􀄮 + 􀈕1 GDP
FDI + 􀈕2 GDP
Export + 􀈕3 M + μ (2)
GDP = 􀄮 + 􀈕1 FDI + 􀈕2 X + 􀈕3 M + μ (3)
Based on theoretical and empirical research on the impact of FDI on economic growth, a system of
equation is formed in which the real economic growth rate (g) and level of real GDP (GDP) are
determined by FDI inflow (FDI), real money supply (M), and level of export (X). The error term, μ,
represents an error term with zero expectations. Previous findings point out that there is a positive
relationship between FDI and economic growth so a positive 􀈕1 is expected.
4.3 REGRESSION ANALYSIS
The first step in using time series analysis is to test for stationarity of the data used. Table 1 shows the
results of the Dickey-Fuller Unit Root test. The DF test is conducted for the levels of FDI, money supply
and exports for Vietnam. As shown in Table 1, even though the levels of some of the variables are nonstationary,
their differences are stationary. These findings allow us to apply regression analysis to data for
this country.
INTERNATIONAL JOURNAL OF BUSINESS RESEARCH, Volume VII, Number 6, 2007 136
􀀃
􀀃
TABLE 1: UNIT ROOT TEST
Variables DF statistics w/o lags DF statistics with lags
FDI – 7.18 *** (0) –
Money supply 2.31 (0) 2.73 * (2)
GDP 15.68*** (0) –
Export 0.89 (0) 2.90* (3)
Level of significance *** 1% ** 5% * 10%
Numbers in parentheses are the number of lags.
The results of the regression models are presented in Table 2. The first dataset (annual data) is tested for
model (1) and (2) while the second dataset (quarterly data) is tested for model (2) and (3). As shown in
Table 2, except for model (1) (which is based on Nguyen Phi Lan’s model) that indicates a negative
relationship between the level of export and economic growth rate, the results of other models show that
there are statistically significantly positive relationships between FDI, export, money supply and GDP. The
use of quarterly data for the last model gives the best result when 98% of variability of change in the level
of GDP can be explained by the change in the level of FDI, export and money supply.
TABLE 2: REGRESSION RESULTS
Model 􀄮 FDI
Inflow Export Money
Supply
g= 6.23 + 5.6 FDI – (4.49) Ex + 1.01 M + μ
Adj. R Square = 48.98% 11.94*** 4.27*** -2.04** 2.04**
g= 5.69 + 11.30 (FDI / GDP)+ 1.38 (EX/GDP) + 1.07 M(g)+ μ
Adj. R Square = 48.83% 8.13*** 3.98*** 2.15*** -1.6*
g= 0.01 + 0.06 (FDI / GDP)+ 0.05 (EX/GDP) + 0.001 M(g)+ μ
Adj. R Square = 29.75%
5.52*** 1.22* 4.16** 0.17*
GDP= 22361+ 2.24 FDI + 0.85 EX + 1.41 M+ μ
Adj. R Square = 98% 44.2*** -2.8*** 2.6*** 8.04***
p-value *** 1% ** 5% * 10%
5. CONCLUSIONS
The results of the study are consistent with the findings of several available studies in the literature as
they suggest that there is a statistically significant relationship between FDI and the rate of economic
growth in Vietnam. In order to maintain a high economic growth and increase the export volume,
Vietnamese government should open up more to FDI by revising some of its policies. As a global trend in
recent years, MNCs have been reluctant to enact new projects; merger and acquisition, as an alternative,
has been the main engine for FDI flow. Meanwhile FDI projects in Vietnam are mostly focused on greenfield
activity where new production capacity is created. Vietnam’s business legislation, in fact, does not
allow foreign investor to acquire more than 30% of total shares in local company, if this company
operates in one of the 35 approved business sectors. Furthermore, the existence of bureaucracy, red
tape, inadequate legal infrastructure, weak law enforcing, poor physical infrastructure, corruption, high
land rates, tax rates, IPR, etc. might discourage MNCs investing FDI in Vietnam. The banking and
financial sector are also areas that need renovation in order to attract foreign portfolio investment to
support FDI inflows.
INTERNATIONAL JOURNAL OF BUSINESS RESEARCH, Volume VII, Number 6, 2007 137
􀀃
􀀃
The study could have included other independent variables such as real exchange rate, interest rate,
government expenditure, etc. However, the interest rates were skyrocketing until mid 1990s and
exchange rates changes were thrilling. For example, exchange rate in 1986 jumped by hundreds
percentages due to more than 700% inflation in 1986 from 1985. Annual data of a longer time period (for
example, from 1975 to 2005) could have been used to provide more accurate results. However, Vietnam
was in war with the U.S. from 1954 to 1975. After the war, the country was in the wakes of
reconstructions and reforms, collecting statistics became a difficult task due to government controls and
devastations of war. The authors were unable to find any reliable data for the period of 1975-1988.
On January 12, 2007, Vietnam became the WTO’s 150th member following a decision by the General
Council to approve the Southeast Asian country’s membership agreement. This day also marked a full
normalization of Vietnam and the United States relations. Such developments have provided new
opportunities for Vietnam particularly in its ability to attract and maintain FDI. However, the country still
faces some serious challenges on its path to become a more prominent member of the global economy.
REFERENCES:
Agosin, M. & Mayer, R., “Foreign Investment in Developing Countries: Does it Crowd in Domestic
Investment?”, Oxford Development Studies, Vol. 33, No. 2, 2005, 149 – 162.
Alfaro, L., Kalemli-Ozcan, S., Chanda, A. & Sayek, S., “FDI and Economic Growth: The Role of Local
Financial Market”, SSRN Working Paper No. 01-083t, 2002.
Asiedu, E., “On the determinants of foreign direct investment to developing countries: is Africa different?”
Econometrica, Vol. 54, 2002, 869-880.
Barro, R., “Economic Growth in a Cross Section of Countries”, National Bureau of Economic Research
Working Papers No. 3120, 1991.
Bende-Nabende, A., Ford, J. & Slatter, J., “FDI, Regional Economic Integration and Endogenous Growth:
Some Evidence from SouthEast Asia”, Pacific Economic Review, Vol. 6, No. 3, 2001, 383-399.
Blomstrom, M., Lipsey, R. & Zejan M., “What Explains Developing Country Growth”, National Bureau of
Economic Research Working Paper No. 4132, 1992.
Blomstrom, M. & Kokko, A., “Multinational Corporations and Spillovers”, Journal of Economic Surveys,
Vol. 12, No. 2, 1998, 1-31.
Borensztein, E. & Gregorio, J.D. & Lee, J.W., “How Does Foreign Direct Investment Affect Economic
Growth?”, Journal of International Economics, Vol. 45, 1998, 115-135.
Chakrabarti, A., “The determinants of foreign direct investment: sensitivity analyses of cross-country
regressions”, BTA and Foreign Direct Investment to Vietnam, Vol. 54, 2001, 89-113.
De Gregorio, J., “Economic Growth in Latin America”, Journal of Development Economics, 39, 1992, 58-
84.
Dickey, D.A. and W.A. Fuller, “Distribution of the Estimates for Autoregressive Time Series with a Unit
Root,” Journal of the American Statistical Association, Vol. 24, June 1979, 427-451.
Dickey, D.A. and W.A. Fuller, “Likelihood Ratio Statistics for Autoregressive Time Series with a Unit
Root,” Econometrica, Vol. 49, July 1981, 1057-1072.
INTERNATIONAL JOURNAL OF BUSINESS RESEARCH, Volume VII, Number 6, 2007 138

March 5, 2010

Cảnh báo hiệu quả của FDI

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:48 am
Tags:

Trong ba khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), FDI đang tỏ ra là khu vực có hiệu quả đầu tư thấp nhất về cả hai phương diện: sử dụng lao động và công nghệ.

Liên quan tới việc phân cấp đầu tư cho các địa phương đang có xu hướng quá “thông thoáng”, “khoán trắng” như lời một chuyên gia nói gần đây với Pháp Luật TP.HCM, vấn đề hiệu quả của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam bắt đầu được đặt ra.

Những con số đi ngược kỳ vọng

Từ khi FDI vào Việt Nam, khối doanh nghiệp có FDI được kỳ vọng sẽ là lực lượng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo vốn và kích thích chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ cho nền kinh tế. Trên thực tế, một báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Artex, trong giai đoạn 10 năm từ 1999 đến 2009, đặc biệt trong ba năm qua, đánh giá: “khu vực FDI kém hiệu quả nhất (…), hầu như các doanh nghiệp FDI đều lỗ (theo báo cáo), hoặc các doanh nghiệp khác thì thực chất là một phân xưởng của công ty mẹ ở nước ngoài”.

Để đơn giản, có thể đánh giá hiệu quả FDI căn cứ vào hai chỉ số: ICOR (tỉ số gia tăng vốn và đầu vào) và TFP (hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp). ICOR càng cao thì càng là dấu hiệu xấu, chứng tỏ vốn đầu tư trở thành yếu tố quá quan trọng trong khi các nhân tố tăng trưởng khác lại không phát huy. Ngược lại, TFP càng cao càng là dấu hiệu tốt.

Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho thấy trong 10 năm (1999-2009), ICOR của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là: 7,76; 3,54; và 7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6. “Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu quả của họ là thấp nhất” – ông Bùi Trinh cho biết.

Lao động nữ chiếm phần lớn các doanh nghiệp khối FDI. Ảnh minh họa: Hữu Luận

Còn về khía cạnh chuyển giao công nghệ, giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp có FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6. Theo ông Bùi Trinh, hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất cho thấy mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Nói cách khác, doanh nghiệp công “cũng có mang lại đổi mới công nghệ”. Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6). Ông Trinh giải thích: “Như thế nghĩa là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng chủ yếu nhờ các yếu tố khác, ví dụ lao động rẻ mạt, chứ không phải do công nghệ. Trên thực tế, khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết”.

Tổ chức tựa phân xưởng

40% là con số thống kê không chính thức về FDI tại Việt Nam được rót vào các dự án bất động sản dưới nhiều hình thức khác nhau năm 2009. Một nguồn số liệu thống kê khác cho thấy con số này năm 2007 là 12%, 2008 khoảng 30%.

Những vấn đề trên cũng là điều mà một chuyên gia (giấu tên) ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tỏ ý lo ngại. Ông cho rằng việc thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa phương đang “thoáng” tới mức không cân nhắc thật cẩn trọng ba yếu tố mấu chốt: 1. quỹ đất; 2. vấn đề đào tạo và sử dụng lao động tại chỗ; và 3. chất lượng sản phẩm đầu ra. Hai yếu tố sau có liên quan trực tiếp tới công nghệ. “Quan điểm của tôi là càng ở các vùng sâu, vùng xa, các dự án FDI càng bị bắt buộc phải sử dụng công nghệ cao và nhân công Việt Nam. Luật định như vậy sẽ khiến các nhà đầu tư buộc phải tính tới chuyện đào tạo và sử dụng lao động tại chỗ. Bằng không, họ cứ đưa công nghệ bãi rác vào, hoặc chỉ dùng chủ yếu là lao động của họ thì ta cũng phải chịu”.

Về việc sử dụng lao động, đến nay khối FDI thu hút 1,7 triệu lao động, song có tới 1,1 triệu trong số đó là lao động nữ, không được đào tạo hoặc chỉ đào tạo ngắn ngày. Vị chuyên gia nói trên cho biết từng đi khảo sát ở nhiều doanh nghiệp có FDI, ông nhận thấy: “Họ giống như phân xưởng của công ty mẹ ở nước ngoài vậy. Lương lao động ở đây rất rẻ, bệnh nghề nghiệp nhiều. Có nhà máy mấy chục ngàn công nhân mà chỉ khoảng ba chục người được đi nước ngoài vài tuần gọi là “đào tạo””.

Tăng trưởng kinh tế bền vững phải dựa trên sự đóng góp ngày càng nhiều của công nghệ và giảm dần mức độ đóng góp của lao động. Những thống kê mà các chuyên gia thu thập được, đánh giá về hiệu quả FDI trong khoảng thời gian 10 năm qua thống nhất ở một số điểm: Kinh tế nhà nước – khu vực tập trung nhiều vốn nhất – đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu theo hướng thay đổi công nghệ. Tỉ lệ lao động làm việc trong khu vực này đã giảm xuống trong năm năm trở lại đây. Tuy nhiên, nguồn vốn hút về khối doanh nghiệp nhà nước thì vẫn tăng. Trong khi đó, nếu căn cứ vào quy mô vốn, có thể thấy khối tư nhân mới là lực lượng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, sử dụng nhiều lao động nhất (giúp giảm sức ép về nhu cầu việc làm của người lao động) nhưng vốn đầu tư cho họ lại thấp nhất. Cuối cùng, các chuyên gia cảnh báo: “FDI là khu vực đóng góp ít nhất cho nền kinh tế”.

January 7, 2010

Vietnam Still Attracts Foreign Investors

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:52 am
Tags:

In 2009, with appropriate policies and the potential of its economy, Vietnam attracted many foreign groups, companies and associations despite numerous difficulties caused by the global economic crisis. They came to Vietnam to look for business opportunities.

Vietnam investment

Anh 1%5B1%5D. Ong Muhtar Kent . Vietnam Still Attracts Foreign InvestorsMuhtar Kent, chairman of the board and general director of the Coca-Cola Group (USA):
Vietnam has a large population and most Vietnamese people can afford to buy our products. We see in the Vietnamese market many business opportunities. Presently, only five percent of Vietnam’s population is using our products but we believe this percentage will increase and in the future Vietnam will surely be one of the leading markets of Coca-Cola.
I’m satisfied with the business results we have achieved here in Vietnam in the past years, and for this reason, we are committed to having long-term investment here. We will invest an additional more than US$200 million in Vietnam to expand production and the distribution network. We will also buy more equipment and intensify marketing and human resource training activities here.
Anh 2%5B1%5D. Ong Phil MacLauri Vietnam Still Attracts Foreign InvestorsPhil MacLaurin, general director of Premier Oil Vietnam (UK):
The Premier Oil Group operates in the field of oil exploration and extraction in the UK. Premier Oil Vietnam has been operational for three years with total investment capital of US$70 million. The Vietnamese Government’s environmental protection commitments are encouraging us to expand our operations in Vietnam in the future. We have a plan to increase our investment in Vietnam to US$400 million in the next three years.
Anh 3%5B1%5D. Ong YUJI SEJIMAba Vietnam Still Attracts Foreign InvestorsYuji Sejima, general director of the Shikibo Group (Japan):

We will transfer to Vietnamese companies the technology to manufacture a kind of fabric named Flutect which can help prevent the spread of viruses and bacteria. This is a kind of specialized, high-quality fabric that is presented for the first time in the Vietnamese market. This transfer benefits Shikibo because it will help us reduce the production cost so that we can sell our products at more competitive prices. Favorable conditions for the transfer are that Vietnamese workers are capable to learn new technology and they are hard-working. In the future, Shikibo will move many of its factories from China to Vietnam.
Anh 4%5B1%5D. Ong Richard Tang  Vietnam Still Attracts Foreign InvestorsRichard Tang, president of the Taipei Computer Association – TCA (Chinese Taipei):
One important thing for Chinese Taipei’s companies is to find places where there are favorable conditions in terms of human resources, infrastructure, investment environment, tax and land, and Vietnam is one of the regional countries that they are interested in. However, several other countries in the region such as China, Thailand, Laos and Cambodia are competing with Vietnam in attracting investment from Chinese Taipei. Therefore, Vietnam should refer to the conditions under which these countries attract investment so that it can take necessary actions to make it more attractive to Chinese Taipei’s investors. Vietnam has built the foundation for development in the field of information and communication technology, including the software technology, but it must improve the quality of human resources and offer foreign investors more preferences to encourage them to invest in Vietnam. Specifically, Vietnam must simplify administrative procedures and offer foreign investors more preferences in terms of tax and land.
Anh 3%5B1%5D. Ong YUJI SEJIMAba Vietnam Still Attracts Foreign InvestorsWilliam Lim, project director of MTA Vietnam 2009 (Singapore):
The Vietnamese industrial market us very large and the development potential of domestic mechanical companies remains unutilized. Vietnam has many advantages. It has a young population and Vietnamese workers are very hard-working. As one of its members, Vietnam has many commitments with the World Trade Organization (WTO). It is accelerating administrative reform and modernizing the Commercial Law. Aware of such advantages and potential, global mechanical manufacturers are seeking opportunities to develop their business in Vietnam.

January 2, 2010

Tản mạn về cán cân thanh toán Việt Nam năm 2009

(TBKTSG) – Trong khi suy nghĩ về những số liệu kinh tế vĩ mô Việt Nam của năm 2009 sắp kết thúc, chúng ta vẫn phải tự hỏi: có hay không những mầm mống bất ổn có thể gây bất lợi cho mục tiêu tăng trưởng ổn định và bền vững mà Việt Nam mong muốn?

Các phân tích về cán cân vãng lai Việt Nam

Chúng tôi bắt đầu từ các số liệu của cán cân thanh toán Việt Nam trong khoảng thời gian 2005-2009. Nguồn dữ liệu chúng tôi lấy từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), do những dữ liệu khả dụng, công khai từ các cơ quan Việt Nam còn manh mún và không đầy đủ. Một số chỉ tiêu có thể có những sai lệch so với các số liệu công bố của các cơ quan hữu quan của Việt Nam, thế nhưng, đôi khi những sự sai lệch đó vẫn có thể trở thành một chủ đề thảo luận nào đó.

Vị trí đặt quảng cáoTừ bảng số liệu của IMF, chúng ta nhận thấy, thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam gia tăng rất nhanh qua các năm. Trong khi IMF dự báo mức thâm hụt cán cân thương mại năm 2009 là 7 tỉ đô la Mỹ trong bối cảnh suy thoái kinh tế, thì thông tin trong tháng 11-2009 cho biết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ước tính con số đó cho cả năm 2009 là 11 tỉ đô la Mỹ.

Nếu như trong các năm 2005-2006, kiều hối (chiếm hơn 90% khoản mục “Chuyển giao”) đã vượt quá nhu cầu cần bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, làm giảm nhẹ đáng kể thâm hụt của cán cân vãng lai, thì nay, tình hình trên đã trở nên xấu hơn nhiều trong năm 2009.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TPHCM cho biết, trong 10 tháng đầu năm, lượng kiều hối nhận được tại các ngân hàng trên địa bàn vào khoảng 2,6 tỉ đô la Mỹ, chỉ bằng 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Chúng ta biết rằng, TPHCM là nơi nhận gần 60% tiền kiều hối cả nước. Con số kiều hối cả nước nhận được trong năm 2009 được giới chuyên môn ước tính sẽ xấp xỉ 6 tỉ đô la.

Kết hợp với nguồn số liệu của IMF, nếu như các luồng tiền ròng về dịch vụ và thu nhập của năm 2009 không đổi so với năm 2008 (thâm hụt xấp xỉ 4,2 tỉ đô la) thì với thâm hụt thương mại ước tính 11 tỉ đô la, sau khi trừ đi 6 tỉ đô la kiều hối, thì thâm hụt cán cân vãng lai có thể ước tính ở mức 9-10 tỉ đô la Mỹ cho năm 2009.

Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nợ nước ngoài của Việt Nam

Theo lý thuyết, cán cân vãng lai là một trạng thái lý tưởng để diễn tả quan hệ nợ nần của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Nếu cán cân vãng lai thặng dư, thì chúng ta nợ nước ngoài ít hơn nước ngoài nợ chúng ta, và ngược lại. Thâm hụt cán cân vãng lai có thể được bù đắp bằng thặng dư của cán cân vốn, trong đó, chúng ta mong muốn rằng, với mục tiêu ổn định và cân bằng kinh tế vĩ mô, những nguồn bù đắp đó phải là những nguồn dài hạn và ổn định.

Trong bối cảnh Việt Nam, đó chính là các nguồn FDI và những khoản vay dài hạn nước ngoài. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, vốn FDI giải ngân trong 11 tháng đầu năm là 9 tỉ đô la Mỹ, bằng 89,6% so với cùng kỳ năm 2008. Mức 10 tỉ đô la là kỳ vọng cho tổng giải ngân FDI năm 2009 tại Việt Nam. Trong khi chúng tôi không có số liệu nào về vốn đầu tư gián tiếp, và với giả định rằng mức 10 tỉ đô la giải ngân FDI là có thể đạt được trong năm 2009, thì luồng tiền FDI gần như đã bù đắp được thâm hụt trong năm của cán cân vãng lai.

Mức bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai còn cao hơn do Việt Nam ngày càng mang nợ nhiều hơn. Đồ thị bên dưới diễn tả mức chênh lệch ròng giữa rút vốn và tổng trả nợ các khoản nợ chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh trong các năm 2004-2008, qua đó, chúng ta có thể thấy mức chênh lệch ròng có xu hướng ngày càng dãn rộng ra. Hàng năm, nước ta vay nợ nhiều hơn là trả nợ. Chênh lệch ròng năm 2008 đã vượt qua con số 2 tỉ đô la Mỹ.

Giả định rằng con số đó không đổi trong năm 2009, cộng với các khoản nợ “đột xuất” phát sinh trong năm 2009 là 2 tỉ đô la Mỹ (vay của ADB, Ngân hàng Thế giới và Nhật Bản), thì luồng tiền ròng từ vay nợ nước ngoài có thể lên đến 4 tỉ đô la Mỹ. Cuối cùng, bỏ qua việc nhầm lẫn và bỏ sót, trong khi chưa có dữ liệu gì về nguồn vốn đầu tư gián tiếp cũng như các luồng vốn ngắn hạn khác, thì con số 4 tỉ đô la đó có thể tạm xem như là thặng dư của cán cân tổng thể (?!)

Thế nhưng, tại sao trong kỳ họp Quốc hội vừa qua (tháng 10, 11-2009), Chính phủ đã dự báo mức thâm hụt cán cân tổng thể năm 2009 có thể lên đến con số 1,9 tỉ đô la Mỹ?

Về mặt kỹ thuật, theo chúng tôi, có thể có những vấn đề sau đây:

– Như trên đã nói, các giả định và tính toán phía trên của chúng tôi vẫn chưa đề cập đến những chu chuyển tài chính ngắn hạn có thể gây ra những thâm hụt nặng nề hơn cho cán cân tổng thể. Chúng ta chưa có dữ liệu gì về các luồng vốn đầu tư gián tiếp và cả những luồng vốn ngắn hạn cho năm 2009.

Theo IMF, cán cân thanh toán Việt Nam đã ghi nhận một mức thặng dư kỷ lục của đầu tư gián tiếp lên đến 6,2 tỉ đô la Mỹ trong năm 2007. Ghi nhận và quản lý các luồng vốn gián tiếp vẫn còn là một vấn đề chưa được giải quyết rốt ráo hiện nay ở Việt Nam. Cũng theo IMF, trong năm 2008 Việt Nam đã chứng kiến một mức thâm hụt 400 triệu đô la Mỹ đối với đầu tư gián tiếp. Có hay không những luồng vốn đầu tư gián tiếp tiếp tục đảo chiều trong năm 2009 và chúng diễn ra với mức độ nào? Đó chính là một câu hỏi lớn vẫn còn chờ lời giải đáp.

– Vẫn còn những tranh luận về mức độ chính xác của số liệu về các khoản giải ngân FDI hàng năm, đặc biệt là bản chất của các nguồn giải ngân. Xin đơn cử một ví dụ sau đây. Một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam có mức vốn đầu tư 100 triệu đô la Mỹ, trong đó, công ty mẹ chỉ cấp một số vốn điều lệ 20 triệu đô la. Phần còn lại phải đi vay trung dài hạn ngân hàng thông qua bảo lãnh của chính công ty mẹ.

Giả sử doanh nghiệp FDI đó vay số tiền 80 triệu đô la từ một ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam và việc giải ngân được thực hiện bằng chuyển khoản, từ tài khoản của ngân hàng đó mở tại New York, về tài khoản vốn chuyên dùng (Capital Account) của doanh nghiệp mở tại ngân hàng cho vay tại Việt Nam. Bản chất của giao dịch vay vốn trên không hề làm gia tăng quỹ ngoại hối cho nền kinh tế Việt Nam, vì thực chất, đó là giao dịch giữa người cư trú – người cư trú. Đúng là tiền từ nước ngoài chuyển về cho giải ngân FDI, nhưng không phải là một luồng tiền được ghi nhận vào cán cân thanh toán.

– Cũng như vậy đối với các khoản vay mượn. Chúng ta biết rằng đối với một số điều kiện vay ODA, đặc biệt là vay tín dụng xuất khẩu (Export Credit), một tỷ lệ giải ngân không nhỏ sẽ được chuyển ngân trực tiếp cho các nhà cung cấp nước ngoài (người không cư trú-người không cư trú).

Trong một chừng mực nào đó, đối với các khoản nhập khẩu được tài trợ bằng ODA và tín dụng xuất khẩu, thì một sự “thâm hụt” cán cân thương mại chưa chắc đã là điều xấu. Còn ở phân tích nguồn đối ứng, các luồng vốn ODA và tín dụng xuất khẩu tạo “thặng dư” cho cán cân vốn dài hạn chưa hẳn là một điều tốt, những luồng thặng dư thực sự, với kỳ vọng bù đắp cho thâm hụt của cán cân vãng lai.

Thay cho lời kết

Bài viết này, tuy xoay quanh các phân tích về cán cân thanh toán quốc tế, nhưng vẫn mang tính tản mạn. Chúng tôi hy vọng rằng nó có thể là một gạch nối cho một chủ đề sâu xa hơn, chỉn chu hơn, đó là việc sử dụng cán cân thanh toán quốc tế như là một công cụ quan trọng trong hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ và cơ chế tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước nói riêng và Chính phủ nói chung.

Người ta tự hỏi, phải chăng những khó khăn trong tính toán, thống kê, phân tích và dự báo những đại lượng kinh tế vĩ mô thể hiện trong bảng cán cân thanh toán là một trong những nguyên nhân chính gây nên sự thụ động, lúng túng của các cơ quan hữu quan trong thời gian qua trong việc điều hành chính sách tiền tệ?

Chẳng hạn, nếu như cán cân cơ bản (= cán cân vãng lai + cán cân vốn dài hạn) được dự báo là thặng dư, thì đó chính là hàm ý của một khả năng lên giá đồng nội tệ. Thế nhưng, tại sao cuối cùng lại là một sự thâm hụt lớn ngoài dự đoán của cán cân tổng thể, được xem là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm giá đồng nội tệ vào những ngày cuối tháng 11-2009?

Rõ ràng, chúng ta vẫn còn lúng túng và chồng chéo trong việc quản lý các nguồn vốn đầu tư gián tiếp. Việc phối hợp quản lý các luồng FDI, ODA, tín dụng xuất khẩu vẫn chưa thực sự thông suốt giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và một số cơ quan khác.

January 1, 2010

FDI’s 10 most outstanding features in 2009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:00 am
Tags: ,

VNBusinessNews.com – For the first time in the last five years, Vietnam experienced a decrease in foreign direct investment (FDI during 2009). Expansion plans by 72.94 percent of foreign invested enterprises (FIEs) are in the works, however, according to a poll conducted by the Vietnam Chamber of Commerce and Industry.

Here are the 10 most outstanding features in FDI picture, according to Thoi Bao Kinh Te Vietnam.

Prime Minister opens dialogue with foreign investors

On April 20, 2009, the Vietnam Business Forum took place in Hong Kong, where Vietnamese Prime Minister Nguyen Tan Dung spent nearly one hour to talk with foreign investors.

The forum connected Hanoi, HCM City, London (UK), Geneva (Switzerland), Tokyo (Japan) and Singapore, demonstrating the interest in Vietnam of the international community.

The PM emphasized that Vietnam attaches high importance to ODA (official development assistance) and FDI capital, which are the main capital sources for the development of Vietnam.

Foreign investors can access domestic capital sources

In April 2009, the Ministry of Planning and Investment and Vietcombank agreed to create the best conditions for foreign investors to access financial services at domestic banks.

The move is believed to support investment and promote foreign investment capital disbursement, especially in the crisis period.

Many investment licenses revoked

The withdrawal of Singaporean SP Chemicals (SPC) from an $11 billion project was a big event of 2009, but the petrochemical project is not alone. Many other investors have stopped their projects or delayed them due to difficulties in capital arrangement.

Japanese Riviera Corporation withdrew from the project on building Lotus Hotel in Hanoi, Luxembourg’s Coralis Group quitted the project on Hanoi City Complex

Bac Ninh province has reportedly revoked licenses for seven projects, Quang Nam five, Kien Giang three, Lam Dong one and Danang one project.

Problems in decentralization

The decentralization plan in licensing FDI projects has been set up to simplify procedures for investors, but led to fierce local competition to lure foreign investment. Provincial authorities have offered many incentives that sometimes exceed the parameters set by the Ministry of Planning and Investment.

Competition has also led to authorities easing conditions to lure investors, no matter the cost and burden to land, natural resources and infrastructure.

Decentralization has also spoiled the industries’ development plan. 24 steel projects have been developed, though they are not listed in the steel industry development strategy.

FDI projects cannot develop domestic industries

While many people criticize Vietnam’s policies for giving more incentives to foreign investors than to Vietnamese, FDI still cannot help develop domestic industries

The auto industry, for example, demonstrates that the existence of foreign-invested car manufacturers has not helped develop Vietnam’s auto industry.

Former Minister of Trade Truong Dinh Tuyen also noted that FDI projects have mostly gone to assembly industries using the cheap labour force of Vietnam.

Labourers for foreign invested enterprises – the hot issue

An investment promotion conference held in Ha Tinh province in September 2009 discussed only one issue: the labour force for FDI projects.

While more and more FDI projects are carried out, the number of workers and quality of the labour force has not been improved accordingly.

Ha Tinh, for example, needs 20,000 workers every year for projects and will require 119,000 labourers by 2015. Yet in the 2001-2008 period, Ha Tinh trained only 26,000 workers.

Foreign investment agency tasked with FDI programming

The Ministry of Planning and Investment decided in April to stipulate the functions, tasks and organization of the Foreign Investment Agency.

One of the most important tasks of the agency is to draft strategy and set up programmes and lists of projects calling for FDI.

Re-orienting FDI attraction

Vietnam announced its policy on FDI attraction in 2009. The country encourages investment in high-technology fields, supporting industries, farm produce processing and services which can bring high added value.

Vietnam will also prioritise investment in rural and remote areas.

FDI in education encouraged

The draft decree on cooperation with foreign partners in education encourages investment in training information technology, telecommunication, e-commerce, precise mechanical, environment protection, agriculture, tourism and power

In order to set up nursery education, investors must provide $1,000 per child, while the rate is $2,500 per student for general school, and total investment capital is $2.5 million at minimum.

As for university education, the minimum investment rate is $7,500 per student and minimum investment capital of $15 million.

Vietnam speeding up infrastructure investment

Poor infrastructure is always the biggest obstacle to attracting FDI.

PPP (public private partnership) is believed the solution to the problem. The Ministry of Planning and Investment said that the model would be used on a trial basis in some projects funded by the World Bank

Hướng FDI vào công nghiệp hỗ trợ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:27 am
Tags: ,
Đánh giá con số khoảng 21,4 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam năm 2009, ông Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, cam kết như vậy là cao.

Ông nhìn nhận thế nào về luồng vốn FDI năm 2009?

Cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay giảm rất nhiều so với năm ngoái, nhưng trong bối cảnh hiện tại, với hơn 21 tỷ USD vốn FDI năm 2009 đã chứng tỏ rằng, giới đầu tư tiếp tục nhìn vào tiềm năng dài hạn của Việt Nam.

Cụ thể hơn, nhìn vào số tiền chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam năm nay (khoảng 8 tỷ USD) cũng cho thấy năng lực của các nhà đầu tư khá “khoẻ”. Họ đang đầu tư cho lợi nhuận trong dài hạn, chứ không phải là hiện tại.

Tuy nhiên, dòng vốn FDI năm 2009 cũng nổi lên nhiều vấn đề.

Thứ nhất là, câu chuyện FDI gắn với phát triển bền vững và môi trường. Thứ hai là, FDI đóng góp cho ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định kinh tế của Việt Nam trong dài hạn như thế nào.

Việc FDI quá chú trọng vào khu vực bất động sản, khi khu vực này trồi sụt, nó gây nên những biến động không cần thiết, không đáng có và không tốt cho cả thị trường bất động sản và cả nền kinh tế vĩ mô.

Khi một lượng cam kết lớn đổ vào bất động sản, có thể thấy tiềm năng thị trường bất động sản của Việt Nam được đánh giá cao, nhưng mặt khác, cũng phải tính đến những rủi ro.

Bên cạnh đó, điểm yếu của Việt Nam trong thu hút FDI vẫn tiếp tục là kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có kỹ năng và khả năng quản lý tốt.

Thống kê cho thấy, trong năm 2009, đã có 7,6 tỷ USD đổ vào bất động sản, chỉ sau lĩnh vực lưu trú và ăn uống. Tại sao vậy, thưa ông?

Điều đó chứng tỏ rằng, tiềm năng thị trường bất động sản của Việt Nam rất tốt. Nhìn về dài hạn, Việt Nam đạt được tốc độ 7-8% trong 10 năm tới là hoàn toàn có thể. Kèm theo tốc độ tăng trưởng ấy là thu nhập tăng lên của tầng lớp trung lưu. Như vậy, thị trường bất động sản, đặc biệt là bất động sản du lịch thực sự là cơ hội để đầu tư.

Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn còn khoảng cách giữa cung và cầu trong lĩnh vực này. Cùng với đó là các cơ hội đầu tư bất động sản trong hệ thống phân phối, bán lẻ, văn phòng, bất động sản khu công nghiệp, kết cấu hạ tầng… Đây chính là những điểm hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài tới Việt Nam.

Nhưng hầu hết dự án chậm trễ lại tập trung chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản?

Các dự án trong lĩnh vực bất động sản có điểm phức tạp là liên quan đến quy hoạch, giải phóng mặt bằng, thiết kế xây dựng, huy động vốn… Với những khó khăn vốn bị coi là nút thắt của môi trường đầu tư Việt Nam, thì có những dự án bất động sản không thành công cũng là dễ hiểu.

Để điều chỉnh điều này, chính sách thu hút đầu tư trong lĩnh vực bất động sản cần phải được tính toán phù hợp với thực tiễn, để tránh tình trạng dự án treo do không giải phóng được mặt bằng. Đây là vấn đề thuộc về chính sách.

Ông đánh giá thế nào về xu hướng FDI sắp tới?

Về quan điểm, FDI nên được thu hút vào lĩnh vực dịch vụ, đầu tư cho sản xuất nâng cao chất lượng cạnh tranh cho nền kinh tế phát triển bền vững. Đây là vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm. Trong chừng mực nào đấy, thì những năm qua, tỷ trọng FDI dành cho bất động sản quá lớn. Dù tiềm năng của thị trường này rất lớn, song cần tính tới giải toả các nút thắt để hút thêm FDI vào công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến…

Chúng ta nhìn thấy sự dịch chuyển trong việc thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến và một số ngành dịch vụ khác. Ngành dịch vụ của Việt Nam vẫn còn chậm phát triển và như vậy còn nhiều dư địa để phát triển.

Đối với ngành công nghiệp chế biến, đang có cơ hội đẩy mạnh thu hút FDI, vì để tận dụng sự phát triển của hạ tầng (như Hành lang khu vực Đông Tây…). Hệ thống hạ tầng giao thông này sẽ tạo ra các khu vực công nghiệp, các vùng kinh tế. Chúng ta đang nhìn thấy sự dịch chuyển khi dòng vốn FDI Nhật Bản trong ngành chế biến lên phía Bắc. Họ đang đón đầu sự phát triển hạ tầng của Hành lang Kinh tế Trung Quốc – ASEAN…

Xu hướng thứ hai là các doanh nghiệp nhỏ và vừa của các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước châu Âu đang dịch chuyển tới các nước đang phát triển, do áp lực cạnh tranh trong nước tăng.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.