Ktetaichinh’s Blog

March 12, 2010

Canh bạc với hàng xóm- TQ và Lào


Thielke, Thilo

Ngày 11-1-2010

Trung quốc âm thầm dịch chuyển biên giới của họ xuống phía nam. Các nhà đầu tư từ quốc gia rộng lớn đông dân này thuê hẳn một thành phố và xua đuổi dân bản xứ.

George Huang đang phởn chí. Khi gã người Trung quốc này mở cửa sổ văn phòng rộng cỡ cái 2 ga-ra ra, cả một luồng không khí mát rượi ùa vào. Cuốn theo nó là tiếng ồn ào của máy ủi, tiếng đập thình thịch của máy nện và tiếng chói tai nhức óc của máy khoan cắt bê-tông. Du khách phương Tây nếu phải đến đây sẽ không thể chịu được, nhưng đối với Huang thì cái thứ âm thanh hỗn tạp ở thị trấn Bò thèn khỉ ho cò gáy sát biên giới Lào-Trung này lại là âm nhạc.

Gã doanh nhân đóng trong bộ đồ Tây kẻ sọc nhỏ, áo sơ-mi kẻ đen trắng và kravat xám màu. Từ bàn làm việc gã có thể phóng tầm mắt xa tít tới vùng đất đẹp thơ mộng đang dần biến thành công trường. Gã ta là sếp của cái thị trấn bắc Lào này, hay đúng hơn là Tổng Giám đốc công ty Golden Boten City Co. Ltd. Gã thích được gọi là Chủ tịch hơn, còn anh chàng gày gò luôn kè kè bên cạnh mỗi khi có đám khách ngoại quốc lạc vào đây được Huang gọi là Ngoại trưởng.

Mà mấy khi có khách ngoại quốc. Đơn giản bởi vì cái thị trấn Bò-thèn trên đất Lào này hoàn toàn có thể coi là đất Trung Quốc. Ngôn ngữ chính là tiếng Trung, biển hiệu toàn ký tự chữ Hán, thanh toán bằng Nhân dân tệ, đến cả giờ cũng là giờ Bắc Kinh chứ không phải giờ Vientian. Danh chính ngôn thuận thì đây là đất Lào, nhưng cái “thị trấn vàng” Bò-thèn với 21 cây số vuông Đặc quyền kinh tế này nằm chắc trong tay những người Trung quốc.

Những tay cò mồi của các quốc gia giàu có đang dòm ngó đất đai tại những nước đang phát triển. Dẫn đầu là Trung Quốc, họ đã có được những nông trường rộng lớn ở các nước như Sambia, Uganda hay Congo.

Nhưng đặc biệt ở Đông Nam Á hình thái mới của Chủ nghĩa thực dân này đang hiển diện ngày một rõ nét nhất. Tại chính đây Trung Quốc đang mở rộng bờ cõi bằng cách âm thầm di dời đường biên giới vào sâu trong đất của các quốc gia lân bang có chủ quyền.

Theo đánh giá của tổ chức Hợp tác Kỹ thật Đức GTZ thì riêng tại nước nhiệt đới cộng sản nghèo với vẻn vẹn sáu triệu dân này đã bị Trung Quốc đưa vào dự án khoảng 10 ngàn cây số vuông đất, cỡ 4 % diện tích của cả nước Lào. Khoảng chừng 15 % đất của Lào đã nằm trong tay các công ty nước ngoài, trong đó có cả của Việt Nam và Thái Lan.

Theo bản tin điện tử “Asia Time” thì: “Trung Quốc đã nắm trong tay phần lớn nền kinh tế Lào. Từ khai mỏ, thuỷ điện đến cao-su, từ bán lẻ đến dịch vụ khách sạn. Họ kiểm soát hầu hết các mảng trong nền kinh tế”. Ngay từ năm 2007, Trung quốc đã đầu tư hơn một tỷ dollar, chiếm 40 phần trăm tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Lào.

Chính quyền tỉnh Vân Nam Trung Quốc tiếp giáp với Lào đã có hẳn một chương trình cho sự nghiệp công nghiệp hoá miền bắc Lào cho tới năm 2020. Chương trình với cái tên “Dự án phương bắc” đã được đệ trình lên chính phủ Lào và chờ được sự phê chuẩn của đại hội đảng lần thứ 9 Đảng Cộng sản Lào. Dự án chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp then chốt như nông-lâm nghiệp cũng như điện, khai mỏ và du lịch.

Người Trung Quốc đã vào cuộc ngay từ bây giờ. Họ đang cho xây một khách sạn hoành tráng 700 giường Royal Jinlun Hotel, một casino 11 sảnh với một tốc độ chóng mặt.

Đồng thời họ cũng đang hoàn thành một khách sạn 700 giường khác, muộn nhất đầu tới phải xong, một sân golf, một đường đua xe, một công viên, một trường đua ngựa và một trường bắn thể thao. Bò-thèn đang phát – Huang khoe khoang; giờ hiện đang có 7000 người sống ở đây, nhưng không bao lâu nữa sẽ là 6 vạn nguời. Chúng tôi sẽ có đầy đủ khách sạn với tất cả các hạng giá cả. Ngay giờ chúng tôi đã không có đủ phòng để cho thuê.

Bò-thèn nay trở thành trốn truỵ lạc, người dân Lào không dám bén mảng đến đây nữa. Dân Lào bị cấm chơi cờ bạc và đến động mại dâm. Số ít người Lào còn sót lại nơi đây thì giữ khoảng cách với lũ thống trị mới đến từ phương bắc. Một chế độ Apartheid đang hiển diện ở miền bắc Lào.

Huang thì khẳng định còn ít nhất 20% dân số là người Lào gốc còn sống ở đây. Nhưng họ hầu như không xuất hiện. Nhưng tay công an và những chiếc xe cảnh sát không biển kiểm soát lo giữ an ninh trên đường phố đều đến từ Trung Hoa. Cũng như những đầu bếp chuyên gia chế biến thịt gấu hay những chị lao công, các cô váy ngắn đứng phát tờ rơi trước cửa khách sạn hay những tay hồ lì đóng bộ ngồi trong sòng bài đều đến từ đất nước rộng lớn này.

Đường dây điện thoại và đường điện được kéo đến từ Trung Quốc, ổ cắm điện Trung Quốc, bia Tsingtao và thuốc lá được nhập từ Trung Quốc. Ngay cả hải quan Lào cũng rút hẳn khỏi nơi đây, trạm hải quan không còn nằm tại biên giới Lào – Trung mà nằm phía nam của Bò-thèn. Dường như thị trấn này không còn thuộc về Lào nữa.

Phần lớn số dân Lào sau khi bị người Hoa chiếm đất phải sống cách đó 20 km trong khu tạm bợ bên lề con đường liên huyện. Ngay sau khi hợp đồng chuyển nhượng nhằm biến khu thị trấn thành ổ sòng bài được ký thì quân đội Lào được điều động đến.

Một cô gái tên Sida kể: “Quân đội chất chúng tôi lên những chiếc xe tải và thả chúng tôi xuống đây. Họ cấm chúng tôi quay trở lại thị trấn”. Cho một khởi đầu mới mỗi một người dân Bò-thèn được nhận trợ cấp 800 dollar. Nhưng số tiền không giúp họ được bao lâu.

Sida trong chiếc quần jeans lửng và áo T-shirt đỏ này có 3 đứa con phải nuôi. Cô bán Coca-cola, dép tông nhựa và hạt dưa rang. Chồng cô còn có việc làm trong mỏ muối còn sót lại ở Bò-thèn. Chẳng bao lâu nữa cái nghề truyền thống này cũng sẽ bị xoá sổ. Cách duy nhất còn lại để sống là họ phải di xuống phía nam, nơi đất Lào còn là của nguời Lào.

Người dịch: Lê Viết Linh

Lá thư kêu cứu và nỗi đau tê tái của cô dâu VN ở TQ 10/03/2010 06:02

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:32 pm
Tags: , , ,


(VTC News) – Những cô gái Việt Nam sang Trung Quốc theo đường không chính thức vào những năm 90 của thế kỉ trước giờ hầu hết đã sinh con. “Thế hệ thứ 2” của họ đã đến tuổi đi học, nhưng đều thuộc diện “3 không”: không có quốc tịch, không phải công dân, không có hộ khẩu. Những chuyện như xin học, xin việc, đều là những nỗi lo khôn xiết. Họ sống nhờ vào kẽ hở của pháp luật, tiền đề để con cái họ có được “danh phận” ở Trung Quốc là nhờ vào người chồng bản xứ. Đó chính là nỗi đau tê tái mà những cô dâu VN ở TQ đang phải gánh chịu.

» Trai TQ lấy vợ VN và lối “tự sướng” dối mình, dối người
» Tại sao đàn ông Trung Quốc “mê mẩn” vợ Việt Nam?
» Mạng Trung Quốc xôn xao chuyện “mua” vợ Việt Nam

Trừ thân phận là dân “3 không”, cô bé 14 tuổi Mạc Thủy Yến trông không có gì khác biệt so với bạn bè, thậm chí tiếng Bắc Kinh lưu loát của cô bé còn khiến hiệu trưởng ngạc nhiên và quý mến. Nhưng bản thân cô bé thì ngậm ngùi tự biết mình không giống với các bạn vì mẹ em, chị Trần Hồng Văn, là một người Việt Nam.

Hai người mẹ Việt Nam và những đứa con mang nửa dòng máu Trung Quốc


Mười mấy năm trước, vào khoảng giữa những năm 90, chị Trần Hồng Văn cũng như một số cô gái Việt Nam khác, vì cảnh nhà nghèo khó không đủ ăn đủ mặc nghe theo lời rủ rê, tìm đường sang Trung Quốc mưu sinh. Cắn răng bỏ ra số tiền tương đương 200 tệ, các chị được nhà thuyền đưa đến thành phố Đông Hưng ở phía nam Quảng Tây, rồi tự tản về các huyện thị ở khu vực Quảng Đông, Quảng Tây đi làm thuê, rồi hầu hết đều lấy chồng ở vùng núi phía tây tỉnh Quảng Đông.

Nhóm người này đến nay chưa có thống kê số lượng chính thức. Ở trấn Cao Lương, huyện Đức Khánh, thành phố Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông, chỉ riêng thôn Đại Đồng đã có đến mười mấy người; trong cả huyện có khoảng gần 100 người. Theo người dân cho biết, ở những huyện thị gần Quảng Tây như La Định, Úc Nam, Phong Khai… số lượng thậm chí còn nhiều hơn nữa.


Bức thư kêu cứu

Tháng 12 năm 2009, một bức thư nặc danh được gửi đến Nam phương nông thôn báo, kể lại thực trạng cuộc sống của những người này. Trong phần “kí tên” ghi là “Một người biết chuyện”; nét chữ ngay ngắn, ngôn từ khẩn thiết: “Chúng là những đứa trẻ đang hoặc sắp đến tuổi đi học, giờ đang hoặc sắp đến trường cùng bạn bè đồng trang lứa. Nhưng cha mẹ chúng thì vô cùng lo lắng, khổ tâm vì tương lai của chúng bởi lẽ đây là những đứa trẻ “bất hợp pháp” không được đăng kí hộ khẩu. Không có giấy tờ hợp pháp chứng minh thân phận, không biết sau này khi chuyển cấp, xin việc phải làm thế nào…”.


Những cô gái Việt Nam lấy chồng Trung Quốc sau khi có con đều biết đối mặt với thực tế, yên phận ở nhà chăm sóc con cái. Trong số họ, có những người mặc dù đã một vài lần về Việt Nam thăm người thân nhưng vẫn chưa lấy được đăng kí kết hôn hợp pháp. Đa phần họ cả năm làm lụng vất vả cũng chỉ tạm đủ duy trì cuộc sống hàng ngày. Có những người lấy chồng nhiều tuổi, thậm chí không còn khả năng lao động. Mười mấy năm trước, nhóm người này đã rời bỏ vùng quê nghèo khó để tìm đến một nơi mà họ nghĩ có thể ăn no mặc ấm, dù nơi đó cũng chỉ là những dãy núi cao trùng điệp.


Nguyễn Kim Hồng, năm nay 35 tuổi, năm 1999 theo một người chị họ đã lấy chồng Trung Quốc sang đây làm thuê, sau đó được giới thiệu lấy một nông dân ở thôn Đại Đồng là Từ Tiến Nguyên. Nói về cuộc nhân duyên của mình, người đàn ông râu tóc đã muối tiêu đến giờ không giấu nổi nụ cười: “Chỉ mất cho người mối 300 tệ. Năm đó 30 tuổi rồi, nhà thì nghèo, tìm không được vợ, lo muốn chết”. Khi phóng viên đến thăm, cả nhà họ Từ đang vui mừng hớn hở. Vườn quýt đường mà họ vất vả chăm sóc cả năm giờ đã cho trái lớn. Cha của Từ Tiến Nguyên vuốt râu kể lại: “Nếu không có con dâu, chắc tôi cũng không sống đến hôm nay. Con trai 30 tuổi còn lấy được người vợ như Kim Hồng, thật là phúc phận mà nhà họ Từ tu mấy kiếp mới có được”.


Khi phóng viên Nam phương nông thôn báo đến nhà họ Từ, chị Trần Hồng Văn, một người bạn Việt Nam của chị Nguyễn Kim Hồng, cũng đang ở đó. Tiếng cười của chị trong trẻo, vui vẻ. Chị kể bằng tiếng Quảng Đông lưu loát: “Hồi đó tôi vừa đen vừa gầy, gần 30 tuổi rồi ở Việt Nam khó lấy được chồng”. Năm 1995, sau 2 năm mổ gà thuê ở Trung Quốc, chị lấy anh Mạc Hồng Phân, 43 tuổi, ở thôn Giang Nam. Giờ đây, người chồng 58 tuổi ở nhà giữ mấy mẫu ruộng, còn chị thừa hưởng năng khiếu buôn bán của gia đình tại Hà Nội, dẫn theo con gái Mạc Thủy Yến đến trấn Cao Lương tiếp tục bán gà kiếm sống.


Chủ nhiệm thôn Giang Nam Lương Thụ Lâm cho biết, thôn này đã đón 10 cô gái Việt Nam. Ngoài hai cô vì nhà chồng quá nghèo nên đã bỏ đi nơi khác, những người còn lại đều ở lại thôn, sinh con đẻ cái, gánh vác với nhà chồng. Ông Đàm Vịnh, phó chủ nhiệm thôn Đại Đồngcho biết, có 15, 16 cô gái Việt lấy chồng ở đây, chừng hai chục đứa trẻ đến tuổi đi học trong diện “3 không”.


Những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung Quốc sớm đã được những tổ chức cơ sở ở thôn trấn mặc nhiên thừa nhận, nhưng để được hưởng chính sách hỗ trợ chính thức của chính phủ Trung Quốc lại gặp rất nhiều khó khăn. Nỗi lo lớn nhất của họ là vấn đề hộ khẩu của con cái và những vấn đề phát sinh theo đó: đi lại, chuyển cấp, xin việc… hầu như không có cách nào giải quyết.


Những đứa trẻ này có đủ cả cha lẫn mẹ, nhưng lại chưa được pháp luật công nhận


Trong nhà chị Nguyễn Kim Hồng, trên tường dán đầy giấy khen các loại. Mặc dù là trẻ diện “3 không” nhưng trong làng xóm vẫn cho phép 3 đứa con của chị Hồng được đi học. “Thôn cho một cái giấy chứng nhận còn các thầy cô trong trường đối xử với chúng không khác gì những đứa trẻ khác”, ông Đàm Vịnh cho biết.

Ông Lý Vĩ Cảnh, hiệu trưởng trường tiểu học La Dương, nói: “Các cháu cũng được hưởng giáo dục phổ cập miễn phí. Trừ việc không được nhận học bổng dành cho học sinh nghèo – vốn chiếu theo hộ khẩu hết sức chặt chẽ – thì ở giai đoạn giáo dục bắt buộc, các cháu diện “3 không” cũng không có gì khác biệt so với các cháu khác”.


Nhập hộ khẩu cho con cái: Bất khả thi!

Năm 1995, khi giải ngũ, anh Mạc Quốc Hoa ở thôn Giang Nam đã nhiều tuổi. và đã bỏ tiền tìm vợ Việt Nam. Giờ đây anh đã là cha của 2 đứa con. Năm 2007, anh đem giấy chứng sinh của con (có dấu xác nhận của thôn ủy) lên công an huyện để đăng kí hộ khẩu cho con là Mạc Chấn Hoàng nhưng “Công an nói không có chính sách này”. Lúc còn trẻ, bản thân anh đã từng muốn bỏ việc cày cuốc mà không được, giờ đây, có lẽ những đứa con không có hộ khẩu tương lai còn không bằng bố chúng! Cúi đầu rít một hơi thuốc thật sâu, anh buồn bã nói: “Lẽ nào con cháu họ Mạc từ nay đời đời là những đứa trẻ bất hợp pháp?”


Người cha Trung Quốc này cũng không có cách nào đưa tên con vào hộ khẩu


Những đứa con của Nguyễn Kim Hồng học hành giỏi giang là động lực để hai vợ chồng vượt khó vươn lên. Nhưng vấn đề hộ tịch ngày càng thắt chặt hơn khiến Từ Tiến Nguyên vô cùng khổ tâm: “Có đỗ đại học cũng không được học, liệu chúng có oán tôi cả đời không?”. Hiệu trưởng Lý Vĩ Cảnh phân tích hoàn cảnh của những đứa trẻ “3 không”: cha mẹ cho chúng cuộc sống, nhưng chính sách khó cho chúng danh phận. Theo luật Hôn nhân Trung Quốc, để được nhập hộ khẩu, phải theo trình tự thủ tục: cô dâu Việt về nước lấy chứng nhận tình trạng hôn nhân cùng hộ khẩu và các giấy tờ tùy thân chứng minh do cơ quan có thẩm quyền cấp, có hộ chiếu và Visa nhập cảnh Trung Quốc, con cái có giấy chứng sinh do bệnh viện ở Trung Quốc cấp”.

Tình hình thực tế là, đối với các gia đình ở vùng núi Quảng Đông, Quảng Tây, mỗi điều kể trên đối với họ đều vô cùng khó khăn. Chị Hoàng Hân, vợ anh Mạc Quốc Hoa ở đây đã 15 năm, chưa một lần về nước, đến liên lạc về nhà cũng không. “Về nước một chuyến cần rất nhiều tiền, nếu tôi đủ tiền để làm các giấy tờ đó thì đã không cần lấy vợ Việt Nam nữa rồi”, Mạc Quốc Hoa thổ lộ.


Ông Hà Quế Lai, chủ nhiệm ban xã hội thuộc Ủy ban huyện Đức Khánh cho biết: “Ở cơ quan đăng kí của huyện không có một cặp vợ chồng Việt – Trung nào đăng kí kết hôn”. Một người phụ trách ở công an huyện Đức Khánh nói, mấy năm trước họ từng đưa vấn đề này lên xin ý kiến của tỉnh. Khi đó, các cơ quan chức năng của tỉnh cho ý kiến chỉ đạo: Nếu có giấy chứng sinh có thể làm hộ khẩu, nhưng phải thỏa mãn 3 điều kiện: người cha thực sự mong muốn con ở lại trong nước, không vi phạm chính sách kế hoạch hóa gia đình; Người cha phải có xét nghiệm DNA để chứng minh quan hệ cha con với đứa trẻ được nhập hộ khẩu; Cuối cùng, về nguyên tắc, người vợ Việt Nam vẫn phải trở về nước.


Phó phòng tuyên truyền huyện ủy Đức Khánh Lý Xuân Vinh cũng cảm thấy đau đầu; ông biết rằng ở miền đất nghèo khó này những điều kể trên đều là bất khả thi – “Chính quyền địa phương cũng rất muốn giải quyết vấn đề này nhưng không thể đi ngược lại chính sách chung”.


Khi phóng viên Nam phương nông thôn báo hỏi Nguyễn Kim Hồng có lo bị bắt về nước không, chị quay đầu nhìn ra sân, lặng lẽ một lúc rồi khe khẽ đáp: “Tôi ở đây đã mười mấy năm rồi mà…”. Từ đó cho đến lúc phóng viên rời khỏi, chị Hồng lặng lẽ suy tư, không nói một lời nào nữa, kể cả một câu tạm biệt.


Nhưng những đứa con của chị thì vẫn đang chờ thoát khỏi số phận của trẻ “3 không”…


Đông Linh

March 7, 2010

Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:45 pm
Tags: , ,

Trương Tiểu Minh
Air War College
Montgomery, Alabama, Mỹ

Nguyên tác:
Xiaoming Zhang,

“China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment”
The China Quarterly, bộ 184, tháng 12 năm 2005, trang 851-874

Lời người dịch: Thấm thoát đã hơn 30 năm từ ngày cuộc chiến Việt-Trung nổ ra năm 1979, và mặc dù cả hai nước đều cho là mình đã thắng, số lượng tài liệu được Trung Quốc và Việt Nam công bố về cuộc chiến tranh này vẫn còn rất ít. Bài viết dưới đây của một học giả gốc người Trung Quốc (hiện giảng dạy tại trường Cao Đẳng Không Chiến (Air War College) thuộc Bộ Không Quân Mỹ) được đăng vào năm 2005 trên tờ China Quarterly, một tạp chí quốc tế có uy tín xuất bản tại Anh, là một công trình học thuật đáng chú ý về cuộc chiến tranh này. Để giữ sự trung thực so với nguyên bản, người dịch đã cố gắng truyền đạt cách diễn tả của tác giả. Khi đọc bài này, nhiều độc giả Việt Nam có thể sẽ cho rằng một số nhận xét của tác giả là rất chủ quan và nhiều vấn đề là khá nhạy cảm. Tuy nhiên bài viết này, ở mức độ nào đó, cung cấp nhiều thông tin đã được kiểm chứng và có giá trị sử liệu. Hy vọng bài viết này cũng tạo nên một sự thôi thúc để Trung Quốc, và đặc biệt là chính quyền Việt Nam, cung cấp thêm nhiều thông tin và bằng chứng để các nhà sử học cũng như thế hệ tương lai có một cái nhìn đầy đủ và chính xác hơn về cuộc chiến tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu này.

Mục đích của bài báo này là nhằm trình bày về cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam vào năm 1979. Bài báo nhắc lại những mối quan hệ lịch sử giữa Trung Quốc với Việt Nam và ảnh hưởng của những mối quan hệ này lên những toan tính chiến tranh của Bắc Kinh, cũng như vai trò của Đặng Tiểu Bình, chiến lược quân sự và sự chuẩn bị của Trung Quốc cho cuộc tấn công. Bài báo cũng chỉ ra cách thức tiến hành chiến tranh của Bắc Kinh mang màu sắc đặc thù Trung Quốc như thế nào: tính toán khi nào và sử dụng ra sao sức mạnh quân sự, mục tiêu quan trọng trong chiến tranh, và cơ sở trong việc nhận định về thắng lợi. Bài báo cũng điểm lại những hậu quả của cuộc xung đột ở cả hai lĩnh vực chính trị và quân sự, những bài học đã được rút tỉa dưới con mắt của chính người Trung Quốc.

Đầu năm 1979 Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam, theo cách nói của lãnh đạo Trung Quốc là để “dạy cho Việt Nam một bài học” nhớ đời. Mặc dầu Bắc Kinh tự cho là đã thắng lợi nhưng nói chung trong giới học giả vẫn tồn tại nhiều tranh cãi cho rằng cuộc chiến tranh đã không diễn ra như Trung Quốc mong đợi vì trong cuộc xung đột này Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (QGPND) đã tác chiến hết sức tồi tệ. Chính Trung Quốc chứ không phải Việt Nam đã rút ra một bài học từ cuộc chiến này. Các tài liệu của Trung Quốc về cuộc chiến tranh này vẫn được niêm phong rất cẩn mật do đó các thông tin về cuộc chiến không chỉ chắp vá chủ quan mà còn đáng ngờ về tính xác thực. Mặc dù đã có một ít tài liệu bằng tiếng Anh, nhưng phần nhiều chỉ là đồn đoán và không chính xác, lưu truyền không chính thức ở Hồng Kông và Đài Loan. Gần đây do việc kiểm soát thông tin của Bắc Kinh có phần lỏng lẻo hơn nên nhiều tài liệu lưu hành nội bộ về khả năng và kinh nghiệm của QGPND trong chiến tranh 1979 đã thấy xuất hiện rải rác trong các thư viện tại Mỹ và có thể truy cập trên Internet. Thêm vào đó, hồi ký của một số sĩ quan cao cấp Trung Quốc cũng đã cho thấy nhiều thông tin giá trị.

Dựa trên các tư liệu nghiên cứu của một số học giả hàng đầu, bài viết này cố gắng trình bày cái nhìn của người Trung Quốc đối với cuộc chiến Việt-Trung năm 1979. Đầu tiên là thảo luận về các mối quan hệ lịch sử giữa Trung Quốc và Việt Nam và ảnh hưởng của các mối quan hệ này trên quyết định tấn công Việt Nam của Bắc Kinh, cũng như vai trò của Đặng Tiểu Bình. Kế đến là xét lại vai trò của QGPND bao gồm chiến thuật, chiến lược của Trung Quốc cho cuộc xâm lăng và những quan điểm riêng của QGPND về vận hành bộ máy quân sự. Cuối cùng là điểm lại những tác động của cuộc xung đột, trên cả hai lĩnh vực chính trị cũng như quân sự, và những bài học rút ra bởi chính người Trung Quốc. Bài báo cũng đưa ra những dẫn chứng về cách thức tiến hành chiến tranh của Bắc Kinh, chỉ ra tính đặc thù kiểu Trung Quốc trong tác chiến: không ngần ngại sử dụng sức mạnh quân sự sau khi tính toán một cách cẩn thận khi nào và sử dụng ra sao; mục tiêu quan trọng của QGPND là giành và giữ thế chủ động trong tác chiến, và nền tảng cơ bản mà người Trung Quốc đã dựa vào đó để đánh giá thành công về mặt quân sự, đó là lợi thế địa chính trị hơn là hiệu suất tác chiến. Mặc dù đã bị người Việt Nam làm khốn đốn nhưng QGPND đã hoàn thành được mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh, buộc Việt Nam phải chia lửa cho phòng tuyến ở biên giới phía bắc, và buộc quốc gia này phải giảm phiêu lưu quân sự ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, QGPND vẫn chưa rút ra được bài học từ cuộc chiến tranh này, đó là truyền thống và triết lý quân sự của Trung Quốc đã quá lỗi thời, điều này có thể cản trở công cuộc hiện đại hóa thay đổi bộ mặt của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Yếu tố văn hóa lịch sử

Bắc Kinh và Hà Nội đã từng là đồng minh thân thiết kể từ cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào những năm đầu thập niên 1950. Thế thì tại sao sau đó nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa lại đi đến quyết định tiến hành chiến tranh với nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào cuối năm 1978? Theo lý lẽ của Bắc Kinh thì dường như nguyên nhân là do “giấc mộng xưng bá” của Hà Nội ở khu vực Đông Nam Á; gây hấn ở biên giới với Trung Quốc và xâm phạm vào lãnh thổ của Trung Quốc; ngược đãi người Hoa ở Việt Nam; đi theo Liên Xô trong lúc nước này đang muốn mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Các nhà quan sát vào thời điểm đó và nhiều nghiên cứu sau này cho rằng mục tiêu hàng đầu của Bắc Kinh là làm giảm bớt áp lực quân sự lên Campuchia, buộc quân đội Việt Nam phải chia lửa ở mặt trận thứ hai. Robert Ross (học giả người Mỹ, hiện là giáo sư ở Boston College – ND) thì cho rằng việc Trung Quốc sử dụng quân đội chống lại Việt Nam không phải là phản ứng trước sự bành trướng của Hà Nội ở Đông Dương mà là phản ứng trước sự về hùa của Việt Nam với Liên Xô nhằm bao vây Trung Quốc từ Đông Nam Á. Những nghiên cứu khác lại cho rằng Trung Quốc hành động như thế để làm mất thể diện của Liên Xô, nước đang đóng vai trò như một đồng minh tin cậy của Hà Nội trong trường hợp xảy ra khủng hoảng.

Trong một nghiên cứu về mối quan hệ của Bắc Kinh với Hà Nội trước chiến thắng 1975, Trại Cường (Zhai Qiang) tác giả cuốn China and the Vietnam Wars, 1950-1975 — ND) đã cho rằng “chính sách thực dụng không chỉ là lời nói suông” được phát đi từ các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đề cập đến các mối quan hệ quốc tế. Mặc dầu họ tuyên bố chính họ là những môn đồ của chủ nghĩa quốc tế Mác-Lênin song họ lại kế thừa hoàn toàn cái di sản lịch sử của Trung Hoa: quan niệm Đại Hán theo đó Trung Quốc là cái nôi của thế giới. Các quốc gia nhỏ bé khác bên ngoài Trung Quốc, trong đó có Việt Nam, là man di và phải là những chư hầu trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc. Mặt khác, “niềm kiêu hãnh lịch sử và độ nhạy cảm văn hóa” là nhân tố chính có ảnh hưởng đến thái độ của người Việt Nam đối với Trung Quốc. Suốt chiều dài lịch sử của mình, người Việt Nam đã thích thú khi vay mượn và bắt chước nền văn minh cũng như thể chế Trung Quốc để làm nên bản sắc riêng, nhưng họ lại rất sắt đá trong việc bảo tồn di sản văn hóa và nền độc lập của họ. Họ yêu cầu Trung Quốc giúp đỡ khi gặp khó khăn nội bộ, nhưng khi họ giành được tự do và thống nhất đất nước thì họ lại quay ra thù địch với Trung Quốc. Những hình ảnh được khắc ghi trong lòng các lãnh tụ và nhân dân hai nước về tình hữu nghị giữa hai quốc gia dường như đã đóng một vai trò đáng kể trong quyết định của Bắc Kinh khi tiến hành cuộc tấn công trừng phạt chống lại Việt Nam.

Từ đầu những năm 1950, Trung Quốc đã là người hậu thuẫn mạnh mẽ của Hà Nội trên cả hai lĩnh vực quân sự lẫn chính trị. Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng chống lại Pháp và đánh đuổi xâm lược Mỹ. Những nghiên cứu ngày nay đã chỉ ra rằng chính sách của Trung Quốc dành cho Hà Nội trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương đầu tiên là xuất phát từ việc cân nhắc nhiều mặt từ truyền thống lịch sử đến ý thức hệ cách mạng và an ninh quốc gia. Tuy nhiên, thái độ bề trên của Bắc Kinh vẫn thống trị tư tưởng của họ trong quan hệ với Việt Nam. Mặc dầu các lãnh tụ Trung Quốc lặp đi lặp lại tuyên bố rằng Việt Nam sẽ được đối xử “bình đẳng” nhưng Trần Kiên (Chen Jian) lại thấy rằng chính những phát biểu hùng biện đó đã phản ảnh niềm tin mạnh mẽ rằng “họ đã nắm được vị thế để có thể chi phối mọi quan hệ với các nước láng giềng”. Bắc Kinh luôn nói rằng họ không bao giờ gây sức ép về chính trị và kinh tế thông qua viện trợ vật chất và quân sự khổng lồ cho Hà Nội, nhưng họ lại muốn Hà Nội phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Trung Quốc đối với phong trào giải phóng dân tộc trong khu vực và trên thế giới. Thái độ này của Trung Quốc đã khiến Việt Nam, một quốc gia rất nhạy cảm với quá khứ đầy rẫy những rắc rối với Trung Hoa, trở nên tức giận. Mặc dầu có lúc Bắc Kinh và Hà Nội gọi nhau là “những người đồng chí anh em” nhưng sự thật thì mối ác cảm của người Việt Nam đối với Trung Quốc đã được Bắc Kinh nhận thức một cách rõ ràng

Một tài liệu của Trung Quốc đề cập đến chiến tranh 1979 đã ghi lại những hoạt động được coi là thù nghịch của Việt Nam từ sau năm 1975 đã làm tổn thương mạnh đến quan niệm bề trên của người Trung Quốc. Bộ Chính Trị Việt Nam đã thông qua một chính sách coi đế quốc Mỹ là kẻ thù lâu dài nhưng lại coi Trung Quốc là “kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp nhất”, và là “kẻ thù tiềm năng mới” mà Việt Nam phải chuẩn bị để chiến đấu. Trong một phản ứng với Trung Quốc, Chủ nhiệm tổng cục chính trị của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã nhấn mạnh rằng các lực lượng vũ trang Việt Nam sẽ phải tiến hành một cuộc tổng tiến công quân Trung Quốc, chủ động tấn công và phản công đánh đuổi kẻ thù bên trong và thậm chí cả bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, và biến cả miền biên giới thành mặt trận chống Tàu. Thái độ coi thường của Việt Nam đối với QGPND và sự cả tin vào sức mạnh quân sự của mình đã là chất xúc tác thúc đẩy quân đội Trung Quốc tiến hành chiến tranh. Lực lượng chiến đấu đã được tôi luyện của QĐND Việt Nam đã tham gia tác chiến hầu như liên tục trong nhiều thập kỷ và đã chiến thắng được hai cường quốc lớn phương Tây. Trong khi đó các chuyên gia Việt Nam cho rằng khả năng và tinh thần chiến đấu của QGPND là thấp kém và hạn chế. QĐND Việt Nam rất tự hào với vũ khí của Nga và các trang thiết bị quân sự thu hồi của Mỹ. Theo các hãng truyền thông của Việt Nam các vũ khí đó hơn hẳn với bất kỳ trang bị nào của QGPND.

Trong hơn hai mươi năm Trung Quốc đã viện trợ cho Hà Nội trên 20 tỷ đô la Mỹ, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Khi Việt Nam bắt đầu ép buộc người Hoa ở miền bắc hồi cư và gia tăng bạo lực trên biên giới với Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc đã cho rằng Hà Nội vong ơn bội nghĩa trước những giúp đỡ và hy sinh của Trung Quốc. Những người Trung Quốc đã từng giúp đỡ những người cộng sản Việt Nam trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ đã cảm thấy như bị phản bội và đã hăm hở để “dạy cho Việt Nam bài học”. Trong số đó có Đặng Tiểu Bình, phó thủ tướng và là tổng tham mưu trưởng QGPND. Họ Đặng đã tỏ ra bực mình với thái độ khiếm nhã của Việt Nam đối với những giúp đỡ của Trung Quốc đã được sử sách ghi chép từ giữa những năm 1960. Sự thù nghịch giữa hai nước đã tăng mạnh vào cuối những năm 1970, và ngày càng trở nên nhạy cảm, thậm chí đã có lúc Việt Nam được Trung Quốc gọi là đồ khốn nạn (wangbadan) trước một nhà lãnh đạo nước ngoài. Các nhà lý luận quân sự nói chung đều nhất trí rằng tình trạng “thù nghịch ở cả hai phía, giận dữ và căm thù đã hình thành và ngày càng sôi sục”. Sự láo xược của Việt Nam thể hiện qua những va chạm dọc biên giới mỗi ngày một tăng và sự ra đi ồ ạt của Hoa kiều đã tác động mạnh lên quyết định dùng vũ lực của các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự.

Động thái của Trung Quốc trước cuộc tấn công

Vẫn chưa có những tài liệu chắc chắn nào cho thấy lúc nào và như thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định tiến hành chiến tranh chống Việt Nam. Nayan Chanda, phóng viên Đông Nam Á kỳ cựu của Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông đã chỉ đưa ra được vài chi tiết cho rằng cấp lãnh đạo Trung Quốc đã ra quyết định “dạy cho Việt Nam bài học” vì thái độ “vô ơn và ngạo mạn” trong một cuộc họp Bộ Chính Trị hàng tuần vào đầu tháng Bảy năm 1978. Tuy nhiên ông ta lại cho rằng trong cuộc họp đó cấp lãnh đạo Trung Quốc, khi thông qua quyết định tấn công Việt Nam, có vẻ như họ đã được thuyết phục rằng việc này chỉ để nhằm “làm suy yếu vị thế của Xô-viết trong thế giới thứ ba”. Các nguồn tin mới đây từ Trung Quốc thì lại giả thiết rằng sự tính toán đến các phản ứng quân sự đối với cuộc khủng hoảng giữa Việt Nam và Trung Quốc là một quá trình hết sức chậm chạp vì khá lâu sau đó cũng không có một quyết định nào được thông qua. Hơn nữa, cuộc chiến khởi đầu được coi như là một xung đột cục bộ giữa hai nước chứ không phải là một phần của chiến lược chống bá quyền toàn cầu của Trung Quốc. Trong những năm đầu của thời kỳ hậu Mao, Bắc Kinh áp dụng chính sách lãnh đạo thừa kế. Chính sách lãnh đạo thừa kế này liên quan đến việc gia hạn năm công tác với chức năng tư vấn không chính thức cho các lãnh tụ cao cấp và các cấp thấp hơn như các viên chức chính phủ và sĩ quan quân đội để họ đảm nhận các vấn đề trước khi có quyết định cuối cùng.

Chu Đức Li (Zhou Deli), tham mưu trưởng quân khu Quảng Châu, kể lại rằng vào tháng Chín năm 1978 đã có một cuộc họp được tổ chức trong bộ tổng tham mưu QGPND bàn về vấn đề “làm sao đối phó với nạn xâm chiếm lãnh thổ của quân đội Việt Nam”. Mối quan tâm ban đầu là vấn đề xung đột biên giới. Vấn đề này lúc đó đã được coi như nguyên nhân chính dẫn đến căng thẳng ngày càng gia tăng giữa hai nước từ năm 1976.

Một đề xuất sơ bộ đề nghị tiến hành một chiến dịch quy mô nhỏ nhằm vào một trung đoàn bộ đội địa phương thuộc huyện Trùng Khánh của Việt Nam nằm sát đường biên giới với tỉnh Quảng Tây. Tuy nhiên, sau khi một báo cáo của tình báo cho biết cuộc xâm lăng Campuchia của Việt Nam sắp xảy ra thì đa số người tham gia đều đồng ý rằng bất kỳ một hành động quân sự nào được tiến hành cũng đều phải gây được ảnh hưởng đáng kể với Hà Nội và tình hình ở Đông Nam Á. Mọi người đều khuyến cáo phải tiến công vào các đơn vị quân đội chính quy của Việt Nam trên một địa hình rộng lớn. Mặc dầu cuộc họp kết thúc mà không đưa ra bất cứ quyết định cụ thể nào nhưng nó đã cho thấy hình hài của một kế hoạch chiến tranh có thể xảy ra của Trung Quốc nhằm vào Hà Nội và có thể nó là những bằng chứng đầu tiên có liên quan đến những hoạt động quân sự của Trung Quốc trên biên giới phía bắc của Việt Nam nhằm tạo áp lực lên thái độ được coi là hiếu chiến của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á.

Tuy nhiên, một chiến dịch quân sự quy mô lớn có thể làm xấu đi hình ảnh của Trung Quốc trên trường quốc tế trong khu vực lẫn thế giới. Họ Đặng đã lập kế hoạch thăm chính thức Thái Lan, Mã Lai và Sinh-ga-po vào đầu tháng 11 năm 1978 nhằm dò xét và tìm sự hậu thuẫn của các nước này đối với chính sách của Trung Quốc lên Việt Nam. Trong chuyến thăm viếng, Đặng đã thuyết phục các nước chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực chống lại sự xâm lược của Việt Nam nếu nước này tấn công Campuchia. Trong nước, các phương tiện truyền thông đều đăng xã luận và bình luận về việc trừng phạt sự xâm lăng của Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc và cảnh báo về một sự trả đũa có thể xảy ra.

Ngày 23 tháng 11 năm 1978, Bộ Tổng Tham Mưu Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp khác. Tại đây một kịch bản mới về chiến tranh đã được bàn bạc kỹ lưỡng. Sau khi cân nhắc các khuyến cáo trước đó, Bộ Tổng Tham Mưu đã quyết định mở rộng quy mô và thời gian của chiến dịch. Các kế hoạch đã nhằm vào các vị trí quân sự chính của Việt Nam và các thành phố bên kia biên giới của Vân Nam và Quảng Tây như các mục tiêu cần tấn công, ngăn chặn nhằm làm nhụt ý chí xâm lược của Việt Nam. Có một số ý kiến cho rằng các chiến dịch như thế không đủ rộng lớn vì mới chỉ đến các vùng hẻo lánh và không đủ sức răn đe tức thời Hà Nội. Tuy nhiên cuối cùng không có sự phản đối vì họ cho rằng ban lãnh đạo Trung ương đã cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề. Cuộc họp chỉ định hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh sẽ thực hiện chiến dịch này. Ngoài ra cuộc họp cũng khuyến cáo về việc chuyển giao một lực lượng dự bị chiến lược QGPND bao gồm 4 quân đoàn và 1 sư đoàn lấy từ quân khu Vũ Hán và Thành Đô để củng cố cho mặt trận Quảng Tây và Vân Nam.

Ngày 7 tháng 12 năm 1978, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp, kéo dài khoảng 4 đến 5 giờ và quyết định phát động một cuộc chiến tranh hạn chế trên tuyến biên giới phía nam Trung Quốc để “giáng trả” Việt Nam. Ngày kế tiếp là việc chỉ thị cho hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch quân sự này với các đơn vị đã sẵn sàng chiến đấu từ ngày 10 tháng Giêng năm 1979. Chỉ thị này nêu rõ cuộc chiến tranh được hạn chế nghiêm ngặt trong vòng bán kính 50km từ đường biên giới và kéo dài trong 2 tuần. Binh pháp truyền thống của QGPND đã được nhấn mạnh đó là việc dùng hai đội quân nhằm “Tập trung biển người để bao vây quân địch từ hai bên sườn nhằm tiêu diệt từng bộ phận quân địch bằng những trận đánh hủy diệt theo phương thức đánh nhanh rút gọn”. Tuy thời điểm cho mệnh lệnh này được hiểu là Trung Quốc phản ứng lại với sự xâm lăng Campuchia sắp xảy ra của Việt Nam, nhưng bằng cách dựng lên một chiến dịch quân sự lớn thậm chí trước khi quân đội Việt Nam vượt sông Mê-kông cũng đã thể hiện sự giận dữ từ nhiều năm do thái độ vô ơn của Việt Nam gây nên.

Đặng Tiểu Bình ra quyết định

Mặc dầu cỗ máy chiến tranh của Trung Quốc đã được khởi động từ đầu tháng 12 năm 1978, nhưng ngày tấn công chính xác vẫn chưa được ấn định. Những nghiên cứu ban đầu đã suy diễn rằng quyết định tấn công của Bắc Kinh đã xuất hiện từ Hội Nghị Công Tác Trung Ương vào khoảng 10 tháng 11 đến 15 tháng 12 năm 1978. Thực tế, cuộc họp này đã kêu gọi xem xét một nghị trình cải cách kinh tế trong vòng 10 năm, chấm dứt việc đề cập đến những di sản của Cách Mạng Văn Hóa. Đến nay vẫn chưa được biết là đã có cuộc thảo luận quan trọng về tình hình Đông Dương hay không. Tuy thế, cuộc họp đã củng cố vị trí của họ Đặng trong ban lãnh đạo, cho phép ông ta, dù chỉ là một trong năm phó chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nhưng kiêm chức Tổng tham mưu trưởng quân đội, trở thành người ra quyết định về vấn đề Việt Nam.

Trong cuộc họp Quân ủy Trung ương vào trước đầu năm Dương lịch, họ Đặng đã chính thức đề xuất một cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam. Tất cả những người tham gia cuộc họp bao gồm cả chủ tịch ĐCSTQ Hoa Quốc Phong, theo như báo chí đã đưa tin, cũng ủng hộ đề xuất này. Cũng tại cuộc họp này Đặng đã chỉ định Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou) làm chỉ huy chiến dịch ở đông Quảng Tây và Dương Đức Chí (Yang Dezhi), tư lệnh quân khu Vũ Hán, chỉ huy ở miền tây Vân Nam, không dùng Vương Tất Thành (Wang Bicheng), tư lệnh quân khu Côn Minh. Để đáp ứng với việc thay đổi các cấp chỉ huy chiến trường, Đặng đã cử hai phó tổng tham mưu trưởng của ông ta đến Côn Minh để giám sát việc chuyển giao quyền lực và chuẩn bị chiến tranh. Không có một bộ tư lệnh trung tâm, hai quân khu sẽ tiến hành chiến đấu một cách độc lập không có phối hợp hoặc hiệp đồng. Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc tấn công phải được tiến hành chớp nhoáng và tất cả các đơn vị phải rút về sau khi đạt được mục tiêu của chiến dịch.

Các tài liệu hiện nay đều đưa ra giả thiết là có một vài lãnh tụ Trung Quốc đã phản đối việc tấn công Việt Nam, nhưng các tài liệu đó đã không thống nhất được là những lãnh tụ nào đã phản đối và phản đối theo hình thức nào. Khi Đặng đã là kiến trúc sư trưởng của kịch bản thì khó có ai dám thách thức được quyết định của ông ta, một con người đầy uy tín cũng như thâm niên trong đảng. Kiểm soát được Bộ Tổng Tham Mưu Đặng đã có được các phương tiện thuận lợi nhất để thúc cỗ máy chiến tranh của Trung Quốc vận hành trước khi ban lãnh đạo Trung ương đưa ra một quyết định chính thức. Hành động giống như Mao, Đặng đã tham khảo ý kiến của các đồng sự tin cậy trong chỗ riêng tư trước khi ra quyết định và sau đó chỉ thực hiện quyết định khi đã có sự tán thành của Bộ Chính Trị. Một trong những đồng sự gần gũi nhất của Đặng là Trần Vân (Chen Yun), một phó chủ tịch khác của ĐCSTQ và cán bộ trung kiên của đảng, đã có những đóng góp quan trọng cho quyết định tấn công Việt Nam.

Có một số quan tâm hàng đầu trong Bộ Chính Trị: liệu Liên Xô có phản ứng bằng cách tấn công từ phía bắc khiến quân đội Trung Quốc phải chiến đấu trên hai mặt trận; liệu Liên Xô có nhân cơ hội để trục lợi từ tình hình chăng? Thế giới sẽ phản ứng lại thế nào? Và liệu chiến tranh với Việt Nam có làm trở ngại đến nghị trình mới của Trung Quốc là hiện đại hóa nền kinh tế? Mối lo lớn nhất là phản ứng của Liên Xô. Theo các phân tích tình báo của Bộ Tổng Tham Mưu, Matx-cơ-va có thể sẽ tung ra 3 chiến dịch quân sự nhằm đáp trả cuộc xâm lăng của Trung Quốc và Việt Nam: một cuộc đột kích quân sự lớn bao gồm cả tấn công trực diện vào thủ đô Bắc Kinh; xúi giục các phần tử dân tộc thiểu số có vũ trang đang lưu vong ở Liên Xô quay về tấn công vào các tiền đồn Trung Quốc ở Tân Cương (Xinjiang) và Nội Mông (Inner Mongolia); hoặc sử dụng các cuộc giao tranh nhỏ gây ra sự căng thẳng biên giới giữa hai nước. Tuy nhiên, khi mà Liên Xô chưa có lực lượng đầy đủ để tiến hành bất cứ các hoạt động quân sự lớn nào chống lại Trung Quốc một cách ngay lập tức thì các lãnh tụ đảng, đặc biệt là Đặng, đã tin rằng một cuộc chiến tranh vào Việt Nam chớp nhoáng, có giới hạn, và mang tính tự vệ sẽ không kích thích đủ sự can thiệp của Matx-cơ-va hay một làn sóng phản đối quốc tế nào. Hai cuộc xung đột biên giới trước đó với Ấn Độ (1962) và Liên Xô (1969) đã minh chứng cho lập luận này. Ý định về một cuộc chiến tranh nhanh gọn cũng đã thuyết phục được một số phản đối trong nội bộ và biện hộ cho sự lựa chọn chính sách của Bắc Kinh. Tuy nhiên các lãnh tụ Trung Quốc cũng không dám lơ là cảnh giác bằng cách đồng thời ra lệnh cho các đơn vị quân đội ở các quân khu miền bắc và tây bắc luôn ở vào tư thế sẵn sàng chiến đấu trong trường hợp Liên Xô tấn công.

Cuộc họp vào ngày lễ Giáng Sinh đã quyết định hoãn lại thời điểm tấn công Việt Nam. Các nhà phân tích phương Tây đã cho rằng lý do Bắc Kinh vẫn còn đắn đo là vì lo sợ phản ứng quốc tế. Chuyến công du nằm trong kế hoạch của Đặng đến Mỹ và Nhật đã được thu xếp để “thăm dò phản ứng dư luận”. Tuy nhiên những đồng sự thân cận của Đặng đã cho rằng ngay cả những sự chống đối của quốc tế, nếu có, cũng không ngăn cản được ông ta vì Đặng chưa bao giờ nhân nhượng bất cứ điều gì một khi ông ta đã quyết. Các lãnh tụ Trung Quốc cũng rất lo lắng vì không biết lực lượng của họ có đủ thời gian để chuẩn bị đầy đủ cho cuộc chiến tranh hay không. Binh lính Trung Quốc chưa tham gia vào bất cứ cuộc chiến tranh lâu dài nào, trong khi nhiều người trong quân đội không thể hiểu được vì sao cuộc chiến sắp xảy ra lại nhằm vào một đồng minh truyền thống và là một quốc gia láng giềng nhỏ bé. Không lâu sau cuộc họp lễ Giáng Sinh, Đặng đã cử Dương Vĩnh (Yang Yong), tổng tham mưu phó, và Trương Chân (Zhang Zhen), chủ nhiệm tổng cục hậu cần lần lượt đến Vân Nam và Quảng Tây để thị sát điều kiện chiến đấu của bộ đội. Lo sợ binh lính chưa sẵn sàng chiến đấu, Trương đã lập tức đề nghị hoãn cuộc chiến lại một tháng. Sau này ông ta có kể lại rằng Quân ủy Trung ương đã đồng ý để lùi thời gian tấn công lại đến giữa tháng Hai. Dương đã làm một báo cáo trong đó có những đề xuất về kế hoạch cho chiến tranh, để trình bày ngày 22 tháng Giêng tại tư gia của họ Đặng trước sự hiện diện của các lãnh tụ chủ chốt của Quân ủy Trung ương. Có thể trong cuộc họp này các lãnh tụ Trung Quốc đã tái khẳng định quyết định tấn công của họ và định ra một khung thời gian cho “ngày N”. Ngày tiếp theo, Bộ Tổng Tham Mưu lại tổ chức một cuộc họp khác, tại đây kế hoạch chiến tranh được thông qua lần cuối và quân đội được lệnh sẵn sàng khởi sự vào ngày 12 tháng Hai. Để đề phòng tình hình có thể vượt ngoài tầm kiểm soát, ban lãnh đạo Trung ương đã yêu cầu Hứa Thế Hữu phải dừng ngay các chiến dịch quân sự và rút lui ngay khi quân đội của ông ta chiếm được Lạng Sơn và Cao Bằng là hai thành phố chính

của Việt Nam nằm gần biên giới.

Ngày 11 tháng Hai 1979, hai ngày sau khi Đặng trở về Bắc Kinh từ chuyến đi Mỹ và Nhật, cuộc họp Bộ Chính Trị mở rộng đã được triệu tập. Đặng trình bày rõ ràng lý do căn bản để đánh Việt Nam, và sau đó mệnh lệnh phát động cuộc tấn công Việt Nam vào ngày 17 tháng Hai năm 1979 đã được gửi tới các tư lệnh quân khu Quảng Tây và Vân Nam. Đây là ngày họp mà các thành phần không phải chủ chốt được tham dự lâu trong đó một số lý lẽ được đưa đẩy rằng thời điểm tấn công có thể liên quan mật thiết đến yếu tố thời tiết: vào mùa mưa, thường từ tháng Tư trở đi, nó có thể bất lợi cho việc tiến hành các chiến dịch quân sự, hoặc nếu tấn công sớm quá thì quân đội Liên Xô có thể dễ dàng vượt qua những con sông dọc biên giới Trung-Xô khi đó đang còn đóng băng. Đặng và các lãnh tụ khác đã tính toán một cách cẩn thận tất cả các khả năng có thể có một khi quân đội của họ đã vượt qua biên giới Việt Nam. Họ đã giới hạn phạm vi, thời gian, và không gian cho một cuộc chiến tranh đã được gắn cái tên là “cuộc phản công tự vệ” để cố gắng giảm thiểu những phản ứng tiêu cực từ trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, khi chiến tranh đã nổ ra, Đặng vẫn theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến xảy ra, vẫn ban hành những chỉ thị và mệnh lệnh đặc biệt (điều này khác hẳn với phong cách lãnh tụ của Mao).

Gerald Segal (tác giả cuốn Trung Hoa tự vệ-ND) cho rằng động cơ đầu tiên của Trung Quốc khi tấn công Việt Nam là nhằm ngăn chặn tham vọng và ý đồ xâm lăng Đông Nam Á cùng với mối đe dọa của Việt Nam đang nhằm vào an ninh của Trung Quốc, lật tẩy sự nhu nhược của Liên Xô. Nhưng tính toán chính trị sai lầm đã cho thấy rằng các lãnh tụ Trung Quốc đã đặt chính họ vào thế khó khăn khi xây dựng một chiến lược trừng phạt Việt Nam mà không bao giờ có cơ hội thành công. Ý đồ đã được tuyên bố của Trung Quốc là “dạy cho Việt Nam bài học” đã biến mục tiêu hàng đầu của cuộc chiến tranh thành một “hành động trả thù”. Từ đầu, Bắc Kinh đã giới hạn mục đích và chỉ đạo để cuộc chiến không vượt quá giới hạn của một cuộc xung đột biên giới tay đôi. Bộ chỉ huy quân sự ở Quảng Châu và Côn Minh được yêu cầu phải xây dựng các chiến lược tác chiến sao cho không chỉ hoàn thành mục tiêu là trừng phạt mà còn phải giới hạn chiến sự về thời gian lẫn không gian.

Câu hỏi thực tế cho những người lập kế hoạch quân sự Trung Quốc địa phương là đến chừng mực nào thì mục tiêu dạy cho Việt Nam bài học mới đạt được và đo lường được. Phương thức tác chiến thông thường của QGPND luôn luôn tạo nên một áp lực đặc biệt trong vấn đề tiêu diệt sinh lực địch (yousheng liliang). Một trong những truyền thống tác chiến của QGPND là chiến thuật biển người để đảm bảo thắng lợi. Khoảng giữa tháng Giêng 1979 hơn một phần tư quân đội thường trực của QGPND đã được đưa đến biên giới Trung-Việt, tổng cộng khoảng hơn 320.000. Theo kinh nghiệm chiến đấu của mình và dựa trên các bài bản chiến thuật của QGPND trong quá khứ, Hứa Thế Hữu đã trả lời những yêu cầu chiến tranh của ban lãnh đạo Trung ương bằng một chiến thuật gọi là niudao shaji (ngưu đao sát kê – dùng dao mổ trâu để cắt tiết con gà). Nguyên tắc chủ đạo khi giao chiến gồm ba điểm: tập trung tấn công vào vị trí quan trọng nhưng không phải điểm mạnh của quân địch; sử dụng lực lượng và hỏa lực áp đảo (tiền pháo hậu xung) để đập tan hàng phòng ngự của địch tại những những điểm mấu chốt; các đơn vị xung kích phải hết sức nhanh chóng thọc sâu và tấn công tất cả các con đường dẫn đến sào huyệt kẻ thù. Theo cách này Hứa tin rằng quân đội của ông ta có thể cắt nhỏ hệ thống phòng thủ của Việt Nam thành từng mảnh, đập tan mọi sự kháng cự, và sau đó tiêu diệt hết quân địch.

Theo tinh thần và chiến thuật đó, các quân khu Quảng Châu và Côn Minh đã xây dựng những kế hoạch tác chiến riêng của họ trong đó nhấn mạnh đến việc tiêu diệt các sư đoàn quân chính quy của Việt Nam dọc biên giới Trung-Việt. Chiến tranh có thể chia thành hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, hai mũi nhọn tấn công và Cao Bằng và Lào Cai nhằm bao vây và tiêu diệt các sư đoàn của quân đội Việt Nam tại đó đồng thời phát động các cuộc tấn công ở Đồng Đăng để ly gián Hà Nội về mục tiêu chiến tranh của Trung Quốc. Sau đó lực lượng QGPND ở Quảng Tây sẽ tập trung tấn công vào Lạng Sơn trong khi các cánh quân bạn ở Vân Nam sẽ giao chiến với sư đoàn quân Việt Nam ở Sa Pa. Tổng cộng 8 quân đoàn QGPND sẽ đồng thời tham gia tác chiến, một quân đoàn được giữ lại làm lực lượng trừ bị.

Bắc Kinh cũng tính đến khả năng tham chiến của không quân. Không quân của QGPND sẽ cam kết dùng 18 trung đoàn và 6 phi đội tăng phái để chuẩn bị hỗ trợ cho các chiến dịch mặt đất. Để tránh leo thang xung đột, Quân ủy Trung ương ra lệnh không lực chỉ trợ chiến bên trong lãnh thổ Trung Quốc, trong khi đó lại ra lệnh các đơn vị không quân sẵn sàng yểm hộ cho các chiến dịch dưới đất “nếu cần”, mặc dầu không đưa ra định nghĩa chính thức tình hình thế nào và bao giờ được coi là “cần”. Mệnh lệnh đã quy định rằng bất cứ chiến dịch nào bên ngoài không phận Trung Quốc đều phải được phép của Quân ủy Trung ương. Dựa trên những nguyên tắc này, một chiến lược yêu cầu các đơn vị không quân sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ vùng trời và yểm trợ cho mặt đất. Khi chiến dịch dưới đất bắt đầu, cùng lúc không quân được lệnh xuất kích với tần suất cao trên không phận biên giới nhằm ngăn chặn không quân Việt Nam tham chiến. Nhân viên kiểm soát và điều hành hàng không cũng như các nhóm chỉ huy tác chiến đã được cử đến sở chỉ huy tiền phương của hai quân khu ở Quảng Châu và Côn Minh, các chỉ huy của các đơn vị không quân và một vài đơn vị phục vụ mặt đất cũng sẽ tham gia vào nhiệm vụ tấn công chính

Từ cuối tháng 12 năm 1978 đến hết tháng Giêng năm 1979 binh lính Trung Quốc bị cuốn hút vào các hoạt động huấn luyện chiến đấu và diễn tập. Vì trước đó hầu hết quân đội Trung Quốc chỉ tham gia vào sản xuất nông nghiệp trong một thời gian dài, những nỗ lực điên rồ vào giờ phút cận kề như vậy, dù là có ích, chắc chắn cũng không thể đủ được. Huấn luyện quân sự được tập trung nhiều vào những kỹ năng cơ bản của người lính như bắn, ném lựu đạn. Chỉ một vài đơn vị có khả năng tiến hành các cuộc huấn luyện có ý nghĩa về chiến thuật hoặc diễn tập cấp trung đoàn hoặc sư đoàn. Nhiều sĩ quan báo cáo rằng họ không thể đảm bảo các binh sĩ của họ có khả năng tác chiến. Việc các đơn vị bộ đội của QGPND chỉ được huấn luyện một cách sơ sài và không đầy đủ cho một cuộc chiến tranh hiện đại nhằm vào quân đội Việt Nam, những người đã có 25 năm kinh nghiệm chiến đấu trước khi có cuộc chiến tranh này dường như không được giới lãnh đạo Trung Quốc quan tâm.

Mặc dầu nhu cầu huấn luyện là cấp bách, nhưng QGPND vẫn tiếp tục với truyền thống quân sự của mình là sử dụng học thuyết chính trị để nâng cao tinh thần và để cải thiện hiệu năng chiến đấu. Cỗ máy tuyên truyền đã được thiết lập để thuyết phục binh lính rằng quyết định của ban lãnh đạo Trung ương là cần thiết và đúng đắn. Việt Nam đã thay đổi một cách xấu xa trở thành “Cuba ở phương đông”, tên “côn đồ ở châu Á” và “chó săn của Liên Xô”, đang cố theo đuổi tham vọng bành trướng. Chủ thuyết chính trị của Mác, mặc dầu được cả hai nước suy tụng cũng không ngăn cản được việc Trung Quốc phát động một cuộc “chiến tranh tự vệ” chống lại quốc gia làng giềng nhỏ bé một khi quyền lợi dân tộc tối cao bị đe dọa. Các bài giảng, các cuộc họp quy tội Việt Nam với các bằng chứng, hiện vật, cũng như tranh ảnh được trưng bày nhằm gia tăng chủ nghĩa yêu nước và lòng căm thù kẻ địch. Ít nhất người ta cũng đã đưa ra một cách giải thích nghe có vẻ có lý cho những người lính bình thường, ít học về lý do tại sao lại cần phát động cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam, một đất nước từ lâu đã là anh em, đồng chí.

Chiến dịch quân sự

Cuộc tấn công được gọi là tự vệ của QGPND được tiến hành trong 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu từ 17 đến 25 tháng Hai. Trong thời gian đó quân đội Trung Quốc theo dự tính sẽ đập tan tuyến phòng ngự đầu tiên của Việt Nam và đánh chiếm các thị xã Cao Bằng và Lào Cai, các thị trấn biên giới quan trọng là Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ ra vào Lạng Sơn. Giai đoạn hai từ 26 tháng Hai đến 5 tháng Ba là chiến dịch đánh Lạng Sơn và các vùng phụ cận phía tây, vùng Tây Bắc Sa Pa, và Phong Thổ. Giai đoạn cuối là nỗ lực bổ sung để dẹp yên các lực lượng địch còn sót lại trong quá trình phá hủy hệ thống quân sự tại khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi hoàn thành việc rút quân vào ngày 16 tháng Ba. Các chiến dịch quân sự đã được thực hiện bên trong lãnh thổ Việt Nam dọc theo biên giới kéo dài đến 900 km từ đông sang tây. Trong 30 ngày, quân Trung Quốc đã tiến hành những trận đánh đẫm máu nhất kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Cuộc tấn công của Trung Quốc đã khiến Hà Nội bất ngờ. Tình báo Việt Nam dường như thất bại trong việc giúp ban lãnh đạo Hà Nội chuẩn bị trước cho cuộc xâm lược của Trung Quốc. Mặc dầu màn giễu võ dương oai (saber-rattling) của Bắc Kinh đã có từ trước đó vài tháng, nhưng lãnh đạo Việt Nam cũng không thể tin nổi “một nước Xã hội Chủ nghĩa anh em” lại có thể đi xâm lược mình. Khi một số lượng lớn quân Trung Quốc đã vượt qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Văn Tiến Dũng còn đang ở Phnom Pênh. Mức độ dàn trải của chiến dịch của QGPND cũng đã đánh lừa được Bộ Tư Lệnh tối cao của quân đội Việt Nam trong việc nhận dạng các mũi nhọn và mục tiêu thực của cuộc tấn công. Trong lúc yêu cầu cấp bách Matx-cơ-va thực thi nghĩa vụ theo hiệp ước hữu nghị và hợp tác mới ký giữa hai nước, phản ứng tức thời của Hà Nội là “để đáp trả ngay lập tức, sử dụng bất cứ sự kháng cự nào nhằm làm giảm ưu thế của quân Trung Quốc” Các trận đánh quan trọng đã xảy ra xung quanh các thị trấn biên giới như Sóc Giàng, Đồng Hệ, Đồng Đăng, Cao Bằng, Lào Cai và Cam Đường, qua việc tranh giành từng ngọn đồi từng căn hầm. Cả hai bên đều thể hiện ý chí quyết liệt tiến công và phản công mặc cho thương vong nặng nề. Vào ngày 20 tháng Hai, cố vấn Liên Xô đã kết luận rằng lực lượng phòng thủ dân quân tự vệ của Việt Nam sẽ không thể ngăn chặn được bước tiến của quân Trung Quốc. Đã có một khuyến cáo thiết lập cầu hàng không để chuyên chở ngay lập tức 30 000 quân từ Campuchia về để tăng cường cho tuyến phòng thủ Lạng Sơn và Hà Nội. Theo tài liệu của Xô Viết các cố vấn của họ đã có những nỗ lực phi thường để tìm và thuyết phục các lãnh tụ Việt Nam có những biện pháp đối phó cấp bách với tình hình. Không hiểu mục tiêu chiến tranh của Bắc Kinh, Hà Nội đã có những phản ứng hết sức chậm chạp đối với những diễn biến nhanh chóng trên chiến trường.

Mặc dầu QGPND đã chọc thủng phòng tuyến ngay từ đầu nhưng địa hình, đặc biệt là thiếu đường sá, cộng với sự kháng cự quyết liệt của quân chính quy, các đơn vị biên phòng, bộ đội địa phương Việt Nam nên quân Trung Quốc đã bị rơi vào thế bị động. Chính tình trạng này đã bộc lộ những điểm yếu và thiếu khả năng của quân Trung Quốc trong chỉ huy tác chiến, liên lạc và hậu cần bắt nguồn từ truyền thống binh pháp của QGPND. Trong một vài trường hợp, các chỉ huy mặt trận Trung Quốc đã thúc giục sự yểm trợ của không quân khi các giao tranh dưới mặt đất gặp sự kháng cự quyết liệt của quân đội Việt Nam. Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã không cho phép, thay vào đó là mệnh lệnh cho hải dựa vào sự hỗ trợ hỏa lực của pháo binh. QGPND cùng với những tướng lĩnh của nó được sinh trong một thể chế truyền thống, chỉ quen với tiền pháo hậu xung và biển người. Khẩu hiệu “Tinh thần của lưỡi lê” (The spirit of the bayonet) lại tiếp tục được đề cao. Kết quả cho thấy cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979 là một cuộc chiến tranh đẫm máu và tàn bạo.

Thành công của cuộc chiến tranh trừng phạt của QGPND phụ thuộc vào các chiến thuật xâm nhập, tấn công sườn và bao vây Cao Bằng. Tuy nhiên, hai sư đoàn đột kích thọc sâu đã không hoàn thành được dự định trong vòng 24 giờ. Địa hình núi non, với những cánh rừng rậm rạp lại không có đường và bị bộ đội địa phương và dân quân du kích Việt Nam phục kích đã khiến cho quân Trung Quốc gặp khó khăn không ngờ. Vì sự chậm trễ này mà Hứa Thế Hữu đã quyết định quay lại lập tức tấn công Cao Bằng, mặc dầu một quân đoàn của phó tư lệnh Vũ (Wu Zhong) đã áp sát thành phố từ phía đông và phía nam. Tuy nhiên, do một cuộc điều tra về lý lịch chính trị trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa đang tiến hành, Vũ đã bị cách chức chỉ huy vào khoảng thời gian giữa chiến dịch. Qua đường dây nói, ngày 20 tháng 2, 1979, Hứa đã khẳng định lại việc bổ nhiệm trước đó rằng chiến dịch vẫn sẽ tiếp tục dưới sự chỉ huy của một cấp phó khác của ông thay vì dưới quyền chỉ huy của họ Vũ, thậm chí sau đó và quân đoàn ông ta vẫn chiến đấu theo đường của họ để tới Cao Bằng từ phía bắc. Ba ngày sau khi đến nơi, Hứa và các sĩ quan tham mưu của ông ta vẫn không nhận ra rằng chỉ có một số rất ít bộ đội Việt Nam đã chiến đấu để bảo vệ để cơ quan đầu não và chính quyền tỉnh rút lui. Sau đó ông đã ra lệnh tấn công vào thành phố. Chỉ sau vài giờ chiến đấu, quân Trung Quốc đã chiếm được thành phố.

Việc chậm trễ tiếp quản Cao Bằng đã làm đảo lộn kế hoạch ban đầu của QGPND. Kế hoạch này được thiết kế nhằm tìm kiếm những trận giao chiến nhanh chóng và quyết định. Quân đội Việt Nam phân tán thành những toán nhỏ và các đơn vị cỡ trung đội, ẩn trên núi non, rừng rậm và hang động, và tiếp tục phát động các cuộc phản công. Sự kháng cự không hề nao núng của bộ đội và dân quân Việt Nam buộc Trung Quốc phải thay đổi chiến thuật hoạt động của họ bằng cách chia quân thành những đơn vị cỡ tiểu đoàn để tham gia vào các hoạt động tìm kiếm và tiêu diệt tại Cao Bằng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh và các khu vực Quảng Hòa. Các chiến thuật mới bao gồm khóa đường, lùng sục các ngọn đồi, tìm kiếm những hang động, săm soi mặt đất và cho nổ các hầm hào. Giao chiến dữ dội liên tục khiến hàng trăm chiến sĩ Việt Nam và dân thường bị giết. Cho đến ngày 06 Tháng Ba, theo các tài liệu tiếng Việt thu được đã cho thấy, thì dường như sư đoàn QĐND Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ Cao Bằng vẫn chưa bị tiêu diệt. Không tính đến việc chưa hoàn toàn kiểm soát được Cao Bằng, những tổn thất nặng nề của QGPND trong giai đoạn đầu đã cho thấy rằng chiến dịch gặt hái rất ít thành công.

Bắc Kinh ngày càng trở nên lo lắng về tiến triển của cuộc chiến nên hối thúc tư lệnh chiến trường ở Quảng Tây khởi sự càng nhanh càng tốt trận đánh quyết định vào Lạng Sơn, một cửa ngõ làm lá chắn cho Hà Nội từ phía bắc. Dường như không hài lòng với những gì đã xảy ra tại Cao Bằng, họ Hứa đã tổ chức lại kế hoạch tác chiến và kêu gọi binh lính tăng thêm sức chiến đấu trong trận đánh Lạng Sơn. Sáu sư đoàn quân Trung Quốc tham gia vào trận đánh quyết định này, bắt đầu vào ngày 27 tháng hai, được mở màn bằng một trận pháo kích dữ dội. Sau các trận chiến ác liệt, quân Trung Quốc lần đầu tiên kiểm soát chắc chắn được các điểm cao xung quanh và sau đó đánh chiếm phần phía bắc của thành phố vào ngày 02 Tháng Ba, ngày mà theo lịch trình sẽ ngưng các hoạt động quân sự. Do bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại của họ ở Lạng Sơn, Hứa đã quyết định tiếp tục đánh, thúc quân của ông ta vượt sông Kỳ Cùng, là ranh giới phân chia thành phố Lạng Sơn thành các huyện phía Bắc và phía Nam, để đánh chiếm toàn bộ thành phố, và sau đó phát triển xa về phía nam để đe dọa Hà Nội. Mặc dù quyết định của Hứa đã được Bắc Kinh thông qua, nhưng nó đã bị hủy bỏ vào ngày 05 tháng 3, ngay sau khi quân đội Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn, với lý do được tuyên bố là họ đã đạt được các mục tiêu chiến tranh ban đầu.

Đánh giá cuộc chiến tranh của Trung Quốc với Việt Nam

Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 là một hoạt động quân sự lớn nhất mà QGPND đã đề xướng kể từ sau chiến tranh Triều Tiên. Dựa trên chiến lược của Mao là “trong mỗi trận đánh, tập trung một lực lượng tuyệt đối vượt trội so với kẻ thù”, Bắc Kinh đã triển khai chín quân đoàn chính quy cùng với các đơn vị đặc biệt và địa phương, tạo nên một đội quân hơn 300.000, tiến hành cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam trong một tháng. Các đơn vị không quân chiến đấu đã xuất kích 8.500 phi vụ tuần tra vùng trời, trong khi đó các đơn vị vận tải và trực thăng đã xuất kích 228 lần làm nhiệm vụ không vận; Hải quân cử một lực lượng đặc nhiệm (bao gồm hai tàu khu trục tên lửa và ba hải đội tàu trang bị tên lửa và ngư lôi tấn công nhanh) ra đảo Hoàng Sa (Xisha) nhằm đối phó với sự can thiệp của hải quân Liên Xô nếu có. Ngoài ra, Các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam còn huy động hàng chục ngàn dân quân và dân công để hỗ trợ các chiến dịch quân sự. Trong thời gian chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm ba thị xã của Việt Nam và hơn một chục thành phố nhỏ và thị trấn dọc biên giới, họ tuyên bố đã giết và làm bị thương 57.000 bộ đội Việt Nam, đánh thiệt hại nặng bốn sư đoàn quân chính quy và mười trung đoàn trực thuộc khác, cùng với việc chiếm một lượng lớn vũ khí. Bắc Kinh khẳng định rằng cuộc chiến chống Việt Nam 1979 đã kết thúc với thắng lợi thuộc về Trung Quốc.

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu ngày nay đều thừa nhận rằng quân Việt Nam “đã trên tay” quân Trung Quốc trên chiến trường vì khả năng tác chiến yếu kém của QGPND và thương vong quá nặng như đã được báo cáo chính thức. Hà Nội cho rằng chỉ có dân quân và các lực lượng địa phương đã tham gia vào cuộc xung đột, và không áp dụng một chiến thuật phòng thủ nào nhưng đã tấn công liên tục chống lại quân xâm lược Trung Quốc. Họ chỉ chịu mất Lạng Sơn và một số thành phố khác sau khi đã gây thương vong và thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc. Đài Hà Nội vào thời gian đó đã thông báo rằng Việt Nam đã tiêu diệt và làm bị thương 42.000 quân Trung Quốc. Chỉ có một vài tài liệu chính thức của Việt Nam có giá trị cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về hiệu suất chiến đấu và thất bại của họ trong cuộc xung đột, trong khi đó các thông tin được đăng tải bởi các cá nhân trên mạng khi nói về con số tham gia thực tế và thương vong nặng nề của quân chính quy Việt Nam thì trái ngược hoàn toàn. Mặc dù đánh giá lại cuộc chiến Việt Trung năm 1979 mà chỉ dựa trên nguồn thông tin từ Trung Quốc là phiến diện nhưng dầu sao điều này cũng có thể soi sáng một số vấn đề.

Một phương pháp đánh giá cái được cái mất của Trung Quốc là tập trung vào thương vong. Lúc đầu Bắc Kinh thừa nhận là có 20.000 binh sĩ Trung Quốc bị chết hoặc bị thương trong cuộc xung đột biên giới với Việt Nam. Một xu hướng mang tính học thuật hiện nay nghiêng về con số ước tính khoảng 25.000 QGPND thiệt mạng trong khi làm nhiệm vụ và 37.000 người khác bị thương. Gần đây có nguồn từ Trung Quốc đã phân loại thiệt hại của QGPND là 6.900 người chết và 15.000 người bị thương, tổng cộng thương vong là 21.900 thương vong trong một cuộc chiến với hơn 300.000 lính tham chiến. Trong bất cứ trường hợp nào thì thương vong của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh ngắn như vậy là quá cao, điều đó cho thấy một trong những đặc tính cố hữu trong chiến thuật và chiến dịch của QGPND là: sẵn sàng thí quân cho chiến thắng. Lãnh đạo Trung Quốc xem xét thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng khi đánh giá thành công trong quân sự miễn sao họ tin rằng tình hình chiến lược tổng thể nằm trong tầm kiểm soát của họ.

Theo quan điểm của Trung Quốc, cuộc chiến 1979 với Việt Nam là một biện pháp quân sự có tính toán nhằm trả đũa chính sách thù nghịch với Trung Quốc và sự bành trướng của Việt Nam tại Đông Nam Á cũng như tham vọng toàn cầu của Liên Xô. Mặc dù chiến dịch này bộc lộ nhiều điểm yếu của QGPND trong học thuyết quân sự hiện đại và chiến thuật, từ khởi đầu đến kết thúc, nhưng Trung Quốc đã nhanh chóng nắm giữ thế chủ động và nhịp độ của cuộc xung đột. Bắc Kinh đã gây bất ngờ cho Hà Nội không chỉ vì quy mô của chiến dịch, mà còn ở việc rút lui nhanh chóng và không bị sa lầy ở Việt Nam. Trung Quốc cũng đã thành công trong việc tiên liệu đúng phản ứng của Liên Xô qua việc bất lực và thiếu thiện chí đối với Việt Nam. Sự trông cậy vào Liên Xô trong hiệp ước hữu nghị về an ninh rõ ràng là một bài học chua xót cho Việt Nam. Điều quan trọng hơn cả cuộc chiến Việt-Trung 1979 là khởi đầu cho một chính sách của Bắc Kinh làm “chảy máu” Việt Nam trong nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của Hà Nội ra Đông Nam Á. Việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia sau cuộc tấn công của Trung Quốc là điều lãnh đạo của Trung Quốc mong mỏi nhưng họ không tiên liệu được rằng cuộc triệt thoái đã không diễn ra ngay lập tức mặc cho Trung Quốc tấn công Việt Nam ở phía bắc. Sau này Trung Quốc vẫn thi hành một lựa chọn chiến lược là duy trì áp lực quân sự lên Việt Nam kể cả sự đe dọa liên tục bằng lời nói về một cuộc tấn công thứ hai, và đôi khi tăng cường pháo binh bắn phá và những trận đánh lớn ở biên giới trong hầu hết thập kỷ 1980. Một nghiên cứu đầu thập niên 1990 đã kết luận: “Cuộc chiến tranh đã đạt được thành công nhất định khi nó được xem như một chiến thuật trong chiến lược chiến tranh tiêu hao kéo dài của Trung Quốc”.

Tương tự như thế, cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979 đã không để lại hậu quả đáng kể cho Trung Quốc trên trường quốc tế mặc dù việc sử dụng vũ lực quân sự chống lại Việt Nam cũng đã dấy lên những nghi ngờ của Indonesia và Malaysia, những nước luôn cảnh giác với ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Sự chiếm đóng của Việt Nam ở Campuchia đã đe dọa Thái Lan, khiến làn sóng chống đối Việt Nam của các nước ASEAN tiếp tục gia tăng. Về mối quan hệ Trung-Mỹ, cuộc xâm lược trừng phạt Việt Nam của Trung Quốc thể hiện thành công phần nào khi khi Washington vừa công khai lên án cả cuộc xâm lược của Việt Nam vào Campuchia và cả cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam lại vừa chia sẻ mối quan tâm của Trung Quốc trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Nam Á. Ý chí sẵn sàng sử dụng vũ lực của Bắc Kinh, bất chấp gánh chịu thương vong, đã biến Trung Quốc thành “một bức tường ngăn chặn có giá trị” chủ nghĩa bành trướng Xô-Việt; Washington vào thời điểm đó đã tiếp tục tìm kiếm một mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc để cân bằng cán cân với Liên Xô.

Giới lãnh đạo Việt Nam dường như không bao giờ hiểu hết các động thái chiến lược và mục tiêu chiến tranh của Trung Quốc, nhưng lại khăng khăng quan điểm cho rằng cuộc xâm lược năm 1979 đã trở thành màn mở đầu của một kế hoạch xâm lược dài hạn của Bắc Kinh vào chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam. Sau khi Trung Quốc tuyên bố rút quân ngày 5 tháng 3, Hà Nội kêu gọi tổng động viên toàn quốc cho chiến tranh, thúc đẩy việc xây dựng các vị trí phòng thủ trong và xung quanh Hà Nội. Mặc dù đến cuối tháng 5, quân đội Trung Quốc đã trở lại trạng thái bình thường, Việt Nam vẫn tiếp tục đề phòng, duy trì số lượng lớn của quân đội dọc theo biên giới phía Bắc đối diện với Trung Quốc vào thời điểm mà nền kinh tế của Việt Nam đang “ở trong một tình trạng tồi tệ hơn lúc nào hết kể từ sau năm 1975”. Kết quả là, Hà Nội phải dồn hết nỗ lực cho hai cuộc chiến tranh cùng một lúc, một ở Campuchia và một ở biên giới phía Bắc, dẫn đến một chi phí rất lớn của xã hội và kinh tế quốc gia, thu hút mọi nỗ lực của Hà Nội cần có cho việc hiện đại hóa nền kinh tế, và, quan trọng hơn, làm giảm tham vọng về địa chính trị của họ. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Việt Nam không hề nhận ra tính chất nghiêm trọng của tình hình, tiếp tục phụ thuộc vào Liên bang Xô viết cho đến khi nó sụp đổ vào năm 1991. Nếu có bất kỳ bài học mà người Việt Nam cần rút ra từ cuộc chiến 1979 với Trung Quốc, thì đó là Việt Nam, như một vị tướng Việt Nam sau này đã nhận xét, “phải học cách sống chung với anh hàng xóm to lớn”.

Nhắc đến vấn đề tại sao Trung Quốc phải nóng lòng khi sử dụng một lực lượng đã được chuẩn bị sẵn để chống lại Việt Nam vào năm 1979, các phân tích ở đây cũng phù hợp với khẳng định của các nghiên cứu khác là mối lo ngại về tính toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Bắc Kinh, đủ để thúc đẩy QGPND không chỉ trong trách nhiệm bảo vệ mà còn phải tấn công nếu cần. Tranh chấp lãnh thổ và căng thẳng biên giới có vẻ như là yếu tố kích thích để thúc đẩy Bắc Kinh xem xét đến việc sử dụng vũ lực chống lại láng giềng phía nam của họ. Hơn thế nữa, cùng với sự cuồng phát của chủ nghĩa dân tộc đầy cảm tính đã hướng tới việc củng cố thêm tinh thần Đại Hán, theo đó cần phải có một sự trừng phạt nào đó với một đồng minh cũ đã dám phản bội và quay lưng lại với Trung Quốc. Tâm lý này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc mang lại một sự đồng thuận rộng rãi giữa các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của Trung Quốc để hỗ trợ Đặng, kẻ đóng vai trò trung tâm trong việc đưa ra các quyết định triển khai quân sự chống lại Việt Nam. Về các vấn đề chủ quyền lãnh thổ, điều luôn luôn làm nảy sinh những phản ứng thái quá của người Trung Quốc, quan điểm quân sự dường như đã trở thành yếu tố kiên quyết trong các quyết định để khởi đầu cho mọi thù địch hiện nay. Hội nghị cán bộ tháng Chín năm 1978, từ việc cung cấp các khuyến cáo cho ban lãnh đạo trung ương để đối phó với tình hình quan hệ xấu đi giữa Trung Quốc và Việt Nam, đã là điểm khởi đầu cho một hoạt động quân sự lớn. Các phân tích quân sự về phản ứng có của Liên Xô cũng giúp làm sáng tỏ những lo ngại về rủi ro nếu có. Tuy nhiên, quân đội đã phải hy sinh chính họ cho tham vọng của ban lãnh đạo trung ương. Một khi quyết định đã được đưa ra để thực hiện cuộc xâm lăng trừng phạt Việt Nam, các tướng lĩnh đã hăm hở thực hiện nhiệm vụ của mình với sự thích thú triển khai tối đa lực lượng.

Những bài học được rút tỉa

Bất kể thành công về chiến lược của Trung Quốc như thế nào, một số vấn đề quan trọng vẫn cần được bàn lại. Ví dụ QGPND đã nhận thức thế nào về hiệu năng chiến đấu của họ ở Việt Nam, bài học nào đã rút ra từ chiến dịch, kinh nghiệm này đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của QGPND về tương lai của họ đến mức nào. Là một phần trong truyền thống của QGPND, tất cả các binh sĩ tham gia vào cuộc xung đột đã được lệnh phải viết tóm lược kinh nghiệm chiến đấu của họ. Nhìn lại cuộc chiến, bộ chỉ huy QGPND cũng thấy những mâu thuẫn nội tại. Trong khi tuyên bố rằng Trung Quốc đã giành chiến thắng, họ cũng phải thừa nhận cái giá quá cao mà QGPND đã phải trả. Trong quan điểm của bộ chỉ huy QGPND, ở một chừng mực nào đó cần có đánh giá phần nào khách quan về những yếu kém của QGPND. Tuy nhiên, họ lại e ngại khuynh hướng đánh giá quá cao khả năng và hiệu năng chiến đấu của quân đội Việt Nam. Cùng chiều hướng đó, nên niềm tự hào dân tộc và định kiến văn hóa của họ chắc chắn sẽ ngăn cản họ đưa ra những kết luận thẳng thắn về kinh nghiệm của QGPND trong chiến tranh. Những kinh nghiệm đó có thể được tổng hợp thành sáu chủ đề sau:

Một trong những châm ngôn truyền thống của QGPND là “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”. Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 cho thấy QGPND quan tâm rất ít đến binh pháp và chiến thuật của QĐND Việt Nam trước khi họ tấn công Việt Nam. Kết quả là, quân đội Trung Quốc đánh giá thấp khả năng chiến đấu của các đối thủ của mình. Có thể từ chỗ lo sợ vì đã tung hô quá nhiều danh tiếng của quân đội Việt Nam, nên tài liệu quân đội QGPND đã kết luận rằng lực lượng chính quy của kẻ địch thiếu kiên trì trong tiến công và phòng ngự và có rất ít các chiến dịch hiệp đồng, nhưng lại thừa nhận rằng chiến thuật kiểu du kích, công binh và dân quân tự vệ của Việt Nam đã thành công đáng kinh ngạc trong việc kìm chân quân Trung Quốc giảm thế cân bằng khi họ lo tìm kiếm những trận đánh quyết định với quân chính quy của QĐND Việt Nam trong một cuộc chiến hạn chế. Một sĩ quan Mỹ khi tổng kết kinh nghiệm của người Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, đã ghi nhận rằng không thể “để xâm nhập, vòng sườn, hoặc bao vây” vị trí cố thủ của quân đội Việt Nam “mà không bị thương vong rất nặng”. Chiến thuật của QGPND, thúc thật nhiều bộ binh tấn công xáp lá cà vào vị trí đối phương bất chấp tử vong cao, đã giải thích tại sao Trung Quốc dám khẳng định rằng quân đội Việt Nam không có khả năng trong phòng thủ bảo vệ vị trí của họ.

Những khó khăn bất ngờ trong tác chiến đã khiến người Trung Quốc rút ra bài học thứ hai từ cuộc xung đột liên quan đến tình báo và lập kế hoạch. Thiếu thốn thông tin từ lâu về một đồng minh truyền thống đã là một thách thức lớn cho việc lập kế hoạch chiến tranh và kế hoạch tác chiến của Trung Quốc. Các đánh giá về địa lý và địa hình của miền Bắc Việt Nam của QGPND thường dựa trên các bản đồ và thông tin địa lý đã lỗi thời, trong khi khả năng trinh sát chiến trường lại bị hạn chế. Một trong những sai lầm lớn của quân đội Trung Quốc là đánh giá sai số lượng lực lượng dân quân rất lớn trong dự đoán về sức mạnh quân sự Việt Nam. Kinh nghiệm của QGPND cho thấy, dân quân Việt thể hiện sức đề kháng không hề nao núng và thực hiện các cuộc tấn công bất ngờ hơn vào các quân xâm lược hơn cả bộ đội chính quy QĐND Việt Nam. Lúc đầu các nhà kế hoạch quân sự của QGPND tin rằng họ đã tập hợp được một lực lượng vũ trang vượt trội với tỷ lệ 8:1 để tấn công quân Việt Nam. Nhưng chỉ tính riêng tại khu vực Cao Bằng đã có 40.000 cho đến 50.000 dân quân khiến tỷ lệ lực lượng Trung Quốc chỉ còn hơn Việt Nam là 2:1. Trong suốt chiến dịch, QGPND không bao giờ cho thấy khả năng đè bẹp đối phương bằng mức vượt trội về quân số. Cuộc chiến tranh này còn cho thấy sự khó khăn như thế nào khi thực hiện các chiến dịch quân sự ở nước ngoài nếu dân chúng địa phương được huy động vào việc kháng cự.

Bài học thứ ba là về khả năng chiến đấu của QGPND vì đây là lần đầu tiên Trung Quốc áp dụng tác chiến phối hợp với nhiều binh chủng gồm xe tăng, đại bác, bộ binh cùng với một lực lượng không quân và hải quân yểm trợ. Lạc hậu trong binh pháp và chiến thuật khiến quân đội Trung Quốc không thể phối hợp một cách bài bản trong tác chiến. Trong khi đó ở Bắc Kinh, sự ràng buộc chính trị và tư duy quân sự lạc hậu đã bác bỏ phương án yểm trợ tác chiến của không quân. Các lực lượng mặt đất cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa bộ binh, xe tăng và các đơn vị pháo binh để có thể triển khai việc phối hợp tác chiến sao cho hiệu quả. Một ví dụ rõ ràng là bộ binh đã không bao giờ được huấn luyện kiến thức đầy đủ về phương án tấn công phối hợp với các đơn vị xe tăng. Lính bộ binh, những người bị buộc bằng dây thừng vào tháp pháo xe tăng để khỏi ngã khi hành quân đã bị mắc kẹt khi bị quân địch bắn hạ. Mặt khác, các đơn vị xe tăng thường phải chiến đấu không có bộ binh tháp tùng và thiếu liên lạc trực tiếp giữa hai bên nên đã phải chịu nhiều thiệt hại và tổn thất khôn lường. Kinh nghiệm của cuộc chiến tranh 1979 đã dạy cho QGPND bài học giá trị về kỹ năng phối hợp tác chiến đa binh chủng.

Bài học thứ tư là về hiệu năng chỉ huy và điều khiển mà phần lớn bắt nguồn từ truyền thống và văn hóa của QGPND. Mối quan hệ cá nhân giữa sĩ quan chỉ huy và chiến sĩ, vốn đã được vun trồng trong quá khứ, vẫn tạo nhiều rắc rối trong hàng ngũ QGPND. Khi mà mối quan hệ giữa các cá nhân trở nên quan trọng hơn cả điều lệnh thì chẳng ngạc nhiên khi biết rằng các chỉ huy của Quân Khu Quảng Châu sau này thừa nhận rằng họ cảm thấy khó chịu khi chỉ huy quân sĩ được chuyển từ Quân khu Vũ Hán và Thành Đô đến trong thời gian phục vụ chiến dịch. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng nghe nhiều cấp dưới phàn nàn về phong cách chỉ huy của họ Hứa (Hứa Thế Hữu – ND) vì trước đó ông ta chưa từng chỉ huy họ. QGPND còn gặp khó khăn do nhiều sĩ quan chưa có kinh nghiệm trận mạc. Mặc dù nhiều sĩ quan có cấp bậc cao hơn và có thâm niên chiến đấu đã được cử đến để chỉ huy các đơn vị cấp thấp hơn để giúp đỡ chấp hành mệnh lệnh, nhưng khả năng tác chiến của QGPND vẫn thất bại vì các sĩ quan cấp thấp vẫn còn thiếu khả năng quyết đoán độc lập và phối hợp tác chiến trong những thời điểm quyết định. Tuy nhiên, cuộc chiến 1979 với Việt Nam đã khai sinh ra một thế hệ mới các cán bộ quân đội Trung Quốc có kinh nghiệm chiến trường, và nhiều người trong số họ hiện nay đang phục vụ tại các vị trí cao cấp của QGPND

QGPND thiếu một hệ thống và cơ cấu cung cấp hậu cần hiện đại, để hỗ trợ cho những chiến dịch quân sự đòi hỏi di chuyển nhanh và ở vùng xa xôi. Các số liệu thống kê cho thấy trung bình mỗi ngày tiêu thụ đạn dược và nhiên liệu là 700 tấn cho mỗi loại. Hoạt động hậu cần là một lĩnh vực lớn để QGPND rút ra bài học. Vì không có đầy đủ dự trữ và phương tiện giao thông vận tải, khiến cả Quân khu Quảng Châu và Côn Minh đã phải đặt dưới cùng một hệ thống cung cấp, mà hệ thống đó chẳng bao giờ hoạt động thông suốt và hiệu quả. Một số lượng đáng kể các nguồn cung cấp bị mất hoặc là do quản lý kém hay bị Việt Nam phá hoại. Khi lực lượng của họ tiến sâu hơn vào lãnh thổ Việt Nam, để bảo vệ mình, các sĩ quan hậu cần đã phải rất khó khăn để giữ liên lạc không bị trệch hướng với đại quân. QGPND đã kết luận rằng cần thiết phải tạo ra bộ chỉ huy về giao thông vận tải để đối phó với các vấn đề mà bộ đội của họ đã phải đối mặt trong chiến dịch. Kinh nghiệm này có vẻ vẫn còn giá trị cho Trung Quốc đến tận hôm nay khi cựu phó chỉ huy của Đại học Quốc phòng QGPND Trung Quốc phát biểu tại một hội nghị chuyên đề về “kiểm soát truyền thông” vào năm 2002.

Bài học cuối cùng là làm thế nào để có thể diễn giải một học thuyết cũ về chiến tranh nhân dân vào các cuộc xung đột diễn ra bên ngoài biên giới Trung Quốc. Một trong những nguyên tắc của học thuyết chiến tranh nhân dân của Trung Quốc là việc huy động dân thường để hỗ trợ cho chiến tranh. Những kinh nghiệm chiến tranh 1979 đã chỉ ra rằng hầu như không thể đưa một lực lượng khổng lồ QGPND hoạt động ở nước ngoài mà không có sự ủng hộ chiến tranh của nhân dân trong nước. Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã đánh thức lòng yêu nước của công chúng và lòng tự hào về người lính Trung Quốc. Biểu hiện mạnh mẽ của lòng yêu nước đã giúp QGPND nhận được hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động từ người dân sống tại hai tỉnh biên giới. Tại riêng tỉnh Quảng Tây, hơn 215.000 cư dân địa phương đã được huy động để làm người vận chuyển, nhân viên bảo vệ và khuân vác để hỗ trợ tiền tuyến; và hơn 26.000 dân quân từ khu vực biên giới đã thực sự tham gia vào các hoạt động chiến đấu trực tiếp. QGPND vào thời điểm đó chỉ có một hệ thống cung cấp vá víu đòi hỏi các đơn vị phải tự túc hệ thống cung cấp trên chiến trường theo kiểu “hậu cần bán lẻ”. Chính quyền địa phương đã làm mọi việc dễ dàng cho binh lính bằng cách đơn giản hoá thủ tục, giúp họ nhận được đầy đủ vật chất và thực phẩm tươi trong thời gian ngắn nhất có thể. Kinh nghiệm này đã thuyết phục bộ chỉ huy QGPND rằng huy động chính quyền địa phương và dân chúng để hỗ trợ cho một cuộc chiến tranh vẫn là chìa khóa cho chiến thắng.

Những bài học mà Trung Quốc đã rút tỉa được từ cuộc chiến 1979 với Việt Nam có thể không được liền lạc, thiếu toàn diện và khó mà khách quan vì QGPND không đánh giá sự thành công về chiến dịch quân sự của họ trên cơ sở kết quả tác chiến mà là trên cơ sở các tác động của cuộc xung đột đến tình hình chung. Chịu ảnh hưởng sâu sắc lời dạy của Mao là chiến tranh về cơ bản là một vụ kinh doanh chính trị, miễn là Trung Quốc cho là họ đã thành công trong việc đạt được mục tiêu quân sự và chiến lược đề ra, còn các vấn đề gây ra từ thất bại của chiến thuật chỉ là thứ yếu. Đây cũng là lý do tại sao các bài học đó đã có những khác biệt đáng kể so với các nghiên cứu của phương Tây nơi mà nhiều thông tin tương đối khả tín, mặc dầu đôi khi vẫn thấy xuất hiện đây đó một chút thái quá do lạm dụng các nguồn tin hạn chế để kết luận về một vấn đề cực kỳ phức tạp. Các nghiên cứu của QGPND nhìn nhận rằng cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976) đã tạo bất lợi và hủy hoại những truyền thống tốt đẹp của QGPND, và kết quả là, các lực lượng của Trung Quốc thực hành tác chiến tồi tệ trong chiến tranh. Những bài học rút ra của QGPND đã tập trung nhiều vào cấp độ chiến thuật của chiến tranh với sự nhấn mạnh vào chỉ huy và kiểm soát, phối hợp tác chiến giữa các đơn vị, cơ cấu lực lượng và vũ khí hơn là chiến lược và triết lý mang tính học thuyết. Trong quá trình đánh giá kinh nghiệm chiến tranh 1979, QGPND có vẻ như không tìm cách che đậy hoặc bỏ qua thiếu sót về các hạn chế của họ vào thời điểm đó; tuy nhiên họ đã mắc sai lầm khi không đề cập đến những khiếm khuyết trong tư duy quân sự và binh pháp truyền thống.

Các nghiên cứu của phương Tây đã so sánh những bài học mà QGPND đã rút ra từ cuộc chiến Việt-Trung 1979 với việc đánh giá lại vào năm 1985 của ban lãnh đạo Trung Quốc về bản chất của chiến tranh hiện đại và các mối đe dọa đang rình rập Trung Quốc cộng với những nỗ lực tiếp theo để cải tiến và chuyên nghiệp hóa QGPND trong suốt những năm 1980. Bài học Việt Nam đối với QGPND và những cuộc giao tranh vẫn liên tục xảy ra trên biên giới Trung-Việt trong những năm 1980 đã giúp cho cho ban lãnh đạo Trung Quốc phải thực hiện những cuộc chuyển đổi chiến lược từ việc nhấn mạnh đến sự chuẩn bị cho chiến tranh tổng hợp đến việc chuẩn bị cho chiến tranh cục bộ và chiến tranh hạn chế theo xu hướng của thời gian. Trong quá trình chuyển đổi QGPND thành một lực lượng hiện đại vào những năm 1980, có rất ít những nỗ lực được thực hiện nhằm sửa chữa thiếu sót về tư duy quân sự, đó là thái độ luôn luôn coi nhẹ vai trò của của không quân. Kết quả là, nếu có điều gì còn chưa trung thực trong việc rút kinh nghiệm của QGPND thì đó chính là bài học về ưu thế trên không hoặc yểm trợ không quân. Tài liệu của QGPND vẫn cho rằng việc hạn chế khả năng của lực lượng không quân Trung Quốc là lý do chính khiến không quân Việt Nam không tham gia vào xung đột. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) thậm chí còn nhận xét một cách lố bịch rằng hoạt động giả vờ của không quân Trung Quốc trong cuộc chiến chống lại Việt Nam là một “đòn nghi binh khéo léo trong tác chiến không quân”. Nhận xét đó rõ ràng cho thấy vẫn còn sai lầm trong giới lãnh đạo Trung Quốc khi họ tiếp tục đánh giá chưa cao vai trò quan trọng của không quân trong chiến tranh hiện đại.

Tuy nhiên, tổng kết các kinh nghiệm của QGPND trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam đã cung cấp một cái nhìn hữu ích về việc giới lãnh đạo Trung Quốc trong việc tiếp cận vấn đề chiến tranh và chiến lược như thế nào. Cái nhìn này cũng phù hợp với những phát hiện nằm trong các công trình nghiên cứu gần đây. Trước tiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thảo luận và tính toán thời điểm và như thế nào khi sử dụng sức mạnh quân sự, nhưng đã không ngần ngại quyết định khởi chiến khi họ cho rằng lợi ích quốc gia của Trung Quốc đang bị hăm doạ hoặc lâm nguy. Thứ hai, QGPND thể hiện quyết tâm giành và giữ thế chủ động tác chiến bằng việc triển khai quân số vượt trội (chiến thuật biển người). Thứ ba, ý thức về chiến thắng quân sự của Trung Quốc đặt nhiều hơn vào việc đánh giá kết quả địa chính trị khi đem so với phê phán về hiệu năng tác chiến trên chiến trường. Kể từ sau cuộc chiến 1979 với Việt Nam, QGPND đã tiến hành sửa đổi sâu rộng trong học thuyết quốc phòng, chỉ huy và điều khiển, chiến thuật tác chiến, và cơ cấu lực lượng, trong khi các hoạt động quân sự thế giới cũng đã chuyển đổi đáng kể từ khi cuộc chiến năm 1979. Ngày nay, không ai nghĩ rằng các lực lượng vũ trang của Trung Quốc sẽ lặp lại những gì họ đã làm trong chiến tranh biên giới với Việt Nam. Từ góc độ lịch sử, những nét đặc thù của người Trung Quốc đã bộc lộ trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam có thể vẫn còn có giá trị trong các giáo trình của học viện quân sự của Trung Quốc cũng như đối với những người hằng quan tâm đến phương pháp sử dụng sức mạnh quân sự của người Trung Quốc, không chỉ trong quá khứ mà cả với hiện tại và trong tương lai.

Bản dịch của một thân hữu (ẩn danh) của Thời Đại Mới

© Thời Đại Mới

March 6, 2010

China all at sea over Japan island row

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:37 pm
Tags: , ,

Japan’s Okinotori Island, which has a Tokyo postal address even though it lies roughly 1,770 kilometers south of the capital and it is actually a pair of tiny islets, has become a bone of contention for China.

Among other things, China refuses to grant it island status, and refers to it instead as an atoll, reef or simply a rock. By doing so, China hopes to throttle back Japan’s plan to create an exclusive economic zone (EEZ) there. The dispute over Okinotori, which Japan calls Okinotorishima, persists because it involves strategic concerns and rights to undersea resources over an area that is roughly equivalent to the entire land mass of the four main Japanese islands.

At an undersea resource development conference hosted by

Kyushu University last December that was attended by experts from China, Japan and South Korea and elsewhere, the cobalt-rich manganese crusts around Okinotori were highlighted. Although “rich natural resources” in the area are frequently mentioned as well by China, details are lacking.

At the East Asian Seas Congress in Manila last November, Japan’s submission to the United Nations Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) in March 2009 was discussed. This document addressed seven regions between Japan and the Philippines comprising 740,000 square kilometers. Besides potential overlapping claims with the United States and the Republic of Palau – not involving Okinotori – Japan is confronted by both China and the Republic of Korea (South Korea), which filed complaints last year with the CLCS concerning Japan’s actions on Okinotori. [1]

When the Democratic Party of Japan-led government headed by Prime Minister Yukio Hatoyama came to power last year, it wasted no time in declaring that Japan is allocating US$7 million in 2010 to create a facility on Okinotori in a bid to firmly establish yet another foothold there. This may seem like a large sum, but it represents less than 3% of the total amount spent thus far by Japan to sustain this remote island. Hundreds of millions of dollars have been allocated by the Japanese over the past two decades.

Japan now finds itself indebted to Vietnam, albeit indirectly. Vietnam is exposing curious contradictions that it has detected in China’s case against Japan in this instance.

Vietnam, along with other Southeast Asian nations, has a territorial dispute with China in the South China Sea. Last year, the Vietnamese government submitted a national report on the limits of its continental shelf “which lie 200 nautical miles beyond the country’s baselines in the northern part of the East Sea [Vietnam’s name for the South China Sea]” to the CLCS. This took place in late August.

Together, Vietnam and Malaysia also presented another joint report to the CLCS on the continental shelves of both countries, “which extend out over 200 nautical miles from their baselines in the southern part of the East Sea”.

The Vietnamese national report and the Vietnam-Malaysia joint report preceded the approval by the Japanese Diet (parliament) of a law in 2010 that authorizes the central government – not local government – to manage and control both Okinotori and the even more remote Minamitori Island, southeast of Tokyo – and about 290 kilometers more distant than Okinotori.

While China dismisses all of these actions by Japan as illegal, it is anxiously looking over its shoulder at the emboldened Vietnamese.

“The construction of infrastructure will not change Okinotori Reef’s legal position,” said China’s Foreign Ministry spokeswoman Jiang Yu at a press briefing in January, adding that this violates international maritime law. [2]

Japan claimed Okinotori, also known as Douglas Reef or Parece Vela, in 1931 as part of Ogasawara village in the prefecture of Tokyo, and officially named it Okinotorishima.

“The Japanese claim to an EEZ and continental shelf around Okinotorishima is based on several factors,” said Associate Professor Peter Dutton of the China Maritime Studies Institute at the US Naval War College. “First, Japanese scholars claim that Okinotorishima is an island that qualifies under the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) for an EEZ and continental shelf in that it sustains economic activity, even though it is apparently not much more than 10 square meters in size at high tide.

“This argument has only the most tenuous support under the current state of international law. The Japanese seem to recognize this fact and have set out a second legal basis, namely that Japan has longstanding historic interests in Okinotorishima, the adjacent waters, and the resources of the surrounding seabed. In Japan’s view, these interests have consolidated over time into legally protected rights.”

China points to Article 121 of UNCLOS, which defines an island as “a naturally formed area of land, surrounded by water, which is above water at high tide”. China designates it as a rock under the same article – rocks cannot sustain human habitation or economic life – because a rock by itself cannot be used to claim either an EEZ or by extension a continental shelf submerged in a relatively shallow sea.

By acting as if it has legal standing under UNCLOS, China has suddenly opened the door for Vietnam, and Vietnam has seized the opportunity.

The strategic importance of Okinotori cannot go unnoticed as it sits halfway on a line between the huge US military base on the island of Guam and Taiwan. While divergent Chinese and Japanese strategic interests are driving this dispute, China’s need to navigate freely is increasing.

“China has staked legal positions that have de-legitimized foreign military operations in a coastal country’s EEZ. China’s objections to US military activities in its EEZ are based on these legal perspectives,” said Dutton. “On the other hand, as China’s naval power has grown over the last couple of decades, China’s strategy for controlling the outcome of events throughout East Asia in times of crisis has also evolved. During times of crisis, China now has aspirations of challenging outside naval powers for control of the waters between the first and second island chain.” (The first island chain encompasses the Yellow Sea, the East China Sea and the South China Sea. The second encompasses the Japan Sea, the Philippines Sea and the Indonesia Sea.)

This puts China in an awkward position to say the least.

“To be consistent with its demand that the US cease performing military operations in and above China’s EEZ, China would not be able to undertake military operations in the waters of Japan’s EEZ surrounding Okinotori. As such, to preserve their own security interests, China refuses to recognize Japan’s claim,” said Dutton.

Prior to Vietnam’s move, the chief objective here for Japan had been to politely ignore China’s protests and to ensure that, above all else, Okinotori should not somehow sink beneath the sea.

“There is no change in the nature of the dispute. Japan has been planting coral on Okinotori to secure its status as an ‘island’, while China keeps criticizing [and asserting that] it is a ‘rock’, so as not to allow Japan’s EEZ,” said Yukie Yoshikawa, senior research fellow at the Reischauer Center for East Asian Studies in Washington, DC.

Planting coral there is just one of the latest Japanese measures, which have included pouring tons of concrete, at a cost of $280 million, to encase both of the islets, as well as covering them with a titanium net which cost another $50 million.

In 2005, Japan mounted a large address plaque there so that everyone would immediately know on arrival that they had reached “1 Okinotori Island, Ogasawara Village, Tokyo.” Soon after this was put in place, Tokyo governor Shintaro Ishihara was photographed kissing the plaque and waving the Japanese flag over it. He kept his life jacket on at the same time. [4]

As China attempts to convince the rest of Asia that what Japan is now undertaking actually harms its neighbors, Vietnam shakes its head.

“If Japan’s efforts succeed, other countries will not be allowed to fish or share other rich natural resources in a region that is currently regarded as international high seas,” said Wang Hanling, an expert in maritime affairs and international law at the Chinese Academy of Social Sciences. “Besides, for some neighbors such as China and the Republic of Korea, the fleets’ freedom of navigation along some key routes in the area will also be hampered. That will pose risks to their national security.”

In its dealings with Japan, China has even raised the issue of fairness at times, a tactic which must amuse Hanoi.

“Japan’s claim over Okinotori, which lies between Taiwan and Guam, is in a strategically important position for Japan’s benefit,” said Jin Yongming, a researcher at the Shanghai Academy of Social Sciences. “But the move has harmed other countries’ navigation interests and marine survey in the sea waters around Okinotori, and is contrary to the principle of fairness.” [4]

Why China is beginning to realize that the stance it has adopted here might backfire is becoming increasingly apparent. Vietnam still claims sovereignty over the Paracel Islands – China’s Xisha Islands – in the South China Sea, while the Spratlys, or Nansha Islands as China calls, them are claimed by China, Vietnam, the Philippines, Brunei and Malaysia.

In early 2009, or perhaps earlier, Vietnam started picking apart the “reefs and islands” argument raised by China supposedly under UNCLOS rules in its case against Japan, and said in effect, “Wait a minute, China, you are arguing the exact opposite regarding our claims in the East Sea.”

One minute, argues Vietnam, China asserts that Okinotori cannot have an exclusive economic zone or determine the limits of a continental shelf because it is an atoll, reef or rock and does not have an independent economic life, and the next minute China asserts that so-called “islands” in the East Sea all have independent economic life so they can support a claim to exclusive economic zones and continental shelves of 200 nautical miles covering 80% of the East Sea.

None of this rings true, or not to the extent that it allows China to proceed down the path it is taking. Ownership of the islands in the East Sea is really not central to the outcome because Vietnam contends that “no country can claim up to 80% of the East Sea on the basis of a claim to ownership of these islands”. [5]

In other words, look closely and one can detect dozens of little “Okinotoris” dotting the South China Sea. China is just hoping that the rest of the world – at least the rest of the world which has been following China’s attempt to derail Japan – will overlook them.
“It seems as though Vietnam is signaling that it would be satisfied with sovereignty over the islands and to leave most of the South China Sea as high seas. The implication of Vietnam’s perspective, were Vietnam to consolidate its claims at China’s expense, is that most of the South China Sea would remain open for all states to fish and extract seabed resources,” said Dutton. “That is not the effect of China’s claims over the South China Sea.”

At the same time, if China is attempting to counter this clever tactic by Vietnam, it is not doing a very effective job. In fact, China appears to be turning a blind eye to Vietnam here.

“This position presents China with an additional dilemma that it has not yet publicly begun to reconcile,” said Dutton.

Beijing’s decision to build a luxury resort in the Paracels in the South China Sea has not helped the situation.

“[Vietnam] demanded in early January 2010 that China abandon the project, which [it] said causes tension and further complicates the situation,” said Yoshikawa.

Still, when Chen Bingde, chief of the general staff of the Chinese People’s Liberation Army and a member of the Central Military Commission, met with Nguyen Chi Vinh, Vietnam’s deputy defense minister, in Beijing in early March, there was no mention of this dispute, not publicly anyway.

China has been diligent in other maritime matters despite any protests elsewhere. Just last month, for example, China finished work on the last of 13 permanent facilities on islands and reefs in the East China Sea as part of another intensive EEZ extension and development process. A new lighthouse at Waikejiao is the latest addition.

“Because Japan and China tend to look at foreign policy in a more relationship-oriented manner – rather than Washington’s event-driven policies – if both countries are on good terms, which you can say for now, the Okinotori Island issue will be taken care of so that it does not dampen the relationship,” said Yoshikawa.

Japan is not likely to suffer any consequences as it proceeds with its plans on Okinotori.

“I do not see that happening for the foreseeable future as this is a peripheral issue which is more likely to be affected by overall Sino-Japanese relations,” said Yoshikawa.

Nevertheless, China has a very good reason for persisting in its efforts here, regardless if it annoys Japan or not.

“There is not much that China can do about Japan’s claim, given China’s own claims in the South China Sea,” said Dutton. “However, China will probably continue to diplomatically object to Japan’s claim in order to preserve Chinese freedom of military action in the waters surrounding Okinotori.”

Notes: 1.) EAS CONGRESS 2009 HIGHLIGHTS , Nov 24, 2009
2.)Beijing slams Tokyo move on atoll, China Daily, Jan 8, 2010
3.)Japan and China Dispute a Pacific Islet , New York Times, July 10, 2005
4.) Japan atoll expansion ‘hurts neighbors’, China Daily, Feb 11, 2010
5.) Vietnam delimits its continental shelf in UN report. Vietnamnet, Aug 2009
Peter J Brown is a freelance writer from the US state of Maine.

(Copyright 2010 Asia Times Online (Holdings) Ltd. All rights reserved. Please contact us about sales, syndication and republishing.)

March 5, 2010

Vietnam Feels the Heat of a 100-Year Drought

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:22 am
Tags: , ,

Every year, even at the peak of Vietnam’s dry season, when the Red River is at its lowest, Hanoi’s skilled captains manage to negotiate their flat-bottomed boats through its shallow waters. But this year, with a drought gripping the entire country and water levels at record lows, the river is eerily quiet. What is normally a bustling waterway is becoming a winding river of sand, and farmers who depend upon the river for irrigation are watching the expanding sandbars as nervously as the boat captains. “If there is no water in the coming days,” says 59-year-old farmer Vu Thi La, who just put in her spring rice seedlings, “it will all die.”

Across Vietnam, high temperatures and parched rivers are setting off alarm bells as the nation grapples with what’s shaping up to be its worst drought in more than 100 years. At 0.68 meters high, the Red River is at its lowest level since records started being kept in 1902. With virtually no rainfall since September, timber fires are burning in the north and tinder-dry conditions threaten forests in the south. Soaring temperatures in the central part of Vietnam have unleashed a plague of rice-eating insects, damaging thousands of hectares of paddies. “It’s the beginning of everything,” Nguyen Lan Chau, vice director of the National Center for Hydro-Meteorological Forecasting, says gloomily. (See pictures of the world’s water crisis.)

The region most affected — and the one that affects the most — is the Mekong River Delta in the south. Water levels in the nation’s rice bowl have fallen to their lowest points in nearly 20 years, threatening the livelihoods of tens of millions of people who depend on the river basin for farming, fishing and transportation. The biggest problem, however, is not the water. It’s the salt. During the dry season, when channels and tributaries run dry, seawater can creep more than 18 miles (30 km) inland. Vietnam has installed a series of sluice gates to hold back high tides as well as control annual monsoon flooding. This has allowed farmers to switch between growing rice in the wet season and raising shrimp in the brackish waters in the dry. The result has been more-effective land use and higher crop yields, and a doubling of farmers’ incomes in the Delta since 1999.

Those high-yield days may be over. As the drought intensifies, in some places seawater has crept nearly 40 miles (60 km) inland, says Dam Hoa Binh, deputy director of the Irrigation Department at the Ministry of Agriculture and Rural Development in Hanoi. Most of the winter-spring crop has already been harvested, but saltwater is reaching where it has never gone before, putting the summer-fall crop in jeopardy, says Binh. “We are trying to strengthen our irrigation systems to prevent further salinization,” he adds, but the extreme conditions are making it “one of the most difficult situations in 100 years.” (See pictures of drought in Kenya.)

Because of the hydropower projects on its side of the border, China frequently gets the blame for water shortages downstream. Indeed, Vietnam’s neighbor has been on an aggressive campaign to damn the Mekong River, which begins on the Tibetan plateau and travels through five other countries before it empties into the South China Sea. According to the Mekong River Commission, a regional advisory agency, China has built or is planning to build eight dams along the Mekong. But while dams raise huge concerns about interfering with sediment flow and fish migration, they can also have a positive impact, says Jeremy Bird, the commission’s chief executive officer. “They will redistribute the flow of water, therefore there will be more water available in the dry season,” he says. But at the moment, with China also experiencing extreme drought, there appears to be little dammed water to release.

Up north, Vietnam has been busy building hydropower dams as well. The government recently released enough water from those projects to help farmers in the Red River Delta with spring planting. Now with reservoir levels in the north at critical lows, the state-owned electricity company says it can’t let go of much more; power demand is expected to break records as temperatures soar this month. Even with the small amount released, Nguyen Van Thang, director of the agriculture department in Vinh Phuc province, is not hopeful. High temperatures and evaporation are the enemy. “Even if farmers bail every single drop of water to nurture the rice,” he says, he fears that a third of the rice crop in his province could be lost. (See TIME’s photo-essay “China-Vietnam Border War, 30 Years Later.”)

The crisis has been a “wakeup call” for Vietnam, says Ian Wilderspin, senior technical adviser for disaster risk management at the U.N. Development Program in Hanoi. The drought was predicted, he says, referring to last year’s projections that El Niño would bring an unusually warm and dry winter. Yet Vietnam traditionally prepares for floods and typhoons, which are more dramatic and devastating when they hit. “Drought is a slow, silent disaster, which in the long run will have a more profound impact on peoples’ livelihoods,” he says.

And when are the rains due to finally bring some relief? Meteorologists forecast that in the north, rain will arrive later this month. But other parts of the country might not see any precipitation until August, which for many will be too late.

March 2, 2010

Đồng bằng sông Cửu Long: Gồng mình chống hạn, mặn

TT – Nước mặn, hạn hán đang “bao vây” hàng trăm ngàn hecta lúa đông xuân và cũng bắt đầu gây khó khăn cho cuộc sống của hàng triệu người dân ở ĐBSCL.

Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy – Ảnh: DUY KHANG

Ngày 26-2, tại các xã Long Phú, Đại Ân 2 (huyện Long Phú, Sóc Trăng), hàng chục nông dân tất bật bơm nước cứu lúa. Dưới kênh nước đang mặn lên từng ngày. Ông Trần Văn Háp ở ấp Tú Điềm, xã Đại Ân 2, than thở: “Trời nắng nóng như thiêu đốt nên bơm nước đầy ruộng ba ngày đã cạn sạch. Mấy ngày nay nước kênh mặn chát nhưng cũng phải đánh liều bơm lên ruộng vì nếu không bơm, thiếu nước lúa cũng chết”.

Cứu lúa như cứu hỏa

Khoảng 800.000ha lúa
bị ảnh hưởng

Ông Nguyễn Trí Ngọc – cục trưởng Cục Trồng trọt Bộ NN&PTNT – cho biết nạn thiếu nước sản xuất và độ nhiễm mặn cao ở nhiều tỉnh thuộc ĐBSCL sẽ khiến khoảng 800.000ha lúa vụ xuân hè và hè thu bị ảnh hưởng (cao điểm là tháng 3, tháng 4-2010).

Lãnh đạo Cục Trồng trọt nhận định nạn khô hạn, thiếu nước và nguy cơ nước biển xâm nhập vào sâu trong nội đồng với độ mặn cao còn tiếp diễn với chiều hướng xấu nên các địa phương cần chủ động nạo vét hồ đập, củng cố hệ thống thủy lợi để tích trữ nước, đồng thời phải có cơ cấu giống và mùa vụ thích hợp với điều kiện thiếu nước, nhiễm mặn. Về lâu dài, nên hạn chế diện tích và tiến tới bỏ hẳn diện tích lúa xuân hè.

ĐỨC BÌNH

Cánh đồng xã Tân Hưng chạy dài qua Đại Ngãi (Sóc Trăng) những ngày này lúa vụ ba chỉ mới hơn 40 ngày tuổi mà nước dưới kênh chỉ còn chừng 20cm nhưng cũng mặn chát.

Ông Bảy Hoàng ở ấp Tân Quy A, xã Tân Hưng, nói: “Nếu có nước cũng không dám bơm vì mấy ngày trước độ mặn dưới kênh này lên đến 3-4‰”. Theo Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng, hiện toàn tỉnh có trên 40.000ha lúa vụ ba bị ảnh hưởng nắng hạn và xâm nhập mặn nên năng suất sẽ không cao.

Cảnh bơm nước cứu lúa cũng rất khẩn trương trên cánh đồng các xã Tân Tây, Bình Ân, Kiểng Phước, Tân Thành (huyện Gò Công Đông), Bình Phú, Đồng Sơn (huyện Gò Công Tây, Tiền Giang). Ông Dương Minh Việt ở xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, sản xuất 1,4ha lúa đang trong giai đoạn trổ bông nói: “Cứ 4-5 ngày tôi phải bơm một lần, mỗi lần bơm 5-6 giờ mới đủ nước. Trời nắng quá nên mới bơm xong  nước đã rút đâu mất. Từ nay đến khi thu hoạch tôi còn phải bơm bốn đợt nữa nhưng bây giờ kênh cạn rồi”.

Ông Nguyễn Văn Về, chủ tịch UBND xã Tân Tây, cho biết hiện có khoảng 750ha lúa đang rất cần nước để trổ bông, ngậm sữa. Do nước kênh cạn nên xã vận động người dân luân phiên nhau bơm nước lên ruộng kể cả ban đêm để tránh tình trạng tranh giành nước.

Diễn biến phức tạp

Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang Trần Thành Lập cho biết xâm nhập mặn tại Hậu Giang đang diễn biến phức tạp. Nước mặn đang lấn sâu vào địa bàn một số xã đầu nguồn thị xã Vị Thanh.

Theo trạm quản lý nước và công trình thủy lợi tỉnh, độ mặn đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân.

Ông Nguyễn Văn Hòa, phó chủ tịch UBND thị xã Vị Thanh, nói trước mắt kêu gọi người dân đắp bờ vùng, bờ thửa trữ nước ngọt phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Ban chỉ đạo thị xã cũng đang chuẩn bị phương án đắp đập ngăn mặn đồng loạt tại 33 con kênh (tập trung tại hai xã Hỏa Tiến và Tân Tiến) nếu mặn tiếp tục lấn sâu. Trong hai năm trở lại đây, Hậu Giang liên tục bị ảnh hưởng bởi mặn xâm nhập. Theo dự báo của ngành chức năng tỉnh, xâm nhập mặn năm nay tại Hậu Giang có thể kéo dài hơn mọi năm (cao điểm trong tháng 3 và 4). Đi cùng với mặn là tình trạng thiếu nước ngọt, đời sống người dân bị đảo lộn.

Trước tình hình này, ông Lập  cho biết đang chỉ đạo Sở NN&PTNT phối hợp cùng Công ty Cấp thoát nước – công trình đô thị tỉnh đẩy nhanh tiến độ thi công trạm cấp nước từ kênh Tám Ngàn để chủ động phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân tại thị xã Vị Thanh và một phần thị xã Vị Thủy. Trong trường hợp nước mặn lấn sang huyện Long Mỹ thì đưa nước sạch bằng xe bồn về phục vụ bà con.

Thạc sĩ Kỷ Quang Vinh – giám đốc Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường TP Cần Thơ – cho biết mặn “tấn công” vào đất liền năm sau nhiều hơn năm trước. Cụ thể, năm 2009 xâm nhập mặn đã đến thị trấn Thạnh An, TP Cần Thơ (cách biển hơn 40km), trong khi năm trước đó mặn chỉ “với” tới huyện Mông Thọ, tỉnh Kiên Giang cách biển chừng 10km.

Một số khu vực của tỉnh An Giang và thị xã Vị Thanh (Hậu Giang) cũng bị mặn xâm nhập với độ mặn cao nhất là 7‰, không thể bơm nước phục vụ trồng trọt. Theo ông Vinh, những năm gần đây một số tỉnh phía tây bị ảnh hưởng xâm nhập mặn nhiều là do gió tây mạnh hơn cộng với lượng nước trên sông Mekong giảm, không đủ nước đẩy mặn ra biển.

“Né” mặn hạn chế thiệt hại

Cả ngày 26-2, Sở NN&PTNT Tiền Giang đã họp khẩn cấp với tất cả các xã có sản xuất lúa ở các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây và thị xã Gò Công để bàn giải pháp cứu lúa vì cống Xuân Hòa – là cống lấy nước ngọt cuối cùng cho vùng này – sẽ đóng ngày 1-3. Hiện trong vùng ngọt hóa Gò Công có 25.000ha lúa đang trổ và ngậm sữa, cần nước đầy đủ để sinh trưởng trong khoảng 20 ngày nữa.

Nếu thiếu nước thì lúa không thể ngậm sữa và mất mùa. Ông Nguyễn Thiện Pháp, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Tiền Giang, nói mực nước trong các kênh lúc này chỉ còn 0,4-0,5m. Nhiều nơi phải tổ chức bơm chuyền 2-3 lần mới đến ruộng. Giải pháp duy nhất có thể làm lúc này là vận động nhân dân nạo vét kênh, tranh thủ bơm nước dự trữ. Dự báo sẽ thiếu nước gay gắt từ đầu tháng 3-2010 trở đi. Tỉnh sẽ hỗ trợ kinh phí để bơm chuyền từ kênh trục chính vào kênh nội đồng để dân bơm tiếp.

Ông Phạm Văn Dư, phó cục trưởng Cục Trồng trọt, cho biết đến cuối tháng 2-2010 toàn vùng ĐBSCL sẽ thu hoạch 450.000ha lúa đông xuân. Do đó tình hình hạn, mặn sẽ căng nhất vào những tháng tới. “Phải khẩn trương nghiên cứu những giống lúa chịu được hạn, mặn cấp độ cao hơn hiện nay để trồng ở những vùng ven biển.

Ngoài ra, các địa phương hoàn toàn có thể chủ động “né” được hạn, mặn bằng cách khuyến cáo dân sử dụng giống lúa ngắn ngày để thu hoạch sớm hơn, điều chỉnh lịch thời vụ sớm hơn để khi nước mặn tới thì lúa đã chín, có mặn cũng không sao” – ông Dư nói.

Trong khi đó, ông Kỷ Quang Vinh cho rằng để “sống chung” với mặn, cần phải chọn giống lúa thích hợp chịu được mặn và hạn. Hiện ở Úc có giống lúa chịu được độ mặn đến 7‰, trung tâm đang đề xuất Sở NN&PTNT Cần Thơ nghiên cứu.

Ngoài ra, theo ông Vinh, cần phải tận dụng hệ thống kênh rạch chằng chịt của ĐBSCL để giữ nước lũ bằng cách đắp đập và nạo vét sâu kênh rạch. Lượng nước này sẽ được phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đẩy mặn (ước tính cần 3% diện tích ĐBSCL). Một biện pháp khác là chứa nước ngọt ở tầng nước ngầm (mùa mưa lọc nước lũ hoặc nước mưa đẩy xuống tầng nước ngầm, mùa hạn bơm lên sử dụng).

Hơn 100.000ha lúa bị nước mặn “bao vây”

TS Phạm Văn Dư cho biết năm 2010 nước mặn xuất hiện sớm hơn các năm trước 10-15 ngày và xâm nhập sâu vào đất liền khoảng 70km, gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân.

Đến ngày 26-2, các tỉnh ĐBSCL có khoảng 100.000ha lúa đông xuân (chiếm 16% diện tích) có nguy cơ bị ảnh hưởng hạn, mặn. Các “điểm nóng” được xác định là: Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công, Chợ Gạo, Tân Phú Đông (Tiền Giang), Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần, Châu Thành (Trà Vinh), Mỹ Xuyên, Long Phú (Sóc Trăng), Hồng Dân, Phước Long, Giá Rai (Bạc Liêu), An Minh, An Biên (Kiên Giang).

Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan – phó phòng dự báo Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam bộ – cho biết tình hình xâm nhập mặn những ngày qua tăng nhanh và cao hơn cùng kỳ năm ngoái. Theo bà Lan, độ mặn sẽ còn tăng do gió chướng (khoảng tháng 2 và 3 âm lịch) đẩy nước mặn từ biển vào, đỉnh điểm của xâm nhập mặn là trong hai tháng 4 và 5 âm lịch.

February 28, 2010

Lê Xuân Khoa – Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:27 pm
Tags: ,

Sang năm mới Canh Dần, tình hình chính trị Việt Nam đáng bi quan hơn trước. Ngoài  “quốc nạn” tham nhũng tiếp tục hoành hành, tình trạng xuống cấp đến mức báo động của giáo dục, và sự gia tăng các tệ nạn xã hội, người Việt Nam trong và ngoài nước còn phải đối diện với hai mối quan tâm hết sức nghiêm trọng:

  1. Tiếp theo những vụ lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải đã được chính thức hoá bằng những văn bản thoả hiệp với lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc vẫn ngang nhiên tiến hành kế hoạch thôn tính Việt Nam bằng những hành động xác lập quyền sở hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực hiện những dự án khai thác tài nguyên mang tính chiến luợc trên cả hai mặt kinh tế và quân sự.
  2. Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam vừa tiếp tục ca ngợi mối quan hệ tốt với Trung Quốc qua những khẩu hiệu “bốn tốt” và “16 chữ vàng”, vừa gia tăng ngăn cấm những quyền tự do căn bản của con người, đồng thời mạnh tay trừng phạt những công dân dám công khai bày tỏ lòng yêu nước hoặc yêu cầu cải thiện chế độ chính trị và thực hiện công bằng xã hội.

Nhiều nhà bình luận ở hải ngoại đã phân tích và nhận định khá chi tiết về hai mối quan tâm đặc biệt này, nhưng phần đông vẫn chỉ nhằm kể tội lãnh đạo cộng sản, hô hào đoàn kết chống cộng và cầu mong chế độ sớm bị sụp đổ. Gần đây mới có một số trí thức đề cập đến những phương thức cụ thể và tích cực hơn, như thành lập cơ quan nghiên cứu chiến lược dân chủ và phát triển (think tank), vận dụng các nguồn lực vào tiến trình dân chủ hoá Việt Nam, nhấn mạnh vào vai trò xây dựng xã hội công dân của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hay vai trò của cộng đồng hải ngoại như một lực lượng đối lập. Đây là những kế sách lâu dài có hiệu lực chuyển hoá chế độ chính trị ở trong nước, nhưng công cuộc thực hiện đòi hỏi nhiều thời gian, phương tiện tài chánh và nhân sự, nhất là sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng.

Trong khi theo đuổi những mục tiêu lâu dài, chúng ta cần gấp rút tìm cách đối phó với những vấn đề trước mắt, ưu tiên là hai mối quan tâm nghiêm trọng đã nêu trên. Xét cho cùng, mối quan tâm thứ hai có liên quan với mối quan tâm thứ nhất và những biện pháp mạnh của nhà cầm quyền đối với mọi tiếng nói phát biểu lòng yêu nước và nguyện vọng chính đáng của người dân đều là hệ quả của tinh thần lệ thuộc Trung Quốc, với mục đích  bảo vệ quyền lực và quyền lợi của Đảng và Nhà nước. Những biện pháp này đều rập theo khuôn mẫu của Trung Quốc, từ những phiên toà “kangaroo” với những bản án đã có sẵn dành cho những người bất đồng chính kiến và những người đòi đối xử công bằng cho những nạn nhân bị chính quyền tước đoạt đất đai, cho đến những hành động đàn áp tín đồ các tôn giáo không nằm trong hệ thống kiểm soát của nhà nước. Nếu không có gì thay đổi bất thường, đại đa số trong bộ máy lãnh đạo Đảng sau Đại hội XI vào tháng Giêng 2011 sẽ là những đảng viên thân Trung Quốc.

Để có thể tồn tại với chế độ độc tài đảng trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn Trung Quốc làm mô hình trị nước và hội nhập với cộng đồng quốc tế “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Việc giao thiệp với Hoa Kỳ và các nước dân chủ khác trên căn bản “đôi bên cùng có lợi” chủ yếu là làm giàu cho Đảng để củng cố bộ máy nhà nước. Chính phủ tìm mọi cách ngăn chặn mọi nguồn thông tin mở rộng sự hiểu biết của người dân và đưa đến những đòi hỏi dân chủ hoá chế độ. Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động Diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá” đã đích danh kết tội “các thế lực thù địch”, đặc biệt là chính phủ Mỹ và các tổ chức “phản động” của người Việt ở nước ngoài. Những chương trình viện trợ phát triển của USAID, chương trình học bổng Fulbright và Vietnam Education Foundation (VEF), chương trình giao lưu văn hoá và hợp tác văn nghệ sĩ trong và ngoài nước, cùng với các chương trình nhân đạo của các tổ chức phi chính phủ (NGO), đều bị tố cáo là nhắm mục tiêu “xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hoá Việt Nam” (?). Đáng chú ý là Bản Chỉ thị này đã báo động về “xu hướng tự diễn biến, tự chuyển hoá” đang “có chiều hướng gia tăng, có mặt trầm trọng, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Để cho cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình có thể thành công, Đảng và Nhà nước cần phải dựa vào Trung Quốc, hiện đang là quốc gia phát triển kinh tế nhanh nhất trên thế giới và cũng là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Vì cùng chung chế độ và cùng chung chí hướng, cộng sản Việt Nam coi Trung Quốc là đồng minh vững chắc và điểm tựa an toàn nhất để chống lại mọi nỗ lực dân chủ hoá chế độ. Lãnh đạo Việt Nam không phải không biết đến hiểm hoạ Trung Quốc nhưng họ đã ưu tiên đặt quyền lợi và sự sống còn của Đảng lên trên vận mệnh tương lai của đất nước. Cộng sản Việt Nam luôn luôn giữ lễ với Trung Quốc cho nên mọi lời tuyên bố của lãnh đạo và phát ngôn viên chính phủ đều chỉ dừng lại ở chỗ xác nhận chủ quyền và kêu gọi Trung Quốc đối xử tử tế với ngư dân Việt Nam. Không có một viên chức chính quyền nào lên tiếng phản đối Trung Quốc và đòi hỏi công lý cho những ngư dân bị hải quân Trung Quốc bắt giữ, đánh đập, và bắt nộp tiền chuộc tàu thuyền và ngư cụ. Những tàu tuần Trung Quốc hành động trái phép và vô nhân đạo ấy đều được gọi là “tàu lạ”, một từ ngữ lần đầu tiên được sử dụng trong lịch sử bang giao giữa hai nước.

Hiểm hoạ Trung Quốc

Truyền thống bá quyền của người Hán bắt đầu trễ nhất là từ hai ngàn ba trăm năm trước, ngay sau cuộc thống nhất trung nguyên của Tần Thuỷ Hoàng vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch. Quân nhà Tần đã mở cuộc nam tiến chinh phục các bộ tộc Bách Việt và đồng hoá dân bị trị bằng những cuộc di dân vĩ đại của người Hán. Số dân Bách Việt không chịu bị đô hộ phải chạy xa xuống phía Nam, tản mát trong các nước Đông Nam Á ngày nay. Riêng dân Lạc Việt đất Văn Lang đã kháng cự mãnh liệt, đẩy lui được nhiều đợt tấn công của các tướng nhà Tần như Đồ Thư, Nhâm Ngao, Triệu Đà và ngay cả của Tần Thuỷ Hoàng, rốt cuộc Đồ Thư bị chặt đầu, Tần Thuỷ Hoàng lâm bệnh phải rút quân về nước mà chết (210 tr.TL). Anh hùng chiến thắng quân Tần là Thục Phán lên ngôi vua, xưng hiệu là An Dương Vương, thay tên nước Văn Lang là Âu Lạc, chấm dứt triều đại Hùng Vương đã tan rã dưới sức mạnh của quân Tần. Nước Âu Lạc tồn tại được 30 năm thì mất do việc An Dương Vương gả con gái là Mị Châu cho Trọng Thuỷ, con trai của vua nước Nam Việt là Triệu Đà. Qua sự thông đồng của Trọng Thuỷ, Triệu Đà đã đánh bại An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt.

Năm 111 tr. TL, triều đại nhà Hán đem quân chinh phục nước Nam Việt. Các triều đại kế tiếp đã thay nhau thống trị dân tộc ta trong suốt mười thế kỷ, nhưng mọi cố gắng đồng hoá dân tộc Việt và biến lãnh thổ của ta thành một tỉnh của Trung Quốc đều thất bại. Tuy nhiên, sau khi Khúc Thừa Dụ lật đổ sự thống trị của nhà Đường năm 905, khôi phục nền độc lập cho dân tộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc vẫn tiếp tục xâm lược nước ta cho đến khi toàn bộ quân nhà Thanh bị vua Quang Trung đánh tan năm 1789.

Những năm sau đó, vì phải lo chiến tranh với các nước Tây phương và vì Pháp đã chiếm đóng Đông Dương, Trung Quốc không có cơ hội trở lại Việt Nam cho đến khi Mao Trạch Đông ủng hộ Hồ Chí Minh trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ với thâm ý kéo Việt Nam vào quĩ đạo của Trung Quốc. Dã tâm đó thể hiện rõ rệt qua sự kiện Chu Ân Lai ép buộc Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng phải chấp nhận Hiệp định Genève chia đôi đất nước. Sau đó họ Chu đã làm mất mặt các đồng chí Việt Nam khi mời đại diện Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Luyện đến dự tiệc chung với Phạm Văn Đồng và thông báo ý muốn thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và chính phủ Ngô Đình Diệm.

Mưu đồ của Trung Quốc thôn tính Việt Nam và dùng Việt Nam làm bàn đạp để tiến chiếm toàn vùng Đông Nam Á đã được cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tiết lộ cho các đồng chí lãnh đạo sau chuyến đi Bắc Kinh hội kiến với Mao Trạch Đông năm 1963, khi họ Mao không thuyết phục được Lê Duẩn và Trường Chinh ra tuyên bố chung chống chủ nghĩa xét lại của Khrushchev. Từ đó, Bắc Kinh biết Hà Nội đã chọn kết thân với Moscow, nhưng vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho Hà Nội vì nhu cầu chống Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Sau 1975, quan hệ Việt-Trung xấu hẳn đi cho đến khi Đặng Tiểu Bình quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học” trong cuộc chiến tranh biên giới vào đầu năm 1979. Sau khi các nước cộng sản Đông Âu theo nhau sụp đổ năm 1989 và khi Gorbachev giải tán Đảng Cộng sản và Liên Bang Xô-viết năm 1991 thì Cộng sản Việt Nam phải quay về với Trung Quốc để có khả năng bảo vệ Đảng và chế độ. Kể từ đó, Trung Quốc đã có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc dùng Việt Nam làm cứ điểm để tiến hành kế hoạch kiểm soát Biển Đông và toàn thể các nước Đông Nam Á.

Vào thời điểm đó, tinh thần yêu nước trong giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam còn cao, cho nên mặc dù phải trở lại với Trung Quốc, họ cũng ráo riết vận động Mỹ bỏ cấm vận và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Dần dần, chính sách nước đôi ấy đưa đến hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến trong hàng ngũ lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Do sự suy giảm thế lực vả ảnh hưởng quốc tế của Hoa Kỳ trong khi Trung Quốc phát triển mau chóng và xác lập đuợc vị thế của một siêu cường, phe bảo thủ Việt Nam giành đuợc ưu thế và sẵn sàng nhượng bộ Trung Quốc để đổi lấy sự bảo vệ quyền lực và quyền lợi riêng của Đảng. Ngoài hai bản hiệp ước phân định biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ bất lợi cho Việt Nam, việc Trung Quốc xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa và công bố bản đồ hình lưỡi rồng (còn gọi là lưỡi bò) ở Biển Đông là những hành động phi pháp, ngang ngược không chỉ đối với Việt Nam mà còn với tất cả các nước trong khu vực. Sự nhượng bộ của Việt Nam lên đến mức báo động khi Nhà nước quyết định để cho Trung Quốc khai thác bô-xít trên Tây Nguyên, bất chấp những cảnh báo khẩn cấp của các nhà khoa học, chính trị và quân sự, đặc biệt là ba lá thư gửi lãnh đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu Chính phủ ngưng thực hiện các dự án khai thác bô-xít vì đây là “vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng.” Mới đây, hai vị cựu tướng lãnh Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh lại phát hiện được hành động bất chính của lãnh đạo mấy tỉnh biên giới đã âm thầm cho doanh nghiệp nước ngoài thuê 300 ngàn héc-ta (ha) rừng đầu nguồn để khai thác dài hạn (50 năm) trong đó 264 ngàn ha được dành cho Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan. Các ông đã viết thư cho Bộ Chính trị, báo động nguy cơ về an ninh quốc phòng, ô nhiễm môi trường và tai nạn cho nhân dân miền hạ du, và yêu cầu huỷ bỏ những hợp đồng bất chính ấy nhưng chưa có kết quả.

Người Việt hải ngoại có thể làm gì?

Trước viễn ảnh giang sơn mấy ngàn năm của tổ tiên bị biến thành một tỉnh của Trung Quốc, trước những biện pháp đe doạ và trừng trị tàn nhẫn của chính quyền, người dân trong nước vẫn còn phải cắn răng chịu đựng, ngoại trừ tiếng nói dũng cảm của một số trí thức và đảng viên có uy tín nhưng luôn luôn bị bộ máy công an sách nhiễu và bọn tin tặc tìm cách bóp nghẹt. Trước tình thế ấy, cộng đồng nguời Việt hải ngoại hết sức lo ngại và nóng lòng tìm cách đối phó. Nhiều phương cách tranh đấu đã được đưa ra, từ ôn hoà tới cực đoan, nhưng phần lớn chỉ là những điều mơ ước (wishful thinking) thiếu tính khả thi. Ngoài ra, trong cộng đồng vẫn chưa có sự thảo luận thẳng thắn, tôn trọng ý kiến khác biệt dù cùng theo đuổi một mục tiêu, do đó không đạt được sự đồng thuận, nhiều khi còn chụp mũ và mạt sát nhau thậm tệ, một hiện tượng được gọi là “quân ta đánh quân mình”.

Trở lại với nhận định ở trên là cần phải gấp rút tìm cách đối phó với những vấn đề quan tâm trước mắt được nhận diện về đối nội là tinh thần lệ thuộc Trung Quốc của phe nhóm bảo thủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam, và đối ngoại là nguy cơ tổ quốc Việt Nam bị sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc và dân tộc Việt Nam bị đồng hoá trước những đợt di dân khổng lồ của người Hán. Trong khi cuộc tranh đấu của nhân dân cho tự do dân chủ vẫn có thể tiến hành dù còn bị kiểm soát chặt chẽ bởi chính quyền, cuộc tranh đấu chống hiểm hoạ Trung Quốc sẽ khó khăn gấp bội vì đồng thời phải đương đầu với cả thù trong lẫn giặc ngoài. Trong khi đó, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện dễ dàng hơn, tự do hơn để hỗ trợ cho nhân dân trong nước, nhất là khả năng vận động quốc tế cho một giải pháp “chung sống hoà bình, hợp tác và phát triển” giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á mà chủ yếu là quan hệ bình đẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nếu một thoả hiệp ASEAN-Trung Quốc có thể đạt được, chủ quyền Việt Nam sẽ được bảo đảm. Trước tình hình cấp bách hiện nay, cộng đồng hải ngoại cần gia tăng nỗ lực vào cuộc vận động quốc tế này. Dù thoả hiệp với Trung Quốc có đạt được hay không, sự đóng góp quan trọng của cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ được ghi vào lịch sử.

Riêng tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Mỹ gốc Việt cần tập trung chiến dịch vận động vào Chính quyền và Quốc hội, các toà Đại sứ của các nước ASEAN, các tổ chức quốc tế liên quan đến Trung Quốc và khu vực Á châu-Thái Bình Dương. Ngoài ra, cần kêu gọi sự hợp tác của giới trí thức và cộng đồng người Mỹ gốc Á, vì họ cũng rất quan tâm về tham vọng bành trướng của Trung Quốc và họ không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo của một siêu cường cộng sản độc tài. Một nhóm trí thức trẻ vùng thủ đô Washington DC đã bắt đầu mở cuộc tiếp xúc thăm dò với lãnh đạo của những tổ chức người Mỹ gốc Á châu-Thái Bình Dương để lập kế hoạch vận động chung. Tiếng nói của cộng đồng người Mỹ gốc Á châu chắc chắn sẽ được các nhà làm chính sách của Hoa Kỳ và các nước ASEAN trân trọng lắng nghe. Cộng đồng người Việt khắp nơi cũng cần có những hoạt động tương tự ở quốc gia sở tại và nối kết với cuộc đại vận động ở Hoa Kỳ.

Cuộc vận động của người Việt hải ngoại cho một giải pháp hoà bình ở Biển Đông chắc chắn sẽ được đồng bào trong nước vui mừng đón nhận. Đây cũng là cơ hội thuận tiện cho sự trao đổi và hợp tác giữa trí thức trong nước và trí thức ở ngoài nước về những vấn đề có lợi ích cho đất nước và dân tộc. Nhà nước sẽ không có lý do gì để ngăn cấm, trái lại còn cần phải ủng hộ vì đây cũng chính là cơ hội cho chính phủ có thể thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà vẫn có thể tồn tại. Dĩ nhiên, sự tồn tại này còn tuỳ thuộc vào những quyết định cởi mở của chính phủ về những quyền tự do, dân chủ căn bản của người dân trong một khung cảnh địa lý-kinh tế-chính trị mới của toàn vùng. Ngược lại, nếu Đảng và Nhà nước cứ tiếp tục ngăn cấm sự hợp tác chính đáng và hoà bình của người Việt Nam trong và ngoài nước thì sẽ không khỏi bị dư luận trong nước và quốc tế lên án  và sẽ không tránh khỏi sự chống đối quyết liệt của các tầng lớp nhân dân có thể dẫn đến bạo động. Đến lúc này, nhân dân đã có nhiều cơ hội hiểu biết hơn về thế giới bên ngoài và nhận rõ được nhu cầu chuyển hoá chế độ từ độc tài sang dân chủ để đất nước có thể tồn tại và phát triển trong khung cảnh hội nhập toàn cầu.

Tất nhiên cuộc vận động của người Việt hải ngoại chỉ có thể thành công nếu ASEAN, với hậu thuẫn của Hoa Kỳ và các quốc gia Thái Bình Dương, có thể thuyết phục được Trung Quốc chấp nhận giải pháp chung sống hoà bình, hợp tác và phát triển. Kết quả mong ước này còn tuỳ thuộc vào vai trò cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ và khả năng đạt được đồng thuận giữa các nước ASEAN, đặc biệt là những nước đang tranh chấp chủ quyền lãnh hải ở Biển Đông. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của Việt Nam với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2010. Trong mười tháng còn lại, liệu Việt Nam có đủ khả năng điều động các nước thành viên tạm giải quyết những dị biệt song phương để tiến đến hợp tác đa phương hầu có đủ tư thế đối thoại với Trung Quốc hay không? Đây là cơ hội và cũng là thử thách mới cho Việt Nam trong năm nay. Lịch sử sẽ phán xét khả năng và tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo Việt Nam. Đây cũng là thử thách và cơ hội cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong vai trò chủ xướng cuộc vận động của cộng đồng người Mỹ gốc Á châu-Thái Bình Dương với chính phủ Mỹ và quê hương gốc của họ. Mong rằng cộng đồng sẽ không bỏ lỡ cơ hội đóng góp vào những nỗ lực xây dựng hoà bình trong khu vực và bảo vệ chủ quyền của đất nước.

Nói đến cơ hội và thử thách của cộng đồng, đã đến lúc cần đề cập đến một vấn đề nhạy cảm có khi được coi như vấn đề cấm kỵ không nên đụng tới, đó là quan hệ giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với chính quyền và một số thành phần nhân dân trong nước. Vấn đề này không nên và không thể né tránh vì nó là một thực tế đang diễn ra rất phức tạp, từ thái độ hồ hởi hợp tác của những người có thiện cảm với chế độ, những chương trình nhân đạo và giáo dục của các tổ chức NGO, đến thái độ thù nghịch một còn một mất với chính quyền cộng sản. Quan hệ phức tạp này cần được bình tâm thảo luận và giải quyết thích hợp vì không thể biến thái độ chống cộng cực đoan thành một mối thù truyền kiếp cho đến các thế hệ về sau. Nếu mối quan hệ này có thể giải quyết một cách hợp tình hợp lý và trở thành một đồng thuận lớn trong cộng đồng hải ngoại thì mọi thành phần nhân dân trong nước, kể cả những đảng viên cộng sản thật tình yêu nước và có đầu óc tiến bộ, sẽ vui mừng đón nhận và sẽ trở thành một khối áp lực có khả năng thay đổi chính sách và ngay cả chế độ, nếu cần.

Trong phạm vi bài này, tôi chỉ muốn nêu lên một số nhận định và đề nghị do sự hiểu biết của cá nhân để độc giả cùng xem xét và góp ý:

  1. Đa số nhân dân trong nước đều chán ghét chế độ nhưng cũng đã trở nên quen với những lề lối trong xã hội cộng sản từ trên nửa thế kỷ nay, nhất là khi đời sống vật chất theo kinh tế thị trường đã dễ chịu hơn nhiều so với thời bao cấp. Họ cũng rất chán ghét chiến tranh và rất dè dặt đối với những biến động chính trị vì chưa thấy có lực lượng nào có thể chuyển hoá được chế độ; ngoài ra, họ rất hoài nghi và thờ ơ với các lực lượng “chống cộng” và những lời kêu gọi nổi dậy từ bên ngoài.
  2. Đa số nhân dân trong nước bị che giấu thông tin về những quyết định sai lầm của lãnh đạo có hậu quả nguy hại về kinh tế, văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng. Các cơ quan truyền thông quốc doanh chỉ trình bày những tin tức và hình ảnh có lợi cho chính phủ, chẳng hạn những thông tin về sự hợp tác và ủng hộ của quốc tế, những cuộc viếng thăm Việt Nam của nguyên thủ các cường quốc, những hội nghị APEC và ASEAN được tổ chức rầm rộ ở Hà Nội.
  3. Đối với mối lo ngại của nhân dân về mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, Nhà nước một mặt trấn an dân chúng bằng những lời tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, một mặt đề cao quan hệ hữu hảo và bền vững giữa hai nước, che đậy những điểm nhượng bộ Trung Quốc trong các thoả hiệp song phương, và làm giảm thiểu tính nghiêm trọng của những hành động ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông.
  4. Đối với những nỗ lực dân chủ hoá và đòi hỏi công bằng xã hội, Nhà nước thi hành các biện pháp ngăn chặn những lời khuyến cáo hay phản biện xây dựng của giới trí thức, khoa học gia, và thẳng tay đàn áp những cá nhân hay tổ chức tranh đấu cho tự do, dân chủ, những người bênh vực cho dân oan và lao động bị bóc lột. Những tội danh phi lý và những bản án quá đáng đối với những trí thức tranh đấu bất bạo động cho thấy mục đích của nhà cầm quyền là răn đe và gieo rắc sự nghi ngại trong dân chúng đối với ảnh hưởng từ bên ngoài.
  5. Đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26.3.2004 về “công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.” Đây là một kế hoạch toàn diện nhằm vận động ba triệu nguời Việt Nam ở nước ngoài thành “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc” với những đóng góp quan trọng về tài chính và trí tuệ rất cần thiết cho công cuộc phát triển đất nước. Mặc dù mục đích này không thể đạt được chừng nào đất nước còn bị áp đặt dưới một chế độ độc tài toàn trị, những biện pháp thuận lợi hơn cho “Việt kiều” về nước du lịch, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, hoạt động nghề nghiệp hay định cư lâu dài, cũng có khả năng hấp dẫn được một thiểu số nhất định trong cộng đồng hải ngoại.

Để vô hiệu hoá công tác tuyên vận một chiều của Nhà nước cộng sản, nhất là để có thể xoá bỏ những ý nghĩ và hình ảnh tiêu cực về số đông người Việt ở nước ngoài mà bộ máy tuyên truyền của nhà nước đã nhồi sọ nhân dân trong nước, cộng đồng hải ngoại cần phải thay đổi quan niệm và phương cách chống cộng đã lỗi thời. Qua những chuyến về thăm thân nhân và bằng hữu, những hoạt động cứu trợ nạn nhân bão lụt, những chương trình giúp đỡ y tế, giáo dục, hoặc cho vay vốn nhỏ của người Việt hải ngoại, đồng bào trong nước không cần bị tuyên truyền cũng nhận ra được thiện chí và ước vọng chính đáng của người Việt ở nước ngoài đối với quê hương nguồn cội. Niềm tin tưởng của đồng bào trong nước là điều kiện thiết yếu cho những nỗ lực tranh đấu chung cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Tình đoàn kết và hợp tác của người Việt trong và ngoài nước càng cần thiết hơn nữa cho những nỗ lực bảo vệ quê cha đất tổ, chống lại hiểm hoạ xâm lược và đồng hoá của Trung Quốc.

Đảng Cộng sản lo sợ và kết tội “diễn biến hoà bình” là chống phá chính phủ và dân tộc. Người Việt hải ngoại sẽ chứng tỏ là diễn biến hoà bình chỉ chống Nhà nước độc tài để đem lại lợi ích cho dân tộc.

Đảng Cộng sản kêu gọi cán bộ và toàn dân học tập “đạo đức Hồ Chí Minh”. Người Việt hải ngoại sẽ chứng tỏ là Nhà nước độc tài chỉ mượn uy danh của “Bác Hồ” với nhân dân trong nước để duy trì chế độ, vì thực tế là họ đã làm ngược lại tất cả những lời ông đã dạy cho cán bộ cầm quyền. Ngoài ra cũng rất dễ chứng tỏ rằng chế độ cộng sản độc tài đã huỷ hoại các giá trị văn hoá và đạo đức của dân tộc, biến công dân thành công cụ của nhà nước khiến cho họ chỉ có cơ hội thăng tiến bằng những thủ đoạn gian dối để tỏ lòng tuyệt đối trung thành với chế độ.

Bằng mọi cách, cần phổ biến sâu rộng đến mọi giới nhân dân và quân đội những tin tức và tài liệu chính xác về tình hình Biển Đông, về những nguy hại của việc khai thác bô-xít Tây nguyên, khai thác rừng đầu nguồn, xây dựng đập nước ở thượng nguồn sông MeKong, những làng Trung Quốc trên lãnh thổ Việt Nam, v.v. Đó là những thông tin bị Nhà nước bưng bít và ngăn cấm. Để có sức thuyết phục, cần sử dụng những tài liệu khách quan khoa học, nhất là những bài viết của chính những đảng viên và tướng lãnh có uy tín ở trong nước và của các quan sát viên quốc tế.

Cần tách rời những người cộng sản yêu nước ra khỏi những người cộng sản hại nước. Cần hỗ trợ cho những tài năng trẻ ở trong nước có thêm cơ hội học hỏi, phát triển khả năng sáng tạo và luôn luôn tự hào là dòng giống của con Hồng, cháu Lạc. Cần sẵn sàng tiếp xúc, trao đổi và tạo cơ hội hợp tác giữa những trí thức tiến bộ, những đảng viên sáng suốt, những nhà văn hoá và nghệ sĩ nổi danh trong và ngoài nước.

Gần đây, vì cần phải xoa dịu dư luận bất mãn của nhân dân, vì những động thái mới của Hoa Kỳ và các nước ASEAN nhằm bảo vệ an ninh và quyền lợi chung tại Biển Đông, chính quyền trong nước đã có thái độ mạnh dạn và có trách nhiệm hơn, như gia tăng lực lượng phòng thủ bằng việc mua tàu ngầm và phi cơ chiến đấu của Nga. Thủ tướng chính phủ cũng vừa lưu ý báo chí phải “lắng nghe ý kiến của người dân,” và thông tin nhanh nhạy hơn về vấn đề “bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền dân tộc.” Với kinh nghiệm về cách “nói một đàng, làm môt nẻo” của chính quyền cộng sản, mọi người Việt Nam trong và ngoài nước sẽ tiếp tục theo dõi những bước đi của Đảng và Nhà nước trong những tháng ngày sắp tới.

Tóm lại, vì nhu cầu thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vì nhu cầu đại đoàn kết dân tộc trước nguy cơ bị Trung Quốc thôn tính và đồng hoá, cả chính quyền trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đều cần phải có những quyết định đột phá, biến thử thách thành cơ hội, kết hợp được sức mạnh cần thiết cho sứ mệnh phát triển và cứu nguy đất nước. Trong tư thế của nhà cầm quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam có hai lựa chọn: dọn đường mở lối hay xây chướng ngại vật?

Trong bất cứ trường hợp nào, cộng đồng người Việt hải ngoại cũng vẫn tiếp tục hỗ trợ thích hợp cho tiến trình dân chủ hoá và những nỗ lực bảo vệ độc lập và vẹn toàn lãnh thổ của đồng bào trong nước.

© 2010 Lê Xuân Khoa

Tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo việc cho nước ngoài thuê rừng

Tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tiếng về việc một số địa phương cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn.

“Với Việt Nam đừng tưởng mạnh mà thắng được yếu”

Nghĩ về sức mạnh cộng hưởng của dân tộc

Trách nhiệm phải lên tiếng

– Được biết ông đã có thư gửi các cấp lãnh đạo có thẩm quyền cảnh báo nguy cơ từ việc cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn. Vì sao ông không đồng tình với việc này?

Ai làm gì tôi không biết nhưng tôi thấy đây là một trách nhiệm phải lên tiếng.

Đặc điểm nước ta nhỏ hơn một tỉnh của Trung Quốc, chiều ngang hẹp, chiều dài dài, độ dốc núi đổ ra biển rất gần, các cơn lũ quét nhanh ngang tiếng động, thiên tai xảy ra liên tục, môi trường ngày càng xấu đi, đặc biệt nước biển dâng mất thêm diện tích ruộng đồng bằng. Đây là một hiểm hoạ cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia.

Ngoài chuyện chặt rừng đầu nguồn gây lũ lụt tôi còn băn khoăn ở chỗ nhiều địa điểm cho thuê có vị trí chiến lược và địa chính trị trọng yếu. Nhớ lại các thời kháng chiến, tất cả các tỉnh đều có căn cứ là các vùng rừng núi, kháng chiến chống Pháp ta có Việt Bắc, kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường sơn và vùng Tây Nam Bộ. Những đất rừng đầu nguồn này đều nằm trong đất căn cứ hoặc ở vùng biên giới. Ví dụ. Nghệ An đang cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp đây là 3 địa bàn phên dậu quốc gia. Lạng Sơn cũng vậy.

Đảng, Nhà nước ta trong thời đổi mới cần sử dụng đất cho các mục tiêu là cần thiết nhưng phải cân nhắc kỹ quy mô, địa điểm, tính từng mét đất. Trong khi dân ta còn thiếu đất, thiếu nhà, thiếu việc làm, triệt để không bán, không cho nước ngoài thuê dài hạn để kinh doanh, trồng rừng nguyên liệu, địa ốc, sân gôn, sòng bạc…

Tuy đã muộn, nhưng ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.

Nhiều ý kiến phản đối, chính quyền tỉnh vẫn ký

– Có ý kiến cho rằng kiến nghị của ông bắt nguồn từ việc thiếu thông tin chính xác, do đó phản ứng như vậy là có phần cực đoan?

Tôi có thông tin chứ không phải chỉ nghe nói đâu đó. Sở dĩ tôi có thông tin là do anh em ở bộ chỉ huy quân sự tỉnh và công an báo lên. Ngay khi nhận được tin báo tôi đã gọi về các địa phương để hỏi, lãnh đạo tỉnh cũng công nhận với tôi là có chuyện đó.

Ở một số địa phương, công an và bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã lên tiếng ngăn cản nhưng chính quyền vẫn ký. Thậm chí, có nơi Chủ tịch tỉnh kí cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn.

Hồi anh Võ Văn Kiệt làm Phó Thủ tướng, anh Kiệt có giao cho tôi làm đặc phái viên hai việc: Một là làm sao chấm dứt được việc đốt rừng; Hai là tạm thời đình chỉ việc xuất khẩu gỗ. Anh Kiệt cho đến lúc cuối đời vẫn còn trăn trở với 2 phần việc này.

Trong một văn bản ủy quyền cho tôi, anh ghi rõ giao đồng chí Đồng Sỹ Nguyên có quyền xử lí tại trận không cần báo. Gay gắt đến thế trong việc giữ rừng giữ đất. Để đồng bào có sức trồng rừng, anh Kiệt còn cho chở gạo từ phía Nam ra tiếp trợ.

Trong bảy năm được Đảng, Chính phủ giao phụ trách chương trình 327, tôi đã cùng các bộ, các địa phương lặn lội khắp mọi nẻo rừng, ven biển, các đảo; đã từng leo nhiều ngọn núi cao hàng 1000m, từ bước chân, qua ống nhòm đã tận mắt thấy cảnh tàn phá rừng để làm nương rẫy, chặt phá gỗ quý để sử dụng và xuất khẩu.

Mối nguy hại của việc tàn phá rừng đầu nguồn thế nào mọi người đều đã rõ. Bởi vậy, trồng rừng đầu nguồn là vấn đề sống còn, là sinh mệnh của người dân, chúng ta không chỉ trồng rừng mà còn phải bảo vệ rừng.

Đã cho thuê hơn 300 ngàn ha rừng

– Đến nay ông đã nhận được phản hồi nào về kiến nghị của mình chưa?

Khi tôi gửi kiến nghị lên thì có nhận được điện thoại của Thủ tướng. Thủ tướng nói với tôi là đã nhận được thư và đang giao cho Bộ Nông nghiệp đi điều tra thực tế. Bộ Nông nghiệp cũng đã thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng điều tra xong và gửi lại bằng văn bản cho tôi.

– Kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp ra sao, thưa ông?

Bộ Nông nghiệp đồng ý với tôi việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê rừng đầu nguồn là sự thật. Bộ đã trực tiếp kiểm tra tại 2 tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh. Ngoài ra tổng hợp từ báo cáo của 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. 10 tỉnh này đã cho 10 DN nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 300 ngàn ha, trong đó DN từ Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 ngàn ha, 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đó là một tầm nhìn rất ngắn!

Giới chức địa phương khi được phỏng vấn đã bác bỏ quan ngại với lý do các dự án đều đã được cân nhắc kỹ lưỡng vì lợi ích của cộng đồng dân cư. Ông nghĩ sao về lập luận này?

Nói như thế là không thuyết phục.

Ngay trong báo cáo của Bộ Nông nghiệp cũng đã xác nhận một sự thật là một số nơi đã thu hồi đất của dân (đất lâm nghiệp thực tế đã có chủ) để giao cho nước ngoài thuê.

Theo tự nhiên, dân đồng bằng phải có ruộng, người miền núi phải có rừng. Nay cho thuê hết đất rừng thì người dân sẽ mưu sinh thế nào, điều đó cần phải làm rõ. Bao nhiêu cuộc kháng chiến của ta cũng chỉ vì mục tiêu người cày có ruộng, người dân miền núi có rừng. Cách mạng thành công cũng nhờ mục tiêu đó mà người dân hướng theo.

Việc lo cho dân phải là việc đặt lên hàng đầu, trước cả việc thu ngân sách. Cứ dựa vào những lập luận như tăng thu ngân sách để có những quyết định ví dụ như cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn là một tầm nhìn rất ngắn!

Sao không tự hỏi vì sao các DN nước ngoài lại chọn thuê đất chủ yếu ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, đặc biệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, đường đi lên Tây Nguyên? Rõ ràng đó là những tỉnh xung yếu biên giới, có những vị trí địa chiến lược mang tính cốt tử. Bản thân dân nước mình cũng đang thiếu việc làm.Và khi đã thuê được rồi thì liệu họ có sử dụng lao động là người Việt Nam hay là đưa người của họ sang?

Lấy ngay ví dụ việc cho nước ngoài thuê đất ở Đồ Sơn. Tôi đã trực tiếp đến kiểm tra, xung quanh khu vực đó, họ cho đóng những cột mốc to như cột mốc biên giới và không cho người Việt vào đó. Cận vệ của tôi tiếp cận xin vào họ cũng không cho, đến khi tôi trực tiếp xuống xe, làm căng quá mới vào được.

Việc một số địa phương nói rằng có những vị trí cho người nước ngoài thuê vì bao lâu nay vẫn để trống, nói như vậy là vô trách nhiệm, địa bàn anh quản lí mà để như thế tức là đã không làm tròn nhiệm vụ. Hồi tôi đi làm dự án 327, tôi rõ lắm, dân mình lúc nào cũng thiếu đất, muốn làm dự án còn không có mà làm, sao có đất để không được.

Kiến nghị đình chỉ ngay những dự án chưa ký

“Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc,
hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng”. Ảnh: Thu Hà

– Vậy theo ông, chúng ta cần phải làm gì trước hiện trạng này?

Một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, những tỉnh chưa kỷ đình chỉ ngay. Thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn chương trình 5 triệu ha rừng để thực hiện.

Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường lập ra bộ phận chuyên trách. Trong vòng một năm, chính thức giao khoán đất, khoán rừng cho từng hộ. Trong bản, trong xã cấp sổ đỏ quyền sở hữu sử dụng đất rừng vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.

Từ đây, tôi đề nghị mở rộng chương trình xoá đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp bố trí tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng.

Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng.

Chiến lược thuê đất của Trung Quốc

<!–NGay gio Modified

–>

23/02/2010 23:44

Trên một nông trường của người Trung Quốc ở Sudan – Ảnh: ChinaDaily
Trong nhiều năm qua, người Trung Quốc đã thuê đất đai ở khắp các châu lục trên thế giới.

Theo BBC, ngày 30.1.2010, một cuộc biểu tình với hàng trăm người dân đã diễn ra tại thành phố Almaty ngay sau khi giới lãnh đạo Kazakhstan thông báo Trung Quốc muốn thuê hàng triệu héc-ta đất nông nghiệp của nước này.

Sự kiện trên chỉ là một trong vô vàn vấn đề liên quan tới chiến lược thuê đất của nước ngoài mà chính quyền Bắc Kinh đang đẩy mạnh trong nhiều năm qua.

Không ngừng mở rộng

Tờ The Finacial Times (Anh) ngày 8.5.2008 cho biết, dưới áp lực về lương thực, Trung Quốc đã phải hướng ra ngoài để thuê đất nông nghiệp, khích lệ các doanh nghiệp nông nghiệp xuất ngoại. Thực tế cho thấy Chính phủ Trung Quốc đã cổ vũ cho các doanh nghiệp ra nước ngoài thuê mua đất nông nghiệp, đặc biệt là ở châu Phi và Nam Mỹ. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng đặc biệt khuyến khích các ngân hàng quốc doanh, doanh nghiệp sản xuất hoặc công ty dầu mỏ thuê đất đai ở nước ngoài.

Công ty Tân Thiên ở Tân Cương là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài. Từ năm 1996, Tân Thiên đã đầu tư 50.000 USD vào Cuba để trồng lúa nước. Hai năm sau, công ty này mua thêm 1.050 héc-ta đất ở Mexico. Tương tự, tháng 3.2004, chính quyền thành phố Trùng Khánh đã ký thỏa thuận hợp tác “Khu nông nghiệp tổng hợp Trung – Lào” với diện tích 5.000 héc-ta đất với nhiều hạng mục: lâm nghiệp, thủy lợi…

Mới đây, một quan chức Trung Quốc tiết lộ trên tờ The Finacial Times: “Bộ Nông nghiệp đang làm việc với Brazil để bàn việc mua đất trồng đậu”. Tờ báo cũng phân tích nếu Chính phủ Trung Quốc cổ vũ các doanh nghiệp mua hoặc thuê đất ở nước ngoài để kinh doanh và đưa lao động bản địa sang làm việc thì sẽ gây nên không ít vấn đề lớn cho các nước sở tại.

Thêm nữa, hoạt động nông nghiệp của Trung Quốc cũng có thể ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp của nước sở tại. Từ hơn 10 năm trước, người Trung Quốc đã tới Mông Cổ trồng rau, chủ yếu là rau cải, kinh doanh rất phát đạt. Vài năm trở lại đây, số người Trung Quốc sang trồng rau cải ngày càng nhiều, khiến chính quyền Mông Cổ lo ngại vì sản phẩm của Trung Quốc lấn át sản phẩm nội địa.

Người Trung Quốc nói gì?

Việc Trung Quốc thuê đất ở nước ngoài không còn là vấn đề mới mẻ. Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã có những bước đi tương tự. Nhưng Trung Quốc có vẻ như đang thực hiện một cách ráo riết hơn.

Một câu hỏi đặt ra là mục đích chính của Trung Quốc khi mua hoặc thuê đất đai ở nước ngoài phải chăng chỉ đơn thuần nhằm phát triển nông nghiệp? Ông Lý Vỹ Tường – Phó chủ tịch Phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô thuộc Trung tâm Nghiên cứu phát triển nông thôn, trực thuộc Bộ Khoa học công nghệ Trung Quốc – trả lời tờ The Finacial Times: Kế hoạch làm nông nghiệp ở nước ngoài của Bắc Kinh mang lại hiệu quả chưa được như ý. Thông thường các doanh nghiệp nước này tự đi ra ngoài hoạt động, chủ yếu là châu Phi do đất đai ở đây dễ mua hoặc thuê. Tuy nhiên, sau khi mua hoặc thuê đất, họ lại vấp phải nhiều khó khăn như vấn đề an toàn, thiên tai, vận chuyển sản phẩm về nước. Theo ông này, việc ra nước ngoài mua hoặc thuê đất nông nghiệp nhằm bảo đảm vấn đề lương thực chỉ là một cách thử nghiệm.

Trong bài viết trên tuần báo Phương Nam hồi tháng 7.2009, ông Khổng Quốc Hoa – tiến sĩ kinh tế tại Đại học Sơn Đông – cho rằng việc “mượn đất nông nghiệp” là một phương thức có nguồn gốc lịch sử và không chỉ đơn thuần là phục vụ mục đích nông nghiệp. Thời Tây Hán, Triệu Sung Quốc đã áp dụng phương sách này. Chính sách này sau khi được áp dụng đã có hiệu quả to lớn, lương thực không những dư thừa mà đất đai còn rộng mở. Triệu Sung Quốc được coi như một nhà chính trị tài ba nhìn xa trông rộng. Kế sách mượn đất của ông được người dân nước này truyền tụng từ đời này sang đời khác, trở thành “văn hóa mượn đất”, tác động mạnh mẽ tới tận thời nay.

Tiến sĩ Khổng cũng cho rằng việc thăm dò khai phá đất biên cương cũng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, kích thích mậu dịch biên cương và giao lưu dân tộc phát triển, ổn định biên giới. Như vậy thông qua việc thuê mượn đất, người Trung Quốc xưa đã thực hiện được rất nhiều mục đích chính trị, xã hội.

Cũng theo ông Khổng, ngoài “mượn đất”, nước này còn sử dụng sách lược “mượn biển” hỗ trợ cho lĩnh vực kinh tế và quân sự, đặc biệt tăng thêm tự tin và khích lệ phát triển vùng duyên hải. Tính tới năm 2008, tổng giá trị sản xuất ngành hải sản nước này đã chiếm 9,87% tổng sản phẩm quốc nội. Theo tiến sĩ Khổng Quốc Hoa, chính quyền Trung Quốc hiện tại đã sử dụng phương cách thời Tây Hán để tăng cường các hoạt động kinh tế trên biển.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên:

Cho nước ngoài thuê đất rừng là rất nguy hiểm

>> Lợi ích quốc gia

TP – “Đất rừng ở ta không phải là nhiều, trong khi có nơi còn lấy đất rừng của dân để cho nước ngoài thuê là rất nguy hiểm”, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên khẳng định, khi trả lời phỏng vấn Tiền Phong.

Ông Đồng Sỹ Nguyên – Ảnh: B.K

L.T.S: Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) vừa có thư gửi  Bộ Chính trị, Ban Bí thư T.Ư Đảng, Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cảnh báo về việc các tỉnh cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn. Tiền Phong có cuộc trò chuyện với ông, xung quanh câu chuyện này.

Ông Đồng Sỹ Nguyên nói: “Tôi có thư gửi vì một số anh em ở các tỉnh báo cáo với tôi. Các anh em ở Nghệ An không đồng ý việc cho nước ngoài thuê đất để trồng rừng ở các huyện miền núi, đầu nguồn.

Sau khi nhận được thông tin, tôi có hỏi lại Chủ tịch tỉnh và họ công nhận. Trong khi đó, tại tỉnh, Công an tỉnh và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh phản đối. Mà sự phản đối ấy là đúng.

Vì sao tôi đi sâu vấn đề này? Vì tôi có 7 năm làm chương trình 327. Từ những ngọn núi cao trên 1.000 m đến các đồi núi rừng khác, đâu tôi cũng lội hết”.

Dân thiếu đất sao lại cho thuê?

Bức thư đã được ông gửi từ bao giờ?

Tôi gửi từ trước Tết.

Từ khi gửi thư đến nay ông đã nhận được hồi âm?

Sau khi tôi gửi lên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có điện thoại cho tôi nói là đã nhận được thư và giao Bộ NN&PTNT kiểm tra.

Sau khi Bộ NN&PTNT kiểm tra đã có báo cáo gửi Thủ tướng và có gửi cả cho tôi. Báo cáo có thừa nhận cho 11 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng tại 10 tỉnh.

Việc các tỉnh cho thuê đất rừng được thực hiện theo Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đất đai. Điều gì khiến ông lo ngại và gửi thư?

Qua 7 năm làm công tác trồng, bảo vệ rừng phòng hộ, càng đi vào thực tế tôi thấy đất nước ta chiều dài rất dài trong khi chiều ngang rất hẹp. Núi với biển rất gần. Độ dốc lớn. Cho nên khi có lũ quét thì sẽ phá hủy rừng núi, đồng ruộng, nhà cửa nhanh như tiếng động.

Do đó, phải làm sao phát động đồng bào dân tộc miền núi tập trung trồng rừng. Cả ở đồng bằng và ven biển nữa. Chỉ có trồng rừng theo đặc điểm địa hình Việt Nam thì mới hạn chế được phần nào tác động của thiên tai.

Vậy mà nay mình cho nước ngoài vào thuê đất trồng rừng, liệu ta trông mong gì được ở họ? Nhà đầu tư nước ngoài họ chỉ quan tâm lợi nhuận mang về nước họ.

Kết quả kiểm tra của Bộ NN&PTNT ra sao, thưa ông?

Nội dung báo cáo của Bộ NN&PTNT cho biết, họ đã trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và tổng hợp báo cáo của 8 tỉnh về việc cho nước ngoài thuê đất rừng. Báo cáo có thừa nhận cho nước ngoài thuê, hoặc liên doanh để trồng rừng tại 10 tỉnh với diện tích trên 300.000 ha.

Các diện tích cho thuê đó cụ thể là thế nào, thưa ông?

Như tôi đã nói, đặc điểm của nước ta là dài, núi và biển cận kề, vì vậy việc trồng, bảo vệ rừng đầu nguồn ở miền núi là vấn đề cấp bách. Việc này ai làm. Phải để cho người dân Việt Nam làm.

Do đồng bào miền núi đất ruộng ít, đất rừng nhiều. Tại sao không chia đất rừng cho đồng bào miền núi làm, khắc phục cái đói cho họ để cho người cày có ruộng. Đây là yêu cầu bức bách. Cách mạng sở dĩ thành công cũng là nhờ khẩu hiệu “người cày có ruộng”.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ở ta bình quân chỉ 0,15 ha rừng trên đầu người, thấp hơn nhiều mức bình quân thế giới 0,6 ha/đầu người. Qua kiểm tra thực tế tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, nếu chia tổng diện tích đất quy hoạch làm rừng sản xuất cho các hộ dân thì cũng chỉ 4 – 5 ha/hộ.

Diện tích này không lớn đối với sản xuất lâm nghiệp. Như vậy sao lại phải cho nước ngoài thuê?

Tôi nghĩ, nếu mỗi hộ ở miền núi được giao 4 – 5 ha đất rừng sản xuất, thì người miền núi còn dễ làm giàu hơn đồng bằng, do có thể thực hiện đa cây, đa con.

Một cây trồng đất rừng giá trị lắm. Ví dụ nếu bán một cây xà cừ như ở trước cửa nhà tôi là phải 50 triệu đồng. Nên nếu một hộ dân trồng 10 cây xà cừ thì tha hồ thế chấp, vay ngân hàng. Rồi cấp sổ đỏ cho họ thay vì cho người nước ngoài thuê.

Người nước ngoài thuê vì họ trồng rừng nguyên liệu. Quan điểm trồng rừng của tôi khi tôi phụ trách chương trình 327 cũng có người phản đối do không hiểu đặc điểm rừng Việt Nam.

Quan điểm của tôi, đã là đất rừng, cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và cả rừng kinh tế là phải kết hợp. Rừng phòng hộ thì cứ 1ha đất chỉ cần dành trồng 500 cây lim, gụ, táu, lát… Còn 1.000 cây nguyên liệu là keo.

Cứ đan xen với nhau thì lúc nào cũng có rừng khai thác và phòng hộ cho các đời con cháu. Đây cũng là điều kiện để đồng bào xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu.

Lợi trước mắt, hại lâu dài

Có ý kiến cho rằng, việc các tỉnh cho nước ngoài thuê rừng cũng do  áp lực tăng trưởng, tăng thu cho ngân sách?

Tôi cũng băn khoăn nhiều nhưng nói không biết có ai nghe không. Tại sao dân mình, đất mình mà không giao làm. Sao không cho nông dân vay khá hơn thay vì cho nước ngoài vay để kinh doanh bất động sản, xây dựng cao ốc.

Cho nông dân vay để trồng rừng thì không sợ mất tí nào. Mỗi hộ chỉ cần trồng một ít cây xà cừ, một ít cây lát thì tha hồ trả tiền vay. Việc đó phải tập trung lo cho dân trước, thay vì tăng thu ngân sách.

Trên thế giới, qua từng thời kỳ, có nhiều nước, nước Mỹ cũng vấp phải bong bóng bất động sản làm cho nước Mỹ bao lần suy thoái kinh tế. Ngay Trung Quốc cũng phải thừa nhận các tỉnh thi nhau bán đất để tăng thu ngân sách, phô trương tăng GDP 13 đến 14%.

Để đạt mức tăng này nhanh nhất là bán đất. Điều đó chỉ có lợi trước mắt nhưng tương lai thì vô cùng nguy hiểm. Bán đất để tăng thu ngân sách, theo tôi là điều ngớ ngẩn, không hiểu kinh tế. Họ muốn phô trương thành tích thật nhanh mà không tính lâu dài.

Còn dưới góc nhìn về an ninh quốc phòng thì sao, thưa ông?

Kháng chiến chống Pháp ta có căn cứ Việt Bắc. Kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường Sơn, rừng đước ở miền Nam…Rừng đã che chở cho cách mạng. Khi chiến tranh là phải có căn cứ để sơ tán nhân dân, đối phó với địch…

Giờ những đất đầu nguồn, đất rừng này đều thuộc về đất căn cứ cả. Nghệ An cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp…, những vùng khi có chiến tranh thì phải lên đó.

Tại sao dân ta thiếu việc làm, phải đi làm thuê ở Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan…Ta sang họ thì làm thợ, còn họ sang ta làm thầy. Tại sao không giảm bớt phần tiền đầu tư vào bất động sản đưa sang trồng rừng, giảm lượng thất nghiệp, giúp người dân làm giàu.

Ngay như khu Ciputra ở Hà Nội, chúng ta cho thuê 50 năm rồi họ khoanh lại xây biệt thự, bán lại cho dân ta. Phần lợi nhuận hốt được thì họ mang về nước.

Không chỉ có vậy, họ còn dựng hàng rào, biến khu đất thuê này thành khu biệt lập, mà không phải ai muốn vào là vào được. Ở ngay Thủ đô còn vậy, huống chi ở miền núi xa xôi, hẻo lánh.

Nhưng thưa ông, lãnh đạo một số địa phương cho thuê đất rừng  khẳng định việc cho nước ngoài thuê đất rừng đã được cân nhắc rất kỹ về vấn đề an ninh quốc phòng rồi?

Từ báo cáo của Bộ NN&PTNT, tôi thấy có điều khá nhạy cảm là doanh nghiệp nước ngoài họ lại chọn thuê ở nhiều địa điểm trọng yếu về an ninh quốc phòng.

Cụ thể, họ thuê đất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng là các tỉnh biên giới. Tại Nghệ An, họ thuê ở các địa điểm gần với đường 7 và 8 sang Lào. Họ thuê ở Quảng Nam, có đường thuận tiện đi lên Tây Nguyên, qua Campuchia.

Như vậy là nắm những con đường trọng yếu của mình. Bây giờ nói như thế nhưng nay mai họ đưa người đến. Kinh nghiệm cho thấy khi làm các dự án, họ đều đưa người đến thành các làng mạc, thị trấn.

Thưa ông, trong báo cáo của Bộ NN&PTNT, quan điểm của họ về vấn đề này thế nào?

Bộ NN&PTNT kiến nghị với Chính phủ 5 vấn đề, thì trong đó có hai nội dung tôi hoàn toàn đồng ý: Một là do đất lâm nghiệp bình quân trên đầu người của ta quá ít (chỉ 0,15 ha/người), trong khi nhu cầu đất lâm nghiệp của dân rất lớn.

Vì vậy, nên hạn chế việc cho các doanh nghiệp nước ngoài thuê đất lâm nghiệp, chỉ nên khuyến khích thu hút đầu tư thông qua liên doanh, liên kết với dân và doanh nghiệp trong nước;

Hai là khẩn trương giao đất, giao rừng cho người dân, đồng thời nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho dân để họ có tư liệu sản xuất và có thể liên kết với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để trồng rừng…

Nếu làm được như trên là rất tốt. Trên cơ sở đó chỉ đạo, hướng dẫn cho dân vay vốn phát triển, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT vẫn chưa dứt khoát, họ cũng mới chỉ kiến nghị theo kiểu khuyến cáo, đề nghị hạn chế cho nước ngoài thuê.

Phải đình chỉ ngay

Ý ông là phải cấm hẳn?

Trong thư gửi Bộ Chính trị tôi đã nói rõ, với những tỉnh đã lỡ ký cho doanh nghiệp nước ngoài thuê, thì phải tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng, với những tỉnh thuộc vùng xung yếu mà chưa ký thì đình chỉ ngay.

Tôi cho rằng, phải giao đất rừng đến hộ. Sau đó, Nhà nước phải cho họ vay vốn để trồng rừng, đảm bảo kinh tế cho người dân. Điều đó là cần. Còn cho nước ngoài thuê thì họ đi theo lợi nhuận. Của mình thì lợi nhuận phải kết hợp với lợi ích lâu dài của đất nước.

Tốt nhất là để cho các doanh nghiệp trong nước làm. Điều này có thể làm được. Xóa đói giảm nghèo là phải tổ chức được sản xuất của nông dân. Nông dân phải tự đứng mà sản xuất, tự mình làm chủ thì mới xóa đói giảm nghèo bền vững được.

Thỉnh thoảng ti vi có các chương trình, các tổng công ty lên ủng hộ, tặng quà cho người nghèo 1 hay 2 tỷ đồng nhưng làm thế không ra đâu cả, vì nó như là bố thí. Như thế làm sao xoá đói giảm nghèo vững chãi được.

Tôi cũng đề nghị cấp sổ đỏ, giao đất khoán rừng cho dân, Nhà nước bớt đầu tư, cho vay không cần thiết để cho dân miền núi vay nhiều hơn, đạt một công đôi việc: Vừa làm kinh tế vừa làm rừng phòng hộ.

Quan niệm của tôi, tách rừng làm kinh tế và rừng phòng hộ riêng là một sai lầm nghiêm trọng. Phòng hộ phải kết hợp từ trên núi cho đến biển cả, làng mạc, đô thị.

Nhưng có ý kiến cho rằng, những nơi cho nước ngoài thuê lâu nay là đồi núi trọc, có giao dân cũng không mặn mà?

Lý đó không chấp nhận được. Đất mình, dân mình. Mình phải rất kiên trì giáo dục, thuyết phục. Khi tôi làm Chương trình 327, muốn mở rộng dự án nhưng không có đất. Đất không còn.

Bây giờ làm như thế này và trong báo cáo của Bộ NN&PTNT có nói, có nơi như ở Lạng Sơn giao cho nước ngoài chồng lấn lên cả đất của dân. Điều này rất nguy hiểm.

Còn họ nói các nơi đó không có ai làm thì phải hỏi họ: Anh lãnh đạo chính quyền làm gì? Đảng và chính quyền là phải lo cho dân làm. Thế tại sao anh đi xuất khẩu lao động được mà không đưa dân đến những vùng đó để làm được.

Giờ sông Mê Kông nước chặn đầu nguồn, đồng bằng sông Cửu Long ngày càng cạn kiệt trong khi nước mặn xâm lấn thì hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng là đã ở trước mắt. Không thể chủ quan. Phải thấy trước được điều đó.

Muốn giữ được an ninh lương thực thì phải giữ được đất đai. Đất đai là tài nguyên quý nhất của đất nước và là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân.

Cho thuê rừng phòng hộ: Phải bồi thường cũng nên dừng

GS TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường bàn cách giải quyết những bất cập từ việc cho nước ngoài thuê rừng, sau khi Thủ tướng có chỉ đạo rà soát và ngừng cấp phép mới cho các dự án FDI trong lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản.

Ngày 10.3, Thủ tướng chỉ thị Ủy ban nhân dân các tỉnh không được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, đợi Chính phủ rà soát.

Như vậy, Chính phủ đã có phản hồi nhanh chóng và sau lá thư của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo những nguy cơ từ việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ.

Đây là một tín hiệu tích cực từ cơ quan điều hành đất nước trước một vấn đề đang gây quan ngại sâu sắc trong dư luận.

Với tư cách một người có hiểu biết về tình hình quản lý và sử dụng đất ở nước ta, tôi cho rằng cần bàn thêm để đóng góp cho cách giải quyết tình trạng này.

Ảnh Duy Tuấn

Vi phạm cần được xử lý nghiêm

Tôi cho rằng câu chuyện xử lý này cần những biện pháp mang tính nguyên tắc hơn dựa trên cơ sở pháp luật và quy hoạch. Trước hết, 10 tỉnh đã ký hoặc đang làm thủ tục ký cho người nước thuê đất rừng phải báo cáo cụ thể các thủ tục đã thực hiện, hiện trạng vùng dự án gắn với bản đồ tỷ lệ 1/10.000.

Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ tài nguyên và Môi trường áp vào quy hoạch hiện tại, đề xuất điều chỉnh hợp lý quy hoạch lại rừng phòng hộ và rừng sản xuất (trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng).

Những diện tích đã ký cho thuê nếu thuộc vùng rừng sản xuất thì được tiếp tục triển khai, nếu thuộc vùng rừng phòng hộ thì phải rút ngay lại địa điểm thực hiện dự án và chuyển dự án sang vùng rừng sản xuất khác trên địa bàn tỉnh (nếu phải bồi thường cho nhà đầu tư thì cũng phải làm).

Những diện tích đang trong giai đoạn thực hiện thủ tục dự án (chưa ký cho thuê) hoặc đang trong kế hoạch cho thuê của lãnh đạo tỉnh thì đều phải dừng lại chờ điều chỉnh quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền quyết định.

Một điều nữa cần làm là xử lý những sai phạm của lãnh đạo tỉnh khi ký cho người nước ngoài thuê rừng phòng hộ, nhất là những trường hợp đã có ý kiến không đồng thuận của cơ quan công an, bộ chỉ huy quân sự tỉnh.

Theo pháp luật về đất đai nước ta, dự án đầu tư phát triển rừng chỉ được thực hiện trên vùng rừng sản xuất. Công việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là do các Ban quản lý rừng kết hợp với nhân dân địa phương thực hiện. Những vi phạm pháp luật cần được xử lý nghiêm, giữ kỷ cương cho hôm nay và cho mai sau.

4 giải pháp dài hơi

Khi những xử lý trước mắt đã tạm ổn thì cần thực hiện 4 giải pháp dài hơi bao gồm: một là quy hoạch lại đất rừng trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng; hai là xác lập các hàng rào kỹ thuật đối với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trên nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia song hành với bảo đảm bình đẳng về quyền và lợi ích của các nhà đầu tư; ba là tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của bộ máy hành chính, công tác giám sát của hệ thống cơ quan dân cử và khuyến khích người dân tham gia quản lý; bốn là sử dụng công nghệ cao (nhất là ảnh chụp từ vệ tinh) để giám sát chặt chẽ hiện trạng rừng và các hoạt động có liên quan đến rừng.

Nhà nước ta đã nỗ lực rất lớn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng. Chương trình 327 trước đây và Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng hiện nay là những minh chứng cho điều đó.

Chủ trương của Nhà nước thật rõ ràng về bảo vệ và phát triển rừng, không chỉ thể hiện trách nhiệm cao với dân mà đó còn là trách nhiệm đóng góp giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu.

Trong thực tế triển khai, vấn đề bảo vệ và phát triển rừng đang còn rất nhiều bức xúc. Ngay trong chính sách giao đất, giao rừng, chúng ta cũng vẫn chưa tìm ra cơ chế phù hợp để tạo động lực thực sự. Có địa phương đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, có địa phương chủ trương giao cho cộng đồng dân cư quản lý, có địa phương muốn giao cho doanh nghiệp lâm nghiệp, có địa phương lại muốn sử dụng đầu tư nước ngoài trực tiếp, có địa phương thực hiện giao cho các đơn vị quốc phòng.

Về mặt phân loại rừng, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đã đề xuất nên chuyển một phần diện tích rừng phòng hộ ở những nơi không xung yếu sang rừng sản xuất nhằm phát triển rừng bằng động lực thị trường.

Trên thực tế, công việc quản lý còn đầy bề bộn mà lâm tặc vẫn hàng ngày phá rừng đầu nguồn, tai biến lũ lụt do mất rừng đầu nguồn ngày càng thường xuyên hơn. Cơn lũ vừa qua ở Miền Trung cuốn trôi gỗ khai thác lậu từ đầu nguồn về cửa sông mới cho ta biết rừng đầu nguồn bị phá nhiều đến thế.

Mỗi người đều không thể không suy nghĩ về những cách thức làm sao cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn. Những kinh nghiệm của hơn 20 năm thực hiện kể từ khi bắt đầu Đổi Mới cũng đủ để đưa ra những kết luận xác đáng.

Quy hoạch lại cho đúng

Thứ nhất, vấn đề bảo vệ và phát triển rừng không thể chỉ nhìn dưới góc độ kinh tế và môi trường, mà cần phải nhìn trước hết dưới góc độ quốc phòng, an ninh. Các góc độ này phải được thể hiện đầy đủ trong khâu quy hoạch không gian đối với các loại rừng sau khi phân tích cụ thể các yếu tố địa chính trị, địa kinh tế.

Đối với rừng phòng hộ ở những vị trí quan trọng, cần giao cho các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang để bảo vệ và phát triển. Từ đây, có thể thấy cần xem xét lại đề xuất của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy hoạch lại rừng phòng hộ và rừng sản xuất, quy hoạch lại cho đúng hơn là cần thiết nhưng phải xem xét trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng (hộ gia đình, cá nhân hay cộng đồng dân cư hay doanh nghiệp hay lực lượng vũ trang).

Quy hoạch này cần được xây dựng chi tiết, thẩm định cẩn thận và được Quốc hội quyết định.

Lo an ninh để Việt Nam độc lập tồn tại

Thứ hai, trong thời kỳ triển khai mạnh hội nhập kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới, chúng ta phải tuân thủ “luật chơi” chung về sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Khi đã là rừng sản xuất thì nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước được quyền tiếp cận như nhau. Chúng ta không thể đặt rào cản pháp luật để hạn chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, nhưng ta có thể đặt rào cản kỹ thuật (khi cần thiết) như hàng rào về quy hoạch, về môi trường, v.v.

Cách thức này đòi hỏi những tư duy dài hạn và những dự báo có độ tin cậy cao, chất lượng quản lý cần được nâng cao hơn nhiều lần.

Chúng ta cần tăng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, cần hội nhập sâu hơn với kinh tế quốc tế để phát triển, nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là an ninh quốc gia để đất nước được độc lập tồn tại.

Đẩy mạnh giám sát

Thứ ba, trong quản lý hiện nay, công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan hành chính cấp trên đối với cấp dưới còn yếu, hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với các cơ quan hành chính đã được đẩy mạnh nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, việc khuyến khích người dân tham gia vào quản lý đã có nhưng chưa được nhiều.

Bằng mọi cách, các hoạt động này cần được đẩy mạnh để tạo nên hệ thống quản lý vững chắc, cấp trên luôn biết được cấp dưới làm gì và có quyết định điều chỉnh kịp thời. Phân cấp quản lý là cần thiết nhưng cũng cần có lộ trình phù hợp với tính hoàn chỉnh của hệ thống và năng lực thực hiện của từng cấp.

Thứ tư, số liệu thống kê hiện trạng rừng hiện nay vẫn được thực hiện theo quy trình dưới lên: xã báo cáo lên huyện, huyện báo cáo lên tỉnh, tỉnh báo cáo lên Trung ương. Độ tin cậy của cách làm này không cao, ngay kể cả trường hợp không xẩy ra gian dối số liệu.

Trên thực tế, ai cũng biết rằng rừng ở nước ta bị phá rất nhiều nhưng theo số liệu chính thức thì ta vẫn có trên 15 triệu ha rừng.

Ở các nước người ta thường sử dụng ảnh vệ tinh là một kênh kỹ thuật thứ hai để thống kê số liệu do các cơ quan kỹ thuật ở Trung ương thực hiện độc lập. Bằng kênh này có thể không chỉ kiểm tra được số liệu của các địa phương, mà còn phát hiện được những nơi rừng đang bị tàn phá, khai thác, cháy, v.v.

Năm 2008, nước ta đã hoàn thành dự án xây dựng trạm thu ảnh vệ tinh hiện đại (theo ODA của Chính phủ Pháp) đặt tại Bộ Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ tính năng kỹ thuật để giám sát hiện trạng tài nguyên và môi trường (trong đó có tài nguyên rừng). Rất tiếc, cho đến nay trạm đã vận hành được hơn 1 năm nhưng chưa thực hiện được việc kiểm kê bất kỳ loại tài nguyên nào.

Đầu tư xây dựng trạm là một việc, nhưng đầu tư để khai thác trạm vào mục đích quản lý là việc còn quan trọng hơn. Quản lý hiện trạng rừng bằng ảnh thu thường xuyên từ trạm này là một việc cần thiết cho đất nước hơn lúc nào hết.

Những suy nghĩ trên đây chỉ là những việc chúng ta có thể làm ngay, trong khả năng chúng ta làm được. Mọi cân nhắc quá phức tạp trong quản lý tài nguyên rừng đều luôn là muộn so với những lời kêu cứu của rừng.

Mê Kông suy kiệt

<!–NGay gio Modified

Cập nhật lại cách đây 2 giờ 17 phút

–>

27/02/2010 23:57

Ảnh: AFP

Các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê Kông đang khiến ĐBSCL phì nhiêu, sông rạch chằng chịt đối mặt với khô hạn. Những tác hại đến sinh thái, môi trường, đời sống… của người dân ĐBSCL đang dần hiển hiện.

Mời nghe đọc bài

Mùa khô hạn tàn khốc

Trong tuần qua, mực nước đầu nguồn sông Cửu Long thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,1m, trong khi xâm nhập mặn sâu vào khoảng 30-40 km.

Tại thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), nước mặn đã xâm nhập sâu vào các xã Tân Tiến, Hỏa Tiến và Hỏa Lựu. Độ mặn đo được ngày 26.2 từ 3,1 – 5 phần ngàn, dự báo trong những ngày tới gặp triều cường nước mặn xâm nhập sâu hơn vào nội ô thị xã Vị Thanh và nồng độ có thể lên tới từ 6 – 8 phần ngàn.

Tại Tiền Giang, nước mặn đã xâm nhập vào đất liền trên 35 km buộc cơ quan chức năng phải đóng sớm cống Vàm Giồng ngăn mặn. Ngành nông nghiệp tỉnh này đang lo ngại nước mặn sẽ đe dọa trên 6.000 ha lúa đông xuân thuộc dự án ngọt hóa Gò Công. Tại Bến Tre, nước mặn đã xâm nhập sâu vào đất liền trên 23 km. Xâm mặn kéo theo tình trạng thiếu nước ngọt ở các xã ven biển như Thạnh Phước, Thừa Đức, Thới Thuận (huyện Bình Đại). Ông Ngô Văn Thử, Chủ tịch UBND xã Thạnh Phước cho biết, sau Tết hơn 10.400 nhân khẩu trong xã phải đi đổi hay mua nước ngọt với giá 2.000 đồng/40 lít về sử dụng. Dự báo từ nay đến tháng 5.2010, nước ngọt càng thiếu trầm trọng trong mùa hanh khô kéo dài.

Tại Cần Thơ, xâm mặn đã lấn sâu vào huyện Vĩnh Thạnh. Tại An Giang, nhiều kênh nội đồng gần như trơ đáy; người dân vùng núi Tri Tôn, Tịnh Biên phải đi mua nước sạch với giá 2.000 đồng/30 lít. Ông Trần Văn Mì, Trưởng phòng NN-PTNT H.Tri Tôn cho biết huyện đang triển khai dự án nạo vét 14 tuyến kênh nội đồng, 5 công trình cấp nước với tổng kinh phí trên 4,2 tỉ đồng nhằm cung cấp nước sạch, nước tưới tiêu ruộng đồng.

Mê Kông đang bị “sát thương”

Sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL với chiều dài khoảng 225 km, cung cấp nước và tôm cá dồi dào. Ước tính bình quân 1 ha đất trồng lúa phải tốn hơn 20.000m3 nước/vụ; bình quân mỗi

năm ĐBSCL xuống giống 3,8 triệu ha tức cần hơn 76 tỉ m3 nước. Riêng thủy sản, mỗi năm người dân hạ lưu sông Mê Kông khai thác khoảng 2,6 triệu tấn cá trị giá khoảng 2 tỉ USD. Đối với dân nghèo và nhà nông, sông Mê Kông là nguồn sống trời cho… Thế nhưng, nguồn sống ấy đang bị “sát thương” bởi hàng loạt đập thủy điện xây trên thượng nguồn sông.

Khô hạn đang đe dọa ĐBSCL – Ảnh: T.Dũng

Tại diễn đàn “Môi trường và nguồn sống trên sông Mê Kông” diễn ra ngày 3.2 ở TP Cần Thơ, các nhà khoa học đã tỏ ra lo ngại: Mê Kông là dòng sông lớn trên thế giới, tôm cá phong phú tạo sinh kế trực tiếp cho hơn 60 triệu người ở khu vực hạ lưu sông, thế nhưng dòng sông đang chết dần bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có các đập thủy điện.

Giới khoa học nhận định lưu lượng dòng chảy sông Mê Kông giảm chỉ còn 2/3 so với những thập kỷ trước do bị các đập thủy điện ở thượng nguồn ngăn lại. Lượng nước sông Mê Kông giảm sút kéo theo hàng loạt tác hại khôn lường như thiếu nước vào mùa khô và nguy cơ xâm mặn đe dọa từng ngày. Tiến sĩ Chu Thái Hoành, cán bộ Viện Nghiên cứu tài nguyên nước quốc tế (IWMI) nhận định các đập thủy điện sẽ giữ đến 16% trong tổng lưu lượng nước 475 tỉ m3/năm, ảnh hưởng 50% tổng lượng nước sông Mê Kông.

Bản đồ lưu vực sông Mê Kông (Nguồn: Ủy ban sông Mê Kông VN)

Theo thống kê của Liên minh bảo vệ sông Mê Kông, có 16 đập thủy điện đã và đang xây dựng cùng hàng trăm dự án chằng chịt trên các nhánh chính và rẽ làm thay đổi dòng chảy, ngăn chặn các loài cá di cư đẻ trứng, giảm lượng phù sa hằng năm. Chỉ tính riêng tại khu vực ĐBSCL, bình quân mỗi năm vào mùa lũ sông Mê Kông cung cấp 100 – 200 triệu tấn phù sa.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về đất ngập nước, cho rằng nguồn phù sa giảm sút nên người trồng lúa ở VN phải tăng chi phí cho phân bón và giá lúa sẽ tăng lên. Còn tiến sĩ Carl Middleton (Tổ chức Sông ngòi quốc tế Mỹ) ước tính việc xây dựng các đập trên sông Mê Kông sẽ làm mất đi 700.000 – 1,6 triệu tấn thủy sản/năm. Các nhà khoa học đúc kết tổng thiệt hại về thủy sản, nông sản có thể lớn hơn tổng lợi nhuận mà các nước thu được do việc xây đập thủy điện.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An – Đại học Cần Thơ, việc xây các đập thủy điện đã kéo theo nhiều tác động như lũ về muộn hơn nhưng kết thúc sớm hơn. Tiến sĩ Ni cho rằng ngày xưa lũ lên từ từ, tôm cá theo nước lũ đẻ trứng sinh sôi nhưng nay lũ rút nhanh phá vỡ quy luật khiến tôm cá sinh sản theo không kịp con nước, phù sa theo đó cũng bị thất thoát trôi ra biển, trôi vào kênh rạch không vào ruộng đồng. Tiến sĩ Ni cho rằng việc các đập thủy điện thượng nguồn trữ nước không cho biết lúc nào xả nước lúc nào không càng gây khó khăn trong mùa khô hạn.

Hạ lưu nguy khốn

Các nước vùng hạ lưu đang lo lắng về những tác động tiêu cực xảy ra khi dòng chảy dưới này hoàn toàn phụ thuộc vào quy trình vận hành của các đập thủy điện trên thượng lưu sông Mê Kông.

Với mục đích phát điện, các hồ chứa sẽ cố gắng tích nước sớm ngay từ đầu mùa mưa. Nếu gặp năm lũ lớn, khi đỉnh lũ về gặp hồ đã đầy nước, không còn khả năng cắt lũ, có thể gây lũ lớn hơn cho hạ lưu. Còn vào những năm lũ vừa và nhỏ, phía hạ lưu – đặc biệt là ĐBSCL – sẽ có những ảnh hưởng nhất định trong cả mùa lũ và mùa kiệt.

Hằng năm, lượng phù sa sông Mê Kông xuống hạ lưu khoảng 150-170 triệu tấn (trong đó từ Trung Quốc chiếm 50%). Các đập thủy điện sẽ làm giảm lượng phù sa xuống hạ lưu và vùng ĐBSCL. Sản lượng thủy sản hằng năm của sông Mê Kông khoảng 400.000 tấn sẽ sụt giảm mạnh.

Các đập thủy điện còn ảnh hưởng tới giao thông thủy, du lịch, sự di cư của một số loài cá cũng như hệ sinh thái rất đa dạng của lưu vực, chưa kể những tác động đến chất lượng nước, sự bồi lắng, xói lở…

Biển Hồ (Campuchia) đóng vai trò rất quan trọng đối với sự điều tiết dòng chảy xuống châu thổ sông Mê Kông. Nếu lũ xuống hạ lưu giảm, Biển Hồ không tích đầy nước vào mùa lũ, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự điều tiết dòng chảy kiệt xuống hạ lưu.

Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan – Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ – cho rằng, ĐBSCL rất cần đến những trận lũ trung bình, ở mức khoảng 4,2m tại Tân Châu (An Giang). Tuy nhiên, từ năm 2003 cho tới giờ, lũ ở ĐBSCL chỉ ở mức xấp xỉ và thấp hơn trung bình nhiều năm. Một nhà khoa học tại TP.HCM nhận định: ĐBSCL không mong muốn những trận lũ lớn như các năm 1961, 1978, 1991, 2000… cũng như không mong đợi những trận lũ nhỏ như những năm 1998, 2005, 2008 vừa qua.

Vì vậy, nếu như các đập thủy điện ở thượng lưu làm giảm đỉnh lũ lớn để có thể ít nhiều mang lại lợi ích cho ĐBSCL, thì việc biến những trận lũ trung bình thành lũ nhỏ, biến lũ nhỏ thành không có lũ sẽ gây hại còn nhiều hơn so với lũ lớn.

Trung Quốc đã làm gì sông Mê Kông?

Từ năm 1986 đến nay, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 8 đập thủy điện, thủy lợi lớn nhỏ trên sông Mê Kông.

Theo Michael Richardson – tác giả bài viết Đập thủy lợi của Trung Quốc biến sông Mê Kông thành dòng sông đầy tranh cãi (Dams in China Turn the Mekong Into a River of Discord) đăng trên tạp chí Yale Global ngày 16.7.2009, Trung Quốc xây dựng đập thủy lợi đầu tiên trên sông Mê Kông vào năm 1986. Lúc này các nước Đông Nam Á không có nhiều phản ứng.

Nhưng tới ngày nay, ảnh hưởng của hệ thống đập thủy lợi của Trung Quốc đối với khu vực ngày càng khiến nhiều nước phải lo lắng. Cũng theo tác giả này, Trung Quốc đã lợi dụng quy mô to lớn của công trình phát điện do họ xây dựng trên sông Mê Kông làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của con sông này. Đã có nhiều cảnh báo về điều đó, đặc biệt đối với bốn nước ở khu vực sông Mê Kông là Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Lào.

Một đập nước của Trung Quốc trên sông Mê Kông – Ảnh: Sina.com

Báo cáo tháng 5.2009 của Học viện Kỹ thuật châu Á (Asian Institute of Technology) cũng cảnh báo rằng việc Trung Quốc xây 8 đập thủy lợi, thủy điện tại sông Mê Kông có thể tạo nên những hiểm họa to lớn đối với dòng chảy của sông và tài nguyên tự nhiên. Cũng trong tháng 6.2009, một lá thư đòi Trung Quốc chấm dứt việc xây đập thủy lợi trên sông Mê Kông đã được gửi tới tay Thủ tướng Thái Lan. Lá thư có 11.000 chữ ký của phần lớn nông dân, ngư dân sinh sống ở thượng lưu và hạ lưu sông Mê Kông. Lào, Campuchia, Thái Lan đã bắt đầu đối phó bằng cách thúc đẩy các kế hoạch xây dựng đập thủy lợi thuộc phạm vi nước mình.

Theo hãng AP (Mỹ) ngày 12.12.2009, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 8 đập thủy điện ở khu vực sông Mê Kông. Mê Kông là một trong những con sông lớn trên thế giới, cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu của khu vực. Ở Trung Quốc, Mê Kông được gọi là sông Lan Thương. Con đập thủy lợi mà Trung Quốc vừa xây dựng tại đây cao 292m – cao nhất thế giới, có khả năng tích trữ nước bằng tất cả các khu thủy vực của Đông Nam Á hợp lại.

Ủy ban sông Mê Kông (MRC) được thành lập từ năm 1996 bởi Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Lào cùng phối hợp quản lý khu vực sông Mê Kông ở Đông Nam Á. MRC cho rằng các nước ở khu vực sông Mê Kông có lý do để lo ngại việc xây dựng đập thủy lợi của Trung Quốc. Chẳng hạn vào mùa mưa, đập thủy lợi của Trung Quốc sẽ tháo ra rất nhiều nước, có thể gây lũ lụt. Nhưng vào mùa khô hạn, các nước Đông Nam Á lại lo ngại thiếu nước. Tới nay, Trung Quốc vẫn chưa phải là thành viên của MRC.

Nguyễn Lệ Chi

Mực nước xuống thấp kỷ lục

Ủy ban sông Mê Kông (MRC) vừa cho hay mực nước ở thượng lưu sông Mê Kông đang xuống thấp kỷ lục và điều này đe dọa nguồn nước và sự sống của hàng chục triệu người.

Hãng tin AFP dẫn lời ông Jeremy Bird thuộc MRC nói miền bắc Thái Lan, bắc Lào và nam Trung Quốc đều bị ảnh hưởng. “Dòng chảy đang ở mức thấp hơn những gì chúng tôi ghi nhận được trong vòng 20 năm qua”, ông Bird nói. Vấn đề này tạo ra một mối đe dọa cho nguồn nước, giao thông đường thủy và tưới tiêu trên một khu vực rộng lớn dọc Mê Kông, con sông nuôi sống hàng chục triệu người. Ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông, 60 triệu người sống phụ thuộc vào con sông này với việc đánh bắt hải sản, trồng trọt, giao thông và các hoạt động kinh tế khác.

Dự báo mực nước tại Luang Prabang (Lào) sẽ xuống thấp hơn nữa trong tháng tới – Ảnh: MRC

Một thông cáo báo chí khác của MRC phát hôm 26.2 nói rằng mực nước của dòng chảy chính của sông Mê Kông đo được tại Chiang Saen, Chiang Khan, Luang Prabang, Vientiane, và Nong Khai (tất cả đều ở phía bắc Lào và Thái Lan) đều thấp hơn mực nước đo được trong mùa nước cạn hồi năm 1993, chỉ đứng sau mực nước thấp kỷ lục trong đợt hạn hán năm 1992. Thông cáo báo chí này nói thêm rằng mực nước của con sông này ở tây nam Trung Quốc cũng đang ở mức thấp nhất trong vòng 50 năm qua với dòng chảy chỉ bằng một nửa so với mức bình thường vào tháng 2.

Khoảng 21 tàu chở hàng đang bị mắc cạn trong khi các tour du lịch đường sông giữa Luang Prabang (Lào) và Huay Xai (gần biên giới với Thái Lan) bị hủy bỏ. Về việc mực nước sông Mê Kông tụt giảm, MRC nói khó có thể nói rằng nguyên nhân có phải là do khí hậu ấm lên hay không.

Trong khí đó, theo một bài báo của Bangkok Post, các tổ chức phi chính phủ, trong đó có Liên minh Hãy cứu sông Mê Kông, thì tin rằng mực nước thấp bất thường trên sông Mê Kông là do các đập của Trung Quốc. “Thật khó để chúng tôi khẳng định một cách tuyệt đối rằng không có sự liên quan giữa mực nước thấp và những con đập đó”, ông Bird nói. Theo ông, sẽ là không bình thường nếu như các con đập này chứa đầy nước trong suốt mùa khô.

Tờ The Nation thì cho hay Thái Lan sẽ gửi thư yêu cầu MRC đàm phán với Trung Quốc để xả thêm nước từ các con đập của họ trên sông Mê Kông. MRC nói họ chưa nhận được yêu cầu chính thức nào từ Thái Lan. Và nếu có, MRC sẽ tiến hành thảo luận với Trung Quốc. Hiện, Trung Quốc và Myanmar là các đối tác đối thoại với MRC, bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

Việt Phương (VP Bangkok)

Mai Vọng – Thanh Dũng

January 20, 2010

Người Bắc Kinh đổ xô tới Hong Kong để sinh con thứ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:30 pm
Tags: ,

Làn sóng các bà bầu giàu có tại Trung Quốc đang đổ tới Hong Kong để sinh thêm con thứ hai, đối phó với chính sách sinh một con tại quốc gia này.

Xu hướng du lịch tới Hong Kong để sinh con đã bùng phát lại từ ngày 1/1 vừa qua, sau khi đặc khu hành chính Hong Kong tái chấp thuận các bà mẹ đại lục tới đây sinh nở.

“Rất nhiều phụ nữ tới đây để sinh con thứ hai, điều bị cấm đoán với hầu hết cư dân đại lục”, một quan chức họ Zhao, thuộc một trong những cơ quan đầu mối đưa người từ Bắc Kinh tới các bệnh viện Hong Kong, tiết lộ.

Một quan chức khác thuộc Ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình Bắc Kinh cũng xác nhận xu hướng vượt biển tới Hong Kong để sinh nở khá phổ biến với những phụ nữ muốn có hai con.

Theo quy định của chính quyền Bắc Kinh, các cặp vợ chồng đẻ con thứ hai sẽ phải nộp phạt tới 240.000 nhân dân tệ (khoảng 35.000 USD). Nhưng các em bé sinh ra ở Hong Kong lại trở thành công dân vĩnh viễn của đặc khu hành chính này, và Bắc Kinh không có quyền hành gì với chúng cả, cũng như không thể buộc cha mẹ chúng nộp phạt.

“Nếu một đứa trẻ không nhận chứng minh thư ở Bắc Kinh, dù cho chúng sẽ lớn lên ở đây đi nữa, thì chúng tôi cũng không thể kiểm soát chúng, bởi vì chúng không phải là người Bắc Kinh”, vị quan chức Ủy ban dân số cho biết.

Giám đốc công ty tư vấn Beibeian – một trong 3 tổ chức lớn nhất ở Bắc Kinh chuyên giúp các phụ nữ sang Hong Kong sinh nở – cho biết công ty đã giúp 15 người kể từ 1/1 năm nay, cao hơn 25% so với cùng kỳ năm ngoái.

“Nhân viên của chúng tôi rất bận rộn với khách hàng nữ đến tư vấn và ký hợp đồng”, ông này cho biết trên Xinhua.

Số liệu của chính quyền Hong Kong cho biết khoảng một nửa trong tổng số ca sinh tại Hong Kong là từ các phụ nữ đại lục. Chỉ riêng năm ngoái, có khoảng 10.000 em bé Bắc Kinh ra đời ở đặc khu này.

Từ 8/10 năm ngoái đến đầu năm nay, Hong Kong đã từ chối tiếp nhận phụ nữ mang thai đại lục sang sinh nở vì họ chiếm hết giường tại các bệnh viện phụ sản, gây phiền toái cho các bà mẹ Hong Kong.

Để được sinh con tại đặc khu này, các bà mẹ Bắc Kinh phải đặt giường trước 6 tháng và trả tiền trước từ 80.000 đến 150.000 tệ cho các đại lý để lo thủ tục. Dịch vụ này chủ yếu dành cho những người giàu có.

“Giá như vậy là lợp lý”, một bà mẹ họ Sun, người có thu nhập đến 500.000 tệ mỗi năm và từng sinh con gái tháng 7 vừa qua cho biết. Đó là vì các em bé sinh tại Hong Kong sẽ được hưởng mọi quyền lợi của cư dân đặc khu này, như miễn phí y tế và miễn thị thực tới 135 quốc gia.

Tuy nhiên, một quan chức bệnh viện Hong Kong cho biết các bà mẹ có thể tiết kiệm tiền bằng cách không thông qua đại lý.

T

« Previous PageNext Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.