Ktetaichinh’s Blog

April 28, 2010

Ngân hàng Nhà nước đang phạm luật?

Nếu cho rằng, với sự ra đời của Thông tư số 12 của Ngân hàng Nhà nước, pháp luật đã dỡ bỏ chế độ trần lãi suất và thiết lập hoàn toàn cơ chế lãi suất thoả thuận đối với các tổ chức tín dụng là không đúng.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư số 12/2010/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 14/4/2010 để hướng dẫn các tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay theo lãi suất thoả thuận. Theo đó, các TCTD thực hiện cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với “nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả“.

Những hệ lụy pháp lý

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết 23 ngày 06/11/2008 của Quốc hội thì những khoản cho vay ngoài cho vay sản xuất kinh doanh có hiệu quả và việc huy động vốn của TCTD vẫn phải tuân thủ chế độ trần lãi suất qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005.

Do vậy, việc NHNN chấm dứt hiệu lực thi hành của Quyết định số 16 và 33 năm 2008 của NHNN về cơ chế trần lãi suất không có nghĩa là qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 về trần lãi suất không còn hiệu lực thi hành đối với các TCTD.

Mặt khác, Thông tư số 12 qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh “có hiệu quả“. Nói cách khác, đối với các dự án, phương án không “có hiệu quả” hoặc không tính được hiệu quả thì vẫn phải thực hiện chế độ trần lãi suất cho vay.

Tuy nhiên, Thông tư số 12 chưa giải thích, hay nói cách khác, không hướng dẫn  tiêu chí cho việc đánh giá một dự án, phương án sản xuất-kinh doanh là có hay không có hiệu quả. Bởi vậy, dễ sinh ra tranh chấp hợp đồng tín dụng, dễ làm cho các TCTD phạm luật. Chẳng hạn, một dự án đầu tư  mang lại một tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 11,5 %/năm, lúc khác đã có thể được xem là “có hiệu quả“, nhưng lúc này thì chưa hẳn vì nếu không đầu tư mà đem tiền gửi vào ngân hàng cũng được một số lãi tương đương. Nên, nếu trừ chi phí cơ hội thì dự án  thành không có hiệu quả. Hoặc như khoản vay của các doanh nghiệp hiện tại đang làm ăn không có lợi nhuận, thua lỗ, …

Điều hết sức đáng lo ngại là Thông tư số 12 không tuân thủ Nghị quyết số 23 của Quốc hội khi Thông tư này qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với cả các nhu cầu vốn phục vụ đời sống. Các Nghị quyết của Chính phủ có liên quan  như Nghị quyết số 30 ngày 11/12/2008, Nghị quyết số 12 phiên họp Chính phủ thường ký tháng 2 năm 2009, Nghị quyết số 18 ngày 6/4/2010 đều chỉ đạo NHNN hướng dẫn các TCTD thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với “dự án sản suất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“, mà không có nghị quyết nào qui định NHNN cho phép các TCTD cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với nhu cầu vốn phục vụ đời sống.

Và gần đây khi chủ trì buổi làm việc tại NHNN ngày 20/4/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “NHNN chú ý chỉ đạo, hướng dẫn các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“.

Giải pháp hợp thức để tranh chấp không phát sinh

Nhưng, điều nguy hiểm là TCTD phải đối mặt với rủi ro về hợp đồng tín dụng vô hiệu do vi phạm pháp luật về lãi suất cho vay một khi khách hàng khởi kiện. Và, khách  hàng có  thể  kiện  bất cứ lúc nào vì Bộ luật dân sự năm 2005 không hạn chế về thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vi phạm pháp luật.

Điều này làm tăng khả năng mất an toàn hoạt động cho hệ thống các TCTD. Bởi vì, theo Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật (khoản 2 Điều 83) thì hướng dẫn  hay qui định của NHNN mà trái Nghị quyết của Quốc hội sẽ không có giá trị áp dụng.

Nếu cho rằng, thời điểm hiện nay là phù hợp để thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, chỉ có một cách duy nhất cho NHNN thực hiện được điều này mà không vi phạm pháp luật là NHNN ấn định lãi suất cơ bản ở mức đủ lớn để khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 không phát sinh tác dụng đối với các TCTD.

Chẳng hạn, NHNN chỉ cần ấn định lãi suất cơ bản mức 9%/năm trở lên và thực hiện các biện pháp hạ lãi suất mà NHNN lựa chọn thì sẽ không có trần lãi suất  trên thực tế đối với các TCTD.

Luật NHNN không qui định một sự ràng buộc nào về lượng giữa lãi suất cho vay của các TCTD với lãi suất cơ bản, và vì điều mà các TCTD thực sự quan tâm đó là lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu cũng như các điều kiện và mức độ NHNN thoả mãn nhu cầu của các TCTD về tín dụng từ NHNN.

Muốn cho trần lãi suất trở thành trần hình thức hay muốn dỡ bỏ chế độ trần lãi suất đối với các TCTD mà lãi suất cho vay của các TCTD không vượt mức mong muốn của NHNN thì vấn đề cốt lõi là NHNN phải thực hiện được cân bằng quan hệ cung cầu tín dụng ngân hàng tại mức lãi suất mong muốn của NHNN.

Để cân bằng cung cầu tín dụng ngân hàng, có nhiều cách. Trong đó có những cách mà NHNN đã công bố như tăng mức độ đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho các TCTD, … nhưng một trong các cách mà NHNN cần hết sức quan tâm là kiểm soát tốt, có hiệu qủa đối với chất lượng tín dụng của các TCTD.

Khi những ràng buộc pháp lý còn hiệu lực thì NHNN cũng như các TCTD cần định lượng những tiêu chí trong quá trình thực hiện Thông tư số 12 của NHNN  để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Advertisements

April 18, 2009

Vì sao doanh nghiệp khó vay USD từ ngân hàng?

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 1:16 am
Tags: , ,
Theo ông Nguyễn Văn Dũng, Trưởng phòng Tổng hợp Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, hiện các ngân hàng đang thừa ngoại tệ để cho vay nhưng lại thiếu ngoại tệ để bán.

Gửi chứ không bán!

Ngoài việc khát vốn, tỷ giá VND/USD đang ở mức cao cũng làm không ít DN đau đầu. Tuy giá USD đang có xu hướng leo thang, song thực trạng khan hiếm ngoại tệ tại ngân hàng khiến không ít DN phải mua USD ngoài chợ đen với giá khá cao (trên 18.000 VND/USD).

Chính vì điều này khiến DN thích gửi ngoại tệ hơn bán, dẫn đến vốn huy động bằng ngoại tệ tại các ngân hàng tăng lên khá cao. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, vốn huy động trên địa bàn TP.HCM tăng 4,4%, trong đó tiền gởi bằng ngoại tệ có xu hướng tăng, trong khi tiền gởi bằng VND lại giảm mạnh.

Theo anh Nguyễn Văn Thành, Giám đốc một DN chuyên nhập khẩu, tái chế bao bì nhựa tại TP.HCM, mặc dù đã sử dụng những công cụ bảo hiểm tỷ giá khi vay USD, tuy nhiên DN vẫn thiệt hại hàng chục ngàn USD mỗi khi tỷ giá biến động.

“Tỷ giá VND/USD đang có xu hướng tăng cao. Bán USD trong thời điểm này có lợi, nhưng liệu có mua được khi cần nhập nguyện vật liệu?” – anh Thành nói.

Ông Dũng cho rằng, hiện số ngoại tệ của các DN trên địa bàn TP.HCM ước tính khoảng 9 tỷ USD. Tuy nhiên, hầu hết DN đều có suy nghĩ, bán ngoại tệ cho ngân hàng thì dễ nhưng mua lại thì rất khó.

Do đó, rất ít DN bán ngoại tệ cho ngân hàng. “Nếu DN không bán số ngoại tệ này mà chỉ gửi thì ngân hàng lấy đâu ra ngoại tệ để bán lại cho DN” – ông Dũng nói.

Vay USD hay VND?

Hiện, lãi suất cho vay VND tối đa là 10,5%/năm, trong khi đó lãi suất của USD chỉ có 6,5%/năm, song DN vẫn không muốn vay USD?

Anh Trần Thành Công, Giám đốc Công ty TNHH Triều Đại – DN chuyên nhập khẩu, lắp ráp các sản phẩm điện tử dân dụng, cho rằng, với lãi suất 6,5%/năm và tỷ giá gần 18.000 VND/USD như hiện nay, có vẻ như vay USD, DN sẽ rất có lợi.

Tuy nhiên, đến thời điểm trả nợ, chẳng may tỷ giá tăng mạnh như những tháng đầu năm 2009, lên mức 18.500 hay 19.000 VND/USD, DN sẽ bị lỗ 500 – 1.000 VND/USD từ chênh lệch tỷ giá. Ngoài ra, nếu cộng lãi suất, chi phí cho đồng nợ của DN lên đến 11,5%. “Lãi suất vay VND hiện ở mức tối đa 10,5%/năm, rõ ràng vay USD không có lợi” – anh Công cho biết.

Nếu tỷ giá đi xuống khi trả nợ, DN sẽ lợi được một khoản. Tuy nhiên, với xu hướng biến động tỷ giá thời gian qua, chủ yếu là tăng thì trường hợp trên khó xảy ra.

Tỷ giá VND/USD từ cuối năm 2008 đến nay liên tục tăng nóng từ 16.000 lên đến ngưỡng 19.000 VND/USD, với mức chênh lệch khoảng 3.000 đồng cho một USD đã làm nhiều DN điêu đứng, thậm chí thua lỗ chỉ qua một đợt biến động tỷ giá. Chính vì thế, để hạn chế rủi ro này, nhiều DN đã chọn VND như một nơi “trú ẩn” an toàn.

Tuy nhiên, theo bà Phạm Thanh Tuyền, Công ty Bao bì giấy nhôm New Toyo thì lựa chọn vay VND cũng chưa hẳn là phương án khả thi đối với tất cả các DN. Bởi lẽ, nhiều đơn hàng nhập khẩu bắt buộc phải thanh toán bằng USD, trong khi đó mỗi lần sốt USD, DN không dễ gì mua được vài trăm nghìn USD trong thời gian ngắn.

Theo ông Nguyễn Ngọc Thắng, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, nhu cầu vay vốn đầu tư nói chung và vay USD nói riêng của nhiều DN đã giảm mạnh trong quý I/2009. Trong đó, xu hướng chuyển đổi các khoản vay bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) sang VND để hạn chế rủi ro khi tỷ giá USD/VND tăng nhanh và mạnh trong thời gian qua.

Ông Thắng cho rằng, tình kinh tế khó khăn chung khiến nhiều DN sản xuất cầm chừng để giữ khách hàng, giữ công nhân chứ không có lợi nhuận. Do vậy, thời điểm này DN phải thận trọng, tính toán rủi ro ở mức thấp nhất hãy quyết định vay vốn.

March 30, 2009

Subsidised loans under scrutiny 032409

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 8:44 pm
Tags: ,

VNBusinessNews – The Government has approved a 4-percent interest rate subsidy programme to help businesses in difficulties access bank loans to maintain production. But rumours of a rollover of subsidised loans among eligible businesses are going around

The Governor of the State Bank of Vietnam, Nguyen Van Giau, says that a rollover is a process whereby a business takes out a subsidised loan from a bank to pay back high interest loans it borrowed earlier from that bank or other banks.

However, experts warn that a rollover can also be seen in the non-banking sector, meaning that businesses use their subsidised loans to re-invest in other depressed and risky sectors such as securities and property.

According to commercial banks, their total outstanding balance from the subsidies programme has reached more than VND152,000 billion. Experts recently pointed out several signs of a rollover among businesses, saying that the outstanding balance has increased slightly compared to the total amount of VND620,000 billion expected to be disbursed by the commercial banks to support businesses.

However, leaders of the country’s two leading financial monitoring agencies are inconsistent in whether or not allowing businesses to roll over bank loans.

In recent interviews with the media, Mr Giau from the central bank confirmed that his bank has not discovered any rollover yet and that it will strictly deal with any businesses if they are found to be misusing subsidised loans.

Meanwhile, Le Duc Thuy, president of the National Finance Monitoring Committee, also reported that his committee has not yet found any rollover, but he would support any businesses if reported.

Banks themselves are reluctant to talk about the rollover because this practice is not only banned for subsidised loans but is also sometimes applied to normal loans. When asked about this, representatives of many commercial banks acknowledged that there had been a secret rollover happening in many different ways.

If the problem is not promptly solved, it will have far-reaching consequences, according to experts.

First of all, several ineligible businesses voluntarily set aside part of their subsidy for lenders to entice them to take out loans. Expert fear that this “tempting tip” will give fresh impetus to lenders and that their lending terms will slacken off soon.

Second, if the rollover is not accepted and re-investments are not strictly monitored, it will be difficult for banks to control the use of their loans. If the new loans are used to invest in securities and property, they will help to warm up the securities and property markets, but cause far-reaching consequences in the long run. Once more capital is pumped into these sectors, it will stimulate market speculations and drive up credit growth and inflation.

In addition, this trend goes contrary to the Government’s policy of restructuring investment flows, according to which priority is given to boosting production and less capital will be pumped into the frozen property market.

The Government’s subsidy programme will be way off course if the use of bank loans is not strictly monitored, warn experts. (VOV)

Mỹ mua tài sản xấu của ngân hàng 032409

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 8:19 pm
Tags: , ,

Chính phủ Mỹ vừa công bố chi tiết kế hoạch bỏ ra 1 nghìn tỷ đô la để mua tài sản xấu của các ngân hàng.

Động thái này nhằm giúp đưa hoạt động của hệ thống ngân hàng trở lại bình thường.

Dự án có tên ” Chương trình Đầu tư Tư nhân và Nhà nước” sẽ mua lại các tài sản liên quan đến tiền cho vay mua nhà và các loại cổ phiếu khác, nguồn gốc của khủng hoảng tín dụng.

Bộ Ngân khố Hoa Kỳ nói họ sẽ bỏ ra từ 75 tỷ cho đến 100 tỷ USD cho chương trình này. Cạnh đó họ nói thêm khu vực tư nhân cần bỏ tiền vào nữa.

Sau khi tin này được loan báo, các chỉ số chính tại sàn giao dịch chứng khoán phố Wall tăng 7%.

Chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 500 điểm, hay 6.8%. Vào lúc thị trường đóng cửa, chỉ số này đạt 7.775 điểm. Trong khi đó chỉ số S&P 500 tăng 7.1%, hay 54 diểm, đạt 823. Chỉ số kỹ thuật tại sàn Nasdaq tăng 6.8%, hay 99 điểm, thành 1.556.

Alan Gayle từ Công ty đầu tư Ridgeworth Investments nói: “Hành động vừa công bố thật có ích vì chúng không khác gì tẩy sạch cát bụi trong hộp số của chiếc xe.”

‘Quá trình lâu dài’

Tổng thống Barack Obama nói loan báo này là một bước tiến quan trọng.

“Tin tốt là chúng ta vừa có thêm một chương trình quan trọng trong kế hoạch hồi phục kinh tế,” ông Obama nói.

“Tuy vậy chúng ta còn phải làm rất nhiều việc.”

Hành động vừa công bố thật có ích vì chúng không khác gì tẩy sạch cát bụi trong hộp số của chiếc xe

Alan Gayle – Ridgeworth Investments

Bộ Ngân khố Hoa Kỳ nói kế hoạch này sẽ giúp hệ thống tài chính hồi phục.

Các ngân hàng Mỹ hiện vẫn còn giữ rất nhiều tài sản liên quan đến tiền nợ nhà. Họ không thể nào định giá chúng, hay bán chúng đi nơi khác.

Một khi có quá nhiều tài sản xấu nằm trong sổ sách như vậy, ngân hàng trở nên ngần ngại cho vay, gây ra chuyện thiếu tiền lưu thông trong hệ thống tài chính, đẩy kinh tế lún sâu vào khủng hoảng.

Kế hoạch chi tiết

Bộ Ngân khố Hoa Kỳ nói: “Cách giải quyết kiểu này tốt hơn là ngồi đợi ngân hàng tẩy rửa từ từ các loại tài sản xấu ra khỏi hệ thống kế toán của họ. Hoặc ngồi đợi một ngày nào đó chính phủ sẽ mua sạch chúng.”

“Nếu cứ ngồi đợi ngân hàng tự giải quyết các vấn nạn của họ, rủi ro xảy ra là chúng ta sẽ đối diện với một cuộc khủng hoảng tài chính dài lâu,” Bộ Ngân khố nói thêm.

Khoảng từ 75 tỷ cho đến 100 tỷ USD để dùng mua nợ xấu đến từ ngân khoản 700 tỷ USD của Bộ Ngân khố có tên ‘Chương trình giảm bớt rủi ro nợ xấu, hay Tarp.

Quốc hội Mỹ đã thông qua ngân khoản này.

Chính phủ sẽ dùng nó để mua tài sản xấu của ngân hàng.

Để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia kế hoạch, Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ và Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi ngân hàng sẽ đứng ra điều phối các khoản vay mượn lãi suất thấp, được chính phủ bảo đảm.

Điều này có nghĩa là khu vực tư nhân, mà Hoa Kỳ hy vọng là các quỹ đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư tư nhân, quỹ hưu bổng, và công ty bảo hiểm sẽ mua lại các tài sản này với ít rủi ro hơn, và chính phủ đảm bảo giá trị 93 phần trăm

Vietnam Money-Dong rates rise to fund lending demand 032209

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 7:39 pm
Tags: , ,

VNBusinessNews – Vietnamese banks are offering higher interest rates on dong deposits to raise funds to meet rising demand for loans under a government stimulus package, the central bank said on Monday

The State Bank

of Viet Nam said in its weekly report that most banks had raised their rates by 0.2-0.3 percentage points after the government introduced a rate subsidy programme in January to stimulate the economy.

Banks have loaned nearly 152 trillion dong ($9 billion) under the government programme as of March 20, up 63.4% from the end of February, the central bank said.

Planning and Investment Minister Vo Hong Phuc said last week the economy was estimated to grow at 3.1% in the first quarter, versus 7.4% in the same period last year.

On the interbank markets, rates on overnight loans eased to 6.2% last Friday from 6.37% a week ago, while one-year lending rates stood unchanged at 8.69%, Reuters data show.

On the dollar front, banks were easing rates on dollar deposits by between 0.1-0.2 percentage point and the rates on 12-month dollar loans also fell to 2.54% last Friday from 2.6% on March 13.

Vietnam expected to report a trade surplus of nearly $1.65 billion in the first three months of 2009 due to a sharp decline in imports, state-run newspapers said on Monday, citing figures from the Industry and Trade Ministry.

Central bank governor Nguyen Van Giau told business leaders on Sunday the government programme was aimed at bosting domestic production and consumption while reducing imports, the Thanh Nien (Young People) newspaper said.

Giau was quoted as saying the country’s balance of payments was not under any pressure, partly thanks to the trade surplus so far this year.

In its latest report, the International Monetary Fund said it expected Vietnam’s imports to fall by nearly one-fifth this year after rising 27.6% last year.

This week, the State Treasury is scheduled to auction two-year government bonds to raise $100 million on Tuesday and three-year bonds on Friday to raise another $100 million.

Last Friday, it sold $100 million worth of one-year dollar bonds with a 3% coupon in the first tranche of the dollar bond issues.

The proceeds will be used to pay for imported equipment for thermal power plants, the Finance Ministry has said. (Reuters)

Cho vay tiêu dùng, thấp thỏm! 032209

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 7:10 pm
Tags: , ,

(TBKTSG) – Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, việc các ngân hàng đẩy mạnh cho vay tiêu dùng trong thời gian gần đây là nhằm giải quyết bài toán lợi nhuận trong năm 2009, cũng như tìm đầu ra cho đồng vốn.

Thông tư 01 của Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện lãi suất thỏa thuận là điều quan trọng nhất dẫn đến việc các ngân hàng mạnh dạn cho vay tiêu dùng.

Ngân hàng đồng loạt vào cuộc

Sau khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 01 cho phép thực hiện lãi suất thỏa thuận, ngay từ đầu tháng 2 một loạt ngân hàng như Eximbank, TienPhong Bank, LienViet Bank… đã dành hàng ngàn tỉ đồng để đưa ra các sản phẩm tín dụng tiêu dùng: cho vay mua ô tô trả góp, mua nhà, cho cán bộ, nhân viên, học sinh vay, hoặc cho vay theo hình thức liên kết với các trung tâm thương mại…

Như mới đây, Ngân hàng Đại Dương (OceanBank) cho khách hàng vay tiêu dùng tín chấp để sửa chữa, trang trí nhà, mua sắm vật dụng gia đình, đồ nội thất, đi du lịch… với hạn mức tối đa là 300 triệu đồng, thời hạn vay 36 tháng.Hay trước đó, Ngân hàng Đông Á (DongA Bank) đã ra mắt sản phẩm cho vay 24 phút, với lãi suất vay 12,84%/năm. Đối tượng khách hàng là người lĩnh lương qua thẻ ATM của DongA Bank, hạn mức vay là ba tháng lương và tối đa 50 triệu đồng, thời gian vay bằng thời gian còn lại của hợp đồng lao động. DongA Bank cũng cho  sinh viên vay với mức 1 triệu đồng và các đối tượng khác (không chứng minh thu nhập) 500.000 đồng với thời hạn tối đa 12 tháng.

Với hình thức cho vay tín chấp, lãi suất cho vay tại các ngân hàng dao động từ 10,5-13%/năm, mức cho vay tối đa 500 triệu đồng, thời gian vay từ 12-60 tháng, thủ tục hồ sơ giải quyết cho vay trong vòng ba ngày. Riêng đối với cho vay theo hình thức thế chấp, lãi suất từ 9-10,5%/năm, mức vay tương ứng với 60-70% giá trị tài sản thế chấp, thời gian cho vay 10-15 năm tùy đối tượng.

Nhận định việc các ngân hàng đẩy mạnh mảng tín dụng tiêu dùng, chuyên gia tài chính Đinh Thế Hiển cho rằng, từ trước đến nay, mặc dù đối tượng khách hàng cá nhân sẵn sàng chấp nhận trả mức lãi suất cao hơn lãi suất mà các doanh nghiệp vay của ngân hàng, nhưng vẫn khó tiếp cận được nguồn vốn.

Trong khi đó, thị phần cho vay tiêu dùng ở Việt Nam được các tổ chức tài chính nước ngoài đánh giá rất tiềm năng, các công ty tài chính nước ngoài, chẳng hạn như Mitsubishi, đang rất muốn vào nhưng chưa được. Rõ ràng các ngân hàng trong nước chuyển mạnh sang phân khúc cho vay tiêu dùng trong lúc này, không chỉ là xoay xở vì khó khăn, mà họ nhận ra đây chính là thị phần quan trọng.

Cho vay nhưng vẫn thấp thỏm

Trên thực tế đã có một số ngân hàng giải ngân được một số tiền khá lớn so với kế hoạch, Tổng giám đốc LienViet Bank, ông Nguyễn Đức Hưởng, cho biết mặc dù mới gia nhập ngành ngân hàng được hơn 10 tháng, nhưng tổng dư nợ của ngân hàng đã gần 3.000 tỉ đồng, trong đó dư nợ cho vay tiêu dùng chiếm gần 7%.

Phó tổng giám đốc DongA Bank, bà Nguyễn Thị Kim Xuyến, cho biết tính từ thời điểm đầu năm đến ngày 16-3 dư nợ tín dụng tiêu dùng của DongA Bank là hơn 1.100 tỉ đồng, dự kiến trong năm 2009 tín dụng tiêu dùng của DongA Bank sẽ tăng từ 10-15% trên tổng dư nợ.

Tuy nhiên dư luận cho rằng không phải ai cũng có thể tiếp cận được khoản vay tiêu dùng. Lãnh đạo một số ngân hàng cũng thừa nhận, thực chất hồ sơ xin vay thì nhiều nhưng không phải tất cả đều được giải ngân nếu không chứng minh được nguồn trả nợ.

Việc chưa có những trung tâm thông tin tín dụng cá nhân cũng là một trở ngại khiến cho các ngân hàng không thể đẩy mạnh mảng tín dụng tiêu dùng. Một số ngân hàng đòi hỏi người vay phải có giấy xác nhận của cơ quan… như là một đảm bảo về khả năng trả nợ. Thế nhưng các ngân hàng lại đối mặt với một thực tế là hiện nay trên thị trường có những công ty sinh ra chỉ để làm công việc “xác nhận”! Do vậy nhiều ngân hàng dù đẩy mạnh cho vay tiêu dùng nhưng vẫn thấp thỏm.

Các giải pháp hạn chế rủi ro

Nếu nhìn cái gì cũng thấy rủi ro thì ngân hàng khó mà hoạt động. Bà Xuyến cho rằng, bất kì sản phẩm tín dụng nào cũng có rủi ro, cho vay tiêu dùng có mức độ rủi ro còn cao hơn, chẳng hạn như hồ sơ giả… Vấn đề là ngân hàng phải chấp nhận rủi ro ở một mức độ nào đó. Và do vậy lãi suất cho vay tiêu dùng luôn cao hơn lãi suất cho vay sản suất kinh doanh thông thường. Tùy từng đối tượng mà có hạn mức cụ thể, đối tượng nào ngân hàng kiểm soát được sẽ cho vay nhiều hơn và ngược lại.

Đã tham gia vào lĩnh vực cho vay tiêu dùng, ngân hàng nào cũng có biện pháp hạn chế rủi ro. DongA Bank có bộ phận giám sát, kiểm soát, hậu kiểm để loại ra những hồ sơ nghi ngờ. Đồng thời ngân hàng cũng tổ chức các bộ phận đi xử lý công nợ dây dưa.

Phó giám đốc khối khách hàng cá nhân Ngân hàng Eximbank, ông Trần Minh Khoa, cho biết Eximbank cũng ràng buộc một số điều kiện như người vay phải có việc làm và thu nhập ổn định, vay theo nhóm, đồng thời đơn vị nơi cá nhân làm việc cam kết giúp ngân hàng thu nợ thông qua việc chi trả tiền lương. Ngân hàng cũng kết hợp với ban lãnh đạo, công đoàn các doanh nghiệp, để có thông tin qua lại về hoạt động của người vay, qua đó quản lý chặt chẽ tình hình thanh toán nợ của khách hàng.

Dù đã có những ràng buộc như thế, nhưng rủi ro vẫn là điều khó tránh. Số khách hàng vay tiêu dùng rất lớn, có khi lên đến cả chục ngàn người, không ít trường hợp người vay không trả được nợ vì những lý do bất khả kháng như gặp tai nạn hoặc nghỉ việc. Hiện nay, để tránh những rủi ro bất khả kháng như cá nhân vay tiền ngân hàng bị tai nạn, tử vong, thất nghiệp… Eximbank đang tính toán việc hợp tác với các công ty bảo hiểm nhằm bảo hiểm các khoản cho vay của ngân hàng

March 21, 2009

Tiền chảy qua hệ thống ngân hàng: Tăng trưởng kỷ lục! 120807

Filed under: Báo cáo,ngân hàng — ktetaichinh @ 6:24 pm
Tags: ,

guồn: Vietnamnet 08/12/07) Năm 2007 sắp kết thúc, phân tích các dòng vốn chu chuyển qua hệ thống ngân hàng ước tính cho cả năm cho thấy, tốc độ tăng trưởng của các dòng vốn này đạt mức cao nhất từ trước tới nay và vượt xa dự báo từ đầu năm của các nhà quản lý và quản trị ngân hàng.Đây là những diễn biến tích cực và rất đáng mừng của nền kinh tế – dấu hiệu nền kinh tế tiếp tục trong xu hướng đi lên ở thời điểm hiện tại cũng như trung và dài hạn. Đồng thời, cũng cho thấy hiệu quả đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng trong cả nước sau hơn 1 năm gia nhập WTO.

Thị trường vốn: Tăng trưởng lớn nhất trong 20 năm trở lại đây

Tính chung trong cả nước, tính đến hết tháng 11/2007, tổng dư nợ cho vay và đầu tư đối với nền kinh tế của hệ thống NH tăng gần 34% và ước tính hết năm 2007 tăng tới 37-38% so với cuối năm 2006 và tăng gấp khoảng 2 lần so với mức dự kiến từ đầu năm là 17-21%.

Những lĩnh vực thu hút khối lượng lớn vốn tín dụng NH trong năm 2007 đó là đầu tư các dự án cơ sở hạ tầng, đầu tư bất động sản mà đặc biệt là các dự án khu nhà ở mới và khu đô thị mới, đầu tư vốn trong lĩnh vực xuất khẩu và dịch vụ, nuôi trồng thuỷ hải sản… Bên cạnh đó, đối tượng đầu tư chứng khoán, vàng, tiêu dùng… cũng thu hút một khối lượng rất lớn vốn tín dụng.

Tuy nhiên, vốn huy động trong xã hội còn có tốc độ tăng trưởng lớn hơn. Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng trong cả nước tính đến hết 31/12/2007 ước tính tăng tới 36,5%, một số ước tính khác tăng 37-37,5%, gấp hơn 3,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đây là tốc độ tăng trưởng lớn nhất từ gần 20 năm đổi mới hoạt động ngân hàng cho đến nay.

Tốc độ tăng trưởng đó cũng cho thấy tiềm lực về vốn trong dân, trong xã hội rất lớn, hoạt động NH đổi mới mạnh mẽ tạo lòng tin cho khách hàng, cho người gửi tiền, dịch vụ phát triển đa dạng. Đồng thời cũng cho thấy, người dân ngày càng có thói quen gửi tiền vào NH vừa hưởng lãi, vừa an toàn.

TP.HCM: quy mô tài chính – tiền tệ lớn nhất

Tại TP.HCM, trung tâm kinh tế, tài chính – tiền tệ lớn nhất và sôi động nhất cả nước, ước tính đến hết tháng 12/2007, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 442.530 tỷ đồng, tăng 55% so với cuối năm 2006. Đây cũng là mức tăng lớn nhất từ trước tới nay.

Trong đó, vốn huy động bằng nội tệ đạt 327.792 tỷ đồng, vốn huy động ngoại tệ quy đổi đạt 114.738 tỷ đồng, chiếm gần 26,0%. Phân theo đối tượng khách hàng và hình thức huy động thì tiền gửi tiết kiệm của dân cư đạt 169.298 tỷ đồng, tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và cá nhân đạt 245.965 tỷ đồng, phát hành giấy tờ có giá đạt 27.267 tỷ đồng. Diễn biến đó cho thấy tiềm năng vốn trong dân, trong xã hội ở khu vực TP HCM có thể huy động được lớn tới mức độ nào!

Về sức hấp thụ vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế qua điển hình ở Hà Nội và TP HCM cũng cho những diễn biến ngoài dự đoán.

Cũng tính đến hết tháng 12/2007, tổng dư nợ cho vay của các NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn TP HCM ước tính đạt 346.918 tỷ đồng, tăng 51% so với cuối năm 2006. Phân theo tiền tệ thì dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 241.190 tỷ đồng, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 105.728 tỷ đồng. Phân theo kỳ hạn thì dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 212.487 tỷ đồng, dư nợ trung và dài hạn đạt 134.431 tỷ đồng.

Tốc độ tăng dư nợ cho vay đó cũng cho thấy nhu cầu vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh của các DN, hộ dân cư trên địa bàn thành phố là rất lớn. Đồng thời dư nợ cho vay ngoại tệ lớn hơn số dư vốn huy động cho thấy nhu cầu vốn ngoại tệ cho nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc cho đổi mới công nghệ và mở rộng kinh doanh là rất lớn. Bên cạnh đó, do tỷ giá ổn định, lãi suất cho vay ngoại tệ chỉ bằng 50%-60% mức lãi suất cho vay nội tệ nên nhiều DN thích vay vốn ngoại tệ hơn, ngược lại người gửi tiền thì thích gửi bằng nội tệ hơn vì lãi suất tiền gửi cùng kỳ hạn của nội tệ cao gấp 2 lần tiền gửi ngoại tệ.

Hà Nội: tốc độ tăng trưởng lớn nhất

Tại Hà Nội, nơi tập trung hội sở và đầu mối của 4 NHTM Nhà nước, 8 NHTM cổ phần và có số đông các NH khác, quy mô vốn huy động và dư nợ cho vay cũng diễn ra tương tự.

Ước tính đến hết 31/12/2007, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội tăng 36,12% so với cuối năm 2006. Còn số liệu thống kê cụ thể ở thời điểm sớm hơn cho hay, tính đến hết tháng 10/2007, đạt 326.624 tỷ đồng, tăng 34,54% so với cuối năm 2006, đây là mức tăng lớn nhất trong nhiều năm.

Dự báo đến hết năm 2007, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố sẽ đạt 350.000-355.000 tỷ đồng, tăng 42-44% so với cuối năm 2006.

Tính đến hết năm 2007, nhiều NHTM cổ phần có tốc độ tăng trưởng vốn huy động tới 70% đến hơn 100% so với cuối năm trước. Đây là mức độ tăng trưởng cao hết sức “ngoạn mục” ngoài dự kiến từ đầu năm của hầu hết các nhà quản trị NH và cổ đông của các NH.

Nếu phân tích theo đối tượng khách hàng gửi tiền tại các NH trên địa bàn Hà Nội, thì đến hết tháng 10/2007, tiền gửi dân cư đạt 140.310 tỷ đồng, tăng 31,01% và tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 186.314 tỷ đồng, tăng 37,33% so với cuối năm trước.

Nguyên nhân vốn huy động của các tổ chức kinh tế tăng nhanh do nhiều DN thực hiện IPO, số vốn thu về lớn nhưng chưa sử dụng đến, tạm thời gửi NH. Một số DN bán cổ phần cho cổ đông chiến lược, phát hành cổ phần tăng vốn… quỹ thặng dư vốn và số vốn điều lệ tăng thêm chưa đầu tư được cũng tạm thời để trong tài khoản tiền gửi tại NHTM.

Nhiều DN trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản thu tiền sử dụng đất, tiền bán căn hộ, tiền bán nhà xây thô… của khách hàng, chưa sử dụng đến cũng tạm thời gửi NH. Quỹ đầu tư chứng khoán, vốn của các nhà kinh doanh chứng khoán, vốn chuẩn bị thành lập mới NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần, công ty chứng khoán… chưa đi vào hoạt động tạm thời để trên tài khoản tại NH được lựa chọn. Trong số đó có cả vốn phát hành trái phiếu chưa giải ngân được cũng để trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn!

Phân theo tiền tệ, vốn huy động nội tệ đạt 236.180 tỷ đồng, tăng 39,05% và vốn huy động ngoại tệ đạt 90.444 tỷ đồng, tăng 24,05% so với cuối năm trước. Nguyên nhân vốn huy động nội tệ tăng cao hơn vốn huy động ngoại tệ ở Hà Nội cũng giống như ở TP HCM.

Vốn huy động tăng nhanh một mặt phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang rất sôi động, hiệu quả kinh doanh của nền kinh tế ngày càng nâng cao một cách bền vững. Mặt khác cũng phản ánh thu nhập của người dân, của các DN cũng nâng cao. Trong số nguồn thu nhập đó có khối lượng đáng kể là kiều hối, tiền của người Việt Nam ở nước ngoài chuyển về.

Tại Hà Nội, dư nợ cho vay cũng tăng với tốc độ rất lớn. Tính đến 31/12/2007, tổng dư nợ cho vay của các NHTM và tổ chức tín dụng tăng 38,5% so với cuối năm 2006. Còn số liệu thống kê cụ thể cho hay, tính đến hết tháng 10/2007, tổng dư nợ cho vay đạt 163.838 tỷ đồng, tăng 37,44% so với cuối năm 2006. Đây cũng là mức tăng cao nhất từ trước đến nay và vượt xa nhiều so với dự báo từ đầu năm của các NH. Một số NHTM cổ phần sẽ có mức tăng trưởng dư nợ tới 55% đến 65%.

Về cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn, cho vay ngắn hạn đạt 100.089 tỷ đồng, tăng 33,50% và dư nợ cho vay trung dài hạn đạt 63.749 tỷ đồng, tăng 44,1%. Tín dụng trung dài hạn tăng cao hơn ngắn hạn chứng tỏ nhu cầu vốn đầu tư chiều sâu, đầu tư cho mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà xưởng, lắp đặt trang thiết bị mới và hiện đại tăng lên. Một nguyên nhân khác, vốn đầu tư cho các KCN, khu chế xuất, khu đô thị mới, dự án nhà ở, vốn cho vay mua nhà chung cư, mua ôtô, phương tiện vận chuyển, máy móc thiết bị thi công, xây dựng khách sạn, văn phòng cho thuê, trung tâm thương mại, siêu thị… cũng tăng cao.

Về cơ cấu dư nợ theo tiền tệ, dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 100.092 tỷ đồng, tăng 38,8% và dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 34,72%. Nguyên nhân dư nợ cho vay nội tệ cao hơn ngoại tệ cũng tương tự như ở TP.HCM.

Không chỉ riêng Hà Nội và TP.HCM, mà trong cả nước, nhất là những tỉnh, thành phố lớn, có tốc độ công nghiệp hoá nhanh… các luồng vốn huy động, thanh toán, cho vay… của hệ thống NH trong cả nước cũng có tốc độ tăng trưởng cao ngoài dự kiến.

Tính đến hết tháng 9/2007, tổng dư nợ cho vay của các NHTM và tổ chức tín dụng trong toàn quốc tăng 35% so với cuối năm 2006 và ước tính đến hết tháng 10/2007 tăng 38%, gấp gần 2 lần mức tăng cùng kỳ năm 2006. Riêng khối NHTM cổ phần có tốc độ tăng dư nợ tới 103% so với cùng kỳ năm 2006 và tăng 65% so với đầu năm, chiếm 24,7% thị phần tín dụng của toàn bộ các NHTM và tổ chức tín dụng trong cả nước, tăng mạnh so với tỷ lệ 19,7% cuối năm 2006.

Những tác động và nguyên nhân

Diễn biến về vốn nói trên qua hệ thống NH cho thấy những tác động và nguyên nhân sau:

Một là, số đông người dân, các DN, hộ kinh doanh ngày càng làm quen với dịch vụ NH tiện ích, tin tưởng NH, tăng khả năng tiết kiệm và sử dụng tiền nhàn rỗi gửi vào NH vừa an toàn, vừa có lãi, vừa được hưởng các tiện ích khác từ dịch vụ NH hiện đại.

Không chỉ mở tài khoản thanh toán, mở tài khoản sử dụng thẻ mà còn gửi tiết kiệm với các kỳ hạn khác nhau. Đây là xu hướng văn minh, tiến bộ của nền kinh tế, cho phép giảm tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán thẻ, thanh toán điện tử liên NH… ngày càng được sử dụng phổ biến hơn. Bởi vì một chỉ tiêu quan trọng đánh giá triển vọng phát triển của nền kinh tế đó là tốc độ người dân chấp nhận và khả năng tiếp cận với các dịch vụ NH, kể cả vay tiền. Đồng thời số đông người dân, DN mạnh dạn vay vốn ngân hàng không chỉ đầu tư cho sản xuất kinh doanh mà còn cho tiêu dùng: mua nhà ở, mua ôtô, mua phương tiện sinh hoạt, đi du học, du lịch và đi chữa bệnh nước ngoài…

Hai là, về nguyên lý cũng như thực tiễn, vốn đầu tư cho nền kinh tế của hệ thống NH thời kỳ này sẽ tạo ra tăng trưởng ở thời kỳ sau, ít nhất là 6 tháng. Như vậy trong các tháng cuối năm cũng như năm 2008 và các năm tới có thể khẳng định nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có tốc độ phát triển cao không chỉ dư vốn cho vay của hệ thống NH mà còn do tốc độ chu chuyển vốn trong thanh toán, khả năng huy động vốn để đáp ứng cho các kênh đầu tư khác: đầu tư trên TTCK, đầu tư trực tiếp nước ngoài, thành lập quỹ đầu tư và DN.

Ba là, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đổi mới mạnh mẽ và cạnh tranh rất sôi động sau 1 năm nền kinh tế nước ta gia nhập WTO. Mạng lưới của các NH được mở rộng với tốc độ rất nhanh đến gần dân, tiện lợi cho DN. Công nghệ NH đang sử dụng và chuẩn bị được lắp đặt ở vào trình độ hiện đại của thế giới. Quy mô vốn điều lệ và năng lực tài chính của các NH được nâng cao lên rõ rệt. Trình độ quản trị điều hành, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện. Các quan hệ liên doanh, liên kết, hợp tác… giữa các NHTM trong nước với các tập đoàn tài chính lớn của thế giới, với các DN khác của Việt Nam theo hướng hình thành tập đoàn kinh doanh đa năng… ngày càng chặt chẽ.

Tất nhiên còn rất nhiều việc phải làm cả về điều hành chính sách tiền tệ, quản lý Nhà nước về hoạt động NH, cấp giấy phép thành lập NH và công ty tài chính mới, thủ tục tăng vốn điều lệ… để hệ thống NH Việt Nam phát triển vững chắc và mạnh mẽ hơn nữa. Song những chuyển biến nói trên cho thấy năng lực cạnh tranh và hiệu quả đối với nền kinh tế của hệ thống NH Việt Nam sau 1 năm gia nhập WTO.

Nguyễn Hà

5 khuyến cáo của IMF về kinh tế Việt Nam 120907

(Nguồn: VNEconomy 09/12/07) Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) năm nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra 5 khuyến cáo đối với kinh tế Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vào phát triển bền vững dựa trên việc kiểm soát tốt thị trường tiền tệ.

  1. Việt Nam cần thắt chặt chính sách và điều kiện về tiền tệ: IMF khuyến khích Chính phủ Việt Nam tăng cường giám sát tăng trưởng tín dụng, thắt chặt các điều kiện về tiền tệ và giám sát ngân hàng, đặc biệt các ngân hàng cổ phần. IMF cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước tăng cường sự linh hoạt trong điều hành tiền tệ và cần làm rõ quan điểm về điều hành thị trường này.
  2. Tăng sự linh hoạt của tỷ giá: trong bối cảnh nguồn vốn đổ vào Việt Nam càng lớn, cần có can thiệp về tỷ giá hối đoái kịp thời và không đặt ra áp lực điều hành tiền tệ.
  3. Thực hiện chính sách tài khoá thận trọng: Việt Nam hiện có nhu cầu lớn về phát triển cơ sở hạ tầng, song theo IMF, theo đuổi chính sách tài khoá mở rộng có thể làm lạm phát trầm trọng hơn, cũng như làm suy yếu khả năng tăng trưởng bền vững. IMF cũng khuyến khích Chính phủ thận trọng giám sát các nguồn vay từ bên ngoài, đặc biệt không nên tài trợ cho các dự án của doanh nghiệp nhà nước thông qua phát hành trái phiếu chính phủ.
  4. Đẩy nhanh cải cách ngân hàng: IMF cho biết đánh giá cao lộ trình toàn diện cải cách lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam, đặc biệt việc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước. Cơ quan này nhấn mạnh việc chuyển đổi Ngân hàng Nhà nước thành ngân hàng trung ương hiện đại có khả năng thực hiện chính sách tiền tệ và giám sát các ngân hàng và tổ chức tài chính trong bối cảnh thị trường ngày càng phát triển.

March 17, 2009

Vay vốn hỗ trợ lãi suất: Đảo nợ, nên hay không? 031709

Filed under: ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 11:11 pm
Tags: , ,

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định, đối với khoản vốn cho vay hỗ trợ lãi suất, DN không được vay để trả nợ cũ. Điều này đã gây ra khó khăn cho DN khi tiếp cận vốn vì rất nhiều DN hiện có khoản vay cũ lãi suất cao chưa thể trả được thì khó vay vốn mới. Ngược lại, ngân hàng cũng có cái khó vì tình trạng đảo nợ vẫn có thể xảy ra mà việc kiểm soát hết là không dễ.

Đảo nợ, thực tế có hay không?

Chưa có bất cứ một thừa nhận chính thức nào về việc đảo nợ. Các ngân hàng hiện cũng rất ngại khi nói về điều này, bởi đây là chuyện cấm không chỉ đối với chính sách vay vốn hỗ trợ lãi mà ngay cả trong cho vay thông thường cũng rất hạn chế.

Vì thế, chuyện đảo nợ đã được nói nhiều nhưng chỉ đến khi ông Trương Đình Tuyển, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, phát biểu tại buổi gặp DN xuất khẩu gần đây, thì mới phần nào được nói đến công khai.

Đảo nợ – có nhiều cách mà ngân hàng có thể không nắm được?

Theo ông Tuyển, yêu cầu đảo nợ là một thực tế vì ông cũng đã nghe một số DN tại Hà Nội phản ánh về vấn đề này. Trên thực tế, hoạt động này cũng đang âm thầm diễn ra bằng nhiều kiểu, nhiều cách.

Do vậy, ông Tuyển đặt vấn đề có nên cho DN vay món tiền mới trả nợ tiền cũ để tiếp tục hay không? Và nếu được thì nên công khai việc này để tránh phát sinh tiêu cực. “Sẽ kiến nghị Thủ tướng về tình hình nhiều doanh nghiệp muốn hưởng bù lãi suất cho vay để giải quyết nợ cũ”, ông Tuyển nói.

Thực tế, dù không được vay để đảo nợ nhưng chuyện các DN tìm mọi cách để trả nợ sớm rồi vay các khoản nợ mới theo hỗ trợ lãi suất cũng đã diễn ra. Ngân hàng ACB cho biết, các DN đã được vay vốn hỗ trợ lãi suất để kinh doanh và tái mở rộng sau khi tìm cách trả nợ cũ cho NH. Ngân hàng này cũng không thu phí phạt đối với các DN tất toán trước hạn.

Giám đốc một DN thừa nhận, trong những tháng giữa năm 2008, dù lãi suất ngân hàng tăng cao, nhưng để đáp ứng được vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, DN vẫn phải tìm đến với lãi suất cao, có khi đến 21%. Đây đa số là các hợp đồng ngắn hạn nên thời gian còn lại không nhiều.

Trong khi đó, lãi suất vay hiện cao nhất 10,5%/năm nhưng với chính sách ưu đãi, lãi suất sau hỗ trợ áp dụng cho DN xuất khẩu mức thấp nhất còn 0,5-1%/năm thì đúng là nợ vẫn là một gánh nặng cho DN trong tình hình hiện nay.

Chính vì thế, tâm lý chung của DN là không thể không tìm cơ hội để tất toán nợ cũ cho ngân hàng (NH) để vay lại vốn mới hưởng lãi suất rẻ hơn. Về nguyên tắc, nếu có nợ cũ vẫn có thể vay nếu có tài sản thế chấp và bảo lãnh.

Tuy nhiên, đa số các DN khó khăn nên tài sản thường dồn hết cho các hợp đồng vay cũ nên không có tài sản thế chấp, còn bảo lãnh thì điều kiện quá khó nên vay vốn mới là chuyện khó cho nhiều DN. Cách duy nhất là tìm mọi biện pháp để trả nợ cũ trước hạn để vay nợ mới.

Giám đốc một ngân hàng thương mại cũng cho biết, chắc chắn không có một ngân hàng nào chấp nhận cho DN vay để đảo nợ. Tuy nhiên, DN sẽ bằng nhiều cách để trả nợ cũ, thậm chí có thể dùng chính khoản vay của các ngân hàng thông qua nhiều cách để trả nợ cũ, rút tài sản đang thế chấp sang vay khoản mới.

Đấy là điều các ngân hàng không thể kiểm soát được, còn DN để đáp ứng đủ các yêu cầu vay vốn hỗ trợ lãi suất cũng tốn kém thêm nhiều khoản vì phải chi phí lòng vòng để trả nợ sớm. Không loại trừ việc vay tín dụng “đen” hay qua nhiều công đoạn khác để giải ngân vốn được vay mới nhằm lấy tiền trả nợ trước thời hạn.

Vị giám đốc ngân hàng này nói thêm, cho vay lãi suất cao hiện không còn nhiều, hợp đồng còn lại thời gian cũng ngắn nên tâm lý chung của các ngân hàng cũng không ngại các DN thanh toán sớm. Vì DN nào thanh toán được sớm chứng tỏ vẫn còn khả năng xoay xở làm ăn, NH dù có mất tý lãi nhưng lại bớt một nỗi lo nợ xấu và được tiếng với bạn hàng. Nguyên tắc là không đảo nợ và ngân hàng cũng không quan tâm đến chuyện DN lấy vốn đâu để trả mà chỉ cần trả được nợ và vay vốn mới đúng quy trình.

Còn phải chờ…

Trả lời về thắc mắc của những DN, quan điểm của Ngân hàng Nhà nước vẫn cho rằng, cho vay bù lãi suất không đồng nghĩa với nới rộng điều kiện cho vay. Vì nếu nới lỏng lãi suất khoản vay sẽ không hiệu quả, sản phẩm không ra được thị trường, đồng thời đẩy áp lực lạm phát tăng lên. Khi xét duyệt, ngân hàng vẫn xét duyệt và thực hiện như cơ chế thông thường, chỉ khác doanh nghiệp được bù 4%/năm lãi suất. Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định không có chuyện ngân hàng và doanh nghiệp dựa trên quan hệ quen biết tiêu cực và chuyện đảo nợ là không thể có.

Tuy nhiên, trong một lần tiếp xúc với giới doanh nhân mới đây, một đại diện từ phía Bộ Kế hoạch – Đầu tư, nơi đầu mối nắm giữ số liệu về DNNVV lại bày tỏ quan điểm, chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất có thể nên chấp thuận cho vay đảo nợ vì thực tế là nhiều doanh nghiệp có dự án thực thi nhưng không vay được vì không trả được nợ cũ.

Vì vậy cho phép vay đảo nợ thì doanh nghiệp mới tiếp cận được vốn mới. Tuy nói dưới góc độ cá nhân nhưng chuyên gia này vẫn cho biết, đây sẽ là một đề xuất để Chính phủ xem xét.

Cần thêm nhiều phương án để đưa vốn giá rẻ đến với DN khó khăn.

Trong khi đó, rất nhiều lãnh đạo các ngân hàng thương mại cho biết, để được cho phép đảo nợ sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề về quy định tín dụng chung và chương trình hỗ trợ lãi suất nói riêng.

Đảo nợ vốn là một vấn đề được đề cập dưới góc độ không mấy thiện cảm và lành mạnh trong kinh doanh tín dụng, điều này càng nhạy cảm hơn khi nó lại rơi vào một chương trình hỗ trợ mà nguyên tắc đã được Ngân hàng Nhà nước nhắc đi nhắc lại: Cho vay thông thường, không phải là ưu đãi điều kiện cho vay mà chỉ ưu đãi lãi suất. Vì thế, sẽ còn phải tranh cãi và có thể phải chờ ý kiến từ Chính phủ mới có thể gỡ được chuyện này.

Tuy nhiên, xét từ góc độ lợi ích của chương trình là: hỗ trợ vốn giá rẻ cho DN, tạo điều kiện ngân hàng giải ngân thì việc cho phép đảo nợ cũng chấp nhận được vì cuối cùng DN vẫn được hưởng hỗ trợ.

Trong khi chờ đợi một quyết định mới, một số chuyên gia cho rằng, thời gian hưởng hỗ trợ lãi suất là rất ngắn, nên phải có những phương án khác thực tế hơn. Theo đó, căn cứ trên nhu cầu thực tế và tham khảo đề xuất của các tổ chức tín dụng, bên cạnh việc cho vay các khoản mới theo quy định thì có thể cho phép các khoản nợ cũ của các DN thuộc diện được hỗ trợ cũng được hỗ trợ lãi suất. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng cho vay đảo nợ và đỡ nảy sinh tiêu cực.

Trong khi đó, có ý kiến cho rằng, xử lý những khoản nợ cũ mà khách hàng gặp khó khăn trong trả nợ các ngân hàng đã xử lý nhiều như việc xử lý nợ cho nông dân gặp thiên tai… là kinh nghiệm có thể tham khảo.

Cần khai thông cơ chế hỗ trợ lãi suất- 031509

(TBKTSG) – Quyết định 131 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo sự phấn khởi trong giới kinh doanh vì năm 2009 được dự báo sẽ tiếp tục khó khăn, nhiều người kinh doanh sẽ lâm vào nguy kịch nếu không có sự trợ giúp kịp thời của Chính phủ.

Việt Nam không thể thực hiện chính sách lãi suất cực thấp, thậm chí 0%, như các nước phát triển, vì hệ thống ngân hàng không thể chịu đựng nổi. Vì vậy, gói hỗ trợ bù lãi suất 4% của Chính phủ là giải pháp hợp lý cho cả ngân hàng và người kinh doanh.

Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện, trong thực tiễn phát sinh nhiều vấn đề cần phải tập trung tháo gỡ để chủ trương của Chính phủ phát huy hiệu quả tối đa, tránh việc khách hàng và ngân hàng lợi dụng chủ trương này để trục lợi.

Đảo nợ sẽ là một hiện tượng tất yếu vì quy định chỉ hỗ trợ lãi suất cho khoản vay phát sinh từ 1-2-2009 trở đi. Dù không có chính sách hỗ trợ lãi suất, hiện tượng đảo nợ vẫn xảy ra vì lãi suất cơ bản giảm sâu và nhanh trong những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009.

Đối với người kinh doanh, trong thời buổi cực kỳ khó khăn này, tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó. Họ đã “gồng mình” gánh lãi suất cao để tồn tại, do đó khi lãi suất hạ, không có lý do gì họ không tìm mọi cách hưởng lãi suất thấp hơn để “dễ thở” hơn, để bù đắp lỗ lã. Đây là một lý do rất chính đáng
Để giải quyết hiện tượng này, có hai cách cần cân nhắc lựa chọn:

Một là, chấp nhận sự đảo nợ. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, đảo nợ sẽ không gây ảnh hưởng xấu vì sẽ biến gói kích cầu thành gói cứu trợ tài chính cho các ngân hàng thương mại (NHTM) và như vậy cũng dẫn đến tác dụng kích cầu.

Theo ông Nghĩa, khi doanh nghiệp trả được nợ cũ thì NHTM có thể cho vay mới, tài chính của NHTM sẽ lành mạnh hơn vì được khách hàng thanh toán đầy đủ. Về phía doanh nghiệp, đảo nợ để có vốn duy trì được hàng vạn công ăn việc làm thì không khác gì được cấp cứu kịp thời qua cơn nguy kịch. Nếu không cho đảo nợ thì chẳng khác nào tiếp tay cho các “dịch vụ đảo nợ” đang hoạt động lén lút (nhưng công khai) “cắt cổ” người kinh doanh với lãi suất vay nóng cực cao
Trong tình cảnh “chẳng đặng đừng” này, người kinh doanh đành chấp nhận vừa bị kẻ cho vay lãi nặng “chặt đẹp” để lấy tiền trả vào ngân hàng, vừa bị ngân hàng “tận thu” phí trả nợ trước hạn.

Rốt cuộc, phần được Chính phủ hỗ trợ còn lại không đáng kể sau khi trừ các chi phí “chẳng đặng đừng” nói trên.

Như vậy, một cơ chế đảo nợ hợp pháp để giảm bớt gánh nặng lãi suất cho người kinh doanh là một việc nên làm không những trong thời buổi hiện nay mà là một yêu cầu của thực tiễn để thị trường vốn vận hành thông suốt, giảm bớt hệ quả xấu từ mặt trái của nó.

Hai là, chấp nhận hỗ trợ lãi suất cho tất cả các khoản vay đủ điều kiện quy định nhưng phát sinh trước 1-2-2009. Chúng tôi thấy những khoản vay này không có lý do gì lại không được hỗ trợ vì nó đã và đang tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Cách này giải quyết ổn thỏa cả hai vấn đề: ngân hàng không phải đối phó với hiện tượng đảo nợ bất hợp pháp, tài chính không bị ảnh hưởng lớn vì lãi suất cho vay mới giảm thấp, hạn chế được rủi ro đạo đức do sự thông đồng giữa khách hàng và nhân viên để trục lợi…; người kinh doanh đỡ mất nhiều thời gian và chi phí tốn kém cho các dịch vụ đảo nợ và phí trả nợ trước hạn, yên tâm dành thời gian cho sản xuất-kinh doanh.

Quyết định 131 thiên về kích cầu đầu tư, bỏ qua một nhân tố tối quan trọng của thị trường, đó là cầu tiêu dùng. Trong khi cầu tiêu dùng đang ảm đạm bởi sức mua kém thì chỉ thiên về kích cầu đầu tư liệu có giúp cho tăng trưởng kinh tế?

Chính phủ các nước đang đổ nhiều tỉ đô la để kích thích tiêu dùng song song với các gói cứu trợ sản xuất. Đã đến lúc chúng ta cần thực hiện giải pháp kích cầu tiêu dùng song song với kích cầu đầu tư. Vì vậy, các khoản vay tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình nên được loại khỏi danh mục các đối tượng không được hỗ trợ lãi suất. Như vậy, kích cầu tiêu dùng cũng chính là giúp cho người kinh doanh tiêu thụ được sản phẩm, từ đó chính sách kích cầu đầu tư mới phát huy hiệu quả.

Những vấn đề nói trên, nếu được khai thông, thì khối lượng tín dụng được hỗ trợ lãi suất 640.000 tỉ đồng mới khả thi.

Blog at WordPress.com.