Ktetaichinh’s Blog

April 9, 2010

Khi doanh nghiệp nước ngoài “qua mặt” cơ quan thuế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:18 pm
Tags: ,
(VOV) – Trong khi hầu hết doanh nghiệp may mặc Việt Nam dù phải nhập khẩu nguyên phụ liệu của nước ngoài, đều làm ăn có lãi, nhưng hơn 80% doanh nghiệp may mặc có vốn đầu tư nước ngoài lại báo lỗ

Vậy thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kêu thua lỗ đã dùng “thủ thuật” “biến lãi thành lỗ” như thế nào? Phương pháp của họ là “chuyển” giá. Tức là nhiều doanh nghiệp FDI cố tình thua lỗ ở Việt Nam để chuyển lãi về công ty mẹ. Họ chấp nhận nhập khẩu nguyên liệu máy móc đầu vào từ công ty mẹ với giá thật cao, rồi bán lại hàng hóa sản xuất ở Việt Nam cho công ty mẹ với giá thật thấp để không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, mà thậm chí lại còn được hoàn thuế giá trị gia tăng. Một khi họ báo lỗ họ sẽ không phải đóng thuế thu nhập và các khoản thuế khác nữa.

Tác hại của thủ thuật này không chỉ là ngân sách nhà nước bị mất đi một khoản thuế lớn, mà hàng năm chúng ta còn phải dành một lượng ngoại tệ không nhỏ cho việc nhập về những nguyên liệu, máy móc cao hơn giá trị thực của nó. Nhưng nguy hiểm hơn nữa đó là khi tình trạng thua lỗ ảo kéo dài, đại diện phần vốn của Việt Nam trong liên doanh có thể không chịu nổi và nhanh chóng rút vốn, nhường sân cho đối tác. Thực tế cho thấy, không ít các doanh nghiệp liên doanh đã bị các công ty mẹ ở nước ngoài “thôn tính” theo kiểu này.

Đáng nói nữa là dù biết khá rõ thủ thuật lách thuế của các doanh nghiệp FDI, nhưng việc chứng minh điều này không phải dễ đối với ngành thuế. Cho đến giờ việc kiểm soát giá nội bộ để chống gian lận qua chuyển giá là một thách thức lớn đối với các cơ quan quản lý ở Việt Nam. Lý do một phần vì ở ta chưa có luật chống chuyển giá…, một phần vì Luật Thuế thu nhập Doanh nghiệp chưa đủ chặt chẽ để quản lý và chế tài hành vi này. Ngành thuế vẫn phải áp dụng các biện pháp cũ là phân loại doanh nghiệp, yêu cầu doanh nghiệp giải trình và giám sát chặt chi phí mức tiêu hao vật tư và hợp đồng mua bán của các doanh nghiệp này. Và tất nhiên, hiệu quả của các biện pháp vừa nêu không hiệu quả, thậm chí là “bó tay” đối với các thủ thuật trốn thuế của các doanh nghiệp FDI.

Advertisements

Hàng hóa tiêu hủy : DN có phải nộp thuế không

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:05 pm
Tags:

Thực tế trong hoạt động xuất nhập khẩu có nhiều loại hàng hóa đã nhập khẩu vào thị trường VN nhưng vì lý do nào đó phải tiêu hủy. Vậy đối với những trường hợp như vậy DN có phải nộp thuế không ? Đây cũng là vướng mắc mà cơ quan hải quan đang gặp phải gần đây.

Theo quy định đối với hàng may mặc, nếu nguyên liệu thừa nằm ngoài định mức tiêu hao (3%) mà tiêu thụ tại thị trường nội địa thì DN phải nộp thuế. Song vẫn đề phát sinh là ở chỗ số nguyên phụ liệu thừa đó không sử dụng được, hoặc phế phẩm, phế liệu tiêu hủy, không thu được lợi gì. Theo Hiệp hội Dệt may VN, yêu cầu DN phải nộp thuế đối với số nguyên phụ liệu thừa là bất hợp lý. Bởi lẽ nếu còn sử dụng được thì phía đối tác nước ngoài đã yêu cầu DN chuyển sang thực hiện hợp đồng gia công tiếp theo, hoặc xuất khẩu trả lại nước ngoài, hoặc biếu tặng tại VN. Đương nhiên trong trường hợp này DN không phải nộp thuế. Theo Hiệp hội Dệt may, nếu DN đã nộp đủ thuế cho số nguyên phụ liệu thừa, phế liệu, phế phẩm tiêu hủy thì không cần thiết phải có quy định chặt chẽ về thủ tục hải quan cho phép và giám sát việc tiêu hủy như hiện nay.

Không chỉ có Hiệp hội Dệt may, hiện nay nhiều DN đang đề nghị cơ quan hải quan xem xét lại việc thu thuế đối với hàng hóa NK là nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm hàng gia công thừa mà không có giá trị sử dụng hoặc không đảm bảo chất lượng DN phải tiêu hủy. Mặc dù việc cơ quan hải quan thu thuế đối với hàng hóa NK sau đó tiêu hủy tại VN là căn cứ trên quy định hiện hành, tuy nhiên số hàng hóa này sau khi tiêu hủy không còn giá trị sử dụng nên việc yêu cầu DN nộp thuế là chưa hợp lý và chưa đúng bản chất của thuế NK và thuế GTGT.

Về vấn đề này, theo ý kiến của Bộ Công Thương để tạo điều kiện cho DN phát triển sản xuất, cần xem xét miễn thuế cho nguyên liệu, vật tư, phế liệu, NK thừa sau quá trình gia công, sản xuất hàng XK hoặc quá trình sản xuất hàng hóa không có giá trị sử dụng phải đem tiêu hủy, hoặc không đủ chất lượng phải tiêu hủy.

Theo Hiệu hội Dệt may VN, yêu cầu DN phải nộp thuế đối với số nguyên phụ liệu dư thừa là bất hợp lý. Bởi lẽ nếu còn sử dụng được thì phía đối tác nước ngoài đã yêu cầu DN chuyển sang thực hiện hợp đồng gia công tiếp theo, họăc xuất khẩu trả lại nước ngoài, hoặc biếu tặng tại VN.

Rõ ràng đây là vấn đề cần xem xét để tạo thuận lợi cho DN, tuy nhiên thực tế liệu có phát sinh việc lợi dụng sự thuận lợi này để gian lận trốn thuế ? Vấn đề đặt ra là cần có cơ chế quản lý chặt chẽ đối với hàng tiêu hủy được miễn thuế để tránh gian lận, nhất là tránh trường hợp các DN đưa hàng phế phẩm phế liệu vào VN tiêu hủy, gây ảnh hưởng đến môi trường. Mặt khác cũng tránh việc các DN sử dụng các nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm với danh nghĩa thừa hoặc không đáp ứng chất lượng để sản xuất sản phẩm tiêu thụ trên thị trường trốn được khoản thuế NK nhẽ ra phải nộp.

Được biết Bộ Tài chính đang lấy ý kiến của các bộ ngành liên quan để có cơ sở trình Thủ tướng Chính phủ cho miễn thuế đối với số nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm vì lý do nào đó đem tiêu hủy không còn giá trị sử dụng.
Nguồn: H.Đức-Diendandoanhgnhiep

March 16, 2010

Dự kiến áp thuế môi trường vào 5 loại hàng hóa

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:46 pm
Tags: ,


from Kế toán | Tài chính by tmtvietnam
Túi nilon sẽ là sản phẩm dự kiến chịu thuế môi trường.

Góp ý vào dự thảo Luật Thuế môi trường, các đại biểu thống nhất về việc cần thiết ban hành Luật, song có nhiều ý kiến khác nhau về một số vấn đề như thuế đánh vào người sản xuất hay người tiêu dùng, sự khác nhau giữa thuế môi trường và phí môi trường..

Chiều 15/3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Thuế môi trường. Quá trình phát triển nền kinh tế đã làm phát sinh những yếu tố tác động tiêu cực đến môi trường, dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng, sự phát triển bền vững đang bị đe dọa.

Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm khi sử dụng

Theo Tờ trình của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trình bày, việc ban hành và thực thi chính sách về bảo vệ môi trường ở nước ta còn nhiều bất cập, các quy định về phí môi trường hiện hành (phí đối với nước thải, chất thải rắn, khai thác khoáng sản, phí xăng dầu), mới chỉ dừng lại ở mục tiêu huy động đóng góp một phần của những đối tượng xả thải hỗ trợ làm sạch thêm môi trường.

Trong các sắc thuế có liên quan như Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Thuế Xuất nhập khẩu, mục tiêu bảo vệ môi trường chỉ là mục tiêu lồng ghép, không phải là yêu cầu chính.

Vẫn theo Bộ trưởng Vũ Văn Ninh, việc ban hành Luật này sẽ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền với giảm ô nhiễm môi trường; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, góp phần thay đổi nhận thức của nhân dân trong sản xuất và tiêu dùng; tăng cường quản lý Nhà nước và thực hiện cam kết của Chính phủ với cộng đồng quốc tế và động viên hợp lý đóng góp của xã hội với vấn đề môi trường hiện nay.

Việc thu thuế phải tính đến sự hài hòa với phát triển kinh tế, đảm bảo năng lực cạnh tranh và xuất khẩu của hàng hóa; đồng thời phân biệt rõ thuế môi trường đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm khi sử dụng và phí bảo vệ môi trường đánh vào nguồn gây ô nhiễm khi sản xuất.

Theo đó, dự kiến các sản phẩm và hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế môi trường gồm: xăng dầu các loại, than, môi chất làm sạch chứa dung dịch hydro-clo-flo-carbon (HCFC – một tác nhân chính làm thủng tầng ozon), túi nhựa xốp (túi nilon), thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng.

Dự thảo Luật cũng đưa ra một số hàng hóa, sản phẩm không chịu thuế môi trường như hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua biên giới Việt Nam; hàng tạm nhập tái xuất trong thời hạn theo quy định; hàng hóa do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu.

Rạch ròi giữa “thuế và phí”

Góp ý cho dự thảo Luật, GS. Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội phân tích: Cần làm rõ nội hàm khái niệm thuế đánh vào sản phẩm, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường hay thuế đánh vào quy trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường.

Cũng như vậy, theo Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, cần phân biệt rõ ràng, thuế đánh vào nhà sản xuất hay tiêu dùng. Cụ thể, như xăng dầu các loại là đánh vào người tiêu dùng chứ không phải người sản xuất, như vậy có làm tăng giá xăng dầu trong nước và thành gánh nặng cho người tiêu dùng hay không?

“Tôi cho rằng, nếu đã thu thuế môi trường rồi thì không thu phí nữa”, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền kiến nghị.

Báo cáo thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Tài chính Ngân sách nhận xét, có sự khác nhau về tính chất giữa thuế môi trường và phí môi trường. Nếu thuế được thu vào sản phẩm gây tác động xấu về môi trường khi sử dụng thì phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm khi sản xuất. Vì vậy, vẫn phải áp dụng cả phí môi trường và thuế môi trường ở những công đoạn khác nhau, đối tượng khác nhau.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang cũng cho rằng, dự thảo Luật đã quy định rõ ràng, phí đánh vào người sản xuất, thuế đánh vào người sử dụng.

Dự kiến, dự thảo Luật này sẽ được các đại biểu Quốc hội thảo luận lần đầu tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội Khóa XII tới đây.

Biểu khung thuế môi trường dự kiến

(Nguồn: Dự thảo Luật thuế môi trường)

STT Hàng hoá Đơn vị Mức thuế (đồng/1 đơn vị hàng hoá)
I Xăng dầu Lít
1 Xăng các loại Lít 1.000 – 4.000
2 Nhiên liệu bay Lít 1.000 – 3.000
3 Dầu diesel Lít 500 – 2.000
4 Dầu hoả Lít 300 – 2.000
5 Dầu mazut Lít 300 – 2.000
II Than Tấn 6.000 – 30.000
III Dung dịch HCFC Kg 1.000 – 5.000
IV Túi nhựa xốp Kg 20.000 – 30.000
V Thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng Kg
1 Thuốc sử dụng trong nông nghiệp Kg 500 – 5.000
2 Thuốc trừ mối Kg 1.000 – 5.000
3 Thuốc bảo quản lâm sản Kg 1.000 – 5.000
4 Thuốc khử trùng kho Kg 1.000 – 5.000

(Theo Chinhphu.vn)

March 15, 2010

Đất phi nông nghiệp sẽ được tính thuế như thế nào?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:13 pm
Tags: , ,

Theo dự luật, thuế suất đối với đất ở tính theo năm được tính ở mức 0,03% với diện tích trong hạn mức

Tại kỳ họp Quốc hội thứ bảy tới đây, dự án Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp sẽ được trình Quốc hội, thay cho dự án Luật Thuế nhà đất đã được xem xét từ kỳ họp trước.

Việc sửa tên gọi của dự thảo luật này xuất phát từ việc chưa đưa nhà ở vào diện chịu thuế, sau khi tiếp thu ý kiến của nhiều vị đại biểu Quốc hội.

Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 15/3, dự án Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp bao gồm 4 chương và 13 điều, có hiệu lực từ 1/1/2012.

Theo đó, đối tượng chịu thuế là đất phi nông nghiệp, bao gồm: đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị; đất sản xuất, kinh doanh, phi nông nghiệp, bao gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh, đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

Dự thảo luật cũng quy định 6 đối tượng không thuộc diện chịu thuế, trong đó có đất xây dựng trụ sở cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh… Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng quy định này “quá thoáng”, cần phải được tính toán kỹ hơn.

Về thuế suất đối với đất, theo quy định tại dự luật, thuế suất đối với đất ở tính theo năm được tính ở mức 0,03% với diện tích trong hạn mức; 0,06% với phần diện tích vượt hạn mức nhưng không quá ba lần hạn mức và 0,1% cho phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức (tăng 0,01% so với dự luật đã trình Quốc hội).

Đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư áp dụng mức thuế suất là 0,03%. Mức này cũng được áp dụng đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Riêng đối với đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, đất để hoang hóa áp dụng thuế suất là 0,1%.

Dự luật cũng quy định giá của 1m2 đất chịu thuế là giá đất theo mục đích sử dụng đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định. Đối với đất ở nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư (bao gồm cả trường hợp vừa để ở vừa để kinh doanh) thì giá tính thuế được xác định bằng việc áp dụng hệ số phân bổ chia đều cho các tầng chịu thuế.

Theo dự thảo luật, kể từ ngày luật này có hiệu lực, Pháp lệnh Thuế nhà đất năm 1992và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm 1994 sẽ hết hiệu lực thi hành.

February 27, 2010

Thuế TNCN: Nhiều khoản thu nhập được giảm trừ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:59 pm
Tags: ,

Nhân viên Cục Thuế TPHCM hướng dẫn thủ tục quyết toán thuế TNCN. Ảnh: H.THÚY Hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009 có nhiều điểm khác biệt so với những năm trước. Phóng viên Báo NLĐ đã trao đổi với ông Nguyễn Đình Tấn, Cục trưởng Cục Thuế TPHCM, xung quanh vấn đề này.

. Phóng viên: Đơn vị chi trả thu nhập nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) như thế nào, thưa ông?

– Ông Nguyễn Đình Tấn: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính thì các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập; cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ, tạm nộp; cá nhân có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau thuộc đối tượng phải quyết toán thuế TNCN. Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính 2009, tức 31/3/2010.

Đối với đơn vị trả thu nhập là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sẽ nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế trực tiếp quản lý. Trường hợp cơ quan thuế có thực hiện ủy nhiệm thu thì đơn vị chi trả thu nhập nộp hồ sơ cho đơn vị được ủy nhiệm.

Đối với các trường hợp khác như: Cơ quan Trung ương; cơ quan thuộc, trực thuộc bộ, ngành; UBND TP; cơ quan cấp TP; cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài nộp hồ sơ khai thuế tại cục thuế. Cơ quan thuộc, trực thuộc UBND quận/huyện, cơ quan cấp UBND quận/huyện nộp hồ sơ khai thuế tại chi cục thuế.

. Tiền lương, tiền công của năm 2008 nhưng chi trả trong năm 2009 có phải kê khai quyết toán thuế năm 2009 hay không?

– Đối với tiền lương, tiền công của năm 2008 trở về trước nhưng chi trả trong 6 tháng đầu năm 2009 thì vẫn thuộc thu nhập được miễn thuế, đơn vị chi trả thu nhập không phải kê khai quyết toán thuế. Tuy nhiên, nếu chi trả vào 6 tháng cuối năm 2009 thì phải kê khai vào thu nhập chịu thuế để quyết toán thuế năm 2009.

. Đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chứng khoán, từ bản quyền, nhượng quyền thương mại thì kê khai quyết toán thuế như thế nào?

– Các khoản thu nhập nêu trên của năm 2009 nếu chi trả trước ngày 1/7/2010 thì được miễn thuế, đơn vị chi trả không phải kê khai quyết toán thuế; nếu chi trả sau ngày 30/6/2010 thì phải tính thuế. Trường hợp ứng trước các khoản thu nhập này có nguồn gốc của năm 2010 và những năm tiếp theo trong năm 2009 thì phải tính thuế và kê khai quyết toán thuế năm 2009 đối với phần thu nhập chi trả ứng trước.

Đối với các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán… từ năm 2008 trở về trước nhưng năm 2009 mới được chi trả thì cũng thuộc thu nhập được miễn thuế; đơn vị chi trả không phải kê khai quyết toán thuế TNCN năm 2009 đối với các khoản này.

. Việc tính các khoản giảm trừ gia cảnh, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… khi quyết toán thực hiện ra sao?

– Cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công chỉ phải khai quyết toán phần thu nhập và số thuế phải nộp của 6 tháng cuối năm 2009 và các khoản giảm trừ tương ứng với thu nhập phải nộp thuế của 6 tháng cuối năm 2009.

Cụ thể: đối với các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc đã đóng một lần cho cả năm thì kê khai giảm trừ bằng 50% tổng số tiền đã đóng; đối với khoản bảo hiểm đóng theo tháng thì kê khai giảm trừ theo số thực đóng của 6 tháng cuối năm 2009.

Đối với giảm trừ gia cảnh: số tiền giảm trừ được tính theo thực tế giảm trừ gia cảnh của 6 tháng cuối năm 2009 (giảm trừ cho bản thân 24 triệu đồng; giảm trừ cho người phụ thuộc tính theo số người phụ thuộc, số tháng được tính giảm trừ và mức tiền được trừ cho một người một tháng).

Đối với giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học thì mức giảm trừ tính theo số chi thực tế trong 6 tháng cuối năm 2009.

Để việc quyết toán thuế thuận tiện, dễ dàng hơn, Tổng cục Thuế đã xây dựng nhiều hướng dẫn và phần mềm ứng dụng để hỗ trợ các đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế, bao gồm: hướng dẫn thủ tục, hồ sơ và cách lập các tờ khai quyết toán thuế TNCN… Các phần mềm này được cung cấp miễn phí tại địa chỉ http://www.tncnonline.com.vn.

Hạn chót được miễn thuế của các khoản thu nhập

. Các khoản tiền lương, tiền công:

Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công đã trả trong 6 tháng đầu năm 2009, hạn chót chi trả được miễn thuế (gọi tắt là hạn chót) là ngày 30/6/2009; nếu đã hạch toán và ra quyết định nhưng chưa trả trong 6 tháng đầu năm thì hạn chót là ngày 31/12/2009.

Tiền thưởng của cả năm 2009 trả một lần, được miễn 50% và hạn chót là ngày 31/3/2010; tiền thưởng của quý I, quý II/2009 thì hạn chót là ngày 31/12/2009; thu nhập từ nghỉ lễ, trang phục, lợi ích khác… trả trong 6 tháng đầu năm, được miễn hạn chót ngày 30/6/2009; tiền lương, thưởng năm 2008 về trước chi trả trong 6 tháng đầu năm 2009, hạn chót là ngày 30/6/2009.

. Các khoản đầu tư vốn:

Đối với thu nhập từ lợi tức, cổ phiếu được chia trong năm 2009, hạn chót là ngày 30/6/2009, đối với lãi tiền cho vay, hạn chót là ngày 31/12/2009. Trường hợp cá nhân nhận trước thu nhập cho nhiều năm thì phần thu nhập tương ứng của năm 2009 được miễn thuế TNCN.

(Nguồn: Thông tư 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009)

Ưu tiên hoàn thuế giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:57 pm
Tags: , ,


Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 12:36
Bộ Tài chính đã có công văn yêu cầu cơ quan thuế các địa phương phải có biện pháp thực hiện giải quyết hoàn thuế nhanh, đặc biệt là hồ sơ đề nghị tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hoá thực xuất khẩu nhưng chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

Bộ Tài chính cũng yêu cầu xử lý nghiêm đối với các bộ phận và cán bộ công chức vi phạm quy trình hoàn thuế dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp.

Trong khi chờ Bộ sửa đổi, bổ sung Thông tư 04 về việc hướng dẫn hoàn thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế các địa phương vẫn tiếp tục giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp theo Thông tư này.

Nếu doanh nghiệp vừa đề nghị tạm hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, vừa đề nghị tạm hoàn thuế đối với hàng hoá bán trong nước trong cùng một hồ sơ, thì cơ quan thuế phải có trách nhiệm tách số liệu liên quan đến thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá xuất khẩu chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng để giải quyết hoàn thuế ngay, số thuế còn lại sẽ thực hiện hoàn thuế theo quy định.

(Theo VnEconomy)

February 11, 2010

Đánh thuế nhà sẽ thiếu tính khả thi

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:00 am
Tags: , ,

Ngày 8.2 một số đoàn ĐBQH kết thúc việc lấy ý kiến đóng góp vào dự án Luật Thuế nhà, đất. Tại Bắc Ninh, các ý kiến chung thống nhất, không nên đưa nhà ở vào diện đối tượng chịu thuế vì trong điều kiện thu nhập, mức sống của đại đa số người dân còn thấp, tình hình kinh tế chưa ổn định, việc triển khai thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người dân chưa được tốt, vì vậy đánh thuế nhà sẽ thiếu tính khả thi.

Về diện tích tính thuế và giá trị tính thuế đối với nhà ở, thống nhất phương án khởi điểm tính thuế đối với diện tích từ 200m2 trở lên. Cũng nhiều ý kiến cho rằng, chỉ thu thuế từ căn nhà thứ hai trở đi vì đối tượng thuộc diện chịu thuế hẹp, phương pháp tính, thu thuế đơn giản. Mặt khác, bảo đảm cho mỗi người dân được sở hữu một căn nhà không thuộc diện chịu thuế.

Tại Kiên Giang, về vấn đề đối tượng chịu thuế, nhiều ý kiến cho rằng, nếu đưa nhà ở vào đối tượng chịu thuế để góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ nhà, từng bước kiểm soát, điều tiết hợp lý nguồn thu vào NSNN thì căn cứ tính thuế nên dựa trên giá tính thuế, thuế suất đối với diện tích đất ở theo quy mô diện tích đất chứ không nên theo hạn mức sử dụng đất và cần tính đến yếu tố vùng, miền.

Tại Vĩnh Phúc, ý kiến chung đề nghị chưa nên đưa nhà ở vào diện đối tượng chịu thuế vì việc xác định đúng giá trị nhà rất phức tạp, hơn nữa nếu đánh thuế nhà sẽ dẫn đến tình trạng thuế chồng thuế, không công bằng trong việc thu thuế, bởi thực tế nhiều tài sản có giá trị hơn nhà vẫn chưa bị đánh thuế; để chống đầu cơ tích trữ nhà, đất nên điều tiết trong Luật Kinh doanh bất động sản là đủ. Nhiều ý kiến đề nghị cần làm rõ cách tính thuế, trong đó phải phân chia nhà, đất theo vùng, miền để áp dụng mức thuế phù hợp chứ không nên áp dụng chung như trong dự thảo luật.

February 10, 2010

Doanh nghiệp phần mềm “ăn” Tết mất vui vì cơ quan thuế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:27 pm
Tags: ,

Sau nhiều năm ung dung hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, bỗng dưng năm nay, Công ty TNHH Phát triển điện toán Y khoa Hoàng Trung (MEDSOFT) nhận được thông báo của Chi cục Thuế Quận 4, TP.HCM cho biết không đủ điều kiện để hưởng sự ưu đãi này.

Theo biên bản mới đây của Đội Kiểm tra thuế số 1 Chi cục Thuế Quận 4 thì Công ty TNHH Hoàng Trung kinh doanh sản phẩm dịch vụ phần mềm được hưởng ưu đãi về thuế TNDN với mức thuế suất và thời gian được hưởng theo điểm a, khoản 1, điều 3, quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2007, Công ty tự xác định tiếp tục được hưởng ưu đãi đầu tư theo Thông tư 123/2004/TT-BTC ngày 22/12/2004 của Bộ Tài chính, trong đó có hướng dẫn thực hiện ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp phần mềm, theo khoản 1, 2, mục I phần B, với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi là 10% và giảm 50%. Căn cứ theo Thông tư 123 hướng dẫn thực hiện ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp phần mềm, đối chiếu với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Hoàng Trung được cấp lần đầu ngày 10/6/2002, trước thời điểm Thông tư 123 có hiệu lực, giấy phép không ghi cụ thể mức ưu đãi, nên Đoàn Kiểm tra xác định Công ty Hoàng Trung không đủ điều kiện để tiếp tục được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo Thông tư 123 mà chỉ được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điểm 2, khoản 1 điều 3, điều 4 Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ, với thuế suất 25%, miễn thuế 4 năm bắt đầu từ năm 2003 đến hết năm 2006, nghĩa là kể từ năm 2007 không còn ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Phản ứng với quyết định trên, ông Phan Xuân Trung, Giám đốc Công ty Hoàng Trung cho rằng phân tích của Chi cục Thuế Quận 4 là không đúng.

Ông Trung viện dẫn Công văn số 1620/TCT-PCCS gửi Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam ngày 8/5/2006 ghi rõ: “Các doanh nghiệp phần mềm thành lập và hoạt động trong giai đoạn từ năm 2000 – 2005 thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn tại điểm 1, 2, 3 mục I, phần B Thông tư số 123/2004/TT-BTC ngày 22/12/2004 của Bộ Tài chính”. Theo đó, Công ty Hoàng Trung thành lập từ năm 2002 nên thuộc diện được hưởng ưu đãi thuế quy định trong Thông tư 123.

Cũng theo phản ánh của ông Trung, hàng năm, Công ty Hoàng Trung đều khai báo quyết toán thuế đến Chi cục Thuế Quận 4 và đều không có phản hồi nào về việc tính thuế ưu đãi từ cơ quan thuế này.

Ông Trung chia sẻ: “Chúng tôi rất bất ngờ khi Chi cục Thuế Quận 4 xác định Công ty Hoàng Trung không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp”.

“Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm tại TP.HCM đang đều gặp phải tình huống tương tự như của Hoàng Trung”, ông Trung cho biết thêm.

Vụ việc này đã được Công ty TNHH Hoàng Trung khiếu nại lên Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính.

(Bình Minh)-Efinance

January 30, 2010

Thuế chuyển nhượng bất động sản cao hơn thuế chuyển nhượng vốn

Bộ Tài chính cho rằng, việc thu thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản cao hơn hoạt động chuyển nhượng vốn vừa góp phần điều tiết thu nhập cho ngân sách nhà nước, vừa hạn chế cá nhân lợi dụng kinh doanh trục lợi gây rối thị trường bất động sản.

Bộ Tài chính vẫn giữ 2 phương án tính thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Cá nhân tự xác định mức thuế suất áp dụng

Về nội dung này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Theo Điều 23 Luật thuế TNCN thì thuế suất thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản là 25% trên thu nhập chịu thuế; trường hợp không xác định được thu nhập chịu thuế thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng bất động sản.

Để việc áp dụng thuế suất thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản được thống nhất tại khoản 2 Điều 6 Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản đã quy định: “Việc áp dụng thuế suất 25% trên thu nhập chịu thuế chỉ áp dụng đối với các trường hợp cá nhân chuyển nhượng bất động sản có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp lệ làm căn cứ xác định được giá chuyển nhượng, giá vốn và các chi phí liên quan đến hoạt động chuyển nhượng; trường hợp không xác định được giá vốn và các chi phí liên quan thì áp dụng thuế suất 2% tính trên giá chuyển nhượng”.

Trong quá trình thực hiện đúng như phản ánh của ông Đỗ Đăng Khoa phát sinh vướng mắc giữa cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc áp dụng thuế suất . Ngày 11/1/2010 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 02/2010/TT-BTC; tại Điều 5 của Thông tư này đã hướng dẫn rõ: “…Cá nhân chuyển nhượng bất động sản tự kê khai, tự xác định mức thuế suất áp dụng và chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ kê khai. Cơ quan thuế tiếp nhận hồ sơ khai thuế có trách nhiệm kiểm tra tờ khai và các tài liệu kèm theo hồ sơ, nếu đủ các điều kiện áp dụng thuế suất 25% tính trên thu nhập chịu thuế thì chấp nhận kết quả tính thuế của người chuyển nhượng. Trường hợp không chấp nhận kết quả tính thuế thì phải trả lời rõ để người chuyển nhượng biết…”.

Việc giao dịch qua sàn bất động sản sẽ hạn chế được tình trạng trốn thuế của các chủ đầu tư cũng như những tiêu cực trong hoạt động mua bán bất động sản

Hạn chế cá nhân kinh doanh trục lợi gây rối thị trường bất động sản

Thắc mắc của ông Khoa về “Quy định chuyển nhượng hợp đồng góp vốn hưởng quyền mua nền nhà, căn hộ phải nộp thuế thu nhập chuyển nhượng bất động sản liệu có trái luật”, ý kiến của Bộ Tài chính như sau:

Tại khoản 8 Điều 4 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 quy định: “Mua bán nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là việc mua bán nhà, công trình xây dựng mà tại thời điểm ký hợp đồng, nhà, công trình xây dựng đó chưa hình thành hoặc đang hình thành theo hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công và tiến độ cụ thể”.

Điều 22 Luật Kinh doanh bất động sản quy định nguyên tắc mua bán nhà, công trình xây dựng như sau:

“1. Nhà, công trình xây dựng được mua bán bao gồm nhà, công trình xây dựng đã có sẵn, đang xây dựng hoặc được hình thành trong tương lai theo dự án, thiết kế và tiến độ đã được phê duyệt…

5. Việc mua bán nhà, công trình xây dựng phải được lập thành hợp đồng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp bán nhà, công trình xây dựng được hình thành trong tương lai thì các bên phải thỏa thuận trong hợp đồng về giá mua bán tại thời điểm ký hợp đồng, không phụ thuộc thời điểm giao nhà, công trình xây dựng”.

Căn cứ vào các quy định trên đây, cá nhân góp vốn để được mua nền nhà, mua căn hộ, hoặc có hợp đồng mua nền nhà, căn hộ, khi chuyển nhượng có thu nhập thuộc đối tượng phải nộp thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản.

Hiện nay nhiều cá nhân không có nhu cầu về nhà ở nhưng lợi dụng mối quan hệ với các đơn vị có chức năng kinh doanh bất động sản để được tham gia góp vốn mua nền nhà, căn hộ hoặc ký hợp đồng mua nền nhà, căn hộ sau đó chuyển nhượng lại để kiếm chênh lệch làm cho thị trường bất động sản vốn đã phức tạp càng phức tạp thêm. Nhiều cá nhân nhận được thu nhập từ hoạt động này rất lớn. Do đó áp dụng chính sách thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản với mức thuế suất cao hơn thuế suất thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng vốn vừa góp phần điều tiết thu nhập cho ngân sách nhà nước, vừa hạn chế cá nhân lợi dụng kinh doanh trục lợi gây rối thị trường bất động sản.

Ngoài ra việc áp dụng thu thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản còn đảm bảo cho việc thu thuế được dễ dàng hơn, vì nếu người chuyển nhượng không kê khai chính xác giá chuyển nhượng, khi đó cơ quan thuế sẽ căn cứ vào giá bất động sản do UBND cấp tỉnh quy định để thu.

January 27, 2010

thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng dầu sẽ được thay đổi tương ứng theo giá dầu thô trên thị trường Singapore.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:40 am
Tags: , , , , ,

Theo quy định mới, mức thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng dầu sẽ được thay đổi tương ứng theo giá dầu thô trên thị trường Singapore.

Bộ Tài chính vừa có công văn gửi Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu, công bố các mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng, dầu tương ứng với giá mặt hàng xăng, dầu trên thị trường thế giới.

Bộ Tài chính cho biết, quy định mới này được ban hành nhằm tăng tính chủ động trong công tác quản lý, điều hành chính sách thuế đối với mặt hàng xăng, dầu.

Các mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi nêu trên là một trong những căn cứ, cơ sở để Bộ Tài chính xem xét, ban hành các Thông tư hướng dẫn về mức thuế suất thuế nhập khẩu cụ thể đối với mặt hàng xăng dầu phù hợp với tình hình thực tế.

Đồng thời là một trong những căn cứ để các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu chủ động xây dựng kế hoạch, phương án kinh doanh.

STT
Giá platt’s dầu thô WTI
(USD/thùng)
Mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi (%)
Xăng, dầu hỏa, nhiên liệu bay Diezen, mazut
1 Từ 45 đến dưới 60 30 25
2 Từ 60 đến dưới 75 25 20
3 Từ 75 đến 95 20 15

(Giá platt’s dầu thô WTI là giá bình quân trên thị trường Singapore của 30 ngày trước ngày điều chỉnh thuế suất).

Trong trường hợp đặc biệt, giá thị trường trong nước và thế giới biến động bất thường (giá platt’s dầu thô WTI dưới mức 45 USD/thùng hoặc cao hơn 95 USD/thùng), thì các mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu sẽ được điều hành theo quy định cụ thể của Bộ Tài chính.

Trong mọi trường hợp, mức thuế nhập khẩu ưu đãi tối đa không vượt quá 40%.

« Previous PageNext Page »

Blog at WordPress.com.