Ktetaichinh’s Blog

March 29, 2011

Các hình thức ra định cư tại nước ngoài

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:49 am
Tags:

Thợ hàn là một trong những ngành nghề được Canada ưu tiên nhập cư theo dạng tay nghề. Ảnh: Google.
Thợ hàn là một trong những ngành nghề được Canada ưu tiên nhập cư theo dạng tay nghề. Ảnh: Google.

Khác với suy nghĩ của nhiều người, những người đi theo dạng kỹ năng không hẳn là những người làm việc trong các ngành được coi là VIP tại Việt Nam như tài chính ngân hàng, luật hoặc phải có bằng tiến sĩ.

Chào các độc giả của chuyên mục Người Việt Nam trên VnExpress.

Thời gian vừa qua tôi có đọc nhiều bài viết về và các câu hỏi về những trường hợp liên quan tới các thủ tục, hình thức định cư tại nước ngoài.

Trong bài viết này, tôi muốn viết một bài chuyên về việc này và hy vọng sẽ có nhiều độc giả cùng tham gia góp ý để những độc giả nào quan tâm tới việc định cư tại nước ngoài có cái nhìn toàn cảnh, đa dạng hơn, đỡ tốn thời gian, công sức và chi phí do chưa nắm được các thông tin ngay từ ban đầu. Mỗi quốc gia sẽ có những chính sách định cư riêng, nhưng tổng thể cũng có những điểm chung. Trong bài viết này tôi xin tổng hợp những kiến thức chung về định cư mà tôi có được.

Định cư tại nước ngoài: Thông thường khi một người được phép định cư dài hạn tại nước ngoài thì sẽ có những quyền lợi gần giống như những người có quốc tịch, tuy nhiên có hai quyền là quyền liên quan tới bầu cử (thường là khộng được bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước) và quyền vào ra nước mình đang định cư bị hạn chế (nhiều quốc gia chỉ cho phép bạn ra khỏi nước đó trong vòng 6 tháng liên tục). Sau một thời gian nhất định (thông thường là ba năm sống liên tục tại quốc gia đang định cư) thì người định cư dài hạn được nhập quốc tịch hoặc phải thi để được phép vào quốc tịch (nếu thi trượt thì được thi lại và vẫn được tiếp tục định cư dài hạn).

– Định cư theo dạng đoàn tụ gia đình: Trường hợp này vợ chồng bảo lãnh nhau, bố mẹ bảo lãnh con cái, con cái bảo lãnh bố mẹ. Hiện tại theo tôi biết thì không còn nước nào cho phép anh, chi em bảo lãnh cho nhau. Thông thường trường hợp bảo lãnh vợ chồng, hoặc vợ chồng bảo lãnh con dưới 18 tuổi thủ tục làm khá nhanh để tạo điều kiện cho người định cư ổn định cuộc sống, (con dưới 18 tuổi khi được bảo lãnh thì thông thường được nhập quốc tịch ngay). Nhưng với trường hợp con cái bảo lãnh bố mẹ và bố mẹ bảo lãnh con trên 18 tuổi hồ sơ được duyệt thường rất lâu.

+ Có nhiều quốc gia chấp nhận hình thức quốc tịch nơi sinh (tức là con cái bạn sinh ra tại quốc gia đó đương nhiên được công nhận là công dân, ví dụ Mỹ và Canada), với trường hợp này người mẹ được phép ở lại nuôi con nhưng không có chế độ như người được phép định cư dài hạn, sau khi con lớn 18 tuổi mới đủ điều kiện để bảo lãnh cho bố và mẹ định cư dài hạn tại quốc gia đó.

Tôi có đọc một tờ báo nói về việc giới chức Mỹ đang quan tâm tới tình trạng nhiều trẻ em là công dân Mỹ nhưng không sống tại Mỹ vì nhiều bố mẹ là người châu Á đã tìm cách đi du lịch sang Mỹ và sinh con tại Mỹ để con cái có quốc tịch rồi đưa con về nước bản địa sinh sống. Nhưng khả năng trong thời gian tới hình thức này sẽ bị kiểm tra gắt gao và khó khăn hơn.

Một số trường hợp muốn con cái được nhập quốc tịch theo dạng nhận làm con nuôi, với trường hợp này thì đứa trẻ phải ra nước ngoài khá sớm (dưới 18 tuổi) và người nhận làm cha mẹ nuôi sẽ phải hoàn toàn chịu các trách nhiệm pháp lý cho đứa trẻ, sau khi lớn lên đứa trẻ đó không có khả năng bảo lãnh cha mẹ đẻ của chúng nữa.

+ Với trường hợp vợ bảo lãnh chồng là thường hợp khá phổ biến và bị kiểm tra tương đối kỹ lưỡng vì sợ những hồ sở làm giả để đưa người sang, sở di trú sẽ có nhiều biện pháp khác nhau để kiểm tra tính chính xác và hợp lý của hôn nhân, nếu bạn đã được định cư nhưng sau đó mới bị phát hiện ra có hành vi gian lận sẽ bị tước thẻ định cư và trục xuất về nước, thậm chí những ai đã có quốc tịch còn có thể bị tước cả quốc tịch. Những người có hành vị nhận tiền để làm giả vợ chồng có thể bị pháp luật từng nước xử lý theo các hình thức khác nhau, nếu nặng có thể bị truy tố. Với những người định cư theo trường hợp này cũng khá rủi ro vì nhiều trường hợp bị lừa tiền và không bao giờ còn cơ hội để định cư vào quốc gia mình muốn nữa.

– Định cư theo dạng kỹ năng: Nhiều quốc gia thiếu lao động trong các lĩnh vực nhất định và có nhu cầu cho phép nhập cư những người có kỹ năng trong các nghành nghề mà họ đang thiếu. Đây không phải là dạng cấp visa tạm thời cho người tới lao động (theo hình thức xuất khẩu lao động) mà trường hợp này là định cư dài hạn và được phép nhập quốc tịch sau một thời gian nhất định, được phép cho cả vợ chồng và con cái cùng sang.

Danh sách các nghành nghề và tiêu chuẩn thường được sở di trú công bố công khai trên website. Khác với suy nghĩ của nhiều người, những người đi theo dạng kỹ năng không hẳn là những người làm việc trong các nghành được coi là VIP tại Việt Nam như tài chính ngân hàng, luật hoặc phải có bằng tiến sĩ. Tôi có xem danh sách các nghành nghề mà Canada đang thiếu thì phần nhiều thuộc các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe (bác sĩ, y tá, dược sĩ), nhà hàng ăn uống (đầu bếp), thợ (thợ hàn, thợ chì, thợ khoan…).

Nhiều trường hợp muốn con cái sang du học và sau đó định cư luôn theo dạng kỹ năng (hai trong một) nhưng chọn ngành nghề học sai (tài chính hay luật), tuy con cái họ đã tốt nghiệp thạc sĩ nhưng vẫn rất khó để xin định cư dạng kỹ năng vì đây không phải là ngành nghề mà Canada thiếu hụt nhân lực. Các tiêu chuẩn thông thường đối với định cư theo dạng kỹ năng thường xét trên khía cạnh độ tuổi, bằng cấp và kinh nghiệm nghề nghiệp phù hợp với danh mục nghề nghiệp đang thiếu hụt, trình độ ngoại ngữ.

– Định cư dạng doanh nhân: Đối với những người đã từng có kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, có tài sản ở mức quy định tối thiểu nào đó và có mong muốn mở doanh nghiệp kinh doanh tại nước họ muốn sang định cư. Với trường hợp này thì tiêu chuẩn về kinh nghiệm quản lý cũng không đơn giản bao gồm chức vụ quản lý, số năm kinh nghiệm và quy mô doanh nghiệp họ từng quản lý phải đạt chuẩn nhất định. Ngoài ra họ phải có đề án kinh doanh và khi sang định cư cũng sẽ bị kiểm tra hiệu quả của việc điều hành kinh doanh bao gồm cả số việc làm tạo ra, lợi nhuận và việc đóng thuế. Trên cơ sở đó thì việc định cư mới được lâu dài và cho phép nhập quốc tịch sau này.

– Định cư dạng đầu tư: Đây là trường hợp cho phép định cư với những người có trình độ quản lý, có nhiều tiền. Cụ thể như ở Canada thì phải có số tài sản chứng minh được là 1,6 triệu CAD và phải bỏ vào một ngân hàng số tiền là 800.000 CAD trong 5 năm mà không được hưởng lãi. Sau đó thì sẽ được hòan trả lại số tiền và với trường hợp này thì không cần phải có hoạt động kinh doanh hay phương án kinh doanh như dạng định cư doanh nhân.

Tất cả các thông tin về chương trình định cư, thủ tục, trình tự, thời gian xét duyệt đều được công bố công khai trên website của sở di trú. Do vậy, tốt nhất là những ai quan tâm nên truy cập và tìm hiểu kỹ những thông tin này, nếu không biết tiếng có thể nhờ người dịch hoặc dùng công cụ google translate. Các thủ tục có thể tự làm hoặc thuê luật sư tùy theo điều kiện và hòan cảnh từng người.

Advertisements

March 28, 2011

Cách thoát hiểm khi động đất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:32 am
Tags:

Cập nhật: 25/03/2011 – 06:59 GMT-6

21 giờ tối ngày 24/3, nhiều vùng ở Hà Nội đã cảm nhận được cơn rung chấn khá lâu. Theo kênh truyền hình Channel News Asia, tâm động đất nằm ở khu Tam giác vàng giữa Myanmar, Lào và Thái Lan với cường độ của trận động đất là 6,8 độ Richter.

Cơn chấn động đã khiến nhiều người dân sinh sống ở Hà Nội, đặc biệt tại các chung cư cao tầng, thật sự hốt hoảng và chỉ biết lao vội ra khỏi nhà để phòng rủi ro. Để giúp các độc giả có một cách thoát hiểm đúng đắn khi xảy ra động đất, Ban Khoa học xin trích giới thiệu các hướng dẫn của một đội trưởng đội cứu nạn thuộc tổ chức American Rescue Team International (ARTI) – một trong những tổ chức cứu hộ giàu kinh nghiệm nhất thế giới:

1. Hầu hết những người chỉ đơn giản “cúi đầu xuống và ẩn náu” khi các tòa nhà sụp đổ bị nghiền nát đến chết.  Những người chui xuống các vật như bàn làm việc hay ô tô, cũng bị nghiền nát.

Cách thoát hiểm khi động đất

2. Các con mèo, chó và trẻ nhỏ thường cuộn tṛòn một cách tự nhiên trong tư thế bào thai. Bạn cũng nên như vậy trong một trận động đất. Nó là một bản năng sống sót an toàn tự nhiên.

Bạn có thể sống sót trong một khoảng trống nhỏ hơn. Hãy đến cạnh một vật, cạnh một cái tràng kỷ, cạnh một vật to lớn đồ sộ mà sẽ bị bẹp nhẹ nhưng để lại một khoảng trống cạnh nó.

Cách thoát hiểm khi động đất

3. Các toà nhà gỗ là những loại nhà an toàn nhất để ẩn náu trong một trận động đất. Gỗ linh hoạt và di động theo các sức mạnh của trận động đất. Nếu toà nhà gỗ sụp đổ, các khoảng trống an toàn lớn sẽ được tạo ra. Cũng vậy, các toà nhà gỗ có sức nặng tập trung, bị phá huỷ ít hơn. Các toà nhà gạch sẽ đổ đến từng viên gạch. Các viên gạch sẽ gây ra nhiều vết thương nhưng cơ thể vẫn ít bị đè nén hơn so với các tấm bê tông.

4. Nếu bạn đang trên giường trong đêm và một trận động đất xảy ra, đơn giản là lăn khỏi giường. Một khoảng trống an toàn sẽ tồn tại gần giường. Các khách sạn có thể có được tỷ lệ sống sót cao hơn trong động đất, đơn giản bằng việc dán một dấu hiệu phía sau cửa của mỗi pḥòng báo cho những người thuê pḥòng nằm xuống sàn, ngay cạnh giường trong một trận động đất.

5. Nếu một trận động đất xảy ra và bạn không thể trốn thoát dễ dàng bằng cách qua cửa lớn hoặc cửa sổ, hãy nằm xuống và cuộn tṛòn trong tư thế bào thai ngay cạnh một ghế tràng kỷ hay một ghế lớn.

 

January 6, 2011

Bí ẩn trầm hương – Kỳ 3: Dụng trầm 05/01/2011 23:09

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:59 pm
Tags:

 

Chế tác trầm thành tác phẩm nghệ thuật tại xưởng trầm nhà ông Ưng Viên – Ảnh: Tấn Tới

Trầm có tác dụng tuyệt hảo đối với sức khỏe con người, theo 3 con đường: xông, uống và ăn.

Trầm trong thiên nhiên có tác dụng khử độc không khí, trừ lam chướng, làm trong sạch môi trường sống. Người xưa biết rõ điều này nên mới tổng kết: “tẩy vũ trụ chi trược”.

Khử uế một cách triệt để

Tính chất “tẩy vũ trụ chi trược” có thể đem áp dụng để khử uế. “Khử uế một cách triệt để, ngoài trầm hương không thứ gì giải quyết được”, ông Ưng Viên khẳng định. Và tôi được biết một câu chuyện thú vị.

Vào năm 2008, một tàu của Mỹ chở thuê hải sản tải trọng 1 vạn tấn, khi cập cảng Nhà Bè (TP.HCM), cảng vụ phát hiện tàu bị ô nhiễm nặng (mùi hôi thối quá mức), nên không cho phép xuất cảng vì theo quy định quốc tế thì tàu phải được xử lý ô nhiễm mới được rời khỏi cảng. Kỹ thuật khử uế của người Mỹ trên tàu không giải quyết được. Cảng vụ phải mời các chuyên gia của một viện từ Hà Nội vào xử lý cũng không xong.

Người phụ trách công việc ở cảng có quen biết với ông Ưng Viên nên mời ông thử xử lý giúp. Ông Ưng Viên đồng ý, với một điều kiện: các thủy thủ phải uống một thứ rượu có pha… nguyên liệu xử lý tàu. Quá khiếp với điều kiện này, nhưng thấy người ở cảng “gương mẫu” uống trước, các thủy thủ cũng uống.

Chỉ sau 1 ngày 1 đêm, ông Ưng Viên đã giúp xử lý sạch con tàu bằng hai phương pháp: nửa phun, nửa xông. Các thủy thủ vô cùng kinh ngạc về kết quả trên đã gọi điện cám ơn ông rối rít và vui mừng cho biết sau khi uống thứ rượu đó sáng ngủ dậy trong người lại khỏe ra. Rượu đó chính là rượu pha trầm. Còn thứ nước phun xử lý tàu thì vẫn còn 60 lít họ xin được mang theo.

Kể lại câu chuyện này với tôi, ông cười nói: “Tôi cho họ mang về 60 lít nước đó, nhưng chắc chắn họ không thể phân tích được nó có những chất gì”. Phương pháp của ông là di sản gia truyền “Bí mật quân lương và khử uế tàu chiến” của cung đình nhà Nguyễn. Chất liệu căn bản của nó là trầm hương và trà.

Tác dụng tuyệt hảo đối với sức khỏe

Trầm có tác dụng tuyệt hảo đối với sức khỏe con người, theo 3 con đường: xông, uống và ăn.

Về y lý, hương trầm xông lên có tác dụng điều khí, rất tốt cho sức khỏe. “Xông hương trầm thường xuyên không bị máu đông ở động mạch, phổi không bị nghẽn, xoang không bị viêm, không u bướu, không liệt dương liệt âm lãnh cảm…”, ông Ưng Viên vừa nói vừa đưa tôi tới gần bình xông trầm đang ngát hương. Cái bình xông trầm này do ông cùng 2 kỹ sư người Nhật và Đài Loan nghiên cứu chế tạo, nguyên liệu được lấy bằng thứ cát đặc biệt tại Nha Trang ở độ sâu 20 mét. Bình xông trầm hiện nay trên thị trường có thứ của Nhật, có thứ của Hàn Quốc, có thứ của Trung Quốc, Đài Loan, xông bằng những cái bình ấy có thể giải phóng được 50% hương trầm, còn bình xông của ông có thể giải phóng được 95%.

Ông Ưng Viên tỏ ra bức xúc về vấn nạn sức khỏe do môi trường ô nhiễm hóa chất và thức ăn công nghiệp hiện nay khiến cho các bệnh về hô hấp và tiêu hóa gia tăng. Hai phương thang: Ôn tì bình vị (gồm trầm, xuyên bối mẫu, toàn quy, thăng ma, bạch truật…) và Kiện tì tiêu thực (gồm trầm, xuyên khung, bạch truật, toàn quy, liếu tiếu thảo…) có thể giải quyết triệt để các bệnh này, không tái phát.

Các thang “Thanh khí ôn phế”, “Điều huyết dưỡng khí”, “Nhứt dâm cửu dựng”, “Ôn dương cố thận”… như tên gọi của chúng, chữa những bệnh về đường hô hấp, khí huyết, bổ dương… đều dùng trầm làm vị chủ. Ông Viên không coi trọng những bài thuốc “tráng dương”. “Tráng dương” thì nhất thời. “Bổ dương”, “ôn dương” mới là sự bền vững, mà chuyện này thì không thứ gì qua nổi trầm.

Việc dụng trầm của ông Viên hình như đạt đến độ xuất thần nhập hóa. Như trên đã nói, trong những giờ khác nhau trầm tỏa ra các mùi hương khác nhau. Chỉ riêng việc lấy trầm từ cây trầm ra để chế biến cũng được thực hiện vào những thời khắc thích hợp, tùy theo khí hậu, loại bệnh và đặc tính của từng người bệnh. Ngay cả trong chuyện đơn giản hơn như ẩm thực, ông cũng áp dụng các nguyên tắc này.

Ông nói cũng là thứ rau húng trồng trong một vườn rau nhưng có khi ăn thấy ngon, có khi ăn không thấy ngon. Vì sao vậy? Vì rau ăn không ngon là do hái không đúng giờ. Rau húng phải hái vào lúc 5 – 6 giờ sáng hoặc 5 – 6 giờ chiều thì ăn mới ngon, vì những thời điểm đó rau tiết ra những chất tốt nhất, còn các giờ khác thì rau tiết ra một số chất xấu.

Sự trải nghiệm với trầm của ông Ưng Viên còn thể hiện ở lượng trầm mà ông đang có. Hơn 30 năm nay ông đã dùng hết tài sản và đi vay mượn để tích lũy cả một kho tàng: Hơn 60 tấn trầm và kỳ nam, gồm 36 cây trầm lớn, bình quân mỗi cây gần 2 tấn, mật độ ăn trầm từ 60-80%. Những cây trầm ông giữ đều được lấy theo đúng nguyên tắc: tất cả đều đã chết rũ trên rừng, vận chuyển về đều hợp pháp, có dấu búa kiểm lâm. Phần lớn những cây trầm ông đang có là độc nhất vô nhị, không còn tồn tại trong thiên nhiên.

Nhà ông ở TP.HCM có một xưởng chế tác trầm, có một “đội thợ trầm hoàng tộc” – là hậu nhân của các thợ trầm cung đình khi xưa giúp việc. Ông và những người thợ tạc những cây trầm thành các tác phẩm nghệ thuật để lưu giữ lại cho con cháu, ông chưa hề bán và sẽ không bán một kg trầm nào. Ông dùng lớp vỏ sát lõi có nhiễm tinh dầu trầm và kỳ nam để làm thuốc, đó là phần làm thuốc tốt nhất. Lớp ngoài nữa, nhiễm tinh dầu ít hơn, ông dùng làm nguyên liệu cho nồi xông chữa bệnh. Lớp ngoài cùng dùng làm hương.

Tôi nhiều lần được đến xem xưởng trầm của ông, nghe ông giới thiệu xuất xứ của từng cây trầm và đặc tính của từng loại trầm. Ở đây có đủ các loại trầm, các loại kỳ nam. Tôi hỏi ông, ông Lê Quý Đôn nói đốt trầm lên thì khói xoáy rồi sau mới tan, còn đốt kỳ nam thì khói lên thẳng và dài, nói như vậy có đúng không. Ông cười, bảo rằng nhà bác học Lê Quý Đôn rất giỏi nhưng ông ấy không có cơ hội tiếp cận đầy đủ với “hiện vật” nên vừa đúng vừa sai.

Khói vút lên thẳng như sợi dây là đúng, nhưng chỉ đúng với kỳ nam hương thôi, còn các loại kỳ nam khác thì khói vẫn xoáy. Ông vừa nói vừa chỉ vào một cái hốc của cây trầm cao to trong xưởng đã tạc thành tượng, ở đó lộ ra một cái lõi to và dài màu vàng sậm: “Kỳ nam hương là thứ này đây, chỗ này ít nhất cũng vài chục kg”. Kỳ nam hương giá rẻ hơn các loại kỳ nam khác, khoảng 2 – 3 tỉ đồng trên thị trường thế giới, nhưng có giá trị chữa bệnh tốt nhất trong các loại kỳ nam, tuy kém thua trầm.

 

Trầm kết hợp với thịt dê – ngọc dương, nghệ vàng, nghệ đen, măng tre (vắt lấy nước), nước gạo rang … ăn vào có thể làm sáng mắt, thính tai, trị chứng đau nhức.

Trầm kết hợp với chè, có thể ngừa và trị được các “mắc mứu” ở phổi, đường hô hấp, tim mạch, tiêu hóa.

Trầm làm rượu, uống vào sáng mắt, trị viêm họng, đau dạ dày, nghẽn động mạch tim, làm mạnh thần kinh cơ bắp.

Trầm kết hợp với vảy cá rô đồng có thể trị triệt để các bệnh về tiêu hóa của trẻ nhỏ.

Trầm kết hợp với vảy cá rô đồng cộng thêm với chè có thể chữa kiết lỵ, tiêu chảy, thương hàn.

Trầm kết hợp với trúc nhự (dịch măng tre) có thể chữa chứng cành hông, làm tiêu hóa không bị xáo trộn.

Trầm kết hợp với ma hoàng trị được các bệnh phụ khoa.

Trầm dùng trong thang “Diệc nhan minh mục” (kết hợp với các thảo dược khác) làm cơ thể trẻ lại, mắt sáng ra.

December 29, 2010

9 sự kiện nổi bật ngành ngân hàng tài chính năm 2010 Monday, 27. December, 08:58 KINH TẾ VIỆT NAM

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:18 pm
Tags: ,
Bỏ sàn vàng, sửa đổi thông tư 13, bơm mạnh vốn trên thị trường OMO, bơm mạnh ngoại tệ, cấp quota nhập khẩu vàng…là các biện pháp của NHNN bình ổn thị trường tiền tệ năm 2010.

1. Phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu chính phủ với lãi suất 6,57%/năm

Ngày 25/1/2010 tại New York, Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn 10 năm với lãi suất danh nghĩa là 6,75% và lợi tức phát hành là 6,95%. (Mức lợi tức này cao hơn mức lợi tức của Indonesia và Phillippines phát hành thời điểm gần đó đến 1%/năm, mặc dù định mức tín nhiệm của Việt Nam cao hơn cả Indonesia và Phillippines một bậc).

Số trái phiếu này được niêm yết tại Sở GDCK Singapore và đáo hạn vào ngày 29/1/2020.

Số tiền 1 tỷ USD đã về tài khoản của Việt Nam vào ngày 29/1/2010. Số vốn huy động đợt này được dùng để thực hiện chi tiêu Chính phủ nói chung, kể cả cho vay lại với các dự án đầu tư.

Trong đó 700 triệu USD tập trung dành cho Dung Quất vay lại (Petro Vietnam được vay với lãi suất 3,6%/năm). Ngoài ra, phần còn lại Bộ Tài Chính thực hiện trình Thủ tướng quyết định xem xét phần bổ dự án đầu tư.

2. Đóng cửa sàn vàng vào 30/03/2010

Trước những diễn biến khó kiểm soát của sàn vàng, ngày 30/12/2009 Chính phủ đã yêu cầu chấm dứt hoạt động sàn giao dịch vàng trên toàn quốc từ 30/3/2010. Đồng thời Thủ tướng cũng yêu cầu Thống đốc NHNN bãi bỏ ngay quy định về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài.

Yêu cầu này của Thủ tướng đã được các sàn vàng thực hiện nghiêm túc nhưng cũng có một số sàn vàng hoạt động chui trong một thời gian ngắn, hoặc chuyển sang hình thức kinh doanh bạc hay các hàng hóa khác trá hình.

Đối với hoạt động kinh doanh vàng ở nước ngoài, NHNN đã đồng ý giãn thời gian cho các tổ chức tín dụng tất toán, đóng tài khoản chậm nhất vào ngày 31/7/2010.

3. Cả 3 tổ chức tín dụng hàng đầu thế giới lần lượt hạ tín nhiệm của Việt Nam trong năm 2010

Thàng 7/2010, Fitch hạ tín nhiệm của VN từ BB- xuống B+ do Việt Nam có dự trữ ngoại hối thấp và hệ thống ngân hàng yếu kém. Tháng 9, Fitch hạ xếp hạng tín nhiệm của ngân hàng Vietcombank và ACB xuống mức D/E từ mức D do tăng trưởng các khoản vay ở mức cao và chất lượng các khoản vay thấp.

Fitch cho rằng đối với cả hai ngân hàng, ngay cả khi hoàn thành kế hoạch tăng vốn năm 2010 cũng không đủ để ứng phó khi chi phí tín dụng cao và hỗ trợ tăng trưởng các khoản vay.

Các tổ chức như ngân hàng ADB, IMF đều ngạc nhiên với quyết định hạ xếp hạng tín dụng của Fitch đối với Việt Nam bởi các tổ chức như IMF, World Bank, ADB đều đưa ra nhận định lạc quan về tình hình kinh tế Việt Nam.

Tháng 12/2010, Moody hạ tín nhiệm đối với trái phiếu của Việt Nam từ Ba3 xuống B1 do rủi ro liên quan đến khủng hoảng cán cân thanh toán, áp lực mất giá lên tiền đồng và lạm phát tăng cao.

Moody đề cập đến vấn đề nợ nần tại tập đoàn Vinashin và duy trì triển vọng tiêu cực đối với Việt Nam. Moody cho rằng lạm phát tại Việt Nam, sau khi lên 11% vào tháng 11/2010 (so với cùng kỳ năm ngoái) – mức cao nhất trong 20 tháng, sẽ gây ra nhiều áp lực lên tỷ giá hối đoái và hiện tượng rút vốn.

Moody hạ xếp hạng tiền gửi ngoại tệ của 6 ngân hàng Việt Nam (ACB, BIDV, MB, Sài Gòn – Hà Nội, Techcombank, VIB) xuống mức “B2” từ mức “B1”, triển vọng tiêu cực trong ngày thứ Tư sau khi hạ xếp hạng tín dụng của Việt Nam. Moody cũng hạ xếp hạng từ 1 đến 2 bậc đối với Đánh giá tín dụng cơ sở (Baseline Credit Assessments) và xếp hạng sức mạnh tài chính của ngân hàng (Bank Financial Strength Ratings) của 6 ngân hàng này.

Ngày 23/12/2010, Standard & Poor’s (S&P) tuyên bố hạ một bậc điểm tín nhiệm nợ quốc gia của Việt Nam. Điểm tín nhiệm dành cho nợ ngoại tệ dài hạn của Việt Nam bị tổ chức này cắt giảm xuống BB- từ BB. Điểm tín nhiệm nợ nội tệ dài hạn của Việt Nam cũng bị giảm 1 bậc xuống BB từ BB+, trong khi điểm dành cho nợ nội tệ ngắn hạn được duy trì ở mức B.

Việc hạ xếp hạng tín dụng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động huy động vốn trái phiếu quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới, mức lợi tức chi ra để vay vốn sẽ tăng cao.

4. Vàng tăng cao nhất lên 38,5 triệu đồng tăng 43,6% so với giá đóng cửa năm 2009, xuất hiện thông tin vàng trong dân là 1000 tấn, Thống đốc công bố 12 năm VN nhập siêu 71 tấn vàng

Giá vàng trong năm 2010 đã lập kỷ lục vào ngày 09/11/2010 khi tăng kỷ lục lên 38,5 triệu đồng/lượng, tăng 44,68% so với giá đóng cửa của phiên giao dịch cuối cùng năm 2009 (26,61 triệu đồng/lượng) và tăng 36,8% so với 3 tháng trước đó.

Trong khi đó, đến ngày 07/12/2010 giá vàng thế giới mới lập kỷ lục của năm lên 1.427,8 USD/oz, mức thấp nhất của giá vàng thế giới trong năm 2010 là 1.061,4 USD/oz, chênh lệch 34,5%.

Nếu tính theo giá đóng cửa tại thị trường New York năm 2010, mức cao nhất là 1.423, USD/oz, tăng so với đóng cửa năm 2009 là 23,8%.

NHNN trong năm vừa qua đã phải đưa ra khá nhiều quy định nhằm hạ nhiệt thị trường vàng như 2 lần cho phép doanh nghiệp nhập khẩu vàng, giảm thuế nhập khẩu vàng từ 1% còn 0% từ ngày 12/11/2010; tăng thuế xuất khẩu vàng từ 0% lên 1% từ 01/01/2011; ban hành thông tư 22 hạn chế việc huy động và sử dụng vốn huy động bằng vàng của các NHTM.

Trên thị trường xuất hiện thông tin vàng trong dân là 1000 tấn tuy nhiên Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu công bố số liệu nhập siêu vàng trong 12 năm trở lại đây của Việt Nam là 71 tấn.

5. USD lên cao nhất 21.500 đồng vào tháng 11/2010, Việt Nam 2 lần hạ giá đồng nội tệ

Năm 2010, NHNN có 2 đợt điều chỉnh tỷ giá.

Lần đầu vào ngày 10/2/2010, NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 17.941 đồng lên 18.544 đồng/USD (mức tăng 3,3%), như vậy trần mua bán USD tại các NHTM là 19.100 đồng/USD. Cùng ngày, NHNN cũng quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của các tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng) tại tổ chức tín dụng tối đa là 1,0%/năm. Áp dụng từ ngày 11/2/2010.

Lần thứ 2, NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng lên 18.932 đồng/USD, áp dụng từ ngày 18/8, mức tăng 2,09%, trần mua bán USD tại các NHTM tăng lên 19.500 đồng/USD.

Sau lần điều chỉnh tỷ giá thứ 2 của NHNN, cùng với những biến động bất ổn của giá vàng trong nước và quốc tế, trên thị trường tự do, đô la Mỹ đã có lúc lập kỷ lục 21.530 đồng/USD, tăng 12% so với giá đóng cửa năm 2009 và cao hơn tỷ giá niêm yết tại các NHTM cùng thời điểm khoảng 10%.

Tỷ giá tăng mạnh gây ảnh hưởng tới các doanh nghiệp nhập khẩu bởi họ vẫn phải mua USD tại ngân hàng với tỷ giá như trên thị trường tự do. Lý do là các NHTM không đủ nguồn cung cấp USD cho doanh nghiệp nhập khẩu khi các doanh nghiệp xuất khẩu không chịu bán USD cho ngân hàng.

Ngày 04/11/2010, Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia công bố Chính phủ đồng ý bơm mạnh ngoại tệ vào các ngành phục vụ sản xuất thiết yếu chứ không bơm vào xuất khẩu và Chính phủ sẽ không điều chỉnh tỷ giá đến cuối năm. Theo ông Lê Đức Thúy, trong tháng 10/2010, NHNN đã bán ra 200 triệu USD để bình ổn thị trường.

Những ngày cuối năm, NHNN công bố kiều hối năm 2010 có thể đạt 8 tỷ USD và trạng thái căng thẳng ngoại tệ đã hạ nhiệt, NHTM đã có nguồn USD dồi dào do các doanh nghiệp đã chịu bán USD cho ngân hàng, ngoài ra, tỷ giá USD tự do những ngày cuối năm chỉ dao động quanh mốc 21.000 đồng/USD.

5. Thông qua Luật ngân hàng (sửa đổi) và Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi): Ngân hàng mẹ ko được cấp tín dụng cho CTCK con

Luật Ngân hàng (sửa đổi) và Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010.

Theo Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi), tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh CK mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát. Ngoài ra, Luật cũng quy định, ngân hàng không được cho vay để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở nhận tài sản đảm bảo bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận góp vốn.

Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi), việc cho phép các tổ chức tín dụng áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận không có nghĩa là để lãi suất tự do thả nổi trên thị trường.

Trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ can thiệp trực tiếp vào cơ chế lãi suất của tổ chức tín dụng.

Theo quy định của dự luật, NHNN có trách nhiệm công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi.

Ngân hàng Nhà nước không được tham gia góp vốn vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác ngoài chức năng nhiệm vụ của mình.

6. Thông tư 13 ban hành ngày 20/5 về tăng tỷ lệ an toàn vốn (CAR) từ 8% – 9% và áp dụng các tỷ lệ mới về tính hệ số rủi ro đối với khoản vay ngân hàng và bất động sản. NHNN sửa đổi thành Thông tư 19 áp dụng ngày 01/10/2010.

Ngày 20/5, thống đốc NHNN đã ký Thông tư số 13/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, theo đó, tỷ lệ CAR sẽ được điều chỉnh tăng lên 9% thay vì 8% như trước. Áp dụng từ ngày 01/10/2010.

Ngoài ra, thông tư 13 yêu cầu tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động theo tỷ lệ 80%/85%; giới hạn tín dụng (TCTD không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán; Tổng dư nợ cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu tư, kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD…); tỷ lệ khả năng chi trả (thanh khoản); giới hạn góp vốn, mua cổ phần; hệ số rủi ro các khoản cho vay đầu tư chứng khoán và BĐS là 250%…

Việc ban hành Thông tư 13 đã ảnh hưởng mạnh đến cả thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng như hoạt động của các NHTM. Hiệp hội các ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã gửi đơn kiến nghị NHNN xem xét, sửa đổi Thông tư 13.

Ngày 27/9, chỉ cách 03 ngày bắt đầu thực hiện Thông tư 13, NHNN ban hành Thông tư 19 sửa đổi Thông tư 13, trong đó có nhiều điểm sửa đổi nới lỏng nguồn cấp tín dụng cho các NHTM trong việc thực hiện nội dung Thông tư này.

Theo đó, các NHTM được cấp tín dụng từ nguồn huy động, Bỏ cấu phần “bảo lãnh” trong tổng cấp tín dụng; Cho phép tổ chức tín dụng (TCTD) được tính 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế và khoản vay của TCTD khác có thời hạn từ 3 tháng trở lên vào nguồn vốn huy động và tiền vay của tổ chức tín dụng nước ngoài.

Việc sửa đổi thông tư 13 tạo thuận lợi hơn cho các NHTM so với thông tư cũ; bởi các ngân hàng sẽ không còn bị hạn chế bởi tỷ lệ 20% vốn vay trên thị trường liên ngân hàng để cấp tín dụng khi NHNN cho phép sử dụng vốn vay các tổ chức tín dụng khác với kỳ hạn từ 3 tháng trở lên để cấp tín dụng.

7. Tín dụng tăng chậm vào nửa đầu năm, cả năm tăng trưởng tín dụng 27,65%. Lãi suất huy động lập kỷ lục 18%/năm bởi “hiện tượng Techcombank”.

Đến tháng 6/2010 tín dụng tăng khoảng 10,52%, nhưng tín dụng bằng VNĐ chỉ tăng 4,6%, tín dụng ngoại tệ tăng 27%. Tuy nhiên, đến hết năm 2010, tín dụng tăng 27,65% (đã loại trừ hư số tăng của tỷ giá vàng), tín dụng bằng VND tăng 25,34%, bằng ngoại tệ tăng 37,76%.

Giữa năm 2010, các NHTM cam kết cho vay VND với lãi suất 12%, huy động 10%/năm, thực tế mức lãi suất cho vay phi sản xuất khoảng 13 – 15%/năm, huy động 11%/năm. Tuy nhiên đến cuối năm, đã có lúc lãi suất huy động lên tới 18%/năm, lãi suất cho vay 21%/năm.

Sau những diễn biến khó lường của tỷ giá và giá vàng trong nước vào những ngày cuối tháng 10/2010, trong cuộc họp ngày 04/11, Ủy ban Giám sát tài Chính Quốc gia công bố thả nổi lãi suất theo thị trường. Ngày 05/11, NHNN tăng lãi suất cơ bản từ 8% lên 9%. Các thành viên Hiệp hội ngân hàng nâng mức lãi suất huy động đồng thuận lên trần 12%/năm.

Tuy nhiên liên tục sau đó các NHTM nhỏ cạnh tranh lãi suất huy động, đẩy lên mặt bằng 14%/năm, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng lên trên 13%/năm, có thời điểm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lên tới 20%/năm.

Ngày 11/11, NHNN công bố bơm mạnh vốn trên OMO, mở thêm kỳ hạn 14 ngày để bình ổn thị trường liên ngân hàng.

Ngày 8/12, Techcombank công bố thực hiện chương trình “3 ngày vàng” với lãi suất 17,6%/năm, tạo tiền đề cho các NHTM nhỏ chuyển sang thỏa thuận ngầm với khách hàng với lãi suất 17 – 18%/năm.

Ngày 15/12, sau khi nhóm họp với các NHTM tại miền Bắc và miền Nam, được sự đồng thuận của 50 ngân hàng cam kết giảm trần lãi suất về 14%/năm bao gồm các khoản khuyến mại, NHNN chính thức chỉ đạo các NHTM không được vượt quá trần lãi suất này và sẽ có những biện pháp mạnh đối với các NHTM vượt trần lãi suất. Đồng thời NHNN cũng cử các đoàn kiểm tra phải báo cáo hàng ngày với Thống đốc về tình trạng huy động lãi suất trên địa bàn. Trên thị trường OMO, NHNN có thời điểm mỗi ngày bơm 20.000 tỷ đồng để bình ổn thị trường.

Cuối tháng 12, tình hình lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường dân cư ổn định trở lại, lãi suất cho vay giảm về 18 – 20%, lãi suất cho vay qua đêm giảm xuống 10 – 12%/năm.

8. Hoãn thi hành nghị định 141 đến 31/12/2010 sau khi có gần chục ngân hàng không có khả năng hoàn thành đúng hạn.

Theo Nghị định 141 của Chính phủ ban hành ngày 22/11/2006, các NHTM đến hết năm 2010 phải đủ vốn pháp định là 3.000 tỷ đồng, công ty tài chính là 500 tỷ đồng và công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng.

Hết tháng 11/2010, toàn hệ thống ngân hàng còn khoảng 19 ngân hàng thương mại khó có khả năng hoàn thành tăng vốn đúng hạn. TTCK trong một thời gian dài hoạt động cầm chừng trong khi nhiều ngân hàng tăng vốn cùng một lúc khiến cổ phiếu ngân hàng không hấp dẫn NĐT…

Ngày 14/12, NHNN chính thức công bố Chính phủ đã đồng ý phương án đề xuất của NHNN gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng thêm 01 năm so với nghị định 141, đến ngày 31/12/2011.

Dù được giãn thời gian, nhưng hầu hết các ngân hàng đều cho biết sẽ thực hiện tăng vốn đúng như kế hoạch đề ra từ đầu năm. VietBank, Mekong Bank, GPBank đã công bố hoàn tất việc tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng. DaiA Bank, HDbank dự kiến cũng hoàn thành việc tăng vốn trong tháng 12 năm nay. Các ngân hàng này chủ yếu được sự hậu thuẫn từ cổ đông lớn trong nước hoặc tổ chức nước ngoài.

Ngày 21/12/2010, Thống đốc NHNN cũng đã chấp thuận đề nghị thay đổi mức vốn cho 4 chi nhánh ngân hàng nước ngoài là Ngân hàng Huanan Commercial Bank Ltd., Chi nhánh TP.HCM (tăng vốn từ 15 triệu USD lên 65 triệu USD), NHTM Chinatrust Chi nhánh TP.HCM (15 triệu USD lên 50 triệu USD); Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd. – Chi nhánh TP.HCM (15 triệu USD lên 133,5 triệu USD) và Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd. – Chi nhánh TP.Hà Nội (15 triệu USD lên 133,5 triệu USD). Các ngân hàng này cũng phải tăng vốn theo nghị định 141 của Chính phủ.
9. Cá nhân, tổ chức chỉ được góp vốn vào 1 tổ chức tín dụng

Ngày 17/12/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 60/NQ-CP về việc đơn giản hoá thủ tục hành chính (TTHC) thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).

Một trong số nội dung của Nghị quyết là mỗi cá nhân hoặc tổ chức và người có liên quan của cá nhân hoặc tổ chức đứng đơn chỉ được tham gia góp vốn thành lập 1 ngân hàng (bao gồm cả ngân hàng đang hoạt động); không được tham gia góp vốn thành lập ngân hàng nếu cá nhân hoặc cá nhân đó cùng với người có liên quan đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu của một ngân hàng; tổ chức hoặc tổ chức đó cùng với người có liên quan đang sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của một ngân hàng (quy định cũ là cá nhân hoặc tổ chức được tham gia thành lập 02 ngân hàng).
Ban Biên Tập CafeF

July 9, 2010

Vì sao hay mất điện

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:52 am
Tags: ,

TP – Hè năm nay gợi nhớ lại tình cảnh của hơn 20 năm trước, điện mất liên tục. Dân khốn khổ vì cái nóng trên 40 độ C mà 50 năm qua chưa từng có trong khi điện bị cắt liên tục. Nếu nhìn nhận việc lý giải câu hỏi “Vì sao?” một cách đơn giản như dưới đây, có thể có vài gợi ý về cải tổ hệ thống điện.

Một nhà máy thủy điện nhỏ ở Tây  Nguyên
Một nhà máy thủy điện nhỏ ở Tây Nguyên . Ảnh: T.L

Mấy tuần qua, cũng đúng vào mùa World Cup, hàng ngàn ngư dân kêu trời vì ông điện cúp nên không sục khí được, khiến tôm chết và cơ nghiệp có thể đi toi; các doanh nghiệp thiệt hại rất lớn.

Tại Hà Nội, người ta nói cắt điện để sửa chữa chứ không phải do thiếu. Cũng có người nói Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) không chịu mua điện của các nhà máy khác không thuộc quyền quản lý của mình vì giá cao hơn của EVN, rồi bao nhiêu dự án điện chậm tiến độ nên không đủ điện.

Có quá nhiều lý do và lý do nào cũng có vẻ hợp lý. Nhưng lý do căn bản là do bản thân cách tổ chức ngành điện. Không cải tổ nó, tình hình không giải quyết được tận gốc rễ.

Từ độc quyền tự nhiên…

Hệ thống điện là hạ tầng cơ sở thiết yếu của đất nước. Hệ thống này có thể tạm phân ra làm 5 bộ phận:

(1) Các nhà sản xuất là các nhà máy điện; (2) bộ phận truyền tải điện quốc gia (là bộ phận mạng cao áp hoạt động tương tự như mạng giao thông quốc gia); (3) các bộ phận bán lẻ điện (cho một cộng đồng, như một thành phố hay một tỉnh nhưng không nhất thiết được tổ chức theo lãnh thổ hành chính); (4) các bộ phận mua bán điện trung gian (có thể là các tổ chức thuộc bộ phận (3), mua buôn-bán lẻ, hay tổ chức khác, hay thậm chí bộ phận (2) cũng có thể làm việc này); và (5) bộ phận các hộ tiêu dùng (các gia đình, các doanh nghiệp và cơ quan, các hộ tiêu dùng lớn như nhà máy thép có thể mua với giá bán buôn).

Các nhà máy điện (1) sản xuất ra hàng hóa bán cho các bộ phận loại (3) hay (4), rồi các bộ phận đó bán lại cho bộ phận (5) là các hộ tiêu dùng. Nhưng điện phải được chuyển qua bộ phận truyền tải điện quốc gia (2), hay nói một cách hình ảnh là hệ thống giao thông quốc gia, rồi mới qua hệ thống đường nội đô hay địa phương của bộ phận (3) là các tổ chức bán lẻ để đến tay người tiêu dùng, bộ phận (5).

Tại một địa phương (thí dụ một xã, một quận), không thể xây dựng vài ba hệ thống đường dẫn điện và biến áp để người tiêu dùng có thể chọn lựa, vì như thế quá tốn kém. Như thế, các hệ thống bán lẻ (3) có sự độc quyền tự nhiên, khó dẹp bỏ. Các tổ chức này nên được phân tán và gắn với cộng đồng và do cộng đồng giám sát. Chúng là các công ty có độc quyền tự nhiên và nên được đối xử như vậy (thí dụ bằng một đạo luật riêng).

Hệ thống truyền tải quốc gia (2), giống như hệ thống đường cao tốc, vì lý do tương tự, cũng có tính độc quyền tự nhiên và các công ty vận hành hệ thống này phải được coi như các Cty công ích (thu đủ phí để bảo dưỡng và phát triển hệ thống).

Các nhà máy điện sản xuất ra điện và bán buôn cho các tổ chức thuộc nhóm (3), (4) hay trực tiếp cho hộ tiêu dùng lớn thuộc nhóm (5). Nếu có vài ba người mua thuộc loại (4) thì các nhà máy điện có thể hoạt động theo cơ chế thị trường cạnh tranh. Còn nếu chỉ có một người mua thì cơ chế thị trường không hoạt động.

Cả bên bán lẫn bên mua đều phải trả phí vận tải cho hệ thống (2) theo tỷ lệ nào đó (và cũng phụ thuộc vào khoảng cách giữa bên bán và bên mua).

… đến đòi hỏi chẻ nhỏ EVN

Nếu nhìn nhận một cách đơn giản như vậy, có thể có vài gợi ý về cải tổ hệ thống như sau:

Bao cấp giá điện chính là khuyến khích ngược, làm lợi cho những người tiêu xài điện hoang phí. Giá thấp cũng không khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng nhà máy mới, trang bị công nghệ mới, và tham gia vào hệ thống.

Các Cty sản xuất (1) hoàn toàn độc lập với tất cả các phần còn lại, hoạt động chủ yếu trên cơ chế thị trường cạnh tranh.Hệ thống truyền tải quốc gia (2) hoạt động độc lập (có thể có vài Cty công ích hoạt động theo địa bàn địa lý). Nó chăm lo cho hệ thống truyền tải, duy trì, nâng cấp, phát triển hệ thống này. Nó được nhà nước đầu tư và hoạt động trên cơ sở thu phí và, nếu hạ thấp được tổn thất thì, lợi nhuận của nó sẽ tăng lên.

Các hệ thống bán lẻ (3) hay trung gian (4) cũng hoạt động độc lập với các tổ chức (1) và (2) cũng như độc lập với nhau (tất nhiên chúng có quan hệ kinh doanh, mua bán hay cung ứng dịch vụ với nhau) và không nhất thiết gắn với các đơn vị hành chính.

Làm được như vậy, thì giá điện về cơ bản là giá thị trường và công việc can thiệp của nhà nước sẽ dễ hơn.

Đáng tiếc, hiện nay một mình EVN chiếm phần lớn lĩnh vực (1), toàn bộ lĩnh vực (2), (3) và (4). Thế độc quyền này là nguyên nhân chính của các vấn đề, như hoạt động kém hiệu quả, tổn thất lớn và thiếu điện, dẫn đến phải cắt như cơm bữa như vừa xảy ra.

Giải pháp là phải chẻ nhỏ EVN ra, chứ không phải đẩy nó lên thành tập đoàn bao trùm tất cả. Chính vì sự độc quyền ấy mà EVN làm cao với các ông sản xuất điện khác dù là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam hay Tập đoàn Than&Khoáng sản Việt Nam hoặc Tổng Cty Lắp máy Việt Nam.

Đồng thời với việc tách EVN cũng cần để giá điện sát giá thị trường, do thị trường điều tiết là chính (giữa các tổ chức (1), (3)-(4) và (5)). Giá điện thấp khiến các hộ tiêu dùng ít có khuyến khích để tiết kiệm điện, không chịu khó đổi mới công nghệ và sử dụng điện không hiệu quả và, như thế, càng dẫn đến thiếu điện. Bao cấp giá điện chính là khuyến khích ngược, làm lợi cho những người tiêu xài điện hoang phí.

Cải tổ hệ thống điện tuy là việc phức tạp nhưng là cách chữa bệnh tận gốc và, vì thế, là việc không thể trì hoãn.

Nguyễn Quang A

April 13, 2010

các blogger của Việt Nam – Ví dụ để các bạn tiện bình loạn.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:51 am
Tags:

Anh Ba Sàm Entry lấy từ blog của người khác, nhưng người khác lại trích blog của anh

Mời các bạn thêm vào (Danh sách tên + link được copy từ trang Anhbasam – cảm ơn anh). .Bauvinal (bô-xít) : Hacker cho tịt, nhưng tịt rồi lại nổ (by HM)

  • Bùi Văn Phú :
  • BS Hồ Hải : Vung dao mổ gió (by HM)
  • Cao Bồi Mẽo
  • Cán bộ P.V.Đào(dữ dằn) : Chỉ viết blog, không thèm đăng báo (by HM)
  • CLB Nhà Báo Tự Do
  • GS Ngô Bảo Châu
  • GS Nguyễn Đăng Hưng
  • HanoiLaVie (ảnh đẹp HN)
  • Họa sĩ Trịnh Cung
  • Học giả Nguyễn Văn Vĩnh
  • Hội ngộ Văn chương
  • Hiệu Minh :Không hứa thì không viết, mà khi viết lại viết toàn chuyện không hứa.(by HM)
  • Kichbu (Nga ngố)
  • Lý Toét
  • Mr. Do
  • Ngô Minh Trí
  • Nghệ sĩ Đào Anh Khánh
  • Nguyễn Hồng Thao
  • GS Nguyễn Văn Tuấn
  • Chuyện linh tinh
  • Hà nội xanh
  • Hãy dành thời gian
  • Hoa Tranh
  • Lê Minh (Sydney)
  • Nguyễn Hải Phong (Phil)
  • Vũ Duy Mẫn
  • Đặng Minh Liên
  • Chuột Nhắt
  • Trương Thái Du
  • Người Buôn Gió Buôn gió lãi bão (by HM)
  • Nhà báo H.H.Vân(T.Niên)
  • Nhà báo H.M. (Huy Bom)
  • Nhà báo Lê Thiếu Nhơn
  • Nhà báo Mạnh Quân : Mạnh quân nhưng yếu tướng (by HM)
  • Nhà báo Ng. Vạn Phú : Viết báo để đăng blog (by HM)
  • Nhà báo Nguyễn Vĩnh
  • Nhà báo P.Lợi (Bút Lông) : Tưởng viết bằng lông, hóa ra ông gõ phím (by HM)
  • Nhà báo Phan Văn Tú
  • Nhà báo Thu Hồng (Beo) : Báo cũng như Beo, đàng nào cũng tự sướng được (by Nice Cowboy)
  • Nhà báo TrươngDuyNhất : Viết blog một đằng, viết báo một nẻo (by HM)
  • Nhà báo Võ Đắc Danh
  • Nhà báo Vũ Mạnh Cường
  • Nhà báo Xuân Bình
  • Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng
  • Nhà báo ĐH (Bố CuHưng)
  • Nhà báo Đoan Trang
  • Nhà kịch Thu Phương
  • Nhà phê bình P.X.Nguyên
  • Nhà thơ Bích Khê
  • Nhà thơ Hoàng Cát
  • Nhà thơ Inrasara
  • Nhà thơ Võ Ngọc Thọ
  • Nhà thơ Võ Quê
  • Nhà thơ Đỗ Trung Quân
  • Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
  • Nhà văn Dạ Ngân
  • Nhà văn Hồ Bất Khuất
  • Nhà văn Hồ Biểu Chánh
  • Nhà văn Hữu Đạt
  • Nhà văn Keng
  • Nhà văn Ng. Huy Thiệp
  • Nhà văn Ng. Quang Lập : Viết blog để cười, viết kịch để khóc (by HM)
  • Nhà văn Ng. Quang Thân
  • Nhà văn Ng. Quốc Minh
  • Nhà văn Ng.Ngọc Tư Viết blog để khóc, viết văn cũng khóc (by HM)
  • Nhà văn Ng.Thụy Kha
  • Nhà văn P. Quang Trung
  • Nhà văn Thái Bá Tân
  • Nhà văn Trang Hạ
  • Nhà văn Trang Thế Hy
  • Nhà văn Trần Kỳ Trung
  • Nhà văn Trần Nhương
  • Nhà văn Văn Chinh
  • Nhà văn Vương Trí Nhàn
  • Nhà văn Xuân Đức
  • Nhà văn Đào Hiếu
  • Nhát sĩ Bảo thủ Tô Hải Cố thủ trong nhà, ném entry rất xa (by HM)
  • Nhạc sĩ Tuấn Khanh
  • GS Trần Văn Khê
  • Nhạc/Thơ sĩ Ng.Tr. Tạo : Blog để in thơ, thơ sáng tạo từ blog (by HM)
  • Quách Hiền
  • Tắc kè(thứ dữ)
  • Triệu Xuân
  • TS Giáp Văn Dương: Dê đánh giáp lá cà – dương đông kích tây (by HM)
  • TS Nguyễn Xuân Diện
  • TS Phạm Duy Nghĩa
  • TTX Vàng Anh
  • Viet-Studies: Viết ngắn…bắn dài (By HM)
  • Đông A
  • Đông La
  • Đại sứ Anh quốc tại VN : Viết tiếng Anh hay như tiếng Việt, viết tiếng Việt hay hơn tiếng Anh (by HM)
  • April 9, 2010

    Người Việt thực sự giữ bao nhiêu USD?

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:15 pm
    Tags: ,

    “Khoảng 9,7 tỉ USD nằm trong túi người dân. Điều này cho thấy chúng ta không thiếu ngoại tệ, nếu huy động được số tiền này”.

    Trước tết, Nguyễn Văn Hưng, một người buôn ôtô ở Hà Nội bỏ ra lượng tiền mặt tròn 5 tỉ VND để mua USD. Một phần trong số ngoại tệ đó, Hưng kể, được chuyển cho con gái đầu của anh đang học tại trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới Oxford ở Anh, số còn lại anh cho vào két để ở nhà. “Tôi dự kiến cháu học năm năm sẽ mất khoảng 5 tỉ đồng. Đang sẵn tiền nên tôi mua hết USD. Chưa chuyển hết cho cháu thì giữ USD chắc cũng không bị mất giá như tiền đồng”, Hưng, người đang sở hữu gần chục căn nhà ở Hà Nội sau những phi vụ trúng quả lớn ở Đức và Tiệp Khắc cách đây 20 năm, nói.

    Thật khó biết được số lượng những bậc phụ huynh làm giống như anh Hưng – tức mua ngoại tệ trong nước để nuôi con ăn học ở nước ngoài. Tuy nhiên, con số này có lẽ không nhỏ khi thống kê chỉ từ bốn đại sứ quán Mỹ, Anh, Úc, và Singapore cho biết đã có hàng chục ngàn sinh viên người Việt Nam đang theo học ở các trường học từ cấp tiểu học đến đại học ở các nước này. Vì thế, lượng USD tiền mặt gửi ra nước ngoài chỉ cho riêng hoạt động này có lẽ là không nhỏ.

    Nhưng đây chỉ là một phần trong bức tranh người Việt Nam giữ tài sản bằng USD, thay vì tiền đồng. Người ta mua USD để cho con đi học nước ngoài, thanh toán ôtô nhập khẩu, trả tiền cho chiếc iPod, hay đơn thuần là cất trong tủ… Những hoạt động này làm nền kinh tế Việt Nam bị đôla hoá rất cao, ít nhất so với các quốc gia khác trong khu vực.

    Kinh tế gia trưởng của ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Martin Rama giải thích về hiện tượng này: “Người dân và doanh nghiệp không yên tâm về tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD. Có rất nhiều người đang găm giữ USD vì họ cho rằng găm giữ USD là biện pháp bảo vệ tài sản cho họ”.

    Người Việt thực sự đang giữ bao nhiêu USD? Câu hỏi này gây tò mò cho chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh. Ông Doanh kể lại, ông đã cùng ngồi phỏng đoán với phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa về con số này dựa trên nhiều yếu tố như dự trữ ngoại hối, vay nợ của Chính phủ, kiều hối, FDI, xuất khẩu, lượng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng… đã công bố cuối năm ngoái.

    “Chúng tôi giật mình khi thấy sai số là 9,7 tỉ USD. Con số này không thấy xuất hiện trong tài khoản ngân hàng. Tức là nó nằm trong túi người dân. Điều này cho thấy chúng ta không thiếu ngoại tệ, nếu huy động được số tiền này”, ông Doanh nói.

    Đánh giá của ông Doanh gần giống với một báo cáo mới công bố của ngân hàng Thế giới. Báo cáo này lưu ý rằng, có nhiều hạng mục bị sai số một cách không bình thường trong cán cân thanh toán (lên tới 10% GDP). “Người dân Việt Nam đang nắm giữ hàng tỉ USD”, ông Rama giải thích cho hiện tượng này.

    Một câu hỏi khác: vậy còn bao nhiêu USD nằm trong tài khoản ngân hàng thương mại? Viện phó viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành giải thích thêm, dự trữ ngoại hối hiện có, cộng với khoảng 20 tỉ USD đang gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy “Việt Nam có hơn 30 tỉ USD”. Ông nói: “Con số này và số USD trong dân cho thấy, nền kinh tế không thiếu USD”.

    Nhưng mặt khác, rõ ràng là đang có tình trạng thiếu ngoại tệ cho các giao dịch cần ngoại tệ.

    Ông Rama nói tiếp: “Hiện tượng mua bán USD vượt ra ngoài biên độ chính thức trên thị trường tự do cho thấy một số dấu hiệu mất lòng tin vào đồng nội tệ”. Anh Hưng và nhiều người khác đang nắm giữ USD biết rất rõ điều này. Nhưng điều họ không biết là tỷ giá VND/USD luôn có chiều hướng tăng chính vì sự găm giữ đó, và đây là một yếu tố mang tính tàn phá nền kinh tế. Ông Thành ước tính, tỷ giá có thể dao động ở biên độ rất lớn 18.000 – 20.000 VND/USD, mà biên độ nhỏ nhất chỉ có thể có khi người dân từ bỏ găm giữ USD và chuyển qua VND.

    Gợi ý này, tuy vậy, là bất khả thi. Ông Rama nói: “Tôi cho rằng, để dòng tiền vào thị trường không có kiểm soát là không thể được. Nếu để mọi người mua USD thì ngân hàng Nhà nước sẽ mất thêm nhiều dự trữ… Đây là áp lực với Chính phủ và Chính phủ hiểu được áp lực đó”.

    * Chuyên gia kinh tế trưởng của ngân hàng Thế giới tại khu vực Đông Á – Thái Bình Dương Vikram Nehru: “Thâm hụt tài khoản đối ngoại là đáng quan ngại đối với Việt Nam. Theo tôi, một cách giải quyết vấn đề này là tăng lãi suất. Nó sẽ mang lại hai kết quả. Thứ nhất là làm nguội bớt sức ép lạm phát; thứ hai là có hiệu ứng làm dòng vốn tài chính tạo ra thâm hụt quay trở lại, người dân rời bỏ USD để quay sang tiền đồng, qua đó dự trữ ngoại hối sẽ được bắt đầu tích luỹ lại”.

    April 4, 2010

    Chênh lệch giữa các vùng ở Trung Quốc: “Một trăm năm nữa chưa chắc miền Tây đã bằng miền Đông”

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:42 pm
    Tags: , ,

    Người ta chia Trung Quốc làm ba miền: Đông, Tây và Trung. Miền Đông là các tỉnh ven biển có nền kinh tế phát triển và đời sống người dân cao nhất Trung Quốc. Miền trung là các tỉnh ở giữa, kinh tế phát triển và đời sống trung bình. Miền Tây là vùng lạc hậu nhất.

    Năm nay là 10 năm Trung Quốc thực thi chiến lược đại phát triển miền Tây. Số liệu chính thức cho biết, mười năm qua, 12 tỉnh, thành phố, khu tự trị [1] trước sau đã xây dựng 120 công trình trọng điểm, tổng đầu tư khoảng 2200 tỷ NDT (1NDT bằng khoảng 6,3 USD), những đường ống, đường dây vận chuyển khí, điện từ Tây sang Đông, đường sắt Thanh-Tạng v.v. đã nối nhau hoàn thành.

    Tăng Bồi Viêm, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ Trung Quốc, hiện là Giám đôc Trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế của Trung Quốc nhận xét, 10 năm qua các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của miền Tây như; tổng lượng kinh tế, tốc độ tăng trưởng thu nhập tài chính, đầu tư tư sản cố định v.v. đều nâng cao rất nhiều cụ thể là tăng trưởng GDP của miền Tây đạt 12%, cao hơn miền Đông, tỷ trọng đã từ chỗ chiếm 17,1% của toàn quốc năm 2000 tăng lên 18,5% năm 2009, thu nhập có thể chi phối của dân cư thành thị và nông thôn đã từ 5648 NDT tăng lên đến 14213 NDT, thu nhập bình quân/năm của nông dân đã từ 1161 NDT tăng lên 3817 NDT.

    Do được tăng nhanh đầu vào nên khoảng cách tốc độ tăng trưởng tương đối kinh tế của miền Tây với miền Đông đang thu nhỏ, nhưng khoảng cách tuyệt đối lại đang mở rộng. Đỗ Ưng, Phó chủ nhiệm Ủy ban cải cách phát triển quốc gia cho biết GDP bình quân đầu người của miền Tây và miền Đông năm 2000 chênh nhau 7000 NDT, nay khoảng cách đó đã là 21.000 NDT.

    Lý Tử Bân nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Phát triển miền Tây của Quốc vụ viện nói thẳng: các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của miền Tây “dù có qua 100 năm nữa cũng chưa chắc đã bằng miền Đông”

    Nên nhớ là miền Tây Trung Quốc chiếm 74% diện tích đất đai Trung Quốc, có hơn 400 triệu dân, tập trung 75% dân tộc thiểu số và khoảng 80% dân nghèo Trung Quốc.

    Dương Danh Dy (Sưu tầm và giới thiệu)

    Nguồn: theo “Trung Quốc tân văn võng” ngày 27/3/2010

    [1] Tức các tỉnh,thành phố, khu tự trị: Trùng Khánh, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, Thanh Hải, Ninh Hạ, Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông Cổ

    March 25, 2010

    CTCK “khát” tiền mặt

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:18 am
    Tags: , ,
    Việc cho phép khách hàng lớn dùng tỷ lệ đòn bẩy cao là chiêu mà nhiều CTCK đang sử dụng để lôi kéo khách hàng VIP của đối thủ.

    Kết thúc năm 2009, phần lớn CTCK đều kinh doanh có lãi nhưng không trả cổ tức bằng tiền mặt, nếu có thì khá khiêm tốn so với con số lợi nhuận đạt được. Tại sao các CTCK ưa thích trả cổ tức bằng cổ phần?

    Giải thích điều này có những lý do thuộc về quá khứ hay hoạt động nghiệp vụ hiện tại. Đáng chú ý khối CTCK đạt lợi nhuận cao, nhưng không đồng nghĩa với việc gia tăng tiền mặt…

    Tiền mặt để cung cấp đòn bẩy tài chính

    Nửa cuối năm 2009, đòn bẩy tài chính là câu chuyện nóng trên TTCK và hiện tại đang được “sưởi ấm” lại. Thực tế trong dịch vụ này, cả NĐT lẫn CTCK đều hưởng lợi. Với NĐT, đòn bẩy là cách nhanh nhất khuếch đại lợi nhuận khi TTCK đi lên. Với CTCK, dịch vụ hỗ trợ tài chính cho NĐT tạo ra lợi nhuận khi lãi suất cho vay khá cao, gần 20%/năm.

    Mặt khác, với hoạt động tài trợ vốn cho NĐT, CTCK có thể nhanh chóng cải thiện thứ hạng thị phần môi giới. Việc cho phép khách hàng lớn dùng tỷ lệ đòn bẩy cao là chiêu mà nhiều CTCK đang sử dụng để lôi kéo khách hàng VIP của đối thủ. Để thực hiện việc này, tiền là yếu tố quyết định.

    Theo đại diện một số NHTM, “room” cho vay chứng khoán vẫn còn, nhưng các ngân hàng xác định đây là loại hình tín dụng có rủi ro hơn so với các loại hình tín dụng khác.

    Mặt khác, lãi suất cho vay chứng khoán bị áp dụng mức trần (quy định tại Công văn số 8883/NHNN-CSTT) và luôn bị hẻm soát chặt bởi Ngân hàng Nhà nước, nên hiện tại, các ngân hàng không mấy mặn mà. Điều này khiến các CTCK không có ngân hàng mẹ đứng “chống lưng” đang “khát” tiền mặt.

    Với họ, hoạt động hỗ trợ tài chính cho NĐT chỉ gói gọn trong phạm vi lượng tiền mặt tự có. Điều này khiến không ít khách hàng VIP “dứt áo ra đi”. Bức tranh thị phần môi giới quý I hứa hẹn có sự thay đổi lớn .

    Thời gian qua, khối CTCK gần như đi tiên phong trong việc tăng vốn điều lệ dưới nhiều hình thức: chia thưởng cổ phiếu từ nguồn thặng dư, phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu, trả cổ tức bằng cổ phiếu.

    Chẳng hạn, CTCK SSI sắp hoàn tất quá trình tăng vốn điều lệ lên 3.500 tỷ đồng, CTCK Bảo Việt dự kiến tăng vốn lên 1.500 tỷ đồng, CTCK VN Direct có kế hoạch tăng vốn lên 1.000 tỷ đồng, CTCK phố Wall công bố kế hoạch tăng vốn lên 1.000 tỷ đồng, CTCK TP. HCM đang xem xét kế hoạch phát hành thêm…

    Manh nha từ nửa cuối năm 2009, nhưng sang năm 2010 tại sao tăng vốn điều lệ lại trở thành một trào lưu lớn với các CTCK? Câu trả lời nằm ở quy mô vốn của CTCK có liên quan chặt chẽ tới các hoạt động ngân quỹ trong tương lai gần. Theo quy định hiện hành, khi tài trợ vốn cho NĐT, tổng số nợ của CTCK chỉ được phép nằm dưới mức 5 lần vốn chủ sở hữu.

    Trả cổ tức bằng cổ phần, thưởng cổ phiếu giúp CTCK giữ lại được tiền mặt hiện có, nhưng gia tăng quy mô vốn, đón đầu sự bùng nổ dịch vụ cung cấp đòn bẩy tài chính khi được chính thức “luật hóa”.

    Lãi chưa đủ bù lỗ

    ĐHCĐ CTCK Rồng Việt (VDSC) nhóm họp đầu tháng 3 đã thông qua việc phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 6%. Với các cổ đông, phần thưởng này coi như cổ tức năm 2009.

    Sở dĩ VDSC không thể làm chính danh, bởi năm 2009, dù Công ty lãi 67 tỷ đồng, nhưng trên bảng cân đối kế toán, phần lãi chưa phân phối vẫn âm 18 tỷ đồng, do năm 2008 Công ty lỗ 85 tỷ đồng.

    Theo Điều 93 Luật Doanh nghiệp, VDSC chưa được phép trả cổ tức bằng tiền. Nếu không nhận được cổ tức, có lẽ cổ đông của VDSC phải chờ thêm 1 năm nữa, hy vọng TTCK năm 2010 vẫn thuận lợi Công ty kinh doanh có lãi.

    Tuy nhiên, điều này hơi “khó nói”, vì đa số lợi nhuận của các CTCK hiện nay vẫn phụ thuộc vào hoạt động tự doanh. Mà hoạt động tự doanh lại phụ thuộc vào diễn biến của TTCK.

    Hiện tại, VDSC có chút thặng dư, đem chia cho các cổ đông dưới hình thức cổ phiếu thưởng là một ý tưởng. Nhờ đó, các cổ đông “trung thành” có thể lấy khoản 6% được chia đó để bán đi, chuyển hóa thành tiền mặt.

    Lợi nhuận và yếu tố … “không thực”

    Không chỉ các CTCK lỗ không có tiền mặt trả cổ tức, mà các CTCK có lợi nhuận lớn cũng không dư dả tiền mặt để trả cổ tức cho cổ đông.

    Thời gian qua, trên thị trường xuất hiện khá nhiều thông tin về việc các NĐT tổ chức trong nước đăng ký vừa mua vừa bán một loại cổ phiếu trong một thời gian nhất định.

    Chẳng hạn, CTCK X đang nắm giữ một triệu cổ phiếu A, đăng ký vừa mua vừa bán 200.000 cổ phiếu A đó. Bề nổi của sự kiện này là hoạt động “lướt sóng”.

    Bình thường, CTCK sẽ bán cổ phiếu với giá cao và mua lại với giá thấp, chênh lệch của việc mua bán tạo ra thu nhập – khoản lợi nhuận giống như các NĐT cá nhân.

    Tuy nhiên, thực tế khác xa với logic thông thường, cốt lõi vấn đề nằm ở các quy định và chuẩn mực kế toán Việt Nam. Với các khoản đầu tư tài chính, khi giá thị trường cao hơn giá vốn, pháp luật chỉ cho phép ghi nhận lợi nhuận sau khi đã hiện thực hóa (giá bán cao hơn giá vốn ban đầu).

    Giả sử, 1 triệu cổ phiếu A mà CTCK X đang sở hữu có giá vốn ban đầu bằng mệnh giá (l0.000 đồng/cp), 200.000 cổ phiếu A được bán với giá trung bình 25.000 đồng/cp. Chênh lệch giá bán và giá vốn là 15.000 đồng.

    Công ty được phép ghi nhận lợi nhuận 200.000 cổ phiếu x 15.000 đồng = 3 tỷ đồng. Sau đó bởi là “chuyên gia lướt sóng” nên Công ty mua lại với giá rẻ hơn, giả định trung bình là 21.000 đồng/cp.

    Kết thúc thương vụ, danh mục của CTCK X vẫn có 1 triệu cổ phiếu A, trong đó 200.000 cổ phiếu mới được ghi nhận với giá vốn 21.000 đồng/cp, 800.000 cổ phiếu ban đầu được ghi nhận giá vốn bằng mệnh giá.

    “Lãi thực” đi kèm với khoản tiền mặt xuất hiện thêm là 4.000 đồng x 200.000 cổ phiếu = 800 triệu đồng, tuy nhiên các bút toán lại ghi nhận khoản lãi 3 tỷ đồng! Rõ ràng, CTCK có lợi nhuận, nhưng không kèm với khoản tiền mặt tương ứng.

    Thủ thuật này cũng có thể được áp dụng với các loại cổ phiếu ít khi có giao dịch thực tế trên thị trường OTC. Chẳng hạn, CTCK X (hoặc một DN bất kỳ nào) có thể chủ động bán cổ phiếu A cho đối tác Y với giá bán cao hơn giá vốn; bên Y chuyển nhượng hình thức cho đối tác Z với giá bán bằng giá vừa mua; sau đó, Công ty Z chuyển nhượng cho CTCK X với giá vốn như giá mà CTCK X đã bán cho công ty Y. Kết quả, số lượng cổ phiếu A giữ nguyên, nhưng CTCK X ghi nhận lợi nhuận, cổ phiếu ghi giá vốn mới!

    Việc “sang tay ba bên” là một cách tạo ra “lợi nhuận sổ sách” cho CTCK. Về dài hạn, cách làm này không mang lại lợi ích gì cho DN, nhưng trong ngắn hạn, để phục vụ những mục đích nhất định, DN vẫn sử dụng thủ thuật này để làm đẹp báo cáo tài chính.

    March 20, 2010

    Hợp Đồng Franchise

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:46 am
    Tags: ,
    Thứ 6, 19/03/2010 – 22:29 PM

    CHI TIT NHƯNG QUYN KINH DOANH

    • Căn cứ vào Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế của Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 25-9-1995.
    • Căn cứ vào Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990 (nay là Chính phủ) về việc quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế.
    • Căn cứ theo Quy định về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp tại nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ và thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 của Bộ KH, CN&MT.
    • Căn cứ vào điều 4.1.1 Thông tư 1254/BKHCN/1998 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường được ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Nghị định 45/ND-CP về chuyển giao công nghệ.
    • Căn cứ vào nhu cầu của bên B và khả năng đáp ứng của bên A.

    Hôm nay, ngày     tháng    năm 2004, tại Công ty ____________________________________, chúng tôi gồm:

    CÔNG TY TNHH TM DV NHỊP SÓNG

    (Là pháp nhân sở hữu hợp pháp thương hiệu PHOTOSTICKER “SẮC MÀU XÌ TIN”)

    Trụ sở chính                  :

    Điện thoại                     :                                               Fax :

    GPKD số                     :

    Mã số thuế                   :                                               Tài khoản số                 :

    Do Ông                        :           làm đại diện.

    ĐẠI LÝ ĐƯỢC NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG HIỆU PHOTOSTICKER “SẮC MÀU XÌ TIN”

    (Được gọi tắt là “ĐẠI LÝ ”)

    Địa chỉ kinh doanh        :

    Điện thoại cửa hàng      :

    GPKD số                     :

    Mã số thuế                   :

    Địa chỉ liên lạc  :

    Điện thoại                     :                                      Fax:

    Do Ông                        :………………………..Chủ ĐẠI LÝ làm đại diện

    CMND số                    :                                      Cấp ngày :            tại

    PHẦN I: GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

    1. Thương hiệu Photosticker “Sắc màu xì tin”: Là tài sản hữu hình và vô hình được tạo ra từ sản phẩm Photosticker (hình chụp đecal). Photosticker “Sắc màu xì tin” đã được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và được thừa nhận bởi pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
    2. Đại lý nhượng quyền là cửa hàng đã được Công ty TNHH TM DV Nhịp Sóng bổ nhiệm làm Đại lý tại địa chỉ :_________________________________   và chịu ràng buộc bởi các điều kiện của hợp đồng này. Cửa hàng là thuộc quyền sở hữu của Đại lý.
    3. Vật tư: Là các hàng hóa do Công ty TNHH TM DV Nhịp Sóng trực tiếp nhập từ nước ngòai, nghiên cứu, khai thác & phân phối cho Đại lý để cung cấp cho khách hàng, vật tư được quy định theo phụ lục đính kèm.
    4. Sản phẩm: Bao gồm hình chụp decal từ máy Photosticker và các sản phẩm có liên quan do Công ty TNHH TM DV Nhịp Sóng cung cấp.

    PHẦN II: CÁC ĐIỀU KHỎAN

    Hai bên thỏa thuận và đi đến ký kết hợp đồng theo các điều khoản sau:

    ĐIỀU I: CÁC TIÊU CHÍ HÌNH THÀNH ĐẠI LÝ NHƯỢNG QUYỀN

    1. Để trở thành đại lý nhượng quyền,các cá nhân hoặc tổ chức phải có đủ năng lực hành vi dân sự, có hộ khẩu tại tỉnh, thành phố sở tại, có địa điểm, mặt bằng phù hợp , có đăng ký kinh doanh về lĩnh vực chụp hình.
    2. Thời hạn hợp đồng tối thiểu: 2 năm
    3. Số lượng máy: tối thiểu 2 máy (độc quyền: tối thiểu 4 máy, công ty và đại lý sẽ cùng xem xét quy mô thị trường để đạt được thỏa thuận bổ sung)
    4. Quy định về việc lựa chọn địa điểm

    Diện tích kinh doanh tư 20m2 trở lên, khả năng đầu tư vào mặt bằng cao và hội đủ một trong các điều kiện sau:

    • Nơi tập trung đông dân cư: trường học, khu vui chơi, khu du lịch…
    • Nơi dễ thấy, dễ nhìn: ngã ba, ngã tư, ngã năm, những vòng xoay, những quảng trường, khu du lịch dành riêng cho người đi bộ…
    • Nơi tập trung buôn bán hàng lưu niệm, quần áo, đồ trang sức phục vụ giới trẻ …
    • Khu biệt lập: khu thương mại, siêu thị, khu du lịch, nhà sách…

    Ưu tiên những người có mặt bằng chủ sở hữu.Trường hợp mặt bằng thuê thì hợp đồng thuê nhà phải có hiệu lực từ 3 năm trở lên.

    1. Con người tham gia hợp tác
    • Trình độ: Biết phần cứng máy tính: lắp ráp, sửa chữa một số lỗi đơn giản. Tối thiểu bằng A tin học.
    • Ưu tiên người có kinh nghiệm kinh doanh trong ngành dịch vụ.
    • Hiểu biết về thị trường kinh doanh, có khả năng quản lý.
    • Đối với các thành phố trực thuộc trung ương tối thiểu 2 Km.
    • Đối với những nơi còn lại, khoảng cách tối thiểu là 3 Km
    1. Tuân thủ khoảng cách so với các đại lý nhượng quyền khác:

    Ghi chú: Riêng các khu biệt lập được mở các đại lý nhượng quyền mà không phải tuân thủ tiêu chí này.

    ĐIỀU II: TRÁCH NHIỆM CỦA BÊN A

    1. Bên A có trách nhiệm duy trì và phát triển phương thức và hệ thống các đại lý cũng như cửa hàng theo các tiêu chí sau:
    • Tiêu chuẩn của các đại lý nhượng quyền: Địa điểm, các bảng hiệu, bảng quảng cáo, đồng phục nhân viên, card visit, brochure, bao đựng sản phẩm… được thống nhất theo phong cách của toàn bộ hệ thống đại lý nhượng quyền.
    • Tiêu chuẩn về con người, hệ thống quản ly: Được tuyển chọn, đào tạo và xác lập theo phong cách Photosticker “Sắc màu xì tin”
    • Tiêu chuẩn về vật tư cung cấp cho các đại lý nhượng quyền là các sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn của công ty.
    1. Quảng bá thương hiệu bằng mọi hình thức để Photosticker “Sắc màu xì tin” luôn là thương hiệu hàng đầu Việt Nam.
    2. Cung cấp một số sản phẩm, giải pháp công nghệ theo yêu cầu của đại lý với giá ưu đãi của đại lý (sẽ được thoả thuận bởi một hợp đồng khác nằm ngoài hợp đồng này).
    3. Bên A chịu trách nhiệm kiểm soát và trợ giúp định kỳ nhằm đảm bảo chất lượng máy móc và dịch vụ do bên nhượng quyền cung cấp. Bố trí nhân sự (nhân viên tư vấn hỗ trợ) có nhiều kinh nghiệm trong ngành kinh doanh dịch vụ, hiểu biết kỹ thuật thăm viếng đại lý (ít nhất 1 lần/ 3 tháng) để tư vấn và giải quyết kịp thời những yêu cầu, khó khăn của đại lý.
    4. Bên A đảm bảo việc sở hữu quyền khai thác và sử dụng các thương hiệu liên quan đến Photosticker “Sắc màu xì tin”.
    5. Bảo mật các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh đại lý.

    ĐIỀU III: TRÁCH NHIỆM VÀ CÁC QUYỀN LỢI KHÁC CỦA ĐẠI LÝ

    Trách nhiệm:

    1. Đăng ký các giấy phép kinh doanh cần thiết để kinh doanh hợp pháp.
    2. Cam kết kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm pháp lý đối với hiệu quả kinh doanh tại địa điểm đại lý mà không ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu và hệ thống Photosticker của công ty.
    3. Có trách nhiệm cùng xây dựng và bảo vệ uy tín, hình ảnh thương hiệu Photosticker “Sắc màu xì tin” trong thời gian hợp đồng có hiệu lực, luôn giữ hình ảnh hệ thống Photosticker “Sắc màu xì tin” đồng nhất, cụ thể:
    • Trang bị đủ các danh mục vật tư chụp hình, các kiểu hình. Thực hiện và sử dụng đúng mục đích.
    • Không sử dụng vật phẩm nhãn hiệu khác cạnh tranh với thương hiệu Photosticker “Sắc màu xì tin”.
    • Với những hạn mục mà đại lý tự thực hiện theo nhu cầu thực tế cần phải có sự tham khảo ý kiến và sự đồng ý chính thức bằng văn bản của công ty.
    • Không trưng bày các biểu tương, logo, hình ảnh mang tính chất quảng cáo của sản phẩm khác cạnh tranh với hệ thống Photosticker ở bên trong và bên ngoài cửa hàng.
    1. Phối hợp cùng công ty và hệ thống Photosticker trong việc tổ chức các hoạt động quảng cáo, thông tin đại chúng, khuyến mãi và các hoạt động khác liên quan đến phục vụ, quản lý . . . trong từng thời điểm.
    2. Tạo thuận lợi cho công ty kiểm tra cửa hàng (nếu cần thiết) và cung cấp đầy đủ thông tin về thực trạng kinh doanh.
    3. Không cung cấp các thông tin liên quan đến hệ thống Photosticker cho bất kỳ bên thứ 3 nào ngoài mục đích cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng này hoặc do yêu cầu của pháp luật và cơ quan chức năng. ĐẠI LÝ đảm bảo rằng các nhân viên của mình sẽ tuân thủ điều kiện này.
    4. Tháo dỡ và hoàn trả lại (nếu có) toàn bộ các trang trí, hình ảnh, biểu tượng, logo liên quan đến thương hiệu Photosticker “Sắc màu xì tin”  trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày hợp đồng được chấm dứt.
    5. Trả đầy đủ phí nhượng quyền hàng năm và các chi phí phát sinh do hoạt động hợp tác kinh doanh hàng năm cho bên A.
    6. Bên B được quyền sử dụng đúng và đủ các đối tượng sở hữu trí tuệ do bên A cấp trong phạm vi hoạt động kinh doanh tại cửa hàng của bên B và bên B không có quyền nhượng cho bên thứ 3. Trong trường hợp bên A phát hiện thấy dấu hiệu trên, Bên A có quyền tạm ngừng cấp quyền và yêu cầu các cơ quan chức năng can thiệp (theo luật sở hữu trí tuệ). Bên B phải chịu hoàn toàn các phí tổn, trách nhiệm khi sự việc này xảy ra.

    Quyền lợi:

    1. Quyền khai thác khách hàng
    • Khai thác khách hàng của đại lý được hiểu là chỉ nằm trong khu vực được phép kinh doanh được ký kết trong hợp đồng
    • Bên A được quyền mở thêm các đại lý trong những khu vực mang tính biệt lập với bên ngoài như: nhà sách, siêu thị, khu vui chơi giải trí…
    • Đối với các hoạt động đặc biệt khác như hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại, ca nhạc…, tuỳ vào sự thoả thuận ban đầu với các đại lý mà công ty:

    – Tự do tham gia kinh doanh trong các hoạt động này.

    – Hợp tác kinh doanh với đại lý nhương quyền.

    – Đại lý nhượng quyền được độc quyền kinh doanh.

    1. Huấn luyện và đào tạo:
    • Đào tạo tòan bộ về kỹ thuật chụp hình, sử dụng máy in.
    • Đào tạo ban đầu cho nhân viên kỹ thuật, các kỹ năng quản lý (đại lý phải gởi thông báo yêu cầu khi cần hướng dẫn kỹ năng quản lý để công ty sắp xếp lịch)
    • Các chương trình riêng mang tính đặc thù của hệ thông Photosticker.
    • Huấn luyện và cập nhật kỹ thuật về sử dụng và xử lý các lỗi thường gặp của máy Photostiker hoặc khi nâng cấp thêm chức năng cho máy.
    1. Hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ các chương trình quảng bá thương hiệu Photosticker “Sắc màu xì tin) do bên A thực hiện. Đây là chương trình được công ty thực hiện chung cho toàn hệ thống đại lý nhượng quyền nhằm làm cho người tiêu dùng ngày càng biết đến thương hiệu Photosticker “Sắc màu xì tin”.
    2. Hỗ trợ từ công ty:

    a. Cơ sở vật chất:

    • Một bảng hiệu Photosticker theo mẫu chuẩn.
    • Một album 215 style.
    • Thêm khung hình 6 tháng/ lần họac mỗi khi có hình mới.
    • Nâng cấp máy thêm các chức năng mới (công ty hỗ trợ 1 phần nếu chi phí đầu tư thêm quá cao).
    1. Giá cả:
    • Vật tư: mực được hỗ trợ 10%, giấy 10 – 15% so với giá bán chính thức.
    • Sản phẩm : 10% so với giá bán.
    • Máy P.S mới: giảm 2 – 5%
    • Máy khác: giảm 10%
    • Được trợ giá cả vật tư, sản phẩm liên quan có các chương trình khuyến mãi chung cho hệ thống.

    c. Quảng cáo:

    • Trên các báo H2T, Mực tím… theo chương trình chung.
    • Trên brochure phát đến khách hàng theo các chương trình khuyến mãi, quảng cáo.
    • Trên mạng (khi có điều kiện).
    • Bao đựng hình

    ĐIỀU IV: VẬT TƯ VÀ CÁC SẢN PHẨM KHÁC

    1. Bên A:
      1. Vật tư và các sản phẩm khác: có mức giá ưu đãi dành cho đại lý.
      2. Cung cấp vật tư và các sản phẩm đảm bảo chất lượng theo đúng tiêu chuẩn của công ty cho các đại lý.
    1. Đại lý:
      1. Bảo quản vật tư theo đúng tiêu chuẩn công ty.
      2. Không mua bán và sử dụng vật tư và các sản phẩm (hoặc dịch vụ) cạnh tranh trực tiếp với hệ thống Photosticker.
      3. Đại lý cam kết không bán ra thị trường các sản phẩm cùng loại với các sản phẩm của hệ thống Photosticker khác với giá quy định.
      4. Không có hành vi thay đổi chất lượng sản phẩm làm ảnh hưởng uy tín của công ty.
      5. Đại lý có thể đặt hàng trực tiếp hoặc qua điện thoại, fax theo định kỳ hay đột xuất.

    ĐIỀU V: PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN

    1. Thanh toán:

    • Phần chi phí nhượng quyền hàng năm 15.000.000 VNĐ ( bằng chữ : Mười hai triệu đồng/ một năm) được thanh toán ngay sau khi ký hợp đồng. Đối với các năm tiếp theo ĐẠI LÝ sẽ có trách nhiệm thanh toán vào ngày đầu tiên của năm tiếp theo.
    • Phần thanh toán của các sản phẩm hàng hóa do hệ thống Photosticker “Sắc màu xì tin”  cung cấp cho ĐẠI LÝ (các sản phẩm, vật dụng dùng chung trong toàn bộ hệ thống Photosticker “Sắc màu xì tin”…) được thanh toán theo thỏa mức giá ưu tiên cho các đại lý nhượng quyền.

    2. ĐẠI LÝ thanh toán tiền cho công ty bằng một trong các phương thức sau :

    • Bằng tiền mặt: Ngay sau khi nhận đủ hàng, ĐẠI LÝ giao tiền cho nhân viên giao nhận với đúng họ tên (căn cứ theo thẻ nhân viên) đã được công ty thông báo bằng văn bản cho Đại lý.
    • Bằng chuyển khoản: ĐẠI LÝ thanh toán qua Ngân hàng trước khi nhận hàng.

    ĐIỀU VI: HIỆU LỰC HỢP ĐỒNG

    1. Hợp đồng có hiệu lực 02 (hai) năm kể từ ngày ký (từ ngày…đến ngày…).
    2. Các phụ lục đính kèm là một phần không thể tách rời của hợp đồng này.

    ĐIỀU VII: THANH LÝ HỢP ĐỒNG

    Hợp đồng này có thể được chấm dứt và thanh lý theo các trường hợp sau :

    1. Hết hiệu lực mà hai bên không tiến hành gia hạn.
    2. ĐẠI LÝ vi phạm một trong các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng này.
    3. Một trong hai bên bị giải thể, phá sản hoặc bị đình chỉ hoạt động bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    4. ĐẠI LÝ tự ý ngừng kinh doanh cửa hàng liên tục trong 02 (hai) tháng mà không thông báo lý do bằng văn bản chính thức cho công ty.
    5. ĐẠI LÝ có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, dân sự, kinh tế nghiêm trọng làm ảnh hưởng tới khả năng kinh doanh của công ty hoặc uy tín của toàn hệ thống Photosticker “Sắc màu xì tin”.

    ĐIỀU VIII: BẤT KHẢ KHÁNG

    Trường hợp bất khả kháng là những trường hợp xảy ra mà sau khi ký kết hợp đồng, do những sự kiện có tính chất bất thường xảy ra mà các bên không thể lường trước được và không thể khắc phục được như : chiến tranh, nội chiến, đình công, cấm vận, thiên tai. . .

    ĐIỀU IX: ĐIỀU KHOẢN CHUNG

    1. Trong trường hợp có bất kỳ mâu thuẫn, tranh chấp hay bất đồng nào phát sinh giữa các bên trong khi thực hiện hợp đồng này, các bên đồng ý giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải.
    2. Trường hợp tranh chấp không thể giải quyết bằng thương lượng, hai bên thỏa thuận sẽ yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này theo quy định của pháp luật Việt nam.
    3. Hợp đồng này được làm thành 02 (hai) bản, có giá trị pháp lý như nhau. Công ty giữ 01 (một) bản, ĐẠI LÝ giữ 01 (một) bản.

    ĐẠI DIỆN CÔNG TY TNHH TM DV NHỊP SÓNG                          ĐẠI DIỆN ĐẠI LÝ

    Next Page »

    Create a free website or blog at WordPress.com.