Ktetaichinh’s Blog

May 31, 2010

Tài sản kếch xù của tổng giám đốc Tigi Tour Con trai ông Trần Thanh Tiến hiện là sinh viên năm 2 đứng tên sở hữu gần chục ngàn mét vuông đất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:57 pm
Tags:

> Một người dân kiện Tigi Tour đòi 18 tỉ đồng > Điều tra tài sản của tổng giám đốc Tigi Tour > Cần làm rõ trách nhiệm của SCIC > Đình chỉ công trình “lậu” của ông Hoàng Kiều > Ông Hoàng Kiều đấu giá với… người nhà? > Bán ẩu phần vốn Nhà nước? Như Báo NLĐ ngày 26-5 đã thông tin, Phòng CSĐT tội phạm về kinh tế và chức vụ – Công an tỉnh Tiền Giang đang tiến hành thu thập chứng cứ điều tra về khối tài sản của ông Trần Thanh Tiến.   Ông Tiến là tổng giám đốc Công ty Cổ phần Du lịch Tiền Giang (Tigi Tour), người trước đây được giao quản lý 51% phần vốn Nhà nước tại Tigi Tour và hiện nay phần vốn này đã được bán lại toàn bộ cho gia đình ông Hoàng Kiều (Việt kiều Mỹ).   Hiện vấn đề dư luận đang đặt ra là có hay không việc “chảy máu” tài sản công khi bán đấu giá phần vốn Nhà nước tại  Tigi Tour?     Khu đất diện tích gần 6.400 m² ở TP Mỹ Tho có giá trị gần 20 tỉ đồng do con ông Tiến đứng tên. Ảnh: MINH SƠN   Nhiều dấu hỏi về khối tài sản lớn   Theo tài liệu chúng tôi thu thập được, hiện gia đình ông tổng giám đốc Tigi Tour đang sở hữu nhiều bất động sản có giá trị lớn, nằm ngay TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.   Riêng con trai ông Tiến là T.T.P, hiện là sinh viên năm thứ 2 của một trường ĐH ở TPHCM, đứng tên sở hữu 7 giấy chủ quyền sử dụng đất với diện tích lên đến gần chục ngàn mét vuông. Thửa đất mà P. đứng tên lớn nhất có diện tích gần 6.400 m², thửa nhỏ nhất gần 450 m².   Cụ thể, trên đường Lê Văn Phẩm (phường 5, TP Mỹ Tho), P. đứng tên một khu đất có diện tích 6.394,4 m². Sáng 26-5, khi chúng tôi đến tìm hiểu, nhiều người cho biết “khu đất này là của ông Ba Tiến (tức Trần Thanh Tiến)”.   Trên khu đất này, ngoài hai dãy nhà trọ đang cho thuê, phần diện tích còn lại đang được bơm cát để san lấp mặt bằng. Theo một cán bộ địa chính TP Mỹ Tho, hiện vị trí khu đất này có giá trị khoảng 3 triệu đồng/m². Như vậy, giá trị của thửa đất này lên đến gần 20 tỉ đồng.   P. còn đứng tên một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng tại phường 5 với diện tích 2.728 m². Thửa đất này do bà Lê Thị Mỹ Phượng (ngụ đường Lý Thường Kiệt) bán lại cho ông Tiến với giá 710 triệu đồng và ông Tiến giao cho con trai đứng tên. P. cũng đứng tên một thửa đất khác với diện tích 2.429,5 m². Thửa đất này ông Tiến mua lại của ông Nguyễn Văn On (đường Lý Thường Kiệt).   Ngoài ra, T.T.P. còn đứng tên chủ quyền nhiều khu đất khác ở phường 5 như: thửa số 34, tờ bản đồ 45 có diện tích 449 m², thửa đất số 52, tờ bản đồ 44 có diện tích 623 m², thửa đất số 34, tờ bản đồ 45 có diện tích 449 m²…   Riêng biệt thự tại số 360A đường Đinh Bộ Lĩnh, phường 2, TP Mỹ Tho, trước đây do ông Trần Thanh Tiến đứng tên nhưng mới đây, ngày 30-3-2010, ông đã sang tên cho người con trai là T.T.C.   Dư luận đang đặt câu hỏi: Một cán bộ Nhà nước như ông Tiến lấy đâu ra  số tiền lớn mua đất để con đứng tên? Qua tài liệu chúng tôi có được, việc chuyển nhượng đất số lượng lớn của gia đình ông Tiến chỉ diễn ra trong vòng chưa đến một tháng.   Đơn cử chỉ trong ngày 23-2-2009, con trai ông Tiến là T.T.P được UBND TP Mỹ Tho ký và cấp 4 giấy chủ quyền đất. Cách 15 ngày sau (ngày 9-3-2009), 30% cổ phần vốn Nhà nước tại Tigi Tour được đưa ra bán và con trai ông Hoàng Kiều là Hoàng Sammy Hùng thắng đấu giá (!?).   Một trong nhiều thửa đất của gia đình ông Trần Thanh Tiến tại TP Mỹ Tho. Ảnh: Minh Sơn   Tỉnh “bỏ quên” cán bộ (!?)   Cũng liên quan đến ông tổng giám đốc Tigi Tour, mới đây, phóng viên Báo NLĐ còn phát hiện chi tiết khá khôi hài: Tỉnh Tiền Giang đã “bỏ quên” cán bộ của mình, để cán bộ Nhà nước đi làm việc cho… tư nhân.   Nói khôi hài là dù công ty du lịch được bán hết cho gia đình ông Hoàng Kiều từ tháng 11-2009 nhưng đến nay, ông Trần Thanh Tiến vẫn còn làm việc cho Hoàng Kiều mà tỉnh đã “quên” rút cán bộ của mình về để phục vụ cho Nhà nước.   Trong một lần làm việc với phóng viên Báo NLĐ, ông Trần Thanh Tiến xác nhận trước đây ông là người thuộc diện cán bộ được Tỉnh ủy quản lý và giao nhiệm vụ về làm việc ở Tigi Tour để quản lý 51% phần vốn Nhà nước.   Lẽ ra sau khi bán hết 51% phần vốn Nhà nước tại Tigi Tour cho gia đình ông Hoàng Kiều (tháng 3-2009), tỉnh Tiền Giang phải điều động ông Tiến về công tác ở một cơ quan nào đó để phục vụ cho tỉnh.   Đằng này, sau khi vụ lùm xùm ở Tigi Tour xảy ra, tỉnh mới sực nhớ là đã “bỏ quên” cán bộ của mình đang “phục vụ” cho công ty của gia đình ông Hoàng Kiều. Để “chữa cháy”, mới đây, UBND tỉnh Tiền Giang điều động ông Tiến về Sở Nội vụ nghỉ chờ hưởng chính sách theo diện cán bộ về hưu trước tuổi.   Trao đổi với phóng viên về việc này, một cán bộ Sở Nội vụ cho biết: “Tỉnh mới điều động ông Tiến về đây kể từ tháng 5-2010 để chờ hưởng chính sách theo diện 132 với hệ số lương 6,78.   Việc trước đây ai trả lương cho ông Tiến thì sở không nắm được!”. Theo tìm hiểu của chúng tôi, cho đến tháng 5-2010, ông Tiến vẫn còn được Tigi Tour nộp BHXH với hệ số lương 6,3.

Advertisements

May 26, 2010

Đại gia Hoàng Kiều thâu tóm đất công tại Tiền Giang như thế nào?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:45 am
Tags:

Ông Hoàng Kiều làm gì trên cù lao Thới Sơn? (LĐ 26-5-10)

May 21, 2010

Đường sắt cao tốc Hà Nội – TP.HCM sẽ tốn 100 tỉ USD?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:04 am
Tags: , , ,

Đường sắt cao tốc Bắc-Nam: Chưa tính rủi ro kinh tế (VNN 12-5-10) — Nghe mấy “chuyên gia đầu ngành” phát biểu mà chỉ muốn đập đầu vào tường, chết quách cho xong! (Nhà báo Nguyễn Vạn Phú kiên nhẫn hơn tôi, nên có lời giải thích: Việt Nam có cần đưa người lên Mặt Trăng không? (Blog NVP 12-5-10))

  • Đường sắt cao tốc: QH đồng ý, Bộ sẽ tính hiệu quả (VNN 17-5-10) — “Bố mẹ chưa đồng ý cho con cái cưới vợ thì chưa thể bàn những việc cụ thể”, ông (thứ trưởng) Ngô Thịnh Đức ví.  THD ví: Muốn lấy một thằng đểu, không nghề nghiệp, nghiện xì ke, bị AIDS, thì ngủ với nó cho có thai rồi hãy “xin phép” bố mẹ làm đám cưới!

‘Quốc hội không thể quyết định tiêu hoang’ (VNN 20-5-10) — P/v bà Phạm Chi Lan về dự án đường sắt cao tốc — Đường sắt cao tốc Hà Nội – TP Hồ Chí Minh: Lo thiếu vốn (ND 20-5-10) — Đâu phải chỉ thiếu vốn? ‘Đường sắt cao tốc sẽ làm tăng gánh nợ quốc gia’ (VnEx 20-5-10) — Không làm chủ được công nghệ: Tỷ đô đổ ra sông? (Bee.net 20-5-10) — Đường sắt cao tốc – ý tưởng của những người thích đùa (VnEx 20-5-10) — Ông bạn Vũ Quang Việt vừa email cho tôi: “Xem xong những cái links này tren Viet-studies tôi thấy bác Dũng này nên có một câu comment thế này với bác Dũng kia mới đúng: Tại sao Nguyễn Tấn Dũng lại để cho đàn em đùa với nhân dân cả nước như vậy?”. (“Bác Dũng này” không dám đụng đến “bác Dũng kia” nhưng rất vui vẻ mà chép lại lời bác Việt!)

Chỉ ấn nút khi đủ thông tin (VNN 22-5-10) — Về dư án đường sắt cao tốc, chủ nhiệm UB Pháp luật Nguyễn Văn Thuận phân trần: “Tuy Bộ Chính trị, Ban chấp hành TƯ đồng ý chủ trương nhưng có bắt Quốc Hội làm ngay đâu…Chúng ta chấp hành ý kiến cấp trên nhưng phải căn cứ vào thực lực”. (Mỹ có câu: Tấm màn nhung đã rơi xuống và người phù thuỷ đứng phía sau đã lộ nguyên hình!)

Dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam: Cần khôn ngoan tránh vết xe đổ của Nhật (TP 23-5-10) — Trần Đình Bá: “Lịch sử thế giới chưa hề có một quốc gia đang phát triển nào đi vay tiền để làm đường sắt cao tốc (ĐSCT) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) không cho phép sử dụng vốn vay ưu đãi ODA để làm ĐSCT vì đây là phương tiện đại xa xỉ và hiệu quả thu hồi vốn thấp” Nhưng các quốc gia, tổ chức này thì biết gì? Bộ Chính Trị ĐCSVN, các “đỉnh cao trí tuệ” Lê Doãn Hợp, Hồ Nghĩa Dũng, Võ Hồng Phúc, Vũ Văn Ninh, v.v… thì biết gấp trăm lần họ!

Đường sắt cao tốc Bắc-Nam: Kim tự tháp của Việt Nam? (TVN 24-5-10) — Vậy là tạo thêm cơ hội cho ngành du lịch Việt Nam phát triển năm … 6000: Tour tham quan “phế tích đường sắt cao tốc” (nhưng muốn đến đấy thì khách tham quan (đa số là người Trung Quốc) phải đi ngựa, hoặc thuê cửu vạn (người Việt) cõng). (Chuyện “viễn tưởng” này có một đoạn kế tiếp rất là “rùng rợn”, ai yếu bóng vía hoặc có đạo đức cao thì không nên đọc, ai “liều mạng” thì bấm vào đây)

http://cafef.vn/2010052309353255CA32/tau-cao-toc-chuyen-ben-tay.chn

Đường sắt cao tốc và những câu hỏi về chất lượng thể chế (TVN 2-6-10) — Bài TS Vũ Minh Khương. (Đấy là cái tựa nguyên thuỷ, hiện nó đã đựợc đổi thành: “Đường sắt cao tốc: Khát khao lớn nhưng phải biết điểm dừng”, có người sợ nói đền chất lượng thể chế? (Không nói đến “chất lượng thể chế” thì dân Việt Nam vì quá ngu nên không nghĩ đến?)

  • Huỳnh Thế Du: Các lựa chọn cho hạ tầng giao thông trên trục Bắc Nam ở Việt Nam (viet-studies 4-6-10) — Bài quan trọng, có thể là chi tiết hơn cái “báo cáo” của chính phủ.
  • Đường sắt cao tốc: Việt Nam ngày nay và Nhật Bản 50 năm trước (TVN 4-6-10) — Bài quan trọng của GS Trần Văn Thọ
  • ’10 năm nữa hãy bàn tới đường sắt cao tốc’ (VnEx 4-6-10) — P/v bà Phạm Chi Lan
  • Các nhà tài trợ lớn nói gì về đường sắt cao tốc? (VnE 4-6-10)

  • Chúng tôi không chịu sức ép khi đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc’ (VnEx 6-6-10) — Có thể anh không hút xì-ke, nhưng anh đang dạy con nít bẻ ổ khoá, ăn cắp tiền cha mẹ đi hút xì-ke!
  • Ở Đức không ai nhắc tới xây dựng đường sắt cao tốc nữa! (TT 6-6-10)
  • May 19, 2010

    Rent seeking in VN – Case of CTCP DLTG from Ho Quoc Tuan’s Facebook Notes by Ho Quoc Tuan

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:58 am
    Tags:

    Viết tiếp vụ tiêu cực tại Công ty CP Du lịch Tiền Giang: Phiên đấu giá cổ phần sai luật?

    http://www.sggp.org.vn/kinhte/2010/5/225883/

    Đằng sau cuộc thi hoa hậu bất thành ở Tiền Giang: Công ty CPDL Tiền Giang giá bao nhiêu?

    http://www.sggp.org.vn/kinhte/2010/5/225697/

    Theo số liệu chúng tôi có được, tổng diện tích đất công mà công ty này sở hữu là 216.000m². Vấn đề đặt ra là ngần ấy đất công, hàng năm CTCPDLTG nộp cho ngân sách được bao nhiêu tiền?

    (…)

    Bán được 17,7 tỷ đồng! Cái đống đất của công ty này mà giá 17,7 tỷ! Mua xong thì cả đời không cần làm gì nữa!

    Đằng sau việc cuộc thi hoa hậu thế giới chuyển về Tiền Giang bất thành: Bán rẻ, buông lỏng quản lý tài sản công

    http://www.sggp.org.vn/kinhte/2010/5/226105/

    Nhà hàng Trung Lương nằm ở cửa ngõ thành phố Mỹ Tho, một điểm dừng chân thường xuyên của các công ty du lịch, ai từng ghé qua đây đều biết giá cả “đắt đỏ” của hàng đồ ăn thức uống và nhà hàng này cũng thường xuyên chìm trong “biển người”.

    Theo số liệu chúng tôi có được, diện tích của nhà hàng là 3.338,8m², thế nhưng giá cho thuê nguyên năm 2009 chỉ là 65,3 triệu đồng!

    Ai đã từng đi ngang cái nhà hàng Trung Lương và đã ăn (tui có) chắc chắn sẽ bị sốc khi nghe cái con số tiền thuê đất này!

    Đằng sau việc cuộc thi hoa hậu thế giới chuyển về Tiền Giang bất thành: Lộ chuyện rút ruột tài sản công?

    http://www.sggp.org.vn/kinhte/2010/5/225530/

    ——————————–

    Tóm lại, ở VN người ta đang học cách làm giàu của các tỷ phú Nga hồi xưa: mua đồ của chính phủ giá siêu siêu siêu rẻ.

    May 12, 2010

    Nhiều kiểu mất đất vàng Dường như việc thất thoát tài sản công qua con đường cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đã được thực hiện theo một lộ trình vạch sẵn

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:32 am
    Tags: ,

    > Giá thuê đất: 196 đồng/m²/năm > “Chảy máu” công sản ở Tiền Giang

    Từng là cánh chim đầu đàn trong các doanh nghiệp có vốn Nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, những tưởng sau khi cổ phần hóa sẽ tạo nên động lực mới giúp cho doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh.

    Thế nhưng chỉ vài năm, Công ty Cổ phần Du lịch Tiền Giang (CPDLTG) đã mất dần thương hiệu và cả khối tài sản công khổng lồ hiện đang phục vụ lợi ích cho vài cá nhân.

    Nhà hàng Quê Hương một thời ăn nên làm ra, nay bị đóng cửa bỏ hoang. Ảnh: THÚY HẰNG
    Khu du lịch “ông Hoàng”
    Khu du lịch cù lao Thới Sơn từng được xem là một trong những địa điểm hái ra tiền của Công ty CPDLTG nhưng hiện nơi đây đang trở thành đại công trường với ngổn ngang vật liệu.

    Hầu hết nhân viên phục vụ ở đây cũng như những người dân xung quanh đều không còn nhắc tên “cù lao Thới Sơn” như trước đây mà gọi bằng cái tên mới: Khu du lịch “ông Hoàng”.

    Tìm hiểu thì được biết ông Hoàng Kiều, Chủ tịch HĐQT Công ty CPDLTG, đã mua hết đất công của khu du lịch trước đây (khoảng 1,8 ha) cũng như mua thêm hơn một chục hecta đất ruộng, vườn của các hộ dân xung quanh để xây dựng khu du lịch mới.

    Ngoài khu du lịch cù lao Thới Sơn, sau khi Công ty CPDLTG rơi vào tay tư nhân, có lẽ “ôm” quá nhiều đất nên “đại gia” đã để nhiều khu đất hàng chục tỉ đồng… phơi nắng. Nhà hàng Quê Hương (đường Lãnh Binh Cẩn, phường 1, TP Mỹ Tho) đang ăn nên làm ra nay đóng cửa bỏ hoang.

    Chỉ riêng nhà hàng này giới doanh nghiệp cho biết họ ước ao được thuê với giá 50 triệu đồng/tháng nhưng cũng không được. Ít lâu sau, nhà hàng Cửu Long, một trong những nhà hàng lớn nhất nằm ở vị trí tuyệt đẹp dọc Công viên Lạc Hồng, cũng bị… đập bỏ.

    Đây là nhà hàng khi còn của Nhà nước được chọn làm nơi đón tiếp khách của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và nhiều ban ngành của tỉnh.

    Theo nhiều người “hiểu chuyện”, đó là “chiêu” của doanh nghiệp: Sau một thời gian nếu công ty hoạt động không hiệu quả thì sẽ mang bán lại cho người khác kiếm lời!?

    Ngoài các khu đất trên, hiện hầu hết các trụ sở của Công ty CPDLTG đều nằm ở vị trí “vàng”. Chỉ riêng nhà hàng Trung Lương đã có gần 3 công đất nằm ngay vị trí ngã ba Trung Lương được xem là nơi kinh doanh lý tưởng. Nhiều doanh nghiệp cho biết nếu khu vực này cho thuê họ sẵn sàng thuê với giá 100 triệu đồng/tháng.

    Còn khu nhà hàng Sông Tiền cũng có  diện tích cả ngàn mét vuông với hàng chục phòng ăn, karaoke tấp nập khách ra vào. Không cần kinh doanh, nếu có nhu cầu cho thuê sẽ có hàng chục doanh nghiệp nhảy vào với giá thuê vài trăm triệu đồng/tháng…
    Tất cả những khu đất “vàng” trên hiện đã được thâu tóm khiến nhiều cán bộ lão thành ở Tiền Giang bức xúc bởi việc công ty du lịch tỉnh được chuyển sang công ty cổ phần thực chất là bán cả khối lượng tài sản khổng lồ cho vài cá nhân chứ không còn quyền kiểm soát của Nhà nước.

    Tại kỳ họp HĐND tỉnh Tiền Giang mới đây, ông Huỳnh Đức Minh, Bí thư Thành ủy TP Mỹ Tho kiêm Chủ tịch HĐND TP, đã chất vấn có hay không việc bán Công ty CPDLTG cho ông Hoàng Kiều với giá chỉ hơn 7,5 tỉ đồng? Thế nhưng thắc mắc này vẫn chưa được lãnh đạo tỉnh giải đáp.
    Chiêu “hóa kiếp” phần vốn Nhà nước

    Làm việc với Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Tiền Giang vào ngày 10–5, chúng tôi đã phần nào hiểu rõ được chiêu chức “hóa kiếp” phần vốn Nhà nước tại Công ty CPDLTG.

    Năm 2005, sau khi doanh nghiệp được cổ phần hóa, lúc đó Nhà nước vẫn chiếm tỉ lệ 51% trên khoản vốn điều lệ là 7 tỉ đồng. Một năm sau, Công ty CPDLTG xin chủ trương bán đấu giá hết phần vốn còn lại của Nhà nước do doanh nghiệp này được xếp vào diện Nhà nước không cần nắm giữ quyền chi phối.

    Tuy nhiên, vào thời điểm này, UBND tỉnh chỉ cho phép bán bớt 21% cổ phần theo hình thức đấu giá công khai, ông Hoàng Kiều trúng đấu giá và mua hết 21% cổ phần này (tương đương 140.000 cổ phần).

    Đến tháng 6-2007, thực hiện chủ trương mới từ Chính phủ, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) yêu cầu tỉnh bàn giao 30% phần vốn Nhà nước còn lại của doanh nghiệp để cho đơn vị này quản lý.

    Sau đó, SCIC đưa phần vốn còn lại ra bán đấu giá thì kết quả không hề được gửi thông báo nên Sở Kế hoạch-Đầu tư cũng không nắm rõ ai trúng thầu ở lần đấu giá này với số tiền bao nhiêu… (!?).

    Rất bất ngờ, trong lần đăng ký điều chỉnh giấy phép kinh doanh mới, doanh nghiệp này có 3 cổ đông chính, gồm: ông Hoàng Kiều nắm giữ 30% cổ phần, ông Hoàng Sammy Hùng (là một người khác, không phải tên gọi khác của Hoàng Kiều như thông tin ban đầu) nắm giữ khoảng 30% và bà Đào Thị Lan Phương nắm giữ hơn 34%. Trong đó, ông Hoàng Kiều chính là chủ tịch HĐQT của công ty.

    Qua tìm hiểu của chúng tôi, ông Hoàng Kiều và Hoàng Sammy Hùng cùng đăng ký ở một địa chỉ bên Mỹ, còn ông Hoàng Sammy Hùng và bà Đào Thị Lan Phương có cùng địa chỉ đăng ký chỗ ở tại quận 1-TPHCM.

    “Rõ ràng, giữa những người này có một mối quan hệ với nhau và đây là một công ty cổ phần “gia đình”… ”- vị cán bộ Sở Kế hoạch-Đầu tư khẳng định.

    Tỉ phú… khất nợ

    Ngày 10-5, ông Nguyễn Văn Tư (ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, TP Mỹ Tho) cho biết đã hợp đồng với luật sư để chuẩn bị khởi kiện ông Hoàng Kiều, Chủ tịch HĐQT Công ty CPDLTG, ra tòa để yêu cầu tòa buộc ông này phải trả cho ông Tư số tiền gần 18 tỉ đồng.

    Theo ông Tư, vào tháng 6-2009, ông Hoàng Kiều và ông Trần Thanh Tiến, Tổng Giám đốc Công ty CPDLTG, hợp đồng với ông Tư để mua 2,3 ha đất gần khu du lịch Thới Sơn với số tiền 30 tỉ đồng (làm tròn số), tuy nhiên đến nay bên mua vẫn còn thiếu ông Tư 18 tỉ đồng mặc dù  thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho bên mua đã hoàn tất.
    Ông Nguyễn Phục Dũng, Chủ tịch UBND xã Thới Sơn, xác nhận việc ông Hoàng Kiều thiếu nợ ông Tư 18 tỉ đồng là đúng. Xã có mời ông Hoàng Kiều đến để giải quyết theo đơn của ông Tư nhưng ông Hoàng Kiều không đến.

    May 8, 2010

    Nexus Technologies đã “làm ăn” với những nơi nào và như thế nào tại Việt Nam?

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:58 pm
    Tags: ,


    Ngọc Trân, thông tín viên RFA
    2010-05-03

    Trước đây, chúng tôi đã trình bày về vụ một số thành viên của công ty Nexus Technologies ở Hoa Kỳ bị truy tố vì hối lộ tại Việt Nam và cũng đã lược thuật cáo trạng ngày 4 tháng 9 năm 2008 của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Mới đây, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ tiếp tục đưa ra một cáo trạng khác, thay thế cáo trạng năm 2008, theo đó, có nhiều dữ liệu và tình tiết mới. Thông tín viên Ngọc Trân trình bày thêm….

    Vì sao từ 5 tội thành 28 tội?

    Cáo trạng mới của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ về vụ án Nexus Technologies, ghi ngày 29 tháng 10 năm 2009, thay thế cáo trạng năm 2008.

    Vào thời điểm này, do một trong bốn người liên quan tới vụ án Nexus là ông Joseph Lukas đã nhận tội, nên chỉ còn ba bị cáo là ba anh em Nguyễn Quốc Nam, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Quốc An.

    Theo cáo trạng mới, cả ba bị cáo buộc vi phạm 28 tội, tăng 23 so với cáo trạng cũ. Trong đó có 1 tội do âm mưu vi phạm các đạo luật, 9 tội do vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài” (FCPA), 9 tội do vi phạm “Đạo luật Đi lại” (Travel Act) và 9 tội liên quan đến rửa tiền.

    Khác với luật hình sự Việt Nam (mỗi hành vi chỉ bị truy tố một tội), tại Hoa Kỳ, một hành vi có thể bị cáo buộc vi phạm nhiều tội. Chẳng hạn như, dù chỉ chuyển khoảng 22.000 đô la cho một quan chức Việt Nam vào ngày 23 tháng 5 năm 2005, hai bị cáo Nguyễn Quốc Nam và Nguyễn Kim Anh bị buộc ba tội: tội vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài”, tội vi phạm “Đạo luật Đi lại” và tội rửa tiền.

    Theo cáo trạng mới, dù chỉ chuyển tiền cho các quan chức nước ngoài 9 lần nhưng các bị cáo bị buộc 27 tội, do vi phạm các điều khoản khác nhau của Bộ luật Hoa Kỳ (USC).

    Để thính giả dễ hiểu, có lẽ phải nhắc qua về “Đạo luật Đi lại”. Đây là đạo luật cấm đi lại trong nước hoặc nước ngoài, hoặc sử dụng email, điện thoại hay các phương tiện khác nhằm thực hiện hoạt động bất hợp pháp. Dù có tên là “Đạo luật Đi lại” nhưng các bị cáo không nhất thiết phải “đi lại”, vẫn có thể bị cáo buộc vi phạm đạo luật này khi sử dụng các phương tiện viễn liên như: điện thoại, fax, email để thực hiện các hoạt động phi pháp.

    Do vậy, dù hai bị cáo Nguyễn Quốc Nam và Nguyễn Kim Anh chỉ ngồi tại công ty để thực hiện hành vi chuyển tiền vẫn bị cáo buộc vi phạm “Đạo luật Đi lại”.

    “Nexus” làm ăn với ai?

    Ngoài các doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương), Bộ Công an đã được nêu tên trong cáo trạng cũ, trong cáo trạng mới, có thêm Công ty Bay Dịch vụ Miền Nam, thuộc Tổng Công ty Bay Dịch vụ Việt Nam.

    Theo cáo trạng mới, Công ty Bay Dịch vụ Miền Nam (SSFC: Southern Services Flight Company) là một doanh nghiệp quân đội hoạt động trong lĩnh vực hàng không, địa bàn hoạt động chính là Sân bay Vũng Tàu. Cũng vì vậy, nó liên quan cả đến Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.

    Cáo trạng mới còn có sự thay đổi về tên của một doanh nghiệp. Cáo trạng cũ đề cập đến sự dính líu của Công ty Du lịch và Thương Mại T&T (tên tiếng Anh là Tourism and Trading Company), trong cáo trạng mới, T&T là Công ty TNHH T&T (Tên tiếng Anh: T&T Co. Ltd.), gọi tắt là T&T. Theo cáo trạng mới, T&T là doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động liên quan đến an ninh biên giới và mua sắm vũ khí của Bộ Công an Việt Nam.
    Cáo trạng mới cũng đề cập cả đến việc Quân đội Nhân dân Việt Nam mua sắm vũ khí từ Nexus.

    Một số cá nhân và công ty khác cũng đã xuất hiện trong cáo trạng mới. Chẳng hạn như một quan chức Việt Nam làm việc tại công ty T&T, được gọi là “Quan chức A”.

    Hoặc một công ty toạ lạc tại Hongkong, do một người Việt làm chủ, được đại bồi thẩm đoàn đặt tên là “HKC 1”. Người Việt đó đã được đại bồi thẩm đoàn nhận diện và gọi là “VN 1”.

    “VN 1” được xác định là cư dân TP.HCM và công ty “HKC 1” do “VN 1” làm chủ đã được Nexus sử dụng như một “vỏ bọc”, giúp thanh toán tiền hối lộ cho các quan chức Việt Nam.

    Một công ty khác được đại bồi thẩm đoàn đặt tên là “HKC 2”. “HKC 2” cũng toạ lạc tại Hồng Kông, cũng do một người Việt Nam làm chủ và người này được đại bồi thẩm đoàn đặt tên là “VN 2”. “VN 2” cũng là cư dân TP.HCM và “HKC 2” là một “vỏ bọc” khác trong chuyện thanh toán tiền hối lộ để giành hợp đồng.

    Nexus “làm ăn” thế nào?

    Theo cáo trạng mới, sở dĩ ông Nguyễn Quốc Nam giành được các hợp đồng béo bở cho Nexus từ các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là vì ông ta đồng ý trả tiền hối lộ, thường được mô tả là “hoa hồng”, cho những cá nhân làm việc ở các cơ quan và những công ty đó.

    Cả bốn người trong công ty Nexus liên quan đến vụ án này đều đã thiết lập nhiều mối quan hệ với các quan chức chính phủ Việt Nam, được cáo trạng mô tả là “những người ủng hộ”. “Những người ủng hộ” giúp Nexus có được các hợp đồng bằng cách cung cấp thông tin thuộc loại bị cấm tiết lộ, lừa đảo trong đấu thầu và các hình thức hỗ trợ khác.

    Đổi lại, Nexus trả “hoa hồng” cho họ bằng cách chuyển tiền cho công ty HKC 1 ở Hongkong, để HKC 1 tiếp tục chuyển số tiền ấy cho “những người ủng hộ”.

    Cũng theo cáo trạng, đôi khi công ty HKC 2 chuyển tiền cho HKC 1, để HKC 1 chuyển vào tài khoản của các quan chức Việt Nam.

    Để tránh bị giới hữu trách Hoa Kỳ phát hiện, bốn bị cáo đã gian lận sổ sách nhằm che giấu việc chuyển tiền giữa Nexus, công ty HKC 1, HKC 2 vào các tài khoản của các quan chức ở Việt Nam.

    Đó là những điểm chính trong cáo trạng mới về vụ Nexus. Lần tới chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết về quan hệ của Nexus với một số doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

    Những ai ở Công ty Bay Dịch vụ miền Nam đã nhận 96.000 đô la?

    Công ty Bay Dịch vụ miền Nam chỉ mới xuất hiện trong vụ Nexus sau khi Bộ Tư pháp Hoa Kỳ lập cáo trạng mới.

    Đây là một doanh nghiệp quân đội hoạt động trong lĩnh vực hàng không, địa bàn hoạt động chính là Sân bay Vũng Tàu. Cũng vì vậy nó liên quan cả đến Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.

    Trước đây, cáo trạng mà Bộ Tư pháp Hoa Kỳ lập năm 2008 chỉ đề cập đến giao dịch giữa Nexus với Sân bay Vũng Tàu, song cáo trạng mới có một số giao dịch đã xác định lại đối tượng của Nexus là Công ty Bay Dịch vụ miền Nam.

    Theo cáo trạng, mùa hè năm 2005, ông Nguyễn Quốc Nam gửi cho cô Nguyễn Kim Anh một email, đề cập đến một hợp đồng với Công ty Bay Dịch vụ miền Nam. Trong đó, ông Nam yêu cầu cô Kim Anh chuyển khoản tiền trị giá 10% của hợp đồng này đến công ty HKC 1, để HKC 1 trả tiền hối lộ cho các quan chức liên quan đến hợp đồng đó, với số tiền khoảng $19.000 đô la.

    Ngày 26 tháng 4 năm 2006, ông Nam gửi một email khác thông báo cho cô Kim Anh rằng, một quan chức ở Công ty Bay Dịch vụ Miền Nam muốn Nexus thanh toán khoản tiền hối lộ liên quan đến  hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu.

    Sau đó, ông Nam có một email khác, ra lệnh cho cô Kim Anh chuyển tiền vào HKC 1 và ngày 23 tháng 5 năm 2006, cô Kim Anh đã chuyển khoảng $63.000 đô la vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong. Đến ngày 5 tháng 6, HKC 1 đã chuyển số tiền này vào một tài khoản được cáo trạng chuyển sang tình trạng ẩn danh là “VN 1” tại Việt Nam, để thanh toán cho quan chức đó.

    Hồi giữa tháng 11 năm 2006, ông Nam gửi email cho cô Kim Anh. Email viết: “Chúng ta cần HKC 1 lập các các hoá đơn liên quan đến tất cả những lần chuyển tiền để chúng ta ghi đúng các giao dịch này trong sổ sách. Đừng lo về ngày tháng và mô tả chi tiết bởi vì tôi bịa ra chúng“.

    Trong số các hoá đơn Nexus yêu cầu HKC 1 lập, có một hóa đơn với số tiền khoảng 63.000 đô la.

    Hoặc cuối tháng 12 năm 2006, ông Nam gửi email ra lệnh cho cô Kim Anh chuyển 14.200 đô la cho HKC 1 để thanh toán khoản hối lộ lần 2 cho một quan chức ở Công ty Bay Dịch vụ miền Nam  vì đã “hỗ trợ” Nexus trong hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu. Số tiền này đã được cô Kim Anh chuyển trong cùng ngày từ tài khoản của Nexus vào tài khoản của HKC 1 ở Hongkong và HKC 1 đã chuyển để thanh toán cho quan chức mà người ta đang chờ xác định là ai.

    Theo cáo trạng mới, Nexus đã có 3 lần chuyển tiền cho quan chức của Công ty Bay Dịch vụ Miền Nam với tổng số tiền khoảng 96.000 đô la.

    Một số giao dịch còn lại đối với Trung tâm Quản lý Bay miền Nam và Sân bay Vũng Tàu trong cáo trạng này vẫn không thay đổi.

    Những ai ở Công ty T&T đã nhận 76.000 đô la?

    Một đối tác khác đã nhận hối lộ để “hỗ trợ” Nexus là Công ty TNHH T&T (T&T Co. Ltd.).

    Theo cáo trạng, T&T là một doanh nghiệp thuộc Bộ Công an, chuyên tham gia vào các hoạt động liên quan đến an ninh biên giới và mua sắm vũ khí cho bộ này.

    Vào ngày 10 tháng 5 năm 2005, ông Nam gửi cho cô Kim Anh một email giới thiệu T&T là công ty thuộc chính phủ Việt Nam chuyên mua vũ khí và các thiết bị an toàn.

    Ngày 23 tháng 5 năm 2005, Nexus đã chuyển số tiền khoảng 22.325 đô la vào tài khoản của HKC 1 ở Hongkong

    Một tuần sau, ông Nam gửi email cho nhân vật – mà cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chuyển vào tình trạng ẩn danh, rồi đặt tên là  “Quan chức A” thuộc công ty T&T – thông báo rằng, Nexus đã chuyển số tiền đó cho HKC 1 và HKC 1 sẽ chuyển chúng vào tài khoản của quan chức này. Sau khi trừ các chi phí dịch vụ, “Quan chức A” sẽ nhận được $21.872 đô la.

    Cùng ngày, HKC 1 đã chuyển đúng khoản tiền ấy vào tài khoản của “Quan chức A”, được mở tại Ngân hàng Thương mại Á châu ở Việt Nam. Trên hướng dẫn chuyển khoản, phần mô tả được ghi là “quà cáp”.

    Vào ngày 9 tháng 6 năm 2005, một giao dịch tương tự đã được thực hiện: Nexus chuyển $29.987 đô la từ tài khoản của Nexus vào tài khoản của HKC 1 tại Hong Kong. Hai tuần sau, HKC 1 chuyển khoản tiền này vào tài khoản của “Quan chức A”, được mở tại Ngân hàng Thương mại Á châu ở Việt Nam. Khoản tiền đó cũng được ghi là “quà cáp” trên hướng dẫn chuyển khoản.

    Đầu tháng 8 năm 2005, Nexus chuyển  tiếp 15.653 đô la vào tài khoản của công ty HKC 1 tại Hong Kong. Giữa tháng 8 năm 2005, HKC 1 chuyển khoản này sang tài khoản của “Quan chức A”.

    Giữa tháng 11 năm 2006, ông Nam gửi một email cho cô Kim Anh, cho biết, ông cần các hoá đơn từ HKC 1, trong email ông trấn an: “Đừng lo lắng về ngày tháng và mô tả bởi vì tôi đã bịa ra chúng“. Trong các hoá đơn ông Nam yêu cầu, có hóa đơn chuyển số tiền gần 8.000 đô la cho công ty T&T.

    Ngày 25 tháng 11 năm 2006, HKC 1 gửi email cho ông Nam, yêu cầu xác nhận lại khoản tiền cần chuyển cho “Quan chức A”, trong cùng ngày, ông Nam trả lời email này, xác nhận rằng, số tiền 7.790 đô la phải được chuyển cho Công ty T&T.  Trong cùng ngày, Nexus đã chuyển đúng số tiền vừa kể từ tài khoản của mình vào tài khoản của HKC 1 ở Hongkong để thanh toán cho “Quan chức A”.

    Ít nhất, Nexus đã chuyển cho “Quan chức A” của công ty T&T khoảng 76.000 đô la qua bốn lần chuyển tiền.

    Ngoài Công ty Bay Dịch vụ miền Nam và Công ty T&T, Nexus còn có những đối tác nào tại Việt Nam? Đó sẽ là nội dung bài kỳ tới, mời quý vị đón xem.

    Vietsovpetro đã dàn dựng gì?

    Vietsovpetro là một liên doanh giữa Việt Nam và Liên bang Nga để thăm dò, khai thác dầu khí tại biển Đông.

    Theo cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, ngày 11 tháng 12 năm 2000, ông Joseph Lukas gửi email cho ông Nguyễn Quốc Nam, yêu cầu cho biết chính xác khoản hối lộ cần trả cho Vietsovpetro để ông Lukas làm sổ sách.

    Hai ngày sau, ông Nam gửi cho ông Lukas một email. Email viết: “Hôm nay, tôi đã cố gắng để kiếm hợp đồng từ vài người thuộc bộ phận kỹ thuật của Vietsovpetro. Với khoản tiền hoa hồng 15%, chúng ta đã được hứa sẽ là nhà cung cấp”.

    Trong một email khác mà ông Nam gửi ông Lukas hồi giữa tháng 4 năm 2002, ông Nam viết: “Chúng ta cần phải lo các khoản hoa hồng cho… ở Vietsovpetro. Tôi muốn chắc chắn là tất cả mọi người ở đây hài lòng. Điều đó sẽ tốt cho tình hình tài chính của chúng ta”.

    Khoảng đầu tháng tháng 5 năm 2003, Vietsovpetro ký hợp đồng với ông Lukas, mua hệ thống máy nâng thủy lực, trị giá khoảng 500.000 đô la.

    Ngày 27 tháng 2 năm 2004, ông Nam gửi email cho một nhân viên Nexus, trao đổi về thỏa thuận liên quan đến “Tường lửa GenPac”. Email này cho biết, Nexus vẫn còn nợ một quan chức Vietsovpetro khoản hối lộ là 43.340 đô la. Do đó, ông Nam yêu cầu nhân viên đó chuyển khoản tiền tương đương từ tài khoản HKC 2 vào tài khoản HKC 1. Trong cùng ngày, ông Nam gửi email cho HKC 1, cho biết tiền sẽ đến và hướng dẫn cần chuyển tiền cho ai.

    Ngày 04 tháng 3 năm 2004, khoản tiền 43.306 đô la đã được HKC 2 chuyển vào tài khoản của HKC 1.

    Ngày 10 tháng 3 năm 2004, ông Nam gửi email cho nhân vật điều hành HKC 1 – đối tượng đã được cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chuyển vào tình trạng ẩn danh với tên “VN 1”, yêu cầu “VN 1” phải làm xong hóa đơn.

    “VN 1” gửi email hỏi ông Nam cần ghi gì vào hóa đơn đó. Sau đó, HKC 1 xuất ra một hóa đơn cho Nexus, thời hạn xuất hoá đơn được kéo lùi lại một tháng.

    Đến giữa tháng 3 năm 2004, HKC 1 chuyển 42.440 đô la vào tài khoản của quan chức Vietsovpetro, mở tại Ngân hàng Thương mại Á Châu ở Việt Nam.

    Khoảng giữa tháng 1 năm 2006, ông Nam gửi email cho nhiều nhân viên của Nexus, thông báo về việc chuẩn bị ký một hợp đồng cung cấp cho Vietsovpetro máy phun làm sạch bề mặt thiết bị. Theo email này, người của Vietsovpetro từ chối thảo luận về khoản tiền hối lộ qua email và yêu cầu trao đổi qua điện thoại Internet.

    Giữa tháng 3 năm 2006, ông Nam gửi email cho cô Kim Anh, thông báo rằng ông ta đã thực hiện thành công hành vi gian lận trong đấu thầu để thắng hợp đồng mua bán máy vừa kể: Vietsovpetro đã trợ giúp ông Nam bằng cách sắp xếp cho hai công ty khác chào giá cao hơn, nên Nexus được chọn.

    Ngày 26 tháng 10 năm 2006, ông Nam gửi một email khác cho cô Kim Anh, thông báo về một hợp đồng khác với Vietsovpetro. Email viết: “Vietsovpetro bảo rằng, chúng ta đã được thanh toán cho hợp đồng này rồi. Làm ơn xác nhận để có thể chi trả tiền hoa hồng”.

    Vào ngày 17 tháng 9 năm 2007, ông Nam gửi email cho một nhân viên của Nexus ở Việt Nam, thảo luận về số tiền hối lộ đang nợ các quan chức thuộc nhiều công ty khác nhau, trong đó có Vietsovpetro.

    Petro Gas Việt Nam cũng không kém

    Trong cáo trạng mới, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ còn đề cập đến hoạt động đưa – nhận hối lộ giữa Nexus và Công ty Petro Gas Việt Nam.

    Ngày 17 tháng 10 năm 2000, ông Joseph Lukas gửi email cho ông Nam để bàn về “hoa hồng” cho “người ủng hộ” ở Petro Gas Việt Nam, kèm tuyên bố: “Tốt! Làm đi! Có thư tín dụng xác nhận chúng ta không thể mất”.

    Một năm sau, qua một email khác, ông Lukas thông báo với ông Nam rằng, khoản tiền mà Petro Gas Việt Nam thanh toán thấp hơn dự kiến. Sở dĩ có sự sai biệt đó là vì phải trả tiền hối lộ cho quan chức của Petro Gas Vietnam.

    Cáo trạng mới của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ không cho biết, hai email này liên quan tới hợp đồng nào giữa Nexus và Petro Gas Việt Nam.

    Khoảng đầu tháng 8 năm 2004, một nhân viên của Nexus gửi email cho ông Nam, yêu cầu xem lại cách anh ta tính tiền trả cho Petro Gas Việt Nam trong một hợp đồng mua bán phụ tùng. Ông Nam đã chuyển email này cho cô Nguyễn Kim Anh, yêu cầu cô xem lại để chuyển số tiền khoảng 10.000 đô la.

    Ngày 13 tháng 8, cô Kim Anh gửi email hỏi ông Nam xem số tiền phải trả cho Petro Gas Việt Nam có cần phải chuyển qua công ty HKC 1 hay không. Ông Nam hồi đáp với chú thích “khẩn cấp”, chỉ đạo cho cô chuyển tiền ngay, để đổi lấy sự hỗ trợ của một quan chức có liên quan đến một hợp đồng sẽ ký hôm đó. Ba ngày sau, khoản tiền này được chuyển về Việt Nam.

    Vào ngày 20 tháng 10 năm 2006, Nexus còn chuyển 21.597 đô la cho HKC 1 để thanh toán tiền hối lộ cho một quan chức của Petro Gas Việt Nam trong một hợp đồng khác. Liên quan đến hợp đồng này, giữa tháng 11 năm 2006, ông Nam gửi email cho cô Nguyễn Kim Anh báo rằng, ông cần các hóa đơn từ HKC 1. Ông tiếp tục viết: “Đừng lo lắng về ngày tháng và mô tả chi tiết bởi vì tôi bịa ra chúng“. Trong số các hoá đơn mà ông yêu cầu, có một hóa đơn với số tiền 21.597 đô la. Ngày 11 tháng 5 năm 2007, cô Kim Anh yêu cầu  ông Nam xác nhận việc “giải quyết” số tiền 21.841 đô la, liên quan tới hợp đồng “Carrier” với Petro Gas Việt Nam.

    Vào ngày 28 tháng 5 năm 2007, ông Nam nhận được email từ Việt Nam, cho biết Nexus nợ 22.403 đô la do liên quan tới việc bán  máy lạnh cho Petro Gas Việt Nam. Ngày 13 tháng 6 năm 2007, cô Kim Anh chuyển 22.403 đô la vào tài khoản HKC 1 tại Hong Kong, để chuyển về Việt Nam thanh toán cho quan chức của Petro Gas Việt Nam.

    Ngày 5 tháng 7 năm 2007, HKC 1 chuyển số tiền khoảng $22,000 vào tài khoản của nhân vật đứng đầu HKC 2 đã được Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chuyển qua tình trạng ẩn danh là “VN 2”, sống tại TP.HCM. Hai hôm sau, “VN 2” gửi email cho ông Nam, thông báo đã nhận được tiền nhưng thiếu 441 đô la. Ông Nam trả lời “VN 2” rằng, khoản thiếu hụt là chi phí chuyển tiền.

    Vụ Nexus chắc chắn chưa ngừng ở đây. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và tường trình khi có thông tin mới.

    Các quan chức nào đã nhận hối lộ từ Nexus?

    Ngọc Trân, thông tín viên RFA
    2010-04-01

    Thời gian qua, dư luận xôn xao về các vụ án ở nước ngoài có liên quan đến việc hối lộ các quan chức chính phủ Việt Nam. Ngoài vụ PCI, vụ tiền Polymer, dư luận còn quan tâm đến việc công ty Nexus Technologies đã hối lộ các quan chức, thuộc các công ty chính phủ Việt Nam.

    Vì sao Nexus Technologies và các nhân viên của công ty này bị truy tố? Bản cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ nói gì về vấn đề này? Các quan chức thuộc công ty chính phủ nào ở Việt Nam đã nhận hối lộ trong vụ án này? Mời quý vị cùng Ngọc Trân tìm hiểu thêm chi tiết.

    Nexus Technologies Inc.

    Theo tin từ trang web của công ty, Nexus Technologies Inc., do ông Nguyễn Quốc Nam thành lập vào năm 1989. Công ty có trụ sở chính ở Hoa Kỳ với các văn phòng ở các tiểu bang như Delaware, New Jersey, Philadelphia và có ít nhất một văn phòng tại Việt Nam.

    Nexus là công ty về xuất khẩu, chuyên cung cấp trang thiết bị và dịch vụ cho các ngành công nghệ kỹ thuật cao như: công nghiệp dầu khí, công nghiệp sản xuất và truyền tải điện năng, công nghiệp hàng không và hàng hải…

    Công ty chuyên mua các thiết bị, máy móc từ các nhà sản xuất lớn ở Hoa Kỳ và các nước khác để xuất sang Việt Nam cho khách hàng của họ, trong đó có các công ty chính phủ trực thuộc Bộ Công nghiệp (tức Bộ Công thương), Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Công an.

    Nexus từng là một trong những nhà cung cấp hàng đầu các thiết bị và dịch vụ công nghệ của Mỹ ở Việt Nam. Theo tin từ báo Việt Nam Net, năm 2007, Nexus là một trong năm công ty nhận được “Giải thưởng Thành tựu về Thương mại” của Bộ Thương mại Hoa Kỳ. Giải thưởng này nhằm vinh danh các công ty đóng góp vào hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ vào Việt Nam.

    Bị buộc tội

    Thế nhưng, tháng 9 năm 2008, Nexus cùng với 4 người trong công ty đã bị Bộ Tư pháp Hoa Kỳ truy tố về tội vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng ở Nước ngoài” (FCPA). Theo đạo luật này, bất kỳ người nào làm việc cho một công ty của chính phủ nước ngoài, đều được xem là quan chức nước ngoài. Và bất kỳ một cá nhân hay tổ chức có hành động chi trả tiền bạc, hoặc quà cáp có giá trị cho một quan chức nước ngoài, để được giúp đỡ, nhằm có được lợi thế trong việc kinh doanh, đều bị xem là bất hợp pháp.

    Nghĩa là, mặc dù hành vi đưa hối lộ được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ và người nhận hối lộ không phải là các viên chức Hoa Kỳ, đều bị coi là vi phạm đạo luật này.Một trong những người của công ty Nexus bị truy tố là ông Joseph Lukas, mang quốc tịch Hoa Kỳ, năm nay 61 tuổi và là người có phần hùn trong công ty cho đến tháng 10 năm 2005. Ông Lukas đã từng giữ chức giám đốc điều hành của công ty ở New Jersey.

    Ba người còn lại là người Mỹ gốc Việt, có quan hệ anh, chị, em. Ông Nguyễn Quốc Nam, 54 tuổi là chủ tịch công ty; cô Nguyễn Kim Anh, 41 tuổi là phó chủ tịch và ông Nguyễn Quốc An, 34 tuổi là nhân viên công ty.

    Cả bốn người đều bị bắt giam hồi tháng 9 năm 2008 sau khi bị một đại bồi thẩm đoàn truy tố 5 tội danh khác nhau, trong đó có tội âm mưu hối lộ viên chức chính phủ nước ngoài, vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài” của Hoa Kỳ.Theo bản cáo trạng ngày 4 tháng 9 năm 2008 của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ thì, trong thời gian 9 năm, từ năm 1999 đến năm 2008, các nghi can của công ty đã âm mưu hối lộ ít nhất khoảng $150.000 đô la cho nhiều quan chức, đang làm việc cho các công ty chính phủ Việt Nam, các công ty này trực thuộc các bộ như: Bộ Công an, Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Công nghiệp (sau là Bộ Công thương) nhằm có được các hợp đồng làm ăn với các công ty này. Cũng theo bản cáo trạng nêu trên, Nexus đã mua nhiều loại trang thiết bị và công nghệ kỹ thuật khác nhau như: máy lập bản đồ dưới nước, thiết bị tháo gỡ bom mìn, phụ tùng máy bay trực thăng, máy dò tìm hóa chất, các bộ phận vệ tinh viễn thông và hệ thống kiểm soát không lưu…để xuất sang Việt Nam, cho khách hàng của Nexus là những công ty thuộc các cơ quan nhà nước.

    Hối lộ nhiều viên chức Việt Nam

    Cuối tháng 6 năm ngoái, một trong những nghi can của Nexus là ông Lukas đã nhận tội vi phạm “Đạo luật Chống tham nhũng Nước ngoài”. Ông Lukas đã khai nhận rằng từ năm 1999 đến năm 2005, ông và các nhân viên khác của công ty đã đưa hối lộ cho nhiều viên chức Việt Nam để đổi lấy hợp đồng cung cấp trang thiết bị công nghệ với các công ty chính phủ. Các khoản tiền hối lộ đó đã được ghi sai lệch trong sổ sách của công ty là “tiền hoa hồng” cho các hợp đồng này.

    Theo tin từ Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đưa ra hôm thứ ba tuần trước, ba người còn lại cũng đã nhận tội. Cô Nguyễn Kim Anh đã nhận tội vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài” và tội rửa tiền. Riêng hai ông Nguyễn Quốc Nam và Nguyễn Quốc An, ngoài việc nhận tội rửa tiền và vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài”, họ còn nhận tội vi phạm “Đạo luật Đi lại” (Travel Act), một đạo luật cấm đi lại trong nước hoặc nước ngoài, sử dụng email hoặc các phương tiện để thực hiện các hoạt động bất hợp pháp.

    Trong lời nhận tội, những người này thừa nhận rằng từ năm 1999 đến năm 2008, họ đã đồng ý trả tiền hối lộ cho các quan chức chính phủ Việt Nam, với tổng số tiền là $250.000 đô la, để đổi lấy các hợp đồng từ các công ty mà những quan chức này đang làm việc. Số tiền mà họ nhận đã đưa hối lộ lần này nhiều hơn bản cáo trạng đưa ra năm 2008 là $100.000 đô la.

    Các nghi can trong vụ án này cũng thừa nhận rằng hoạt động của Nexus là bất hợp pháp và đồng ý chấm dứt các hoạt động công ty, như là một điều kiện trong việc thú nhận tội.

    Theo hồ sơ tòa án thì ông Nam là người phụ trách đàm phán các hợp đồng làm ăn giữa công ty với các quan chức chính phủ trong nước, cũng chính là người đóng vai trò quan trọng trong việc đưa hối lộ. Ông Nam đã nhiều lần chỉ thị cho nhân viên của mình chuyển tiền hối lộ cho các quan chức chính phủ Việt Nam.

    Trong khi đó, cô Kim Anh phụ trách các hoạt động tài chính của công ty và là người đã nhiều lần chuyển tiền hối lộ cho người thụ hưởng là các quan chức ở Việt Nam theo lệnh của ông Nam. Và ông Nguyễn Quốc An phụ trách việc đàm phán với các nhà cung cấp hàng hóa ở Hoa Kỳ.

    Với các tình tiết phạm tội này, Nexus có thể bị phạt số tiền lên tới $27 triệu đô la. Hai anh em ông Nguyễn Quốc Nam và Nguyễn Quốc An đang phải đối mặt với mức án tối đa là 35 năm tù giam, và cô Nguyễn Kim Anh có thể bị phạt mức án 30 năm tù nếu bồi thẩm đoàn tìm thấy có tội. Phiên tòa dự kiến sẽ tuyên án vào ngày 13 tháng 7 năm nay.

    Riêng lời thú tội của ông Lukas hồi tháng 9 năm ngoái vẫn không thay đổi và ông Lukas có thể bị mức án tối đa là 10 năm tù.

    Trên đây là diễn biến vụ án công ty Nexus và các nhân viên bị chính phủ Hoa Kỳ cáo buộc vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài”và “Đạo luật Đi lại”.

    Để biết thêm chi tiết về vụ án này, chẳng hạn như nhân viên của các công ty chính phủ nào ở Việt Nam đã nhận hối lộ từ Nexus, bao nhiêu lần chuyển tiền hối lộ và số tiền đã được chuyển vào ngân hàng nào, mời quý vị đón xem chúng tôi tóm tắt bản cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ trong bài kế tiếp.

    ♦ ♦ ♦

    Để biết thêm chi tiết những quan chức của các công ty chính phủ nào ở Việt Nam đã nhận hối lộ từ Nexus, và việc đưa nhận hối lộ được tiến hành ra sao, Ngọc Trân tóm lược bản cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ.

    Theo bản cáo trạng ngày 4 tháng 9 năm 2008 của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, có 5 công ty của chính phủ Việt Nam, trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công nghiệp (tức Bộ Công thương) và Bộ Công an đã nhận hối lộ từ Nexus, trên danh nghĩa là “tiền hoa hồng”.

    Các email trao đổi trong nội bộ công ty Nexus cũng như giữa Nexus với các các công ty ở Việt Nam cho thấy, mối quan hệ giữa công ty này với các quan chức chính phủ Việt Nam, là mối quan hệ đưa và nhận hối lộ, nhằm giúp Nexus có được các thông tin bí mật cũng như giúp công ty này đấu thầu lừa đảo để thắng các hợp đồng làm ăn từ các công ty của chính phủ Việt Nam.

    Việc chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của Nexus vào các ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải cùng với các email trao đổi liên quan đến các phi vụ làm ăn giữa Nexus với các quan chức Việt Nam, là một trong những bằng chứng cho việc đưa và nhận hối lộ.

    Bộ Giao thông Vận tải

    Cũng theo bản cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, có hai công ty thuộc Bộ Giao thông Vận tải liên quan đến việc nhận hối lộ, đó là: Sân bay Vũng Tàu và Trung tâm Quản lý bay miền Nam.

    Theo hồ sơ vụ án, tháng 10 năm 2001, email trao đổi giữa ông Nguyễn Quốc Nam và ông Joseph Lukas về việc một quan chức ở Sân bay Vũng Tàu đã đòi tiền tiền hối lộ từ Nexus cho tất cả các thương vụ mua bán, mà họ gọi là “tiền hoa hồng”.

    Cuối năm 2004, Nexus đã ký hợp đồng với Sân bay Vũng Tàu để bán các thiết bị về hệ thống không lưu.

    Đến tháng 8 năm 2005, theo lệnh của ông Nguyễn Quốc Nam, cô Nguyễn Kim Anh đã chuyển gần $19.000 đô la, tức 10% trị giá của một hợp đồng mua bán, từ ngân hàng của Nexus ở Philadelphia vào Ngân hàng HKC, Hongkong, cho một quan chức ở Sân bay Vũng Tàu.

    Cũng theo lệnh của ông Nam, năm 2006, cô Kim Anh đã 2 lần chuyển tiền vào một ngân hàng ở Hongkong, với số tiền tổng cộng trên $77.000 đô la, cho một quan chức thuộc Sân bay Vũng Tàu, liên quan tới hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu.

    Riêng Trung tâm Quản lý bay miền Nam, năm 2004, đã đồng ý mua hàng của Nexus với điều kiện công ty này phải ghi giá bán trên hợp đồng, cao hơn nhiều so với giá trên thực tế, để quan chức của Trung tâm này hưởng khoản tiền chênh lệch đó. Trong email, ông Nam cũng đã xác nhận việc chuyển tiền hối lộ vào Ngân hàng Hongkong cho người thụ hưởng là một quan chức thuộc Trung tâm Quản lý bay miền Nam.

    Bộ Công Nghiệp

    Ngoài các công ty thuộc Bộ GTVT, còn có hai công ty thuộc Bộ Công nghiệp cũng là khách hàng đã từng nhận hối lộ của Nexus, đó là Liên doanh Vietsov Petro và Công ty Petro Gas Việt Nam.

    Qua email trao đổi giữa ông Nam và ông Lukas hồi cuối năm 2000, Vietsov Petro đã hứa chắc chắn sẽ ký hợp đồng với Nexus với điều kiện Nexus chi 15% tiền hối lộ, mà trong sổ sách ghi là “tiền hoa hồng”.

    Không biết tổng trị giá của tất cả các hợp đồng giữa Nexus với Vietsov Petro là bao nhiêu, thế nhưng có một hợp đồng đã được ký hồi tháng 5 năm 2003 trị giá nửa triệu đô la.

    Tháng 3 năm 2006, trong một email, ông Nam đã viết rằng nhờ sự giúp đỡ của Vietsov Petro giúp đấu thầu gian lận, bằng cách sắp xếp cho hai công ty khác chào giá cao hơn, giúp Nexus “thắng” hợp đồng làm ăn với công ty này. Trong một email của ông Nam hồi tháng 10 năm 2006, cũng có nhắc đến chuyện thanh toán một khoản tiền hối lộ cho Vietsov Petro, trong khi một email khác hồi tháng 9 năm 2007 có nhắc đến lời của một quan chức Vietsov Petro rằng: Mang tiền tới nhà tôi vào cuối ngày làm việc. Tái bút: Xin lưu ý các khoản chi trả tiền hoa hồng được ghi là thanh toán chi phí lắp đặt trong sổ sách kế toán của ông.

    Từ năm 2000 đến 2004, Nexus cũng đã nhiều lần làm ăn với Công ty Petro Gas Việt Nam và đã nhiều lần thực hiện việc chuyển tiền hối lộ cho các quan chức ở công ty này. Nội dung của một email hồi đầu năm 2003 cho thấy, quan chức của Petro Gas muốn Nexus thay đổi cách gọi số tiền hối lộ từ “tiền hoa hồng” thành “phí hợp đồng”.

    Và trong khi một email khác, ông Nam đã chỉ đạo cho cô Kim Anh chuyển gần $10.000 đô la vào Ngân hàng HKC Hongkong cho một quan chức ở Petro Gas để hối lộ cho một hợp đồng mua bán đồ phụ tùng với công ty này.

    Bộ Công an

    Ngoài các công ty kể trên, còn có một công ty trực thuộc Bộ Công an cũng đã nhận hối lộ từ Nexus, đó là công ty Du lịch và Thương mại KTV Việt Nam, liên quan đến hợp đồng mua bán thiết bị an toàn.

    Tháng 5 năm 2005, ông Nam đã chuyển số tiền hơn $22.000 đô la vào ngân hàng HKC Hongkong, để chuyển vào tài khoản của một quan chức ở công ty Du lịch và Thương mại KTV. Một tuần sau đó, ông Nam đã email báo với quan chức này rằng, tiền đã chuyển vào tài khoản của ông ta, sau khi trừ phí dịch vụ hơn $450 đô la.

    Như vậy, tổng số tiền 5 công ty thuộc Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thương và Bộ Công an đã nhận hối lộ từ công ty Nexus trong bản cáo trạng ngày 4 tháng 9 năm 2008 là $150.000 đô la. Thế nhưng tin tức mới nhất từ Bộ Tư pháp đưa ra giữa tháng này cho thấy, số tiền đưa hối lộ mà các bị cáo đã khai nhận là $250.000 đô la. Điều đó cho thấy, có nhiều dữ kiện mới về vụ án này mà chúng ta chưa đưa biết.

    Hơn nữa, một trong các mặt hàng mà Nexus đã bán cho các công ty chính phủ Việt Nam là “phụ tùng máy bay trực thăng”. Dư luận rất quan tâm đến chi tiết này, vì nhiều người cho rằng Việt Nam hiện đang sử dụng máy bay trực thăng do Nga sản xuất, vậy ai đã mua phụ tùng máy bay trực thăng của Hoa Kỳ và mua để làm gì? Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu thêm về vụ án này và sẽ trở lại cùng quý thính giả vào một dịp khác.

    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/what-vietnamese-officials-took-bribe-from-nexus-technologies-part-1%20-04012010071125.html

    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Which-vietnamese-officials-took-bribe-from-nexus-technologies-part-2-NTran-04072010131329.html

    March 17, 2010

    Nhiều người “run” nếu đụng đến chợ Trời!

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:39 pm
    Tags: , ,

    Chợ Trời nhức nhối là thế, nhưng chưa khi nào Hà Nội có một chiến dịch giải tỏa nó thực sự, ông Vũ Vinh Phú, chủ tịch Hiệp hội siêu thị, nguyên Phó Giám đốc Sở Thương mại Hà Nội nói.

    Chiều 16/3, ông Vũ Vinh Phú đã dành cuộc trao đổi thẳng thắn, bộc trực với TS về chợ Trời- một nỗi ‘đau” của ngành thương mại Hà Nội trong hàng chục năm qua.

    PV: Thưa ông, quận kêu khó giải tỏa vì… thiếu đất. Trong khi, chợ Trời thực sự là địa chỉ gây nhắc nhối ở thủ đô.

    Mô tả ảnh.
    Ông Vũ Vinh Phú, chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội (ảnh: Phạm Huyền)

    Ông cảm nhận thế nào về câu chuyện này?

    Tôi có 7 năm là Phó giám đốc thường trực Sở Thương mại Thành phố, Trưởng ban quản lý chống buôn lậu nhưng chưa bao giờ, thấy Sở hay thành phố có một chuyên đề về giải tỏa chợ Trời cả.

    Chợ Trời chỉ được nói sơ qua. Nhiều người bảo, ôi, nó phức tạp lắm, tạm thời, chưa động đến. Chưa bao giờ, các cấp thành phố đặt ý tưởng mạch lạc, khoa học, cụ thể và quyết tâm chính trị để xử lý chợ Trời đâu.

    Tôi đi họp nhiều lần ở Sở là tôi biết rõ. Họ rón rén, an phận thủ thường, động tới tổ ong bò vẽ là rụt lại. Một giáo sư nói là bây giờ làm thương mại, tiền tài thì nhiều, tình cảm ít lắm. Chính cái ung nhọt ở chợ Trời là bởi tình trạng ấy.

    Thậm chí, có lãnh đạo không muốn đụng chạm vào tổ ong bò vẽ. Còn nhớ, khi giải tỏa chợ Phùng Hưng, nhiều người còn… run. Người ta thường chỉ làm cái gì tròn trĩnh.

    Người ta cũng chỉ làm cái gì dễ thôi. Cái gì xương xẩu thì thôi, cứ từ từ.

    Chợ Trời là một điểm nhức nhối rất lâu rồi, mà nhiều đời Chủ tịch Thành phố cũng chưa giải quyết được. Trong chuyện này, tôi trách nhất là trách người đứng đầu quận, đứng đầu thành phố. Họ không chịu quan tâm đến câu chuyện này.

    Mô tả ảnh.
    Mua bán ở chợ Trời (ảnh: Phạm Huyền)

    PV: Nói như ông, cái khó nhất không phải là chuyện thực hiện, mà là vấn đề con người?

    Tôi cho là chợ Trời sẽ cứ tồn tại nghiễm nghiên, bởi có những người không muốn giải tỏa chợ Trời họ có lợi ích. Ngay cả việc tiêu thụ đồ ăn cắp, bán công khai ở lòng đường thì ai cũng hiểu mà cũng đâu có dẹp được.

    Trong việc này, vấn đề là nằm ở con người. Chợ Trời sẽ tồn tại nếu không có cán bộ dũng cảm, chính trực, đứng về phía dân. Phải có bàn tay sạch và bàn tay sắt.

    PV: Ông đánh giá thế nào trước việc ban đầu là tạm bợ và nay, đã 25 năm, người dân vẫn chính thức kinh doanh dưới lòng đường, hè phố?

    Theo tôi hiểu thì, những việc đó là phải “hoa hồng” cả đấy. Họ phải được bật đèn xanh cả.

    PV: Thưa ông, quận Hai Bà Trưng nói, chợ Trời đóng tiền thuế cao nhất trong các chợ toàn quận là 6 tỷ đồng, với 700 hộ kinh doanh. Ông có thể nói gì về con số này?

    Không có căn cứ gì để tính được con số ấy. Buôn bán ở chợ Trời thì không có chứng từ, không có sổ sách. Tôi cho rằng, Nhà nước thất thu thuế rất nhiều nhưng không làm được họ.

    Khi không có thanh toán kho, không nhập xuất rõ ràng thì không thể nói chuyên thuế ở đây được.. Tôi làm kế toán thương mại lâu năm, tôi hiểu hết . 6 tỷ đồng tiền thuế, còn xa mới tới sự thật.

    Phải biết “dụ” bà con đến nơi mới

    PV: Xưa nay, cứ đụng đến giải tỏa là… thường hay tắc. Vậy, ông có kinh nghiệm gì trong câu chuyện giải tỏa các loại chợ tạm lớn như vậy?

    Kinh nghiệm thành công trong giải tỏa thì ít, mà kinh nghiệm thất bại thì nhiều. Khi không chuẩn bị đầy đủ, công phu nên nhiều chương trình giải tỏa chợ ở Hà Nội đã thất bại. Điển hình, như giải tỏa hàng rong. Bây giờ, tình hình bán hàng rong còn tệ hơn.

    Mô tả ảnh.
    Ngõ 2, Thịnh Yên vốn rất rộng nhưng nhiều năm nay đã phải nhường đất cho các sạp vòng bi, đồ cơ khí (ảnh: Phạm Huyền)

    Nếu gọi là thành công, tôi cho rằng, việc di dời chợ xe máy Phùng Hưng có thể là một bài học thành công trong công tác giải tỏa chợ tạm.

    Hồi đó, chỉ mất đúng một ngày rưỡi là chúng tôi giải tỏa xong. Bởi lẽ, cơ sở hạ tầng ở chợ mới có đầy đủ khu dịch vụ kèm theo. Chính tôi, khi đó là Trưởng ban giải tỏa chợ, đã trực tiếp xin thành phố cho miễn các loại thuế, phí dịch vụ cho bà con đến kinh doanh trong vòng 1 năm. Với cái ưu đãi đó, bà con vui vẻ chuyển nhanh chóng.

    Nhìn lại câu chuyện này, tôi cho là, những người làm quản lý, phải biết trải chiếu hoa cho bà con dân chợ. Đôi khi, Nhà nước cần hi sinh khoản thu trước mắt để tạo điều kiện cho bà con di chuyển.

    PV: Ông đánh giá thế nào về độ khó của việc xử lý chợ Trời?

    Giải tỏa chợ Trời là khó nhưng không phải là không làm được. Trước tiên là cần quyết tâm đồng bộ ở tất cả các cấp. Đất để di chuyển chợ bây giờ là ở đâu? Đối tượng ra sao? Phải điều tra thống kê ra sao, về đối tượng kinh doanh trong chợ.

    Thậm chí, phải lấy ý kiến của người dân trong khu chợ. Và nhất là, phải có một ban chuyên trách về giải tỏa chợ Trời, do quận và Sở Công Thương chủ trì.

    Các sở ngành liên quan, thuế, sở địa chính phải tham gia vào, xem có thể có ưu đãi gì về thuế chẳng hạn. Nhà nước phải xây dựng cơ sở hạ tầng cho chợ mới và chợ mới thì phải thuận tiện cho người dân kinh doanh, chứ không phải ở mảnh đất đầu thừa đuôi thẹo.

    Tuy nhiên, nếu làm ngay bây giờ thì câu chuyện giải tỏa chợ Trời chắc cũng khó kịp dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội.

    Nếu làm rốt ráo ngay thì có thể, chỉ trong 2 năm là xong. Chợ Trời có thể có hồi kết vào năm 2011.

    February 27, 2010

    Tham nhũng đất đai: Do cơ chế giám sát chưa mạnh

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:38 pm
    Tags: , , , ,

    TT – Hàng loạt quan chức bị kỷ luật do vi phạm về đất đai, kèm theo đó là những vụ khiếu kiện kéo dài, theo TS Vương Quân Hoàng, Đại học Tổng hợp Brussels, Bỉ, phần lớn là do người ta vẫn bưng bít được thông tin và không nghĩ có thể bị phát hiện. Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Hoàng nói:

    TS Vương Quân Hoàng – Ảnh: X.LONG

    – Đất đai cần được nhận diện như một đối tượng của tham nhũng để có biện pháp phòng chống tương xứng. Ai được hỏi tính hợp lý của dự án? Ai được hỏi giá đất đền bù bao nhiêu là hợp lý, rồi việc thu hồi, mua bán có làm lợi cho quan chức nào? Khi từng thông tin trên phải được công bố, cơ chế giám sát rõ thì nguồn lực của nhà nước được bảo toàn và người dân cũng được lợi.

    * Thưa ông, hiện quyền phân, giao, cho thuê đất đều nằm trong tay các chủ tịch UBND tỉnh, huyện… Phải chăng đó là điều khiến những người có quyền lực rất dễ tham nhũng đất đai?

    Tiến sĩ Vương Quân Hoàng – nghiên cứu viên cấp cao của Trung tâm Emile Bernheim, Đại học Tổng hợp Brussels, Bỉ. Ông Hoàng nguyên là cán bộ Ngân hàng Thế giới tại VN từ 1996-2002; bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Brussels năm 2004 về đề tài thống kê kinh tế lượng về chuỗi thời gian tài chính. Hiện TS Hoàng đang tham gia nhiều chương trình, dự án nghiên cứu về kinh tế VN của Trung tâm Emile Bernheim.

    – Có nhiều loại quyền lực khác nhau, các ông chủ tịch có quyền lực hành chính, đó chỉ là một trong 12 quyền lực được định nghĩa, trong đó có quyền lực thông tin, quyền lực cưỡng chế, quyền can thiệp, quyền lực chuyên gia, quyền lực tiền bạc, quyền lực do quan hệ…

    Tất cả quyền lực trên đều có thể kiếm lợi bất chính từ đất đai. Ông chủ tịch có thể ký, một ông chuyên gia, với quyền góp ý, cũng có thể thu lợi lớn. Nguy hiểm nhất là các quyền lực trên cấu kết với nhau hòng trục lợi.

    Vấn đề là khi có những người hưởng lợi thì sẽ có người bị hại. Khi một khu đất từ giá vài trăm ngàn đồng/m2, sau khi chuyển từ tay người nông dân sang người khác bỗng tăng lên vài chục triệu đồng/m2 thì rõ ràng người dân chịu thiệt.

    * Sự không sòng phẳng với người dân đang là nguyên nhân chính khiến các quan chức dễ tham nhũng đất đai, như vậy quyền của người dân cần thay đổi?

    – Nếu người ta cố tình trục lợi thì thực tế các quan chức có thể tạo bất công ở mọi khâu liên quan đến đất đai. Một mặt, việc thu hồi đất đang mang vóc dáng thị trường là sẽ trả bằng tiền, nhưng mặt khác nó hoàn toàn mang tính chất hành chính, qua quyết định hành chính.

    Theo tôi, cần hiểu rõ và hiểu đúng hơn về quyền sở hữu của người dân. Đất đai là của Nhà nước nhưng khi đã trao quyền sử dụng cho một người, Nhà nước đã bắt đầu đấu giá đất theo giá thị trường thì khi thu hồi anh cũng phải có cơ chế thật sự thị trường. Nhưng thực tế hiện nay, chúng ta lại áp dụng hoàn toàn lối tư duy cũ, cách làm không thị trường khi thu hồi đất. Một người đến mua nhà của ông A, nếu cần quá thì phải tăng giá lên để mua được.

    Nhưng một quyết định thu hồi đất thì không phải làm như vậy. Nếu chính quyền cần mảnh đất của ông A để cung cấp một dịch vụ công nào đó, thì phải hiểu hàng triệu người đóng thuế phải chấp nhận bù cho ông A một khoản tương xứng để được cung cấp một dịch vụ công đang cần đất kia. Khi công bằng, áp dụng cơ chế thị trường cho mọi loại hình giao dịch đất đai thì quan chức hay ai đó có mua, nhà nước cũng thu được nguồn lợi tương tự.

    Đất do người dân khai phá ở An Nhơn, Châu Thành (Đồng Tháp) bị UBND huyện Châu Thành thu hồi giao cho cán bộ nuôi cá  – Ảnh: Đ.VỊNH

    * Từ thực tế tham nhũng đất đai cho thấy cơ chế giám sát nguồn lực đất đai chưa đủ mạnh?

    – Chính xác là như thế. Muốn giám sát, đầu tiên phải biết thông tin. Nhiều người đã có tài sản cực kỳ lớn nhờ tiếp cận được thông tin sớm. Thế thì mặt trái của nó là đã có người sử dụng quyền chặn luồng thông tin đó. Nếu chuyện lình xình nào được báo chí nhắc đến thì chuyện đó về cơ bản sẽ được giải quyết khá nhanh. Nhưng chỉ thi thoảng mới có những thông tin ra báo chí nên hệ quả là các thiết chế xử lý chỉ được lập để xử khoảng 30-40 vụ/năm. Nó cũng giống chuyện thiết chế để có cuộc ra quân làm đẹp thành phố trong ba ngày, trong khi để sạch trong 365 ngày nó phải rất khác. Nó không thể xuất phát từ việc ra một chỉ thị, hô một quyết tâm.

    * Tham nhũng đất đai có xu hướng tăng một phần vì xử lý đôi khi rất khó?

    – Đất đai bao giờ cũng tác động đến rất nhiều người nên cần được xử lý một cách nghiêm khắc. Gần đây ở bên Mỹ có một thị trưởng không ra quyết định nhưng bằng ảnh hưởng của mình, ra đề nghị tác động khiến một con đường vòng qua một khu casino. Chỉ cần chứng minh có quan hệ đủ gần để có thể nghi ngờ anh có động cơ mờ ám, ông thị trưởng đã ngay lập tức bị mất chức. Cơ chế giải quyết của họ khắt khe đến như vậy nhưng cũng chưa chắc đã đảm bảo 100% ngăn ngừa được tham nhũng liên quan đến đất đai. Nhưng ít nhất cơ chế giải quyết những bất minh về đất đai của những công chức VN, theo tôi, cũng cần được giải quyết mạnh mẽ như thế.

    CẦM VĂN KÌNH – XUÂN LONG thực hiện

    January 5, 2010

    Vietnam “never so determined” to reform administrative procedures

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:54 pm
    Tags: , ,

    VietNamNet Bridge – The business community hopes that tax procedures will be simplified since State regulators have promised to ease the burden on businesses.

    Economists, policy makers, domestic and international organizations all say that complicated procedures are one of the three biggest problems that hinders the development of Vietnam’s economy.

    In the new period of development, if administrative procedures cannot be stream-lined, Vietnam is not likely to obtain a high economic growth rate of 7-8 percent per annum.

    The Government has been aware of the need for administrative reform. A resolution to revise administrative procedures was issued 15 years ago in 1994. Since that time, drastic measures have been taken to simplify administrative red tape. However, as Nguyen Minh Man, Head of the Administrative Procedure Reform Department, admitted, progress has been limited.

    “The administrative procedure reform has brought modest results, not because we are lacking determination, but because we still do not have suitable measures,” Man maintained.

    The IFC report on the global business environment, sponsored by the World Bank, demonstrated that Vietnam ranks the 140th among 182 economies in terms of tax procedures. The other ASEAN countries’ rankings include Singapore, which ranked fifth, Malaysia 21st, Thailand 22nd and Indonesia at 116th.

    The report showed that Singapore businesses only spent 84 hours a year to fulfill their tax duties. In Malaysia, businesses spend 145 hours, while Thai businesses must spend 264 hours and Indonesia 266 hours.

    Vietnamese businesses lose 1,050 hours a year to tax procedures and financial duties.

    A Prime Minister’s taskforce on administrative procedure reform official claimed that there has been no concrete survey on the effects of the complicated procedures. However, the influence is so big that many people would rather pay additional fees, known as the “apparatus lubrication fee”, to avoid procedures.

    “The Government had never, in the last 65 years since Vietnam obtained its independence, been so determined to push for administrative procedure reform like in 2009,” asserted Man.

    Vietnam has completed the first stage of reform (checking all currently applied procedures) and has entered the second stage (removing all unnecessary procedures).

    Deputy Prime Minister Nguyen Sinh Hung has ordered the Ministry of Finance to raise Vietnam’s grade in the IFC’s ranking to 120th from 140th, and reduce the number of hours spent on tax procedures to 600 hours. Hung has also decided that the time needed for customs procedures must be reduced to a level equal to 1.5 times the average time in neighboring countries.

    Deputy Minister of Finance Do Hoang Anh Tuan is committed to slashing at least 30 percent of the 330 currently applied tax procedures and 239 customs procedures in 2010 to create a more favourable business environment.

    VietNamNet/DTCK

    December 30, 2009

    Kiểm soát nông sản “ngoại”: Cần 3 Bộ hợp lực

    Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:02 am
    Tags: , ,

    ThienNhien.Net – Số lượng các mặt hàng nông sản được nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều, nhưng chỉ rất ít trong số đó được kiểm soát về mặt chất lượng, nhất là các mặt hàng rau quả từ Trung Quốc “tuồn” sang. Trong khi đó, việc kiểm soát mặt hàng này vẫn còn tồn tại rất nhiều… chồng chéo giữa các bộ ngành, do đó tại một cuộc họp gần đây (7/12), Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã kiến nghị 2 Bộ Y tế và Bộ Công Thương cùng phối hợp ký Thông tư liên tịch về thống nhất quản lý an toàn thực phẩm.
    Thông tư này đang được xin ý kiến của các bộ, ngành liên quan và các nước xuất khẩu vào Việt Nam, dự kiến, đến cuối tháng 12 hoặc trong tháng 1/2010 sẽ ban hành, nhằm kiểm soát chặt hơn các hàng hóa vào dịp Tết Canh Dần.

    Theo thống kê của Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai, chỉ tính riêng tháng 11/2009 đã có hơn 115.000 tấn hàng nông sản từ Trung Quốc nhập về Việt Nam. Trung bình mỗi ngày có tới gần 400 tấn rau, củ quả được nhập qua Lào Cai, tuy nhiên, chất lượng nhiều mặt hàng gần như bị… bỏ qua.

    Nhiều ý kiến tại hội thảo ngày 7/12 cho rằng, nguyên nhân chính khiến chất lượng nông sản nhập khẩu bị thả nổi là do chúng ta chưa phân định rõ phạm vi, trách nhiệm của các bộ ngành, dẫn đến tình trạng chồng chéo các văn bản pháp luật. Một số loại chất trong thức ăn chăn nuôi nằm trong danh mục cấm lưu hành của Bộ NN&PTNT nhưng Bộ Y tế lại cho nhập giới hạn. Nhiều loại rau, củ, quả hoặc thực phẩm đóng hộp Bộ NN&PTNT không đồng ý nhập, nhưng Bộ Công Thương vẫn cấp hạn ngạch nhập khẩu…

    Theo ông Bùi Sỹ Doanh – Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ NN&PTNT), về lý thuyết, việc kiểm dịch rau, quả nhập khẩu là nhiệm vụ của Bộ NN&PTNT, nhưng Bộ Y tế lại “quyết” về công tác vệ sinh thực phẩm và dựng hàng rào kỹ thuật. Hơn nữa, việc triển khai thực hiện thí nghiệm chất lượng nông sản tại các cửa khẩu lại do 2 Bộ cùng quản lý nên việc chồng chéo là điều tất yếu xảy ra.

    Next Page »

    Blog at WordPress.com.