Ktetaichinh’s Blog

May 17, 2010

Đất miền Tây rớt theo con cá tra

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:50 am
Tags:

SGTT – Thời điểm nghề nuôi cá tra lên hương, đã tạo nên cơn sốt đất nuôi cá dọc sông Tiền, sông Hậu. Khi đó người ta kéo nhau đi mua đất ruộng, đất lúa, đất trồng cây ăn trái, đất bãi bồi… để đào ao nuôi cá. Đó là chuyện xưa.

Nhưng những ao cá đẻ ra bạc tỉ ngày trước nay bỏ hoang, rao bán, cho thuê nhưng chẳng mấy ai đoái hoài.

Nhiều ao cá treo, bán không được.

Ai mua đất, tôi bán rẻ cho

Một trong những nơi giá đất nóng nhất thời điểm năm 2004 – 2006 có lẽ là phường Tân Lộc (Thốt Nốt, Cần Thơ) – được mệnh danh là “cù lao tỉ phú” vì nhờ nuôi cá, bán đất nên không ít gia đình tậu xe hơi đời mới, sắm canô bạc tỉ. Nhiều người nhớ lại, nghề nuôi cá hốt bạc kéo người dân, doanh nghiệp nhảy vào đầu tư mua đất, đẩy giá đất tăng chóng mặt. Giá đất ở vị trí đắc địa lên tới 280 – 300 triệu đồng/công (1.000m2), quy ra gần 3 tỉ đồng mỗi hecta. Những nơi không thuận lợi lắm, giá khoảng 180 – 200 triệu đồng/công tuỳ loại đất và vị trí.

Một chủ trại cá ở phường Tân Lộc, ông M., nói đất nông nghiệp đào ao nuôi cá được trước năm 2004 giá 70 – 100 triệu đồng/công, sau đó tăng lên 150 rồi 200 – 300 triệu đồng. “Khi nghề nuôi cá hưng thịnh, đất bán giá nào cũng có người mua. Thậm chí người ở tận Sài Gòn cũng tìm đến mua. Nay nuôi cá tra thua lỗ, bán với giá chỉ bằng 50% so với trước đây mà cũng không ai ngó ngàng”, ông M. buồn rầu nói. Còn ông Nguyễn Duy An treo bảng bán ba ao cá đã bỏ trống mấy tháng nay với diện tích khoảng 2ha cặp mé sông Hậu. Sau vụ cá thua lỗ cuối năm ngoái, gia đình ông ôm nợ ngân hàng hơn 2 tỉ đồng, đành phải bán tháo ao trả nợ, bởi “mỗi tháng trả tiền lãi hàng chục triệu đồng, xoay xở vay nóng nay đã kiệt sức rồi”. Dù vị trí ba ao khá đắc địa, dễ lấy nước vào ao nuôi cá, trước đây mua ngoài 5 tỉ đồng, bây giờ rao bán 3 tỉ vậy mà bốn tháng nay chẳng thấy người hỏi mua.

Ông An buồn rầu, nói: “Muốn bán cho xong, trả nợ ngân hàng còn chút vốn kiếm nghề khác làm ăn chú ạ. Nghề nuôi cá bây giờ bạc bẽo quá! Thế nhưng do ai cũng sợ đầu tư vào nuôi cá, vì vậy rao bán ao hoài vẫn ế, dù rẻ”.

Không chỉ ở phường Tân Lộc, mà ở nhiều địa phương khác một thời người chưa có đất nuôi cá thì phá vườn cây ăn trái để lên ao, dân ở xứ khác thì đến hỏi mua đất ào ào. Người dân sẵn sàng bán cả ruộng lúa, vườn cây, sang cả nhà ở của mình cho người nuôi cá. Đất tăng giá vùn vụt nhưng người ta vẫn mua vì cho rằng với giá cá cao thì sau một vài năm có thể thu hồi vốn. Riêng tại các huyện Phú Tân, Châu Phú (An Giang), Bình Minh (Vĩnh Long), Lấp Vò (Đồng Tháp)… đất ruộng, đất ven sông tăng từ 20 – 30 triệu đồng/công, lên mức khoảng 60 – 80 triệu đồng/công. Nhiều doanh nghiệp mua hàng trăm hecta đất nuôi cá. Nay thì ai cũng “méo mặt”, đua nhau rao bán ao với giá rẻ mong vớt vát chút đỉnh.

Rơi nước mắt theo con cá

Ở phường Tân Lộc trước đây số tỉ phú cá đếm không xuể. Nay tình hình đã khác: số xe hơi của phường từ chỗ hơn mười chiếc giảm còn hai chiếc, số còn lại đã bán. Không những vậy, do làm ăn thua lỗ, giá đất xuống và bán không được nên nhiều hộ ôm nợ đâm ra lâm bệnh. “Chưa khi nào nghề cá bạc bẽo như vậy, cù lao tỉ phú rơi nước mắt theo con cá rồi”, ông An, một nông dân nói.

Đành treo ao

Ông Phạm Văn My, phó chủ tịch phường Tân Lộc cho biết: “Chuyện tỉ phú cá ở vùng đất cồn mua xe hơi, chạy canô không còn nữa rồi. Nhiều ông chủ bán đất, bán nhà, bán xe, cầm cố đồ đạc vì thua lỗ cá trong thời gian qua”.

Ông My cho biết, trước đây toàn phường có 179 hộ nuôi cá tra với tổng diện tích trên 243ha, nay giảm còn hơn 180ha. Sau vụ cá cuối năm 2008, hộ nào thua lỗ ít thì vài trăm triệu, nhiều thì vài tỉ đồng. Bởi thế hiện có khoảng 30 hộ kêu bán hoặc cho thuê ao; khoảng 30 hộ treo ao hẳn vì không có tiền đầu tư tiếp. Ngay cả đại gia cá tra số một có trên 20ha ao nuôi và là người xây nhà lầu, mua xe hơi, mua canô đầu tiên của phường cũng chung số phận: để duy trì nghề nuôi cá, ông phải tính đến việc dồn vốn liếng, vay mượn nuôi trên 1/2 diện tích, còn lại bỏ trống, chờ thời cơ để bán ao.

Bà Trần Thị Ba chỉ vào ao cá chừng 1ha, nói: “Để ao hoang mấy tháng nay rồi, đang tìm mối cho thuê mà chưa được”. Nước trong ao cá tra bỏ hoang lâu ngày chuyển sang màu xanh đen, cỏ dại mọc um tùm lấn chiếm ra gần nửa ao cá. Bà Ba cho biết thêm: “Sau vụ cá cuối năm, thua lỗ hàng trăm triệu, không có tiền đầu tư tiếp nên đành phải bỏ không”. Hiện nay, hộ nào may mắn thì tìm được mối cho thuê với giá 500 đồng/kg cá thành phẩm khi thu hoạch. Nhưng cũng ít người thuê.

Theo hiệp hội Nghề cá thành phố Cần Thơ, do thua lỗ nên nhiều người nuôi cá tra treo ao, bán ao, cho thuê ao… Riêng ở phường Tân Lộc có đến hơn 30% hộ treo ao, rao bán ao để trả nợ ngân hàng.

Advertisements

April 18, 2010

Hiện tượng ba sa

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:27 pm
Tags:

– Kỳ 1: Từ cá trôi sông đến làng bè

TT – Tháng 12-2003, tại công viên ngã ba sông ở thị xã Châu Đốc, An Giang, tượng đài cá ba sa cao 14m được khánh thành. Một nhân vật từng là quan chức tỉnh An Giang, ông Nguyễn Minh Nhị, nói tượng đài cá ba sa là để  tôn vinh loài cá và cũng để ghi nhớ việc con người đã thuần dưỡng một giống cá giúp tạo nên thương hiệu mới không chỉ của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Nhân sự kiện Festival thủy sản VN tại Cần Thơ (tháng 4-2010), Tuổi Trẻ trở lại với câu chuyện cá ba sa như một dấu nhấn mang tính “hiện tượng” với ĐBSCL.

Vớt cá giống trên dòng sông Hậu – Ảnh: Q.Vinh

Theo những bậc cao niên cả đời sống bằng nghề lưới cá ở Biển Hồ Campuchia, nguồn gốc cá tra, cá ba sa có từ vùng Thượng Lào và trú ngụ sinh sản nhiều nhất ở Biển Hồ. Từ lúc mới nở, cá như bột gạo nhỏ li ti trôi theo dòng Mekong chảy vào đất Việt.

Con cá phương xa

Ông Tư Niên, 75 tuổi, một trong những ngư dân chuyên đánh bắt cá ở Biển Hồ, kể về lai lịch loài cá da trơn đã gắn liền với cuộc đời ông: “Cá tra ở Biển Hồ có hàng chục loài, có con nặng hàng chục ký, bụng đầy trứng. Thế nhưng tụi tôi không biết cách chúng giao phối sinh sản ra sao và ăn thứ gì mà đẻ được hàng triệu con bột ra sông biển. Chỉ biết vào tháng 5 âm lịch, cá tra ở Thượng Lào và vùng Biển Hồ bắt đầu bắt cặp và sinh sản.

Cá mẹ đẻ trứng bắn vào bọt nước hoặc vào dề lục bình rồi theo dòng nước trôi về hạ nguồn sinh sôi. Thuận con nước cá trôi về sông Tiền, sông Hậu và chảy tràn ra ruộng đồng miền hạ. Khoảng một năm sau cá con lớn gần 2kg, lưng đen bụng trắng, da trơn mình bự như đòn bánh tét… Ngư dân Biển Hồ còn vớt bắt cá con rọng dưới nước bán cho thương lái từ VN lên Biển Hồ mua đem về bán buôn”.

Ông cho hay ở VN việc đánh bắt ương nuôi cá bột hình thành cách nay cả 100 năm. Ngư cụ khai thác cá bột cũng được cải tiến dần từ lưới mùng đến lưới cước, từ việc dùng vợt vớt cá đến việc đóng dàn đáy lưới cá dài hàng trăm mét để chặn bắt cả luồng cá thiên nhiên.

Ông Ba Hoàng, ngư dân cố cựu trong nghề đáy cá ở xã Vĩnh Hòa, thị xã Tân Châu, kể vào tháng 5 âm lịch trở đi ngư dân nhìn dòng nước chảy, nơi nào có bọt quần tụ, có lục bình dạt về nhiều thì nơi đó có nhiều cá tra bột. Ai có vốn, làm ăn uy tín đều trở nên khá giả.

Ông Ba Hoàng nói: “Nếu trúng con nước có ngày thu được cả lượng vàng”. Đến thập niên 1980, hằng năm ở vùng cửa sông Tiền thuộc hai tỉnh An Giang, Đồng Tháp đã hình thành hàng trăm miệng đáy bắt cá tra bột, cá ba sa giống… sôi động nhất khu vực.

Từ vùng khai thác cá bột trôi sông đến nơi ương nuôi và bán buôn con giống đã tạo nên nghề nuôi cá tra, cá ba sa từ những năm 1960 đến nay. Ông Trần Văn Que, người có trên 40 năm ương nuôi cá tra bột ở xã cù lao Phú Thuận (Đồng Tháp), cho biết nhờ có con cá bột mà vùng cù lao Long Thuận, Phú Thuận phía dưới hạ nguồn sông Tiền có nghề ương nuôi sản xuất cá tra giống truyền thống. Từ đó người nuôi cá tra hầm cũng ngày một nhiều hơn.

Chợ xã, chợ chồm hổm đầu các vàm sông, đâu đâu cũng có người bán cá tra. Cá tra từ lâu đã trở thành loài cá ngon, rẻ, thường trực trên mâm cơm canh chua cá kho tộ của nhiều gia đình xứ lục tỉnh miền Tây.

Chiếc bè đầu tiên…

Ông Nguyễn Văn Đậm là một trong những gia đình đầu tiên đưa cá ba sa vào bè nuôi và đưa cả bè cá từ Biển Hồ về vùng sông Hậu kể: “Lúc đầu cha tôi vớt cá ba sa con và thả nuôi thử trong mùng lưới dưới nước bằng các loại thức ăn tự chế từ thiên nhiên.

Khi cá lớn chật quá, cha tôi mở rộng vùng nuôi bằng lưới tre bao tròn dưới nước. Cá nuôi vụ đầu bán có giá và cho lợi nhuận, cha tôi đã nghĩ ra cách làm nhiều chiếc bè tre nuôi cá dưới nước. Đáy của bè sâu 2,5m có thể thả nuôi được vài ba tấn cá tùy kích cỡ. Ông chính là người mang chiếc bè tre rộng như ngôi nhà thả trôi theo dòng Mekong từ Biển Hồ vượt 200km dòng nước chảy xiết, lắm thác ghềnh về đến tận miền sông Hậu…”.

Về quê nhà, cha ông đã chọn được vị trí đất bãi bồi dọc bờ sông Hậu, thuộc xã Đa Phước, cách ngã ba sông Châu Đốc chừng 5km để neo bè và khởi nghiệp. Lúc đó vùng đất này còn hoang vu không có người ở. Cũng trong năm 1970, tại vùng đất hoang vu này có thêm nhiều nhà bè từ nơi khác đến. Ngày ngày họ đào ao nuôi cá, phát đất hoang trồng lúa. Nguồn cá ba sa giống được khai thác ngoài thiên nhiên, dần dà cuộc sống khấm khá hơn.

Ở làng bè xã Đa Phước lúc đó có các ông Văn Quyện, Văn Chất, Sáu Cậy… còn nghĩ ra cách chế biến thức ăn dùng cám tấm và cua ốc, chuối, rau cho cá ăn theo từng giai đoạn tăng trưởng. Biết dùng các vị thuốc có lá giác, muối hột, vôi bột và cả đất sét đặt trong bè để giải nhiệt và trị bệnh cho cá. “Nói chung người sao cá vậy nhưng tuyệt nhiên không sử dụng thuốc kháng sinh, kháng khuẩn phổ biến như bây giờ” – ông Đậm nói.

Nhà bè nuôi cá cũng được cải tiến theo xu thế phát triển. Ông Trần Bá Kế, 83 tuổi, ở ấp Hà Bao, xã Đa Phước, kể từ năm 1975 khi biết xã Đa Phước có nghề nuôi cá bè hiệu quả, ông đã mượn 17 lượng vàng đóng mới bè gỗ thay cho bè tre nuôi được 10 tấn cá ba sa hằng năm và chỉ một năm đã hoàn vốn. Bè ông đóng bằng gỗ căm xe, kích cỡ 6x12x3,5m, rộng và sâu gấp 2,5 lần so với bè tre truyền thống.

Những năm sau khi cá ba sa hút hàng, có ông Hai Nhàn còn đóng bè kích cỡ vô địch 10x28x7m, nuôi hàng trăm tấn cá. Bè cá như một ngôi nhà khang trang trên mặt nước, bên trong nội thất ti vi, máy lạnh sang trọng. Nhà bè là biểu trượng của sự giàu có trong thập niên 1990-2003.

Từ chòm bè vài chiếc quần tụ nuôi cá ba sa, sau hơn hai thập kỷ làng bè xã Đa Phước đã có trên 500 nhà bè lớn nhỏ, mỗi bè nuôi 50 đến trên 100 tấn cá ba sa. Từ năm 1990 trở đi khi cá ba sa được xuất khẩu thì làng bè Đa Phước không còn chỗ neo đậu bè nữa. Nhiều người giàu có đến học tập kinh nghiệm làm ăn rồi đóng bè thả nuôi phía dưới hạ nguồn ngã ba sông Châu Đốc.

Ông Nguyễn Văn Phát, trưởng Phòng kinh tế thị xã Châu Đốc, cho biết làng bè ở khu vực ngã ba sông Châu Đốc lúc hưng thịnh có trên 5.000 nhà bè phủ khắp sông Hậu. Không chỉ có ở sông Hậu, làng bè cá ba sa còn phát triển mạnh trên khu vực sông Tiền ở huyện Hồng Ngự và các nơi khác thuộc lưu vực sông Cửu Long.

QUANG VINH – PHƯƠNG NGUYÊN

—————————-

Từ cá trôi sông đến làng bè rồi một ngày tạo nên “hiện tượng” thay đổi hẳn cuộc đời của những nông dân ngụp lặn trong đói nghèo bên dòng sông ngầu đục phù sa. Con cá từ bè tre “lội” đến trời Âu Mỹ và mang về những đổi thay…

Kỳ 2: Rời chiếc bè tre

TT – “Không phải đơn thuần là một hiện tượng nữa mà đó là một kỳ tích”, tiến sĩ Võ Hùng Dũng, giám đốc Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ, nhận xét.

Cây lúa, hạt gạo và con tôm từng tạo nên hiện tượng kinh tế, làm thay đổi diện mạo vùng ĐBSCL nhưng con cá ba sa, cá tra lại có sức phát triển thật lạ kỳ, đã tạo nên một kỳ tích với mức tăng trưởng chưa ngành nào đạt được trong thời gian vừa qua.

Thu hoạch cá ba sa – Ảnh: P.Nguyên

>> Kỳ 1: Từ cá trôi sông đến làng bè

Sự tăng trưởng lạ kỳ

Cuối những năm 1980, con cá ba sa bắt đầu rời những làng bè của vùng đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu để mở màn cho chuyến ngao du trời Tây. Anh Võ Đông Đức, tổng giám đốc Công ty Caseamex (Cần Thơ), kể lại: lúc đó tại ĐBSCL chỉ có hai đơn vị đi đầu trong việc chế biến, đưa mặt hàng cá ba sa phi lê ra nước ngoài là Công ty Agifish và Angitexim của tỉnh An Giang.

Khi mặt hàng này được ưa chuộng ở thị trường nước ngoài, giá cả tương đối hấp dẫn thì các công ty bắt đầu mở rộng mạng lưới thu mua, chế biến. Vùng đầu nguồn Châu Đốc (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã sớm mở rộng làng bè, có lúc lên đến hàng ngàn chiếc mỗi nơi. Từ đây, con cá ba sa vẫy vùng thoát khỏi những bè cá của vùng châu thổ đục phù sa để vươn mình ra thế giới.

“Cá ba sa lúc đó chủ yếu nuôi trong lồng bè, sản lượng rất ít và thấp. Khi thị trường nước ngoài bắt đầu chuộng và yêu cầu cung cấp ngày một nhiều hơn thì con cá ba sa ngày càng thể hiện sự đuối sức. Một công ty của Úc đã yêu cầu công ty của chúng tôi tìm con cá gì đó thay thế sản lượng cho con cá ba sa và họ đã cử hẳn chuyên gia tới ĐBSCL để cùng chúng tôi nghiên cứu. Trong nhiều loài cá họ thống nhất chọn con cá tra, vì có đặc điểm sinh trưởng, thịt phi lê tương tự ba sa. Thế là container cá tra phi lê đầu tiên của Việt Nam được xuất qua Úc, thị trường này sau đó chấp nhận mặt hàng này. Đó là tín hiệu đáng mừng ở buổi đầu sơ khai”, anh Võ Đông Đức hồ hởi kể lại.

Vài tháng sau, Công ty Cataco (tiền thân của Caseamex) tiếp tục xuất hàng qua châu Âu và rồi như một phép mầu, thị trường châu Âu cũng say mê con cá tra, ba sa của Việt Nam. Đến năm 1995, anh Đông Đức mở ra trang chính cho con cá tra khi lần đầu tiên đưa con cá này thâm nhập thị trường nước Mỹ. Ngay sau đó, một số công ty khác cũng bắt tay vào xây dựng nhà máy, đào tạo đội ngũ công nhân chế biến, tìm thị trường cho con cá tra.

Tiến sĩ Võ Hùng Dũng khi nhắc đến chuyện này phải thừa nhận: “Chỉ trong mười năm mà kim ngạch xuất khẩu từ mức vài chục triệu USD đã tăng vọt lên 1,4 tỉ USD. Ở Việt Nam chưa có ngành kinh tế nào có khả năng xuất khẩu tăng cao như vậy. Trong vòng mười năm qua thì bình quân tăng 30%/năm”.

Tiến sĩ Dũng nói thêm trước đây cây lúa cũng tạo nên một hiện tượng giúp Việt Nam từ một nước nghèo đói, thiếu ăn thành một quốc gia xuất khẩu lương thực thuộc hàng đầu thế giới, góp phần quan trọng vào việc ổn định an ninh lương thực cho thế giới. Con tôm cũng vậy, từ mặt hàng không có lợi thế cạnh tranh nhưng các doanh nghiệp đã biến mặt hàng này thành chiến lược. Nhưng con cá tra, ba sa lại khác, từ nguồn giống tự nhiên ban đầu, kỹ thuật nuôi cây nhà lá vườn… vậy mà đã vươn xa qua trời Tây, tạo cho ĐBSCL và Việt Nam có một thương hiệu lớn: cá da trơn Việt Nam.

Làm đổi thay diện mạo đồng bằng

Trước khi con cá tra, ba sa rời khỏi cái lồng tre tìm đường bơi ra nước ngoài, bộ mặt nông thôn, một bộ phận khu vực có nuôi cá, còn nghèo. Nhưng rồi con cá tra đã làm thay đổi toàn bộ, người nông dân bắt đầu đào ao, lập trang trại, doanh nghiệp được thành lập nhiều hơn, nhà máy chế biến cá tra cũng mọc lên như nấm.

Nhiều tỉnh thành trong khu vực đã nghĩ tới và bắt tay vào xây dựng các khu, cụm công nghiệp chạy dọc sông Tiền và sông Hậu. Những khu vực ruộng đồng kém hiệu quả được chuyển dịch sang sản xuất công nghiệp, mà trong đó công nghiệp chế biến thủy sản chiếm phần lớn diện tích. Đường sá nông thôn cũng mở rộng hơn để phục vụ ngành chế biến, nuôi trồng con cá tra này.

Tiến sĩ Dũng nhớ lại trước đây khi con cá tra, ba sa còn chưa ai biết thì công nghiệp vùng ĐBSCL cũng chỉ quanh quẩn với các nhà máy chế biến lúa gạo nằm rải rác khắp nơi. Khi con tôm bước vào thị trường thế giới thì ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản cũng chỉ tập trung ở các tỉnh ven biển. Nhưng khi con cá tra tạo nên hiện tượng đột biến thì bộ mặt, cơ cấu ngành công nghiệp chế biến đã được điều chỉnh lại.

Mười tỉnh thành có nuôi cá tra đều xây dựng nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu, xây dựng nhà máy chế biến thức ăn, hệ thống hậu cần phục vụ nghề nuôi cá tra và cả mạng lưới dịch vụ hỗ trợ. Hiện tại ĐBSCL có trên 150 nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu, riêng tại Cần Thơ có 31 nhà máy. Ngoài ra còn hàng chục, hàng trăm nhà máy chế biến thức ăn, chế biến phụ phẩm từ cá.

Lợi thế cây lúa là lợi thế toàn vùng, lợi thế con tôm là lợi thế các tỉnh ven biển, còn lợi thế có cá tra là lợi thế của các tỉnh chạy dọc hai bờ sông Tiền và sông Hậu. Chính điều này đã phần nào làm đồng bằng có thể phát triển mạnh và đồng bộ. Con cá tra hiện chiếm 1/3 doanh số các tỉnh có nuôi cá tra trong khu vực.

Người nuôi, nhà chế biến, hệ thống cung cấp dịch vụ, người buôn bán, hệ thống dịch vụ thủy sản… cũng phát triển theo con cá tra, tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu người. Trong 15 năm qua đã tạo ra một ngành công nghiệp về cá, hình thành một chuỗi giá trị về cá rất lý thú, có mối quan hệ từ người cung cấp giống, người nuôi, người chế biến, xuất khẩu, sự phát triển hạ tầng phục vụ nghề cá, hệ thống kỹ thuật…

Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, quyền giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, cho biết sản lượng cá tra, ba sa của ĐBSCL chiếm trên 95% sản lượng cá da trơn của cả nước.

Nếu tính trong mười năm qua (1997-2007) thì diện tích nuôi tăng khoảng tám lần, sản lượng nuôi tăng 45 lần, sản lượng philê xuất khẩu tăng 55 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng 50 lần. Tuy chỉ 6.000ha nuôi ở 10 tỉnh nhưng giá trị xuất khẩu cá tra từ năm 2000-2008 đã gần đuổi kịp tôm nuôi nước lợ.

Năm 2008 sản lượng cá tra, ba sa đạt 1,2 triệu tấn; sản phẩm xuất khẩu đạt 640.829 tấn, tăng 65,6% so với năm 2007; giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,453 tỉ USD, chiếm 32,2% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, tăng 48,4% so với năm 2007, đóng góp 2,0% GDP của cả nước. Đến nay đã có 130 nước trên thế giới tiêu thụ cá tra, ba sa của Việt Nam.

Kỳ 3: Từ “mụ tây” tới “mụ vườn”

TT – Năm 1993 Philippe Caco tốt nghiệp Ðại học Nông nghiệp Paris (khoa thủy sản), đã quyết định đến VN nghiên cứu cách cho cá ba sa sinh sản. Đến làng bè Châu Đốc (An Giang), anh bất ngờ với những làng bè sung túc trên sông Hậu.

Một con cá tra mẹ được nhóm “mụ vườn” ở xã Vĩnh Hòa thăm trứng định kỳ – Ảnh: Q.Vinh

Công nghệ “tây”

Philippe đến ngay lúc làng bè đang có tin Công ty Agifish An Giang đã thay sản phẩm xuất khẩu con tôm biển khan hiếm bằng con cá ba sa giàu tiềm năng hơn.

Nhiều người đã đón đầu cơ hội làm ăn lớn, đầu tư mới nhiều nhà bè cá bề thế trị giá hàng tỉ đồng. Cá giống ba sa trong thiên nhiên không đủ cung ứng cho nhu cầu làng bè và trở nên đắt đỏ. Một con cá bụng – cá ba sa con – bằng ngón tay có lúc vọt lên 5.000 – 7.000 đồng.

Thông tin Philippe đến làng bè tìm cá bố mẹ đã được người dân các nơi mừng rỡ. Bà con ở vùng hạ nguồn sông Mekong đã đem đến tặng Philippe những con cá bụng to 5-7 kg có dáng đẹp để tuyển chọn và thử nghiệm. Hai tháng ở làng bè, Philippe và kỹ sư cộng sự đã tuyển chọn ngẫu nhiên được 200 con cá ba sa bố mẹ đem về ao Trường đại học Cần Thơ nuôi vỗ.

“Trên cơm dưới cá”

Ông Nguyễn Hữu Khánh – nguyên bí thư Tỉnh ủy An Giang, nguyên chủ tịch Hội Nghề cá VN – lý giải về “hiện tượng ba sa”: “Vào cuối những năm 1980 khi cây lúa đã phát triển mạnh, chúng tôi nghĩ đến câu nói của cha ông “trên cơm dưới cá” để mở hướng phát triển mới. Trên đã có lúa rồi, tại sao không phát triển con cá đang có lợi thế vùng nuôi? Lợi thế từ tay nghề nuôi cá ba sa, cá tra đến nhờ vả sự “mai mối” của bà con Việt kiều để đưa thị trường này ra thế giới”.

Cuối thập niên 1990, An Giang gặp khó khăn về nguồn cung ứng cá giống. Sau đó tỉnh đã chủ động phối hợp với các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu để đến năm 2001 sinh sản nhân tạo cá.

Năm 1995, tỉnh An Giang sản xuất chỉ được khoảng 50.000 tấn cá nhưng đến nay sản lượng này là 180.000 tấn. Khó có ngành kinh tế nào có được sự phát triển mạnh mẽ như vậy!

Đến tháng 6-1995, Philippe và nhóm cộng sự của anh đón nhận thêm một người bạn mới – Marc Campet – vừa tốt nghiệp Ðại học Thủy sản Pháp.

Đến làng bè và làm việc thuận lợi tại một phòng thí nghiệm ngay trên nhà bè của Công ty Agifish An Giang, Philippe và Marc đã áp dụng phương pháp cấy chip điện tử với mã số vào thân cá để kiểm tra, phân biệt, thay cho cách dùng phẩm mực trước đó.

Hàng tháng trời cứ cách 10 ngày một lần nhóm “bà đỡ” lại vớt cá lên thăm trứng chích hormon kích dục tố, tìm mọi cách nhưng vẫn không thấy cá mẹ rụng trứng. Thế rồi trong một lần kiểm tra, Philippe bất ngờ thấy bụng một con cá phình to. Tìm dò mã số thì biết đây chính là con cá của cư dân làng bè tặng anh.

Cá mẹ được đưa lên khay và kích đẻ, bụng nó bắt đầu căng phồng lên. “Bà đỡ” Philippe nhẹ tay vuốt dạ dưới con cá mẹ, từ bụng dưới con cá phụt ra tia trứng vàng. Đến lần tiếp theo trứng cứ phun vào chậu chứa 75 gam trứng. Sau đó nhóm “bà đỡ” Pháp – Việt cho trứng thụ tinh nhân tạo. Khoảng 24 giờ sau cá con lúc nhúc xé màng và đàn cá li ti mới bắt đầu chuyển mình.

“Trứng thành cá rồi” – cả nhóm “bà đỡ” cùng Philippe và Marc đã vui mừng ôm nhau chúc mừng thành công mà người dân làng bè mong đợi.

Philippe và Marc đã áp dụng kỹ thuật cho cá ba sa và cá tra sinh sản nhân tạo, ương nuôi cá bột cho đơn vị hợp tác là trại giống Mỹ Châu (Công ty Agifish An Giang).

Qua tay nông dân Việt

Những nông dân cố cựu ở vùng sản xuất cá giống Hồng Ngự (Đồng Tháp) cho biết trại cá giống Mỹ Châu thời gian đầu là đơn vị độc quyền tiếp nhận công nghệ sinh sản cá tra giống và bán cho dân.

Lợi nhuận từ việc sinh sản cá giống nhân tạo là rất lớn. Nhiều nông dân thức thời đã nhanh chóng tìm đến trại cá giống để học cách cho cá đẻ nhưng bất thành. Phải đến một năm sau đó công nghệ cho cá sinh sản nhân tạo mới được “rò rỉ” ra bên ngoài khi các kỹ sư nơi đây trở thành những người thầy giúp nông dân.

Ông Út Que, chủ cơ sở sản xuất cá tra giống, nhà ở ngay bến đò xã Phú Thuận (Đồng Tháp), đưa chúng tôi đi thăm cơ ngơi sản xuất cá giống gồm ao nuôi hàng ngàn con cá bố mẹ thuần thục, và khu vực sinh sản cho cá.

Cơ sở được đầu tư khá bài bản, từ hệ thống ống dẫn nước, bồn ấp trứng đến khay đẻ cho cá đều được làm theo quy trình khá hiện đại. “Nhưng để học được nghề cho cá đẻ, nói tắt là “đẻ” cá thì nông dân như tụi tui phải mời kỹ sư về tầm sư học nghề. Học theo kiểu cầm tay chỉ việc, thầy chỉ một mình ráng học lóm tới mười, phải ráng moi cho hết các ngón nghề từ nuôi vỗ cá bố mẹ đến sử dụng thuốc kích dục, thao tác thăm trứng và vuốt tay ép bụng cá cho trứng phun ra… Các nhà khoa học đã có công nghiên cứu thì mình ráng học để mang lại cái lợi cho mình”.

Út Que còn nói để học được nghề này ông phải chia lợi nhuận 6:4 cho người dạy. Đó là nguồn tiền thu được sau khi cho cá đẻ thành công và bán được cá giống trong suốt thời gian học nghề 3-4 tháng.

Còn ông Đào Thanh Khiết, 54 tuổi, ấp Phú Hòa, xã Phú Lâm, huyện Phú Tân, An Giang, cho biết ông đã phải trả cho kỹ sư thủy sản 5 lượng vàng để học nghề “đẻ” cá tra.

Học nghề “đẻ” cá lắm công phu. Đó là học cách chọn cá bố mẹ thuần thục cho đẻ trứng được trên 3 năm tuổi, phải đi săn tìm cá bố mẹ có ngoại hình hoàn chỉnh, da bụng mỏng. Học cách chọc que thăm trứng xem cá đẻ được hay chưa. Nếu được thì tách đàn để chuẩn bị chích thuốc kích thích với liều lượng hợp lý cho cá đẻ. Sau đó ba ngày nếu thăm thấy trứng chín thì bắt đầu đưa cá lên khay, dùng tay vuốt bụng cá cho trứng phun ra và tiến hành cho trứng thụ tinh. Sau đó đem trứng thụ tinh vào bể ấp trong thời gian 24 giờ, trứng nở thành cá bột. Thêm 24 giờ nữa đưa cá bột vào bọc oxy đem đến ao ương nuôi.

“Vui nhất là khi chính tay mình thao tác cho cá tự đẻ. Thành công khi đạt tỉ lệ 10% trứng cho trọng lượng một con cá mẹ; ba con cá mẹ cho 1 kg trứng, tương đương khoảng 1,2 triệu con cá bột”- ông Khiết nói.

Lúc đó trại cá giống của Hai Nấm, Bảy Biết, Bảy Xùm, Hai Diễm lớn nhất trong vùng sông Tiền, mỗi lần sản xuất cho ra lò 20-30 triệu con cá bột thu vào chừng nửa tỉ đồng, tương đương 100 lượng vàng. Cá nhân tạo đem nuôi sông đạt tỉ lệ cao trên 40%, do cá bố mẹ được tuyển chọn từ thiên nhiên hoang dã.

Chỉ trong một năm đã có khoảng 100 trại cá giống mọc lên, cung vượt cầu đã kéo giá cá giống từ 60 đồng xuống còn 1 đồng/con. Hiện có khoảng 10 cơ sở sản xuất cá giống ở đồng bằng đang áp dụng tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (Globle GAP) trong sản xuất con giống cá.

Cái nhạy của người nông dân miền sông nước chính là tác nhân chính thúc đẩy sự phát triển nghề cá ở đồng bằng.

Kỳ cuối: Phía sau tấm da trơn của cá

TT – Con cá tra từ bè lên ao cho sản lượng bất ngờ tăng vọt đã giúp các hộ dân, doanh nghiệp nguồn lãi lớn. Và cũng từ đây, phía sau tấm cá da trơn của cá đã nảy sinh những “cuộc chiến” căng thẳng trong săn lùng đất, giá thu mua, thức ăn, thuốc thú y thủy sản…

Hàng trăm, hàng ngàn hecta vườn cây ăn trái bị đào xới thành ao, những cù lao trên sông Hậu bị dân săn đất rảo bước ngày đêm tìm những mẫu đất lý tưởng. Có lúc mỗi hecta đất đào ao được bán với giá vài tỉ đồng!

Làng bè nuôi cá ba sa trên sông Sở Thượng (Đồng Tháp) – Ảnh: P.Nguyên

“Cuộc chiến” trong nhà

Nhưng rồi bài toán khủng hoảng thừa diễn ra năm này qua năm khác mà không lời giải. Giá bán giảm liên tục trong khi chi phí, giá thành ngày càng đội lên khiến người nuôi lỗ lã nặng nề. Nông dân treo ao, bán ao, bán cả xe hơi… để trang trải nợ nần. “Đó là bài học của việc nuôi cá theo phong trào và sự thiếu quy hoạch, chính sách chưa chặt chẽ của chính quyền từ việc quản lý vùng nuôi, kế hoạch phát triển, thị trường tiêu thụ, quản lý doanh nghiệp…” – ông Nguyễn Văn Kịch, tổng giám đốc Công ty Cafatex (Hậu Giang), nhận xét.

Anh Trần Thanh Phương, một người nuôi cá ở Đồng Tháp, ưu tư: “Người nông dân phải vay tiền đào ao, thả cá, mua thức ăn… Mọi chi phí đều trả bằng tiền mặt hoặc gối đầu, nợ ngắn hạn. Trong khi đó bán được cá lại bị doanh nghiệp trả tiền lắt nhắt hoặc chậm trả khiến tụi tôi gặp khó khi xoay đồng vốn, vừa thiệt hại tài chính mà mất cả cơ hội”. Năm rồi, anh Phương bán cá được 7 tỉ đồng nhưng nhà máy lại trả làm nhiều lần, mỗi lần vài trăm triệu đồng, phần vốn còn lại đã bị doanh nghiệp chiếm dụng.

Thiệt nhưng anh phải chấp nhận vì lệ thuộc đầu ra. Ông Lê Quang Tâm, giám đốc Công ty cổ phần thủy sản Gentraco (Gentraco Feed), nói nếu các doanh nghiệp làm ăn sòng phẳng với nông dân, ký kết được những hợp đồng cung cấp nguyên liệu, không chạy đua bán hạ giá ở nước ngoài… thì cả hệ thống không bị khó khăn như vừa qua.

Từ khi rào cản thương mại từ Mỹ được giăng ra, nhiều doanh nghiệp lao đao và tìm mọi cách đẩy hàng của mình đi để sống bằng bất cứ giá nào, kể cả tự hạ giá bán để cạnh tranh không bình đẳng. “Hiện có 10 công ty tại ĐBSCL đang xuất qua Mỹ, nhưng chỉ 10 công ty thôi cũng đã đấu đá với nhau. Cá tra còn nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển tốt. Chỉ có điều là làm sao đảm bảo chất lượng của cá nguyên liệu, cá phi lê; doanh nghiệp nên liên kết với nhau để đừng bán rẻ con cá của mình, làm thất thu cho người nuôi, ảnh hưởng ngành chế biến xuất khẩu của VN” – ông Võ Đông Đức, tổng giám đốc Công ty Caseamex (Cần Thơ), bộc bạch.

Ngoài chuyện xuất khẩu, đằng sau con cá tra còn là cuộc chiến về con giống. Từ khi ông Hai Nắm ở huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp cho ương cá giống thành công thì hàng trăm, hàng ngàn cơ sở sản xuất, ương giống cá tra mọc lên khắp đồng bằng đã tạo nên cuộc khủng hoảng thừa cá giống. Một phần cá giống bệnh do con giống bố mẹ không khỏe mạnh, ương ép không bài bản, nhưng nguyên nhân lớn nhất – theo ông Hai Nắm – là do nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Chất thải từ việc nuôi cá hằng năm rất lớn nhưng không được xử lý mà đổ thẳng ra môi trường tự nhiên, nhiều dòng sông hiện nay không còn nuôi được cá…

Thách thức trên con đường dài

Mặc dù con cá tra đang là hiện tượng lạ mang lại những giá trị vật chất lớn cho vùng ĐBSCL, nhưng đằng sau nó vẫn tiềm ẩn những thách thức. Nói như ông Huỳnh Thế Năng – phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang, người vừa được Thủ tướng chỉ định làm trưởng ban vận động thành lập Hiệp hội Cá tra, ba sa ĐBSCL – việc quản lý nhà nước đối với con cá tra của vùng ĐBSCL còn nhiều bất cập, như: thiếu quy hoạch, kế hoạch và thông tin cụ thể cho cả vùng từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy như lúc thừa lúc thiếu, chất lượng, môi trường, gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh…

Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, quyền giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, thường trực ban chỉ đạo triển khai chương trình liên kết vùng ĐBSCL, đã “gạch đầu dòng” vài thách thức mà cá da trơn phải đương đầu: đó là vấn đề quy hoạch vùng nuôi để đảm bảo sự bền vững trong phát triển, việc cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ để đảm bảo lợi nhuận giữa thành phần sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu.

Việc thiếu hoặc chưa áp dụng hợp lý quy hoạch vùng nuôi, chưa dự báo sản lượng và kiểm soát sự gia tăng diện tích… đã tạo nên nhiều khó khăn. Từ đó thừa và thiếu nguyên liệu luôn xảy ra, thiếu tính ổn định, khó dự báo hiệu quả sản xuất…

Tiến sĩ Sánh cũng cho biết vấn đề ô nhiễm môi trường đang đặt ra nhiều thách thức, hiện tại một số vùng nuôi tập trung nhiều trang trại có dấu hiệu ô nhiễm nguồn nước do chất thải. Mất cân bằng sinh thái đang thể hiện rõ nét ở tình trạng phát sinh dịch bệnh trên diện rộng do ô nhiễm môi trường ở các vùng thâm canh cá tra, cá ba sa… Môi trường nước trên sông Tiền, sông Hậu và kênh rạch vùng ngọt hóa đã có dấu hiệu nhiễm bẩn hữu cơ. Với các mô hình nuôi thâm canh càng cao, quy mô công nghiệp càng lớn thì lượng chất thải càng lớn và mức độ nguy hại càng nhiều.

Giải quyết được những thách thức trên, cộng với việc cần thiết áp dụng giá sàn cho con cá tra xuất khẩu để tránh việc cạnh tranh không lành mạnh làm nông dân thiệt hại, chính sách tài chính ngân hàng thông thoáng, thông tin thị trường minh bạch, kịp thời, kỹ thuật nuôi được cải tiến… thì tương lai con cá tra sẽ sáng sủa hơn. Và như thế kế hoạch đạt 1,5 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu năm 2010 và 2,3 tỉ USD vào năm 2020 sẽ gần hiện thực hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa kế hoạch nâng vùng nguyên liệu lên 13.000ha vào năm 2020 cũng sẽ làm được.

PHƯƠNG NGUYÊN – QUANG VINH

Ông Huỳnh Thế Năng, phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang: “Chúng ta không phủ quyết vai trò của doanh nghiệp trong việc khai phá thị trường và sự lớn mạnh của doanh nghiệp chế biến cá tra ĐBSCL hôm nay. Nhưng nếu có sự liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau trong phân khúc thị trường xuất khẩu, liên kết giữa doanh nghiệp với ngư dân bằng trách nhiệm chia sẻ lợi nhuận cũng như rủi ro được ràng buộc bằng quy định pháp lý rõ ràng thì tất cả sẽ cùng chiến thắng!”.

Ông Nguyễn Hữu Khánh, nguyên chủ tịch Hội Nghề cá VN: “Để có “hiện tượng ba sa” như ngày nay còn có vai trò của bộ phận bà con người Việt ở nước ngoài trong việc quảng bá sản phẩm. Lúc đầu chúng tôi đưa cá tra, ba sa sang thị trường Mỹ, Pháp, Úc, nhiều kiều bào từ chối ăn vì còn ám ảnh hình ảnh nuôi cá trong hầm ô nhiễm. Chúng tôi đã về nước vận động người dân nuôi cá bằng thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp. Kiều bào nhìn hình ảnh, video tin tưởng, chấp nhận tiêu thụ cá và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước bán cá cho các nhà phân phối lớn trên thế giới”.

Hai chàng trai Pháp ở làng bè

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:26 pm
Tags:

trứngTT – Philippe Caco và Marc Campet, hai chàng trai người Pháp đã có một quê hương thứ hai: làng bè Châu Đốc. Họ đã đến đây từ lúc làng bè còn thưa thớt. Ở đó hai anh em đã cùng ăn, cùng trải qua cuộc sống thăng trầm với người dân làng bè.

Món quà đầu tay

Năm 1993, tốt nghiệp Ðại học Nông nghiệp Paris khoa thủy sản, Philippe quyết định đến Việt Nam vì “ở đó nuôi trồng thủy sản đang phát triển”.

Đến làng bè Châu Đốc, vừa xuống xe Philippe đã nghe tiếng lũ trẻ phía bờ Châu Giang vẫy tay “Hey, hello!”. Ngược lên hướng Cồn Tiên lại thấy thiếu nữ chèo đò áo bà ba tay cầm dầm í ới cười nhạo “cái anh Tây trắng da, cao chân không dám ngồi mạn xuồng mà cứ chồm hổm lúp xúp dưới đò”. Con gái làng bè lí lắc đi như chạy, nói như cười, mặt không mang khẩu trang. Oh no, sao mà… dễ thương!

Vào nhà bè của ông Bươi, nghe tiếng điện thoại reo, tiếng vô tuyến truyền hình vọng ra từ phòng khách sang trọng, Philippe càng thêm bất ngờ vì thấy nhiều nhà bè sung túc, có hàng trăm tấn cá nối đuôi dính chùm lại với nhau.

Những ngày ở làng bè Philippe quen với Út Lành, con gái của một chủ bè nức tiếng Châu Đốc. Út Lành duyên dáng, miệng nói tay chèo đưa anh đi quanh vùng ngã ba sông tìm hiểu nghề cá bè. Lúc này làng bè đang có tin Công ty Agifish đã thay sản phẩm xuất khẩu con tôm biển bằng con cá ba sa. Nhiều người đã đón đầu cơ hội làm ăn lớn, đầu tư mới nhiều nhà bè cá bề thế hàng tỉ đồng.
Cơn khủng hoảng con giống ngày càng trầm trọng, cung không đủ cầu. Thời đó con giống đắt đỏ, một con cá bụng – cá ba sa con – bằng ngón tay có lúc vọt lên 5.000 – 7.000 đồng.

Marc Campet với con cá saba mẹ nặng 7 kg

Ông Nhàn, ông Thọ và nhiều ngư dân nghe loáng thoáng có chuyên gia nước ngoài về tìm cách cho cá đẻ mừng như cởi lòng. Út Lành tỏ ra thạo tin nói với cha và bà con: “Ai có cá ba sa to khỏe hãy tặng Philippe để anh ta tuyển làm cá bố mẹ“. Công ty Agifish cũng vào cuộc bằng việc cho thành lập trại nghiên cứu sinh sản cá giống và mời Philippe hợp tác.

Hôm xuống bè vừa gặp Philippe, ông Nhàn đã bế xốc con ba sa phệ mỡ nặng đến 5kg trao cho anh. “Tui đã nuôi và đặt cho nó cái tên Lucky may mắn làm kiểng trong bè từ lâu! Líp xem thử được hông?”. Bà Hai vợ ông vừa đánh về một xuồng cá linh tạp dùng làm thức ăn cho cá, thấy Philippe liền tất tả đi um lại vò rượu mời khách. Cầm ly đế âm ấm mùi gạo xứ lũ, Philippe cảm ơn món quà đầu tay của dân làng bè. Có ngọn gió nam từ sông ùa vào ruột bè làm lũ cá nhao lên tròn miệng đón mồi.

Hai tháng ở làng bè, Philippe và anh em cộng sự đã tuyển chọn ngẫu nhiên được 200 con cá ba sa đưa về nuôi. Ao cá Trường đại học Cần Thơ đón đàn cá mới, đón con Lucky mắn đẻ.

Duyên nợ làng bè

Ép trứng cá thụ tinh nhân tạo

Đến tháng 6-1995, Philippe và nhóm cộng sự của anh đón nhận thêm một người bạn mới – Marc Campet – vừa tốt nghiệp Ðại học Thủy sản Pháp. Đến làng bè, anh đã có ngôi nhà mới, một phòng thí nghiệm ngay trên nhà bè của Công ty Agifish An Giang.

Philippe và Marc đã áp dụng phương pháp cấy chip điện tử có ghi mã số vào thân cá để dễ kiểm tra, phân biệt, thay cho cách dùng phẩm mực mờ nhạt không chính xác như trước đây. Hàng tháng trời cứ cách 10 ngày một lần nhóm “bà đỡ”  hết vớt cá lên lại thả cá xuống, chích hormone kích dục tố, tìm mọi cách vẫn không thấy lũ cá mẹ rụng trứng. Thế rồi trong một lần kiểm tra, Philippe bất ngờ thấy bụng một con cá phình to. “Nó trở dạ thật rồi”. Dò mã số rõ là con Lucky của Hai Nhàn, quả thật hữu duyên tương ngộ!

Philippe và Marc đã áp dụng kỹ thuật cho cá tra sinh sản nhân tạo, ương nuôi cá bột và chuyển giao ra dân. Đến nay dân làng bè đã tự cho cá tra đẻ trứng, thụ tinh, với tỉ lệ nở và sống khá cao 60-70%. Lượng con giống cho bà con nuôi cá tra bè xuất khẩu hằng năm đã lên đến 500 triệu con, sản lượng cá nguyên liệu cũng trên 200.000 tấn, gấp 10 lần năm 1995.
Philippe cũng đã thành công cho cá vồ đém và cá bông lau sinh sản nhân tạo. Còn Marc sẽ nghiên cứu tìm ra loại thức ăn làm tăng chất lượng cá da trơn xuất khẩu.

Lucky được đưa lên khay kích đẻ, người nó bắt đầu cương cứng, bụng mo lên căng phồng. “Bà đỡ” Philippe kỹ tay vuốt nhẹ dạ dưới “phụ sản” Lucky. Ngay lần đầu oằn bụng rặn, từ cửa mình con cá phụt ra tia trứng vàng; lần thứ hai rồi thứ ba trứng cứ chảy tràn vào khay chứa. 70 gam trứng cho lần đầu cá đẻ đã là thành công. Đến sáng hôm sau từng mụn trứng được xé màng, đàn cá li ti mới bắt đầu nhúc nhích chuyển mình. “Cá nở, cá nở rồi!”, Philippe và Marc như muốn hét toáng lên!

Tin cá đẻ dội về làng bè. Nhà bè ông Hai vui như cưới được rể quí, túm tụm khề khà bàn chuyện “Líp đẻ ra cá!”. Hôm sau, nhiều đại gia chủ bè đánh ngay chiếc Toyota mang theo phẩm vật cây nhà lá vườn vọt xuống Trường Cần Thơ chia vui.

Trở lại làng bè, hôm gặp lại Út Lành, Philippe đã tự tay thả con Lucky bụng đang ngậm đầy trứng về với sông Hậu. Út nói dân làng bè cũng mong có một ngày nào đó sẽ trả lại những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho bà con.

Giờ đây, Philippe Caco đã lấy bằng tiến sĩ, anh vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu kỹ thuật cho họ cá da trơn sinh sản. Còn Marc Campet sau lần về nước nhập ngũ làm nghĩa vụ công dân, lại khăn gói quay về làng bè tiếp tục hoàn thiện luận án tiến sĩ của mình. Ngồi trên bè, Marc nhắc lại cái lần anh suýt chết khi lặn xuống đáy sông sâu đến 7m để chặt dây dời bè đưa ra vùng nước thoáng.

Cũng may có anh Năm “móm” lặn cứu được anh đưa lên bờ. Sau lần thập tử nhất sinh ấy, Marc và Năm “móm” luôn có nhau, chiều nào cũng quần thảo đá bóng, bơi lội với thanh niên làng bè. Những lúc phải xa làng bè, Marc thèm được nghe tiếng cá đập nước, tiếng rao bán sớm khuya của dân thương hồ mộc mạc đến nao lòng. “Ở Việt Nam tôi đã nói được tiếng Việt, học được ở bà con cách nuôi cá truyền thống hiệu quả”, Marc nói.

April 9, 2010

Xuất khẩu thủy sản: Khát nguyên liệu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:11 pm
Tags: , ,

Ông Huỳnh Minh Tường cho biết, trước tình hình khan hiếm nguyên liệu, Cty Baseafood đã chuyển hướng chiến lược trong sản xuất kinh doanh và đồng thời thực hiện một số giải giáp cơ bản như: đầu tư và làm những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, tức làm hàng tinh chế, để giảm lượng nguyên liệu nhưng vẫn đảm bảo doanh thu và lợi nhuận; xây dựng hệ thống kho lạnh để trữ nguyên liệu thu mua trong những lúc dồi dào; tăng cường nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài; chuyển dịch cơ cấu từ sử dụng nguyên liệu đánh bắt (biển) sang nguyên liệu nuôi trồng. http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=191116&ChannelID=3

March 27, 2010

XK thủy sản 2010 : Nỗi lo trong cuộc

Báo  vừa có bài “XK thủy sản 2010: Không quá lạc quan” phản ánh về dự báo khá lạc quan trong khi thực trạng sản xuất, xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức. Để làm rõ các cơ hội và thách thức,PV   đã trao đổi với các nhà chế biến, XK thủy sản về những lo toan và ghi nhận tình hình vùng nguyên liệu tại ĐBSCL.
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức

Nói về thuận lợi, khó khăn của hoạt động XK thủy sản 2010, ông Phạm Hoàng Việt – Phó TGĐ Cty cổ phần thực phẩm Sóc Trăng (Sao Ta – Fimex VN) cho rằng: Với DN, cơ hội phát triển và thách thức luôn cùng tiềm tàng. DN không thể lạc quan kiểu “hồn nhiên” mà phải căn cứ trên những cơ sở vũng chắc, từng thời điểm, giai đoạn của tiến trình vận động. Thành hay bại đều do sự ứng phó linh hoạt, hợp thời của DN.

Dự định và thực tế

Ba tháng đầu năm nay, Fimex đã XK hơn 9 triệu USD (tương đương cùng kỳ năm trước); mặt hàng chủ lực vẫn là tôm sứ; thị trường chủ yếu vẫn là Nhật Bản, EU chỉ chiếm khoảng 10%. Hoạt động hiện tại khá yên ổn – sự yên ổn trong tình trạng thiếu nguyên liệu chung của tất cả các DN chế biến, XK thủy sản. Hai mối lo lớn mà Fimex đang tập trung quan tâm là nguồn nguyên liệu và công nhân. Từ trước Tết đến nay, giá và sản lượng nguyên liệu trồi sụt liên tục nên hầu hết các nhà máy ở ĐBSCL đều hoạt động với hơn nửa công suất. Fimex trong bối cảnh đó vẫn tuyển dụng thêm công nhân có tay nghề vững để giảm giờ làm cho 2.000 công nhân hiện có. Hoạt động đều và ổn thỏa mọi mặt, Fimex cần có 3.000 công nhân. “Tăng trưởng chắc chắn và ổn định là điều Fimex luôn tâm niệm. Năm 2009 xuất khẩu hơn 52 triệu USD thì năm nay cố gắng đảm bảo tăng 10-12% khi hội đủ các điều kiện cần và đủ để phát triển an toàn” – ông Phạm Hoàng Việt cho biết.

Còn ông Trần Văn Phẩm – Tổng Giám đốc Stapimex (Cty CP Thủy sản Sóc Trăng) chia sẻ mối lo toan về nguồn nguyên liệu mà theo ông là năm nay có những nét khác. Ông Phẩm nhận định nguồn nguyên liệu năm nay sẽ khả quan hơn, ví như tôm thẻ chân trắng miền Trung đang rất “đắt hàng”. Nhắc đến trở ngại trong nuôi trồng vì ảnh hưởng mặn và hạn, ông cho hay: So với Cà Mau và Bạc Liêu, diện tích nuôi của Sóc Trăng nhỏ hơn nhưng bù lại năng suất cao gấp 5-7 lần. Chuyện cứu lúa, làm ảnh hưởng tôm ở Bạc Liêu là có thật nhưng nếu giảm chút ít sản lượng ở đây không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng chung, trong khi tổng diện tích nuôi trồng trong cà vùng ĐBSCL đang mở rộng.  Năm 2010, Stapimex không đặt nặng tăng trưởng doanh số mà quan tâm hiệu quả cân đối nhiều mặt. Giá điện tăng sẽ tạo mặt bằng giá nguyên liệu, chế biến và giá thành sản phẩm; nói cách khác, sẽ làm ảnh hưởng kết quả chung cho toàn bộ ngành hàng.

Cạnh tranh nhân công

Trở lại vấn đề kinh doanh XK, TGĐ Trần Văn Phẩm cho biết: Nhận định của Vasep về triển vọng XK 2010 với 500 ngàn tấn cá và 200 ngàn tấn tôm là có cơ sở. Ở Stapimex, 3 tháng đầu 2010 đã XK được 6 triệu USD (thấp chút ít so cùng kỳ 2009) nhưng kinh doanh 2009 có cái dễ, cái khó khác. Năm 2009 nhờ có gói hỗ trợ lãi suất, người nuôi tôm duy trì được diện tích và làm ra nguyên liệu tốt hơn cho chế biến.

Hiện Stapimex có 2.500 công nhân (vào vụ sẽ lên 3.500 công nhân). “Ở VN nói thiếu công nhân là không chính xác. Có chăng là do cạnh tranh, lúc vào vụ chế biến DN nào nuôi công nhân tốt thì ổn định hơn. Mặt bằng lương công nhân ở ĐBSCL là trên dưới 4 triệu đồng/người/tháng, nếu không đủ nguyên liệu sản xuất mà có công nhân đông sẽ khó khăn. Không những thế, vẫn còn hiện tượng thu nhận công nhân nhưng ngoài lương không mua bảo hiểm cho họ. DN sử dụng công nhân rẻ đó sẽ có giá thành chế biến thấp, đó là cạnh tranh không công bằng” – ông Trần Văn Phẩm nhấn mạnh.

Thách thức từ nguồn nguyên liệu

Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức, đe dọa do nguy cơ biến đổi khí hậu (mặn và hạn hán) đang hiển hiện. Ở ba tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng có hơn 50 DN thu mua chế biến thủy sản xuất khẩu với gần 100 nhà máy.  Để đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu cho số nhà máy chế biến này hàng năm cần gần gấp đôi tổng sản lượng tôm nuôi toàn vùng. Chuyện khan hiếm nguồn nguyên liệu đã được cảnh báo từ trước do công tác quy hoạch và đầu tư diện tích nuôi trồng. Bộ NN-PTNT trong năm 2009 đang tái khởi động công việc này, tuy nhiên, nông dân mỗi khi biến động giá lên/xuống hoặc mặt hàng ế thì vẫn luẩn quẩn trồng/chặt (lúa, mía) hoặc đào/lấp hay “treo” ao đầm.

Tháng 3/2010, 14 DN ở Cà Mau áp dụng phương án cho công nhân nghỉ việc luân phiên. Lãnh đạo Cty Chế biến thủy sản XK Cà Mau (Camimex) nhận định đây là tình trạng chung của các nhà máy khi hết mùa tôm nên đã tổ chức mạng lưới thu mua đến tận cơ sở với giá cao, dù vậy, vẫn không tìm đủ nguồn nguyên liệu để chế biến. Tại Bạc Liêu, hiện 13 DN chế biến thủy sản hầu hết hoạt động không đủ công suất, cầm chừng vì thiếu nguyên liệu. Cty chế biến thủy sản xuất khẩu Giá Rai, huyện Giá Rai hơn tháng nay hoạt động có thời điểm chỉ 30% công suất thiết kế do thiếu nguyên liệu. Động thái này liên quan đến chủ trương trên 20.000ha lúa đông xuân cuối vụ đang khát nước nghiêm trọng. Tỉnh Bạc Liêu quyết định hạn chế lấy nước mặn vào vùng ngọt hóa Quản Lộ – Phụng Hiệp. Việc làm này vô tình ảnh hưởng trực tiếp đến trên 40.000 ha diện tích nuôi tôm tại khu vực lân cận. Ở xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai có 2.427ha nuôi tôm, đến thời điển này đã có đến 1.519ha bị thiệt hại, trong đó có đến 419ha thiệt hại trên 50% không khả năng khắc phục. Phòng NN-PTNT Giá Rai – cho biết: Trong 20.000 ha đã thả tôm, có đến 5.482 ha bị thiệt hại, mức độ thiệt hại từ 30% trở lên. Đáng báo động là có đến trên 10.000 ha đang đứng trước nguy cơ thiếu nước. Ông Võ Hồng Ngoãn, người nuôi tôm có tiếng tăng ở Bạc Liêu cho biết: “Ai cũng biết nuôi trồng cái gì trái mùa, nếu thành công sẽ lời rất nhiều, nhưng đối với con tôm nuôi trái vụ rất nhiều rủi ro, nếu thất bại là thiệt hại tiền tỉ như chơi”.

Trước thực trạng này – Phó giám đốc Sở NN-PTNT Bạc Liêu Tạ Minh Phú, cho biết: “Chúng tôi khuyến cáo nông dân ở nơi nào điều kiện thuận lợi thì sản xuất, nơi nào có khả năng thiếu nước thì hãy chậm lại để tránh thiệt hại”.

March 17, 2010

Chợ cá Nam Trung Bộ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:00 am
Tags:

Chợ cá Nam Trung Bộ được Nhà nước đầu tư xây dựng quy mô kiên cố sát bên cầu cảng Hòn Rớ. Cứ đến vụ cá Nam, tàu câu khơi lại tụ tập vào Hòn Rớ bán cá ngừ đại dương cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu ở Khu công nghiệp Suối Dầu. Hiện có 10 chủ vựa, chuyên thu mua, bảo quản và phân phối sản phẩm về các chợ đầu mối trong thành phố. Bà Hai – chủ vựa cá Phúc Hải – vồn vã tiếp chuyện, nhưng vẫn không ngừng tay… đếm tiền. Cũng phải thôi, cân cá xong, chủ tàu nhận tiền ngay tại bến để thanh toán cho “bạn” và kịp chuẩn bị chuyến ra khơi kế tiếp.

Tôi nhẩm tính, giá cá tại bến chỉ bằng khoảng một nửa giá bán lẻ trên thị trường – cá sọc dưa: 18.000-19.000 đồng/kg, cá cờ: 30.000 đồng/kg, cá thu: 75.000 đồng/kg. Từ nửa đêm đến gà gáy, tổng cộng 7 chiếc tàu lớn cập cảng Hòn Rớ, bình quân mỗi tàu bán khoảng 20 tấn cá, thu về không dưới 300 triệu đồng. “Tiền tươi, thóc thật”, rằm tháng giêng năm nay làng biển ở miền Trung vui hơn tết.

Chủ vựa cá Phúc Hải cho biết: “Mỗi chủ vựa có khoảng 20-30 đầu mối. Cá được phân thành 3 loại ngay trên bàn cân, toàn bộ cá lớn nguyên con, đảm bảo chất lượng được chuyển lên xe đưa vào nhà máy chế biến hàng xuất khẩu, loại 2 điều chuyển về kho lạnh của chủ vựa để dự trữ trong vòng 2-3 ngày, loại nhỏ hơn và không nguyên con thì bán bán sỉ ngay tại chỗ cho bạn hàng.

Bán cá tại Hòn Rớ, chủ tàu ung dung cân cá, đếm tiền; không sợ rổi hôi (người đi mót cá – TG) cướp giật, không bị quịt nợ và tuyệt đối không có chuyện ngâm tẩm hoá chất. Đón cá về chợ, chủ vựa phải trải thảm…  nhựa và tổng vệ sinh hằng ngày. Ban quản lý chợ cá Nam Trung Bộ làm việc 24/24h, phát hiện người lạ hay chuyện lạ… liền kiểm tra, ngăn chặn hoặc xử phạt rất nghiêm khắc. Làm ăn lớn, chủ thuyền cũng như chủ vựa không chỉ giữ “nồi cơm”, mà còn “nuôi” chữ tín!”.

Vâng, theo lời kể của các chủ tàu chuyên làm nghề câu khơi thì vào Hòn Rớ bán cá ngừ đại dương “được giá” mà không bị “làm giá”, hơn nữa các dịch vụ phụ trợ khá đầy đủ. Thuyền câu của ngư dân Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận… đánh bắt tại ngư trường xung quanh quần đảo Trường Sa, về đây bán cá, chỉ trong 1 đêm neo tàu tại cảng, mua thêm xăng dầu, lương thực, thực phẩm… rồi tiếp tục hành trình xa khơi.

Làm cá giữa chợ. Ảnh: Bảo Chân

Hòn Rớ là đầu mối hình thành “đường dây” dịch vụ hậu cần, nhiều thương lái chuyên vận chuyển nguyên liệu, nước ngọt, gạo, muối, rau tươi… đưa ra biển tiếp tế cho ngư phủ, đồng thời thu gom hải sản vận chuyển vào bờ. Chính vụ, tàu đánh cá cắm chốt giữa đại dương hàng tháng trời, ở trên bờ đại diện của chủ tàu chỉ cần đối chiếu sản lượng thu mua của chủ vựa rồi nhận tiền đến từng nhà trả công cho bạn. Vậy nên, sau rằm tháng giêng, chợ cá Nam Trung Bộ tấp nập tàu thuyền vào, ra…

Dạo một vòng khoảng hơn cây số mới bao quát hết chợ cá, ông Võ Hồng Hà – PGĐ BQL cảng Hòn Rớ và chợ cá Nam Trung Bộ – phấn chấn giới thiệu: “Khuôn viên chợ và cảng cá rộng khoảng 25.000 m2, tổng số vốn đầu tư trên 26 tỉ đồng, huy động từ nguồn vốn Chương trình biển Đông và kinh phí sự nghiệp ngành thủy sản.

Chính thức hoạt động từ năm 2003, đây là mô hình kết nối hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá tuyến biển, đảo và ven bờ. Riêng chợ cá gồm 3 tòa nhà 2 tầng khang trang, kiên cố; cầu cảng dài hơn 200m, có thể đón một lúc gần 100 tàu cá lớn, nhỏ… cập sát bờ. Mùa bão, vùng vịnh kín gió và rộng lớn này là nơi trú ngụ bình yên của hàng ngàn ngư dân trên đường đi biển”.

Vâng, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát cùng lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa đã nhiều lần thị sát tại đây và tận mắt nhìn thấy cả ngàn chiếc thuyền đánh cá vào Hòn Rớ tránh bão an toàn. Theo lời PGĐ Võ Hồng Hà, để Hòn Rớ thực sự xứng tầm là trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá lớn nhất khu vực Nam Trung Bộ, Ban quản lý cảng và chợ cá đặc biệt chú trọng bảo vệ hành lang an toàn cho chủ tàu cũng như thương lái; mọi thành viên đăng ký vào Hòn Rớ đều cam kết thực hiện các quy định chống gian lận thương mại và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

March 14, 2010

Đồng bằng sông Cửu Long: Thiếu nước gay gắt

TP – Vùng sông nước ĐBSCL đang gồng mình hứng chịu khô hạn khốc liệt, xâm nhập mặn. Ngày 12-3, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cùng các địa phương tìm giải pháp chống hạn, xâm nhập mặn cho ĐBSCL.

Khoan lấy nước ngầm để nuôi tôm ở Bạc Liêu  – Ảnh: Phan Thanh Cường

Thiếu nước ngọt cho lúa

ĐBSCL có 1.564.000 ha lúa đông xuân, đã thu hoạch xong 677.000 ha. Diện tích còn lại, có trên 620.000 ha của các tỉnh ven biển Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre đang bị khô hạn.

Các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân (Bạc Liêu) có 44.631ha lúa đông xuân, đã thu hoạch 13.000ha, còn lại đến giữa tháng 4-2010 mới thu hoạch.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cáo Đức Phát cho biết, các cơ quan chuyên môn dự báo hạn và mặn còn gay gắt hơn trong thời gian tới.

Ông Lương Ngọc Lân, PGĐ Sở NN& PTNT Bạc Liêu cho biết: “Nếu không có mưa trái mùa, diện tích trên sẽ khó sinh trưởng, phát triển”. Hiện nay, hơn 20.000 ha lúa đông xuân thiếu nước ngọt. Các tuyến kinh cấp 3 ở các xã Vĩnh Hưng, Vĩnh Hưng A (Vĩnh Lợi, Bạc Liêu) đã trơ đáy.

Ở tỉnh Sóc Trăng, các huyện Long Phú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị nước mặn xâm nhập và nông dân phải lựa nguồn nước rất gian nan để tránh bơm nhầm nước mặn cho đồng lúa.

Ông Trương Thanh Bình, GĐ Sở NN&PTNT Sóc Trăng, cho biết, Sóc Trăng đã xuống giống vụ xuân hè khoảng 50.000 ha, có 20.000 ha thiếu nước.

Tại tỉnh Cà Mau, khô hạn đang đặt 36.000 ha rừng tràm báo động nguy cơ cháy cấp 4, cấp 5. Ông Trần Văn Thức, PGĐ Sở NN&PTNT Cà Mau nhận định: “Nắng hạn kéo dài đến cuối tháng 4 và đầu tháng 5 sẽ thiếu nước chữa cháy rừng, nếu cháy rừng xảy ra”.

Hiện nay, các kinh rạch đang cạn nước, sụt giảm hơn 0,5m so với những năm trước.

Lượng mưa hụt nhiều, lại kết thúc sớm, nắng nóng ngay đầu năm, xâm nhập mặn sâu đến 70km. Lượng nước sông Mekong sụt giảm, thiếu nước thượng nguồn, không có nước đổ về ĐBSCL.

Từ đó, nước mặn theo các sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Tiền, Sông Hậu, Hàm Luông, Cổ Chiên, Quản lộ Phụng Hiệp… Vùng bán đảo Cà Mau, xâm nhập khu vực ngọt sớm gần 2 tháng so với những năm trước.

Thiếu nước mặn nuôi tôm

Mực nước tại các kinh rạch vùng bán đảo Cà Mau sụt giảm, tăng độ mặn tại các vuông tôm lên đến 28-30%. Người nuôi tôm ở Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân phải bơm nước để nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Lẹ ở xã An Xuyên (TP Cà Mau) cho biết, bà con ở hai bên sông Bạch Ngưu phải đặt máy bơm, chờ nước lớn để bơm vô vuông tôm. Nhà nhà bơm nước mặn nên sông cũng thiếu nước mặn nuôi tôm.

Ông Lương Ngọc Lân, PGĐ Sở NN&PTNT Bạc Liêu, cho biết, các cống lớn vùng mặn chỉ vận hành đóng lại hoặc mở ra để không cho mặn lấn sâu lên kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp về phía tỉnh Sóc Trăng.

Trong khi đó, các cống ở tỉnh Cà Mau, sông Cái Lớn tỉnh Kiên Giang còn bỏ ngỏ, dẫn đến thiếu nước cho khoảng 25.000 ha/55.000 ha đất nuôi tôm ở huyện Giá Rai, Phước Long.

Tỉnh Bạc Liêu lắp đặt 144 máy để bơm nước pha loãng khối mặn xâm nhập vào các huyện Giá Rai, Phước Long, Hòa Bình cho người nuôi tôm.

Lo nước ngọt cho người và lúa

Ông Nguyễn Văn Đồng, GĐ Sở NN&PTNT Hậu Giang đề nghị Bộ NN&PTNT hỗ trợ nông dân bơm nước thông qua tỉnh làm đầu mối thành lập các trạm bơm theo từng tiểu vùng, từng cụm dân cư.

Nguồn vốn kiên cố hóa kinh mương, tỉnh Hậu Giang sử dụng 45 tỷ đồng tận dụng nguồn nước ngọt để cứu lúa, đảm bảo sản xuất trên 50.000 ha.

Sở NN&PTNT Bạc Liêu đề nghị Bộ NN&PTNT hướng dẫn, phối hợp liên tỉnh, liên vùng vận hành các công trình đầu mối thuộc hệ thống thủy lợi Quản lộ  Phụng Hiệp để sử dụng nguồn nước ngọt.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết, các cơ quan chuyên môn dự báo hạn và mặn còn gắt hơn trong thời gian tới. Nên các cấp phải chuẩn bị nguồn tài chính, giải pháp kỹ thuật để chống khô hạn, chống xâm nhập mặn sâu hơn.

Trước mắt, triển khai ngay các giải pháp kỹ thuật để cung cấp nước cho dân, nước ngọt cứu lúa. Khôi phục đập tạm để chống hạn, tích trữ nước. Các địa phương từ tỉnh đến xã cần theo dõi sát tình hình, có biện pháp cụ thể cho địa phương mình.

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết thêm, đang theo dõi nguồn nước toàn tuyến sông Mê Kông và Bộ sẽ báo cáo Chính phủ để có biện pháp hỗ trợ dân, bảo đảm sản xuất.

March 2, 2010

Đồng bằng sông Cửu Long: Gồng mình chống hạn, mặn

TT – Nước mặn, hạn hán đang “bao vây” hàng trăm ngàn hecta lúa đông xuân và cũng bắt đầu gây khó khăn cho cuộc sống của hàng triệu người dân ở ĐBSCL.

Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy – Ảnh: DUY KHANG

Ngày 26-2, tại các xã Long Phú, Đại Ân 2 (huyện Long Phú, Sóc Trăng), hàng chục nông dân tất bật bơm nước cứu lúa. Dưới kênh nước đang mặn lên từng ngày. Ông Trần Văn Háp ở ấp Tú Điềm, xã Đại Ân 2, than thở: “Trời nắng nóng như thiêu đốt nên bơm nước đầy ruộng ba ngày đã cạn sạch. Mấy ngày nay nước kênh mặn chát nhưng cũng phải đánh liều bơm lên ruộng vì nếu không bơm, thiếu nước lúa cũng chết”.

Cứu lúa như cứu hỏa

Khoảng 800.000ha lúa
bị ảnh hưởng

Ông Nguyễn Trí Ngọc – cục trưởng Cục Trồng trọt Bộ NN&PTNT – cho biết nạn thiếu nước sản xuất và độ nhiễm mặn cao ở nhiều tỉnh thuộc ĐBSCL sẽ khiến khoảng 800.000ha lúa vụ xuân hè và hè thu bị ảnh hưởng (cao điểm là tháng 3, tháng 4-2010).

Lãnh đạo Cục Trồng trọt nhận định nạn khô hạn, thiếu nước và nguy cơ nước biển xâm nhập vào sâu trong nội đồng với độ mặn cao còn tiếp diễn với chiều hướng xấu nên các địa phương cần chủ động nạo vét hồ đập, củng cố hệ thống thủy lợi để tích trữ nước, đồng thời phải có cơ cấu giống và mùa vụ thích hợp với điều kiện thiếu nước, nhiễm mặn. Về lâu dài, nên hạn chế diện tích và tiến tới bỏ hẳn diện tích lúa xuân hè.

ĐỨC BÌNH

Cánh đồng xã Tân Hưng chạy dài qua Đại Ngãi (Sóc Trăng) những ngày này lúa vụ ba chỉ mới hơn 40 ngày tuổi mà nước dưới kênh chỉ còn chừng 20cm nhưng cũng mặn chát.

Ông Bảy Hoàng ở ấp Tân Quy A, xã Tân Hưng, nói: “Nếu có nước cũng không dám bơm vì mấy ngày trước độ mặn dưới kênh này lên đến 3-4‰”. Theo Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng, hiện toàn tỉnh có trên 40.000ha lúa vụ ba bị ảnh hưởng nắng hạn và xâm nhập mặn nên năng suất sẽ không cao.

Cảnh bơm nước cứu lúa cũng rất khẩn trương trên cánh đồng các xã Tân Tây, Bình Ân, Kiểng Phước, Tân Thành (huyện Gò Công Đông), Bình Phú, Đồng Sơn (huyện Gò Công Tây, Tiền Giang). Ông Dương Minh Việt ở xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, sản xuất 1,4ha lúa đang trong giai đoạn trổ bông nói: “Cứ 4-5 ngày tôi phải bơm một lần, mỗi lần bơm 5-6 giờ mới đủ nước. Trời nắng quá nên mới bơm xong  nước đã rút đâu mất. Từ nay đến khi thu hoạch tôi còn phải bơm bốn đợt nữa nhưng bây giờ kênh cạn rồi”.

Ông Nguyễn Văn Về, chủ tịch UBND xã Tân Tây, cho biết hiện có khoảng 750ha lúa đang rất cần nước để trổ bông, ngậm sữa. Do nước kênh cạn nên xã vận động người dân luân phiên nhau bơm nước lên ruộng kể cả ban đêm để tránh tình trạng tranh giành nước.

Diễn biến phức tạp

Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang Trần Thành Lập cho biết xâm nhập mặn tại Hậu Giang đang diễn biến phức tạp. Nước mặn đang lấn sâu vào địa bàn một số xã đầu nguồn thị xã Vị Thanh.

Theo trạm quản lý nước và công trình thủy lợi tỉnh, độ mặn đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân.

Ông Nguyễn Văn Hòa, phó chủ tịch UBND thị xã Vị Thanh, nói trước mắt kêu gọi người dân đắp bờ vùng, bờ thửa trữ nước ngọt phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Ban chỉ đạo thị xã cũng đang chuẩn bị phương án đắp đập ngăn mặn đồng loạt tại 33 con kênh (tập trung tại hai xã Hỏa Tiến và Tân Tiến) nếu mặn tiếp tục lấn sâu. Trong hai năm trở lại đây, Hậu Giang liên tục bị ảnh hưởng bởi mặn xâm nhập. Theo dự báo của ngành chức năng tỉnh, xâm nhập mặn năm nay tại Hậu Giang có thể kéo dài hơn mọi năm (cao điểm trong tháng 3 và 4). Đi cùng với mặn là tình trạng thiếu nước ngọt, đời sống người dân bị đảo lộn.

Trước tình hình này, ông Lập  cho biết đang chỉ đạo Sở NN&PTNT phối hợp cùng Công ty Cấp thoát nước – công trình đô thị tỉnh đẩy nhanh tiến độ thi công trạm cấp nước từ kênh Tám Ngàn để chủ động phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân tại thị xã Vị Thanh và một phần thị xã Vị Thủy. Trong trường hợp nước mặn lấn sang huyện Long Mỹ thì đưa nước sạch bằng xe bồn về phục vụ bà con.

Thạc sĩ Kỷ Quang Vinh – giám đốc Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường TP Cần Thơ – cho biết mặn “tấn công” vào đất liền năm sau nhiều hơn năm trước. Cụ thể, năm 2009 xâm nhập mặn đã đến thị trấn Thạnh An, TP Cần Thơ (cách biển hơn 40km), trong khi năm trước đó mặn chỉ “với” tới huyện Mông Thọ, tỉnh Kiên Giang cách biển chừng 10km.

Một số khu vực của tỉnh An Giang và thị xã Vị Thanh (Hậu Giang) cũng bị mặn xâm nhập với độ mặn cao nhất là 7‰, không thể bơm nước phục vụ trồng trọt. Theo ông Vinh, những năm gần đây một số tỉnh phía tây bị ảnh hưởng xâm nhập mặn nhiều là do gió tây mạnh hơn cộng với lượng nước trên sông Mekong giảm, không đủ nước đẩy mặn ra biển.

“Né” mặn hạn chế thiệt hại

Cả ngày 26-2, Sở NN&PTNT Tiền Giang đã họp khẩn cấp với tất cả các xã có sản xuất lúa ở các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây và thị xã Gò Công để bàn giải pháp cứu lúa vì cống Xuân Hòa – là cống lấy nước ngọt cuối cùng cho vùng này – sẽ đóng ngày 1-3. Hiện trong vùng ngọt hóa Gò Công có 25.000ha lúa đang trổ và ngậm sữa, cần nước đầy đủ để sinh trưởng trong khoảng 20 ngày nữa.

Nếu thiếu nước thì lúa không thể ngậm sữa và mất mùa. Ông Nguyễn Thiện Pháp, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Tiền Giang, nói mực nước trong các kênh lúc này chỉ còn 0,4-0,5m. Nhiều nơi phải tổ chức bơm chuyền 2-3 lần mới đến ruộng. Giải pháp duy nhất có thể làm lúc này là vận động nhân dân nạo vét kênh, tranh thủ bơm nước dự trữ. Dự báo sẽ thiếu nước gay gắt từ đầu tháng 3-2010 trở đi. Tỉnh sẽ hỗ trợ kinh phí để bơm chuyền từ kênh trục chính vào kênh nội đồng để dân bơm tiếp.

Ông Phạm Văn Dư, phó cục trưởng Cục Trồng trọt, cho biết đến cuối tháng 2-2010 toàn vùng ĐBSCL sẽ thu hoạch 450.000ha lúa đông xuân. Do đó tình hình hạn, mặn sẽ căng nhất vào những tháng tới. “Phải khẩn trương nghiên cứu những giống lúa chịu được hạn, mặn cấp độ cao hơn hiện nay để trồng ở những vùng ven biển.

Ngoài ra, các địa phương hoàn toàn có thể chủ động “né” được hạn, mặn bằng cách khuyến cáo dân sử dụng giống lúa ngắn ngày để thu hoạch sớm hơn, điều chỉnh lịch thời vụ sớm hơn để khi nước mặn tới thì lúa đã chín, có mặn cũng không sao” – ông Dư nói.

Trong khi đó, ông Kỷ Quang Vinh cho rằng để “sống chung” với mặn, cần phải chọn giống lúa thích hợp chịu được mặn và hạn. Hiện ở Úc có giống lúa chịu được độ mặn đến 7‰, trung tâm đang đề xuất Sở NN&PTNT Cần Thơ nghiên cứu.

Ngoài ra, theo ông Vinh, cần phải tận dụng hệ thống kênh rạch chằng chịt của ĐBSCL để giữ nước lũ bằng cách đắp đập và nạo vét sâu kênh rạch. Lượng nước này sẽ được phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đẩy mặn (ước tính cần 3% diện tích ĐBSCL). Một biện pháp khác là chứa nước ngọt ở tầng nước ngầm (mùa mưa lọc nước lũ hoặc nước mưa đẩy xuống tầng nước ngầm, mùa hạn bơm lên sử dụng).

Hơn 100.000ha lúa bị nước mặn “bao vây”

TS Phạm Văn Dư cho biết năm 2010 nước mặn xuất hiện sớm hơn các năm trước 10-15 ngày và xâm nhập sâu vào đất liền khoảng 70km, gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân.

Đến ngày 26-2, các tỉnh ĐBSCL có khoảng 100.000ha lúa đông xuân (chiếm 16% diện tích) có nguy cơ bị ảnh hưởng hạn, mặn. Các “điểm nóng” được xác định là: Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công, Chợ Gạo, Tân Phú Đông (Tiền Giang), Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần, Châu Thành (Trà Vinh), Mỹ Xuyên, Long Phú (Sóc Trăng), Hồng Dân, Phước Long, Giá Rai (Bạc Liêu), An Minh, An Biên (Kiên Giang).

Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan – phó phòng dự báo Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam bộ – cho biết tình hình xâm nhập mặn những ngày qua tăng nhanh và cao hơn cùng kỳ năm ngoái. Theo bà Lan, độ mặn sẽ còn tăng do gió chướng (khoảng tháng 2 và 3 âm lịch) đẩy nước mặn từ biển vào, đỉnh điểm của xâm nhập mặn là trong hai tháng 4 và 5 âm lịch.

February 28, 2010

Mê Kông suy kiệt

<!–NGay gio Modified

Cập nhật lại cách đây 2 giờ 17 phút

–>

27/02/2010 23:57

Ảnh: AFP

Các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê Kông đang khiến ĐBSCL phì nhiêu, sông rạch chằng chịt đối mặt với khô hạn. Những tác hại đến sinh thái, môi trường, đời sống… của người dân ĐBSCL đang dần hiển hiện.

Mời nghe đọc bài

Mùa khô hạn tàn khốc

Trong tuần qua, mực nước đầu nguồn sông Cửu Long thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,1m, trong khi xâm nhập mặn sâu vào khoảng 30-40 km.

Tại thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), nước mặn đã xâm nhập sâu vào các xã Tân Tiến, Hỏa Tiến và Hỏa Lựu. Độ mặn đo được ngày 26.2 từ 3,1 – 5 phần ngàn, dự báo trong những ngày tới gặp triều cường nước mặn xâm nhập sâu hơn vào nội ô thị xã Vị Thanh và nồng độ có thể lên tới từ 6 – 8 phần ngàn.

Tại Tiền Giang, nước mặn đã xâm nhập vào đất liền trên 35 km buộc cơ quan chức năng phải đóng sớm cống Vàm Giồng ngăn mặn. Ngành nông nghiệp tỉnh này đang lo ngại nước mặn sẽ đe dọa trên 6.000 ha lúa đông xuân thuộc dự án ngọt hóa Gò Công. Tại Bến Tre, nước mặn đã xâm nhập sâu vào đất liền trên 23 km. Xâm mặn kéo theo tình trạng thiếu nước ngọt ở các xã ven biển như Thạnh Phước, Thừa Đức, Thới Thuận (huyện Bình Đại). Ông Ngô Văn Thử, Chủ tịch UBND xã Thạnh Phước cho biết, sau Tết hơn 10.400 nhân khẩu trong xã phải đi đổi hay mua nước ngọt với giá 2.000 đồng/40 lít về sử dụng. Dự báo từ nay đến tháng 5.2010, nước ngọt càng thiếu trầm trọng trong mùa hanh khô kéo dài.

Tại Cần Thơ, xâm mặn đã lấn sâu vào huyện Vĩnh Thạnh. Tại An Giang, nhiều kênh nội đồng gần như trơ đáy; người dân vùng núi Tri Tôn, Tịnh Biên phải đi mua nước sạch với giá 2.000 đồng/30 lít. Ông Trần Văn Mì, Trưởng phòng NN-PTNT H.Tri Tôn cho biết huyện đang triển khai dự án nạo vét 14 tuyến kênh nội đồng, 5 công trình cấp nước với tổng kinh phí trên 4,2 tỉ đồng nhằm cung cấp nước sạch, nước tưới tiêu ruộng đồng.

Mê Kông đang bị “sát thương”

Sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL với chiều dài khoảng 225 km, cung cấp nước và tôm cá dồi dào. Ước tính bình quân 1 ha đất trồng lúa phải tốn hơn 20.000m3 nước/vụ; bình quân mỗi

năm ĐBSCL xuống giống 3,8 triệu ha tức cần hơn 76 tỉ m3 nước. Riêng thủy sản, mỗi năm người dân hạ lưu sông Mê Kông khai thác khoảng 2,6 triệu tấn cá trị giá khoảng 2 tỉ USD. Đối với dân nghèo và nhà nông, sông Mê Kông là nguồn sống trời cho… Thế nhưng, nguồn sống ấy đang bị “sát thương” bởi hàng loạt đập thủy điện xây trên thượng nguồn sông.

Khô hạn đang đe dọa ĐBSCL – Ảnh: T.Dũng

Tại diễn đàn “Môi trường và nguồn sống trên sông Mê Kông” diễn ra ngày 3.2 ở TP Cần Thơ, các nhà khoa học đã tỏ ra lo ngại: Mê Kông là dòng sông lớn trên thế giới, tôm cá phong phú tạo sinh kế trực tiếp cho hơn 60 triệu người ở khu vực hạ lưu sông, thế nhưng dòng sông đang chết dần bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có các đập thủy điện.

Giới khoa học nhận định lưu lượng dòng chảy sông Mê Kông giảm chỉ còn 2/3 so với những thập kỷ trước do bị các đập thủy điện ở thượng nguồn ngăn lại. Lượng nước sông Mê Kông giảm sút kéo theo hàng loạt tác hại khôn lường như thiếu nước vào mùa khô và nguy cơ xâm mặn đe dọa từng ngày. Tiến sĩ Chu Thái Hoành, cán bộ Viện Nghiên cứu tài nguyên nước quốc tế (IWMI) nhận định các đập thủy điện sẽ giữ đến 16% trong tổng lưu lượng nước 475 tỉ m3/năm, ảnh hưởng 50% tổng lượng nước sông Mê Kông.

Bản đồ lưu vực sông Mê Kông (Nguồn: Ủy ban sông Mê Kông VN)

Theo thống kê của Liên minh bảo vệ sông Mê Kông, có 16 đập thủy điện đã và đang xây dựng cùng hàng trăm dự án chằng chịt trên các nhánh chính và rẽ làm thay đổi dòng chảy, ngăn chặn các loài cá di cư đẻ trứng, giảm lượng phù sa hằng năm. Chỉ tính riêng tại khu vực ĐBSCL, bình quân mỗi năm vào mùa lũ sông Mê Kông cung cấp 100 – 200 triệu tấn phù sa.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về đất ngập nước, cho rằng nguồn phù sa giảm sút nên người trồng lúa ở VN phải tăng chi phí cho phân bón và giá lúa sẽ tăng lên. Còn tiến sĩ Carl Middleton (Tổ chức Sông ngòi quốc tế Mỹ) ước tính việc xây dựng các đập trên sông Mê Kông sẽ làm mất đi 700.000 – 1,6 triệu tấn thủy sản/năm. Các nhà khoa học đúc kết tổng thiệt hại về thủy sản, nông sản có thể lớn hơn tổng lợi nhuận mà các nước thu được do việc xây đập thủy điện.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An – Đại học Cần Thơ, việc xây các đập thủy điện đã kéo theo nhiều tác động như lũ về muộn hơn nhưng kết thúc sớm hơn. Tiến sĩ Ni cho rằng ngày xưa lũ lên từ từ, tôm cá theo nước lũ đẻ trứng sinh sôi nhưng nay lũ rút nhanh phá vỡ quy luật khiến tôm cá sinh sản theo không kịp con nước, phù sa theo đó cũng bị thất thoát trôi ra biển, trôi vào kênh rạch không vào ruộng đồng. Tiến sĩ Ni cho rằng việc các đập thủy điện thượng nguồn trữ nước không cho biết lúc nào xả nước lúc nào không càng gây khó khăn trong mùa khô hạn.

Hạ lưu nguy khốn

Các nước vùng hạ lưu đang lo lắng về những tác động tiêu cực xảy ra khi dòng chảy dưới này hoàn toàn phụ thuộc vào quy trình vận hành của các đập thủy điện trên thượng lưu sông Mê Kông.

Với mục đích phát điện, các hồ chứa sẽ cố gắng tích nước sớm ngay từ đầu mùa mưa. Nếu gặp năm lũ lớn, khi đỉnh lũ về gặp hồ đã đầy nước, không còn khả năng cắt lũ, có thể gây lũ lớn hơn cho hạ lưu. Còn vào những năm lũ vừa và nhỏ, phía hạ lưu – đặc biệt là ĐBSCL – sẽ có những ảnh hưởng nhất định trong cả mùa lũ và mùa kiệt.

Hằng năm, lượng phù sa sông Mê Kông xuống hạ lưu khoảng 150-170 triệu tấn (trong đó từ Trung Quốc chiếm 50%). Các đập thủy điện sẽ làm giảm lượng phù sa xuống hạ lưu và vùng ĐBSCL. Sản lượng thủy sản hằng năm của sông Mê Kông khoảng 400.000 tấn sẽ sụt giảm mạnh.

Các đập thủy điện còn ảnh hưởng tới giao thông thủy, du lịch, sự di cư của một số loài cá cũng như hệ sinh thái rất đa dạng của lưu vực, chưa kể những tác động đến chất lượng nước, sự bồi lắng, xói lở…

Biển Hồ (Campuchia) đóng vai trò rất quan trọng đối với sự điều tiết dòng chảy xuống châu thổ sông Mê Kông. Nếu lũ xuống hạ lưu giảm, Biển Hồ không tích đầy nước vào mùa lũ, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự điều tiết dòng chảy kiệt xuống hạ lưu.

Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan – Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ – cho rằng, ĐBSCL rất cần đến những trận lũ trung bình, ở mức khoảng 4,2m tại Tân Châu (An Giang). Tuy nhiên, từ năm 2003 cho tới giờ, lũ ở ĐBSCL chỉ ở mức xấp xỉ và thấp hơn trung bình nhiều năm. Một nhà khoa học tại TP.HCM nhận định: ĐBSCL không mong muốn những trận lũ lớn như các năm 1961, 1978, 1991, 2000… cũng như không mong đợi những trận lũ nhỏ như những năm 1998, 2005, 2008 vừa qua.

Vì vậy, nếu như các đập thủy điện ở thượng lưu làm giảm đỉnh lũ lớn để có thể ít nhiều mang lại lợi ích cho ĐBSCL, thì việc biến những trận lũ trung bình thành lũ nhỏ, biến lũ nhỏ thành không có lũ sẽ gây hại còn nhiều hơn so với lũ lớn.

Trung Quốc đã làm gì sông Mê Kông?

Từ năm 1986 đến nay, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 8 đập thủy điện, thủy lợi lớn nhỏ trên sông Mê Kông.

Theo Michael Richardson – tác giả bài viết Đập thủy lợi của Trung Quốc biến sông Mê Kông thành dòng sông đầy tranh cãi (Dams in China Turn the Mekong Into a River of Discord) đăng trên tạp chí Yale Global ngày 16.7.2009, Trung Quốc xây dựng đập thủy lợi đầu tiên trên sông Mê Kông vào năm 1986. Lúc này các nước Đông Nam Á không có nhiều phản ứng.

Nhưng tới ngày nay, ảnh hưởng của hệ thống đập thủy lợi của Trung Quốc đối với khu vực ngày càng khiến nhiều nước phải lo lắng. Cũng theo tác giả này, Trung Quốc đã lợi dụng quy mô to lớn của công trình phát điện do họ xây dựng trên sông Mê Kông làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của con sông này. Đã có nhiều cảnh báo về điều đó, đặc biệt đối với bốn nước ở khu vực sông Mê Kông là Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Lào.

Một đập nước của Trung Quốc trên sông Mê Kông – Ảnh: Sina.com

Báo cáo tháng 5.2009 của Học viện Kỹ thuật châu Á (Asian Institute of Technology) cũng cảnh báo rằng việc Trung Quốc xây 8 đập thủy lợi, thủy điện tại sông Mê Kông có thể tạo nên những hiểm họa to lớn đối với dòng chảy của sông và tài nguyên tự nhiên. Cũng trong tháng 6.2009, một lá thư đòi Trung Quốc chấm dứt việc xây đập thủy lợi trên sông Mê Kông đã được gửi tới tay Thủ tướng Thái Lan. Lá thư có 11.000 chữ ký của phần lớn nông dân, ngư dân sinh sống ở thượng lưu và hạ lưu sông Mê Kông. Lào, Campuchia, Thái Lan đã bắt đầu đối phó bằng cách thúc đẩy các kế hoạch xây dựng đập thủy lợi thuộc phạm vi nước mình.

Theo hãng AP (Mỹ) ngày 12.12.2009, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 8 đập thủy điện ở khu vực sông Mê Kông. Mê Kông là một trong những con sông lớn trên thế giới, cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu của khu vực. Ở Trung Quốc, Mê Kông được gọi là sông Lan Thương. Con đập thủy lợi mà Trung Quốc vừa xây dựng tại đây cao 292m – cao nhất thế giới, có khả năng tích trữ nước bằng tất cả các khu thủy vực của Đông Nam Á hợp lại.

Ủy ban sông Mê Kông (MRC) được thành lập từ năm 1996 bởi Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Lào cùng phối hợp quản lý khu vực sông Mê Kông ở Đông Nam Á. MRC cho rằng các nước ở khu vực sông Mê Kông có lý do để lo ngại việc xây dựng đập thủy lợi của Trung Quốc. Chẳng hạn vào mùa mưa, đập thủy lợi của Trung Quốc sẽ tháo ra rất nhiều nước, có thể gây lũ lụt. Nhưng vào mùa khô hạn, các nước Đông Nam Á lại lo ngại thiếu nước. Tới nay, Trung Quốc vẫn chưa phải là thành viên của MRC.

Nguyễn Lệ Chi

Mực nước xuống thấp kỷ lục

Ủy ban sông Mê Kông (MRC) vừa cho hay mực nước ở thượng lưu sông Mê Kông đang xuống thấp kỷ lục và điều này đe dọa nguồn nước và sự sống của hàng chục triệu người.

Hãng tin AFP dẫn lời ông Jeremy Bird thuộc MRC nói miền bắc Thái Lan, bắc Lào và nam Trung Quốc đều bị ảnh hưởng. “Dòng chảy đang ở mức thấp hơn những gì chúng tôi ghi nhận được trong vòng 20 năm qua”, ông Bird nói. Vấn đề này tạo ra một mối đe dọa cho nguồn nước, giao thông đường thủy và tưới tiêu trên một khu vực rộng lớn dọc Mê Kông, con sông nuôi sống hàng chục triệu người. Ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông, 60 triệu người sống phụ thuộc vào con sông này với việc đánh bắt hải sản, trồng trọt, giao thông và các hoạt động kinh tế khác.

Dự báo mực nước tại Luang Prabang (Lào) sẽ xuống thấp hơn nữa trong tháng tới – Ảnh: MRC

Một thông cáo báo chí khác của MRC phát hôm 26.2 nói rằng mực nước của dòng chảy chính của sông Mê Kông đo được tại Chiang Saen, Chiang Khan, Luang Prabang, Vientiane, và Nong Khai (tất cả đều ở phía bắc Lào và Thái Lan) đều thấp hơn mực nước đo được trong mùa nước cạn hồi năm 1993, chỉ đứng sau mực nước thấp kỷ lục trong đợt hạn hán năm 1992. Thông cáo báo chí này nói thêm rằng mực nước của con sông này ở tây nam Trung Quốc cũng đang ở mức thấp nhất trong vòng 50 năm qua với dòng chảy chỉ bằng một nửa so với mức bình thường vào tháng 2.

Khoảng 21 tàu chở hàng đang bị mắc cạn trong khi các tour du lịch đường sông giữa Luang Prabang (Lào) và Huay Xai (gần biên giới với Thái Lan) bị hủy bỏ. Về việc mực nước sông Mê Kông tụt giảm, MRC nói khó có thể nói rằng nguyên nhân có phải là do khí hậu ấm lên hay không.

Trong khí đó, theo một bài báo của Bangkok Post, các tổ chức phi chính phủ, trong đó có Liên minh Hãy cứu sông Mê Kông, thì tin rằng mực nước thấp bất thường trên sông Mê Kông là do các đập của Trung Quốc. “Thật khó để chúng tôi khẳng định một cách tuyệt đối rằng không có sự liên quan giữa mực nước thấp và những con đập đó”, ông Bird nói. Theo ông, sẽ là không bình thường nếu như các con đập này chứa đầy nước trong suốt mùa khô.

Tờ The Nation thì cho hay Thái Lan sẽ gửi thư yêu cầu MRC đàm phán với Trung Quốc để xả thêm nước từ các con đập của họ trên sông Mê Kông. MRC nói họ chưa nhận được yêu cầu chính thức nào từ Thái Lan. Và nếu có, MRC sẽ tiến hành thảo luận với Trung Quốc. Hiện, Trung Quốc và Myanmar là các đối tác đối thoại với MRC, bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

Việt Phương (VP Bangkok)

Mai Vọng – Thanh Dũng

January 9, 2010

Cá, tôm “tranh chấp” trên sân nhà

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:41 am
Tags: ,

Khi thừa nguyên liệu phải bán đổ bán tháo với giá rẻ, lúc thiếu trầm trọng phải tính chuyện nhập khẩu để đủ cho chế biến, nhà máy đầu tư xây mới ồ ạt dẫn đến tranh mua nguyên liệu… Sự cạnh tranh không lành mạnh khá phổ biến khiến ngành cá tra, tôm Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn. Nếu không có biện pháp khắc phục, năm 2010 hai mũi nhọn xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam có thể tụt hậu.

Cá tra: Bội thực nhà máy

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) vừa có công văn gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo về tình hình xuất khẩu cá tra năm 2009 và đưa ra 5 kiến nghị về giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cá tra năm 2010. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu cá tra có sự sụt giảm đáng kể so với năm trước đó; trong đó EU là thị trường nhập khẩu nhiều nhất mặt hàng cá tra (chiếm trên 40%) sụt giảm mạnh về khối lượng và giá trị. Sự suy giảm được mổ xẻ từ nhiều nguyên nhân: do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp mạnh và giá tại các thị trường chủ lực đều giảm; những thông tin không trung thực nhằm hạ uy tín con cá tra Việt Nam của báo chí một số nước như Italia, Tây Ban Nha, Na Uy, khu vực Trung Đông và Niu Dilân; những rào cản bảo hộ mậu dịch từ các nước nhập khẩu chính liên tục được đặt ra…
Tuy nhiên, trước khi trách người cũng phải nhìn lại chính mình. Với bất cứ ngành xuất khẩu nào, yếu tố nguyên liệu cũng đóng vai trò quan trọng. Nhưng hiện nay, người nuôi cá tra đang rất khó khăn và thực tế này khiến họ không gắn bó với nghề. Cụ thể, nông dân khó có thể xác định giá thành nuôi khi giá con giống, thức ăn, thuốc thú y thay đổi không theo quy luật trong suốt chu trình nuôi cá kéo dài đến 8 tháng. Con giống chưa được kiểm soát về chất lượng, giá thức ăn tăng giảm thất thường là nguyên nhân làm cho nhiều hộ nuôi bị lỗ và chất lượng nguyên liệu cá nuôi không ổn định. VASEP cho rằng, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước về việc tăng cường khâu quản lý chất lượng con giống, thức ăn từ các nhà cung cấp và phân phối, cũng như không có chính sách, biện pháp ổn định giá nhằm giúp người nuôi dự kiến được giá thành, thì tình trạng được mùa mất giá, được giá mất mùa liên tục tái diễn.

Không chỉ ở khâu nguyên liệu, khâu chế biến cũng đang diễn ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng. Hiện năng lực chế biến đã vượt qua mức 600.000 tấn sản phẩm, do phong trào xây dựng nhà máy chế biến cá tra ở Đồng bằng Sông Cửu Long phát triển rất rầm rộ. Số lượng DN tham gia xuất khẩu cá tra theo thống kê lên tới 272 đơn vị trong năm 2009. Một số nhà máy mới ra đời không có khách hàng ổn định, hoạt động dưới công suất, dẫn đến việc phải nhận gia công chế biến, thậm chí không được tham gia kiểm soát chất lượng sản phẩm, để cho các công ty thương mại xuất khẩu hàng kém chất lượng, làm ảnh hưởng uy tín cá tra Việt Nam. Trước tình trạng này, VASEP khuyến nghị các địa phương cân nhắc khi cấp phép việc xây mới hoặc mở rộng các nhà máy chế biến cá tra, trong đó cần đề cao nguyên tắc nhà máy chế biến phải có vùng nguyên liệu, có thị trường ổn định.

Với 125 thị trường nhập khẩu trên khắp thế giới, mục tiêu năm 2010 đạt sản lượng cá nguyên liệu 1,5 triệu tấn, sản phẩm xuất khẩu đạt 600.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ USD không phải không thể thực hiện được. Tuy nhiên, để giải những bài toán trên, không thể chỉ bằng những nỗ lực đơn lẻ.

Ngành tôm: Đói nguyên liệu

Xuất khẩu tôm là ngành thuỷ sản duy nhất tăng trưởng trong năm 2009. Tuy nhiên, tương tự ngành cá tra, việc thiếu quy hoạch nguyên liệu trầm trọng trong khi quá nhiều DN chế biến quy mô nhỏ đang là thách thức lớn trong năm 2010. Năm 2007 – 2008, nhiều nông dân nuôi tôm lỗ nặng nên bỏ vuông tôm, không chăm lo nguồn nguyên liệu khiến từ đầu năm 2009, ngành tôm đã rơi vào cảnh thiếu hàng chế biến. Giá tôm sú tăng vọt lên trên 200.000 đồng/kg, DN phải tính chuyện nhập khẩu tôm nguyên liệu để chế biến. Trong khi đó, theo thống kê của VASEP, hiện có hơn 300 DN tham gia xuất khẩu tôm, trong đó 60 DN lớn chiếm hơn 80% kim ngạch, 120 DN có giá trị xuất khẩu hơn 1 triệu USD/năm, còn lại là DN quy mô rất nhỏ. Nhiều DN có xuất phát điểm từ những đầu mối thu gom nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, vì thế công nghệ và kinh nghiệm trong lĩnh vực chế biến rất yếu, khi thị trường không thuận lợi, khó có thể đa dạng hóa sản phẩm.

Đơn cử như năm 2009, tôm sú vẫn là mặt hàng chủ lực, chiếm trên 75% giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, do thiếu nguyên liệu, nhiều nhà máy phải hoạt động dưới công suất, trong khi đó tôm thẻ chân trắng dồi dào hơn thì lại chỉ có ít DN chế biến được.

Theo dự báo của ông Trương Đình Hoè, Tổng thư ký VASEP, sang năm 2010, tôm sú vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Song do khó khăn về nguyên liệu, giá thành tôm sú sẽ đóng vai trò chính tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu chứ không phải yếu tố thị trường.

Xuất khẩu tôm chân thẻ trắng nhờ vậy có khả năng tăng kim ngạch gấp đôi lên 500 triệu USD, sản lượng đạt khoảng 150.000 tấn. Những thị trường chủ lực của ngành tôm Việt Nam như Nhật Bản, Mỹ đều gia tăng nhập khẩu tôm chân trắng. Như vậy, gây dựng vùng nguyên liệu, đào tạo lao động để thích ứng với hoàn cảnh mới có lẽ là lối đi buộc phải chọn của nhiều DN.

Next Page »

Blog at WordPress.com.