Ktetaichinh’s Blog

March 27, 2010

Cuộc chiến chống mặn, hạn ở ĐBSCL ngày càng quyết liệt

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:02 pm
Tags: ,


(Dân trí) – Hàng ngàn hecta cây ăn trái, hoa màu, tôm cá, lúa… đang thiếu nước tưới, hàng chục ngàn hộ dân thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng. Cuộc chiến với hạn, mặn ở ĐBSCL ngày càng quyết liệt.
>> Báo động hạn hán và mặn hóa ĐBSCL
Hàng ngàn hộ dân ở vùng hạn, mặn ĐBSCL đang ngóng chờ những chuyến xe bồn nước ngọt.

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Bến Tre cho biết: Nước mặn từ sông Cửa Đại, Hàm Luông và Cổ Chiên thâm nhập vào đất liền hơn 50 km. Tại xã Gia Hòa (huyện Châu Thành) xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam, phường 7, TP Bến Tre từ 3,5 phần nghìn đến 5,3 phần nghìn. Dự báo tình hình mặn có khả năng tiếp tục xâm nhập sâu hơn nhiều.

Ông Võ Trường Xuân, ấp Lân Bắc, xã Phú Sơn nói: Phú Sơn nằm ven sông Hàm Luông trong bán kính của vùng mặn xâm nhập. Trong 2 năm 2008 – 2009, nông dân ven sông đã tự bỏ tiền và hàng trăm ngày công làm 3 cống ngăn triều cường, trữ nước ngọt bảo vệ sản xuất. Tuy nhiên với mức xâm nhập mặn như hiện nay thì chưa thấm vào đâu.

Chính quyền huyện Chợ Lách có sáng kiến hướng dẫn người dân dùng cỏ, lục bình phủ gốc cây, dùng lá dừa che bóng cho cây trong những ngày khô hạn để giữ độ ẩm cho đất. Đối với vật nuôi, gia súc nên tăng cường bổ sung thức ăn xanh để giảm độ mặn trong khẩu phần ăn.

Ông Lê Phong Hải, Giám đốc Sở NN-PTNT Bến Tre nói: tình trạng xâm nhập mặn đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản) và sinh hoạt của nhân dân. Theo báo cáo của các địa phương, sẽ có khoảng 26.900 ha cây ăn trái, 4.000 ha ca cao, 4.000 ha lúa, 250 ha hoa kiểng, 450 ha hoa màu bị giảm năng suất.

Để ứng phó với tình hình xâm nhập mặn năm 2010, các giải pháp trước mắt của Bến Tre là: Tiếp tục gia cố đê bao, đắp đập tạm, nạo vét kênh mương để ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; cung cấp dụng cụ chứa nước cho gia đình nghèo, diện chính sách, mở rộng tuyến ống cấp nước của những nhà máy nước hiện có…

Đầu tháng 4/2010, nhà máy nước tại xã An Phú Trung, Ba Tri, có vốn đầu tư khoảng 13 tỷ đồng được đưa vào hoạt động sẽ cung cấp nước sạch cho trên 1.500 hộ dân. Tuy nhiên, để công trình phát huy hiệu quả cần tới 25,5 tỷ đồng để thực hiện nạo vét kênh mương, đê bao, các đập tạm, sửa chữa các cống ngăn mặn, trữ nước ngọt…

Tương tự tại Tiền Giang, mặn đã xâm nhập đến thành phố Mỹ Tho, cách biển gần 60 km. Toàn bộ các cống ngăn mặn ở huyện Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây… đã đóng kín, hàng ngàn hécta lúa đông xuân đang có nguy cơ giảm năng suất do thiếu nước ngọt.

Chi cục thủy lợi Tiền Giang đã mở 19 vòi nước công cộng để phục vụ cho 20.000 nhân khẩu thuộc 2 huyện Tân Phú Đông và Gò Công Đông đang bị thiếu nước sinh hoạt. Tỉnh Tiền Giang đang khẩn trương đưa phương tiện chở nước ngọt từ thành phố Mỹ Tho xuống cung cấp xuống cho các hộ dân thiếu nước sinh hoạt.

Sở NN-PTNT tỉnh Trà Vinh cho biết: Nắng nóng kéo dài, nước ao hồ cạn kiệt nhanh, độ mặn tăng cao tại 1.044 ha diện tích mặt nước ở các huyện Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang… đã khiến trên 100 triệu con tôm sú giống chết.

Chiều 25/3, Sở NN-PTNT Bạc Liêu cho biết: Từ ngày 20/3 đến nay, nước mặn tràn vào vùng ngọt chuyên sản xuất lúa. Độ mặn đo được tại Bạc Liêu – Sóc Trăng là 3,2 phần nghìn. Hiện Bạc Liêu còn khoảng 24.000 ha lúa đông xuân đang trổ bông, trong đó có hàng nghìn ha có nguy cơ bị mất trắng.

Ông Phạm Đình Đôn, Chi cục trưởng Bảo vệ môi trường Tây Nam Bộ, cho biết: Lưu lượng nước sông Mekong về tới khu vực đầu nguồn sông Cửu Long hiện chỉ còn khoảng 1.600m3/giây, chưa bằng 5% tổng lưu lượng trong mùa nước nổi. Nếu tận dụng triệt để nguồn tài nguyên này để tưới cho mỗi cây lúa thôi thì nguồn nước mặt vẫn không đủ.

Giải pháp sống chung với hạn đang được nông dân hướng đến. Việc đầu tiên nghĩ tới là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tìm những cây, con chịu hạn, chịu mặn. GS. TS. Nguyễn Văn Luật, Nguyên viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, cho rằng: Cây khoai lang là một trong những loại cây trồng nhiều tiềm năng trong điều kiện có tác động của biến đổi khí hậu.

Advertisements

XK thủy sản 2010 : Nỗi lo trong cuộc

Báo  vừa có bài “XK thủy sản 2010: Không quá lạc quan” phản ánh về dự báo khá lạc quan trong khi thực trạng sản xuất, xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức. Để làm rõ các cơ hội và thách thức,PV   đã trao đổi với các nhà chế biến, XK thủy sản về những lo toan và ghi nhận tình hình vùng nguyên liệu tại ĐBSCL.
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức

Nói về thuận lợi, khó khăn của hoạt động XK thủy sản 2010, ông Phạm Hoàng Việt – Phó TGĐ Cty cổ phần thực phẩm Sóc Trăng (Sao Ta – Fimex VN) cho rằng: Với DN, cơ hội phát triển và thách thức luôn cùng tiềm tàng. DN không thể lạc quan kiểu “hồn nhiên” mà phải căn cứ trên những cơ sở vũng chắc, từng thời điểm, giai đoạn của tiến trình vận động. Thành hay bại đều do sự ứng phó linh hoạt, hợp thời của DN.

Dự định và thực tế

Ba tháng đầu năm nay, Fimex đã XK hơn 9 triệu USD (tương đương cùng kỳ năm trước); mặt hàng chủ lực vẫn là tôm sứ; thị trường chủ yếu vẫn là Nhật Bản, EU chỉ chiếm khoảng 10%. Hoạt động hiện tại khá yên ổn – sự yên ổn trong tình trạng thiếu nguyên liệu chung của tất cả các DN chế biến, XK thủy sản. Hai mối lo lớn mà Fimex đang tập trung quan tâm là nguồn nguyên liệu và công nhân. Từ trước Tết đến nay, giá và sản lượng nguyên liệu trồi sụt liên tục nên hầu hết các nhà máy ở ĐBSCL đều hoạt động với hơn nửa công suất. Fimex trong bối cảnh đó vẫn tuyển dụng thêm công nhân có tay nghề vững để giảm giờ làm cho 2.000 công nhân hiện có. Hoạt động đều và ổn thỏa mọi mặt, Fimex cần có 3.000 công nhân. “Tăng trưởng chắc chắn và ổn định là điều Fimex luôn tâm niệm. Năm 2009 xuất khẩu hơn 52 triệu USD thì năm nay cố gắng đảm bảo tăng 10-12% khi hội đủ các điều kiện cần và đủ để phát triển an toàn” – ông Phạm Hoàng Việt cho biết.

Còn ông Trần Văn Phẩm – Tổng Giám đốc Stapimex (Cty CP Thủy sản Sóc Trăng) chia sẻ mối lo toan về nguồn nguyên liệu mà theo ông là năm nay có những nét khác. Ông Phẩm nhận định nguồn nguyên liệu năm nay sẽ khả quan hơn, ví như tôm thẻ chân trắng miền Trung đang rất “đắt hàng”. Nhắc đến trở ngại trong nuôi trồng vì ảnh hưởng mặn và hạn, ông cho hay: So với Cà Mau và Bạc Liêu, diện tích nuôi của Sóc Trăng nhỏ hơn nhưng bù lại năng suất cao gấp 5-7 lần. Chuyện cứu lúa, làm ảnh hưởng tôm ở Bạc Liêu là có thật nhưng nếu giảm chút ít sản lượng ở đây không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng chung, trong khi tổng diện tích nuôi trồng trong cà vùng ĐBSCL đang mở rộng.  Năm 2010, Stapimex không đặt nặng tăng trưởng doanh số mà quan tâm hiệu quả cân đối nhiều mặt. Giá điện tăng sẽ tạo mặt bằng giá nguyên liệu, chế biến và giá thành sản phẩm; nói cách khác, sẽ làm ảnh hưởng kết quả chung cho toàn bộ ngành hàng.

Cạnh tranh nhân công

Trở lại vấn đề kinh doanh XK, TGĐ Trần Văn Phẩm cho biết: Nhận định của Vasep về triển vọng XK 2010 với 500 ngàn tấn cá và 200 ngàn tấn tôm là có cơ sở. Ở Stapimex, 3 tháng đầu 2010 đã XK được 6 triệu USD (thấp chút ít so cùng kỳ 2009) nhưng kinh doanh 2009 có cái dễ, cái khó khác. Năm 2009 nhờ có gói hỗ trợ lãi suất, người nuôi tôm duy trì được diện tích và làm ra nguyên liệu tốt hơn cho chế biến.

Hiện Stapimex có 2.500 công nhân (vào vụ sẽ lên 3.500 công nhân). “Ở VN nói thiếu công nhân là không chính xác. Có chăng là do cạnh tranh, lúc vào vụ chế biến DN nào nuôi công nhân tốt thì ổn định hơn. Mặt bằng lương công nhân ở ĐBSCL là trên dưới 4 triệu đồng/người/tháng, nếu không đủ nguyên liệu sản xuất mà có công nhân đông sẽ khó khăn. Không những thế, vẫn còn hiện tượng thu nhận công nhân nhưng ngoài lương không mua bảo hiểm cho họ. DN sử dụng công nhân rẻ đó sẽ có giá thành chế biến thấp, đó là cạnh tranh không công bằng” – ông Trần Văn Phẩm nhấn mạnh.

Thách thức từ nguồn nguyên liệu

Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức, đe dọa do nguy cơ biến đổi khí hậu (mặn và hạn hán) đang hiển hiện. Ở ba tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng có hơn 50 DN thu mua chế biến thủy sản xuất khẩu với gần 100 nhà máy.  Để đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu cho số nhà máy chế biến này hàng năm cần gần gấp đôi tổng sản lượng tôm nuôi toàn vùng. Chuyện khan hiếm nguồn nguyên liệu đã được cảnh báo từ trước do công tác quy hoạch và đầu tư diện tích nuôi trồng. Bộ NN-PTNT trong năm 2009 đang tái khởi động công việc này, tuy nhiên, nông dân mỗi khi biến động giá lên/xuống hoặc mặt hàng ế thì vẫn luẩn quẩn trồng/chặt (lúa, mía) hoặc đào/lấp hay “treo” ao đầm.

Tháng 3/2010, 14 DN ở Cà Mau áp dụng phương án cho công nhân nghỉ việc luân phiên. Lãnh đạo Cty Chế biến thủy sản XK Cà Mau (Camimex) nhận định đây là tình trạng chung của các nhà máy khi hết mùa tôm nên đã tổ chức mạng lưới thu mua đến tận cơ sở với giá cao, dù vậy, vẫn không tìm đủ nguồn nguyên liệu để chế biến. Tại Bạc Liêu, hiện 13 DN chế biến thủy sản hầu hết hoạt động không đủ công suất, cầm chừng vì thiếu nguyên liệu. Cty chế biến thủy sản xuất khẩu Giá Rai, huyện Giá Rai hơn tháng nay hoạt động có thời điểm chỉ 30% công suất thiết kế do thiếu nguyên liệu. Động thái này liên quan đến chủ trương trên 20.000ha lúa đông xuân cuối vụ đang khát nước nghiêm trọng. Tỉnh Bạc Liêu quyết định hạn chế lấy nước mặn vào vùng ngọt hóa Quản Lộ – Phụng Hiệp. Việc làm này vô tình ảnh hưởng trực tiếp đến trên 40.000 ha diện tích nuôi tôm tại khu vực lân cận. Ở xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai có 2.427ha nuôi tôm, đến thời điển này đã có đến 1.519ha bị thiệt hại, trong đó có đến 419ha thiệt hại trên 50% không khả năng khắc phục. Phòng NN-PTNT Giá Rai – cho biết: Trong 20.000 ha đã thả tôm, có đến 5.482 ha bị thiệt hại, mức độ thiệt hại từ 30% trở lên. Đáng báo động là có đến trên 10.000 ha đang đứng trước nguy cơ thiếu nước. Ông Võ Hồng Ngoãn, người nuôi tôm có tiếng tăng ở Bạc Liêu cho biết: “Ai cũng biết nuôi trồng cái gì trái mùa, nếu thành công sẽ lời rất nhiều, nhưng đối với con tôm nuôi trái vụ rất nhiều rủi ro, nếu thất bại là thiệt hại tiền tỉ như chơi”.

Trước thực trạng này – Phó giám đốc Sở NN-PTNT Bạc Liêu Tạ Minh Phú, cho biết: “Chúng tôi khuyến cáo nông dân ở nơi nào điều kiện thuận lợi thì sản xuất, nơi nào có khả năng thiếu nước thì hãy chậm lại để tránh thiệt hại”.

Nắng nóng gây thiệt hại nặng đến trồng lúa, nuôi tôm ở Bạc Liêu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:55 pm
Tags: ,

Nắng hạn kéo dài làm các con
kênh ở Bạc Liêu khô hạn.
NDĐT – Có thể nói, vào vụ sản xuất năm 2010, nhiều nông dân ở hai vùng mặn-ngọt Bạc Liêu rất phấn khởi vì con tôm và hạt lúa đều có giá cao. Tuy nhiên, niềm vui chưa lâu thì thay bằng nỗi lo nhiều tháng qua nắng nóng gay gắt kéo dài, làm thiệt hại lớn đến sản xuất và đảo lộn đời sống của người dân…
Tôm nuôi… điêu đứng
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu, đến cuối tháng 3 dương lịch, toàn tỉnh đã thả nuôi gần 150.000 ha tôm. Trong đó, tôm công nghiệp, bán công nghiệp gần 1.500 ha, còn lại nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. Do nắng nóng kéo dài nên phần lớn nguồn nước trên các kênh rạch đã bị cạn kiệt, dẫn đến thiếu nước trầm trọng. Vì vậy, số diện tích tôm nuôi bị thiệt hại ngày càng tăng. Đáng lưu ý, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã có gần 7000 ha tôm nuôi bị thiệt hại. Nguyên nhân tôm chết được xác định hầu hết do nắng nóng gay gắt kéo dài, nhiệt độ chênh lệch quá cao giữa ngày và đêm nên tôm nuôi bị sốc…
Kỹ sư Lương Ngọc Lân, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu cho biết: “Để giải quyết hài hòa lợi ích giữa con tôm và cây lúa cho bà con nông dân, Ban chỉ đạo điều tiết nước tỉnh Bạc Liêu buộc phải cho mở một số cống ngăn mặn, giữ ngọt dọc theo tuyến quốc lộ 1A để tiêu thoát nước mặn ra sông Bạc Liêu – Cà Mau; đồng thời “kéo” nước ngọt từ kênh Quản lộ – Phụng Hiệp về để cứu lúa. Việc làm này ước tính sẽ có khoảng 20.000-25.000 ha tôm nuôi bị thiếu nước mặn do việc điều tiết nước thời gian tới không được “mạnh tay” vì phải đề phòng tình trạng xâm nhập mặn vào vùng ngọt. Để khắc phục và hạn chế thiệt hại cho người nuôi tôm, ngoài việc khuyến cáo người dân tuân thủ đúng các quy trình kỹ thuật cải tạo ao, thả nuôi, chăm sóc…, ngành Nông nghiệp Bạc Liêu đang tăng cường việc kiểm tra, kiểm sóat đối với chất lượng tôm giống sản xuất trong tỉnh và nhập từ ngoài tỉnh để đảm bảo chất lượng, hạn chế thiệt hại cho người dân…”.
Nông dân Bạc Liêu tích cực cứu lúa.
Lúa cũng… chết khát…
Vụ lúa đông xuân (lúa vụ 3) năm nay, Bạc Liêu có gần 45.000 ha. Theo ngành chức năng, chưa năm nào nông dân trong tỉnh sản xuất vụ lúa đông xuân lớn như năm nay. Mặc dù chính quyền và ngành Nông nghiệp không khuyến khích nông dân sản xuất lúa vụ 3, nhưng vì giá lúa thời gian qua ở mức khá cao (vào thời điểm bà con xuống giống, lúa 5.500-6.000 đồng/kg), nên nhiều người đã bất chấp tất cả, dù có người đã biết trước được khó khăn…
Ông Phú Văn Khải, Trưởng phòng NN và PTNT huyện Hòa Bình, cho biết: Vụ sản xuất lúa đông xuân năm nay, hầu hết 100% diện tích đất trong huyện đã được người dân xuống giống. Ngành Nông nghiệp huyện đã tích cực khuyến cáo về việc lúa vụ 3 sẽ bị sâu bệnh và thiếu nước ngọt (do vào mùa khô), nhưng vẫn không thể ngăn cản được nông dân. Huyện Hòa Bình hiện có diện tích lúa đông xuân cao nhất tỉnh, với 10.000 ha. Chính vì bất chấp khuyến cáo của ngành chuyên môn, nên đã xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng tại nhiều địa phương, trong khi cây lúa đang trong gian đoạn lòng đòng, trổ bông, giai đoạn quyết định cho sự thành, bại của cả vụ mùa.
Anh Nguyễn Văn Hùng Em, nông dân xã Vĩnh Mỹ B (Huyện Hòa Bình), than: “Tôi làm có năm công ruộng mà bơm nước cực quá. Lúc trước năm ngày mới bơm một lần, còn bây giờ ngày nào cũng phải bơm, vì nếu không thì lúa sẽ chết khô …” Dọc theo tuyến đường từ cầu số 2 (huyện Hòa Bình) đến thị trấn Phước Long (huyện Phước Long) dài gần 30 km, chúng tôi tận mắt chứng kiến để có nước ngọt cho cây lúa, nhiều hộ nông dân đã “liều” đắp các cống ngang tuyến đường liên tỉnh này và đặt máy bơm để bơm nước từ các kênh mương vào ruộng cứu lúa…
Tại các huyện như Phước Long, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai… cũng đang xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng. Theo nhận định của ngành nông nghiệp tỉnh, trong thời gian tới tình trạng thiếu nước ngọt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân trong tỉnh còn đáng lo hơn, vì hiện nay, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Bạc Liêu nói riêng đang vào giữa mùa khô hạn…
Trước tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, thực tế cho thấy, chính quyền và ngành chức năng ở Bạc Liêu chưa tìm ra các biện pháp khắc phục hữu hiệu. Tỉnh chỉ có thể thực hiện các giải pháp “tình thế” như chủ động điều tiết nước mặn, kết hợp với các biện pháp tăng cường chất lượng con giống thủy sản, nhất là giống tôm; khuyến cáo nông dân kỹ thuật cải tạo ao đầm, chọn con giống, cách chăm sóc…, nhằm hạn chế rủi ro cho người nuôi tôm.
Theo ngành nông nghiệp và nhiều nông dân Bạc Liêu, mùa khô năm nay nắng nóng gay gắt chưa từng có kể từ nhiều năm nay. Nắng nóng đã làm thiệt hại đến hàng ngàn ha tôm nuôi, hàng chục ngàn ha lúa vụ 3 của tỉnh và ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt của người dân…

March 22, 2010

Trời nồm khiến người già, trẻ con đổ bệnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:54 pm
Tags: ,
Trời nồm là môi trường thuận lợi cho các loại virus, nấm mốc, vi khuẩn sinh sôi phát triển, vì thế rất dễ gây bệnh cho trẻ em, người già. Ảnh: Hoàng Hà.

Vài ngày nay, mẹ chị Lư ở Thanh Xuân, Hà Nội kêu đau đầu nhức mỏi, và thằng bé 2 tuổi con chị thì trằn trọc cả đêm. “Nhà ẩm ướt, mặc dù không quá sũng, song không khí rất khó chịu. Tôi có dám lau nhà đâu”, chị Thanh nói.

Thời tiết ẩm ướt mấy ngày nay ở miền Bắc khiến các nhà ở mặt đất cảm nhận rõ nhất, không khí khó chịu, nhiều người, nhất là người già, trẻ nhỏ cảm thấy bứt rứt, khó chịu. Ngay cả các nhà ở trên cao cũng cảm thấy rõ điều này.

Chị Phương, ở chung cư Mỹ Đình 1, Từ Liêm, Hà Nội, mặc dù nhà ở tầng 11, cách rất xa so với mặt đất, nhưng cũng không tránh khỏi cảm giác sàn gỗ nhớp nhớp, dính dính. “Trẻ con người lớn trằn trọc cả đêm. Lại còn muỗi nữa chứ, từ lâu nhà tôi không phải mắc màn vì ở trên cao rất ít muỗi, thế mà đêm qua chúng vo ve nhiều, không ngủ được”.

Theo ông Đinh Hữu Dũng, cán bộ phòng dự báo của đài khí tượng thủy văn Đồng bằng bắc bộ, hiện tượng nồm đã xảy ra vài ngày qua, và dự báo tiếp tục trong 2-3 ngày tới. Đến ngày 24-25, khi không khí lạnh tràn về, hiện tượng nồm có thể hết.

Trời nồm là do hơi ẩm trong không khí nhiều, cộng với hình thái nhiệt độ ấm. Trong lúc đó, mặt đất, sàn nhà trời lạnh hơn nên xảy ra hiện tượng ngưng kết hơi ẩm. Hiện tượng nồm thường xảy ra theo mùa, nhiều nhất là trong mùa mùa xuân, tuy có thể xuất hiện ít hơn ở các thời điểm giao mùa khác trong năm.

Trời ẩm ướt cũng khiến nhiều trẻ phải nhập viện. Tại khoa hô hấp, Bệnh viện Xanh Pôn, gần đây trung bình mỗi ngày có khoảng 80 bé nhập viện trong khi bình thường chỉ khoảng 50-60, chủ yếu là trẻ dưới một tuổi.

Bác sĩ Vũ Thị Thúy Lan, Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cũng cho biết: “Cứ khi thời tiết thay đổi, trời nồm là nhiều trẻ lại nhập viện. Chủ yếu là viêm tiểu phế quản do virus, các bệnh hen…”.

Bác sĩ Lan cũng khuyến cáo, trẻ rất “nhạy” với thời tiết nhất, nên rất dễ nhiễm bệnh. Vì thế, với những trẻ hay mắc bệnh hen cha mẹ cần tuân thủ uống thuốc dự phòng hen cho trẻ. Khi trong nhà có người lớn bị cúm thì cần tránh lây cho trẻ. Cha mẹ cần thường xuyên kiểm tra phản ứng cơ thể của trẻ. Tránh vì sợ lạnh, mặc cho trẻ quá ấm khiến trẻ bị nhiễm lạnh.

“Trời nồm là môi trường thuận lợi cho các loại virus, nấm mốc, vi khuẩn sinh sôi phát triển. Vì thế, với những vật dụng trẻ hay chơi cũng như chăn màn của trẻ cần phải được sấy, khô, giặt sạch sẽ…”, bác sĩ Lan nói.

Để chống lại trời nồm, cách hữu hiệu nhất là hạn chế lau nhà, đóng cửa, bịt kín các kẽ hở để tránh hơi ẩm vào. Nếu mở cửa, không khí vào càng nhiều, càng làm nhà trơn bóng. Ngoài ra, với các nhà bị nồm nhiều, có thể bật điều hòa khô hoặc dùng máy hút ẩm để khử ẩm.

Blog at WordPress.com.