Ktetaichinh’s Blog

June 22, 2010

Đi “chợ đàn ông”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:50 pm
Tags:

Gọi là “chợ đàn ông” vì kẻ bán người mua ở chợ này toàn đàn ông, với nhiều kiểu họp chợ đậm đà bản sắc… đàn ông!

Đàn ông có những đam mê sưu tầm rất riêng, mà những món đồ đó không thể tìm ở chợ bình thường hay siêu thị. Vậy là những chợ “đặc chủng” dành cho đàn ông ra đời. Chỗ họp chợ có thể là gian nhà kho, quán cà phê, góc đường. Chợ có thể họp theo giờ, theo ngày, theo tuần… miễn có người mua, kẻ bán.

Đam mê săn hàng “độc”

Ở Sài Gòn có những chợ vỉa hè chuyên dành cho các “đức ông” nổi tiếng như: góc đường 3 tháng 2 – Lê Đại Hành; góc Lý Nam Đế – Vĩnh Viễn (Q.11); khu Nguyễn Kiệm – Thích Quảng Đức (Q.Phú Nhuận); khu Bình Hòa đường Nơ Trang Long (Q.Bình Thạnh); đoạn Bình Long đường Tân Kỳ Tân Quý (Q.Tân Phú)… Nhiều ông đã rất tự hào khi mua được chiếc nanh heo niềng vàng 10 để đeo trừ ác mộng hay tượng đầu người mỏ chim Campuchia từ thế kỷ X…

Tìm cho mình một chiếc mũ quân đội cũng là đam mê của đàn ông – Ảnh: T.Hồng

Sôi nổi nhất và cũng đặc trưng “em yêu khoa học” kiểu đàn ông nhất có lẽ là chợ ở góc đường Võ Thị Sáu – đoạn gần vòng xoay Công trường Dân Chủ, Q.3. Chợ họp trong giờ nghỉ trưa. Mặt hàng phổ biến là các thiết bị điện gia dụng: quạt máy, máy giặt, tủ lạnh, bàn ủi, ampli, thùng loa, đầu karaoke; mặt hàng ăn theo là các loại đồ gỗ cũ như kệ, giường, tủ, sofa… “Đương nhiên đây là những món hàng giá rẻ được giao dịch theo nguyên tắc… hên xui, vì không có phương tiện kiểm tra. Hên thì của bền giá tốt, xui thì có dịp trổ tài “khéo tay hay làm” cho vợ” – anh Đỗ Chiến, nhân viên điện lực Q.11 cho biết.

Internet xuất hiện đã kéo theo sự ra đời của “chợ nhà kho” cho quý ông. Đây là loại chợ phục vụ 24/24 giờ trong suốt bảy ngày một tuần. Các giao dịch chính đương nhiên là trên mạng nhưng nơi giao nhận hàng luôn là kho chứa đồ tại nhà người bán. Mặt hàng chủ yếu của loại chợ này là đồ điện tử, máy tính, điện thoại, hộp quẹt, đồng hồ…

Văn hóa “chợ đàn ông”

Dân gian có định nghĩa vui về chợ: 2 bà + 1 con vịt = cái chợ. Là nơi trăm người bán vạn người mua, chợ nghiễm nhiên được xem là nơi xô bồ nhất. Chính vì thế, để tạo khác biệt, “chợ đàn ông” được nhắm đến mục tiêu thể hiện phong cách quý ông, mặc dù công thức cũng không khác mấy: 2 ông + 1 món “ve chai” = chợ.  Chợ đàn ông cũng cò kè bớt một thêm hai, nhưng tiếng trước tiếng sau là giao dịch có kết quả. Kết quả dù thành hay không, không quan trọng. Điều ưng ý lớn nhất của cuộc giao dịch chính là người bán, người mua đều vui.

Thời gian gần đây, phong trào chơi xe hai bánh cổ đã làm xuất hiện các chợ chuyên doanh phụ tùng “độc” cho xe gắn máy. Có thể tìm tất cả những gì thuộc về các dòng xe Vélosolex, Goebel, Mobilette, Vespa, Honda 67 tại “sạp” trên mạng của Binhnguyen (Q.3); Chipvista (Q.10). Các ông chủ này không chỉ là người đang đeo đuổi đam mê, mà còn tích cực vận động cộng đồng phục hồi nét văn hóa người Sài Gòn xưa qua các dòng xe cổ.

Một “chợ chuyên doanh” xe gắn máy cổ – Ảnh: T.Hồng

Một chợ khác được xem là đậm đà bản sắc… văn hóa đàn ông họp vào sáng chủ nhật hằng tuần tại quán cà phê của ca sĩ Cao Minh gần 255/47 Nơ Trang Long, Q.Bình Thạnh. Chủ chợ là Dzungtran (Trần Khắc Dũng), người lập trang web saigonvechai.com bảy năm trước. Khách tới chợ có những nick khá độc đính kèm món đồ sở hữu hoặc đam mê của từng người như: Dũng thớt (chủ thớt), Dũng đồ cổ, Dũng sừng, Lộc Triumph, Lộc Normal, Minh ba bánh, Minh Irắc, Minh xu…

Các mặt hàng được bày bán ở chợ này đều thuộc dạng “mua ve chai bán thành phẩm”. Một chiếc “lam già” (xe Lambretta) ở Phan Rang, được Tuấn “khùng” (Đà Lạt) mua với giá 300.000đ, nhưng một quý ông ở TP.HCM mua lại giá 70 triệu đồng, hiện có người trả 5.000 đô nhưng chủ nhân mới vẫn chưa chịu “chia tay”.

Trong “phiên chợ ve chai” ngày 16/5 vừa rồi có mặt bốn chiếc mô tô Normal 350 phân khối. Một trong số đó được chào giá 9.000 đô mà ít ai biết được trước khi “tút” chiếc xe chỉ là “đống sắt vụn”, nằm lăn lóc ở góc nhà một thợ sửa mô tô trên đường Hồ Đắc Di (Q.Tân Phú).

Điều dễ thấy nhất ở “phiên chợ đàn ông” này, khi họp chợ, kẻ bán người mua đều mang tinh thần hào hiệp. Anh Bản “quân sử”, người có bộ nhớ khổng lồ, sẵn sàng thẩm định và cung cấp kiến thức miễn phí mọi thứ liên quan đến quân trang, quân dụng. Hơn 20 năm chuyên chơi mô tô, Minh “ba bánh” có thể đọc vanh vách lý lịch bất kỳ chiếc mô tô ba bánh nào.

“Chợ đàn ông” có nhiều điểm riêng có thể tập hợp thành một nét văn hóa giới tính. Dân họp chợ không hề thề thốt để đảm bảo giá trị món hàng; không cong lưỡi để cá cắn câu, không dùng chiêu để “thuốc” bạn hàng… Trong đó, có một điểm vui giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa tạo xác vừa tạo hồn để chợ đậm đà bản sắc… đàn ông: Tất thảy thành viên đến “chợ đàn ông” đều là những người chồng… dễ thương tiêu biểu!

Theo Nguyễn Thiện
Phụ nữ
Advertisements

June 1, 2010

Hà Nội ứng 500 tỷ đồng bình ổn giá 9 mặt hàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:45 pm
Tags: , ,
Cập nhật lúc : 9:05 AM, 01/06/2010

Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định tạm ứng 500 tỷ đồng; trong đó 400 tỷ đồng tạm ứng cho một số doanh nghiệp, với lãi suất 0% để dự trữ chín mặt hàng thiết yếu.

Số còn lại 100 tỷ đồng, thành phố sẽ hỗ trợ cho việc dự trữ hàng phục vụ cứu trợ khi có thiên tai, bão lụt, úng ngập.

Chín mặt hàng mà Hà Nội hỗ trợ bình ổn giá gồm gạo trắng thường với 6.400 tấn; thịt gia súc có 1.520 tấn; thịt gia cầm là 560 tấn; trứng gia cầm với 12 triệu quả; thực phẩm chế biến là 1.280 tấn; thủy, hải sản đông lạnh với 800 tấn; dầu ăn có 240.000 lít; đường RE với 240 tấn; rau, củ là 4.000 tấn.

Thời gian chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu bình ổn thị trường của thành phố trong 10 tháng, bắt đầu từ tháng Sáu tới và kết thúc vào quý I/2011; thời gian hoàn trả vốn tạm ứng được xác định cụ thể, riêng biệt theo từng đợt giải ngân.

Thành phố yêu cầu các doanh nghiệp được thành phố tạm ứng vốn phải thực hiện treo biển nhận diện cửa hàng, điểm bán hàng bình ổn giá trong suốt thời gian tổ chức bán hàng.

Về chất lượng các mặt hàng được bán phải đảm bảo chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm trong điều kiện bình thường cũng như khi có biến động giá, không để xảy ra tình trạng hàng hóa kém phẩm chất, không đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng.

Trong điều kiện thị trường có biến động cung cầu, giá cả, Tổ công tác liên Sở Công thương-Tài chính sẽ yêu cầu các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ bình ổn thị trường thực hiện bán thấp hơn tối thiểu 10% giá thị trường tùy theo mức độ biến động của thị trường.

Nếu nguyên nhân biến động thị trường là do yếu tố khan hiếm hàng hóa giả tạo, các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ bình ổn thị trường phải căn cứ chi phí, lợi nhuận hợp lý với điều kiện kinh doanh cụ thể của đơn vị mình để điều chỉnh giá bán phù hợp với giá trị hàng hóa, chi phí và nhu cầu thực tế của thị trường tại thời điểm có biến động đột biến.

Thành phố cũng giao cho Sở Công thương phối hợp với Sở Tài chính xây dựng tiêu chí cụ thể để xét chọn doanh nghiệp tham gia, xác định rõ quyền lợi và trách nhiệm của các doanh nghiệp.

Đồng thời, hai sở trên thẩm định phương án bình ổn giá của doanh nghiệp và đề xuất Ủy ban Nhân dân thành phố ban hành phương án hỗ trợ tài chính, mức hỗ trợ vốn cho từng doanh nghiệp được giao nhiệm vụ bình ổn thị trường.

Đặc biệt phải kiểm tra tiến độ tạo nguồn hàng thiết yếu của các doanh nghiệp về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa tham gia bình ổn; kiểm tra việc niêm yết giá, bán đúng giá niêm yết, đăng ký giá đối với các mặt hàng thiết yếu thuộc diện bình ổn giá của thành phố.

Chi cục quản lý thị trường phối hợp với Ủy ban Nhân dân các quận, huyện và các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời các trường hợp: đầu cơ hàng hóa, găm hàng, tăng giá quá mức, đưa tin thất thiệt về thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ và các hành vi vi phạm hàng giả, buôn lậu và gian lận thương mại theo thẩm quyền.

May 27, 2010

Bán hàng đa cấp – “đau đầu” các nhà quản lý

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:25 pm
Tags: ,
Cập nhật lúc : 2:26 PM, 25/05/2010
Ảnh minh họa.

(eFinance) –  (Tạp chí Tài chính Điện tử số 82 ngày 15/4/2010) – Bán hàng đa cấp hay kinh doanh theo mạng (multi level marketting) là một ngành nghề có từ giữa thế kỷ 19, lúc đầu xuất phát từ Hoa Kỳ. Đây là hoạt động kinh doanh bán hàng trực tiếp sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng (là những nhà phân phối và người thân của họ) và chỉ dành riêng cho hoạt động tiếp thị trên thị trường hàng hoá chứ không dành cho thị trường dịch vụ.

Bán hàng đa cấp, phương thức kinh doanh mới

Bán hàng đa cấp hay kinh doanh theo mạng (multi level marketting) là một ngành nghề có từ giữa thế kỷ 19, lúc đầu xuất phát từ Hoa Kỳ. Đây là hoạt động kinh doanh bán hàng trực tiếp sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng (là những nhà phân phối và người thân của họ) và chỉ dành riêng cho hoạt động tiếp thị trên thị trường hàng hoá chứ không dành cho thị trường dịch vụ. Theo đó, người bán hàng sẽ bán trực tiếp tại nơi ở của người mua hàng hoặc một nơi khác mà không phải là tại công ty cũng như tại các cửa hàng hay có một địa điểm cố định để bán hàng. Cần phân biệt rõ bán hàng đa cấp với bán hàng đa cấp bất chính khi xem xét thực tiễn hoạt động của một doanh nghiệp (DN) và đối chiếu với các quy định của pháp luật.

Bán hàng đa cấp là một phương thức tiếp thị bán lẻ hàng hóa hiện đại mới phát triển ở nước ta trong một vài năm trở lại đây khi chúng ta mở rộng giao lưu kinh tế, triển khai đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như các tổ chức tài chính, thương mại quốc tế và khu vực. Trên giác độ của DN là nhà sản xuất hoặc nhà phân phối cấp I thì mô hình này có nhiều ưu điểm như: không cần cửa hàng, có được nhiều người bán hàng mà không phải trực tiếp trả lương, không bị ràng buộc bởi Bộ Luật lao động. Người bán hàng, người cung ứng, người giới thiệu, tiếp thị sản phẩm là một và người tiêu dùng không bị mua phải hàng giả, hàng nhái khi tham gia vào hệ thống bán hàng đa cấp của DN hoạt động chân chính. Mô hình này giúp nhà sản xuất có điều kiện hơn để tập trung nguồn lực phát triển cho ra những sản phẩm có chất lượng ngày một tốt hơn mà chúng vẫn được bán với giá thấp hơn những sản phẩm cùng loại bán theo cách thông thường. Nếu được quản lý tốt, hoạt động bán hàng đa cấp chân chính, tuân thủ đúng pháp luật sẽ có những đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội bằng việc tạo ra công ăn việc làm và mang lại thu nhập cho nhiều người lao động.

Bán hàng đa cấp ở nước ta hiện nay, những vấn đề đặt ra

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam, hiện nay trên cả nước có hơn 30 công ty kinh doanh theo mô hình bán hàng đa cấp. Theo xu thế hội nhập, chắc chắn trong thời gian tới sẽ có nhiều công ty bán hàng đa cấp quốc tế sẽ tham gia vào thị trường Việt Nam, chưa kể trong nước sẽ có thêm nhiều DN cũng áp dụng mô hình kinh doanh này. Mặc dù, trong thời gian qua có một số DN bán hàng đa cấp kinh doanh bất chính, gây thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng và đã bị các cơ quan chức năng rút giấy phép kinh doanh (đơn cử như Công ty Sinh Lợi, Công ty Yahgo Việt Nam…). Tuy nhiên, đó chỉ là những hiện tượng thiểu số của một số thương nhân kinh doanh không đúng quy định của pháp luật. Trong khi đó, thực tế vẫn có nhiều DN bán hàng đa cấp tuân thủ đúng pháp luật và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của TP. Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung. Xét trên nhiều phương diện, có thể nhận thấy hoạt động kinh doanh đa cấp là một phương thức kinh doanh hiện đại, mang tính hiệu quả cao và đóng góp vào việc tạo ra việc làm và thu nhập cho một số đông người tham gia phân phối. Tuy nhiên, quản lý hoạt động kinh doanh đa cấp như thế nào để mô hình kinh doanh này đi đúng hướng của cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và trở thành mô hình kinh doanh hiện đại, chân chính, mang lại lợi ích cho toàn xã hội,… là một vấn đề không hề đơn giản được đặt ra đối với các nhà quản lý.

Sớm xác định vấn đề là làm thế nào để có thể quản lý được mô hình kinh doanh đa cấp và đưa nó vào quỹ đạo lành mạnh, góp phần củng cố hệ thống phân phối hàng hóa của Việt Nam và thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của người dân, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp pháp luật, pháp quy. Đến thời điểm này, hành lang pháp để quản lý, giám sát và điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp gồm có các văn bản: Luật cạnh tranh số 27/2004/QH11 ngày 03/12/2004, Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, Thông tư hướng dẫn của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) số 19/2005/TT-BTM ngày 08/11/2005.

Từ những điểm đặc trưng của bán hàng đa cấp và thực tiễn những năm qua cho thấy những văn bản nêu trên cũng như các văn bản pháp luật chuyên ngành hiện có vẫn chưa thật đầy đủ và cụ thể để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ các DN làm ăn chân chính. Trên giác độ quản lý nhà nước, hoạt động bán hàng đa cấp cần phải có các quy định pháp luật để điều chỉnh các hành vi của DN và những người tham gia mạng lưới về các nội dung sau:

Thứ nhất, Quy định rõ các điều kiện cần thiết để tiến hành hoạt động bán hàng đa cấp;

Thứ hai, Quy định các hành vi bị cấm đối với DN và những người tham gia mạng lưới nhằm thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại cho người tiêu dùng;

Thứ ba, Quy định cụ thể về cơ chế quản lý tài chính đối với hoạt động bán hàng đa cấp, trong đó có các ràng buộc về mức giá, cơ chế kiểm soát giá, nghĩa vụ thuế, hạch toán kế toán,…

Thứ tư, Quy định cụ thể về các hành vi được các chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu với bạn đọc về các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến 2 nội dung đầu. Trong khi đó, các nội dung còn lại (thứ ba và thứ tư) chúng tôi xin được đề xuất một số điểm mang tính gợi ý với kỳ vọng nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc và những người quan tâm đến việc xây dựng cơ chế, chính sách để quản lý, giám sát hoạt động bán hàng đa cấp ở nước ta.

1- Về điều kiện cần thiết: Tại Khoản 11 Điều 3 của Luật cạnh tranh (Luật số 27/2004/QH11 ngày 03/12/2004) đã quy định rõ: “Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

a)- Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

b)- Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;

c)- Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.”

Với các điều kiện như trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng ai cũng có thể tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp và DN nào cũng có quyền triển khai hoạt động này. Do đó, rất cần phải có thêm các quy định về hành vi bị nghiêm cấm (nêu dưới đây).

2- Về các hành vi bị nghiêm cấm: Nhằm phân biệt rõ ranh giới giữa bán hàng đa cấp tuân thủ quy định của pháp luật (chân chính) với hoạt động bán hàng đa cấp bất chính, Luật cạnh tranh đã có quy định tại Điều 48 về nghiêm cấm DN thực hiện các hành vi nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, đó là:

Một là, Nghiêm cấm việc: Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

Hai là, Nghiêm cấm việc: Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;

Ba là, Nghiêm cấm việc: Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

Bốn là, Nghiêm cấm việc: Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia.”

3- Về cơ chế quản lý tài chính đối với hoạt động bán hàng đa cấp: Vì đây là phương thức kinh doanh còn rất mới mẻ, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản lý. Ngay cả trong việc quản lý hoạt động bán hàng theo phương thức truyền thống, chúng ta cũng chưa theo kịp hoạt động thực tiễn để có các quy định cho phù hợp. Từ thực tiễn đó, chúng tôi cho rằng có một số nội dung cần thiết phải quy định trong cơ chế quản lý tài chính đối với bán hàng đa cấp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, cơ chế quy định giá trong hệ thống: Cần phải trao đổi kỹ và làm rõ vấn đề có quy định về cơ chế định giá bán hay không ? Việc này cần xuất phát từ tính chất của từng hoạt động hay phương thức bán hàng. Bán hàng đa cấp khác xa với phương thức bán hàng qua phương thức đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng; tuy nhiên, đây cũng không giống cơ chế bán hàng thoả thuận, mua đứt bán đoạn bởi cách thức phát triển mạng lưới.

Thứ hai, quản lý doanh thu của DN bán hàng đa cấp như thế nào ? Vấn đề cốt lõi trong quản lý DN cũng như quản lý thuế đòi hỏi phải quản lý được doanh thu bán hàng của toàn hệ thống. Thông thường, cơ quan quản lý nhà nước cũng không dễ gì nắm được 100% doanh thu của DN. Là người trong cuộc, tổ chức điều hành mạng lưới bán hàng, DN đương nhiên có các biện pháp để quản lý được doanh thu của họ, chí ít ra thì cũng quản lý tốt hơn cơ quan nhà nước. Với chế trả hoa hồng ở các tỷ lệ khác nhau tuỳ theo cấp độ của nhân viên bán hàng, chúng ta sẽ có cơ hội thảo luận sâu hơn về vấn đề quản lý doanh thu.

Thứ ba, vấn đề chi phí trả cho nhân viên bán hàng trong mạng lưới cần phải được xem xét một cách toàn diện trong mối quan hệ so sánh với các chi phí bán hàng trong phương thức bán hàng truyền thống. Thực tế cho thấy những người tham gia vào hệ thống của một DN bán hàng đa cấp sẽ được hưởng hoa hồng theo tỷ lệ % trên doanh số bán ra. Mức cụ thể không giống nhau giữa những người tam gia, tùy thuộc vào vị trí hay “chức danh” của họ đạt được theo cách tính điểm dựa trên kết quả bán hàng và thành tích phát triển mạng lưới. Có thể nhận thấy hoa hồng trả cho người tham gia hệ thống bán hàng đa cấp bao gồm các khỏan chi phí sau: tiền lương, tiền công (tuy không phải ký hợp đồng lao động); bảo hiểm (cá nhân tự lo); chi phí tiếp thị, khuyến mại; hoa hồng môi giới; chi phí vận chuyển; thưởng theo thành tích bán hàng,… Vấn đề vướng mắc lớn đang xảy ra tranh chấp, khiếu kiện giữa các DN bán hàng đa cấp với cơ quan quản lý thuế hiện nay là tỷ lệ % hoa hồng có được tính tòan bộ vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế của DN hay phải chịu tỷ lệ % khống chế ?

Thứ tư, việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Người tham gia hệ thống bán hàng đa cấp đương nhiên nhận được thu nhập từ tỷ lệ % hoa hồng được hưởng, DN bán hàng đa cấp sẽ phải thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thuế theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khấu trừ theo tỷ lệ 10% đối với những món chi trả có trị giá 500.000 đồng/lần trở lên hay khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần? Tính khấu trừ trên tổng số tiền cá nhân được hưởng hay cho loại trừ một phần bởi thu nhập thực của cá nhân là bao nhiêu khi họ phải tự trả tiền chi phí đi lại, bảo quản, vận chuyển hàng hóa, mở các lớp huấn luyện người tham gia mới, tổ chức các cuộc hội thảo,… chỉ trong khuôn khổ tỷ lệ % hoa hồng có được ? Việc xem xét đánh thuế TNCN đối với người tham gia được nhận % hoa hồng có được xem xét trong mối liên quan tính vào chi phí của DN bán hàng đa cấp hay không ?

4- Về quy định hành vi và chế tài xử phạt

Thông thường, hệ thống pháp luật thường có các quy định hành vi bị cấm, hành vi bị ràng buộc điều kiện. Bên cạnh đó, cũng có những quy định cụ thể về chế tài xử lý hành chính hay hình sự đối với các vi phạm xảy ra. Trong thực tiễn hiện nay, có những luật chuyên ngành quy định luôn cả nội dung chế tài xử lý, tuy nhiên cũng không ít lĩnh vực chuyên ngành có văn bản riêng về xử phạt hành chính (thường là Nghị định của Chính phủ). Nhìn vào các giao dịch hàng hóa và cơ chế vận hành của mạng lưới bán hàng đa cấp chúng ta thấy đối tượng chính mà xã hội cần quản lý, giám sát là doanh nghiệp và đội ngũ người tham gia. Các lĩnh vực pháp luật mà chúng ta cần sử dụng đến trong quản lý không chỉ bao gồm Bộ luật dân sự, pháp luật về thương mại, pháp luật về cạnh tranh, mà còn bao gồm cả lĩnh vực pháp luật về thuế, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về quảng cáo,..

Thay lời hẹn ước

Bán hàng đa cấp đã và đang tồn tại, hoạt động trong thực tiễn nền kinh tế nước ta, chúng ta không thể phủ nhận và đã thừa nhận nó, đã có các quy định pháp luật để quản lý, giám sát và định hướng hoạt động của nó. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa thật đầy đủ và cụ thể để đáp ứng được yêu cầu đề ra đối với công tác quản lý nhà nước. Xa hơn nữa, dự báo rằng hoạt động bán hàng đa cấp cũng sẽ có những tác động tới đời sống văn hóa, tập quán, đạo đức, quan hệ và trật tự xã hội… cho nên càng sớm có thêm quy định pháp luật để quản lý nó thì càng tốt. Chúng tôi hy vọng rằng những nội dung mang tính gợi ý, đề xuất vấn đề được thể hiện trong bài viết này sẽ nhận được ý kiến trao đổi, đề xuất của quý bạn đọc gần xa.

(Th.S. Nguyễn Văn Phụng, Phó Vụ trưởng Vụ CS Thuế, Bộ Tài chính)

May 14, 2010

The consumers’ attitude on Vietnam products Thứ 6, 14/05/2010 – 14:50 PM

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:51 pm
Tags: , , ,
Dear friends

If you happen to have interest in Vietnamese consumers’ behaviors, the below information/link might be useful. This is free monthly market update on Vietnamese consumers’ attitude and behavior across different target groups. It is named after Viettrack, a product of FTA research & consultant, the company I am working for.

[url]http://www.ftaresearch.com/userfiles/file/FTA%20Market%20Research%20-%20Viettrack%20October%202009%20-%20E.pdf[/url]
You can also have free access to previous issues of Viettrack as well by searching in this website: [url]www.ftaresearch.com[/url]

March 14, 2010

Lúng túng chuyện giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:08 pm
Tags: , , ,

Dai dẳng mấy tháng nay, giới đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nhiều lần lên tiếng bày tỏ sự lo ngại trước khả năng Nhà nước tăng cường kiểm soát giá một số mặt hàng trong khi giới kinh doanh trong nước hầu như chưa thấy lên tiếng về vấn đề này. Vì sao thế?

Nguồn gốc chuyện kiểm soát giá

Căn nguyên của chuyện kiểm soát giá là bản dự thảo một thông tư do Bộ Tài chính soạn thảo nhằm thay thế Thông tư 104 được ban hành từ cuối năm 2008.

Trong khi Thông tư 104 quy định khá chi tiết các điều kiện áp dụng các biện pháp bình ổn giá đối với một số mặt hàng (ví dụ đối với sữa: “Trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động”) thì dự thảo chỉ ghi những điều kiện chung chung như “mức giá tăng cao hơn so với mức giá đã đăng ký, đã kê khai trước đó với cơ quan có thẩm quyền”…

Với các loại hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký giá, Thông tư 104 chỉ giới hạn vào các doanh nghiệp có trên 50% vốn sở hữu nhà nước trong khi dự thảo mở rộng ra tất cả doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục phải đăng ký giá, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Giới đầu tư quan ngại chuyện tăng giá.

Việc đưa ra một dự thảo mới thay thế cho Thông tư 104 là do thông tư này đã không làm được nhiệm vụ bình ổn giá như mục tiêu đề ra. Ví dụ trong năm 2009 dư luận xã hội nóng lên chuyện giá sữa tăng liên tục, nhiều người bất bình vì có loại sữa giá ở thị trường Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các thị trường khác trong khu vực.

Thế nhưng Thông tư 104 đã không cung cấp cho các cơ quan nhà nước cũng như chính quyền địa phương một công cụ để bình ổn giá vì đã quy định chỉ áp dụng các biện pháp bình ổn giá khi giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục. Trở ngại tương tự cũng xảy ra với các mặt hàng khác như gạo, thuốc chữa bệnh, đường… Nếu giá các mặt hàng này tăng dưới mức quy định trong thông tư thì các cấp quản lý cũng đành chịu.

Lập luận của giới đầu tư nước ngoài

Nay khi dự thảo đưa vào diện đăng ký giá, kê khai giá cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngay lập tức giới đầu tư nước ngoài phản ứng. Lần lượt các hiệp hội doanh nhân nước ngoài như EuroCham, AmCham đã gửi thư cho Bộ Tài chính, Chính phủ, trả lời báo chí nước ngoài và tổ chức hội thảo để phản đối các quy định kiểm soát giá.

Họ không hiểu vì sao Việt Nam lại muốn quay lại cơ chế kiểm soát giá chứ không theo quy luật thị trường và để thị trường quyết định giá hàng hóa. Họ cho rằng các quy định trong dự thảo sẽ gây ra những gánh nặng quản lý cho các doanh nghiệp khi phải thực hiện việc đăng ký giá cho hàng ngàn chủng loại hàng, rằng các thông tin về phương án giá (như giá vốn, giá nhập khẩu, chi phí bán hàng, lợi nhuận dự kiến…) là bí mật kinh doanh nay lại phải kê khai, đăng ký.

Các nhà đầu tư cũng cho rằng với khả năng có chuyện kiểm soát giá như thế, các dự án FDI vào các lĩnh vực sản xuất hàng hóa trong danh mục như sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất dầu thực vật, phân bón, và sữa sẽ lưỡng lự trước khi quyết định đầu tư vì không nhà đầu tư nào muốn sản phẩm của mình phải chịu áp đặt giá. Họ cũng đặt vấn đề liệu kiểm soát giá như thế có trái với các cam kết WTO hay không bởi các văn bản gia nhập có cam kết: “kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng các biện pháp quản lý giá phù hợp với quy định của WTO”.

Vấn đề tâm lý

Sự bất lực của cơ quan quản lý giá đối với một số mặt hàng như sữa, đường hay tân dược trong năm 2009 là yếu tố thuận lợi cho việc ra đời dự thảo thay thế cho Thông tư 104.

Việc loại bỏ các điều kiện cụ thể trước khi có thể áp dụng các biện pháp bình ổn giá được kỳ vọng sẽ giúp cơ quan quản lý kiểm soát được giá sữa, giá thuốc chữa bệnh bất kể giá có tăng dưới 20% (sữa) hay dưới 15% (thuốc chữa bệnh). Buộc đăng ký giá đối với tất cả các khâu từ sản xuất, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ cho đến đại lý cũng được kỳ vọng sẽ lấp khe hở của Thông tư 104 khi trong thực tế năm 2009, các doanh nghiệp kinh doanh sữa hay thuốc chữa bệnh ở Việt Nam là nhà phân phối cho các hãng nước ngoài, không thuộc diện đăng ký giá.

Chính vì thế mà đã từng có những kiến nghị Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư 104 theo hướng “tất cả doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ nhà nước bình ổn giá phải thực hiện đăng ký giá theo quy định pháp luật”.

Bối cảnh những tháng đầu năm 2010 cũng thuận lợi cho dự thảo khi nhiều mặt hàng liên tục tăng giá, trong đó có nhiều mặt hàng là đầu vào cho dây chuyền sản xuất của nhiều doanh nghiệp khác. Bởi vậy, doanh nghiệp trong nước giữ im lặng trước dự thảo là điều dễ hiểu. Mặt khác, cũng có phỏng đoán, giới doanh nghiệp trong nước hiểu rõ tính khả thi thấp của các biện pháp kiểm soát giá nên giữ thái độ im lặng vì cho rằng mọi việc rồi sẽ “đâu vào đó”. Chuyện giá xăng tăng liên tục bất kể nhiều quy định chặt chẽ là một minh họa điển hình.

Nhưng quan trọng hơn là tính khả thi

Việc kiểm soát giá chưa bao giờ là một vấn đề mang tính khả thi cao. Giả dụ theo tinh thần của dự thảo, để áp dụng biện pháp bình ổn giá, Bộ Tài chính có thể quy định giá tối đa và giá tối thiểu cho một sản phẩm, nhà cung cấp sẽ giữ lại không đưa mặt hàng này vào thị trường nữa và ngay lập tức thị trường sẽ hình thành những loại “chợ đen” buôn bán “chui” các sản phẩm này với giá thật sự theo cung cầu thị trường.

Biện pháp kiểm soát hàng tồn kho của doanh nghiệp là sự can thiệp quá mức vào việc kinh doanh, sẽ vấp phải sự chống đối cao hơn nữa. Kiểm soát giá sẽ dẫn đến sự khan hiếm giả tạo như thời kỳ bao cấp, phải mua hàng hóa bằng tem phiếu và sau cùng giá cả sẽ trở nên đắt đỏ, lạm phát cao sẽ quay trở lại – những hệ quả hoàn toàn trái ngược mục tiêu của dự thảo mong muốn đạt được.

Dự thảo có nhiều đoạn mang tính mơ hồ không định lượng được như “biến động một cách bất thường”, “giá tăng quá cao hoặc quá thấp không hợp lý”, “những yếu tố hình thành giá không hợp lý”. Làm sao để doanh nghiệp biết được thế nào là bất thường, thế nào là không hợp lý thì không thấy dự thảo hướng dẫn hay giải thích. Thử hỏi với quy định như thế này “giá do các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định giá không đúng các yếu tố hình thành giá theo quy định của pháp luật” làm sao doanh nghiệp hiểu để tuân thủ?

Bộ máy hành chính phục vụ công việc kiểm soát giá cũng không thể nào kham nổi khối lượng công việc khổng lồ, tiếp nhận đăng ký giá, theo dõi biến động giá, hiệp thương giá… vì giá chịu rất nhiều yếu tố đầu vào khác nhau tác động như tỷ giá, giá thế giới, giá xăng dầu, giá điện, lương, chi phí sản xuất…

Không thể nào tưởng tượng nổi chuyện doanh nghiệp sản xuất một mặt hàng trong diện đăng ký giá, mỗi khi thay đổi giá thì phải thực hiện đúng quy trình thực hiện phương án điều chỉnh giá phức tạp mới được tăng hay giảm giá bán. Có những quy định mới nhìn vào đã thấy không thể nào thực hiện được, không hiểu sao dự thảo vẫn đưa vào.

Ví dụ, Sở Tài chính sẽ là nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký giá của các thành phần kinh tế khác (ngoài doanh nghiệp do Nhà nước nắm 51% vốn điều lệ trở lên – đăng ký ở Bộ Tài chính) nhưng làm sao một sở ở một địa phương có đủ nguồn lực để biết doanh nghiệp đăng ký giá như thế nhưng có thực hiện đúng giá đã đăng ký không ở trên các thị trường khắp cả nước. Làm sao doanh nghiệp, mặc dù đã đăng ký giá, có thể kiểm soát được việc bán đúng giá đã đăng ký tại hàng chục ngàn hay thậm chí hàng trăm ngàn điểm bán lẻ trên khắp cả nước.

Biện pháp thay thế

Cứ vài ba năm, lại rộ lên một chuyện nào đó với cộng đồng đầu tư nước ngoài. Cách đây mấy năm là chuyện hiểu nhầm phải ghi tên công ty bằng tiếng Việt, rồi trước đó nữa là vấn nạn hai giá. Nay vấn đề kiểm soát giá thật sự là một chuyện không hay ho gì cho việc quảng bá môi trường kinh doanh của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam vẫn còn bị xem là nền kinh tế phi thị trường, những nỗ lực để các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường chắc chắn bị ảnh hưởng xấu bởi chuyện kiểm soát giá mà tính khả thi, như phân tích ở trên là rất ít.

Thông tư 104 với đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối mà cũng không triển khai được trong thực tế thì dự thảo thay thế với đối tượng mở rộng ra nhiều lần sẽ càng khó thực thi hơn. Tại sao không sử dụng các luật đã có như Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng và quan trọng nhất là quy luật thị trường để kiểm soát giá.

Riêng với các mặt hàng “nhạy cảm” với công luận như sữa, thuốc chữa bệnh thì nên có những nghiên cứu riêng để áp dụng. Điều quan trọng đối với vai trò của các cơ quan nhà nước trong quản lý giá là tính minh bạch, là thông tin rõ ràng trong các khâu phân phối để người tiêu dùng tự mình quyết định. Chính họ là nguồn áp lực lớn nhất buộc nhà sản xuất phải điều chỉnh giá cho phù hợp với cung cầu thị trường. Vai trò đó cũng là tạo một môi trường kinh doanh có cạnh tranh lành mạnh chứ không phải là dùng các biện pháp hành chính, càng làm méo mó thị trường, càng tạo điều kiện cho đầu cơ giá.

March 12, 2010

Vietnam braced for retail ramp-up

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:14 am
Tags: , ,

Vietnam’s large unbanked population and its growing middle class present a major opportunity for local and foreign banks alike, who see vast potential in the country’s underdeveloped retail banking and consumer finance sectors. Writer Michelle Price

The retail banking and consumer finance sector in Vietnam has historically been extremely limited, with the majority of earnings derived in recent years from the thumping corporate lending business. But low margins are tempting the majority of banks in Vietnam, local and foreign, to venture into the high-yield consumer finance and retail banking market.

The extremely underdeveloped Vietnamese retail banking business is unusually well-positioned for exceptional growth. In an 85 million-strong population, just 15% of individuals are believed to have bank accounts – and even this figure is disputed by local bankers. Although the Vietnamese government has mandated that all state employees must have their salary deposited into a bank account, bankers believe that the number of active bank account holders who use the service on a regular basis may still be as low as 10%. The ‘banked’ population in nearby Thailand by contrast is more than 75%. Indeed, so under-saturated is the Vietnamese market that in 2006 the country had just 46 ATMs for every 1 million people, according to the Nomura Research Institute.

Expansion of the consumer-facing business should reduce sector earnings volatility and widen interest margins. As deposits account for more than 70% of total funding in the Vietnam banking sector, developing the retail business will boost the stable, low-cost funding base. For this reason alone, competition in this sector is expected to heat up, according to Moody’s, with most banks planning to build market shares in the fast-growing retail and consumer finance segments. But demand for products is also predicted to surge in the wake of rampant economic growth, rising income levels and an ever-younger population, for the most part, under the age of 30. As such, there is everything to play for, say bankers. “We see it as a big potential market for all the banks,” says Tom Tobin, CEO of HSBC Vietnam, which became the country’s first wholly foreign-owned bank in 2009.

Tom Tobin, CEO of HSBC VietnamTom Tobin, CEO of HSBC Vietnam

A stumbling block

Despite the enormous potential, retail banking and consumer finance in Vietnam has been stymied by a single piece of legislation found in Vietnam’s Civil Code, which stipulates that lenders may not lend at an interest rate that exceeds 150% of the central bank base rate. Although the rule was devised to criminalise predatory lending, the Vietnamese government has, in recent years, applied the rule to the banking sector in a bid to constrain lending and rein in runaway inflation, which reached a 17-year high of 28.3% in August 2008. In the latter respect, says Brett Krause, CEO of Citi Vietnam, the rate cap proved successful, but in the process it became a major constraint on the entire consumer segment by making it economically unviable to lend. “There was no way to risk-adjust the price and it meant that the whole consumer segment was completely stifled. You could not legitimately build a business model around consumer lending,” he says.

With a little help from the International Monetary Fund, the banks vigorously lobbied for the removal of the rate cap on consumer loans. In the first half of 2009, the State Bank of Vietnam agreed to allow banks to negotiate interest rates on consumer loans, effectively removing the cap. “That has allowed the business to start moving again,” says Mr Tobin. “Regulations come and go to fight short and medium-term macroeconomic issues, but the strategy has to be longer term and to allow retail banking to develop,” he adds.

For the country’s top foreign banks such as HSBC, Standard Chartered and Citi, which have major ambitions in the retail sector, 2009 brought a further critical development: as part of Vietnam’s entry into the World Trade Organisation in 2007, the Vietnamese government has allowed foreign players to incorporate locally – which both HSBC and Standard Chartered moved to do in 2009. The newly acquired status allows foreign players to take on dong-denominated savings and, more importantly, to open more branches. HSBC has not wasted much time on this front. Last year the bank opened eight new outlets and Mr Tobin expects to open five or six more in 2010. “But we are not talking about hundreds,” he cautions. “The market is not ready for that kind of growth and our competitive advantage is not suited to a huge, mass-market entry.”

Having launched its consumer banking business in 2007, Standard Chartered has two branches with stated plans to roll out many more, including connectivity to more than 300 ATMs over the next three to four years. According to Ashok Sud, CEO at Standard Chartered Vietnam, the bank has more than doubled its manpower during the past three years, with most new hires made in its consumer business. Meanwhile, Citi Vietnam, which trails slightly behind its peers, rolled out its first branch in 2009 and plans to locally incorporate in due course. “We are in the process of opening another branch in Hanoi and the next step will be local incorporation,” says Mr Krause. “The market is right at the starting line. We’re going to roll out the consumer business in a very big way.”

Eyes on the prize

Foreign banks have long eyed the untapped potential in Vietnam’s consumer market and onlookers believe that they will play an important role in advancing consumer finance and retail banking services in the country. But local banks are also investing in their consumer business infrastructure and networks. Sacombank, one of the country’s top privately owned or so-called joint stock banks, is in the process of upgrading its IT systems to support the growth of its retail business, says Tran Thi Binh, the bank’s deputy manager of external affairs. “We are also doing research to make sure we focus each product to each customer segment,” she adds. The bank is in the process of expanding its countrywide coverage and expects its investment to begin to pay off in 2011, she adds.

At Asia Commercial Bank (ACB), Vietnam’s largest privately owned lender, the board’s ambitions for the retail space are quite explicit. According to Dam Van Tuan, first executive vice-president at ACB, the bank plans to develop retail banking as one of two major strategic business lines. “We want to be the strongest player in investment banking and retail,” he says. ACB offers a number of unsecured if restricted loans along with players such as Lien Viet Joint Stock Bank, while credit card usage is also growing: according to payment network provider Visa, card issuance in Vietnam grew by a whopping 900% between 2005 and 2010.

Mortgages, on the other hand, are growing at a slower pace due to the cultural preference to buy property outright, says Mr Tobin. And other infrastructure obstacles remain. At least 70% of Vietnam remains rural, meaning that reaching the majority of the population in the countryside will be a major challenge, particularly for the foreign players. According to Karolyn Seet, an analyst at Moody’s, the private local banks’ operations are largely concentrated on Hanoi and Ho Chi Minh City and do not have the franchise to compete outside this vicinity. This means the state-owned banks will monopolise the rural areas where they have extensive networks. “A lot of potential could be tapped in the country, but in the short term the state-owned banks have such a big franchise and so many branches, they would be the ones to watch out for,” says Ms Seet.

However, Mr Tobin believes that the foreign banks can compete convincingly for the rising, young middle-class Vietnamese people whose lifestyles demand international services and more sophisticated products. “There is a growing affluent middle class who travel abroad and who look to a progressive bank such as HSBC for new products, service and the convenience of modern banking. So we see this strategically as an important sector for us,” he says.

Many major private local banks, meanwhile, have entered into so-called foreign strategic partnerships that will assist them in modernising their IT infrastructures and retail product suites, says Ms Seet. Habubank, for example, in which Deutsche Bank bought a 10% stake in 2007, has rolled out a risk-management programme using the German bank’s risk-management system, says Nguyen Tuan Minh, deputy CEO of Habubank. “We are working with Deutsche Bank to build further high-end products,” including a current account, he adds.

But Mr Minh questions how profitable the consumer finance and retail business will prove in the short term and sounds a general note of caution. “The environment is not mature enough in terms of the legal framework. Enforcement of liabilities is a big issue and a borrower can quit the debt easily,” he says. In the absence of a retail credit bureau, risk-assessing consumers and properly pricing products is problematic, says Mr Krause, but it is possible to credit score customers against their pay statement and employer, he adds. Human resources are also a bottleneck and many banks’ operating costs are being driven up by competition for skilled staff.

Despite these difficulties, however, it is clear that the fundamentals are now in place for a surge in the retail business.

March 4, 2010

Xuất khẩu gạo: Làm gì để nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi?

Ngày 2/3, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã tổng kết công tác xuất khẩu gạo năm 2009 và triển khai mua vào lúa gạo hàng hóa vụ đông xuân 2009/2010.

Theo báo cáo của VFA, số lượng hợp đồng xuất khẩu gạo đã đăng ký đến ngày 31/12/2009, gồm: hợp đồng tập trung 4,300 triệu tấn, chiếm 51,5%. Hợp đồng thương mại 4,051 triệu tấn, chiếm 48,5%. Tổng cộng là 8,351 triệu tấn, tăng 52,62% so với cùng kỳ 2008.

Năm 2010 sẽ xuất khẩu 6 triệu tấn gạo

Dự kiến thị trường xuất khẩu gạo năm 2010 sẽ không thay đổi nhiều, gồm các thị trường truyền thống như: Philippines, Malaysia, Cuba, châu Phi, Iraq, Đông Timor và các thị trường khác.

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lượng gạo tồn kho 2009 chuyển sang là 1,45 triệu tấn, lượng gạo hàng hóa cần tiêu thụ 2010 là 5,8 triệu tấn. Sản lượng gạo cần xuất khẩu là 7,25 triệu tấn. Kế hoạch xuất khẩu quí 1 là 1,2 triệu tấn, quí 2 là 2 triệu tấn, quí 3 là 1,5 triệu tấn, quí 4 là 1,3 triệu tấn, tổng cộng 6 triệu tấn.

Chủ tịch VFA Trương Thanh Phong cho biết, để xuất khẩu được 6 triệu tấn gạo phải có nhiều biện pháp rất quyết liệt, vì hiện nay chỉ mới có hợp đồng 2,5 triệu tấn, trong khi tình hình hợp đồng thương mại rất trầm lắng. Tuy nhiên, châu Phi chắc chắn sẽ nhập gạo, do vậy từ tháng 5 đến tháng 6 tình hình thị trường mới rõ nét.

Cũng theo ông Phong, năm 2010, chỉ tiêu sẽ không giao cho các tỉnh, còn lương thực và có thị trường thì sẽ xuất khẩu không hạn chế.

Để kịp thời tiêu thụ lúa gạo hàng hóa vụ đông xuân đã vào thu hoạch và đảm bảo lợi ích của nông dân trong lúc thị trường xuất khẩu khó khăn, tiến độ xuất khẩu chậm, VFA thống nhất triển khai kế hoạch tạm trữ 1 triệu tấn gạo hàng hóa vụ đông xuân tại đồng bằng sông Cửu long. Đợt 1: 600 ngàn tấn; đợt 2: 400 ngàn tấn. Giá mua theo thị trường nhưng phải bảo đảm giá gạo qui đổi không dưới giá tối thiểu 4.000 đồng/kg lúa khô, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu tại kho doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp đề nghị VFA đàm phán và yêu cầu khách hàng có kế hoạch nhận hàng sớm để giải phóng kho, VFA cần có cơ chế điều hành giá gạo xuất khẩu linh hoạt hơn, tổ chức lại đội ngũ hàng xáo. Phải gắn kết quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp với quyền lợi và nghĩa vụ của người nông dân.

Có ý kiến cho rằng đã và đang xảy ra tình trạng doanh nghiệp xé rào bán phá giá và chào bán gạo dưới giá sàn, VFA và Chính phủ cần có biện pháp chế tài đủ mạnh để chấm dứt tình trạng này. Đề nghị cho doanh nghiệp thanh toán tiền mua gạo cho hàng xáo bằng tiền mặt.

Ngại mua gạo tạm trữ do lãi suất ngân hàng

Theo ông Lê Minh Trượng, Giám đốc Công ty Xuất khẩu gạo Sông Hậu, chủ trương mua lúa, gạo tạm trữ ngay khi giá lúa xuống thấp để bình ổn thị trường ngay từ đầu vụ là rất đúng, nhưng do lãi suất vay 12% cộng phí đã đẩy mức lãi lên 14% đến 16%/năm, khiến doanh nghiệp ngại mua gạo tạm trữ.

Tuy nhiên, ông Phong cho rằng: “Theo tôi, chúng ta mới mua để đó chưa bán, đề nghị Chính phủ hỗ trợ lãi suất là không đúng. Do vậy, trước mắt VFA sẽ phân bổ hợp đồng tập trung để các đơn vị này bù đắp”.

Ông Vương Bình Thạnh, Phó chủ tịch UBDN tỉnh An Giang đề nghị, năm 2010, VFA phải chú ý đến công tác dự báo, thông tin thị trường phải đầy đủ, kịp thời đến các địa phương và nông dân. Vấn đề bức xúc nhất hiện nay là giá lúa đang xuống, giao cho 30 doanh nghiệp mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo là rất đúng.

Trên cơ sở thực tế An Giang đề nghị giá sàn thu mua lúa phải từ 4.200đồng/kg trở lên và tổ chức thu mua thế nào để nông dân không bị ép giá. Chủ trương mua tạm trữ cần làm thường xuyên liên tục, không đợi giá lúa xuống mới mua trữ và lúc nào trong kho doanh nghiệp cũng có gạo.

Còn theo ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, có 3 điều cần quan tâm trong công tác điều hành xuất khẩu gạo. Một là chủ trương mua gạo tạm trữ giữ giá lúa nếu không hỗ trợ lãi suất thì doanh nghiệp sợ lỗ sẽ không tổ chức thu mua đúng tiến độ. Thứ hai, cần mở rộng thêm diện tích kho dự trữ, để lúc cao điểm cần dự trữ thì có.

Cuối cùng, các hợp đồng tập trung của Chính phủ có giá cao, dư luận rất quan tâm về sự phân bổ chỉ tiêu các hợp đồng này, do vậy cần tổ chức đấu thầu cung ứng các hợp đồng tập trung để tạo tính minh bạch.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên cho biết, hiện nay thị trường có nhiều biến động, biện pháp đẩy mạnh thu mua tạm trữ cũng như đẩy mạnh tiến độ giao hàng là giải pháp cần thiết để giữ thị trường, không để giá biến động bất lợi cho sản xuất lúa, gạo ảnh hướng đến doanh nghiệp và nông dân.

Trong bối cảnh đó, Bộ Công Thương và VFA đang chỉ đạo và kiểm tra, giám sát kế hoạch triển khai mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo, cũng như kỹ thuật thực hiện các hợp đồng thương mại, trong đó giao VFA có  biện pháp phối hợp với các cơ quan chức năng trong khâu đăng ký hợp đồng cũng như việc thực hiện giao hàng kể cả các cơ quan hải quan, thuế.

Đồng thời, giám sát việc đăng ký giá xuất khẩu và xử lý nghiêm hiện tượng đăng ký, khai báo giá thấp hơn trong hợp đồng. Nếu phát hiện vi phạm, VFA và Tổ điều hành xuất khẩu gạo sẽ áp dụng các biện pháp chế tài một cách cương quyết như dừng đăng ký hợp đồng xuất khẩu gạo, nếu là doanh nghiệp trong hiệp hội thì dừng tư cách hội viên, thậm chí rút giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp.

March 1, 2010

Nghèo nàn sản phẩm du lịch Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:43 am
Tags: , ,

<!–NGay gio Modified

–>

20/02/2010 23:58

Khách nước ngoài thật sự bối rối khi mua quà lưu niệm ở VN – Ảnh: H.Việt
Du khách quốc tế đặc biệt ưa chuộng những món quà lưu niệm làm bằng tay (handmade), làng nghề truyền thống ở Việt Nam có mặt ở khắp nơi trên cả nước… Cầu có, cung có nhưng nói về sản phẩm du lịch làm quà lưu niệm cho du khách khi đến VN vẫn hết sức đơn điệu, nghèo nàn. Nghịch lý là trong khi ta nỗ lực kiếm từng USD xuất khẩu thì lại lãng phí một nguồn lực khổng lồ từ việc xuất khẩu tại chỗ trong nhiều năm qua.

Hàng lưu niệm Việt Nam xuất xứ… từ Trung Quốc, Thái Lan

Sapa, thị trấn trong sương cuốn hút du khách quốc tế nhờ vẻ hoang sơ và không khí trong lành của rừng núi. Thổ cẩm được coi là món quà lưu niệm đặc sắc nhất của thị trấn này và được khách mua nhiều nhất. Tuy nhiên, rất khó để tìm được một cửa hàng bán thổ cẩm chuyên nghiệp dù địa danh Sapa đã trở thành điểm đến của du khách trong và ngoài nước hàng chục năm nay. Thổ cẩm được bán ở Sapa hiện chủ yếu từ các cô gái, các cụ người dân tộc thiểu số. Họ cầm trên tay vài tấm thổ cẩm, rồi mặc sức chèo kéo du khách với giá cả không nhất quán. Ở các bản có đông khách lui tới, tình trạng này cũng diễn ra tương tự khiến khách hàng e ngại.

Một chuyên gia nước ngoài làm việc lâu năm tại Hà Nội cho biết, 5 năm ở Hà Nội, món quà lưu niệm mà ông mang về cho bạn bè, người thân ở Mỹ mỗi dịp về nước không thay đổi, đó là mô hình Chùa Một cột. “Thật khó tìm một món quà lưu niệm đặc trưng của Hà Nội ngoài mô hình Chùa Một cột” – vị chuyên gia này nói.

Tại TP.HCM cũng có rất nhiều cửa hàng với các sản phẩm làm bằng chất liệu tre, gỗ, sơn mài, đá, đồ trang sức kim loại, vải vóc, áo quần… Tuy nhiên nói đến sản phẩm du lịch đặc trưng của TP.HCM ngay cả người dân thành phố cũng lúng túng… Đây là lý do, du khách đến các cửa hàng lưu niệm chủ yếu để… tham quan thay vì mua sắm.

Chị T., phụ trách đối ngoại của một tập đoàn đa quốc gia tại TP.HCM kể, sau Tết dương lịch vừa rồi tổng giám đốc điều hành của tập đoàn có chuyến làm việc với lãnh đạo công ty con ở VN. Trong lịch trình 3 ngày ở TP.HCM, ông cùng vợ có 1 ngày tham quan thành phố và mua sắm nhưng “thời gian tham quan thì không có vấn đề gì. Tuy nhiên chương trình mua sắm là tôi ngán nhất bởi rất khó tư vấn cho khách mua món quà gì là hợp lý. Khách Mỹ không thích mua sơn mài, hàng thổ cẩm lại đơn điệu quá. Các sản phẩm làm bằng gỗ cũng không thực sự hấp dẫn…” – chị T. than thở.

Tình trạng nghèo nàn, đơn điệu của sản phẩm du lịch trong nước dẫn đến hàng loạt các cửa hàng chuyên bán đồ lưu niệm cho du khách đều có xuất xứ từ Trung Quốc, Thái Lan… Tại cửa hàng Phú Loan (đường Nguyễn Thiệp, Q.1) chuyên bán các sản phẩm mỹ nghệ, sơn mài, gỗ cho du khách nhưng nhìn kỹ thì biết ngay xuất xứ không phải của VN. Chủ cửa hàng Tuấn Hùng trên đường Pasteur, Q.1 chuyên bán mặt hàng tranh ghép gỗ, mỹ nghệ cho biết, các sản phẩm quà lưu niệm mà cửa hàng đang trưng bày đều là hàng Trung Quốc và Thái Lan. Một nhân viên bán hàng ở chợ Bến Thành cũng tiết lộ, rất nhiều mặt hàng lưu niệm ở đây là hàng Trung Quốc. Khu vực chợ đêm Bến Thành, đa phần các mặt hàng như giày dép, túi xách, dây chuyền… đều không rõ xuất xứ. Ngoài việc đơn giản về mẫu mã thì các sản phẩm trang sức, túi xách, giỏ tre, tranh chạm khắc gỗ, tranh sơn mài, tranh thêu, tượng đá, chai lọ thủy tinh, sành sứ, mặt nạ các nhân vật lịch sử, hình con rối… trong nước không thể cạnh tranh về chất lượng và giá thành so với hàng nhập khẩu. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng du khách đến Việt Nam lại mua hàng lưu niệm xuất xứ từ Trung Quốc, Thái Lan.

Chi tiêu ở Việt Nam chỉ bằng 1/5 Thái Lan

Ông Phạm Xuân Du, GĐ Công ty du lịch Xuân Nam, cho biết, khách quốc tế chi tiêu cho việc mua sắm ở VN rất thấp. Nếu như một khách tới Thái Lan bỏ ra trên dưới 500 USD để mua sắm, thì tại VN chỉ dừng lại không quá 100 USD. Trên thực tế, vấn đề làm thế nào để du khách quốc tế chịu “móc hầu bao” nhiều hơn khi đến Việt Nam đã được đặt ra nhiều năm nay nhưng tới giờ vẫn chưa có phương án khả thi. Chị Phan Phương Thảo, bán hàng ở cửa hàng sơn mài Phương Nam trên đường Nguyễn Trãi, TP.HCM kể, khách đến cửa hàng chị chủ yếu là khách người Pháp, họ mua những món quà nhỏ giá từ 5 – 10 USD, cao thì vài ba trăm USD chứ ít khi mua những món hàng lớn. Nguyên nhân do tranh sơn mài làm bằng gỗ, cẩn đá hay ốc nên khá nặng, không tiện mang theo nếu đi bằng máy bay (rất dễ bị quá cước).

Theo chủ một cửa hàng bán đồ lưu niệm cho du khách tại TP.HCM, khách mua tranh sơn mài rất dễ bị “hố” về chất lượng, nhất là những sản phẩm được bán dạo ở những điểm tham quan, thậm chí ở nhiều cửa hàng trong khu vực trung tâm thành phố. “Họ làm rất sơ sài nên khi khách mang về xứ lạnh, tranh sơn mài sẽ nhanh chóng bị cong và bung sơn. Nhiều người bán dạo bán một hộp sơn mài chỉ khoảng 30.000 đồng. Họ mua hộp nhựa rồi phun sơn lên để bán cho khách. Khách bị lừa nhưng không biết. Tình trạng này tồn tại nhiều năm nay và tiếp diễn đến tận bây giờ” – người này nói.

Nhận xét về vấn đề này, ông Du cho rằng, sản phẩm lưu niệm dành cho khách quốc tế ở VN nói chung rất đơn điệu về chủng loại, mẫu mã và giá cả. Hầu như không tìm được sản phẩm đặc trưng mang tính “mũi nhọn”, đúng thị hiếu, không quá lớn mà cũng không quá nặng phù hợp với khách du lịch. Ngay cả những trung tâm mua sắm tầm cỡ chúng ta cũng còn thiếu thì rất khó nói đến việc “móc hầu bao” của du khách.

TP.HCM từng bình chọn những điểm mua sắm đúng chuẩn, năm 2009 cũng đã chi ngân sách 2,7 tỉ đồng cho Sở VH-TT-DL thực hiện chương trình “TP.HCM – 100 điều thú vị”, trong đó có phần chọn 10 điểm mua sắm thú vị. Tuy nhiên, cho đến nay cả Tổng cục Du lịch và ngành du lịch TP.HCM chưa có một cuộc nghiên cứu công phu nào về nhu cầu mua sắm của khách quốc tế khi tới VN, để đầu tư xây dựng sản phẩm mang tính đặc trưng của VN. Món quà tặng nào mang tính đặc trưng của TPHCM, của VN? Câu trả lời hẳn là rất khó khăn.

January 25, 2010

Thị trường “đồ nhỏ”, chuyện không nhỏ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:51 pm
Tags: ,

SGTT – Theo ước tính của một số nhà kinh doanh, đến đầu năm 2010, Việt Nam mới chỉ có hơn mười công ty với khoảng 40 thương hiệu chuyên sản xuất trang phục lót bán trong thị trường nội địa. Tìm doanh nghiệp đủ năng lực may gia công mặt hàng này tuy không nhiều, nhưng tìm doanh nghiệp có đủ khả năng quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng khá phức tạp và cao cấp và quan trọng hơn, đủ lực và đủ tầm để dựng một nhãn hiệu vẫn là chuyện khó với doanh nghiệp may mặc trong nước.

Nhiều thương hiệu quốc tế đã xuất hiện trên thị trường đồ lót Việt Nam. Ảnh: Lê Hồng Thái

Một nhà sản xuất hàng may mặc Việt Nam có nhà máy ở khu công nghiệp Tân Bình tiến hành khảo sát thị trường với dự kiến sẽ tung sản phẩm ra bán trong nước vào giữa năm 2010 cho biết: hàng nội chỉ chiếm chưa đến 5% doanh thu thị trường quần áo lót ở Việt Nam (ước khoảng 8.000 tỉ/năm với mức bình quân cả năm là 150.000đ/nữ và 50.000đ/nam). Các thương hiệu ngoại Triumph, Wacoal, Bon Bon, Pierre Cardin, Minoshe, Jockey, XZDY… ước tính có khoảng 3.000 điểm bán trên cả nước. Còn ở chợ chỉ toàn là hàng Trung Quốc, chợ nhỏ là loại hàng giá rẻ, chợ sang là hàng cao cấp hơn nhập từ Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc… Đồ lót nam, ở chợ có thể tìm thấy một số thương hiệu nội, một số sản phẩm không thương hiệu của cơ sở nhỏ may bán về tỉnh. Còn áo lót nữ thì gần như không có.

Bà Phạm Thị Thuý, giám đốc công ty Vương Hải Long chuyên sản xuất quần áo lót cho thị trường nội địa nói: “Mở cửa hàng riêng chi phí quá cao, nên sản phẩm công ty chủ yếu bán trong siêu thị đáp ứng cho phân khúc thị trường trung bình ở đô thị”.

Bà Thuý cho rằng hàng nội khó ra chợ vì phân khúc giá thấp không cạnh tranh được với hàng Trung Quốc quá rẻ, chỉ mười mấy đến hai chục ngàn đồng/cái. Còn phân khúc giá cao thì đã có các thương hiệu nhập ngoại. Doanh nghiệp trong nước không thể sản xuất chiếc áo lót nữ viền ren, độn mút tạo dáng để có bán giá lẻ 10.000 – 20.000 đồng. Còn làm hàng giá hơn triệu đồng thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hiệu ngoại. Chính vì vậy, những hộ gia đình sản xuất quần áo lót bỏ mối ra chợ ở khu vực Tân Bình đã lần lượt chuyển sang may hàng khác.

Khó trăm bề

Bà Nguyễn Thị Điền, chủ thương hiệu An Phước nhìn nhận: “An Phước đã có thương hiệu riêng, mà vẫn chưa mạnh dạn cho ra thương hiệu áo lót An Phước do có nhiều điều khó”.

Bà Điền phân tích, mua chiếc máy may chuyên dụng sản xuất áo lót mắc gấp ba lần máy công nghiệp may sơmi. Mở xưởng nhỏ với 100 máy may cần trên 500.000 USD sắm thiết bị. Loại sản phẩm này chỉ cần may chệch vài milimet là hỏng, đạp máy chậm, khựng từng chút là áo sẽ xấu. Phải mất ba tháng học nghề, sáu tháng may “nháp”, và sau ba năm mới có được người thợ may trên máy chuyên dụng. Tuyển người quản lý kỹ thuật lại càng khó hơn. Đó là chưa kể, Việt Nam chưa có nhà thiết kế trang phục lót chuyên nghiệp. Bên cạnh đó cần bộ phận chuyên thu mua nguyên phụ liệu riêng, vì trang phục lót đòi hỏi ren, thun, lớp độn, móc… lắt nhắt từng chút, phải đặt từ Nhật, Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc…

“Đầu tư sản xuất tốn kém như vậy, phải bán giá thoả đáng mới có lãi, nhưng trên thị trường hiện nay hàng Trung Quốc tràn ngập, mẫu mã đa dạng, màu sắc thời trang, giá lại quá rẻ, nên ra sản phẩm khó mà giành được thị phần”, bà Điền nói.

Ông Nguyễn Khoa Văn, giám đốc công ty Anh Khoa cũng cho biết: “Không thể cạnh tranh nổi với quần áo lót Trung Quốc. Loại mà họ bán 4.500đ thì Anh Khoa phải tốn 15.000đ mới làm ra được”.

Bắt đầu từ “đo ni”

Khó khăn như vậy, nên rất ít nhà sản xuất dám nhảy vào thị trường này. Từ những năm 1990, bà Lý Thị Thanh Nguyệt, (người quản lý công ty may Vĩnh Hưng chuyên xuất khẩu quần lót nam bán sang thị trường châu Âu, Mỹ, Đài Loan, Singapore…) đã quyết tâm chiếm lĩnh thị trường quần lót nam nội địa. Tìm hiểu các số đo của hàng ngàn đàn ông Việt Nam trong độ tuổi từ 17 – 70, suốt 12 năm, đến năm 2003, bà Thanh Nguyệt mới tổng kết được sự khác biệt của đàn ông Việt Nam, để thiết kế sản phẩm.

Trong khi đó, khi vào Việt Nam, các công ty nước ngoài điều tra nghiên cứu thị trường Việt Nam khá kỹ lưỡng để có thể trụ vững. Công ty Gunze khảo sát thị trường Việt Nam từ năm 1999. Sau ba năm Gunze có đủ những thông tin cần thiết về thực tế thu nhập của người dân thành thị, nhất là những người đi làm ở công ty, văn phòng; những đối tượng nào sẵn sàng mua những sản phẩm hàng hiệu đắt tiền. Gunze cũng chỉ ra được các số đo hình thể đàn ông Việt Nam để thiết lập các rập kích cỡ mới dành riêng cho thị trường.

Tương tự, sau khi ra đời vào năm 2001, thương hiệu Vera cũng tìm hiểu qua cả ngàn khách hàng nữ để rút ra kết luận: phụ nữ Việt Nam có nhiều nét khác biệt, chẳng hạn có khung xương nhỏ, vòng 1 và vòng 3 đều khiêm tốn hơn thông số quốc tế của châu Á, từ đó điều chỉnh các đường cắt cúp cho phù hợp. Dù vậy, theo bà Nguyễn Hồng Trang, giám đốc công ty Vera thì: “Việt Nam có khá nhiều công ty chuyên may gia công trang phục lót cho nước ngoài, nhưng làm hàng để bán nội địa không dễ, vì cần phải có định hướng riêng, định hình khách hàng, quan trọng nhất là xây dựng hệ thống phân phối với dịch vụ, hệ thống nhận diện…”

January 9, 2010

Sính hàng hiệu nhất thế giới

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:33 am
Tags: ,

SGTT – Ở châu Á, danh sách những thị trường mới cho hàng hiệu nổi bật những cái tên như Trung Quốc, Ấn Độ…

Rolls Royce, nhãn hiệu xe hạng sang được nhiều người quan tâm tại triển lãm xe Dubai hồi cuối năm ngoái. Hãng này dự báo doanh số ở châu Á sẽ tăng gấp ba lần trong năm 2010. Ảnh: Reuters

Ở các thành phố lớn của châu Âu và Mỹ, Armani chỉ mở một cửa hàng lớn cho dòng sản phẩm cao cấp Giorgio Armani, còn các dòng sản phẩm thời trang cấp thấp hơn được bán trong các gian hàng đặt tại các trung tâm mua sắm cao cấp. Nhưng tại Trung Quốc, sau khi đã mở hai cửa hàng lớn ở Thượng Hải và Bắc Kinh cho dòng sản phẩm Giorgio Armani, Armani đang có kế hoạch mở thêm hai cửa hàng lớn nữa ở Thượng Hải trong vài tháng tới.

Trung Quốc: hàng hiệu thể hiện đẳng cấp

Tính cả những dòng sản phẩm khác, trong đó có dòng sản phẩm Armani Jeans và dòng sản phẩm phổ thông Armani Exchange, Armani đang có 45 cửa hàng lớn ở Trung Quốc, trong khi ở Mỹ, thị trường lớn nhất của Armani, chỉ có 25 cửa hàng dạng này.

Khu giải trí đánh bài nổi tiếng Wynn Macau có một khu mua sắm với hàng chục nhãn hiệu cao cấp như Chanel, Prada, Louis Vuitton. Theo bà Linda Switzer, quản lý khu mua sắm này, gần 90% khách hàng của nơi này là những người Trung Quốc đại lục. Cùng với Hong Kong, Macau thu hút nhiều khách mua sắm đồ hiệu từ

Trung Quốc sang vì nơi này có thuế đánh vào hàng xa xỉ thấp hơn đại lục. Khách mua sắm từ đại lục chính là những người đã giúp cửa hàng đồng hồ Thuỵ Sĩ Piaget ở Wynn Macau trở thành cửa hàng kinh doanh thành công nhất trong hệ thống cửa hàng Piaget trên toàn thế giới.

Bà Jill Telford, tổng giám đốc của hãng nghiên cứu thị trường Synovate, nhận xét rằng những người giàu mới nổi ở Trung Quốc mua sản phẩm hàng hiệu để chứng tỏ vị thế trong xã hội. Với người Trung Quốc, logo hàng hiệu gắn trên sản phẩm, biểu hiện của sự thành đạt của người dùng sản phẩm, trở nên có ý nghĩa nhiều hơn nếu được nhiều người biết đến. “Nếu họ không biết đến thương hiệu, đừng hòng mong họ gõ cửa”, bà Linda Switzer, phụ trách bán lẻ ở Wynn Macau nói.

“Tôi dùng hàng xịn, chứ không phải hàng giả”

Các thị trường khác của châu Á cũng có xu hướng chuộng dùng hàng hiệu hơn các khu vực khác trên thế giới. Năm 2009, hãng Synovate của bà Telford đã thực hiện một cuộc khảo sát trực tuyến quy mô lớn về xu hướng toàn cầu trong mua sắm hàng hiệu với 8.000 người ở 11 thị trường – trong đó có Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Canada, Mỹ, Brazil, Hong Kong, Ấn Độ, Đài Loan, và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Kết quả khảo sát công bố trong đầu năm 2010 cho thấy người châu Á sính hàng hiệu nhất thế giới.

Tại Hong Kong, 68% số người tham gia khảo sát cho biết họ chuộng các sản phẩm hàng hiệu hơn các sản phẩm khác. Cũng như ở Trung Quốc, lý do người tiêu dùng ở Hong Kong chuộng sản phẩm hàng hiệu – theo bà Telford – là vì “họ muốn những người khác biết rằng hàng họ đang dùng là hàng xịn, chứ không phải hàng giả”. Tại Ấn Độ và UAE, tỷ lệ chuộng dùng sản phẩm hàng hiệu cũng rất cao: 79% và 58%. Trong khi đó, những người tham gia khảo sát ở Mỹ và Anh lại cho rằng họ thường chọn những sản phẩm không có logo hàng hiệu hơn. Tại Mỹ, chỉ có 36% số người được hỏi cho biết họ thích dùng sản phẩm hàng hiệu, và tỷ lệ này tại Anh là 33%. Các thị trường khác ở phương Tây cũng có tỷ lệ không cao như các thị trường châu Á.

Những sự khác biệt

Cách tiếp cận người tiêu dùng mà các nhãn hiệu cao cấp triển khai ở thị trường châu Á cũng khác với các thị trường khác trên thế giới. Chẳng hạn như tại Trung Quốc, các bảng quảng cáo hàng hiệu hấp dẫn thường đặt trên các con đường đông đúc vì thị trường hàng cao cấp ở đây còn mới và đang tập trung thu hút khách hàng trẻ.

Ông John Hooks, phó chủ tịch của tập đoàn thời trang Armani, đưa ra một đặc trưng khác của người tiêu dùng châu Á: người Trung Quốc, chẳng hạn, thường tiêu tiền nhiều cho các dịp đặc biệt, nên thường chú ý đến hàng đắt tiền nhiều hơn trong các dịp này, và các nhãn hiệu cao cấp vào những dịp như thế lại có thêm khách hàng mới, trong khi ở châu Âu và Mỹ khách hàng của Armani thì luôn ổn định ở một nhóm đối tượng.

Trong kết quả khảo sát của Synovate, các nhà phân tích nhận thấy sự khác biệt trong tâm lý của người tiêu dùng khu vực châu Á và các khu vực khác. Trong khi một nửa số người tham gia khảo sát ở Mỹ cho biết họ cảm thấy áy náy khi mua hàng xa xỉ và xem những món hàng này là thứ vượt quá mức cần thiết, thì những người Ấn Độ giải thích họ mua hàng hiệu vì chất lượng của sản phẩm và vì đó là một phong cách sống. Gần 3/4 số người được hỏi ở Ấn Độ cho rằng không thấy áy náy gì khi mua một sản phẩm xa xỉ. Ở Hong Kong, theo bà Telford, một trong những lý do chủ yếu khiến người tiêu dùng chọn những sản phẩm có gắn logo của nhãn hiệu nổi tiếng là vì họ không muốn mua một chiếc đồng hồ đeo tay hay một chiếc túi xách hàng nhái.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.