Ktetaichinh’s Blog

April 9, 2010

4 tác động khiến tỷ giá 2009 USD/VND giảm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:08 pm
Tags:

Thứ nhất, ngày 30/12/2009, với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành thông tư hướng dẫn việc các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng. Việc bán lại được thực hiện khá nhanh sau đó và tạo một nguồn cung đáng kể, hỗ trợ các ngân hàng cải thiện trạng thái ngoại tệ vốn căng thẳng trước đó.

Thứ hai, chỉ hơn nửa tháng sau đó, ngày 18/1/2010, Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD (9.000 tỷ đồng) cho các ngân hàng thương mại để cho vay trên thị trường.

Thứ ba, ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Đây được xem là một “cú hích” mạnh khi ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức kinh tế có tiền gửi bằng USD, khi lãi suất trước đó được hưởng có từ 4% – 4,5%/năm. Quy định này được bình luận là đặt các tổ chức đó vào thế “tự xử”, phải tính toán lợi ích và xem xét bán lại ngoại tệ, chuyển sang VND để có lãi suất tiền gửi cao hơn. Khớp với chính sách này, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút nguồn ngoại tệ tiềm năng này.

Thứ tư, chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD. Lãi suất vay VND tăng cao đầu năm 2010, lên từ 15% – 17%, thậm chí 18%/năm…, trong khi lãi suất vay USD chỉ khoảng 6% – 9%/năm. Chênh lệch này khiến một bộ phận doanh nghiệp chọn “đường vòng” vay USD rồi bán lại lấy vốn VND, tăng cung ngoại tệ cho thị trường. Ngoài chênh lệch lãi suất lớn, lựa chọn này được hỗ trợ bởi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ ổn định, hoặc rủi ro biến động không quá lớn trong kỳ vay vốn. Thực tế, tỷ giá USD/VND gần như cố định kể từ tháng 2 đến nay.

Thêm vào đó, ngày 15/12/2009, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2009/TT-NHNN mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt là các đối tượng xuất khẩu.

Tác động này được dẫn chứng ở tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đã tăng đột biến tới 14,07% trong quý 1/2010, trong khi cùng kỳ năm ngoái giảm 2,24%.

Những tác động chính trên tạo sự cộng hưởng từ loạt chính sách điều hành với diễn biến thực tế thị trường. Và thời gian gần đây, Ngân hàng Nhà nước liên tục phát đi thông điệp thị trường ngoại hối có chuyển biến tích cực.

Báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước cho biết: “Các doanh nghiệp đã bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng thương mại, tính thanh khoản của thị trường được cải thiện rõ rệt, nhu cầu mua ngoại tệ được đáp ứng đủ. Từ giữa tháng 3 đến nay, trạng thái ngoại tệ của hệ thống tổ chức tín dụng liên tục dương và trong hầu hết các ngày số ngoại tệ mua được lớn hơn số ngoại tệ bán ra”.

Advertisements

March 13, 2010

Ngoại hối đã dễ thở hơn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:22 am
Tags: , ,

Friday, 12. March 2010, 06:27:32

Tại các điểm mua, bán ngoại tệ “tự do” trên phố Hà Trung, Hà Nội, các giao dịch diễn ra “âm thầm” nhưng vẫn sôi động.

Thời điểm này chúng tôi đã có thể dễ dàng mua ngoại tệ của ngân hàng, so với cách đây. Giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đã gần ngang nhau”, ông Võ Nguyên Quý, giám đốc một doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ chuyên kinh doanh thang máy ở Hà Nội cho biết.

Khác với mấy tháng trước, khi thị trường ngoại tệ tỏ ra khá căng thẳng. Nhiều doanh nghiệp như ông Quý khó có thể mua được ngoại tệ từ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu. Ông Quý buộc phải mua ngoại tệ trên thị trường tự do với giá cao để thực hiện các hợp đồng sản xuất. Chính vì vậy, tại các điểm mua, bán ngoại tệ “tự do” trên phố Hà Trung, Hà Nội, các giao dịch diễn ra “âm thầm” nhưng vẫn sôi động.

Tuy nhiên đến thời điểm này, thị trường ngoại hối đã có nhiều chuyển biến tích cực. Giới chuyên gia đánh giá cao quyết định của Ngân hàng nhà nước, mở rộng cơ chế lãi suất thỏa thuận cho các khoản tín dụng trung – dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh.

Theo nhận định của các chuyên gia, sau khi NHNN quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại các TCTD là 1%/năm, lợi ích của việc nắm giữ USD đã giảm. Động thái này cùng với việc điều chỉnh tỷ giá lên 18.544 đồng/USD (tăng 3,36%) sát với kỳ vọng của thị trường đã khiến cho tâm lý găm giữ ngoại tệ đã phần nào được giải tỏa, thúc đẩy các tổ chức, cá nhân bán ngoại tệ ra thị trường, qua đó giúp các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với ngoại tệ, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường ngoại hối.

Theo thông tin từ Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN) và thị trường, các doanh nghiệp đã bắt đầu bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, sau khi NHNN triển khai các biện pháp can thiệp thị trường vàng, tỷ giá trên thị trường tự do đã giảm. Cung – cầu ngoại tệ đã cân bằng, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ.

Tại Hà Nội, giá giao dịch mua – bán chiều 11/3, USD thị trường tự do tiếp tục giảm xuống mức 19.30 0- 19.320 đồng/USD, giảm khoảng 40 – 60 đồng/USD so với ngày 2/3. Tỷ giá liên ngân hàng ngày 11/3 vẫn được NHNN công bố là 18.544 đồng/USD. Trong khi biên độ tỷ giá giao dịch công bố của NHTM đã thu hẹp ở mức 19.080 – 19.100 đồng/USD, so với 19.050 – 19.100 đồng/USD ngày 4/3.

Theo giải thích của Ngân hàng Nhà nước, sở dĩ thị trường ngoại hối có dấu hiệu tích cực là do Ngân hàng Nhà nước điều hành giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng, làm tăng nguồn vốn để cho vay khoảng 500 triệu USD, giảm chi phí huy động vốn khoảng 0,1% và tác động ổn định tỷ giá.

Ngân hàng nhà nước điều chỉnh tỷ giá là nhằm thực hiện các biện pháp chống găm giữ và đầu cơ, can thiệp bán ngoại tệ cho các nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thiết yếu nhằm từng bước tạo sự chuyển biến tích cực của thị trường ngoại tệ: Trước tình hình thanh khoản ngoại tệ trên thị trường cải thiện chậm, nhằm cân đối hài hoà cung – cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo các chuyên gia, quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá đã phát huy tác dụng. Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu đồng thời buộc các doanh nghiệp nhập khẩu phải cân nhắc việc sử dụng ngoại tệ, qua đó hỗ trợ kiểm soát nhập siêu; Thứ hai, sau khi NHNN điều chỉnh tỷ giá sát với kỳ vọng tỷ giá của thị trường và quy định trần lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế, lợi ích của việc nắm giữ USD đã giảm, do vậy, tâm lý găm giữ ngoại tệ đã phần nào được giải tỏa, thúc đẩy các tổ chức, cá nhân bán ngoại tệ ra thị trường, qua đó giúp các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với ngoại tệ, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường ngoại hối; Thứ ba cũng là do nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu bán ngoại tệ, thanh khoản thị trường được cải thiện.

Tỷ giá trên thị trường tự do giảm nhẹ so với thời điểm trước khi điều chỉnh tỷ giá, khiến chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tự do được thu hẹp từ mức trên 1.000 đ/USD hiện chỉ còn khoảng 300-400 đ/USD.

Bên cạnh những tác động tích cực, việc điều chỉnh tăng tỷ giá cũng đem lại một số hệ quả không tránh khỏi như tăng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài cũng như trả nợ vay bằng ngoại tệ trong nước, tác động làm tăng giá nhập khẩu.

Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, chủ động và thận trọng để kiểm soát mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng đối với nền kinh tế tăng khoảng 25%, lãi suất và tỷ giá phù hợp với mục tiêu và điều kiện kinh tế vĩ mô, lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông ở mức hợp lý để đảm bảo khả năng an toàn thanh toán hệ thống ngân hàng, hỗ trợ thanh khoản cho nền kinh tế.

March 4, 2010

Thỏa thuận lãi suất: Ngân hàng “cười”, DN “mếu”!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:45 am
Tags: , , , , ,

Nhiều doanh nghiệp nhận định, trước đây, trường hợp khách hàng vay trung, dài hạn để đầu tư sản xuất kinh doanh, ngân hàng phải áp lãi suất không quá 150% so với lãi suất cơ bản 8% một năm (tức là 12%/năm). Tuy nhiên, trên thực tế do thiếu vốn và phải huy động với chi phí cao, các ngân hàng đều tìm cách lách luật, cộng thêm phí, đẩy lãi suất doanh nghiệp thực trả cao hơn nhiều so với trần 12% một năm. Nhiều doanh nghiệp bị ám ảnh bởi chuyện ngay cả khi được vay theo lãi suất trần vẫn phải bấm bụng chi thêm nhiều thứ phí không rõ ràng khác.

Giờ, với cơ chế “thỏa thuận” mới, nhiều doanh nghiệp lại càng lo lắng hơn khi chi phí vốn bị đẩy lên cao, cộng thêm việc giá điện, giá xăng tăng… cũng sẽ khiến giá thành sản xuất tiếp tục bị đội lên, khó khăn lại càng chồng chất!

Ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Công ty Hải Vân (chuyên kinh doanh ống nước) cho biết, với mức lãi suất cho vay 16-17%/năm, doanh nghiệp khó mà chịu đựng nổi, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Áp lực lãi suất vay cao đang đẩy về phía các doanh nghiệp.

Trước tình hình đó, thậm chí một số doanh nghiệp đang có kế hoạch chuyển sang vay USD với lãi suất khoảng 5%/năm, bởi theo tính toán vẫn có lợi hơn vay VND.

Thỏa thuận có thực theo thị trường?

Theo một số ngân hàng, việc áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận là phù hợp với quy luật thị trường. Nhờ đó, các ngân hàng sẽ có sự cạnh tranh về lãi suất cho vay, chất lượng phục vụ. Ngân hàng nào có giá vốn thấp sẽ cho vay với lãi suất thấp. Và khi đó, khách hàng nào càng có hệ số tín nhiệm cao (trả nợ đúng hạn, quan hệ lâu dài…) sẽ được hưởng mức lãi suất thấp hơn.

Mặt khác, cơ chế thỏa thuận cũng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp rộng đường tìm các ngân hàng giá rẻ nhất, ngân hàng cũng dễ tiếp cận được các doanh nghiệp, tạo sự cạnh tranh theo cơ chế thị trường trên thị trường vốn tín dụng.

Phó Tổng Giám đốc một ngân hàng cổ phần cho hay: Công ty con của ngân hàng vẫn thực hiện thu phí đối với các khoản vay nhưng vừa làm vừa “run” vì nếu bị “tố” thì thanh tra ngân hàng sẽ vào cuộc. Vì vậy, việc được thỏa thuận lãi suất cho vay sẽ giúp ngân hàng có thể thực hiện tất cả các việc trên một cách công khai!

Đứng ở góc độ khác, một chuyên gia kinh tế nhìn nhận, ngân hàng chỉ chờ quy chế thỏa thuận này để tăng lãi suất và họ không có lý do gì để không thực hiện ngay trong những ngày tới, khi ngân hàng đang nắm tiền còn doanh nghiệp thì đói vốn.

Nhiều ý kiến còn lo ngại một cuộc đua lãi suất mới sẽ nóng ngay trong những ngày tới đây và lần này có thể còn căng thẳng hơn năm 2008 vì được “thỏa thuận”. Ngân hàng sẽ mặc nhiên “mặc cả” với doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp thì phải “ngậm bồ hòn” vì nếu ngoảnh mặt với ngân hàng, đồng nghĩa với việc họ tự đặt dấu chấm hết cho công việc kinh doanh của mình!

Chính vì vậy, chuyên gia ngân hàng, tiến sĩ Nguyễn Đại Lai cho rằng ngân cần phải đề phòng tình trạng một số ngân hàng có thể liên kết độc quyền, nâng giá lên làm cho người đi vay bị thiệt hoặc dùng vốn trung và dài hạn biến tướng ra thành đầu cơ tài chính.

Đồng tình với quan điểm này, ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cho hay, các ngân hàng thương mại phải nâng cao một bước hiệu quả quản lý, kiểm soát dòng vốn. Bởi với cơ chế mới, chi phí vốn tăng làm giá thành hàng hóa, dịch vụ tăng, mặt bằng giá cả nâng lên, tạo thêm áp lực kiểm soát lạm phát. Càng đáng ngại hơn nếu dòng vốn lại đổ vào những dự án kém hiệu quả, cung tiền tăng lên nhưng hàng hóa không tăng tương ứng, ngân hàng cũng khó thu hồi nợ.

Ông Kiêm nhấn mạnh: “Mặc dù được thỏa thuân, nhưng mặt bằng lãi suất cho vay cũng chỉ nên tối đa là 16%/năm, nếu vọt lên tới 18%-20% mỗi năm thì sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế”./.

Theo Minh Thúy (Vietnam+)

March 2, 2010

USD tự do tăng mạnh: áp lực đè nặng DN

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:42 am
Tags: , , ,

01/03/2010 17:05:20

– Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ từ 17.941 lên 18.544 (khoảng 3,3%), giá đô la trên thị trường tự do cũng tăng mạnh. Giao dịch mua vào bán ra sáng nay (1/3) giao động khoảng 19.450 – 19.500 đồng/USD, tăng từ 50 – 70 đồng/USD.

Theo ông Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính), sức ép về cân đối cung cầu ngoại tệ sẽ buộc phải phá giá. Phá giá đồng VN thì lại làm tăng giá hàng nhập khẩu, dẫn đến giá cả trong nước cũng tăng theo làm đồng VN mất giá..

Áp lực tỷ giá

Ông đánh giá thế nào với việc tăng tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ lên 3,3%?

Mô tả ảnh.
Tiến sĩ Vũ Đình Ánh

Việc tăng tỷ giá này của ngân hàng nhằm mục đích bình ổn giá đô la Mỹ, kéo giá đô la trong ngân hàng và thị trường tự do gần nhau để giảm tình trạng ngoại tệ chảy khỏi kênh ngân hàng.

Ngoài ra, chúng ta phải điều chỉnh tỷ giá vì thâm hụt cán cân quá lớn. Tháng 1, tháng 2 mới chỉ là những tháng khởi động, nhưng từ tháng 3 trở đi, nhập siêu sẽ tăng lên rất lớn.

Nhập siêu như thế lại gây áp lực lên tỷ giá vì mất cân đối về ngoại tệ, các nguồn ngoại tệ hiện nay mình vẫn chưa kiểm soát được. Bắt các Tổng công ty bán nhưng họ cũng chỉ bán một phần nhỏ, còn ngoại tệ ngoài luồng thì chịu, mà trên tài khoản không phải tất cả bán hết.

Để hạn chế tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất tiền gửi bằng tiền đô là 1%, nhưng thực tế hiện nay vẫn tồn tại cơ chế 2 giá, kể cả giá tiền gửi và cho vay. Cho vay danh nghĩa là theo mức lãi suất quy định nhưng nhiều khi để hấp dẫn, nhiều ngân hàng thương mại lại cho vay với mức giá khác. Để loại bỏ cơ chế 2 giá này thì rất khó vì hiện nay chúng ta vẫn không đủ ngoại tệ.

Việc tăng tỷ giá này có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động xuất nhập khẩu?

Hiện nay các ngân hàng thương mại đều đồng loạt tăng trần cả huy động và cho vay. Theo quy luật, cứ phá giá thì sẽ có lợi cho xuất khẩu và có hại cho nhập khẩu.

Tuy nhiên, xuất khẩu ở Việt Nam, do không khống chế được về giá và kết cấu của xuất khẩu là khai thác nguyên liệu thô để bán, nên thu được nhiều hay ít, cho dù có phá giá thì cũng chỉ thêm được tiền Việt Nam, chứ không có giá trị về mặt cạnh tranh quốc tế. Mình không thể hạ giá bằng đô la thấp hơn vì đây là tỷ giá của mình thay đổi. Nói chung phá giá không ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu.

Tăng tỷ giá nhằm bình ổn thị trường đô la.
Tăng tỷ giá nhằm bình ổn thị trường đô la.

Trong xuất khẩu các nhóm hàng khác nhau cũng chịu những tác động khác nhau. Đối với nhóm hàng khai khoáng (dầu thô, gạo,…) thì càng điều chỉnh tỷ giá thì doanh nghiệp càng nộp ngân sách nhiều tiền hơn.

Tuy nhiên, với một số mặt hàng phải nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu như may mặc, da dày, thì điều chỉnh tỷ giá không tác động là mấy, do nhóm hàng này thực chất không làm lợi được mấy, chủ yếu là đầu vào tăng, sau đó họ lại gia công một chút rồi bán thì hàm lượng giá trị gia tăng cũng không đáng kể.

Về nhập khẩu, phá giá càng không ảnh hưởng nhiều. Khi điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái thì giá bán của hàng nhập khẩu ở VN sẽ cao, thế nhưng hàng nhập khẩu của VN thì giá cao thế chứ cao nữa vẫn dùng, vì hàng trong nước không thay thế được. Do đó, không giảm về tiêu dùng.

Do vậy mỗi lần điều chỉnh tỷ giá hối đoái là giá lại tăng, và tăng đầu tiên là hàng hóa nhập khẩu. Hàng hóa nhập khẩu lại là đầu vào cho những sản xuất khác, kéo theo giá thành của nhiều sản phẩm cũng tăng.

Đối với doanh nghiệp, tỷ giá tăng có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh không?

Ở VN hiện nay, một mặt cơ quan quản lý không cho mua đô la chợ đen, chỉ được bán. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhập khẩu hàng về thì cũng không ai hỏi nguồn ngoại tệ ở đâu và bản thân ngân hàng không cung cấp đủ nên khác gì bảo người ta ra ngoài mà mua…”

Đối với doanh nghiệp, khi họ không mua được đô la ở trong ngân hàng thì họ sẽ phải mua ở ngoài thị trường tự do. Giá đô la ở ngoài tăng cao thì họ sẽ mua với giá cao, sau đó cũng bán với giá cao.

Họ sẽ chỉ thiệt ở chặng thứ hai khi bán rồi lại mua đô la để nhập. Nhưng thực tế cái đó đều được tính trong cả một chu trình kinh doanh, chứ nếu thiệt thì doanh nghiệp sẽ không nhập hàng về để chịu thua lỗ.

Còn việc mua đô la trong ngân hàng thì cũng chưa chắc đã mua được với mức giá đúng của nó. Vì vậy, họ sẵn sàng mua đô la ở bất cứ đâu miễn là đủ ngoại tệ để nhập hàng. Tuy nhiên, nếu mua ở ngoài chợ đen thì sẽ khó khăn về mặt hạch toán.

Ở VN hiện nay, một mặt cơ quan quản lý không cho mua đô la chợ đen, chỉ được bán. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhập khẩu hàng về thì cũng không ai hỏi nguồn ngoại tệ ở đâu và bản thân ngân hàng không cung cấp đủ nên khác gì bảo người ta ra ngoài mà mua.

Muốn cân đối nguồn đô la hiện nay, theo tôi cách tốt nhất là hạn chế nhập siêu.

Xăng tăng giá, DN giải thích “cho vui”

Hiện nay giá xăng thành phẩm đang giảm, trong khi giá xăng bán tại các đại lý lại tăng, điều này có phải bị tác động với việc tăng tỷ giá?

Giá bán lẻ xăng dầu hiện nay có khoảng 11 bộ phận cấu thành, tỷ giá là một phần. Nhà nước cho phép doanh nghiệp được quyết định giá xăng theo nguyên tắc cộng trừ 7% .

Nhiều doanh nghiệp cho rằng do giá xăng thế giới thay đổi nên tăng giá. Nhưng giá xăng không thay đổi trong thời điểm mà trong thời gian dài, tương ứng với lượng dự trữ xăng dầu của VN, trước kia là 20 ngày, bây giờ là 30 ngày. Nó phải biến động giá trong một chu kỳ như thế mới coi là tỷ giá là một yếu tố.

Thực chất 10 yếu tố còn lại không ai đưa ra giải thích nên mỗi lần DN xăng dầu giải thích như thế cũng chỉ là nói cho vui, không có nghĩa giá xăng dầu thế giới tăng 10% thì VN cũng tăng 10%, còn các yếu tố khác như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tỷ lệ hoa hồng trích cho các đại lý và là đại lý nhiều cấp thì sao.

Việc tăng tỷ giá này có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế và chính sách tiền tệ?

Sức ép về cân đối cung cầu ngoại tệ sẽ buộc phải phá giá. Phá giá đồng VN thì lại làm tăng giá hàng nhập khẩu, dẫn đến giá cả trong nước cũng tăng theo làm đồng VN mất giá.

Đồng VN mất giá lại tạo sức ép lên tỷ giá, tạo ra vòng xoáy. Khi đồng VN liên tục mất giá thì người ta chối bỏ đồng VN và quay sang ngoại tệ khác hoặc dự trữ vàng, và như thế đồng VN sẽ càng mất giá.

  • Nguyễn Yến (thực hiện)

February 11, 2010

Ngân hàng Nhà nước tăng giá đô la Mỹ thêm 3,3%

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:29 am
Tags: , , , ,

(TBKTSG Online) – Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 10-2 đã quyết định tăng mạnh tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ từ 17.941 lên 18.544, tương đương với mức tăng 3,3% và chính thức áp dụng mức tỷ giá này cho ngày 11-2.

>>E ngại kiều hối chảy khỏi kênh ngân hàng

Như vậy, ngày 11-2, các ngân hàng thương mại có thể tăng giá mua và bán đô la Mỹ lên mức cao nhất là 19.100 đồng/đô la Mỹ, tức cao hơn 3% so với tỷ giá liên ngân hàng. Mức giá này cũng gần với giá đô la Mỹ trên thị trường tự do, những ngày gần đây xoay quanh mức 19.150 – 19.250 đồng giá mua vào, bán ra.

Trong cùng ngày, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Hiện nay, lãi suất niêm yết cho tiền gửi bằng đô la Mỹ tại các ngân hàng dao động trong khoảng 2,3% – 4%/năm đối với ngân hàng thương mại nhà nước và 3,3% – 4,5%/năm đối với ngân hàng thương mại cổ phần.

Vị trí đặt quảng cáo

Những động thái trên của Ngân hàng Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu bình ổn giá đô la Mỹ, kéo giá đô la Mỹ trong ngân hàng và thị trường chợ đen gần nhau để giảm tình trạng ngoại tệ chảy khỏi kênh ngân hàng.

Việc quy định lãi suất tối đa bằng đô la Mỹ đối với các tổ chức kinh tế cũng nhằm hạn chế việc các công ty thu được ngoại tệ nhưng không bán lại cho ngân hàng mà để trên tài khoản hy vọng giá sẽ tăng. Việc găm giữ đã khiến các ngân hàng lâm vào cảnh khó khăn về nguồn ngoại tệ để bán cho các doanh nghiệp có nhu cầu, gián tiếp đẩy giá đô la trên thị trường chợ đen lên cao.

Theo số liệu tính đến ngày 30-11-2009 của Ngân hàng Nhà nước, số dư tiền gửi có kỳ hạn của các tập đoàn, tổng công ty lớn vào khoảng 1,2 tỉ đô la Mỹ và số dư tiền gửi không kỳ hạn là khoảng 700 triệu đô la. Tổng lượng ngoại tệ trên tài khoản của các tổ chức, doanh nghiệp gửi ngân hàng vào khoảng 10,3 tỉ đô la Mỹ. Sau khi Chính phú có yêu cầu buộc các tập đoàn kinh tế nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, hệ thống ngân hàng đã mua được 450 triệu đô la Mỹ tính đến đầu tháng 2.

Giá vàng tăng vọt sau quyết định điều chỉnh tỷ giá

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 11:15
Giá vàng trong nước sáng nay đội thêm 500.000 đồng/chỉ so với sáng qua, chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng mạnh

Giá vàng trong nước sáng nay đội thêm 500.000 đồng/chỉ so với sáng qua, chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng mạnh trên cả hai thị trường ngân hàng và tự do sau quyết định điều chỉnh tỷ giá ngày 10/2 của Ngân hàng Nhà nước.

Trên thị trường thế giới, áp lực giảm giá vẫn đè nặng lên vàng sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) bàn chuyện rút lui khỏi các kế hoạch kích thích kinh tế.

Sáng nay, 28 Tết, giá vàng trong nước đứng phổ biến ở mức 26,30-26,40 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,50-26,60 triệu đồng/lượng (bán ra). So với giá sáng qua, giá vàng trong nước hiện đã tăng thêm khoảng 500.000 đồng/lượng. Như vậy, tới thời điểm này, giá vàng trong nước đã phục hồi trở lại bằng với mức giá ở thời điểm cách đây một tuần, trước khi sụt giảm chóng mặt vào ngày thứ Sáu tuần trước.

Việc giá vàng trong nước tăng mạnh trong sáng nay không bắt nguồn từ sự biến động của giá vàng thế giới, mà chủ yếu là kết quả của việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá.

Ngày 10/2, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 3/2010/TT-NHNN, quy định tỷ giá bình quân liên ngân hàng USD/VND áp dụng cho ngày 11/2/2010 là 18.544 VND/USD, tăng 603 VND/USD (tương đương hơn 3%) so với ngày 10/2. Trước đó, mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng 1 USD tương đương 17.941 VND đã được duy trì trong một khoảng thời gian tương đối dài.

Như vậy, với biên độ biến động tỉ giá là +/-3%, ngân hàng có thể mua/bán USD với giá trần là 19.100,32 VND/USD và giá sàn là 17.987,68 VND/USD.

Sáng nay, tại Ngân hàng Vietcombank, tỷ giá USD/VND mua vào dao động ở mức 18.495 – 18.595 đồng “ăn” 1 USD và giá niêm yết bán ra dao động ở mức từ 18.800 – 19.000 đồng đổi 1 USD. Trước đó, tỷ giá USD/VND tại ngân hàng này đã đứng yên ở mức 18.469 VND/USD (mua vào) và 18.479 USD/VND (bán ra) trong suốt thời gian tỷ giá liên ngân hàng đứng ở mức 17.941 VND/USD.

Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do sáng nay cũng tăng lên mức 19.500 VND/USD từ mức trên 19.200 VND/USD mấy ngày gần đây.

Như một hệ quả tất yếu, giá vàng trong nước đã tăng theo tỷ giá USD/VND.Ngay từ thời điểm mở cửa, giá vàng SBJ tại hệ thống Sacombank đã được điều chỉnh lên mức 26,43 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,45 triệu đồng/lượng (bán ra).

Tại thị trường Hà Nội, giá vàng SJC giao dịch tại Phú Quý lúc gần 10h30 là 26,35 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,60 triệu đồng/lượng (bán ra). Tại PNJ Hà Nội, giá vàng Phượng Hoàng PNJ-DongA Bank tương ứng lần lượt là 26,28 triệu đồng/lượng và 26,50 triệu đồng/lượng.

Tại thị trường Tp.HCM, giá vàng SJC do Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) công bố trên website doanh nghiệp là 26,33 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,48 triệu đồng/lượng (bán ra).

Giá vàng thế giới lúc 10h25 sáng nay là gần 1.079 USD/oz, tăng hơn 7 USD/oz so với giá đóng cửa phiên đêm qua tại New York. Mức giá này quy đổi theo tỷ giá USD/VND thị trường tự do, cộng thêm thuế và các chi phí khác, tương ứng với khoảng 25,65 triệu đồng/lượng.

Như vậy, giá vàng trong nước hiện đang đứng cao hơn giá vàng thế giới khoảng 800.000-gần 1 triệu đồng/lượng. Theo một số nhà kinh doanh vàng, giá vàng trong nước đang bị đẩy lên so với giá thế giới do lực cầu vàng vật chất trong nước mạnh ngay ở thời điểm sát Tết.

Bà Nguyễn Thị Cúc, Phó tổng giám đốc PNJ cho biết, 80% khách giao dịch tại hệ thống cửa hàng PNJ trên toàn quốc mấy ngày gần đây là khách mua, 20% là khách bán. “Vàng miếng bán rất chạy sau khi giá vàng trong nước giảm mạnh tuần trước. Mỗi ngày chúng tôi bán 3.000-4.000 lượng”, bà Cúc cho biết.

Trong đợt nhập khẩu vàng đầu năm nay, mới chỉ có SJC được cấp phép và đã nhập về 4 tấn vàng. Một số doanh nghiệp khác cho biết, họ đã xin cấp phép nhưng chưa được Ngân hàng Nhà nước cấp phép.

Giá vàng thế giới đêm qua suy yếu trở lại do đồng USD tăng giá. Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tại New York giảm 6,9 USD/oz (0,6%), còn 1.071,7 USD/oz, sau khi đã có thời điểm giảm xuống mức 1.061,4 USD/oz trong phiên.

Giá vàng tăng do đầu cơ

TTO – Buổi sáng 10-2, giá bán vàng miếng SJC tại các cửa hàng vàng phổ biến ở 25,8 -25,9 triệu đồng/lượng trong khi tại SJC chỉ 24,45 triệu đồng/lượng.

Giá vàng tăng trở lại do hai nguyên nhân: giá vàng thế giới tăng trở lại và để hạn chế tình trạng đầu cơ.

Giới đầu cơ mua vàng

SJC cho biết chỉ trong bốn ngày qua đã bán ra thị trường 4,3 tấn vàng – Ảnh: Tr.Huỳnh

Trong những ngày qua người dân không mua vàng mà chủ yếu là các tiệm vàng tư nhân, công ty vàng mua, sau đó bán lại ngoài thị trường với chênh lệch vài trăm nghìn đồng/lượng. Buổi sáng 10-2, giá bán vàng miếng SJC tại các cửa hàng vàng phổ biến ở 25,8-25,9 triệu đồng/lượng trong khi tại SJC chỉ 24,45 triệu đồng/lượng, các đơn vị kinh doanh này đã cử nhiều người đến xếp hàng tại SJC để đợi mua vàng.

Tuy nhiên sau đó khi SJC tăng giá lên ngang bằng thị trường, lập tức đám đông giải tán. Như vậy có thể thấy người dân có không có nhu cầu mua vàng cất giữ mà chỉ có giới đầu cơ tranh thủ chênh lệch giá giữa SJC và thị trường để mua bán liền tay hưởng chênh lệch.

Đại diện Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) cho biết chỉ trong bốn ngày qua đã bán ra thị trường 4,3 tấn vàng, tương đương hơn 100.000 lượng, trị giá hơn 2.000 tỷ đồng. Đại diện SJC cũng cho biết trong tuần trước các đơn vị kinh doanh rất ít giao dịch, tuy nhiên khi SJC kéo giá xuống thì xảy ra tình trạng rồng rắn xếp hàng.

Thời điểm trước SJC chấp nhận cho các đơn vị kinh doanh chốt giá qua điện thoại sau đó nộp tiền vào tài khoản SJC rồi đến  khi nhận hàng. Tuy nhiên bốn ngày trở lại công ty chỉ chốt giá bán khi nhận tiền nhằm tránh nhu cầu ảo vì nhiều đơn vị chốt giá nhưng không nộp tiền tạo nhu cầu giả tạo cho thị trường nhằm đẩy giá lên.

Công ty SJC cũng khẳng định không có tình trạng thu tiền rồi ghi phiếu hẹn như phản ánh của một số đơn vị mà sau khi người mua nộp tiền xong vào tài khoản thì  SJC sẽ giao hàng ngay. Trong số nhiều người xếp hàng rồng rắn tại SJC sáng 10-2 nhiều trường hợp là chờ người nhà gom tiền chứ không phải SJC chậm giao hàng.

Trong ngày 10-2, SJC đã tung ra thị trường 150 miếng vàng 10 lượng đầu tiên, tương đương 1.500 lượng nhưng hầu hết cung ứng cho ngân hàng, các cửa hàng vàng chỉ mua miếng vàng 1 lượng để tiện bán lại.

Vì sao chỉ có SJC nhập vàng?

Do Ngân hàng Nhà nước mới chỉ cấp quota nhập vàng cho SJC, do vậy nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng cho rằng đã dẫn đến tình trạng thắt nút cổ chai. Các doanh nghiệp đặt vấn đề nếu nhiều đơn vị kinh doanh cùng được nhập vàng thì sẽ mạnh tay vay vàng bán ra thị trường sau đó nhập vàng về hoàn trả lại, như vậy sẽ giải quyết được tình trạng xếp hàng rồng rắn như những ngày qua, nguồn cung vàng thị trường sẽ dồi dào hơn.

Phó tổng giám đốc một công ty kinh doanh vàng nói rằng nếu quy về một đầu mối thì khó có thể can thiệp thị trường kéo giá vàng trong nước giảm sâu.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online chiều 10-2, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết lý do Ngân hàng Nhà nước cấp quota nhập khẩu cho SJC là do nơi này là đầu mối cung ứng vàng cho thị trường. Hiện có nhiều thương hiệu vàng nhưng thị trường chỉ chuộng vàng SJC do vậy nếu cấp phép cho nhiều đơn vị nhập vàng như cuối năm 2009 cũng khó tránh khỏi nút thắt cổ chai vì các đơn vị này đều phải nhờ SJC gia công dập thành vàng miếng SJC.

Trong chiều 10-2 giá vàng niêm yết tại thị trường vẫn cao hơn SJC khoảng 240.000 đồng/lượng, bán ra 26 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên khoảng cách giữa giá mua – bán lên đến 350.000 đồng/lượng, do vậy các tiệm vàng chỉ treo giá chứ hầu như không có khách hàng giao dịch.

Cuối ngày 10-2, giá vàng thế giới ở 1.080 USD/ounce quy theo tỉ giá ngân hàng là 24,1 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá bán trong nước 1,66 triệu đồng/lượng.

Vietnam’s central bank devalued the official VND exchange rate for the 2nd time in the past 3 months
What happened:
The State Bank of Vietnam (SBV) announced a devaluation of the Vietnamese Dong (VND) by
lowering its mid-point exchange rate to 18,544 from 17,941 previously on February 10, to be
effective February 11. This 3.4% adjustment in the value of the VND is the second time in the last
3 months, which is smaller than the previous 5.4% depreciation on November 25, 2009.
The direction of this move is in line with our long maintained view that the VND will depreciate
against the USD, but we did not expect depreciation to take place through another official
exchange rate adjustment so soon after the previous one.
What we think:
In our view, the devaluation is another attempt made by the SBV to narrow the gap between
the quoted exchange rate and the prevailing rate in the black market and relieve the
pressure on balance of payment imbalances. Vietnam’s trade deficit has remained relatively
stable at just above US$1 billion per month in December 2009 and January 2010. Compared to the
FX reserve level we heard of (well above US$15 billion, and some street talk of even above
US$30 billion), the VND devaluation does not seem to be an involuntary move, unless massive
capital outflows have occurred under the capital account recently. Given the gap between the
official exchange rate and the black market rate is only 4% or so before the announcement on
February 10, the government probably considered the devaluation as a preemptive move before
the Tet holidays to help clear the foreign exchange demand in the black market.
However, our concern is that the exchange rate gap could widen again in the near future on
the back of the expectations of a weaker VND trend. Notably, frequent downward adjustments
in the VND exchange rate may deter investors and Vietnamese citizens (who hold a large
proportion of assets in FX and gold) from holding the local currency even for the short term.
Before the central bank demonstrates a strong willingness and capability of defending and
stabilizing the exchange rate, we believe the public will find it more difficult to regain their
confidence in the VND.
In addition, we believe the devaluation will likely put further upside pressure on inflation.
The double-digit sequential mom growth rates in both industrial production and headline CPI
inflation in January suggest the emergence of overheating and inflation risks. Neither the inflation
pass through from imports nor the depreciation expectations going forward will likely help the
SBV rein in inflationary pressures. A gesture from the central bank to increase the VND interest
rate would be helpful in reinstating the credibility of the monetary authority on inflation control
and anchor the expectation of the VND exchange rate.

Đôla chợ đen tăng vọt, trong ngân hàng vượt 19.000 đồng

Rao bán đắt hơn buổi sáng 200-300 đồng, các điểm thu đổi tại Hà Nội hôm nay được dịp làm kiêu, quyết giữ giá không bớt đồng nào dù khách mua nhiều hay ít. Giao dịch tại TP HCM trầm lắng.
Phố Hà Trung – Hà Nội ngày 28 Tết nườm nượp người qua lại. Bảo vệ của các cửa hàng vàng bạc mau lẹ hướng dẫn khách để xe ngăn nắp tránh tắc đường. Bên trong các cửa hàng không thấy ai mua bán vàng, đa phần khách đến đều hỏi giá đôla.

Giá bán đôla tăng ngay sau khi tiệm mở cửa, vọt từ mức 19.300-19.350 hôm qua lên 19.600 đồng. Các cửa hàng lớn bán giá cao hơn, có nơi lên tới 19.700 thậm chí 19.800 đồng đổi một đôla. Trong khi giá mua vào tăng không đáng kể, có nơi giữ nguyên 19.300 đồng, cao hơn cũng chỉ 19.400 đồng một đôla.

Một khách hàng hỏi mua 15.000 đôla, đề nghị bớt vài giá nhưng chủ tiệm kiên quyết không hạ, có chăng chỉ lì xì khách mỗi nghìn đôla 1.000 đồng lấy may. “Đô hôm nay không có chuyện bớt. Cửa hàng đi mua còn chẳng có hàng, sao mà bớt được”, bà chủ tiệm trên phố Hà Trung lạnh lùng nói với khách.

Tuy nhiên, phần đông khách đến cửa hàng để khảo giá, nếu mua chủ yếu với số lượng nhỏ vài trăm đến một, hai nghìn đôla để trả nợ hoặc đổi để đi du lịch.

Tại TP HCM, ghi nhận của VnExpress.net trưa 28 Tết, giá USD tại các tiệm vàng khu vực chợ Bến Thành vượt ngưỡng 19.600 đồng một đôla. Ở trên hai con phố bên hông chợ Bến Thành, giá đôla giao dịch đã khác nhau. Các hiệu vàng bạc đá quý trên đường Phan Châu Trinh, cửa Tây chợ, giá USD mua vào 19.300 đồng bán ra 19.600 đồng. Trong khi đó, các hiệu vàng trên đường Phan Bội Châu – cửa Đông chợ, cả mua và bán đều cao hơn 50 đồng so với cửa Tây, ở mức 19.350 – 19.650 đồng một USD.

Giao dịch khá trầm lắng. Đa số khách hỏi mua USD đều bất ngờ khi hay tin giá bán ra tăng cao. Có nhiều người khách phải dọ giá lẫn nhau để “sang tay” lại, nếu mua số lượng lớn có thể giảm giá bán còn 19.550 đồng một USD. Các chủ tiệm vàng quanh chợ Bến Thành khuyên khách: “USD mới tăng giá trong sáng nay, nếu cần gấp với số lượng ít thì nên mua ngay vì chiều nay có thể giá lại tiếp tục nhích lên”.

Trong khi đó các tiệm vàng ở chợ Thị Nghè, Vườn Chuối sáng nay thu mua USD giữ ở mức giá 19.200 – 19.350 (mua vào – bán ra), tăng 200 đồng so với hôm qua. Một số chủ cửa hàng cho biết không dám mua cao hơn mức 19.350 đồng bởi lo ngại giá USD sẽ tuột dốc trong những ngày tới.

Theo anh Trung, chủ tiệm vàng ở quận Bình Thạnh: “Không ít khách hàng đề nghị được bán ra với giá 19.600-19.700, lý do tỷ giá USD liên ngân hàng tăng mạnh”. Tuy nhiên, do chưa đoán biết xu hướng biến động thị trường trong những ngày tới nên nhiều tiệm vàng ngả giá từng trăm đồng với khách, không dám mua giá cao.

Theo các chủ tiệm vàng, nhu cầu mua bán USD những ngày qua tại TP HCM chỉ dùng cho mục đích tiêu dùng, không có tình trạng người dân kéo nhau đi mua hay bán như các lần điều chỉnh giá đôla trước đây.

Giá USD tăng mạnh khi tỷ giá liên ngân hàng điều chỉnh sáng 11/2. Ảnh: Hoàng Hà

Giá đôla trong ngân hàng sáng nay tăng mạnh hơn so với thị trường tự do. Ngân hàng Ngoại thương hôm qua còn giao dịch với giá 18.469 – 18.479 đồng (mua vào – bán ra) thì đến sáng nay nâng lên lần lượt là 18.495 – 18.880 đồng. Lúc 11h, ngân hàng đã điều chỉnh tỷ giá lên mức mới: 18.595 – 19.000 đồng. Cùng lúc này, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam niêm yết giá mua vào – bán ra lần lượt là 18.650 – 19.050 đồng ăn một đôla.

Diễn biến thị trường ngoại tệ sáng nay chịu chi phối bởi quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm gần 3,4% và khống chế lãi suất tối đa với tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp ở mức 1%. Quyết định này được đưa ra khá bất ngờ, Chính phủ duyệt phương án vào buổi chiều qua và tới 9h tối Ngân hàng Nhà nước chính thức công bố.

Trao đổi với VnExpress.net sáng nay, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh vào ngày cận Tết khi thấy tín hiệu thị trường thuận lợi, nguồn cung đôla dồi dào hơn sau vài ngày doanh nghiệp tăng cường bán cho ngân hàng, lượng tiền do bà con kiều bào gửi về nước cũng nhiều hơn. Quyết định điều chỉnh biên độ và tỷ giá liên ngân hàng cuối tháng 11/2009 đã có tác dụng tích cực, song theo ông Giàu, để kiểm soát nhập siêu và kích thích xuất khẩu vẫn thêm “liều thuốc” mạnh.

Theo Tổng Cục thống kê, xuất khẩu tháng 1 tăng hơn 30%, trong khi nhập khẩu tăng gần 80%.

Nguồn: Vnexpress

Thursday, February 11, 2010

First domino

Năm cùng tháng tận mà Asia Times (qua link của GS Trần Hữu Dũng) tặng cho VN cái title Asia’s first domino mới chán chứ. Nhưng đọc bài này xong … thở phào yên tâm đi ăn Tết :-), lý thuyết domino đã không đúng 35 năm trước, lần này chắc cũng vậy.
Vậy điều gì làm Shawn Crispin của AT lo cho VN quá vậy? Bài báo khá dài dòng, rối rắm, nhưng có lẽ điều làm Crispin lo ngại là lạm phát và tỷ giá. Tác giả bài này chắc chưa biết NHNN vừa phá giá thêm 3.3%, chỉ hai ngày sau khi thống đốc Nguyễn Văn Giàu trả lời phỏng vấn VNEconomy ngụ ý NHNN không muốn tiếp tục phá giá. Thông đốc Giàu nói đúng, phá giá sẽ tạo áp lực lên lạm phát. Tuy nhiên có lẽ ông không để ý rằng không phá giá, trong hoàn cảnh đa số người dân và doanh nghiệp cho rằng VNĐ đang overvalued, cũng gây ra inflation expectation. Việc người dân và doanh nghiệp (kể cả các “đầu tàu kinh tế” SOE) hoarding USD là bằng chứng của cái expectation này. Tôi đồng ý với Crispin ở điểm này.
Nhưng lập luận của Crispin cho rằng NHNN thiếu khả năng và ý định (ability and willingness) kiểm soát lạm phát có lẽ đi quá xa. Không một ngân hàng trung ương nào không muốn kiểm soát lạm phát (và thiểu phát), NHNN VN cũng không phải ngoại lệ. Trong một vài thời điểm VN có thể đã quá chú trọng vào tăng trưỡng dẫn đến lạm phát tăng cao, hoặc có thể đã accommodate các chính sách fiscal của chính phủ nên “vô tình” bơm quá nhiều liquidity ra nền kinh tế. Nhưng đó là những trade off mà bất kỳ ngân hàng trung ương nào cũng phải đối mặt, cái chính là khả năng đánh giá/phân tích tình hình và đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời. Quan điểm của tôi là NHNN có chính sách sai lầm chứ không phải không có willingness.
Nói NHNN VN không có khả năng kiểm soát lạm phát cũng hơi quá. NHNN có đầy đủ các công cụ tiền tệ như các ngân hàng trung ương khác, thậm chí còn có khả năng “ra lệnh” cho các NHTM tăng/giảm credit growth một cách trực tiếp, điều mà Fed, ECB, BoE… không thể làm được (đúng hơn là không được phép làm). Bên cạnh NHNN, Bộ Tài chính VN còn có cơ quan quản lý giá, bất kỳ lúc nào cũng có thể đặt giá trần cho các mặt hàng thiết yếu, điều mà các nước phát triển đa phần cũng không làm được. Do đó có thể nói VN hoàn toàn có khả năng kiểm soát được lạm phát, vấn đề là chính phủ có chấp nhận các trade off về phát triển kinh tế để kiềm chế lạm phát hay không thôi.
Vấn đề tỷ giá cũng vậy, NHNN hoàn toàn có ability và willingness điều chỉnh tỷ giá. Tôi nghĩ thống đốc Giàu trả lời phỏng vấn bên trên chỉ có tính tactical thôi (tuy có thể bị credibility damage), chứ NHNN thừa hiểu phá giá là biện pháp duy nhất để phục hồi lại external balance của VN. Phá giá nhanh, quyết liệt để đưa VNĐ về đúng vị trí của nó (vd PPP equilibrium hay BEER) sẽ giúp giải tỏa risk/uncertainty cho các doanh nghiệp, kể cả các FDI investors. Capital account của VN còn đóng nên NHNN không phải lo ngại về capital flight hay currency attack.
Vấn đề original sin chắc chắn có nhưng không quá serious, nên nhớ VNĐ bị overvalued chủ yếu vì lạm phát quá cao. Trước đây vay 1 USD đổi được 15000 VNĐ, bây giờ phải trả 19000 VNĐ nhưng nếu số tiền đi vay được đầu tư hiệu quả thì sản phẩm bán ra đã tăng giá ít nhất với tốc độ tăng lạm phát, đủ để bù cho chênh lệch tỷ giá. Còn nếu đồng tiền đi vay đầu tư không hiệu quả thì đó là vấn đề khác chứ không phải original sin và không phải trách nhiệm của NHNN. Tóm lại, điều chỉnh tỷ giá hoàn toàn manageable và không phải là drama gì lớn cho nền kinh tế. Cái chính là liệu NHNN có bị các tác động non-economic khi ra quyết định điều chỉnh tỷ giá hay không, có lẽ không sau lần điều chỉnh thứ hai này. Philosophy điều hành kinh tế VN vẫn là “dò đá qua sông” hay theo như JPM’s Sriyan Pietersz nói: “learning by doing”.
Bỏ qua khả năng contagion ra các nước châu Á khác vô cùng nhỏ (domino theory), tôi cho rằng Shawn Crispin đã sai lầm khi cho rằng VN sẽ là quân domino đầu tiên sụp đổ. Rủi ro về lạm phát và tỷ giá có thật và khá lớn, nhưng tôi không nghĩ các policy makers của VN không có ability và willingness đối phó với những rủi ro đó. Có điều họ còn phải cân nhắc nhiều khía cạnh, đại hội Đảng năm tới là một trong những yế tố có ảnh hưởng lớn đến các chính sách kinh tế.
Update: Mới tìm được link này từ blog Krugman: Latvia’s GDP giảm 18% QoQ trong Q4 2009 và IMF dự báo sẽ giảm tổng cộng 30% peak-to-trough. Lý do chính theo các tác giả của bài nghiên cứu là nước này đã cố gắng bảo vệ tỷ giá overvalued của mình quá lâu. Undervaluation có thể có ích (như trường hợp TQ) còn overvaluation chưa bao giờ có lợi (eg Latvia hiện tại hay Thailand thời 97-99).

Đi tìm nguyên nhân thực của căng thẳng tỷ giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:58 am
Tags: ,
Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 09:18
Thông thường, cứ mỗi đợt tỷ giá căng thẳng, lời giải thích của cơ quan quản lý bao giờ cũng là “cân đối cung cầu ngoại tệ vẫn ổn định”, “thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể không đến mức lo ngại”, “lãi suất USD trên thị trường ở mức bình thường” và vì th

Đúng lúc “năm cùng tháng tận”, thị trường ngoại tệ đón nhận một quyết định bất đắc dĩ của Chính phủ, yêu cầu 7 doanh nghiệp lớn của Nhà nước bán lại một phần ngoại tệ cho ngân hàng. Có thể nhờ đó, căng thẳng tỷ giá tạm khép lại nhưng có ý kiến cho rằng, nếu biết triệt tiêu kỳ vọng của thị trường nhằm hướng nguồn lực đó vào sản xuất mới là giải pháp có căn cơ.

Cùng với chính sách lãi suất và gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn thì tỷ giá là vấn đề nóng hổi của thị trường tiền tệ năm 2009. Để thấy rõ sự biến động của chúng, nếu so sánh ở ba góc độ của thị trường là thị trường liên ngân hàng, thị trường tự do, tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong 4 giai đoạn (tháng 1 – tháng 3; tháng 4 – tháng 9; tháng 10 – ngày 24/11 và từ 25/11 đến hết năm 2009), thật khó hình dung sự biến động của chúng lớn đến mức nào.

Và có vẻ như giữa hoạt động điều hành và thị trường, rất khó tìm thấy tiếng nói chung.

Khổ sở vì tỷ giá

Đầu tiên, xét trên thị trường liên ngân hàng. Ở giai đoạn 1, tỷ giá dao động trong khoảng 17.450 đồng – 17.700 đồng, cách giá trần khoảng từ 0 – 200 điểm (một điểm tương đương một đồng), lúc đó tính thanh khoản thị trường kém, nguồn cung khan hiếm, ngoại trừ thời điểm thị trường được bổ sung từ doanh thu xuất khẩu vàng.

Giai đoạn 2, tỷ giá liên ngân hàng sát giá trần của Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Nhà nước) trong khoảng 10 ngày sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng biên độ tỷ giá (từ +/- 3% lên +/- 5% vào ngày 23/3/2009). Tuy nhiên đến 9/4, tỷ giá liên ngân hàng tăng mạnh và duy trì biên độ 200 – 600 điểm so với giá trần.

Giai đoạn 3, từ cuối tháng 10/2009, tỷ giá tăng mạnh và đến ngày 10/11, cao hơn giá trần 1.000 điểm. Biến động tỷ giá rất dữ dội, có ngày tăng 200 – 300 điểm và đạt đỉnh ở mức 19.750 vào 24/11. Chỉ đến khi Ngân hàng Nhà nước cho phép nhập vàng trở lại, tỷ giá ở thị trường này giảm trong 2 ngày nhưng vẫn cao hơn 1.200 – 1.500 điểm so với giá trần.

Giai đoạn 4, tỷ giá giao dịch liên ngân hàng giảm từ mức cao 19.800 đồng xuống 18.500 đồng, sát với giá trần.

Ở thị trường tự do, tỷ giá biến động dữ dội hơn rất nhiều. Giai đoạn 1, chúng dao động trong khoảng 17.450 đồng – 17.800 đồng, cao hơn tỷ giá trên liên ngân hàng trên 100 điểm. Giai đoạn 2, từ 18.180 đồng – 18.250 đồng nhưng từ nửa cuối tháng 6/2009, tăng lên mức 18.450 đồng – 18.500 đồng.

Sang giai đoạn 2, tỷ giá thị trường tự do tăng rất nhanh, đạt đỉnh 20.000 đồng rồi giảm nhanh về 18.700 đồng trước khi tăng trở lại và duy trì ở mức 19.000 đồng – 19.300 đồng. Đến giai đoạn 4, tỷ giá thị trường này giảm mạnh.

Nếu như tỷ giá hai thị trường trên biến động mạnh thì biến động của tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho tỷ giá thị trường biến động rất ít. ở giai đoạn 1, chúng biến động nhỏ và xoay quanh mức 16.980 đồng. Giai đoạn 2, sau khi nới biên độ, tỷ giá giảm từ 16.980 đồng xuống 16.935 đồng (- 0,26%) và duy trì đến hết tháng 5/2009. Từ tháng 6/2009, mặc dù Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng dần nhưng mức tăng thấp.

Giai đoạn 3, nhịp độ tăng của tỷ giá bình quân liên ngân hàng vẫn không nhiều và tính đến 19/11/2009, mức tăng của chúng so với cuối 2008 chỉ 0,3%. Ở giai đoạn 4, kể từ 26/11, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,44% và so với cuối năm 2008, mức tăng của chúng chỉ 5,81%.

Cùng với USD, những ngoại tệ khác cũng tăng giá mạnh mẽ mà tỷ giá tính chéo giữa VND với một số ngoại tệ khác được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu là một ví dụ. Và những nhà đầu cơ ngoại tệ khác ngoài USD đã vớ bẫm, mặc dù đó mới chỉ là số lời lãi tính trên tỷ giá tính chéo của Ngân hàng Nhà nước, còn thực tế thì còn lớn hơn nhiều.

Giải mã ẩn số “bình ngưng”!

Thông thường, cứ mỗi đợt tỷ giá căng thẳng, lời giải thích của cơ quan quản lý bao giờ cũng là “cân đối cung cầu ngoại tệ vẫn ổn định”, “thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể không đến mức lo ngại”, “lãi suất USD trên thị trường ở mức bình thường” và vì thế, “tỷ giá vẫn trong vòng kiểm soát”…

Thế nhưng, những gì đang diễn ra trên thị trường lại không tuân theo những trấn an kia, bởi sự căng thẳng tỷ giá trong thời gian qua có phải do những nguyên nhân dài hạn như trên?

Trở lại với thực tế trong năm 2009, mặc dù ngân hàng quá dồi dào nguồn ngoại tệ cho vay tới hàng tỷ USD, khiến lãi suất giảm thấp (dĩ nhiên, lãi suất USD giảm ở Việt Nam còn có một nguyên nhân khác là đồng USD xuống giá so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác) nhưng nguồn để kinh doanh (bán ra) thì thiếu.

Khi thiếu, một mặt ngân hàng không có nguồn bán cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp tăng cường “vét” trên thị trường tự do, đẩy tỷ giá ở thị trường này tăng chóng mặt; mặt khác, họ hối thúc Ngân hàng Nhà nước phải bán ra.

Hiển nhiên như vậy nhưng ít ai tìm thấy mối liên hệ giữa câu chuyện nguồn huy động ngoại tệ thì thừa nhưng nguồn ngoại tệ kinh doanh lại thiếu. Cũng vì thế, hành động ra sao để tạo ra bình thông nhau giữa hai nguồn ngoại tệ này trong hệ thống ngân hàng không được quan tâm, mà thay vào đó là Ngân hàng Nhà nước phải bán ngoại tệ cho ngân hàng thương mại.

Thực tế, Ngân hàng Nhà nước đã hành động theo hướng này và mỗi lần thực hiện “bơm” ra, thị trường bình ổn trở lại nhưng khi hết đợt, tỷ giá lại tăng. Có những thời điểm, Ngân hàng Nhà nước bán ra bao nhiêu, hết bấy nhiêu, hệt như đổ vào “hố đen” không đáy.

Để rõ hơn vấn đề này, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia phân tích: “Nhiều người nghĩ tỷ giá là do tác động của thâm hụt thương mại, thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế nhưng đó chỉ là những tác động mang tính dài hạn. Còn trong ngắn hạn đối với Việt Nam hiện nay, câu chuyện tỷ giá liên quan nhiều đến lãi suất”.

Theo ông, ở một quốc gia bị “Đô la hóa” từ lâu như Việt Nam, khi Chính phủ có chủ trương hỗ trợ lãi suất đã làm cho lãi suất cho vay của đồng Việt Nam giảm xuống. Tuy nhiên, vì Chính phủ không song song hỗ trợ lãi suất đồng USD nên đã làm cho khoảng cách của chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND bị thu hẹp lại. Khi khoảng cách này càng gần thì nghiễm nhiên, VND trở nên mất giá và đồng USD bị tăng giá cục bộ ở Việt Nam một cách giả tạo.

Từ đó, một lượng lớn ngoại tệ bị rút khỏi lưu thông, nằm dưới dạng “tài sản để dành”, “găm giữ” của doanh nghiệp và dân chúng trên tài khoản hoặc ở két sắt, chờ tỷ giá tăng để săn tìm lợi nhuận. Và đó cũng chính là tình trạng góp phần tạo nên “bình ngưng” ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng mà Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong một văn bản kiến nghị Ngân hàng Nhà nước tháo gỡ một số vướng mắc trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đã đề cập.

Dĩ nhiên, tác động phụ này sẽ không xảy ra nếu Chính phủ đồng thời làm hai việc vừa tài trợ lãi suất cho tín dụng nội tệ, vừa tài trợ lãi suất cho tín dụng ngoại tệ, nhằm phản ánh đúng tỷ lệ lạm phát của Việt Nam so với tỷ lệ lạm phát của Mỹ cũng như uy tín của VND so với USD.

Nhìn ở góc độ khác, tình trạng trên cũng lý giải một phần câu chuyện khi cân đối cán cân thanh toán tổng thể, cơ quan chuyên môn đưa ra con số thâm hụt 3 tỷ USD nhưng số “sai sót” lên tới 5,6 tỷ USD.

Số “sai sót” trên có nghĩa như thế nào? Ông Nghĩa phân tích: ở các nước xuất khẩu tư bản thì đó là đầu tư tư bản ngầm ra nước ngoài. Còn ở Việt Nam, vốn là quốc gia “Đô la hóa” nên lượng USD nói trên không ra khỏi biên giới mà chỉ ra khỏi lưu thông và nằm lại dưới dạng “của để dành”, không có tính thanh khoản như mong đợi của thị trường và cũng không thể hiện ở đâu cả.

“Không thể hiện ở đâu cả” thì làm sao biết được “sai sót” những 5,6 tỷ USD? Ông Nghĩa giải thích: “Người ta biết được từ ước lượng kết quả thâm hụt ngoại tệ giảm đi ngần này, thu ngoại tệ ngần này, chứng tỏ có một khối lượng đang nằm đâu đó. Phương pháp này được xác định bằng cách lần mò từ con số cuối cùng đi lên”.

Điều này đồng nghĩa, số “sai sót” trên cũng không phải xuất phát từ nguyên nhân “nhập lậu” vì thực tế, nhập lậu xuất hiện đã hàng chục năm nay nhưng chưa bao giờ có con số thông kê, vậy thì khi xuất hiện con số “sai sót” nói trên, không thể đổ lỗi cho nhập lậu.

Có nên trách cứ kỳ vọng thị trường?

Như vậy, đến bao giờ thì triệt tiêu được kỳ vọng của thị trường? Có lẽ, trước khi trả lời câu hỏi này thì phải hiểu rằng, kỳ vọng thị trường là chuyện đương nhiên, và không nên/không thể trách cứ kẻ có tiền kỳ vọng.

Một chuyên gia cho rằng, chừng nào kỳ vọng còn tăng thì còn găm giữ và ngược lại, họ sẽ bán tống, bán tháo. Vấn đề quan trọng nhất của nhà hoạch định chính sách là đừng tạo ra kỳ vọng đó; hoặc nếu tạo ra thì phải hai chiều: ngày hôm nay bán tốt nhưng ngày mai có thể mua tốt, khiến cho không ai dám để dành bởi sự khó lường của giá cả.

Và đó là nghệ thuật của bàn tay điều hành chính sách.

Bởi vậy, bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho rằng, muốn đồng USD quay trở lại thị trường một cách bình thường thì đầu tiên, tỷ giá hối đoái phải hợp lý, khiến cho người sở hữu ngoại tệ thấy rằng, với giá này, mình có thể bán.

Mặt khác, khi lãi suất VND tăng lên, người sở hữu USD sẽ bán USD để lấy VND. Hai yếu tố này sẽ làm cho kỳ vọng thị trường giảm xuống, nhu cầu tích trữ USD như một thứ “của để dành” như vàng hay kim cương sẽ được triệt tiêu dần.

Thứ ba, còn một yếu tố nữa, khi các cơ hội đầu tư, sản xuất, tiêu dùng phục hồi thì người sở hữu đồng USD sẽ mang chúng để đầu tư với kỳ vọng lợi nhuận cao hơn tích trữ.

Một câu hỏi khác được đặt ra là cơ hội sinh lời từ đầu cơ ngoại tệ trong năm nay sẽ như thế nào?

Ông Nghĩa cho rằng, những khoản sinh lời từ đầu tư ngoại tệ có được trước đó chẳng qua là do may mắn. Bởi vì khi Chính phủ kích cầu, Ngân hàng Nhà nước không thể sử dụng các công cụ thị trường nên phải thay vào đó là các công cụ hành chính như khống chế tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế phục hồi, nhu cầu đầu tư sản xuất thực sự trở lại, Ngân hàng Nhà nước sẽ quay về với các công cụ thị trường, chính sách lãi suất, tỷ giá thực hiện theo đúng cung – cầu thị trường. Từ đó, yếu tố kỳ vọng của thị trường sẽ bị triệt tiêu dần và hành vi đầu cơ sẽ khó có cơ hội.

Đến đây, sẽ có người hỏi rằng: nếu “kỳ vọng thị trường” là “tội đồ” gây nên căng thẳng tỷ giá thì liệu có cần thiết buộc các doanh nghiệp Nhà nước bán lại một phần ngoại tệ cho ngân hàng một cách “oan uổng” như vừa qua?

Liên quan đến vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) nêu quan điểm: “Nguồn ngoại tệ mà các doanh nghiệp đang sở hữu được tạo nên từ những tài nguyên của đất nước. Trong khi thị trường bất ổn, hành động chia sẻ khó khăn với Chính phủ là việc nên làm và phải làm”. Và như vậy, giá như sự chung tay của họ xuất phát từ sự tự nguyện sẽ tốt và đáng trân trọng hơn nhiều lần từ một quyết định “cực chẳng đã”.

Mặt khác, từ việc phân tích biến động tỷ giá qua 4 giai đoạn trong năm 2009, cho thấy, mức tăng tỷ giá hai thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do đã không bám sát với mức tăng của tỷ giá bình quân do Ngân hàng Nhà nước công bố.

Liệu, đó có phải là bàn tay quản lý đang dần thoát ly khỏi thị trường?

(Theo VnEconomy)

December 30, 2009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:12 pm
Tags: , ,

HANOI, Dec 28 (Reuters) – Lending rates in the Vietnamese dong rose on Monday to catch up with higher year-end demand while several banks faced shortages of funds, bankers and an industry official said.
Overnight rates on dong loans edged up to 10.29 percent on Monday from 10.25 percent last Friday and 9.93 percent a week ago, Reuters data showed.
Vietnam's cash-driven economy often faces higher funding demand in the last quarter, including for debt clearance, disbursement of funds committed for the year and corporate clearance of stockpiled goods. Increased demand has been pushing dong rates up in recent weeks.
Companies now withdrawing their own cash ahead of the end of the government's short-term interest rate subsidy scheme on Dec. 31 added to the fund shortages for banks, said Duong Thu Huong, general secretary of the Vietnam Banks Association.
"Several commercial banks face constraints in funding sources, but not at a level where they lose their liquidity," Huong told the Vietnam Economic Times daily in an interview published on Monday.
She said the central bank had provided funds to help the banks in difficulty maintain liquidity, but gave no value of the financial support.
Vietnam is aiming to limit credit growth next year to around 25 percent from 38 percent in 2009, the central bank said last Wednesday, stepping up vigilance against rising inflation pressures.
To help cool banks' soaring credit growth, the central bank said last week it will keep the base rate on dong loans unchanged at 8 percent for January.
It raised the base rate on Dec. 1 from 7 percent, where it had stood since April 10, as part of measures to prevent a return of high inflation next year.
On the dollar front, the central bank has been keeping the official exchange rate at 17,941 dong per dollar unchanged since Dec. 10.
State-run Vietnam television said on Monday that several export businesses have stopped hoarding dollars because the government has allowed them to borrow dollars from banks.
The government has ordered seven major state-run companies to sell dollars they have been keeping to help ease a dollar shortage that has been a problem for the economy almost all year.

(Reporting by Ho Binh Minh; Editing by Tomasz Janowski)

December 25, 2009

Vì sao tỷ giá USD/VND đứng yên?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:31 pm
Tags:

Tỷ giá bình quân liên ngân hàng và giá bán USD của các ngân hàng thương mại liên tục duy trì một mức trong suốt hai tuần qua.

Từ ngày 10/12 trở lại đây, tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng giữa USD với VND do Ngân hàng Nhà nước công bố đứng yên ở mức 17.941 VND. Giá USD bán ra của các ngân hàng thương mại theo đó cũng “cố định” ở mức 18.479 VND trong suốt thời gian đó, ở mức trần cho phép.

Đó là hiện tượng hiếm thấy trên thị trường ngoại hối trong hai năm nhiều biến động vừa qua, 2008 và 2009.

Chuyển động cụ thể nhất của tỷ giá là việc các ngân hàng thương mại điều chỉnh khá nhanh giá USD mua vào qua mỗi ngày. Đầu tuần này, giá USD mua vào đã lên sát gần giá bán ra; ngày hôm qua (24/12) chỉ còn cách 5 VND. Tuy nhiên, theo giá niêm yết sáng nay, giá mua vào đã giảm mạnh, xuống 18.459 VND, thấp hơn giá bán 20 VND – một khoảng cách hiếm thấy kể từ đầu năm.

Theo tổng giám đốc một ngân hàng thương mại có nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu mạnh, có thể nhìn nhận diễn biến trên ở một thông điệp giữ ổn định từ Ngân hàng Nhà nước. Diễn biến này cũng có thể xem là sự ổn định sau những tác động của các giải pháp đưa ra, đặc biệt từ sau điều chỉnh ngày 26/11.

Tổng giám đốc ngân hàng này cũng cho biết, thời gian gần đây hoạt động bán lại ngoại tệ từ doanh nghiệp cho ngân hàng đã tốt hơn. Tuy nhiên, phần lớn lượng ngoại tệ bán lại nằm trong nhóm đối tượng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng truyền thống; trong đó có một phần ràng buộc trong hợp đồng vay vốn VND lãi suất thấp trước đó.

Trao đổi với VnEconomy sáng nay (25/12), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho rằng việc tỷ giá bình quân liên ngân hàng đứng yên như thế cũng là bình thường trên thị trường ngoại hối. Hiện nay thị trường đang dần ổn định, xuất phát từ những yếu tố nội tại của thị trường, cũng như những tác động của chính sách. Ngay ở thị trường tự do, theo Thống đốc, giá USD cũng đã giảm nhanh trong những ngày qua.

Về thị trường, Thống đốc nhận định, thời điểm cuối năm nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp tăng cao, theo đó lượng tiền gửi ngoại tệ tại ngân hàng có xu hướng giảm, và đây cũng là yếu tố mang tính thời điểm thường thấy vào cuối năm.

Gần đây, một số ngân hàng thương mại tiếp tục tăng lãi suất huy động USD mà nguyên nhân chính cũng từ diễn biến trên.

Mặt khác, nhu cầu thanh toán cao, lượng tiền gửi giảm sẽ tạo sự luân chuyển nhanh và linh hoạt hơn, thay vì nguồn ngoại tệ găm giữ trong tài khoản tiền gửi trước đó. Ở nhu cầu thanh toán này, có cả những nhu cầu quy đổi ngoại tệ lấy nội tệ để thanh toán trong nước, thậm chí là lương thưởng cuối năm tại doanh nghiệp…

Thống đốc cũng cho biết việc Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo 7 tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước thực hiện bán lại ngoại tệ cũng là một giải pháp kịp thời và góp phần tạo điều kiện ổn định hơn cho thị trường. Ngay khi có ý kiến chỉ đạo trên, Ngân hàng Nhà nước đã chuẩn bị văn bản hướng dẫn việc bán lại này, cũng như cam kết từ phía ngân hàng…

Thống đốc cho biết, dự kiến văn bản hướng dẫn trên (có thể dưới hình thức một thông tư) sẽ được ban hành vào thứ Hai tuần tới

December 13, 2009

Vietnam Dong begins to float more freely

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:58 pm
Tags: ,

VNBusinessNews.com – November saw the State Bank of Viet Nam announce a slew of measures in a proactive attempt to ward off possible economic imbalances, according to a fund management company.

The Viet Nam Asset Management Ltd (VAM), which primarily invests in equity and offers advisory services in Viet Nam, said in a monthly market update that the measures included an adjustment of the exchange rate for the dong (November 26) combined with a reduction in the forex trading

band from 5 per cent to 3 per cent.

A 1 per cent base-rate hike to 8 per cent on December 1, and potential mandatory purchases of the greenback from State-owned Enterprises and other exporters are also important moves.

The depreciation signals that the central bank is moving towards a more free-floating currency regime since the new rate should theoretically bring the dollar in line with black market rates, easing demand concerns.

The move would also help ease potential balance of payment issues as the trade deficit in the first 11 months of this year is estimated to be around US$10.3 billion. The interest rate hike is an effort to ease credit growth, which stood at 33 per cent in the year through October, three per cent higher than the Government’s full year target of 30 per cent.

High credit growth and increasing commodity prices pushed year-on-year inflation up from 3 per cent to 4.4 per cent in November, and the Government is likely to be wary of another bout of runaway inflation like last year.

The third measure is expected to help improve dollar liquidity and alleviate forex concerns.

On a positive note, macroeconomic indicators demonstrate Viet Nam is still in a strong recovery phase. Year-to-date retail sales and industrial production growth rates were 7.3 per cent and 18.5 per cent up compared to the same period last year.

Exports improved slightly from – 13.8 per cent year-to-date growth in October to – 11.6 per cent in November though the trade deficit for November is once again estimated to be high at nearly $2 billion. The HCM City stock market was expectedly down for the month finishing at 504.12, or 14.1 per cent below the previous month’s close.

The main reasons for the fall were the Government’s announcement at the beginning of the month it would crack down on the improper use of subsidised bank credit to invest in the equity market and the SBV’s new measures at the month end.

The looming debt crisis in Dubai that has spooked global investors was another factor.

In the current environment, companies with hard currency revenues and a local cost base, such as aquaculture exporters, would do well.

On the other hand, importers and manufacturers with imported inputs would have difficulty maintaining their margin following the dong’s depreciation. Besides, the recent interest rate hike has caused apprehension about further tightening, especially with inflation creeping up.

The targeted 30 per cent cap in credit growth is another concern not only for banks but also for the private sector, which often faces funding problems when there is a tightening.

“We are cautious about companies with high leverage [credit] as they would be the first casualties in a rising interest rate environment,” the report said.

December 6, 2009

Lãi vay thông thường lên 12%/năm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:10 am
Tags: , ,

LĐ) – Phá vỡ ngưỡng 10,5%/năm, lãi suất huy động VND đang được các ngân hàng điều chỉnh lên ở mức vừa phải và không ồ ạt với dự báo lãi cho vay sẽ lên đến 12%/năm sau ngày các quyết định của NHNN có hiệu lực.

Tăng vào

Chỉ ít ngày sau khi NHNN điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản, một vài các NHTM bắt đầu điều chỉnh tăng lãi suất huy động VND với mức tăng, theo như ghi nhận của NHNN vào khoảng 0,5-1,2%/năm và lên mức cao nhất 10,5%/năm đối với kì hạn trên 24 tháng. Như vậy, lãi suất huy động VND bình quân từng kỳ hạn của các TCTD đạt mức tăng 0,1-0,6%/năm so với trước khi NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản.

Trong biểu lãi suất huy động mới nhất chính thức được Techcombank áp dụng từ trưa ngày hôm qua (1.12), có đến 8 kỳ hạn khác nhau có mức lãi suất trên 10%/năm, trong khoảng 10-10,35%/năm. Đáng lưu ý trong số này có đến 3 kỳ hạn ngắn gồm 1, 2 và 3 tháng. Cộng với mức lãi suất thưởng ứng với số tiền gửi, tối đa lên đến 0,15%/năm đối với số tiền gửi từ 3 tỉ đồng trở lên, lãi suất huy động cao nhất tại Techcombank cũng đạt mức 10,5%/năm.

Một loạt các ngân hàng khác như PGBank, Vietcombank hay MB trước đó cũng sớm ban hành biểu lãi suất huy động mới với nhiều điều chỉnh. Song biểu lãi suất huy động của Tinnghiabank mới thực sự gây sốc khi đồng loạt áp dụng mức lãi suất trên 10,2%/năm đến 10,44%/năm đối với 17 kỳ hạn gửi tiền VND từ 1 tháng đến 36 tháng. Chú trọng vào nguồn vốn trung hạn, Tinnghiabank cũng công bố áp dụng mức lãi suất huy động tối đa 10,44%/năm cho đồng loạt 4 kỳ hạn 6, 7, 8 và 9 tháng.

Song với chỉ đạo các NHTM nhà nước không được đưa lãi suất huy động vượt ngưỡng 10,5%/năm của NHNN cùng với bối cảnh kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng cuối năm, cuộc đua tăng lãi suất huy động khó có thể có được những biến động ồ ạt như nhiều đợt sóng trước đây. Nhiều NHTM thay vì đưa mức lãi suất cụ thể lại ấn định mức sàn cho từng kỳ hạn, như Vietcombank ấn định mức 9,4-9,9%/năm cho các kỳ hạn 1-12 tháng và 10,5%/năm đối với các kỳ hạn trên 24 tháng. Trong một thông báo mới nhất, Vietcombank đưa ra mức lãi suất 10,1%/năm cho kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho các tổ chức kinh tế.

Tăng ra

Tác động nhanh chóng đến lãi suất cho vay VND, theo nhận định của NHNN, lãi suất cho vay VND (thông thường) vốn phổ biến ở mức 10-10,5% vào cuối tuần qua sẽ được các NHTM đưa lên sát mức 12%/năm, mức lãi suất tối đa theo quy định kể từ ngày 1.12. Vietcombank là ngân hàng hiếm hoi công bố công khai mức lãi suất cho vay VND cụ thể, vốn hiếm khi được các NHTM thực hiện. Chính thức áp dụng từ ngày 1.12, lãi suất cho vay VND ngắn hạn được Vietcombank công bố ở mức tối đa 12%/năm. Riêng với cho vay trung và dài hạn, lãi suất được tính bằng lãi suất 12 tháng của các chi nhánh cộng với 3,6%.

Cũng trong quyết định mới này, Vietcombank công bố áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống tối đa 14%/năm. Sau Vietcombank, chắc chắn sẽ có thêm nhiều NHTM khác áp dụng lãi suất cho vay tối đa đối với khoản vay thông thường khi chênh lệch giữa nguồn vốn đầu vào và đầu ra hiện chỉ còn trung bình trên dưới 2%/năm.

Cùng với các điều chỉnh lãi suất VND, nhiều NHTM trong các ngày gần đây cũng điều chỉnh tăng lãi suất huy động USD với mức tăng khoảng 0,2-0,6%/năm và lãi suất huy động cao nhất lên mức 3,6%/năm đối với kỳ hạn trên 12 tháng. Những điều chỉnh này nhánh chóng đưa lãi suất cho vay USD tăng khoảng 0,1-0,6%/năm và đưa lãi suất cho vay USD ngắn hạn tại các NHTMCP lên mức 5,5-7,0%/năm và 6,0-8,0%/năm đối với trung, dài hạn.

Các ngân hàng vẫn thăm dò

Dù mặt bằng LS huy động đã được nâng lên, nhưng nhiều ý kiến từ các NHTM cho biết là huy động vốn vẫn  khó khăn, người đến gửi tiền mới ít, chủ yếu là khách hàng đến đổi sổ sang kỳ hạn mới để hưởng LS cao hơn. Thực chất với những khoản tiền gửi lớn (hàng tỉ đồng trở lên) trước đây, một số NH đã phải thực trả cho khách hàng mức LS cao hơn  cả mức áp dụng ngày 1.12.2009 qua các hình thức tặng thêm và lãi suất thưởng. Tiền trong xã hội vào NH không còn nhiều. Có chăng sẽ có sự dịch chuyển luồng tiền từ NH lãi suất thấp sang NH lãi suất cao.

Có thể nhìn thấy trước cho dù mặt bằng LS huy động VND đã tăng hơn nhưng tình hình huy động vốn của các NHTM sẽ vẫn không được cải thiện nhiều. Thêm vào nữa, trong bối cảnh các NH rất hạn chế cho vay lại và cho vay mới nên  nhiều khách hàng không muốn trả nợ vì sợ không vay lại được. Nay với việc trần LS vay vốn sẽ tăng lên là 12%/năm từ tháng 12.2009 thì nguồn vốn trả nợ lại càng ít. Mấy ngày đầu áp dụng LS mới là thời gian các NH thăm dò và nhìn nhau. Điều các NH sợ nhất bây giờ là tiền gửi của NH mình bị chảy sang các NH có lãi suất cao hơn. Vì vậy thời gian tới thị trường sẽ còn chứng kiến các đợt điều chỉnh tăng LS huy động VND nữa của các NH hiện còn để thấp hơn mặt bằng chung.

Sự thay đổi lãi suất NH lần này đối với các DN và NĐT thì sẽ tăng thêm chi phí lãi vay. Việc tăng LS đột ngột trước thời gian chấm dứt HTLS ngắn hạn sẽ khiến các DN khó khăn trong việc ổn định kế hoạch tài chính phù hợp với tiến trình hồi phục sức mua, đồng thời làm tăng mức chi phí vốn. Tuy nhiên, tăng LS cho vay cũng khiến cho nhiều DN phải cân nhắc kỹ lưỡng khi vay vốn, sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả. Việc tăng LS cho vay chắc chắn sẽ làm giảm tăng trưởng tín dụng, do vậy sẽ tác động làm giảm cung tiền và giảm tỉ giá hối đoái, do đó giảm sức ép lên lạm phát. Châu Giang

Văn Nguyễn
Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.