Ktetaichinh’s Blog

June 1, 2010

Ngân hàng ngoại “ngại” lộ trình tăng vốn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:40 pm
Tags: ,

Áp trần hạn mức cho vay để đảm bảo công bằng

Cũng nằm trong các vấn đề kiến nghị của BWG, là điều 128 của dự thảo, quy định tổng mức tín dụng cấp cho một khách hàng không vượt quá 15% tổng vốn chủ sở hữu của một ngân hàng được thành lập tại Việt Nam, hoặc một chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cho vay.

Theo ông Tobin, tất cả các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hiện nay đều duy trì mức hạn mức cho vay đối với một khách hàng là 15% vốn chủ sở hữu của ngân hàng mẹ. Và vì thế, nếu điều 128 được áp dụng, các chi nhánh ngân hàng này sẽ phải tìm nguồn tài trợ từ ngân hàng mẹ cho các khoản vay vượt quá hạn mức 15%.

“Điều này sẽ ảnh hưởng đến tổng vay nợ nước ngoài của Việt Nam, cản trở chi nhánh nước ngoài của các ngân hàng nhỏ trong việc kinh doanh tại Việt Nam, và sẽ là trở ngại lớn đối với các thành viên mới gia nhập thị trường hoặc các hoạt động tiếp tục đầu tư”, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam phân tích.

Ông Tobin cũng lưu ý thêm, nếu theo Nghị định 22, các khoản vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải dựa trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng mẹ. “Chúng tôi đề xuất sửa đổi điều 128 phù hợp với các quy định hiện hành”, ông nói.

Phản hồi ý kiến trên, Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến khẳng định: “Quy định này không có hồi tố, không bắt buộc ngân hàng mẹ phải xuất đủ vốn cho các chi nhánh theo những lo ngại của BWG. Điều này cũng phù hợp với những tư vấn của tổ chức quốc tế, cũng như thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn”.

Đồng tình đây là một điểm mới, nhưng ông Tiến cho rằng quy định này là cần thiết, vì phù hợp với chính sách đối xử với chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong hội nhập WTO của Việt Nam, đồng thời đảm bảo sự công bằng với các ngân hàng trong nước.

Advertisements

May 14, 2010

Game thủ VN sẽ không được chơi sau 22h

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:35 am
Tags:

Một quy định mới trong dự thảo Quy chế quản lý trò chơi trực tuyến chỉ cho phép doanh nghiệp cung cấp dịch vụ từ 8h sáng đến 22h hàng ngày.

Thứ trưởng Bộ thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn, Trưởng Ban soạn thảo quy chế quản lý trò chơi trực tuyến. Ảnh: H.H.

Sáng 13/5, tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức hội thảo lấy ý kiến về dự thảo Quy chế quản lý trò chơi trực tuyến. Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn, Trưởng ban soạn thảo cho biết hiện có rất nhiều học sinh, sinh viên, thanh niên đôi khi quá say mê, bỏ cả ăn cả học nên quy định buộc doanh nghiệp tắt server sau 22h, nhằm giúp họ điều và chỉnh lại hành vi.

Có mặt trong buổi hội thảo và đứng trên quan điểm của một game thủ, anh Bùi Xuân Long, nói: “Tôi đi làm đến 17h rồi về nhà, sinh hoạt cá nhân, chơi với con cho đến lúc cháu ngủ khoảng 22h. Nếu lúc này, cơ quan quản lý bắt tắt server, chúng tôi sẽ mất quyền lợi giải trí cùng game online”.

Đồng quan điểm với anh Long, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giải trí trực tuyến như VNG, VTC Intecom, Asiasoft đều cho rằng tắt server từ 22h đêm đến 8h sáng sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu giải trí của những người trưởng thành, khách hàng trả rất nhiều tiền cho doanh nghiệp, khiến hoạt động duy trì trò chơi gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, đại diện của Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Hà Nội, TP HCM, thành phố Hải Phòng và tỉnh Nghệ An đều bác bỏ những lập luận này. Họ yêu cầu phải có những điều luật kiểm soát game online chặt chẽ hơn nữa.

“Nếu như chúng ta không có cái nhìn xa hơn, mà chỉ toàn nhìn thấy vấn đề xấu, thì chắc chắn hiện nay VN không thể có số lượng người sử dụng Internet 23 triệu, chiếm tỷ lệ 26% dân số. Tuy nhiên, phát triển đi đôi với quản lý, chứ không thể để rơi vào tình trạng mất kiểm soát”, Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn phân tích. “Việc quy định giờ chơi nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế tối đa mặt tiêu cực”

Thứ trưởng còn cho biết sắp tới, để quản lý tốt hơn, Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Công an sẽ trình chính phủ việc làm chứng minh thư điện tử cho nhân dân. Từ đó, sẽ kiểm soát mọi hành vi cũng như độ tuổi game thủ khi vào quán Internet. Thời gian lấy ý kiến xây dựng dự thảo từ 21/4 đến 22/6, sau đó sẽ trình Thủ tướng xem xét và ký duyệt.

Một số điểm mới của dự thảo Quy chế quản lý trò chơi trực tuyến

Theo điều 13 của dự thảo, trò chơi trực tuyến sẽ được phân loại theo 2 yếu tố: loại hình game (đơn giản hay bình thường) và đối tượng người chơi (dành cho game thủ từ 18 tuổi trở lên hoặc không hạn chế tuổi).

Khoản 3 của điều này cũng quy định rõ game online được xếp loại ưu tiên là trò chơi không hạn chế về độ tuổi người tham gia, có nội dung kịch bản thể hiện rõ ràng mục đích giáo dục, quảng bá truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc, giới thiệu đất nước, con người Việt Nam. Những sản phẩm còn lại là trò chơi trực tuyến không ưu tiên.

Về quy định giờ chơi cũng có sự thay đổi khi game online đơn giản và không hạn chế đối tượng thì được cung cấp dịch vụ liên tục 24 giờ/ngày. Đối với các trò chơi trực tuyến còn lại, doanh nghiệp chỉ được cung cấp dịch vụ từ 8h sáng đến 22h đêm. Trong khi đó, khoản 2 của điều 14 cũng quy định đại lý Internet chỉ cho người chơi game online từ 8h sáng đến không quá 22h đêm, và không cho phép game thủ là học sinh phổ thông lớp 1 đến lớp 12 chơi trong khoảng 8h đến 17h .

Trò chơi thuộc dạng ưu tiên thì có mức giới hạn giờ chơi 5 giờ mỗi ngày, các game còn lại là 3 giờ mỗi ngày.

April 28, 2010

Ngân hàng Nhà nước đang phạm luật?

Nếu cho rằng, với sự ra đời của Thông tư số 12 của Ngân hàng Nhà nước, pháp luật đã dỡ bỏ chế độ trần lãi suất và thiết lập hoàn toàn cơ chế lãi suất thoả thuận đối với các tổ chức tín dụng là không đúng.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư số 12/2010/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 14/4/2010 để hướng dẫn các tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay theo lãi suất thoả thuận. Theo đó, các TCTD thực hiện cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với “nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả“.

Những hệ lụy pháp lý

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết 23 ngày 06/11/2008 của Quốc hội thì những khoản cho vay ngoài cho vay sản xuất kinh doanh có hiệu quả và việc huy động vốn của TCTD vẫn phải tuân thủ chế độ trần lãi suất qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005.

Do vậy, việc NHNN chấm dứt hiệu lực thi hành của Quyết định số 16 và 33 năm 2008 của NHNN về cơ chế trần lãi suất không có nghĩa là qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 về trần lãi suất không còn hiệu lực thi hành đối với các TCTD.

Mặt khác, Thông tư số 12 qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh “có hiệu quả“. Nói cách khác, đối với các dự án, phương án không “có hiệu quả” hoặc không tính được hiệu quả thì vẫn phải thực hiện chế độ trần lãi suất cho vay.

Tuy nhiên, Thông tư số 12 chưa giải thích, hay nói cách khác, không hướng dẫn  tiêu chí cho việc đánh giá một dự án, phương án sản xuất-kinh doanh là có hay không có hiệu quả. Bởi vậy, dễ sinh ra tranh chấp hợp đồng tín dụng, dễ làm cho các TCTD phạm luật. Chẳng hạn, một dự án đầu tư  mang lại một tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 11,5 %/năm, lúc khác đã có thể được xem là “có hiệu quả“, nhưng lúc này thì chưa hẳn vì nếu không đầu tư mà đem tiền gửi vào ngân hàng cũng được một số lãi tương đương. Nên, nếu trừ chi phí cơ hội thì dự án  thành không có hiệu quả. Hoặc như khoản vay của các doanh nghiệp hiện tại đang làm ăn không có lợi nhuận, thua lỗ, …

Điều hết sức đáng lo ngại là Thông tư số 12 không tuân thủ Nghị quyết số 23 của Quốc hội khi Thông tư này qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với cả các nhu cầu vốn phục vụ đời sống. Các Nghị quyết của Chính phủ có liên quan  như Nghị quyết số 30 ngày 11/12/2008, Nghị quyết số 12 phiên họp Chính phủ thường ký tháng 2 năm 2009, Nghị quyết số 18 ngày 6/4/2010 đều chỉ đạo NHNN hướng dẫn các TCTD thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với “dự án sản suất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“, mà không có nghị quyết nào qui định NHNN cho phép các TCTD cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với nhu cầu vốn phục vụ đời sống.

Và gần đây khi chủ trì buổi làm việc tại NHNN ngày 20/4/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “NHNN chú ý chỉ đạo, hướng dẫn các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“.

Giải pháp hợp thức để tranh chấp không phát sinh

Nhưng, điều nguy hiểm là TCTD phải đối mặt với rủi ro về hợp đồng tín dụng vô hiệu do vi phạm pháp luật về lãi suất cho vay một khi khách hàng khởi kiện. Và, khách  hàng có  thể  kiện  bất cứ lúc nào vì Bộ luật dân sự năm 2005 không hạn chế về thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vi phạm pháp luật.

Điều này làm tăng khả năng mất an toàn hoạt động cho hệ thống các TCTD. Bởi vì, theo Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật (khoản 2 Điều 83) thì hướng dẫn  hay qui định của NHNN mà trái Nghị quyết của Quốc hội sẽ không có giá trị áp dụng.

Nếu cho rằng, thời điểm hiện nay là phù hợp để thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, chỉ có một cách duy nhất cho NHNN thực hiện được điều này mà không vi phạm pháp luật là NHNN ấn định lãi suất cơ bản ở mức đủ lớn để khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 không phát sinh tác dụng đối với các TCTD.

Chẳng hạn, NHNN chỉ cần ấn định lãi suất cơ bản mức 9%/năm trở lên và thực hiện các biện pháp hạ lãi suất mà NHNN lựa chọn thì sẽ không có trần lãi suất  trên thực tế đối với các TCTD.

Luật NHNN không qui định một sự ràng buộc nào về lượng giữa lãi suất cho vay của các TCTD với lãi suất cơ bản, và vì điều mà các TCTD thực sự quan tâm đó là lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu cũng như các điều kiện và mức độ NHNN thoả mãn nhu cầu của các TCTD về tín dụng từ NHNN.

Muốn cho trần lãi suất trở thành trần hình thức hay muốn dỡ bỏ chế độ trần lãi suất đối với các TCTD mà lãi suất cho vay của các TCTD không vượt mức mong muốn của NHNN thì vấn đề cốt lõi là NHNN phải thực hiện được cân bằng quan hệ cung cầu tín dụng ngân hàng tại mức lãi suất mong muốn của NHNN.

Để cân bằng cung cầu tín dụng ngân hàng, có nhiều cách. Trong đó có những cách mà NHNN đã công bố như tăng mức độ đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho các TCTD, … nhưng một trong các cách mà NHNN cần hết sức quan tâm là kiểm soát tốt, có hiệu qủa đối với chất lượng tín dụng của các TCTD.

Khi những ràng buộc pháp lý còn hiệu lực thì NHNN cũng như các TCTD cần định lượng những tiêu chí trong quá trình thực hiện Thông tư số 12 của NHNN  để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

April 22, 2010

Sẽ tịch thu lợi nhuận từ gian lận chứng khoán

“Đang xây dựng cơ sở pháp lý để tiến tới tịch thu các khoản lợi bất chính có được do gian lận trong giao dịch chứng khoán”, ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết.

Ông nói:

– Không những gia tăng về số lượng, các hành vi gian lận trong giao dịch chứng khoán cũng tinh vi và phức tạp hơn, trong đó có những hành vi vi phạm mà pháp luật hiện nay chưa bao quát hết được.

Vấn đề tài khoản ủy quyền là một ví dụ. Hiện đang tồn tại phổ biến các tài khoản của người này nhưng lại ủy quyền cho người kia giao dịch. Một nhà đầu tư nhờ nhiều người khác mở tài khoản sau đó ủy quyền lại cho họ giao dịch. Lợi dụng các tài khoản ủy quyền, các đối tượng này đã thực hiện hành vi thao túng giá. Nhiều trường hợp chồng bán, vợ mua hay ngược lại. Nhà đầu tư có thể sử dụng tài khoản ủy quyền mua ở tài khoản này, bán ở tài khoản kia để tung hứng giá một cổ phiếu nào đó.

Đã có ý kiến cho rằng nên cấm cho ủy quyền để hạn chế gian lận. Nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng không thể cấm vì có nhiều trường hợp nhà đầu tư vì nhiều lý do không thể giao dịch, phải ủy quyền cho người khác…

* Các vi phạm không chỉ tinh vi mà ngày càng táo tợn hơn như việc chào mua công khai nhưng sau đó lại bán cổ phiếu, phải chăng do luật pháp còn nhiều kẽ hở để bị lợi dụng?

– Câu chuyện này cũng đặt ra nhiều vấn đề cho cơ quan quản lý. Trước đây, khi xây dựng quy chế chào mua công khai, chúng tôi cũng muốn đưa vào một số điều kiện ràng buộc để hạn chế hiện tượng lợi dụng thông tin này để làm giá cổ phiếu. Chẳng hạn, khi chào mua công khai, nhà đầu tư bắt buộc phải có tiền trong tài khoản. Tuy nhiên, khi đưa ra lấy ý kiến thì nhiều chuyên gia cho rằng không nên quá gắt gao. Hơn nữa, nhà đầu tư cũng dễ dàng đáp ứng điều kiện này, và họ vẫn có thể thực hiện hành vi tung tin làm giá nếu đã có mưu đồ trục lợi.

Sau một số vụ vi phạm bị phát hiện, chúng tôi đã yêu cầu các sở giao dịch chứng khoán phải tập trung theo dõi chặt chẽ hơn các vụ chào mua công khai. Khi một cá nhân hay tổ chức công bố chào mua công khai một cổ phiếu nào đó, các cơ quan chức năng sẽ theo dõi các động thái xoay quanh cổ phiếu này trước, trong và sau thời điểm thực hiện mua công khai này. Ngoài ra, cũng sẽ công bố cụ thể rằng yêu cầu chào mua công khai này chưa được chấp thuận.

Cũng có ý kiến cho rằng không nên công bố thông tin hoạt động chào mua công khai khi chưa được chấp thuận. Tuy nhiên quan điểm của chúng tôi là phải công khai minh bạch mọi thông tin, hạn chế tình trạng một vài cá nhân hay tổ chức liên quan nắm được thông tin này để thực hiện các hành vi giao dịch nội gián.

* Biện pháp chế tài chưa đủ sức răn đe, với mức xử phạt quá thấp, có phải là lý do, thưa ông?

– Mức xử phạt hành chính hiện nay quá thấp, tối đa chỉ 70 triệu đồng. Tới đây có nâng lên thì cũng chỉ 500 triệu đồng. Với một số vụ gian lận, nguồn lợi bất chính thu được rất lớn, mức xử phạt này không thấm vào đâu nên mức độ răn đe không như mong đợi.

Thế nhưng, việc xử phạt hành chính phải tuân thủ theo quy định của pháp lệnh xử phạt hành chính, khung tối đa bao nhiêu thì áp dụng bấy nhiêu. Trước đây, khi tham gia xây dựng nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, chúng tôi từng đề xuất nên đưa ra mức xử phạt cao hơn, nhưng các bộ ngành không đồng ý vì cho rằng không thể vượt khung của pháp lệnh xử phạt hành chính.

* Tại sao chúng ta không có những chế tài khác, thay vì để nhà đầu tư sẽ phải “sống chung” với các hành vi gian lận trên thị trường chứng khoán?

– Các vụ thao túng giá hay giao dịch nội gián… trên thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ được xử lý nặng tay hơn trong thời gian tới. Ngoài các biện pháp hành chính đang được áp dụng, chúng tôi cũng gấp rút xây dựng quy chế xử lý đối với các khoản thu lợi bất chính, trong đó có đưa vào biện pháp tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận từ các vụ vi phạm. Mặc dù đã tổ chức tổng kết hoàn chỉnh dự thảo, nhưng vẫn chưa thể trình Bộ Tài chính ban hành, do còn nhiều vấn đề phức tạp cần được bổ sung. Như chỉ riêng việc xác định ngày mua, ngày bán của đối tượng vi phạm cũng đã khó. Chưa kể nếu một đối tượng có hành vi làm giá nhưng chưa kịp bán cổ phiếu thì xử lý thế nào…

Không ít vụ vi phạm thời gian qua, khi được bộ phận thanh tra làm việc và công bố các dấu hiệu, phần lớn đối tượng nằm trong diện nghi vấn đều nhận sai phạm vì mức phạt không nhiều. Tới đây, khi áp dụng biện pháp tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận được xem là bất chính do các hành vi gian lận đem lại, chắc chắn các đối tượng này sẽ không dễ dàng nhận sai phạm, vì vậy cơ quan chức năng phải có đầy đủ bằng chứng.

Tại nhiều thị trường chứng khoán quốc tế, việc điều tra các vụ giao dịch nội gián có khi mất 1-2 năm. Khi điều tra, cán bộ thanh tra của họ có thể phối hợp với ngân hàng để xác định đường đi của đồng tiền. Trong khi đó, thanh tra chứng khoán chúng ta hiện nay chưa thể làm được việc này do chưa có cơ chế. Hiện chúng tôi đang cử đoàn cán bộ nghiên cứu các quy định tại một số thị trường chứng khoán phát triển về vấn đề này. Vấn đề như tài khoản ủy quyền cũng đang được nghiên cứu kinh nghiệm các nước, đặc biệt là biện pháp giám sát giao dịch của những tài khoản này…

Một số vụ gian lận chứng khoán gần đây

* Ông Trần Thái Hưng, cổ đông nắm giữ 3,38% số cổ phiếu HCT (Công ty CP Thương mại dịch vụ vận tải ximăng Hải Phòng), bán cổ phiếu sau khi chào mua công khai 450.000 cổ phiếu HCT.

* Ông Hoàng Minh Hướng (Đức Hòa, Long An) và bà Quách Thị Nga (Q.1, TP.HCM) thao túng giá cổ phiếu SQC của Công ty CP Khoáng sản Sài Gòn – Quy Nhơn.

* Bà Nguyễn Kim Phượng – cổ đông lớn của Công ty CP Vật tư và vận tải ximăng (VTV) – bán toàn bộ cổ phiếu VTV đang nắm giữ sau khi công bố chào mua công khai 1,3 triệu cổ phiếu VTV.

* Bà Đào Thị Kiều – cổ đông nội bộ Công ty CP Tập đoàn khoáng sản Hamico (KSH) – cùng bà Nguyễn Thị Nhung và ông Nguyễn Văn Giống có hành vi giao dịch nội gián cổ phiếu KSH.

April 1, 2010

Thành lập ngân hàng TMCP phải hội đủ 5 tiêu chí

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:31 am
Tags: ,

Một ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) muốn thành lập và hoạt động phải đảm bảo 5 tiêu chí: vốn điều lệ, số lượng cổ đông, tỷ lệ sở hữu số vốn điều lệ, cách thức tổ chức và các vấn đề liên quan đến hoạt động ngân hàng.

Ảnh minh họa.

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 9/2010/TT-NHNN quy định về việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng TMCP.

Theo đó, thứ nhất, ngân hàng phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật tại thời điểm thành lập; vốn điều lệ được góp bằng đồng Việt Nam; nguồn vốn góp thành lập ngân hàng phải tuân thủ những điều kiện cụ thể.

Thứ hai, phải có tối thiểu 100 cổ đông tham gia góp vốn thành lập ngân hàng, trong đó có tối thiểu 3 cổ đông sáng lập là tổ chức có tư cách pháp nhân. Các cổ đông phải có khả năng về tài chính để góp vốn thành lập ngân hàng.

Lưu ý là cá nhân hoặc tổ chức và người có liên quan của cá nhân hoặc tổ chức đó chỉ được tham gia góp vốn thành lập 1 ngân hàng, không được tham gia góp vốn thành lập ngân hàng nếu cá nhân hoặc cá nhân đó cùng với người có liên quan đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu của một ngân hàng, tổ chức hoặc tổ chức đó cùng với người có liên quan đang sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của một ngân hàng; cổ đông là tổ chức phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định (thời gian hoạt động tối thiểu là 3 năm và kinh doanh có lãi trong 3 năm liền kề năm đề nghị thành lập ngân hàng).

Đối với cổ đông là doanh nghiệp nhà nước phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản cho phép tham gia góp vốn thành lập ngân hàng.

Thứ ba, các cổ đông sáng lập (là cá nhân, tổ chức) phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% vốn điều lệ khi thành lập ngân hàng, đồng thời các cổ đông sáng lập là tổ chức phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% tổng số cổ phần của các cổ đông sáng lập.

Thứ tư, ngân hàng phải có điều lệ tổ chức và hoạt động phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.

Thứ năm, ngân hàng phải đảm bảo các điều kiện hoạt động như có đề án thành lập, có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có nhân sự chủ chốt, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại…

March 14, 2010

Lúng túng chuyện giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:08 pm
Tags: , , ,

Dai dẳng mấy tháng nay, giới đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nhiều lần lên tiếng bày tỏ sự lo ngại trước khả năng Nhà nước tăng cường kiểm soát giá một số mặt hàng trong khi giới kinh doanh trong nước hầu như chưa thấy lên tiếng về vấn đề này. Vì sao thế?

Nguồn gốc chuyện kiểm soát giá

Căn nguyên của chuyện kiểm soát giá là bản dự thảo một thông tư do Bộ Tài chính soạn thảo nhằm thay thế Thông tư 104 được ban hành từ cuối năm 2008.

Trong khi Thông tư 104 quy định khá chi tiết các điều kiện áp dụng các biện pháp bình ổn giá đối với một số mặt hàng (ví dụ đối với sữa: “Trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động”) thì dự thảo chỉ ghi những điều kiện chung chung như “mức giá tăng cao hơn so với mức giá đã đăng ký, đã kê khai trước đó với cơ quan có thẩm quyền”…

Với các loại hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký giá, Thông tư 104 chỉ giới hạn vào các doanh nghiệp có trên 50% vốn sở hữu nhà nước trong khi dự thảo mở rộng ra tất cả doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục phải đăng ký giá, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Giới đầu tư quan ngại chuyện tăng giá.

Việc đưa ra một dự thảo mới thay thế cho Thông tư 104 là do thông tư này đã không làm được nhiệm vụ bình ổn giá như mục tiêu đề ra. Ví dụ trong năm 2009 dư luận xã hội nóng lên chuyện giá sữa tăng liên tục, nhiều người bất bình vì có loại sữa giá ở thị trường Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các thị trường khác trong khu vực.

Thế nhưng Thông tư 104 đã không cung cấp cho các cơ quan nhà nước cũng như chính quyền địa phương một công cụ để bình ổn giá vì đã quy định chỉ áp dụng các biện pháp bình ổn giá khi giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục. Trở ngại tương tự cũng xảy ra với các mặt hàng khác như gạo, thuốc chữa bệnh, đường… Nếu giá các mặt hàng này tăng dưới mức quy định trong thông tư thì các cấp quản lý cũng đành chịu.

Lập luận của giới đầu tư nước ngoài

Nay khi dự thảo đưa vào diện đăng ký giá, kê khai giá cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngay lập tức giới đầu tư nước ngoài phản ứng. Lần lượt các hiệp hội doanh nhân nước ngoài như EuroCham, AmCham đã gửi thư cho Bộ Tài chính, Chính phủ, trả lời báo chí nước ngoài và tổ chức hội thảo để phản đối các quy định kiểm soát giá.

Họ không hiểu vì sao Việt Nam lại muốn quay lại cơ chế kiểm soát giá chứ không theo quy luật thị trường và để thị trường quyết định giá hàng hóa. Họ cho rằng các quy định trong dự thảo sẽ gây ra những gánh nặng quản lý cho các doanh nghiệp khi phải thực hiện việc đăng ký giá cho hàng ngàn chủng loại hàng, rằng các thông tin về phương án giá (như giá vốn, giá nhập khẩu, chi phí bán hàng, lợi nhuận dự kiến…) là bí mật kinh doanh nay lại phải kê khai, đăng ký.

Các nhà đầu tư cũng cho rằng với khả năng có chuyện kiểm soát giá như thế, các dự án FDI vào các lĩnh vực sản xuất hàng hóa trong danh mục như sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất dầu thực vật, phân bón, và sữa sẽ lưỡng lự trước khi quyết định đầu tư vì không nhà đầu tư nào muốn sản phẩm của mình phải chịu áp đặt giá. Họ cũng đặt vấn đề liệu kiểm soát giá như thế có trái với các cam kết WTO hay không bởi các văn bản gia nhập có cam kết: “kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng các biện pháp quản lý giá phù hợp với quy định của WTO”.

Vấn đề tâm lý

Sự bất lực của cơ quan quản lý giá đối với một số mặt hàng như sữa, đường hay tân dược trong năm 2009 là yếu tố thuận lợi cho việc ra đời dự thảo thay thế cho Thông tư 104.

Việc loại bỏ các điều kiện cụ thể trước khi có thể áp dụng các biện pháp bình ổn giá được kỳ vọng sẽ giúp cơ quan quản lý kiểm soát được giá sữa, giá thuốc chữa bệnh bất kể giá có tăng dưới 20% (sữa) hay dưới 15% (thuốc chữa bệnh). Buộc đăng ký giá đối với tất cả các khâu từ sản xuất, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ cho đến đại lý cũng được kỳ vọng sẽ lấp khe hở của Thông tư 104 khi trong thực tế năm 2009, các doanh nghiệp kinh doanh sữa hay thuốc chữa bệnh ở Việt Nam là nhà phân phối cho các hãng nước ngoài, không thuộc diện đăng ký giá.

Chính vì thế mà đã từng có những kiến nghị Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư 104 theo hướng “tất cả doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ nhà nước bình ổn giá phải thực hiện đăng ký giá theo quy định pháp luật”.

Bối cảnh những tháng đầu năm 2010 cũng thuận lợi cho dự thảo khi nhiều mặt hàng liên tục tăng giá, trong đó có nhiều mặt hàng là đầu vào cho dây chuyền sản xuất của nhiều doanh nghiệp khác. Bởi vậy, doanh nghiệp trong nước giữ im lặng trước dự thảo là điều dễ hiểu. Mặt khác, cũng có phỏng đoán, giới doanh nghiệp trong nước hiểu rõ tính khả thi thấp của các biện pháp kiểm soát giá nên giữ thái độ im lặng vì cho rằng mọi việc rồi sẽ “đâu vào đó”. Chuyện giá xăng tăng liên tục bất kể nhiều quy định chặt chẽ là một minh họa điển hình.

Nhưng quan trọng hơn là tính khả thi

Việc kiểm soát giá chưa bao giờ là một vấn đề mang tính khả thi cao. Giả dụ theo tinh thần của dự thảo, để áp dụng biện pháp bình ổn giá, Bộ Tài chính có thể quy định giá tối đa và giá tối thiểu cho một sản phẩm, nhà cung cấp sẽ giữ lại không đưa mặt hàng này vào thị trường nữa và ngay lập tức thị trường sẽ hình thành những loại “chợ đen” buôn bán “chui” các sản phẩm này với giá thật sự theo cung cầu thị trường.

Biện pháp kiểm soát hàng tồn kho của doanh nghiệp là sự can thiệp quá mức vào việc kinh doanh, sẽ vấp phải sự chống đối cao hơn nữa. Kiểm soát giá sẽ dẫn đến sự khan hiếm giả tạo như thời kỳ bao cấp, phải mua hàng hóa bằng tem phiếu và sau cùng giá cả sẽ trở nên đắt đỏ, lạm phát cao sẽ quay trở lại – những hệ quả hoàn toàn trái ngược mục tiêu của dự thảo mong muốn đạt được.

Dự thảo có nhiều đoạn mang tính mơ hồ không định lượng được như “biến động một cách bất thường”, “giá tăng quá cao hoặc quá thấp không hợp lý”, “những yếu tố hình thành giá không hợp lý”. Làm sao để doanh nghiệp biết được thế nào là bất thường, thế nào là không hợp lý thì không thấy dự thảo hướng dẫn hay giải thích. Thử hỏi với quy định như thế này “giá do các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định giá không đúng các yếu tố hình thành giá theo quy định của pháp luật” làm sao doanh nghiệp hiểu để tuân thủ?

Bộ máy hành chính phục vụ công việc kiểm soát giá cũng không thể nào kham nổi khối lượng công việc khổng lồ, tiếp nhận đăng ký giá, theo dõi biến động giá, hiệp thương giá… vì giá chịu rất nhiều yếu tố đầu vào khác nhau tác động như tỷ giá, giá thế giới, giá xăng dầu, giá điện, lương, chi phí sản xuất…

Không thể nào tưởng tượng nổi chuyện doanh nghiệp sản xuất một mặt hàng trong diện đăng ký giá, mỗi khi thay đổi giá thì phải thực hiện đúng quy trình thực hiện phương án điều chỉnh giá phức tạp mới được tăng hay giảm giá bán. Có những quy định mới nhìn vào đã thấy không thể nào thực hiện được, không hiểu sao dự thảo vẫn đưa vào.

Ví dụ, Sở Tài chính sẽ là nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký giá của các thành phần kinh tế khác (ngoài doanh nghiệp do Nhà nước nắm 51% vốn điều lệ trở lên – đăng ký ở Bộ Tài chính) nhưng làm sao một sở ở một địa phương có đủ nguồn lực để biết doanh nghiệp đăng ký giá như thế nhưng có thực hiện đúng giá đã đăng ký không ở trên các thị trường khắp cả nước. Làm sao doanh nghiệp, mặc dù đã đăng ký giá, có thể kiểm soát được việc bán đúng giá đã đăng ký tại hàng chục ngàn hay thậm chí hàng trăm ngàn điểm bán lẻ trên khắp cả nước.

Biện pháp thay thế

Cứ vài ba năm, lại rộ lên một chuyện nào đó với cộng đồng đầu tư nước ngoài. Cách đây mấy năm là chuyện hiểu nhầm phải ghi tên công ty bằng tiếng Việt, rồi trước đó nữa là vấn nạn hai giá. Nay vấn đề kiểm soát giá thật sự là một chuyện không hay ho gì cho việc quảng bá môi trường kinh doanh của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam vẫn còn bị xem là nền kinh tế phi thị trường, những nỗ lực để các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường chắc chắn bị ảnh hưởng xấu bởi chuyện kiểm soát giá mà tính khả thi, như phân tích ở trên là rất ít.

Thông tư 104 với đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối mà cũng không triển khai được trong thực tế thì dự thảo thay thế với đối tượng mở rộng ra nhiều lần sẽ càng khó thực thi hơn. Tại sao không sử dụng các luật đã có như Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng và quan trọng nhất là quy luật thị trường để kiểm soát giá.

Riêng với các mặt hàng “nhạy cảm” với công luận như sữa, thuốc chữa bệnh thì nên có những nghiên cứu riêng để áp dụng. Điều quan trọng đối với vai trò của các cơ quan nhà nước trong quản lý giá là tính minh bạch, là thông tin rõ ràng trong các khâu phân phối để người tiêu dùng tự mình quyết định. Chính họ là nguồn áp lực lớn nhất buộc nhà sản xuất phải điều chỉnh giá cho phù hợp với cung cầu thị trường. Vai trò đó cũng là tạo một môi trường kinh doanh có cạnh tranh lành mạnh chứ không phải là dùng các biện pháp hành chính, càng làm méo mó thị trường, càng tạo điều kiện cho đầu cơ giá.

March 13, 2010

Hàng không nước ngoài lách luật để khai thác nội địa?

Đây là điều lo ngại của Vietnam Airlines (VNA) trước sự kiện Hãng Hàng không giá rẻ AirAsia (AA), Malaysia mua được 30% cổ phần của Hãng Hàng không tư nhân Viet Jet (VJ).

VNA đã kiến nghị Chính phủ không thông qua việc đầu tư hợp tác này vì cho rằng động thái mua cổ phần của VJ là cách lách luật để khai thác thị trường hàng không nội địa VN của hãng hàng không nước ngoài AA.

VNA giữ “miếng bánh” nội điạ

Trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ mới đây, VNA cho rằng do không có khả năng thâm nhập thị trường nội địa của các nước khác, các hãng hàng không (HK) nước ngoài luôn tìm cách lách luật thông qua con đường đầu tư vào các hãng HK nội địa của nước đó để thâm nhập khai thác thị trường nội địa.

Chính vì vậy, các nước đều dùng chính sách để điều tiết lĩnh vực này nhằm bảo vệ thị trường HK nội địa. Luật Hàng không Dân dụng VN tuy cũng có quy định tỉ lệ sở hữu nước ngoài đối với vốn điều lệ của các hãng HK (cụ thể phần vốn nước ngoài đầu tư vào hãng HKVN tối đa 49% cổ phần và một nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể mua tối đa 30% cổ phần), song “khe hở” ở đây là luật chưa phân biệt rõ nhà đầu tư nước ngoài thông thường và nhà đầu tư nước ngoài là các hãng HK.

Chính vì vậy, các hãng HK chi phí thấp như Jetstar và nay là AA đã tận dụng “khe hở” lách luật, tranh thủ mua rẻ thương quyền nội địa của VN thành lập liên minh các hãng HK giá rẻ ồ ạt khai thác thị trường quốc tế đến VN và thị trường HK nội địa. Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tồn tại và phát triển của các hãng HK trong nước. Theo VNA, với 30% cổ phần tại VJ, AA hoàn toàn có khả năng tham gia HĐQT của VJ để điều hành hãng theo mục tiêu của mình.

Mặt khác, VNA cho rằng thị trường nội địa trị giá hàng tỉ USD vì thế cần xác định phương án tính toán, định giá cụ thể thương quyền kinh doanh HK nội địa của VN, làm công cụ đàm phán với đối tác nước ngoài trong việc liên doanh và bán cổ phần để tránh thua thiệt. VNA kiến nghị sửa đổi Nghị định 76/2007/ NĐ – CP, bổ sung quy định về tỉ lệ vốn góp của các hãng HK nước ngoài trong DN kinh doanh vận chuyển hàng không tại VN. Cuối cùng, VNA cũng kiến nghị không thông qua việc đầu tư hợp tác của AirAsia vào VJ.

Có quá lo xa(?!)

Theo các chuyên gia, việc VNA kiến nghị có phần quá lo xa. Bởi hiện đây là hãng chiếm tới hơn 80% thị phần nội địa. Hãng cũng là một trong những đơn vị duy nhất kinh doanh tổng hợp về lĩnh vực HK nên đang gần như là độc quyền tại lĩnh vực này. Thêm nữa, thị trường hàng không nội địa VN hiện không phải là miếng bánh béo bở.

Sự thua lỗ của Pacific Airlines trước đây và Jetstar Pacific Airlines (JPA) hiện nay dù cũng có nhà đầu tư nước ngoài chiếm giữ 30% cổ phần. Hay như Indochina Airlines vừa nhập cuộc được hơn một năm đã phải dừng bay vì nợ nần không thanh toán được, cho thấy “miếng bánh” HK nội địa hoàn toàn không dễ xơi.

Vì thế, việc VJ nhập cuộc thị trường với tỉ lệ nắm giữ 30% vốn của hãng HK nước ngoài có thật sự là một nguy cơ lớn đến thế với VNA nói riêng và các hãng hàng không nội địa nói chung như VNA cảnh báo(?!).

Thêm nữa, VNA chủ trương duy trì mô hình hãng HK dịch vụ đầy đủ chiếm giữ phân khúc thị trường hạng trung bình khá trở lên. Trong khi đó, các hãng HK giá rẻ như JPA và tới đây có thể là VJ với 30% của AA thì nhằm vào phân khúc thị trường hạng bình dân. Việc đa dạng hoá dịch vụ cung cấp cho thị trường HK nội địa cũng là một cách mở rộng thị trường HK còn rất khiêm tốn với mức hơn 1% dân số đi máy bay như hiện nay.

Mặt khác, xu hướng mở cửa bầu trời để thu hút nguồn lực xã hội, phát triển thị trường HK nội địa VN trong thế cạnh tranh để người dân được hưởng lợi, khai thác có hiệu quả hệ thống hạ tầng hàng không VN được đầu tư nhiều tỉ USD, đang là chủ trương của Nhà nước VN. Vì thế, nếu một VJ với nguồn vốn xã hội hoá hoàn toàn, nhập cuộc thị trường HK nội địa, còn có thể là một nhân tố mới thúc đẩy cạnh tranh giúp phát triển thị trường.

Tuy nhiên với lo ngại “khả năng xuất hiện xu hướng thành lập hãng hàng không rồi bán cổ phần cho đối tác nước ngoài để thu lợi” của VNA, thì nhà chức trách hàng không cần đặc biệt quan tâm phát hiện và thổi còi đúng lúc, nếu hiện tượng này có thật. Về điểm này, một đại diện VJ khẳng định: Theo Luật HK hiện nay, việc AA mua 30% cổ phần của VJ là hoàn toàn hợp pháp.

AirAsia chỉ là một cổ đông chiếm giữ 30% cổ phần. Mọi quyết định chiến lược của VJ đều do HĐQT quyết định theo nguyên tắc đa số. Hãng này dự định sẽ khởi bay vào khoảng tháng 6.2010 và khai thác đồng thời các tuyến nội địa cũng như nước ngoài.

Bích Liên

March 12, 2010

Tôi không tin vào nhà giá rẻ!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:02 pm
Tags: , , ,

10/03/2010 10:41:36

Làm thế nào để có được một căn nhà ở cho người có thu nhập thấp? Đủ điều kiện nhưng phải chờ đến khi nào? Những căn nhà này chất lượng thế nào? Số báo này, KH&ĐS sẽ chuyển tải tới bạn đọc những ý kiến đóng góp của chuyên gia trong cuộc cũng như ngoài cuộc về dự án nhà ở xã hội nhằm làm cho càng ngày càng có nhiều người được hưởng lợi từ dự án này.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam: Nhà xã hội phải đến đúng đối tượng

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam

Bộ Xây dựng đã có hẳn thông tư 36 hướng dẫn đối tượng và điều kiện mua nhà ở xã hội.

Tất cả các đối tượng đăng ký phải có xác nhận của địa phương, có sự chấm điểm. Do đợt đầu có 800 căn hộ mang ra bán nên sức ép là không thể tránh khỏi.

Có một số người kêu ca về chuyện khó mua được nhà xã hội dù đã hội tụ đủ điều kiện.

Cần phải nhớ rằng 90/100 điểm trong thang điểm Bộ Xây dựng quy định thì các đối tượng đã hội tụ đủ nhưng nhiều đối tượng chỉ mắc 10/100 điểm là do chính quyền địa phương quy định, việc này thì chúng tôi không can thiệp được mà địa phương phải tự điều chỉnh.

Về giá của nhà ở xã hội, hiện có một bất hợp lý mà nhiều doanh nghiệp kêu ca. Giá nhà là do chi phí của doanh nghiệp cấu thành nên.

Nhiều doanh nghiệp do áp dụng khoa học kỹ thuật nên giảm được giá xây dựng, điều đó đồng nghĩa với giá nhà hạ.

Dự kiến trong năm 2010 những ngôi nhà ở thu nhập thấp đầu tiên sẽ được đưa vào sử dụng như nhà ở xã hội tại khu đô thị mới Việt Hưng, dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp tại Vĩnh Yên, 16 dự án nhà ở xã hội trên địa bàn TP.HCM… tất cả những dự án này đều đang được người dân mong đợi.

Tuy nhiên, trong chính sách, do việc quy định lợi nhuận từ giá nhà tỷ lệ thuận với giá bán nên nhiều doanh nghiệp không muốn hạ giá nhà. Bất hợp lý này đang được chúng tôi điều chỉnh lại.

Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề nhà ở, theo tôi, người dân cũng cần phải thay đổi quan điểm từ sở hữu sang thuê, mượn.

Chưa có nước nào nghèo như chúng ta mà 94% người dân lại sở hữu nhà trong khi ở Nhật, Mỹ tỷ lệ này chỉ chiếm 35%

Ông Nguyễn Mạnh Hà (cục trưởng Cục Quản lý Nhà và Thị trường Bất động sản): Đã có tín hiệu vui về nhà ở xã hội

Theo báo cáo của các địa phương, đến thời điểm này các dự án nhà ở xã hội đã khởi công đều triển khai đảm bảo tiến độ, nhiều dự án đã hoàn thành xây dựng phần móng, đặc biệt một số dự án triển khai sớm đã xây dựng lên tầng 4 – 5 công trình.

Ông Nguyễn Mạnh Hà
Ông Nguyễn Mạnh Hà

Tuy nhiên, việc thực hiện giải ngân đến nay mới đạt khoảng 50% số vốn được bố trí. Băn khoăn nhất của người dân hiện nay là giá bán những căn nhà này.

Tôi xin nói rõ là giá bán, giá cho thuê, thuê mua nhà ở thu nhập thấp được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 15/2009/TT-BXD ngày 30/6/2009…

Nguyên tắc xác định giá này nhằm đưa ra mức giá trần để đảm bảo phù hợp với điều kiện thu nhập của các đối tượng có thu nhập thấp.

Hiện nay, trình tự và thủ tục triển khai dự án ở các địa phương còn chậm, thậm chí còn gây khó khăn cho các nhà đầu tư tham gia dự án, do đó tiến độ triển khai dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp chưa được như mong muốn.

Chị Hoàng Thu Hằng (tập thể Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội): Tôi không tin vào nhà giá rẻ!

Chị Hoàng Thu Hằng.
Chị Hoàng Thu Hằng.

Cách đây 3 năm, khi tôi có nhu cầu mua nhà riêng, đọc báo tôi thấy nhà ở xã hội có khoảng 200 – 300 triệu đồng/nhà, không thể tin được.

Hơn nữa, nhà ở giá rẻ kiểu này toàn ở nơi xa, kiểu như ở Hà Tây (cũ) nên không tiện cho công việc.

Kể cả muốn mua nhà giá rẻ nhưng không quen biết, khó mà mua được đúng giá ban đầu…

Nói chung, kiểu gì cũng không yên tâm. Nên tôi đã mua nhà  bình thường, sau đó sửa sang lại.

Hiện tôi cảm thấy yên tâm với ngôi nhà của mình.

Điều kiện và đối tượng được mua nhà ở xã hội
Đối tượng được mua nhà ở xã hội là những người có thu nhập thấp, thu nhập này phải nhỏ hơn mức thu nhập trung bình do từng địa phương ban hành. Phải là những người chưa có nhà ở hoặc những người có khó khăn về nhà ở, diện tích ở dưới 5m2/đầu người.

Những người này có đơn xin mua nhà ở xã hội, có xác nhận của cơ quan, xác nhận của địa phương về điều kiện ở để nộp cho các công ty kinh doanh nhà. Những người thu nhập thấp đã được mua nhà thì trong vòng 10 năm không được bán, nếu hết nghèo thì bán lại cho Nhà nước.

March 4, 2010

Cạnh tranh gay gắt trong huy động vốn trung, dài hạn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:47 am
Tags: , , , ,

http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/www.baodautu.vn/Canh-tranh-gay-gat-trong-huy-dong-von-trung-dai-han/3925760.epi

Có ý kiến còn cho rằng, một khi đã mở rộng cho vay lãi suất thỏa thuận trung, dài hạn, thì sẽ khó loại trừ được khả năng các nhà băng dùng thủ thuật để đẩy kỳ hạn cho vay từ 365 ngày (1 năm – vốn ngắn hạn) lên kỳ hạn 366 ngày (trên 1 năm – được xem là vốn dài ngày) để hưởng lãi suất cho vay thỏa thuận. Vì thế, theo vị chủ tịch HĐQT trên, việc mở rộng cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận sẽ kích thích phát triển tín dụng, nhưng lại vô tình làm méo mó lãi suất. Theo quy định hiện nay, các ngân hàng chỉ được phép sử dụng 30% vốn ngắn ngạn cho vay trung và dài hạn, trong khi nguồn vốn huy động về hiện chủ yếu ngắn hạn.

Như vậy, để có nguồn cho vay, ngân hàng phải huy động vốn dài ngày bằng mọi cách. Chính vì vậy, cạnh tranh về huy động tiền gửi sẽ càng trở nên gay gắt và khó có thể tránh được việc vượt trần cho phép hiện nay là 10,5%/năm. Do đó, việc bỏ trần lãi suất là cần thiết, đồng thời tạo điều kiện tốt hơn cho huy động vốn.

Nếu nhìn vào thực tế, lãi suất cơ bản đang mất dần ý nghĩa, nhất là sau khi NHNN ban hành Thông tư 07 cho phép ngân hàng thương mại được cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với vốn trung và dài hạn. Vì vậy, việc duy trì lãi suất cơ bản được xem là không cần thiết.

January 31, 2010

Nhiều kiều bào than ‘khó’ nhập quốc tịch Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:53 pm
Tags: , ,
Cập nhật lúc : 9:54 PM, 31/01/2010

Hàng trăm câu hỏi xoay quanh việc nhập quốc tịch Việt Nam, sở hữu nhà tại Việt Nam của hơn 600 kiều bào được nêu ra trong cuộc gặp gỡ Họp mặt kiều bào mừng xuân Canh Dần do Hội Liên lạc người Việt Nam ở nước ngoài TP HCM tổ chức chiều nay tại Dinh Thống Nhất.

Theo Tiến sĩ Lương Bạch Vân, chủ tịch Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài TP HCM, 80% người nước ngoài phải nhập tịch có nguyện vọng được nhập tịch Việt Nam, mua nhà tại Việt Nam để an cư. Thế nhưng, nhiều kiều bào cho rằng hiện việc xin nhập quốc tịch Việt Nam còn nhiều khó khăn.

Kiều bào kêu khó

Ông Lương Huỳnh Ngân, kiều bào Pháp kể: “Tôi có giấy khai sinh năm 1944 tại Cần Thơ, nhưng trong giấy khai sinh của tôi không ghi quốc tịch Việt Nam. Vì thế tôi gặp rắc rối với cơ quan chức năng khi đi xin gia nhập quốc tịch. Cơ quan chức năng giải thích là vì giấy khai sinh không ghi có quốc tịch Việt Nam, nên không thể xác nhận cho tôi, trừ trường hợp tôi phải mang ra được giấy khai sinh của bố tôi”.

Kiều bào thắc mắc nhiều vấn đề về việc nhập quốc tịch Việt Nam, sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Ông Tuyền, một kiều bào Pháp, cũng phản ánh: “Một người bạn của tôi, năm nay 80 tuổi có xin được giấy xác nhận gốc Việt Nam do Tòa đại sứ cấp. Nhưng trớ trêu thay, ở cuối giấy có dòng chữ: Giấy chỉ có giá trị trong 6 tháng. Chả lẽ chúng tôi chỉ được làm công dân Việt Nam trong 6 tháng. Hiện người bạn của tôi muốn xin làm thủ tục hồi hương nhưng vẫn chưa được”.

Còn ông Vũ Văn Thành, kiều bào Đức thẳng thắn: Thực tế, Luật Việt Nam đặt ra nhiều trường hợp quá khó với kiều bào như phải là người có công, người về Việt Nam đầu tư…thì mới được nhập quốc tịch và sở hữu nhà, trong khi phần lớn kiều bào không thể đáp ứng được. Về Luật sở hữu nhà ở, theo ý kiến của đa số kiều bào, việc quy định cư trú thời gian 6 tháng trở lên được mua nhà nhưng không phân biệt rõ đối tượng, nên nhiều người có nhu cầu lại không được mua.

Nên tách bạch và điều kiện cũng giảm bớt đi để đại bộ phận bà con có nhu cầu được mua nhà để có nơi ở khi về thăm quê. Tách hai đối tượng, những người mua nhà ở số lượng không hạn chế và người mua được một nhà. Đối tượng được mua nhiều nhà là người có quốc tịch Việt Nam, người gốc Việt Nam thuộc diện đầu tư trực tiếp, người có công, làm khoa học, bổ sung thêm người có vợ có chồng đang sống ở Việt Nam và người có kỹ năng đặc biệt mà Nhà nước cần. Đối với những người cư trú chỉ từ ba tháng thôi cũng được mua một căn hộ hoặc căn nhà.

Cơ quan chức năng than vướng mắc

Tiến sĩ Nguyễn Thái Phúc, Trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp tại TP HCM cho rằng, thay đổi Luật quốc tịch năm 2008 đã đạt được nguyện vọng của đại đa số của Kiều bào. Luật lần này quy định trình tự thủ tục minh bạch, rõ ràng, công khai. Chúng tôi cũng có những vướng mắc, đang tập hợp lại, kiến nghị lên trên để sửa đổi, bổ sung. Thực tế, do cách hiểu của cán bộ công chức ở các nơi chưa thống nhất, nên nhiều nơi giải quyết các trường hợp kiều bào vướng mắc, chưa linh động.

Một kiều bào Pháp hỏi về Luật sở hữu nhà ở.

“Còn trường hợp vì sao phải có các điều kiện như phải là người có công, người về nước đầu tư,…thì ở mỗi quốc gia đều có những Luật riêng, Luật này căn cứ theo điều kiện kinh tế – xã hội của từng quốc gia cụ thể. Chứ không có trường hợp kiều bào mang tiền về nước đầu tư thì mới được nhập quốc tịch như nhiều bà con kiều bào đang thắc mắc”, ông Phúc nói.

Ông Nguyễn Văn Vũ, Trưởng phòng hộ tịch Sở Tư pháp TP HCM thông tin thêm, Luật quốc tịch có hiệu lực từ ngày 1/7/2014, nếu bà con có quốc tịch Việt Nam đăng ký giữ quốc tịch đến năm 2014 thì sẽ được giữ quốc tịch.

Doanh nghiệp kiều bào muốn đầu tư tại Việt Nam có thể liên hệ với Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư bất động sản TP HCM hoặc Sở Kế hoạch đầu tư.

Ông Từ Minh Thiện, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư bất động sản TP HCM, cho biết: “Ở thành phố năm nay có 20 chỉ tiêu thì có 18 chỉ tiêu đã đạt được. Năm 2009 số lượng doanh nghiệp tăng lên rất nhiều, doanh nghiệp đăng ký mới tăng 24.000 doanh nghiệp và một số doa nghiệp của thành phố chuyển hướng nhanh khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn.

Doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu đi đầu tư ở các nước và hợp tác đầu tư hợp tác đầu tư giữa các tỉnh thành trong nước. trong quá trình như vậy giúp doanh nghiệp tìm hiểu kế hoạch và khai thác tiềm năng của các địa phương. Qua đây thấy tiềm năng đất nước còn nhiều, nhưng cơ hội hợp tác giữa các doanh nghiệp ở các địa phương còn ít. Doanh nghiệp kiều bào nếu cần thông tin về đầu tư có thể trao đổi với chúng tôi, hoặc thông qua Sở Kế hoạch và Đầu tư”.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.