Ktetaichinh’s Blog

April 28, 2010

Ngân hàng Nhà nước đang phạm luật?

Nếu cho rằng, với sự ra đời của Thông tư số 12 của Ngân hàng Nhà nước, pháp luật đã dỡ bỏ chế độ trần lãi suất và thiết lập hoàn toàn cơ chế lãi suất thoả thuận đối với các tổ chức tín dụng là không đúng.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư số 12/2010/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 14/4/2010 để hướng dẫn các tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay theo lãi suất thoả thuận. Theo đó, các TCTD thực hiện cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với “nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả“.

Những hệ lụy pháp lý

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết 23 ngày 06/11/2008 của Quốc hội thì những khoản cho vay ngoài cho vay sản xuất kinh doanh có hiệu quả và việc huy động vốn của TCTD vẫn phải tuân thủ chế độ trần lãi suất qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005.

Do vậy, việc NHNN chấm dứt hiệu lực thi hành của Quyết định số 16 và 33 năm 2008 của NHNN về cơ chế trần lãi suất không có nghĩa là qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 về trần lãi suất không còn hiệu lực thi hành đối với các TCTD.

Mặt khác, Thông tư số 12 qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh “có hiệu quả“. Nói cách khác, đối với các dự án, phương án không “có hiệu quả” hoặc không tính được hiệu quả thì vẫn phải thực hiện chế độ trần lãi suất cho vay.

Tuy nhiên, Thông tư số 12 chưa giải thích, hay nói cách khác, không hướng dẫn  tiêu chí cho việc đánh giá một dự án, phương án sản xuất-kinh doanh là có hay không có hiệu quả. Bởi vậy, dễ sinh ra tranh chấp hợp đồng tín dụng, dễ làm cho các TCTD phạm luật. Chẳng hạn, một dự án đầu tư  mang lại một tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 11,5 %/năm, lúc khác đã có thể được xem là “có hiệu quả“, nhưng lúc này thì chưa hẳn vì nếu không đầu tư mà đem tiền gửi vào ngân hàng cũng được một số lãi tương đương. Nên, nếu trừ chi phí cơ hội thì dự án  thành không có hiệu quả. Hoặc như khoản vay của các doanh nghiệp hiện tại đang làm ăn không có lợi nhuận, thua lỗ, …

Điều hết sức đáng lo ngại là Thông tư số 12 không tuân thủ Nghị quyết số 23 của Quốc hội khi Thông tư này qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với cả các nhu cầu vốn phục vụ đời sống. Các Nghị quyết của Chính phủ có liên quan  như Nghị quyết số 30 ngày 11/12/2008, Nghị quyết số 12 phiên họp Chính phủ thường ký tháng 2 năm 2009, Nghị quyết số 18 ngày 6/4/2010 đều chỉ đạo NHNN hướng dẫn các TCTD thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với “dự án sản suất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“, mà không có nghị quyết nào qui định NHNN cho phép các TCTD cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với nhu cầu vốn phục vụ đời sống.

Và gần đây khi chủ trì buổi làm việc tại NHNN ngày 20/4/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “NHNN chú ý chỉ đạo, hướng dẫn các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“.

Giải pháp hợp thức để tranh chấp không phát sinh

Nhưng, điều nguy hiểm là TCTD phải đối mặt với rủi ro về hợp đồng tín dụng vô hiệu do vi phạm pháp luật về lãi suất cho vay một khi khách hàng khởi kiện. Và, khách  hàng có  thể  kiện  bất cứ lúc nào vì Bộ luật dân sự năm 2005 không hạn chế về thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vi phạm pháp luật.

Điều này làm tăng khả năng mất an toàn hoạt động cho hệ thống các TCTD. Bởi vì, theo Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật (khoản 2 Điều 83) thì hướng dẫn  hay qui định của NHNN mà trái Nghị quyết của Quốc hội sẽ không có giá trị áp dụng.

Nếu cho rằng, thời điểm hiện nay là phù hợp để thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, chỉ có một cách duy nhất cho NHNN thực hiện được điều này mà không vi phạm pháp luật là NHNN ấn định lãi suất cơ bản ở mức đủ lớn để khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 không phát sinh tác dụng đối với các TCTD.

Chẳng hạn, NHNN chỉ cần ấn định lãi suất cơ bản mức 9%/năm trở lên và thực hiện các biện pháp hạ lãi suất mà NHNN lựa chọn thì sẽ không có trần lãi suất  trên thực tế đối với các TCTD.

Luật NHNN không qui định một sự ràng buộc nào về lượng giữa lãi suất cho vay của các TCTD với lãi suất cơ bản, và vì điều mà các TCTD thực sự quan tâm đó là lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu cũng như các điều kiện và mức độ NHNN thoả mãn nhu cầu của các TCTD về tín dụng từ NHNN.

Muốn cho trần lãi suất trở thành trần hình thức hay muốn dỡ bỏ chế độ trần lãi suất đối với các TCTD mà lãi suất cho vay của các TCTD không vượt mức mong muốn của NHNN thì vấn đề cốt lõi là NHNN phải thực hiện được cân bằng quan hệ cung cầu tín dụng ngân hàng tại mức lãi suất mong muốn của NHNN.

Để cân bằng cung cầu tín dụng ngân hàng, có nhiều cách. Trong đó có những cách mà NHNN đã công bố như tăng mức độ đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho các TCTD, … nhưng một trong các cách mà NHNN cần hết sức quan tâm là kiểm soát tốt, có hiệu qủa đối với chất lượng tín dụng của các TCTD.

Khi những ràng buộc pháp lý còn hiệu lực thì NHNN cũng như các TCTD cần định lượng những tiêu chí trong quá trình thực hiện Thông tư số 12 của NHNN  để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Advertisements

March 25, 2010

Sự thật khi lái xe cố tình cán chết người

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:37 pm
Tags: ,

Sự thật là cánh tài xế vẫn bảo nhau rằng: “Thà nó chết hẳn còn hơn bị thương. Mất mấy chục triệu một lúc còn hơn phải nuôi nó cả đời ! Đi tù cùng lắm chỉ vài năm, có ai “đóng hộp” hết án đâu. Nó sống thì mình chết !”. “Nó” ở đây chính là nạn nhân của bánh xe.
> Bức xúc hành động cán chết người của tên lái xe tải

Sự thật là việc cố tình cán chết nạn nhân quá kinh khủng, đây là tâm lý có sẵn của không ít lái xe chứ không phải là “một phút bồng bột”. Cho dù tại nguyên do nào thì hành động ác nhân này cũng không chấp nhận được. Rõ ràng là giết người có chủ ý, bằng hành vi côn đồ, dã man chẳng khác nào dùng các vũ khí khác. Hơn nữa là nạn nhân lúc này đang bị kẹt trong đau đớn, không có khả năng kháng cự. Trước đó họ không thù không oán với nhau, hoàn toàn có thể cứu mạng nhau trong những tình huống khác. Vậy mà…

Sự thật là những vụ việc kiểu này đã có từ rất lâu, như một ung nhọt nhức nhối chưa giải quyết được. Phải chăng cánh lái xe không hiểu hết pháp luật đã được cấp bằng cho chạy rầm rập ngoài đường ? Phải chăng pháp luật có điều gì thiếu sót hay do việc phổ biến chưa đến nơi đến chốn? Để cho người lái xe luôn nơm nớp lo sợ cảnh nuôi hết đời người bị nạn, sợ cái nỗi khổ khi “cán mà người ta không chết”, sợ bị ăn vạ đến sạt nghiệp. Và bao nhiêu cảnh thương tâm đã xảy ra. Tôi run cả tay khi gõ những dòng chữ này, nhưng đó là sự thật.

Sự thật là có những nạn nhân bị thương đã hành cho gia đình tài xế “sống chẳng bằng chết”. Kiếm được bao nhiêu tiền phải nuôi người ta bằng hết. Nào thuốc men, nào viện phí, nào bồi dưỡng sức khỏe… đằng đẵng hàng chục năm trời. Tài xế ấy có khá khẩm gì đâu, cha mẹ già yếu, vợ con nheo nhóc, trông cậy cả vào đồng lương lái xe. Vậy mà gia đình nạn nhân dùng đủ mọi biện pháp từ “đỏ” đến “đen” để hạch tiền. Nhiều khoản họ cố tình vẽ ra và đổ lỗi cho vụ tai nạn để bắt chi tiền. Cái nước ấy, anh tài xế nghĩ, thà “nó” chết mình chỉ đền “một phát” là xong, còn rẻ chán, sướng chán!

Pháp luật đã quy định từ lâu về việc “ai sai người ấy chịu”. Vậy kẽ hở nào khiến cho lái xe nói rằng “người chết không mệt bằng bị thương”? Kẽ hở nào khiến cho người bị thương trở thành một gánh nặng sợ hãi của lái xe? Có lần tôi còn thấy một bà bán phở vỉa hè nói với tài xế chiếc xe máy suýt đâm vào hàng bà rằng: “May cho mày đấy, cái nồi nước sôi này mà đổ vào tao thì mày phải nuôi tao, nuôi cả nhà tao hết đời là cái chắc!”. Bà ấy không đùa tí nào. Tất nhiên gây ra thì phải đền thích đáng, nhưng vấn đề rõ ràng là người chết “nhẹ gánh” hơn nhiều so với người bị thương. Đây là nguyên nhân mà lái xe coi rẻ sinh mạng con người. Nếu “cứu người là cứu mình” hay “giết người là giết mình” và “thương tích đền bù thỏa đáng có giới hạn và thời hạn nhất định” thì tài xế có nhẫn tâm như thế không?

Sự thật là những năm tù của tài xế, dù 8 năm, 15 năm, 20 năm hay nhiều hơn thế cũng chẳng trả hết cái nợ này. Quy luật Nghiệp – Quả sẽ theo tài xế sang tận đời con, đời cháu, thậm chí cả kiếp sau. Cuộc đời tài xế cũng coi như khép lại sau 8 năm “đóng hộp”. Chưa kể việc day dứt lương tâm về tội lỗi đã gây ra thì sau này ra tù cũng khó kiếm được một công việc làm ăn tử tế. Vạ lây sang cha mẹ, anh em, vợ con phải sống trong sự khinh rẻ, xa lánh của xã hội. Cái Quả phải trả tuy đến sau nhưng bao giờ cũng lớn hơn cái Nghiệp gây ra trước đó. Đã có không ít anh Tài sau đó phải thốt lên rằng: “Trời ơi, chỉ vì lo sợ trách nhiệm với một người tàn tật mà ra nông nỗi này, giá như mình chết đi còn hơn !”.

Tôi quen một cựu lái xe như vậy, gần hai chục năm nay bác ấy chưa có một giấc ngủ ngon. Mặc dù cũng đi tù, cũng đền tiền nhưng không thể lấy lại cuộc sống như trước. Hình ảnh người phụ nữ chết quằn quại đau đớn trong gầm xe không làm bác ấy ám ảnh bằng khuôn mặt gia đình cô ấy, trong phiên tòa đầy tiếng gào khóc của người mẹ, người chồng và đứa trẻ ba tháng đang khát sữa. Con cái bác cựu lái này hiện nay rất nghèo hèn và gặp toàn rủi ro trong cuộc sống. Bà vợ liệt gần chục năm chỉ nằm một chỗ. Anh con cả, trong một lần đi làm ca đêm trên đường cao tốc đã bị một chiếc xe tải cán phải rồi bỏ chạy. Bây giờ cứ thấy anh lăn xe đi xin ở các chợ hay đền chùa trong vùng người ta lại bảo: “thằng cha ăn mặn, thằng con khát nước đấy mà !”. Nhiều lần bác muốn tự tử nhưng lại không dám vì còn gánh nặng trĩu vai, bác vẫn phải lo kinh tế trong nhà bằng đồng tiền nhặt nhạnh phế liệu và gánh nước thuê.

Sự thật là mỗi khi xảy ra tai nạn giao thông thì cả tài xế và nạn nhân cùng lâm vào tình cảnh bi đát. Cả hai con người, hai gia đình cùng bất hạnh. Và bất hạnh này chỉ có thể thay đổi khi tất cả cùng vì đức hiếu sinh, vì lòng nhân nghĩa, đạo đức để đừng làm khổ lẫn nhau và làm khổ chính mình. Và dù là bất cứ điều gì, việc cố tình lùi xe để giết người là quá côn đồ, dã man, mất hết nhân tính. Xót xa cho người chết oan ức – một sinh mạng vô tội. Và cũng đau lòng cho lái xe – một cuộc đời khổ ải.

Sự thật là không còn đau đớn nào hơn nhìn người thân của mình bị giết chết một cách tức tưởi, oan nghiệt không đáng có. Tôi không dám nghĩ đến hình ảnh cha mẹ em Hoa sau cái chết của con gái. Họ sẽ sống ra sao những năm tháng còn lại của đời người ? Nỗi đắng cay, xót xa, uất hận của họ biết lấy cái gì bù đắp nổi, nguôi ngoai nổi ? Tiền bạc ư ? Những năm đi tù hay cả mạng sống của lái xe ? Khốn khổ là đều không thể được ! Tài xế không chỉ giết chết một sinh mạng mà còn gieo nhân đau thương cho những thân nhân người ta, đâu kém gì cái chết. Xin chân thành chia sẻ mất mát đau thương với gia đình em Hoa, cầu cho linh hồn em được siêu thoát.

Không biết đến bao giờ thì lái xe hết mình cứu mạng sống nạn nhân? Bao giờ thì nạn nhân không lợi dụng thương tích để bắt vạ lái xe? Bao giờ những sự thật trên biến mất khỏi cuộc sống này? Câu trả lời trông cậy trước hết vào những người soạn thảo và phổ biến luật pháp, sau đó là những đơn vị cấp bằng lái xe, tiếp theo mới đến những vấn đề khác.

March 17, 2010

Nâng cao nhận thức và hành động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (15/03/2010)

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:49 am
Tags: , ,
Năm 1960, tổ chức Quốc tế người tiêu dùng (CI) chính thức được thành lập với chức năng hỗ trợ tăng cường năng lực cho thành viên và phong trào người tiêu dùng thế giới, đấu tranh trong phạm vi quốc tế cho những chính sách có liên quan đến người tiêu dùng.

CI đã ra Bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng của Liên Hiệp Quốc với nội dung thực hiện 8 quyền của người tiêu dùng, bao gồm: Quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được an toàn; Quyền được thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe; Quyền được bồi thường; Quyền được giáo dục về tiêu dùng và Quyền được có một môi trường lành mạnh và bền vững. Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng có 5 trách nhiệm: Biết phê bình; Biết hành động; Quan tâm đến xã hội; Hiểu biết về tiêu dùng; Có ý thức cộng đồng cao. Ngày quyền của người tiêu dùng thế giới (15/3) chính là nhằm mục tiêu cổ vũ cho 8 quyền cơ bản của người tiêu dùng, phản đối những hành vi làm hại tới người tiêu dùng.

Trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững của đất nước ta hiện nay, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được coi là một trong những vấn đề quan trọng và nóng bỏng. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở nước ta nói chung, Bắc Ninh nói riêng đã có những chuyển biết rất tích cực, đặc biệt sau khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có hiệu lực. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, hoạt động bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu, bất cập. Nhiều hành vi xâm hại đến quyền người tiêu dùng vẫn còn xảy ra với những diễn biến phức tạp và ngày càng tinh vi. Đòi hỏi các cấp, ngành, các doanh nghiệp và mỗi người dân phải có cách nhìn mới, cách tiếp cận mới nhằm tăng cường hiệu quả trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trước hết, cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cần thiết hơn là đảm bảo cho quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ trên thực tế.

Để nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng một cách toàn diện cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục thường xuyên với nhiều hình thức phong phú nhằm nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng để tự bảo vệ chính mình. Giáo dục, nâng cao nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp về trách nhiệm của họ đối với người tiêu dùng và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ, hướng dẫn và thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cùng với việc hoàn thiện luật pháp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nâng cao năng lực bộ máy bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các cấp, ngành chức năng cần có sự phối hợp đồng bộ trong việc thực thi các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật. Trong đó cần chú trọng đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thị trường, đấu tranh quyết liệt và hiệu quả với các hành vi vi phạm trên lĩnh vực sản xuất và cung ứng sản phẩm hàng hoá dịch vụ trên thị trường và giải quyết thoả đáng những khiếu nại, khiếu kiện của người tiêu dùng…

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một lĩnh vực mới và phức tạp, đòi hỏi sự vào cuộc cấp thiết và đồng bộ của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và mỗi người dân trong việc nâng cao nhận thức và có những hành động cụ thể, thiết thực nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước trong xu hướng hội nhập hiện nay.

Người tiêu dùng lạc lối trong “rừng” luật

Những slogan “vì quyền lợi người tiêu dùng”, ”khách hàng là thượng đế” đâu đó vẫn được các doanh nghiệp giăng đầy nhưng thực tế hiện nay “Tiền của chúng ta” vẫn không đi liền với “Quyền của chúng ta”. Người tiêu dùng vẫn lúng túng, yếu thế dù pháp luật có cả một hệ thống các quy định hiện hành về bảo vệ người tiêu dùng.

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện có khá nhiều quy định có mục đích hoặc có tác dụng bảo vệ người tiêu dùng (BVNTD), bao gồm cả đạo luật cơ bản là Hiến pháp, các đạo luật chung như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, các văn bản về doanh nghiệp, đầu tư, thương mại, cạnh tranh, các văn bản điều tiết chuyên ngành (như ngân hàng, y tế, du lịch…) và những văn bản pháp luật quy định riêng về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng.

Tuy nhiên một thực tế lâu nay cho thấy người tiêu dùng vẫn phải đi tìm cái “Quyền” của mình trong vô vàn những quy định mà không biết điểm dừng mình cần ở đâu. Bởi một lẽ các quy định BVNTD còn rất chung chung, thiếu những biện pháp để đảm bảo thực thi các trách nhiệm này. Có chăng chỉ mới dừng ở việc ghi nhận quyền của người tiêu dùng và xác định trách nhiệm trong việc bảo vệ người tiêu dùng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. nhưng

GS-TS Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp cũng đã từng đưa ra nhận xét, tình trạng các quy định trong nhiều văn bản pháp luật về BVNTD ở nước ta còn thiếu tính cụ thể gây khó khăn trong việc triển khai trên thực tế. Trong pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 đưa ra nhiều quy định về quyền của NTD và trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá nhưng các quy định về cơ chế thực hiện các quyền của NTD và trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh lại thiếu. Chẳng hạn, theo quy định của Pháp lệnh, NTD có quyền lựa chọn hàng hoá, quyền được thông tin, tuy nhiên, ai có trách nhiệm bảo đảm cho NTD các quyền năng đó và việc bảo đảm các quyền năng đó như thế nào lại chưa được quy định rõ. Làm thế nào để NTD có thể tự mình hành xử các quyền năng này, coi các quyền năng đó như một thứ công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình lại chưa được quy định cụ thể.

So sánh với các quốc gia khác trên thế giới mới thấy người tiêu dùng Việt đang quá thiệt thòi. Chẳng hạn, trong pháp luật BVNTD của một số nước như Pháp, Canada, Anh v.v.. có quy định bảo vệ quyền được lựa chọn hàng hoá của NTD bằng việc quy định đối với các hợp đồng bán hàng trực tiếp (khi người bán hàng mang hàng hoá đến để tiếp thị tại nhà của NTD), NTD có những đặc quyền nhất định. Một quyền rất nhỏ nhưng hiện nay lại bị ràng buộc bởi quy định rằng, nếu NTD đã đồng ý mua hàng thì NTD không có quyền trả lại hàng đã mua nếu không được sự đồng ý của người bán. Còn với các quốc gia khác thì NTD sẽ có quyền trả lại hàng hoá, đòi lại tiền đã trả trong thời hạn từ 7 đến 10 ngày mà không cần giải thích lý do, kể cả sự không chấp thuận của người bán hàng.

Ngay trong pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD (1999), NTD ít thấy mình thực sự được lợi gì từ sự tồn tại của các quy định trong đó. Pháp luật BVNTD hiện còn khá nhấn mạnh tới vai trò của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước mà chưa chú trọng thoả đáng tới việc khuyến khích NTD tự bảo vệ quyền lợi của mình. Việc xử phạt các vi phạm quyền lợi NTD thường ít được công khai hoặc có công khai thì NTD cũng chưa cảm nhận được mình sẽ được lợi trực tiếp gì từ việc xử phạt ấy.

Ảnh minh họa
85 triệu người dân là 85 triệu người tiêu dùng. Ảnh : KN


Nhân ngày Quốc tế người tiêu dùng 15/3, ông Bạch Văn Mừng, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh cũng cho rằng: “Thực tế hiện nay, NTD ít dùng đến cách giải quyết trong pháp lệnh này với nhiều lý do: thứ nhất là yếu tố tâm lý là người Việt Nam rất ngại tranh tụng tại toà. Điều thứ hai cho thấy cơ chế giải quyết tại toà án đối với các tranh chấp về quyền lợi NTD còn rất dài dòng và phức tạp. NTD khi thấy vi phạm không quá lớn mà lại phải đi qua cuộc tranh tụng kéo dài thì họ rất ngại.

Chính vì vậy nhiều khi họ bày tỏ quan điểm của mình với các cơ quan truyền thông để có thể có được những tác động nhất định. Một mặt giới truyền thống cũng cần tuyên truyền để NTD biết họ có quyền được khiếu nại và cần tận dụng cái quyền đó chứ không nên không sử dụng quyền mà chỉ đi bày tỏ những quan ngại, những bức xúc….”.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, hệ thống chế tài áp dụng đối với các vi phạm quyền lợi của NTD vẫn còn có những điểm bất hợp lý, gây khó khăn cho NTD trong việc tự bảo vệ quyền của mình. NTD vẫn yếu thế khi bảo vệ quyền lợi của mình, bởi khả năng tiếp cận thông tin đối với quy trình sản xuất, kinh doanh để chứng minh sự vi phạm quyền lợi của NTD là rất khó. Trong khi việc truy cứu trách nhiệm dân sự đối với những vi phạm quyền lợi của NTD vẫn buộc NTD phải chứng minh rất nhiều nội dung trong đó có cả việc chứng minh vi phạm của tổ chức,cá nhân sản xuất, kinh doanh.

Điều này cho thấy vì sao, NTD khi bị vi phạm về quyền lợi họ chỉ còn cách tìm sự trợ giúp từ các cơ quan truyền thông”.

Sắp tới đây, Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà Bộ Công Thương chủ trì xây dựng sẽ trình Quốc Hội thông qua. Hy vọng Luật BVNTD sẽ đi theo hướng, làm sao những tranh chấp tại toà án, cơ quan hành chính sẽ rất đơn giản và nhanh gọn, không để cho NTD phải quá tốn thời gian, công sức. Và quyền của người tiêu dùng thực sự được đảm bảo. Không chỉ vậy, NTD sẽ không quá lung túng và mất công đi tìm sự công bằng trong cả “rừng” luật.

Điều quan trọng hơn, dù luật chưa hoàn thiện thì chúng ta cần nhận thức rằng 85 triệu người dân Việt Nam là 85 triệu NTD và người tiêu dùng đã có vài trò đặc biệt quan trọng như thế nào trong nền kinh tế này. Năm 2008, 2009 sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng rất lớn tới bức tranh kinh tế VN, xuất nhập khẩu giảm sút rất lớn nhưng nhờ có tiêu dùng trong nước, nhờ 85 triệu người dân Việt Nam, mà hoạt động sản xuất trong nước có thể trụ vững, từ đó giúp Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

March 14, 2010

Kiện Việt Nam bán phá giá tăng mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:19 pm
Tags: , ,

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay.

Dệt may, đồ gỗ, thép và đinh sản xuất từ Việt Nam hiện đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá từ thị trường Âu Mỹ trong năm 2010.

Bên cạnh tôm, cá, túi nhựa, da giày, một số mặt hàng mới như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa có thể sắp bị điều tra.

Đó là nhận định của chuyên gia Việt Nam và Hoa Kỳ từ cuộc hội thảo tìm giải pháp đối phó trước nhiều vụ kiện chống phá nhắm vào hàng xuất khẩu Việt Nam.

Cuộc hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và công ty luật Hoa Kỳ Squire Sanders tổ chức.

Từ giày dép, cá ba sa, nguy cơ bị kiện chống phá giá nay lan sang túi nhựa, đồ gỗ, ốc và đinh, vít, luật sư Peter John Koenig từ công ty Squire Sanders cho hay. “Những mặt hàng này thuộc diện khai phá thị trường của Việt Nam, chưa phải là sản phẩm kim ngạch lớn,” ông Koenig nói.

“Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng.

“Hiện tôm đông lạnh của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ đang bị rà soát năm thứ 4, mặt hàng cá đang rà soát cuối kỳ, và có khả năng áp thuế thêm 5 năm nữa,” luật sư Koenig được trích lời nói tại cuộc hội thảo.

Lý do đồ gỗ Việt Nam đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá cao, theo ông Koenig, do hàng xuất sang Hoa Kỳ tăng mạnh. “Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ từ Việt Nam tăng 10 lần trong 10 năm qua,” ông nói. Mặt khác do Việt Nam ở gần Trung Quốc, nước được coi là tâm điểm của các vụ kiện chống phá giá trên thế giới, “mỗi khi Trung Quốc có sản phẩm nằm trong diện điều tra chống phá giá, các quốc gia khác có hàng xuất khẩu tương tự luôn nằm trong diện có nguy cơ cao.”

Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng

Luật sư Peter Koenig

Năm qua doanh nghiệp Việt Nam phải đối diện với “con số kỷ lục” các vụ kiện phòng vệ thương mại, báo cáo tại hội thảo nói.

Kiện khắp nơi

7 vụ ở 6 thị trường khác nhau, theo VCCI, 2009 là năm bận rộn và nhức đầu cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

VCCI cho rằng khi kinh tế thế giới rơi vào kỳ suy giảm, số vụ kiện nhắm đến hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ gia tăng. Và không chỉ từ Âu Mỹ, nơi nhà sản xuất hay dò xét sản phẩm giá rẻ từ Việt Nam. Kiện Việt Nam chống phá giá hiện giờ còn xuất phát từ Ấn Độ và Brazil.

“Phía Ấn Độ kiện các doanh nghiệp thép của Việt Nam, Brazil kiện doanh nghiệp giày dép, dù hai nước này xuất siêu sang Việt Nam,” một quan chức của VCCI nói tại cuộc hội thảo.

Trong 10 năm qua số vụ kiện chống phá giá nhắm vào hàng Việt Nam đã lên đến 42. Chuyên gia dự đoán thời gian tới sẽ còn thêm kiện tụng do kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.

Tiến sĩ Peter Koenig, luật sư cao cấp của Văn phòng luật Squire Sanders cho rằng công ty Việt Nam “chưa có nhiều kỹ năng” đối phó với kiện chống phá giá, dù vụ kiện đầu tiên như ai cũng biết là Hoa Kỳ cáo buộc Việt Nam bán phá giá cá da trơn diễn ra đã 10 năm nay.

Chuyên gia Mỹ nói đến khả năng công ty Việt Nam chung sống lâu dài với các vụ kiện thương mại, khi xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng, trong lúc Việt Nam tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu.

“Nếu cần thiết Việt Nam nên tìm cách kiện lại, chứ đừng kêu ca, than phiền, kêu gọi quốc tế thương cảm cho nhân công Việt Nam như trước đây,” mạng VietnamNet đưa tin.

March 13, 2010

Hàng không nước ngoài lách luật để khai thác nội địa?

Đây là điều lo ngại của Vietnam Airlines (VNA) trước sự kiện Hãng Hàng không giá rẻ AirAsia (AA), Malaysia mua được 30% cổ phần của Hãng Hàng không tư nhân Viet Jet (VJ).

VNA đã kiến nghị Chính phủ không thông qua việc đầu tư hợp tác này vì cho rằng động thái mua cổ phần của VJ là cách lách luật để khai thác thị trường hàng không nội địa VN của hãng hàng không nước ngoài AA.

VNA giữ “miếng bánh” nội điạ

Trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ mới đây, VNA cho rằng do không có khả năng thâm nhập thị trường nội địa của các nước khác, các hãng hàng không (HK) nước ngoài luôn tìm cách lách luật thông qua con đường đầu tư vào các hãng HK nội địa của nước đó để thâm nhập khai thác thị trường nội địa.

Chính vì vậy, các nước đều dùng chính sách để điều tiết lĩnh vực này nhằm bảo vệ thị trường HK nội địa. Luật Hàng không Dân dụng VN tuy cũng có quy định tỉ lệ sở hữu nước ngoài đối với vốn điều lệ của các hãng HK (cụ thể phần vốn nước ngoài đầu tư vào hãng HKVN tối đa 49% cổ phần và một nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể mua tối đa 30% cổ phần), song “khe hở” ở đây là luật chưa phân biệt rõ nhà đầu tư nước ngoài thông thường và nhà đầu tư nước ngoài là các hãng HK.

Chính vì vậy, các hãng HK chi phí thấp như Jetstar và nay là AA đã tận dụng “khe hở” lách luật, tranh thủ mua rẻ thương quyền nội địa của VN thành lập liên minh các hãng HK giá rẻ ồ ạt khai thác thị trường quốc tế đến VN và thị trường HK nội địa. Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tồn tại và phát triển của các hãng HK trong nước. Theo VNA, với 30% cổ phần tại VJ, AA hoàn toàn có khả năng tham gia HĐQT của VJ để điều hành hãng theo mục tiêu của mình.

Mặt khác, VNA cho rằng thị trường nội địa trị giá hàng tỉ USD vì thế cần xác định phương án tính toán, định giá cụ thể thương quyền kinh doanh HK nội địa của VN, làm công cụ đàm phán với đối tác nước ngoài trong việc liên doanh và bán cổ phần để tránh thua thiệt. VNA kiến nghị sửa đổi Nghị định 76/2007/ NĐ – CP, bổ sung quy định về tỉ lệ vốn góp của các hãng HK nước ngoài trong DN kinh doanh vận chuyển hàng không tại VN. Cuối cùng, VNA cũng kiến nghị không thông qua việc đầu tư hợp tác của AirAsia vào VJ.

Có quá lo xa(?!)

Theo các chuyên gia, việc VNA kiến nghị có phần quá lo xa. Bởi hiện đây là hãng chiếm tới hơn 80% thị phần nội địa. Hãng cũng là một trong những đơn vị duy nhất kinh doanh tổng hợp về lĩnh vực HK nên đang gần như là độc quyền tại lĩnh vực này. Thêm nữa, thị trường hàng không nội địa VN hiện không phải là miếng bánh béo bở.

Sự thua lỗ của Pacific Airlines trước đây và Jetstar Pacific Airlines (JPA) hiện nay dù cũng có nhà đầu tư nước ngoài chiếm giữ 30% cổ phần. Hay như Indochina Airlines vừa nhập cuộc được hơn một năm đã phải dừng bay vì nợ nần không thanh toán được, cho thấy “miếng bánh” HK nội địa hoàn toàn không dễ xơi.

Vì thế, việc VJ nhập cuộc thị trường với tỉ lệ nắm giữ 30% vốn của hãng HK nước ngoài có thật sự là một nguy cơ lớn đến thế với VNA nói riêng và các hãng hàng không nội địa nói chung như VNA cảnh báo(?!).

Thêm nữa, VNA chủ trương duy trì mô hình hãng HK dịch vụ đầy đủ chiếm giữ phân khúc thị trường hạng trung bình khá trở lên. Trong khi đó, các hãng HK giá rẻ như JPA và tới đây có thể là VJ với 30% của AA thì nhằm vào phân khúc thị trường hạng bình dân. Việc đa dạng hoá dịch vụ cung cấp cho thị trường HK nội địa cũng là một cách mở rộng thị trường HK còn rất khiêm tốn với mức hơn 1% dân số đi máy bay như hiện nay.

Mặt khác, xu hướng mở cửa bầu trời để thu hút nguồn lực xã hội, phát triển thị trường HK nội địa VN trong thế cạnh tranh để người dân được hưởng lợi, khai thác có hiệu quả hệ thống hạ tầng hàng không VN được đầu tư nhiều tỉ USD, đang là chủ trương của Nhà nước VN. Vì thế, nếu một VJ với nguồn vốn xã hội hoá hoàn toàn, nhập cuộc thị trường HK nội địa, còn có thể là một nhân tố mới thúc đẩy cạnh tranh giúp phát triển thị trường.

Tuy nhiên với lo ngại “khả năng xuất hiện xu hướng thành lập hãng hàng không rồi bán cổ phần cho đối tác nước ngoài để thu lợi” của VNA, thì nhà chức trách hàng không cần đặc biệt quan tâm phát hiện và thổi còi đúng lúc, nếu hiện tượng này có thật. Về điểm này, một đại diện VJ khẳng định: Theo Luật HK hiện nay, việc AA mua 30% cổ phần của VJ là hoàn toàn hợp pháp.

AirAsia chỉ là một cổ đông chiếm giữ 30% cổ phần. Mọi quyết định chiến lược của VJ đều do HĐQT quyết định theo nguyên tắc đa số. Hãng này dự định sẽ khởi bay vào khoảng tháng 6.2010 và khai thác đồng thời các tuyến nội địa cũng như nước ngoài.

Bích Liên

Án tử hình không giúp thủ tiêu bạo lực

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:02 pm
Tags: ,

Cập nhật lúc 23:47, Thứ Sáu, 12/03/2010 (GMT+7)

,

Hội nghị thế giới lần thứ 4 vận động bãi bỏ án tử hình vừa diễn ra tại Geneva (Thụy Sỹ).

Trong số 1.700 đại biểu đến từ khắp các châu lục, có đại diện của Việt Nam, đến từ Bộ Tư pháp, Ủy ban Tư pháp Quốc hội, Bộ Công an, Văn phòng Trung ương Đảng…

Trong tuyên bố bế mạc, các nhà tổ chức hội nghị – Hiệp hội Cùng nhau bãi bỏ án tử hình – kêu gọi các quốc gia trên thế giới cùng nỗ lực vì mục tiêu thúc đẩy việc bãi bỏ hoàn toàn án tử hình trên phạm vi toàn thế giới, bởi “án tử hình không thể được coi là câu trả lời thích hợp cho bạo lực cũng như những căng thẳng trong xã hội”.

Mô tả ảnh.
Diễu hành vận động bỏ án tử hình trong khuôn khổ Hội nghị tại Geneva.

Một thành viên trong đoàn Việt Nam cho hay, sự có mặt của đoàn “thể hiện tinh thần chia sẻ của Nhà nước Việt Nam” với hội nghị này.

Hồi tháng 6 năm ngoái, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, theo đó bỏ án tử hình với 8 loại tội: sử dụng trái phép chất ma túy, hiếp dâm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, buôn lậu, làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy, đưa hối lộ.Như vậy, số tội danh quy định khung hình phạt cao nhất ở Việt Nam đã giảm từ 29 xuống 21. Các tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, tham ô tài sản và nhận hối lộ… vẫn nằm trong khung án tử hình.

Sau đó, vào tháng 11/2009, Quốc hội Việt Nam thảo luận về việc thi hành hình phạt tử hình, được quy định trong dự thảo Luật thi hành án hình sự.

Có 2 hình thức được dự thảo đưa ra là xử bắn hoặc tiêm thuốc độc.

Thẩm tra dự luật này, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đề nghị chỉ nên quy định một hình thức thi hành hình phạt tử hình là tiêm thuốc độc.

Đa số thành viên của Ủy ban nhất trí với dự thảo luật quy định cho phép người phải thi hành hình phạt tử hình được hiến xác, mô, bộ phận cơ thể, bởi cho rằng đây là vấn đề mang tính nhân đạo và thể hiện giá trị nhân văn trong pháp luật thi hành án hình sự của Nhà nước.

Tháng 5/2009, Việt Nam đã tiến hành Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam (UPR) trước Hội đồng Nhân quyền LHQ. Trong số các khuyến nghị mà các nước đưa ra, có việc xóa bỏ, không thực hiện, công khai số liệu án tử hình.

Trong “Phụ lục: Trả lời các khuyến nghị”, Chính phủ Việt Nam cho hay: “Việc áp dụng hay xóa bỏ án tử hình là phụ thuộc vào tình hình thực tế tại từng quốc gia. Hiện nay, để đấu tranh với tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và nguy hiểm, án tử hình vẫn đang được coi là một biện pháp tích cực để răn đe các tội phạm nguy hiểm. Vì vậy, trước mắt Việt Nam chưa có kế hoạch xóa bỏ hoặc đình chỉ áp dụng án tử hình”.

Tuy nhiên, Chính phủ khẳng định khi hoàn cảnh và điều kiện cụ thể cho phép việc xóa bỏ án tử hình, Việt Nam sẽ xem xét nghiên cứu, tham gia Nghị định thư thứ 2 của Công ước ICCPR. Trên tinh thần nhân đạo và phù hợp với luật pháp quốc tế, Việt Nam chủ trương chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Kiện Việt Nam bán phá giá tăng mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:27 pm
Tags: , ,

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay.

Dệt may, đồ gỗ, thép và đinh sản xuất từ Việt Nam hiện đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá từ thị trường Âu Mỹ trong năm 2010.

Bên cạnh tôm, cá, túi nhựa, da giày, một số mặt hàng mới như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa có thể sắp bị điều tra.

Đó là nhận định của chuyên gia Việt Nam và Hoa Kỳ từ cuộc hội thảo tìm giải pháp đối phó trước nhiều vụ kiện chống phá nhắm vào hàng xuất khẩu Việt Nam.

Cuộc hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và công ty luật Hoa Kỳ Squire Sanders tổ chức.

Từ giày dép, cá ba sa, nguy cơ bị kiện chống phá giá nay lan sang túi nhựa, đồ gỗ, ốc và đinh, vít, luật sư Peter John Koenig từ công ty Squire Sanders cho hay. “Những mặt hàng này thuộc diện khai phá thị trường của Việt Nam, chưa phải là sản phẩm kim ngạch lớn,” ông Koenig nói.

“Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng.

“Hiện tôm đông lạnh của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ đang bị rà soát năm thứ 4, mặt hàng cá đang rà soát cuối kỳ, và có khả năng áp thuế thêm 5 năm nữa,” luật sư Koenig được trích lời nói tại cuộc hội thảo.

Lý do đồ gỗ Việt Nam đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá cao, theo ông Koenig, do hàng xuất sang Hoa Kỳ tăng mạnh. “Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ từ Việt Nam tăng 10 lần trong 10 năm qua,” ông nói. Mặt khác do Việt Nam ở gần Trung Quốc, nước được coi là tâm điểm của các vụ kiện chống phá giá trên thế giới, “mỗi khi Trung Quốc có sản phẩm nằm trong diện điều tra chống phá giá, các quốc gia khác có hàng xuất khẩu tương tự luôn nằm trong diện có nguy cơ cao.”

Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng

Luật sư Peter Koenig

Năm qua doanh nghiệp Việt Nam phải đối diện với “con số kỷ lục” các vụ kiện phòng vệ thương mại, báo cáo tại hội thảo nói.

Kiện khắp nơi

7 vụ ở 6 thị trường khác nhau, theo VCCI, 2009 là năm bận rộn và nhức đầu cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

VCCI cho rằng khi kinh tế thế giới rơi vào kỳ suy giảm, số vụ kiện nhắm đến hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ gia tăng. Và không chỉ từ Âu Mỹ, nơi nhà sản xuất hay dò xét sản phẩm giá rẻ từ Việt Nam. Kiện Việt Nam chống phá giá hiện giờ còn xuất phát từ Ấn Độ và Brazil.

“Phía Ấn Độ kiện các doanh nghiệp thép của Việt Nam, Brazil kiện doanh nghiệp giày dép, dù hai nước này xuất siêu sang Việt Nam,” một quan chức của VCCI nói tại cuộc hội thảo.

Trong 10 năm qua số vụ kiện chống phá giá nhắm vào hàng Việt Nam đã lên đến 42. Chuyên gia dự đoán thời gian tới sẽ còn thêm kiện tụng do kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.

Tiến sĩ Peter Koenig, luật sư cao cấp của Văn phòng luật Squire Sanders cho rằng công ty Việt Nam “chưa có nhiều kỹ năng” đối phó với kiện chống phá giá, dù vụ kiện đầu tiên như ai cũng biết là Hoa Kỳ cáo buộc Việt Nam bán phá giá cá da trơn diễn ra đã 10 năm nay.

Chuyên gia Mỹ nói đến khả năng công ty Việt Nam chung sống lâu dài với các vụ kiện thương mại, khi xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng, trong lúc Việt Nam tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu.

“Nếu cần thiết Việt Nam nên tìm cách kiện lại, chứ đừng kêu ca, than phiền, kêu gọi quốc tế thương cảm cho nhân công Việt Nam như trước đây,” mạng VietnamNet đưa tin.

Trôi nổi thị trường ngoại tệ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:30 am
Tags: ,

NDĐT – Trong nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay trên thực tế, tình trạng
“đô la hoá nền kinh tế” dường như đang ngày càng được lan nhanh hơn ra nhiều mặt
của cuộc sống. Nhà nhà, người người quy đổi giá trị các vật dụng, tài sản của mình ra
đô, ra euro trong giao dịch, thanh toán. Pháp lệnh Ngoại hối (có hiệu lực ngày 1-6-
2006) cho phép người dân gửi và rút cả lãi lẫn gốc bằng ngoại tệ tiền mặt khi gửi ngân
hàng, tổ chức tín dụng có vẻ như khiến đồng nội tệ lại ngày càng bị “lép vế”.
Quy định của pháp luật Việt Nam không cho phép các giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng
cáo…bằng ngoại hối trừ các giao dịch của tổ chức tín dụng và các giao dịch khác được cấp phép,
song tại nhiều thành phố lớn, việc nhiều cơ sở kinh doanh công khai niêm yết giá bằng ngoại tệ
không phải là hiếm. Điều đáng nói là cơ chế xử phạt tại các văn bản hướng dẫn lại gặp vướng mắc
do những quy định pháp luật chồng chéo.
Đô la hoá là trong nhiều giao dịch dân sự một trong những “cú huých” cho thị trường mua bán
ngoại tệ chợ đen có “cơ” để khuyếch trương, bành trướng và nở rộ. Theo một người dân ở Cầu
Giấy cho biết, “Nếu đi làm thủ tục tại ngân hàng liên quan đến ngoại hối thường phải rườm rà về
mặt giấy tờ. thủ tục, rồi lại phải chứng minh nguồn gốc số ngoại hối đó. Trong khi đó, chỉ cần tấp
vô một lề đường là đã có thể mua bán dễ dàng, không hạn chế về số lượng và chưa mấy ai bị mua
phải đô la giả cả. Mua và gửi bằng các loại ngoại tệ mạnh như đô hay euro thì an toàn vì tiền của
mình biến động liên tục, chắng biết đâu mà lần”. chị cho biết.
Vậy Pháp lệnh ngoại hối có phải là một trong những “thủ phạm” gây ra tình trạng đô la hoá nền
kinh tế hay “văn bản trên giấy” khi không thể kiểm soát được thị trường ngoại tệ, hạn chế được
nạn đầu cư, tích trữ, mua bán trôi nối ở thị trường chợ đen? Sau đây là ý kiến chưa phải là tất cả
của đại diện giới luật gia và các nhà nghiên cứu quản lý.
Võ Đình Toàn – Phó Viện trưởng Viện khoa học pháp lý: “Pháp lệnh Ngoại hối không có
lỗi”
Theo tôi Pháp lệnh Ngoại hối không có lỗi và những quy định của nó cũng được ban hành khá chặt.
Pháp luật hiện hành của chúng ta không cấm sở hữu tài sản là ngoại tệ mà chỉ cấm những giao
dịch không được phép mà thôi và điều này là hoàn toàn đúng. Sở hữu và giao dịch là hai phạm trù
khác nhau. Anh hoàn toàn có quyền được gửi tiền bằng ngoại tệ và rút ra bằng ngoại tệ nhưng khi
giao dịch, sử dụng như thế nào là phải do pháp luật quy định.
Về nguyên lý kinh tế, khi có lạm phát thì giá trị của đồng nội tệ bị sụt giảm và trong giao dịch nếu
các nhà kinh doanh không lấy phương tiện thanh toán quốc tế làm chuẩn thì không có lãi. Các loại
ngoại tệ mạnh hiện tại cũng đang được ưu ái lấy làm thước đo của giá trị các tài sản vì đó là quy
luật phát triển tất yếu của nền kinh tế.
Muốn pháp lệnh thật sự “sống” được thì mạng lưới thực thi pháp luật phải hoạt động hiệu quả vì
pháp luật chỉ tạo ra hành lang pháp lý, còn từ đó đến thực tế áp dụng là cả một quá trình. Điều
quan trọng là lượng dự trữ ngoại tệ của nhà nước phải mạnh, có biện pháp ổn định được giá trị của
đồng nội tệ, kiểm soát giao dịch chợ đen, và phải có biện pháp kiểm soát nguồn gốc thu nhập của
người dân. Một số quốc gia trên thế giớí, ví dụ như Thuỵ Điển chẳng hạn, còn đánh cả thuế về tài
sản, như thế sẽ kiểm soát được các giao dịch trái pháp luật.
Tiến sỹ luật kinh tế Ngô Huy Cương- giảng viên khoa luật Trường Đại học quốc gia:
“Không nên đưa ra quy định cứng về thị trường tiền tệ”

Pháp lệnh Ngoại hối có phải là nguyên nhân gây ra tình trạng đô la hoá hay không cũng chưa thể
kết luận vội. Tuy nhiên, nếu quy định là gửi bằng ngoại tệ, rút ra bằng nội tệ sẽ không khuyến
khích gửi tiền và đưa ngoại tệ vào Việt Nam do ảnh hưởng sự biến động của tỷ giá. Chúng ta cần
có chính sách linh hoạt, mềm dẻo cho từng thời kỳ, khuyến khích nền kinh tế phát triển vì nền
kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi, “đang tập làm ăn”. Đưa ra luật phải cân nhắc
vấn đề nào cần đưa vào, cái gì cần là chính sách linh động, chứ không nên chỉ quan tâm đến thẩm
quyền.
Vấn đề làm thế nào để hạn chế vấn nạn mua bán ngoại tệ “chợ đen” thực sự là khó. Nếu chúng ta
sử dụng công cụ pháp luật để hạn chế thì cũng cần có một thời gian cứu cẩn thận để đưa ra những
giải pháp hợp lý, không nên đưa ra để xử lý vấn đề mang tính thời điểm vào pháp luật để điều
chỉnh lâu dài như vậy sẽ khó phù hợp với qui luật thị trường.
Luật sư Lê Vinh (Văn Phòng Luật Sư Chương Dương): “Cấm vẫn lách!”
Việc pháp lệnh quy định hạn chế sử dụng ngoại hối ngoại trừ những giao dịch của một số chủ thể
nhất định như ngân hàng, công ty tài chính có giấy phép hoạt động ngoại hối (theo điều 22) chẳng
có gì không đúng. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều cá nhân, tổ chức sử dụng ngoại tệ như một công
cụ thanh toán với nhau.
Nhiều trường hợp “khéo lách” bằng cách khi quy giá trị tài sản giao dịch cần thanh toán và thực tế
thanh toán là ngoại tệ nhưng trong hợp đồng vẫn quy đổi thành đồng Việt Nam. Nhưng cũng có
trường hợp giao kết thanh toán bằng ngoại tệ nên khi có tranh chấp, điều khoản liên quan đến
công cụ thanh toán đương nhiên bị tuyên vô hiệu. Tình trạng đô la hóa giao dịch hiện nay ở nước
mình chủ yếu là do thói quen, do yếu tố tâm lý, kinh tế chứ không phải do nguyên nhân luật pháp.
Nếu cấm rút bằng ngoại tệ khi người dân đã gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ gây thiệt hại
cho người gửi, không kích thích thị trường. Có chăng chỉ nên áp dụng cho một số trường hợp đặc
biệt (có thể do Chính phủ, Thủ tướng quy định).

March 12, 2010

Lãi suất và rủi ro pháp lý

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:24 pm
Tags: , , ,

Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát.

Với chủ các ngân hàng và doanh nghiệp, đây là quyết định không thể không hợp thức hóa hoạt động thực tiễn lâu nay của họ, giúp khơi thông nguồn vốn đã có dấu hiệu tồn đọng và phát sinh những khoản chi phí khi giao dịch mà không thể đưa vào sổ sách kế toán. Với một số ý kiến chuyên gia nhìn bằng lăng kính pháp lý hiện hành và những doanh nghiệp đang họat động chủ yếu bằng nguồn vốn vay, mà không thể huy động vốn bằng các nguồn khác, thì mức lãi suất mà họ có thể thỏa thuận hiện nay chắc chắn sẽ phạm Luật dân sự vì đã phải chấp thuận mức lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản (8%/năm) mà Ngân hàng Nhà nước công bố.

Giữa những luồng ý  kiến băn khoăn ấy, những thông tin về các vụ giật hụi, chủ nợ cho vay nặng lãi, doanh nghiệp đút lót cả chục tỷ đồng cho quan chức Ngân hàng để nhận được khoăn vay theo lãi suất quy định của pháp luật vẫn rộn ràng khắp nơi.

Ngoài vụ bị bắt quả tang như ở BIDV, dường như các vụ tranh chấp vay nợ theo lãi suất thỏa thuận nặng lãi bên ngoài không có dấu hiệu sẽ được giải quyết bằng thủ tục pháp lý bởi các cơ quan công quyền với lý do con nợ và chủ nợ tự thỏa thuận cách giải quyết với lý do “hành vi thỏa thuận nợ không được chính quyền công nhận, bất hợp pháp ngay từ khi nó phát sinh”.

Hơn nữa, cần tách bạch hợp đồng tín dụng của các pháp nhân là ngân hàng thương mại với những thỏa thuận dân sự giữa các thể nhân là công dân có năng lực pháp lý và khả năng chịu trách nhiệm pháp luật về hành vi trong cuộc sống hàng ngày. Có như vậy, việc lãi suất ngân hàng vượt ngưỡng 150% lãi suất cơ bản có được coi là hoạt động vi phạm pháp pháp luật hay không hay cơ chế nào để giải quyết những vụ trốn nợ, giật hụi đang xảy ra ngày càng phổ biến.

Ảnh: chaongaymoi.com

Hoạt động ngân hàng là hợp đồng kinh tế, dược đỉều chỉnh bằng các văn bản pháp lý Luật kinh tế, được phán xử tại Tòa kinh tế. Hoặc hành vi bằng các thủ đọan không trung thực để lừa gạt, dụ dỗ, cưỡng bức để bắt một người phải nhận nợ với lãi suất cao; hoặc một người đưa ra cam kết trả lãi suất cao mà không có bằng chứng cho thấy họ có năng lực và khả năng nâng cao giá trị khỏan vay để lấy tiền của người cho vay, là những dấu hiệu vi phạm đạo đức và pháp luật ngay khi bắt đầu thực hiện hành vi bởi động cơ không trung thực. Hành vi đó không thuộc hình thức hợp đồng kinh tế mà phải được coi là dấu hiệu của tội lừa đảo và phải được điều chỉnh bởi luật Dân sự, Luật hình sự.

Ngân hàng như một Nhà máy mà “đầu vào” cũng như  “đầu ra” đều là giá trị tiền. Hoạt động ngân hàng không đơn thuần là nhận tiền gửi rồi lại mang số lượng tiền ấy cho vay để nghiễm nhiên hưởng chênh lệch lãi suất.

Thực tế, có hẳn một Học viện Ngân hàng, nhiều thạc sỹ và tiến sỹ về họat đông ngân hàng trong và ngòai nước đang làm việc trong các tổ chức tín dụng này. Vậy thì, giữa đồng tiền “vào” và đồng tiền “ra” qua cửa ngân hàng chắc hẳn nó phải được xử lý, nó phải được phân tích để ra kết quả về mức lãi suất “vào” và khả năng rủi ro khi cho nó “ra”. Nhân lực ngân hàng phải xử lý các đầu đề bài toán đó và cho ra kết quả tối ưu bảo đảm lãi suất đủ thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội và dòng tiền ra phát huy hiệu quả cho chủ đầu tư và có tỷ suất cao quay trở lại khi đến hạn. Một hoạt động có kết tinh chất xám như thế trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt với các đối thủ không chỉ trong nước mà trong tương lai gần cả với các ngân hàng nước ngoài thì không thể quan niệm và kết luận rằng hoạt động ấy đơn thuần chỉ mang tính cơ học.

Đặc biệt, việc đánh giá rủi ro khi quyết định cho vay của Ngân hàng thực sự là một khoa học đòi hỏi các nhân viên có đạo đức nghề nghiệm vững, trình độ học vấn cao, kinh nghiệm thực tiễn phong phú…

Mọi đánh giá sai đều dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho nguồn vốn của chủ ngân hàng và đánh đổi bằng hiệu quả của rất nhiều dự án khác mới bù đắp được. “Mười đấm có lãi không bằng một cú đạp nợ khó đòi” – đó là câu dằn lòng của các cán bộ tín dụng.

Ngân hàng không thể  tự ý áp đặt lãi suất cả đầu ra lẫn đầu vào vì còn các đối thủ cùng ngành trong và ngoài nước cạnh tranh. Người vay cũng không buộc phải chấp thuận bất cứ lãi suất nào nếu như chi phí vốn không bù đắp được sự sụt giảm doanh thu và không có lãi, họ còn có quyền chọn ngân hàng để vay và cả cơ chế thỏa thuận trực tiếp bằng uy tín thương hiệu và độ tín nhiệm với ngân hàng.

Khi hoạt động của nền kinh tế phải chịu mức chi phí vốn đầu vào cao hơn mặt bằng trước đó thì cũng là động lực buộc các chủ đầu tư và doanh nghiệp vay vốn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay bằng áp dụng công nghệ tiên tiến, bằng cải tiến quản lý nâng cao năng suất và bằng các biện pháp tổng hợp khác để tồn tại và phát triển.

Ngược lại, hoạt động cho vay nặng lãi hầu như là các hoạt động giữa các cá nhân, không được pháp luật công nhận và  bảo vệ khi có tranh chấp. Dó đó, cả hai phía: bên cho vay và bên nhận nợ đều vi phạm Luật dân sự và Luật hình sự ngay từ khi phát sinh giao dịch. Và hầu như, các thể nhân tham gia giao dịch trong hoạt động này không đủ kiến thức đánh giá, nghiên cứu nhu cầu và khả năng hòan trả vốn trong các giao dịch này – ít nhất là từ phía người nhận nợ.

Vì thế, nên coi hoạt động ngân hàng là việc thực hiện các hợp đồng kinh tế và được điều chỉnh bằng các văn bản pháp quy về Kinh tế. Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước không phải chỉ đóng vai trò là khống chế trần lãi vay như quan niệm phổ biến mà còn đóng vai trò trong việc bày tỏ thái độ của Nhà nước về cung tiền, xu hướng điều chỉnh chính sách vĩ mô, quy định lãi suất của các nghiệp vụ tài chính khác: lãi suất tái cấp vốn, vay qua đêm, trái phiếu…

Đừng vì cách hiểu cứng nhắc và không đầy đủ về lãi suẩt cơ bản để làm ách tắc luồng lưu chuyển của tiền tệ trong nền kinh tế. Cơ thể của nền kinh tế sẽ yếu và đột tử nếu như dòng huyết mạch của nó là luồng tiền bị nghẽn mạch.

February 27, 2010

Tham nhũng đất đai: Do cơ chế giám sát chưa mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:38 pm
Tags: , , , ,

TT – Hàng loạt quan chức bị kỷ luật do vi phạm về đất đai, kèm theo đó là những vụ khiếu kiện kéo dài, theo TS Vương Quân Hoàng, Đại học Tổng hợp Brussels, Bỉ, phần lớn là do người ta vẫn bưng bít được thông tin và không nghĩ có thể bị phát hiện. Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Hoàng nói:

TS Vương Quân Hoàng – Ảnh: X.LONG

– Đất đai cần được nhận diện như một đối tượng của tham nhũng để có biện pháp phòng chống tương xứng. Ai được hỏi tính hợp lý của dự án? Ai được hỏi giá đất đền bù bao nhiêu là hợp lý, rồi việc thu hồi, mua bán có làm lợi cho quan chức nào? Khi từng thông tin trên phải được công bố, cơ chế giám sát rõ thì nguồn lực của nhà nước được bảo toàn và người dân cũng được lợi.

* Thưa ông, hiện quyền phân, giao, cho thuê đất đều nằm trong tay các chủ tịch UBND tỉnh, huyện… Phải chăng đó là điều khiến những người có quyền lực rất dễ tham nhũng đất đai?

Tiến sĩ Vương Quân Hoàng – nghiên cứu viên cấp cao của Trung tâm Emile Bernheim, Đại học Tổng hợp Brussels, Bỉ. Ông Hoàng nguyên là cán bộ Ngân hàng Thế giới tại VN từ 1996-2002; bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Brussels năm 2004 về đề tài thống kê kinh tế lượng về chuỗi thời gian tài chính. Hiện TS Hoàng đang tham gia nhiều chương trình, dự án nghiên cứu về kinh tế VN của Trung tâm Emile Bernheim.

– Có nhiều loại quyền lực khác nhau, các ông chủ tịch có quyền lực hành chính, đó chỉ là một trong 12 quyền lực được định nghĩa, trong đó có quyền lực thông tin, quyền lực cưỡng chế, quyền can thiệp, quyền lực chuyên gia, quyền lực tiền bạc, quyền lực do quan hệ…

Tất cả quyền lực trên đều có thể kiếm lợi bất chính từ đất đai. Ông chủ tịch có thể ký, một ông chuyên gia, với quyền góp ý, cũng có thể thu lợi lớn. Nguy hiểm nhất là các quyền lực trên cấu kết với nhau hòng trục lợi.

Vấn đề là khi có những người hưởng lợi thì sẽ có người bị hại. Khi một khu đất từ giá vài trăm ngàn đồng/m2, sau khi chuyển từ tay người nông dân sang người khác bỗng tăng lên vài chục triệu đồng/m2 thì rõ ràng người dân chịu thiệt.

* Sự không sòng phẳng với người dân đang là nguyên nhân chính khiến các quan chức dễ tham nhũng đất đai, như vậy quyền của người dân cần thay đổi?

– Nếu người ta cố tình trục lợi thì thực tế các quan chức có thể tạo bất công ở mọi khâu liên quan đến đất đai. Một mặt, việc thu hồi đất đang mang vóc dáng thị trường là sẽ trả bằng tiền, nhưng mặt khác nó hoàn toàn mang tính chất hành chính, qua quyết định hành chính.

Theo tôi, cần hiểu rõ và hiểu đúng hơn về quyền sở hữu của người dân. Đất đai là của Nhà nước nhưng khi đã trao quyền sử dụng cho một người, Nhà nước đã bắt đầu đấu giá đất theo giá thị trường thì khi thu hồi anh cũng phải có cơ chế thật sự thị trường. Nhưng thực tế hiện nay, chúng ta lại áp dụng hoàn toàn lối tư duy cũ, cách làm không thị trường khi thu hồi đất. Một người đến mua nhà của ông A, nếu cần quá thì phải tăng giá lên để mua được.

Nhưng một quyết định thu hồi đất thì không phải làm như vậy. Nếu chính quyền cần mảnh đất của ông A để cung cấp một dịch vụ công nào đó, thì phải hiểu hàng triệu người đóng thuế phải chấp nhận bù cho ông A một khoản tương xứng để được cung cấp một dịch vụ công đang cần đất kia. Khi công bằng, áp dụng cơ chế thị trường cho mọi loại hình giao dịch đất đai thì quan chức hay ai đó có mua, nhà nước cũng thu được nguồn lợi tương tự.

Đất do người dân khai phá ở An Nhơn, Châu Thành (Đồng Tháp) bị UBND huyện Châu Thành thu hồi giao cho cán bộ nuôi cá  – Ảnh: Đ.VỊNH

* Từ thực tế tham nhũng đất đai cho thấy cơ chế giám sát nguồn lực đất đai chưa đủ mạnh?

– Chính xác là như thế. Muốn giám sát, đầu tiên phải biết thông tin. Nhiều người đã có tài sản cực kỳ lớn nhờ tiếp cận được thông tin sớm. Thế thì mặt trái của nó là đã có người sử dụng quyền chặn luồng thông tin đó. Nếu chuyện lình xình nào được báo chí nhắc đến thì chuyện đó về cơ bản sẽ được giải quyết khá nhanh. Nhưng chỉ thi thoảng mới có những thông tin ra báo chí nên hệ quả là các thiết chế xử lý chỉ được lập để xử khoảng 30-40 vụ/năm. Nó cũng giống chuyện thiết chế để có cuộc ra quân làm đẹp thành phố trong ba ngày, trong khi để sạch trong 365 ngày nó phải rất khác. Nó không thể xuất phát từ việc ra một chỉ thị, hô một quyết tâm.

* Tham nhũng đất đai có xu hướng tăng một phần vì xử lý đôi khi rất khó?

– Đất đai bao giờ cũng tác động đến rất nhiều người nên cần được xử lý một cách nghiêm khắc. Gần đây ở bên Mỹ có một thị trưởng không ra quyết định nhưng bằng ảnh hưởng của mình, ra đề nghị tác động khiến một con đường vòng qua một khu casino. Chỉ cần chứng minh có quan hệ đủ gần để có thể nghi ngờ anh có động cơ mờ ám, ông thị trưởng đã ngay lập tức bị mất chức. Cơ chế giải quyết của họ khắt khe đến như vậy nhưng cũng chưa chắc đã đảm bảo 100% ngăn ngừa được tham nhũng liên quan đến đất đai. Nhưng ít nhất cơ chế giải quyết những bất minh về đất đai của những công chức VN, theo tôi, cũng cần được giải quyết mạnh mẽ như thế.

CẦM VĂN KÌNH – XUÂN LONG thực hiện

Next Page »

Blog at WordPress.com.