Ktetaichinh’s Blog

May 18, 2010

“Hạ giá VND hại nhiều hơn lợi”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:26 am
Tags:

Sau khi có tin đồn về việc Ngân hàng Nhà nước sẽ điều chỉnh giảm giá VND 4%, ngày 13/5, Ngân hàng Nhà nước đã khẳng định đây là thông tin thất thiệt không có cơ sở, gây tâm lý hoang mang trên thị trường.

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế độc lập Bùi Kiến Thành xung quanh chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất đối với khả năng thanh khoản của nền kinh tế vào thời điểm hiện nay.

Đồng Euro và Bảng Anh đang giảm giá được hy vọng sẽ thúc đẩy xuất khẩu và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của các nước sử dụng những đồng tiền này. Ngân hàng Nhà nước vừa khẳng định chưa có chủ trương điều chỉnh tỷ giá, ý kiến của ông về quyết định này?

Nền kinh tế của các nước khác và Việt Nam hoàn toàn khác nhau, và những vấn đề gặp phải cũng là khác nhau. Trong khi Việt Nam là nền kinh tế dựa trên nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài quá nhiều, một nền kinh tế gia công thì các nước khác không lệ thuộc nhập khẩu.

Do đó, các nước khác sử dụng biện pháp giảm giá đồng tiền, để đồng tiền rẻ hơn, hàng hóa sản xuất ra có tính cạnh tranh hơn khi xuất khẩu. Nhưng, đấy là lý luận của những nền kinh tế đã phát triển chứ không phải của Việt Nam.

Tại Việt Nam, những mặt hàng xuất khẩu chiến lược như may mặc, giày dép có hàm lượng nguyên liệu đầu vào từ 80% đến 90% là nhập khẩu. Do đó, khi hạ giá VND, giá hàng hóa nguyên liệu nhập khẩu sẽ cao. Với nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao trong giá thành sản xuất, khi đồng VND giảm, giá thành sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tăng.

Do đó, nếu chỉ có 10-20% nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu là nội địa, việc hạ giá VND sẽ làm hại nhiều hơn làm lợi cho chúng ta. Thêm vào đó, việc hạ giá VND cũng không có lợi cho việc xuất khẩu gạo, cà phê, khoáng sản.

Đáng chú ý, việc hạ giá VND còn làm tăng giá hàng tiêu dùng nhập khẩu, vì vậy sẽ đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lên cao.

Có ý kiến cho rằng nên tăng lãi suất để giảm lạm phát, ông có bình luận gì?

Hiện nay, Việt Nam không hề có lạm phát.

Lập luận lạm phát hiện nay là do hiểu lầm hai khái niệm lạm phát và tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Thực ra, lạm phát và chỉ số giá tiêu dùng tăng là không đồng nghĩa.

Lạm phát là lạm dụng quyền phát hành để đẩy ra nền kinh tế  nhiều tiền quá, “chạy qua” một số hàng hóa, và như vậy, làm cho nền kinh tế quá nhiều phương tiện thanh toán mà không có đủ hàng hóa mua.

Trong khi đó, tình trạng của nền kinh tế chúng ta hiện nay là đang thiếu tiền. Các ngân hàng thương mại không có đủ tiền cho doanh nghiệp vay.

Chỉ số giá tiêu dùng tăng là do một số nguyên nhân khác. Thứ  nhất lãi suất cơ bản tăng từ trong tháng 11/2009, đẩy lãi suất của các ngân hàng thương mại tăng lên từ 10,5% lên 12%. Nhưng thực chất không phải ở mức 10,5% – 12%, các ngân hàng thương mại có nguồn vốn để bù lãi suất, và lãi suất cho vay ưu đãi ở mức 6,5%.

Khi Chính phủ quyết định chấm dứt chính sách hỗ trợ lãi suất, giá vốn đi vay của một số doanh nghiệp tăng vọt lên 12%. Thực tế còn cao hơn con số 12%, ở mức 14-15%, thậm chí 18-19%. Như vậy, chi phí vốn vay đã tăng gấp nhiều lần.

Lãi suất đầu vào tăng đẩy giá thành sản xuất tăng. Do đó, có thể nói, việc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% đã đẩy giá thành tăng lên nhiều. Kết quả là, giá tiêu dùng tăng. Như vậy, quyết định tăng lãi suất để chống lạm phát nhưng lại làm tăng chỉ số CPI.

Thứ hai, việc hạ giá đồng VND làm tăng giá nguyên liệu đầu vào sản xuất và tăng giá hàng hóa tiêu dùng trực tiếp. Kết quả là, chỉ số giá tiêu dùng tăng. Thứ ba, việc tăng CPI cũng có một phần do tính chu kỳ của việc tăng giá trong dịp tết. Thứ tư, giá cả các mặt hàng thiết yếu như điện, than, nước, xăng dầu đều tăng cũng đóng góp vào sức tăng của CPI.

Như vậy, việc tăng CPI trong quý 1 vừa qua không phải do lượng cung tiền nhiều.

Vậy theo ông, nên giảm tốc độ tăng giá tiêu dùng theo cách nào?

Có người cho rằng, khi CPI tăng cần giải quyết bằng cách tăng lãi suất, khống chế lượng tiền vào nền kinh tế. Điều này không đúng với nền kinh tế Việt Nam.

Ở các nền kinh tế khác, lưu lượng tín dụng tiêu dùng chiếm 60-70%, người dân ở các nước khác mua cái gì cũng vay tiền. Chỉ 30% lưu lượng tín dụng là của sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Vì vậy, các nước khác áp dụng biện pháp tăng lãi suất để “khóa” tiêu dùng, giúp giảm giá hàng hóa, cầu ít đi vì ít tiền.

Vấn đề ở Việt Nam rất khác. Tín dụng tiêu dùng ở Việt Nam liệu có chiếm được 10%? Hơn 90% là tín dụng cho sản xuất và kinh doanh. Lãi suất tăng không tác động đến giá cả, mà lại làm tăng chi phí sản xuất, do đó phản tác dụng.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại không huy động được vốn trong nhân dân, lãi suất đầu vào cao, do đó ngân hàng thương mại muốn cho vay có lãi phải tăng lãi suất cho vay. Thực tế, lãi suất cao thấp chỉ đóng một phần trong quyết định gửi tiền vào ngân hàng của người dân. Có thể có những kênh đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, hoặc người dân giữ tiền dưới kênh khác để khỏi mất giá bằng cách mua vàng, mua USD cất đi. Khi ngân hàng không huy động được vốn thì không có tiền cho vay. Cái gì hiếm thì đắt.

Vai trò của Ngân hàng Nhà nước là điều tiết lưu lượng tiền tệ đủ để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững, không dư để tạo ra lạm phát và không thiếu để tạo ra thiểu phát. Vấn đề là phải bắt mạch được nền kinh tế đang thừa hay thiếu tiền. Vấn đề này có thể giải quyết được. Mọi quốc gia đều đo lưu lượng tiền tệ qua các chỉ số, để biết được dùng bao nhiêu tiền là đủ.

Ngân hàng Nhà nước không cần phải vay của ai cũng có thể cho vay lại được vì  Ngân hàng Nhà nước có quyền phát hành giấy bạc, tín dụng, không phải trả lãi suất. Ngân hàng Nhà nước là người cho vay cuối cùng. Nếu ngân hàng thương mại không huy động được của người dân, Ngân hàng Nhà nước phải tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại. Nếu không có tín dụng, cả nền kinh tế sẽ đứng lại.

Điều cần thiết hiện nay là phải có đủ tiền với lãi suất hợp lý. Nếu chính phủ quyết định Ngân hàng Nhà nước phải mở van, cho ngân hàng thương mại vay vốn cần thiết để có đủ thanh khoản, Ngân hàng Nhà nước có thể hạ lãi suất tái cấp vốn, điều này hoàn toàn nằm trong quyền lực của Ngân hàng Nhà nước.

Một điều đáng xem xét là Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại nhưng cũng cần tính đến việc giải ngân các nguồn vốn này theo những dự án có đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, nên xem xét giải ngân dựa trên dự án không phải dựa trên đối tượng

Advertisements

March 14, 2010

Kiện Việt Nam bán phá giá tăng mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:19 pm
Tags: , ,

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay.

Dệt may, đồ gỗ, thép và đinh sản xuất từ Việt Nam hiện đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá từ thị trường Âu Mỹ trong năm 2010.

Bên cạnh tôm, cá, túi nhựa, da giày, một số mặt hàng mới như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa có thể sắp bị điều tra.

Đó là nhận định của chuyên gia Việt Nam và Hoa Kỳ từ cuộc hội thảo tìm giải pháp đối phó trước nhiều vụ kiện chống phá nhắm vào hàng xuất khẩu Việt Nam.

Cuộc hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và công ty luật Hoa Kỳ Squire Sanders tổ chức.

Từ giày dép, cá ba sa, nguy cơ bị kiện chống phá giá nay lan sang túi nhựa, đồ gỗ, ốc và đinh, vít, luật sư Peter John Koenig từ công ty Squire Sanders cho hay. “Những mặt hàng này thuộc diện khai phá thị trường của Việt Nam, chưa phải là sản phẩm kim ngạch lớn,” ông Koenig nói.

“Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng.

“Hiện tôm đông lạnh của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ đang bị rà soát năm thứ 4, mặt hàng cá đang rà soát cuối kỳ, và có khả năng áp thuế thêm 5 năm nữa,” luật sư Koenig được trích lời nói tại cuộc hội thảo.

Lý do đồ gỗ Việt Nam đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá cao, theo ông Koenig, do hàng xuất sang Hoa Kỳ tăng mạnh. “Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ từ Việt Nam tăng 10 lần trong 10 năm qua,” ông nói. Mặt khác do Việt Nam ở gần Trung Quốc, nước được coi là tâm điểm của các vụ kiện chống phá giá trên thế giới, “mỗi khi Trung Quốc có sản phẩm nằm trong diện điều tra chống phá giá, các quốc gia khác có hàng xuất khẩu tương tự luôn nằm trong diện có nguy cơ cao.”

Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng

Luật sư Peter Koenig

Năm qua doanh nghiệp Việt Nam phải đối diện với “con số kỷ lục” các vụ kiện phòng vệ thương mại, báo cáo tại hội thảo nói.

Kiện khắp nơi

7 vụ ở 6 thị trường khác nhau, theo VCCI, 2009 là năm bận rộn và nhức đầu cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

VCCI cho rằng khi kinh tế thế giới rơi vào kỳ suy giảm, số vụ kiện nhắm đến hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ gia tăng. Và không chỉ từ Âu Mỹ, nơi nhà sản xuất hay dò xét sản phẩm giá rẻ từ Việt Nam. Kiện Việt Nam chống phá giá hiện giờ còn xuất phát từ Ấn Độ và Brazil.

“Phía Ấn Độ kiện các doanh nghiệp thép của Việt Nam, Brazil kiện doanh nghiệp giày dép, dù hai nước này xuất siêu sang Việt Nam,” một quan chức của VCCI nói tại cuộc hội thảo.

Trong 10 năm qua số vụ kiện chống phá giá nhắm vào hàng Việt Nam đã lên đến 42. Chuyên gia dự đoán thời gian tới sẽ còn thêm kiện tụng do kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.

Tiến sĩ Peter Koenig, luật sư cao cấp của Văn phòng luật Squire Sanders cho rằng công ty Việt Nam “chưa có nhiều kỹ năng” đối phó với kiện chống phá giá, dù vụ kiện đầu tiên như ai cũng biết là Hoa Kỳ cáo buộc Việt Nam bán phá giá cá da trơn diễn ra đã 10 năm nay.

Chuyên gia Mỹ nói đến khả năng công ty Việt Nam chung sống lâu dài với các vụ kiện thương mại, khi xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng, trong lúc Việt Nam tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu.

“Nếu cần thiết Việt Nam nên tìm cách kiện lại, chứ đừng kêu ca, than phiền, kêu gọi quốc tế thương cảm cho nhân công Việt Nam như trước đây,” mạng VietnamNet đưa tin.

March 13, 2010

Fitch Freaking Out About A Sovereign Crisis In Vietnam- Barclays thinks the downgrade is ridiculous

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:53 pm
Tags: , ,

There’s still confidence in the dong, trade data is improving, the nation’s financial position is manageable, and the central bank is actually tightening policy ever so quietly:

Economist Prakriti Sofat @ Barclays Capital:

First, we do not believe domestic confidence in the VND has deteriorated, although the currency remains weak. When the State Bank of Vietnam devalued the currency in early February, spot VND did not immediately jump to the top end of the new band, as was the case in previous devaluations, which suggests underlying pressures were not that stretched. Also the grey-market rate is currently trading fairly close to the official rate, indicating improved FX demand-supply dynamics. The closure of the bulk of the gold trading floors ahead of the official 30 March deadline is also helping.

Second, the trade deficit has improved since the start of the year. The deficit was USD1.8bn during January-February 2010, versus FDI disbursements of USD1.1bn and healthy remittances inflows ahead of Lunar New Year in February. For 2010, we expect FDI disbursements to be USD11bn and remittances of USD7bn, which should more than cover the trade deficit.

Third, Vietnam’s external position remains fairly healthy, with external debt amounting to roughly 30% of GDP and the bulk being multilateral and bilateral loans with long maturity profile. Short-term external liabilities stand at USD4.4bn as of Q3 09, according to World Bank data. Fitch reported that FX reserves were USD16bn in October – suggesting a cover ratio of nearly 4x. By comparison, Indonesia’s short-term external debt was USD29bn as of Q3 09, according to World Bank data, versus FX reserves of USD62.3bn – a cover ratio of 2.1x.

Fourth, the central bank is tightening policy quietly. It removed the 12% interest rate cap on medium- to long-term loans in late February. This implies an effective tightening in policy, with newswires indicating that lending interest rates have risen as high as 19%. The current policy move will be supported by previously announced tightening measures that took effect in January. These include a halving of the government interest rate subsidy for medium- to long-term loans to 2pp; eliminating he subsidy for short-term loans; and a decree that only 30% of short-term deposits can be used for medium/long-term lending, from 40% previously.

Fitch might be missing the fact that Vietnam’s long-term prospects are very bright. For Vietnam, the economic pie is highly likely to grow substantially over time, which means a lot of near-term problems could be eventually solved by the simple benefits of rapid economic growth.

Add my twitter for more investor-related analysis like this: @vincefernando

Kiện Việt Nam bán phá giá tăng mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:27 pm
Tags: , ,

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay.

Dệt may, đồ gỗ, thép và đinh sản xuất từ Việt Nam hiện đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá từ thị trường Âu Mỹ trong năm 2010.

Bên cạnh tôm, cá, túi nhựa, da giày, một số mặt hàng mới như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa có thể sắp bị điều tra.

Đó là nhận định của chuyên gia Việt Nam và Hoa Kỳ từ cuộc hội thảo tìm giải pháp đối phó trước nhiều vụ kiện chống phá nhắm vào hàng xuất khẩu Việt Nam.

Cuộc hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và công ty luật Hoa Kỳ Squire Sanders tổ chức.

Từ giày dép, cá ba sa, nguy cơ bị kiện chống phá giá nay lan sang túi nhựa, đồ gỗ, ốc và đinh, vít, luật sư Peter John Koenig từ công ty Squire Sanders cho hay. “Những mặt hàng này thuộc diện khai phá thị trường của Việt Nam, chưa phải là sản phẩm kim ngạch lớn,” ông Koenig nói.

“Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng.

“Hiện tôm đông lạnh của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ đang bị rà soát năm thứ 4, mặt hàng cá đang rà soát cuối kỳ, và có khả năng áp thuế thêm 5 năm nữa,” luật sư Koenig được trích lời nói tại cuộc hội thảo.

Lý do đồ gỗ Việt Nam đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá cao, theo ông Koenig, do hàng xuất sang Hoa Kỳ tăng mạnh. “Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ từ Việt Nam tăng 10 lần trong 10 năm qua,” ông nói. Mặt khác do Việt Nam ở gần Trung Quốc, nước được coi là tâm điểm của các vụ kiện chống phá giá trên thế giới, “mỗi khi Trung Quốc có sản phẩm nằm trong diện điều tra chống phá giá, các quốc gia khác có hàng xuất khẩu tương tự luôn nằm trong diện có nguy cơ cao.”

Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng

Luật sư Peter Koenig

Năm qua doanh nghiệp Việt Nam phải đối diện với “con số kỷ lục” các vụ kiện phòng vệ thương mại, báo cáo tại hội thảo nói.

Kiện khắp nơi

7 vụ ở 6 thị trường khác nhau, theo VCCI, 2009 là năm bận rộn và nhức đầu cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

VCCI cho rằng khi kinh tế thế giới rơi vào kỳ suy giảm, số vụ kiện nhắm đến hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ gia tăng. Và không chỉ từ Âu Mỹ, nơi nhà sản xuất hay dò xét sản phẩm giá rẻ từ Việt Nam. Kiện Việt Nam chống phá giá hiện giờ còn xuất phát từ Ấn Độ và Brazil.

“Phía Ấn Độ kiện các doanh nghiệp thép của Việt Nam, Brazil kiện doanh nghiệp giày dép, dù hai nước này xuất siêu sang Việt Nam,” một quan chức của VCCI nói tại cuộc hội thảo.

Trong 10 năm qua số vụ kiện chống phá giá nhắm vào hàng Việt Nam đã lên đến 42. Chuyên gia dự đoán thời gian tới sẽ còn thêm kiện tụng do kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.

Tiến sĩ Peter Koenig, luật sư cao cấp của Văn phòng luật Squire Sanders cho rằng công ty Việt Nam “chưa có nhiều kỹ năng” đối phó với kiện chống phá giá, dù vụ kiện đầu tiên như ai cũng biết là Hoa Kỳ cáo buộc Việt Nam bán phá giá cá da trơn diễn ra đã 10 năm nay.

Chuyên gia Mỹ nói đến khả năng công ty Việt Nam chung sống lâu dài với các vụ kiện thương mại, khi xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng, trong lúc Việt Nam tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu.

“Nếu cần thiết Việt Nam nên tìm cách kiện lại, chứ đừng kêu ca, than phiền, kêu gọi quốc tế thương cảm cho nhân công Việt Nam như trước đây,” mạng VietnamNet đưa tin.

March 2, 2010

USD tự do tăng mạnh: áp lực đè nặng DN

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:42 am
Tags: , , ,

01/03/2010 17:05:20

– Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ từ 17.941 lên 18.544 (khoảng 3,3%), giá đô la trên thị trường tự do cũng tăng mạnh. Giao dịch mua vào bán ra sáng nay (1/3) giao động khoảng 19.450 – 19.500 đồng/USD, tăng từ 50 – 70 đồng/USD.

Theo ông Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính), sức ép về cân đối cung cầu ngoại tệ sẽ buộc phải phá giá. Phá giá đồng VN thì lại làm tăng giá hàng nhập khẩu, dẫn đến giá cả trong nước cũng tăng theo làm đồng VN mất giá..

Áp lực tỷ giá

Ông đánh giá thế nào với việc tăng tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ lên 3,3%?

Mô tả ảnh.
Tiến sĩ Vũ Đình Ánh

Việc tăng tỷ giá này của ngân hàng nhằm mục đích bình ổn giá đô la Mỹ, kéo giá đô la trong ngân hàng và thị trường tự do gần nhau để giảm tình trạng ngoại tệ chảy khỏi kênh ngân hàng.

Ngoài ra, chúng ta phải điều chỉnh tỷ giá vì thâm hụt cán cân quá lớn. Tháng 1, tháng 2 mới chỉ là những tháng khởi động, nhưng từ tháng 3 trở đi, nhập siêu sẽ tăng lên rất lớn.

Nhập siêu như thế lại gây áp lực lên tỷ giá vì mất cân đối về ngoại tệ, các nguồn ngoại tệ hiện nay mình vẫn chưa kiểm soát được. Bắt các Tổng công ty bán nhưng họ cũng chỉ bán một phần nhỏ, còn ngoại tệ ngoài luồng thì chịu, mà trên tài khoản không phải tất cả bán hết.

Để hạn chế tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất tiền gửi bằng tiền đô là 1%, nhưng thực tế hiện nay vẫn tồn tại cơ chế 2 giá, kể cả giá tiền gửi và cho vay. Cho vay danh nghĩa là theo mức lãi suất quy định nhưng nhiều khi để hấp dẫn, nhiều ngân hàng thương mại lại cho vay với mức giá khác. Để loại bỏ cơ chế 2 giá này thì rất khó vì hiện nay chúng ta vẫn không đủ ngoại tệ.

Việc tăng tỷ giá này có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động xuất nhập khẩu?

Hiện nay các ngân hàng thương mại đều đồng loạt tăng trần cả huy động và cho vay. Theo quy luật, cứ phá giá thì sẽ có lợi cho xuất khẩu và có hại cho nhập khẩu.

Tuy nhiên, xuất khẩu ở Việt Nam, do không khống chế được về giá và kết cấu của xuất khẩu là khai thác nguyên liệu thô để bán, nên thu được nhiều hay ít, cho dù có phá giá thì cũng chỉ thêm được tiền Việt Nam, chứ không có giá trị về mặt cạnh tranh quốc tế. Mình không thể hạ giá bằng đô la thấp hơn vì đây là tỷ giá của mình thay đổi. Nói chung phá giá không ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu.

Tăng tỷ giá nhằm bình ổn thị trường đô la.
Tăng tỷ giá nhằm bình ổn thị trường đô la.

Trong xuất khẩu các nhóm hàng khác nhau cũng chịu những tác động khác nhau. Đối với nhóm hàng khai khoáng (dầu thô, gạo,…) thì càng điều chỉnh tỷ giá thì doanh nghiệp càng nộp ngân sách nhiều tiền hơn.

Tuy nhiên, với một số mặt hàng phải nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu như may mặc, da dày, thì điều chỉnh tỷ giá không tác động là mấy, do nhóm hàng này thực chất không làm lợi được mấy, chủ yếu là đầu vào tăng, sau đó họ lại gia công một chút rồi bán thì hàm lượng giá trị gia tăng cũng không đáng kể.

Về nhập khẩu, phá giá càng không ảnh hưởng nhiều. Khi điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái thì giá bán của hàng nhập khẩu ở VN sẽ cao, thế nhưng hàng nhập khẩu của VN thì giá cao thế chứ cao nữa vẫn dùng, vì hàng trong nước không thay thế được. Do đó, không giảm về tiêu dùng.

Do vậy mỗi lần điều chỉnh tỷ giá hối đoái là giá lại tăng, và tăng đầu tiên là hàng hóa nhập khẩu. Hàng hóa nhập khẩu lại là đầu vào cho những sản xuất khác, kéo theo giá thành của nhiều sản phẩm cũng tăng.

Đối với doanh nghiệp, tỷ giá tăng có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh không?

Ở VN hiện nay, một mặt cơ quan quản lý không cho mua đô la chợ đen, chỉ được bán. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhập khẩu hàng về thì cũng không ai hỏi nguồn ngoại tệ ở đâu và bản thân ngân hàng không cung cấp đủ nên khác gì bảo người ta ra ngoài mà mua…”

Đối với doanh nghiệp, khi họ không mua được đô la ở trong ngân hàng thì họ sẽ phải mua ở ngoài thị trường tự do. Giá đô la ở ngoài tăng cao thì họ sẽ mua với giá cao, sau đó cũng bán với giá cao.

Họ sẽ chỉ thiệt ở chặng thứ hai khi bán rồi lại mua đô la để nhập. Nhưng thực tế cái đó đều được tính trong cả một chu trình kinh doanh, chứ nếu thiệt thì doanh nghiệp sẽ không nhập hàng về để chịu thua lỗ.

Còn việc mua đô la trong ngân hàng thì cũng chưa chắc đã mua được với mức giá đúng của nó. Vì vậy, họ sẵn sàng mua đô la ở bất cứ đâu miễn là đủ ngoại tệ để nhập hàng. Tuy nhiên, nếu mua ở ngoài chợ đen thì sẽ khó khăn về mặt hạch toán.

Ở VN hiện nay, một mặt cơ quan quản lý không cho mua đô la chợ đen, chỉ được bán. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhập khẩu hàng về thì cũng không ai hỏi nguồn ngoại tệ ở đâu và bản thân ngân hàng không cung cấp đủ nên khác gì bảo người ta ra ngoài mà mua.

Muốn cân đối nguồn đô la hiện nay, theo tôi cách tốt nhất là hạn chế nhập siêu.

Xăng tăng giá, DN giải thích “cho vui”

Hiện nay giá xăng thành phẩm đang giảm, trong khi giá xăng bán tại các đại lý lại tăng, điều này có phải bị tác động với việc tăng tỷ giá?

Giá bán lẻ xăng dầu hiện nay có khoảng 11 bộ phận cấu thành, tỷ giá là một phần. Nhà nước cho phép doanh nghiệp được quyết định giá xăng theo nguyên tắc cộng trừ 7% .

Nhiều doanh nghiệp cho rằng do giá xăng thế giới thay đổi nên tăng giá. Nhưng giá xăng không thay đổi trong thời điểm mà trong thời gian dài, tương ứng với lượng dự trữ xăng dầu của VN, trước kia là 20 ngày, bây giờ là 30 ngày. Nó phải biến động giá trong một chu kỳ như thế mới coi là tỷ giá là một yếu tố.

Thực chất 10 yếu tố còn lại không ai đưa ra giải thích nên mỗi lần DN xăng dầu giải thích như thế cũng chỉ là nói cho vui, không có nghĩa giá xăng dầu thế giới tăng 10% thì VN cũng tăng 10%, còn các yếu tố khác như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tỷ lệ hoa hồng trích cho các đại lý và là đại lý nhiều cấp thì sao.

Việc tăng tỷ giá này có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế và chính sách tiền tệ?

Sức ép về cân đối cung cầu ngoại tệ sẽ buộc phải phá giá. Phá giá đồng VN thì lại làm tăng giá hàng nhập khẩu, dẫn đến giá cả trong nước cũng tăng theo làm đồng VN mất giá.

Đồng VN mất giá lại tạo sức ép lên tỷ giá, tạo ra vòng xoáy. Khi đồng VN liên tục mất giá thì người ta chối bỏ đồng VN và quay sang ngoại tệ khác hoặc dự trữ vàng, và như thế đồng VN sẽ càng mất giá.

  • Nguyễn Yến (thực hiện)

February 11, 2010

Ngân hàng Nhà nước tăng giá đô la Mỹ thêm 3,3%

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:29 am
Tags: , , , ,

(TBKTSG Online) – Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 10-2 đã quyết định tăng mạnh tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ từ 17.941 lên 18.544, tương đương với mức tăng 3,3% và chính thức áp dụng mức tỷ giá này cho ngày 11-2.

>>E ngại kiều hối chảy khỏi kênh ngân hàng

Như vậy, ngày 11-2, các ngân hàng thương mại có thể tăng giá mua và bán đô la Mỹ lên mức cao nhất là 19.100 đồng/đô la Mỹ, tức cao hơn 3% so với tỷ giá liên ngân hàng. Mức giá này cũng gần với giá đô la Mỹ trên thị trường tự do, những ngày gần đây xoay quanh mức 19.150 – 19.250 đồng giá mua vào, bán ra.

Trong cùng ngày, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Hiện nay, lãi suất niêm yết cho tiền gửi bằng đô la Mỹ tại các ngân hàng dao động trong khoảng 2,3% – 4%/năm đối với ngân hàng thương mại nhà nước và 3,3% – 4,5%/năm đối với ngân hàng thương mại cổ phần.

Vị trí đặt quảng cáo

Những động thái trên của Ngân hàng Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu bình ổn giá đô la Mỹ, kéo giá đô la Mỹ trong ngân hàng và thị trường chợ đen gần nhau để giảm tình trạng ngoại tệ chảy khỏi kênh ngân hàng.

Việc quy định lãi suất tối đa bằng đô la Mỹ đối với các tổ chức kinh tế cũng nhằm hạn chế việc các công ty thu được ngoại tệ nhưng không bán lại cho ngân hàng mà để trên tài khoản hy vọng giá sẽ tăng. Việc găm giữ đã khiến các ngân hàng lâm vào cảnh khó khăn về nguồn ngoại tệ để bán cho các doanh nghiệp có nhu cầu, gián tiếp đẩy giá đô la trên thị trường chợ đen lên cao.

Theo số liệu tính đến ngày 30-11-2009 của Ngân hàng Nhà nước, số dư tiền gửi có kỳ hạn của các tập đoàn, tổng công ty lớn vào khoảng 1,2 tỉ đô la Mỹ và số dư tiền gửi không kỳ hạn là khoảng 700 triệu đô la. Tổng lượng ngoại tệ trên tài khoản của các tổ chức, doanh nghiệp gửi ngân hàng vào khoảng 10,3 tỉ đô la Mỹ. Sau khi Chính phú có yêu cầu buộc các tập đoàn kinh tế nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, hệ thống ngân hàng đã mua được 450 triệu đô la Mỹ tính đến đầu tháng 2.

Giá vàng tăng vọt sau quyết định điều chỉnh tỷ giá

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 11:15
Giá vàng trong nước sáng nay đội thêm 500.000 đồng/chỉ so với sáng qua, chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng mạnh

Giá vàng trong nước sáng nay đội thêm 500.000 đồng/chỉ so với sáng qua, chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng mạnh trên cả hai thị trường ngân hàng và tự do sau quyết định điều chỉnh tỷ giá ngày 10/2 của Ngân hàng Nhà nước.

Trên thị trường thế giới, áp lực giảm giá vẫn đè nặng lên vàng sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) bàn chuyện rút lui khỏi các kế hoạch kích thích kinh tế.

Sáng nay, 28 Tết, giá vàng trong nước đứng phổ biến ở mức 26,30-26,40 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,50-26,60 triệu đồng/lượng (bán ra). So với giá sáng qua, giá vàng trong nước hiện đã tăng thêm khoảng 500.000 đồng/lượng. Như vậy, tới thời điểm này, giá vàng trong nước đã phục hồi trở lại bằng với mức giá ở thời điểm cách đây một tuần, trước khi sụt giảm chóng mặt vào ngày thứ Sáu tuần trước.

Việc giá vàng trong nước tăng mạnh trong sáng nay không bắt nguồn từ sự biến động của giá vàng thế giới, mà chủ yếu là kết quả của việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá.

Ngày 10/2, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 3/2010/TT-NHNN, quy định tỷ giá bình quân liên ngân hàng USD/VND áp dụng cho ngày 11/2/2010 là 18.544 VND/USD, tăng 603 VND/USD (tương đương hơn 3%) so với ngày 10/2. Trước đó, mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng 1 USD tương đương 17.941 VND đã được duy trì trong một khoảng thời gian tương đối dài.

Như vậy, với biên độ biến động tỉ giá là +/-3%, ngân hàng có thể mua/bán USD với giá trần là 19.100,32 VND/USD và giá sàn là 17.987,68 VND/USD.

Sáng nay, tại Ngân hàng Vietcombank, tỷ giá USD/VND mua vào dao động ở mức 18.495 – 18.595 đồng “ăn” 1 USD và giá niêm yết bán ra dao động ở mức từ 18.800 – 19.000 đồng đổi 1 USD. Trước đó, tỷ giá USD/VND tại ngân hàng này đã đứng yên ở mức 18.469 VND/USD (mua vào) và 18.479 USD/VND (bán ra) trong suốt thời gian tỷ giá liên ngân hàng đứng ở mức 17.941 VND/USD.

Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do sáng nay cũng tăng lên mức 19.500 VND/USD từ mức trên 19.200 VND/USD mấy ngày gần đây.

Như một hệ quả tất yếu, giá vàng trong nước đã tăng theo tỷ giá USD/VND.Ngay từ thời điểm mở cửa, giá vàng SBJ tại hệ thống Sacombank đã được điều chỉnh lên mức 26,43 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,45 triệu đồng/lượng (bán ra).

Tại thị trường Hà Nội, giá vàng SJC giao dịch tại Phú Quý lúc gần 10h30 là 26,35 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,60 triệu đồng/lượng (bán ra). Tại PNJ Hà Nội, giá vàng Phượng Hoàng PNJ-DongA Bank tương ứng lần lượt là 26,28 triệu đồng/lượng và 26,50 triệu đồng/lượng.

Tại thị trường Tp.HCM, giá vàng SJC do Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) công bố trên website doanh nghiệp là 26,33 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,48 triệu đồng/lượng (bán ra).

Giá vàng thế giới lúc 10h25 sáng nay là gần 1.079 USD/oz, tăng hơn 7 USD/oz so với giá đóng cửa phiên đêm qua tại New York. Mức giá này quy đổi theo tỷ giá USD/VND thị trường tự do, cộng thêm thuế và các chi phí khác, tương ứng với khoảng 25,65 triệu đồng/lượng.

Như vậy, giá vàng trong nước hiện đang đứng cao hơn giá vàng thế giới khoảng 800.000-gần 1 triệu đồng/lượng. Theo một số nhà kinh doanh vàng, giá vàng trong nước đang bị đẩy lên so với giá thế giới do lực cầu vàng vật chất trong nước mạnh ngay ở thời điểm sát Tết.

Bà Nguyễn Thị Cúc, Phó tổng giám đốc PNJ cho biết, 80% khách giao dịch tại hệ thống cửa hàng PNJ trên toàn quốc mấy ngày gần đây là khách mua, 20% là khách bán. “Vàng miếng bán rất chạy sau khi giá vàng trong nước giảm mạnh tuần trước. Mỗi ngày chúng tôi bán 3.000-4.000 lượng”, bà Cúc cho biết.

Trong đợt nhập khẩu vàng đầu năm nay, mới chỉ có SJC được cấp phép và đã nhập về 4 tấn vàng. Một số doanh nghiệp khác cho biết, họ đã xin cấp phép nhưng chưa được Ngân hàng Nhà nước cấp phép.

Giá vàng thế giới đêm qua suy yếu trở lại do đồng USD tăng giá. Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tại New York giảm 6,9 USD/oz (0,6%), còn 1.071,7 USD/oz, sau khi đã có thời điểm giảm xuống mức 1.061,4 USD/oz trong phiên.

Giá vàng tăng do đầu cơ

TTO – Buổi sáng 10-2, giá bán vàng miếng SJC tại các cửa hàng vàng phổ biến ở 25,8 -25,9 triệu đồng/lượng trong khi tại SJC chỉ 24,45 triệu đồng/lượng.

Giá vàng tăng trở lại do hai nguyên nhân: giá vàng thế giới tăng trở lại và để hạn chế tình trạng đầu cơ.

Giới đầu cơ mua vàng

SJC cho biết chỉ trong bốn ngày qua đã bán ra thị trường 4,3 tấn vàng – Ảnh: Tr.Huỳnh

Trong những ngày qua người dân không mua vàng mà chủ yếu là các tiệm vàng tư nhân, công ty vàng mua, sau đó bán lại ngoài thị trường với chênh lệch vài trăm nghìn đồng/lượng. Buổi sáng 10-2, giá bán vàng miếng SJC tại các cửa hàng vàng phổ biến ở 25,8-25,9 triệu đồng/lượng trong khi tại SJC chỉ 24,45 triệu đồng/lượng, các đơn vị kinh doanh này đã cử nhiều người đến xếp hàng tại SJC để đợi mua vàng.

Tuy nhiên sau đó khi SJC tăng giá lên ngang bằng thị trường, lập tức đám đông giải tán. Như vậy có thể thấy người dân có không có nhu cầu mua vàng cất giữ mà chỉ có giới đầu cơ tranh thủ chênh lệch giá giữa SJC và thị trường để mua bán liền tay hưởng chênh lệch.

Đại diện Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) cho biết chỉ trong bốn ngày qua đã bán ra thị trường 4,3 tấn vàng, tương đương hơn 100.000 lượng, trị giá hơn 2.000 tỷ đồng. Đại diện SJC cũng cho biết trong tuần trước các đơn vị kinh doanh rất ít giao dịch, tuy nhiên khi SJC kéo giá xuống thì xảy ra tình trạng rồng rắn xếp hàng.

Thời điểm trước SJC chấp nhận cho các đơn vị kinh doanh chốt giá qua điện thoại sau đó nộp tiền vào tài khoản SJC rồi đến  khi nhận hàng. Tuy nhiên bốn ngày trở lại công ty chỉ chốt giá bán khi nhận tiền nhằm tránh nhu cầu ảo vì nhiều đơn vị chốt giá nhưng không nộp tiền tạo nhu cầu giả tạo cho thị trường nhằm đẩy giá lên.

Công ty SJC cũng khẳng định không có tình trạng thu tiền rồi ghi phiếu hẹn như phản ánh của một số đơn vị mà sau khi người mua nộp tiền xong vào tài khoản thì  SJC sẽ giao hàng ngay. Trong số nhiều người xếp hàng rồng rắn tại SJC sáng 10-2 nhiều trường hợp là chờ người nhà gom tiền chứ không phải SJC chậm giao hàng.

Trong ngày 10-2, SJC đã tung ra thị trường 150 miếng vàng 10 lượng đầu tiên, tương đương 1.500 lượng nhưng hầu hết cung ứng cho ngân hàng, các cửa hàng vàng chỉ mua miếng vàng 1 lượng để tiện bán lại.

Vì sao chỉ có SJC nhập vàng?

Do Ngân hàng Nhà nước mới chỉ cấp quota nhập vàng cho SJC, do vậy nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng cho rằng đã dẫn đến tình trạng thắt nút cổ chai. Các doanh nghiệp đặt vấn đề nếu nhiều đơn vị kinh doanh cùng được nhập vàng thì sẽ mạnh tay vay vàng bán ra thị trường sau đó nhập vàng về hoàn trả lại, như vậy sẽ giải quyết được tình trạng xếp hàng rồng rắn như những ngày qua, nguồn cung vàng thị trường sẽ dồi dào hơn.

Phó tổng giám đốc một công ty kinh doanh vàng nói rằng nếu quy về một đầu mối thì khó có thể can thiệp thị trường kéo giá vàng trong nước giảm sâu.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online chiều 10-2, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết lý do Ngân hàng Nhà nước cấp quota nhập khẩu cho SJC là do nơi này là đầu mối cung ứng vàng cho thị trường. Hiện có nhiều thương hiệu vàng nhưng thị trường chỉ chuộng vàng SJC do vậy nếu cấp phép cho nhiều đơn vị nhập vàng như cuối năm 2009 cũng khó tránh khỏi nút thắt cổ chai vì các đơn vị này đều phải nhờ SJC gia công dập thành vàng miếng SJC.

Trong chiều 10-2 giá vàng niêm yết tại thị trường vẫn cao hơn SJC khoảng 240.000 đồng/lượng, bán ra 26 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên khoảng cách giữa giá mua – bán lên đến 350.000 đồng/lượng, do vậy các tiệm vàng chỉ treo giá chứ hầu như không có khách hàng giao dịch.

Cuối ngày 10-2, giá vàng thế giới ở 1.080 USD/ounce quy theo tỉ giá ngân hàng là 24,1 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá bán trong nước 1,66 triệu đồng/lượng.

Vietnam’s central bank devalued the official VND exchange rate for the 2nd time in the past 3 months
What happened:
The State Bank of Vietnam (SBV) announced a devaluation of the Vietnamese Dong (VND) by
lowering its mid-point exchange rate to 18,544 from 17,941 previously on February 10, to be
effective February 11. This 3.4% adjustment in the value of the VND is the second time in the last
3 months, which is smaller than the previous 5.4% depreciation on November 25, 2009.
The direction of this move is in line with our long maintained view that the VND will depreciate
against the USD, but we did not expect depreciation to take place through another official
exchange rate adjustment so soon after the previous one.
What we think:
In our view, the devaluation is another attempt made by the SBV to narrow the gap between
the quoted exchange rate and the prevailing rate in the black market and relieve the
pressure on balance of payment imbalances. Vietnam’s trade deficit has remained relatively
stable at just above US$1 billion per month in December 2009 and January 2010. Compared to the
FX reserve level we heard of (well above US$15 billion, and some street talk of even above
US$30 billion), the VND devaluation does not seem to be an involuntary move, unless massive
capital outflows have occurred under the capital account recently. Given the gap between the
official exchange rate and the black market rate is only 4% or so before the announcement on
February 10, the government probably considered the devaluation as a preemptive move before
the Tet holidays to help clear the foreign exchange demand in the black market.
However, our concern is that the exchange rate gap could widen again in the near future on
the back of the expectations of a weaker VND trend. Notably, frequent downward adjustments
in the VND exchange rate may deter investors and Vietnamese citizens (who hold a large
proportion of assets in FX and gold) from holding the local currency even for the short term.
Before the central bank demonstrates a strong willingness and capability of defending and
stabilizing the exchange rate, we believe the public will find it more difficult to regain their
confidence in the VND.
In addition, we believe the devaluation will likely put further upside pressure on inflation.
The double-digit sequential mom growth rates in both industrial production and headline CPI
inflation in January suggest the emergence of overheating and inflation risks. Neither the inflation
pass through from imports nor the depreciation expectations going forward will likely help the
SBV rein in inflationary pressures. A gesture from the central bank to increase the VND interest
rate would be helpful in reinstating the credibility of the monetary authority on inflation control
and anchor the expectation of the VND exchange rate.

Đôla chợ đen tăng vọt, trong ngân hàng vượt 19.000 đồng

Rao bán đắt hơn buổi sáng 200-300 đồng, các điểm thu đổi tại Hà Nội hôm nay được dịp làm kiêu, quyết giữ giá không bớt đồng nào dù khách mua nhiều hay ít. Giao dịch tại TP HCM trầm lắng.
Phố Hà Trung – Hà Nội ngày 28 Tết nườm nượp người qua lại. Bảo vệ của các cửa hàng vàng bạc mau lẹ hướng dẫn khách để xe ngăn nắp tránh tắc đường. Bên trong các cửa hàng không thấy ai mua bán vàng, đa phần khách đến đều hỏi giá đôla.

Giá bán đôla tăng ngay sau khi tiệm mở cửa, vọt từ mức 19.300-19.350 hôm qua lên 19.600 đồng. Các cửa hàng lớn bán giá cao hơn, có nơi lên tới 19.700 thậm chí 19.800 đồng đổi một đôla. Trong khi giá mua vào tăng không đáng kể, có nơi giữ nguyên 19.300 đồng, cao hơn cũng chỉ 19.400 đồng một đôla.

Một khách hàng hỏi mua 15.000 đôla, đề nghị bớt vài giá nhưng chủ tiệm kiên quyết không hạ, có chăng chỉ lì xì khách mỗi nghìn đôla 1.000 đồng lấy may. “Đô hôm nay không có chuyện bớt. Cửa hàng đi mua còn chẳng có hàng, sao mà bớt được”, bà chủ tiệm trên phố Hà Trung lạnh lùng nói với khách.

Tuy nhiên, phần đông khách đến cửa hàng để khảo giá, nếu mua chủ yếu với số lượng nhỏ vài trăm đến một, hai nghìn đôla để trả nợ hoặc đổi để đi du lịch.

Tại TP HCM, ghi nhận của VnExpress.net trưa 28 Tết, giá USD tại các tiệm vàng khu vực chợ Bến Thành vượt ngưỡng 19.600 đồng một đôla. Ở trên hai con phố bên hông chợ Bến Thành, giá đôla giao dịch đã khác nhau. Các hiệu vàng bạc đá quý trên đường Phan Châu Trinh, cửa Tây chợ, giá USD mua vào 19.300 đồng bán ra 19.600 đồng. Trong khi đó, các hiệu vàng trên đường Phan Bội Châu – cửa Đông chợ, cả mua và bán đều cao hơn 50 đồng so với cửa Tây, ở mức 19.350 – 19.650 đồng một USD.

Giao dịch khá trầm lắng. Đa số khách hỏi mua USD đều bất ngờ khi hay tin giá bán ra tăng cao. Có nhiều người khách phải dọ giá lẫn nhau để “sang tay” lại, nếu mua số lượng lớn có thể giảm giá bán còn 19.550 đồng một USD. Các chủ tiệm vàng quanh chợ Bến Thành khuyên khách: “USD mới tăng giá trong sáng nay, nếu cần gấp với số lượng ít thì nên mua ngay vì chiều nay có thể giá lại tiếp tục nhích lên”.

Trong khi đó các tiệm vàng ở chợ Thị Nghè, Vườn Chuối sáng nay thu mua USD giữ ở mức giá 19.200 – 19.350 (mua vào – bán ra), tăng 200 đồng so với hôm qua. Một số chủ cửa hàng cho biết không dám mua cao hơn mức 19.350 đồng bởi lo ngại giá USD sẽ tuột dốc trong những ngày tới.

Theo anh Trung, chủ tiệm vàng ở quận Bình Thạnh: “Không ít khách hàng đề nghị được bán ra với giá 19.600-19.700, lý do tỷ giá USD liên ngân hàng tăng mạnh”. Tuy nhiên, do chưa đoán biết xu hướng biến động thị trường trong những ngày tới nên nhiều tiệm vàng ngả giá từng trăm đồng với khách, không dám mua giá cao.

Theo các chủ tiệm vàng, nhu cầu mua bán USD những ngày qua tại TP HCM chỉ dùng cho mục đích tiêu dùng, không có tình trạng người dân kéo nhau đi mua hay bán như các lần điều chỉnh giá đôla trước đây.

Giá USD tăng mạnh khi tỷ giá liên ngân hàng điều chỉnh sáng 11/2. Ảnh: Hoàng Hà

Giá đôla trong ngân hàng sáng nay tăng mạnh hơn so với thị trường tự do. Ngân hàng Ngoại thương hôm qua còn giao dịch với giá 18.469 – 18.479 đồng (mua vào – bán ra) thì đến sáng nay nâng lên lần lượt là 18.495 – 18.880 đồng. Lúc 11h, ngân hàng đã điều chỉnh tỷ giá lên mức mới: 18.595 – 19.000 đồng. Cùng lúc này, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam niêm yết giá mua vào – bán ra lần lượt là 18.650 – 19.050 đồng ăn một đôla.

Diễn biến thị trường ngoại tệ sáng nay chịu chi phối bởi quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm gần 3,4% và khống chế lãi suất tối đa với tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp ở mức 1%. Quyết định này được đưa ra khá bất ngờ, Chính phủ duyệt phương án vào buổi chiều qua và tới 9h tối Ngân hàng Nhà nước chính thức công bố.

Trao đổi với VnExpress.net sáng nay, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh vào ngày cận Tết khi thấy tín hiệu thị trường thuận lợi, nguồn cung đôla dồi dào hơn sau vài ngày doanh nghiệp tăng cường bán cho ngân hàng, lượng tiền do bà con kiều bào gửi về nước cũng nhiều hơn. Quyết định điều chỉnh biên độ và tỷ giá liên ngân hàng cuối tháng 11/2009 đã có tác dụng tích cực, song theo ông Giàu, để kiểm soát nhập siêu và kích thích xuất khẩu vẫn thêm “liều thuốc” mạnh.

Theo Tổng Cục thống kê, xuất khẩu tháng 1 tăng hơn 30%, trong khi nhập khẩu tăng gần 80%.

Nguồn: Vnexpress

Thursday, February 11, 2010

First domino

Năm cùng tháng tận mà Asia Times (qua link của GS Trần Hữu Dũng) tặng cho VN cái title Asia’s first domino mới chán chứ. Nhưng đọc bài này xong … thở phào yên tâm đi ăn Tết :-), lý thuyết domino đã không đúng 35 năm trước, lần này chắc cũng vậy.
Vậy điều gì làm Shawn Crispin của AT lo cho VN quá vậy? Bài báo khá dài dòng, rối rắm, nhưng có lẽ điều làm Crispin lo ngại là lạm phát và tỷ giá. Tác giả bài này chắc chưa biết NHNN vừa phá giá thêm 3.3%, chỉ hai ngày sau khi thống đốc Nguyễn Văn Giàu trả lời phỏng vấn VNEconomy ngụ ý NHNN không muốn tiếp tục phá giá. Thông đốc Giàu nói đúng, phá giá sẽ tạo áp lực lên lạm phát. Tuy nhiên có lẽ ông không để ý rằng không phá giá, trong hoàn cảnh đa số người dân và doanh nghiệp cho rằng VNĐ đang overvalued, cũng gây ra inflation expectation. Việc người dân và doanh nghiệp (kể cả các “đầu tàu kinh tế” SOE) hoarding USD là bằng chứng của cái expectation này. Tôi đồng ý với Crispin ở điểm này.
Nhưng lập luận của Crispin cho rằng NHNN thiếu khả năng và ý định (ability and willingness) kiểm soát lạm phát có lẽ đi quá xa. Không một ngân hàng trung ương nào không muốn kiểm soát lạm phát (và thiểu phát), NHNN VN cũng không phải ngoại lệ. Trong một vài thời điểm VN có thể đã quá chú trọng vào tăng trưỡng dẫn đến lạm phát tăng cao, hoặc có thể đã accommodate các chính sách fiscal của chính phủ nên “vô tình” bơm quá nhiều liquidity ra nền kinh tế. Nhưng đó là những trade off mà bất kỳ ngân hàng trung ương nào cũng phải đối mặt, cái chính là khả năng đánh giá/phân tích tình hình và đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời. Quan điểm của tôi là NHNN có chính sách sai lầm chứ không phải không có willingness.
Nói NHNN VN không có khả năng kiểm soát lạm phát cũng hơi quá. NHNN có đầy đủ các công cụ tiền tệ như các ngân hàng trung ương khác, thậm chí còn có khả năng “ra lệnh” cho các NHTM tăng/giảm credit growth một cách trực tiếp, điều mà Fed, ECB, BoE… không thể làm được (đúng hơn là không được phép làm). Bên cạnh NHNN, Bộ Tài chính VN còn có cơ quan quản lý giá, bất kỳ lúc nào cũng có thể đặt giá trần cho các mặt hàng thiết yếu, điều mà các nước phát triển đa phần cũng không làm được. Do đó có thể nói VN hoàn toàn có khả năng kiểm soát được lạm phát, vấn đề là chính phủ có chấp nhận các trade off về phát triển kinh tế để kiềm chế lạm phát hay không thôi.
Vấn đề tỷ giá cũng vậy, NHNN hoàn toàn có ability và willingness điều chỉnh tỷ giá. Tôi nghĩ thống đốc Giàu trả lời phỏng vấn bên trên chỉ có tính tactical thôi (tuy có thể bị credibility damage), chứ NHNN thừa hiểu phá giá là biện pháp duy nhất để phục hồi lại external balance của VN. Phá giá nhanh, quyết liệt để đưa VNĐ về đúng vị trí của nó (vd PPP equilibrium hay BEER) sẽ giúp giải tỏa risk/uncertainty cho các doanh nghiệp, kể cả các FDI investors. Capital account của VN còn đóng nên NHNN không phải lo ngại về capital flight hay currency attack.
Vấn đề original sin chắc chắn có nhưng không quá serious, nên nhớ VNĐ bị overvalued chủ yếu vì lạm phát quá cao. Trước đây vay 1 USD đổi được 15000 VNĐ, bây giờ phải trả 19000 VNĐ nhưng nếu số tiền đi vay được đầu tư hiệu quả thì sản phẩm bán ra đã tăng giá ít nhất với tốc độ tăng lạm phát, đủ để bù cho chênh lệch tỷ giá. Còn nếu đồng tiền đi vay đầu tư không hiệu quả thì đó là vấn đề khác chứ không phải original sin và không phải trách nhiệm của NHNN. Tóm lại, điều chỉnh tỷ giá hoàn toàn manageable và không phải là drama gì lớn cho nền kinh tế. Cái chính là liệu NHNN có bị các tác động non-economic khi ra quyết định điều chỉnh tỷ giá hay không, có lẽ không sau lần điều chỉnh thứ hai này. Philosophy điều hành kinh tế VN vẫn là “dò đá qua sông” hay theo như JPM’s Sriyan Pietersz nói: “learning by doing”.
Bỏ qua khả năng contagion ra các nước châu Á khác vô cùng nhỏ (domino theory), tôi cho rằng Shawn Crispin đã sai lầm khi cho rằng VN sẽ là quân domino đầu tiên sụp đổ. Rủi ro về lạm phát và tỷ giá có thật và khá lớn, nhưng tôi không nghĩ các policy makers của VN không có ability và willingness đối phó với những rủi ro đó. Có điều họ còn phải cân nhắc nhiều khía cạnh, đại hội Đảng năm tới là một trong những yế tố có ảnh hưởng lớn đến các chính sách kinh tế.
Update: Mới tìm được link này từ blog Krugman: Latvia’s GDP giảm 18% QoQ trong Q4 2009 và IMF dự báo sẽ giảm tổng cộng 30% peak-to-trough. Lý do chính theo các tác giả của bài nghiên cứu là nước này đã cố gắng bảo vệ tỷ giá overvalued của mình quá lâu. Undervaluation có thể có ích (như trường hợp TQ) còn overvaluation chưa bao giờ có lợi (eg Latvia hiện tại hay Thailand thời 97-99).

December 12, 2009

Tháng 2/2010, Mỹ sẽ “xem xét hoàng hôn” thuế chống bán phá giá tôm nhập khẩu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:00 pm
Tags: ,
Chỉ còn 2 tháng nữa, chính quyền Mỹ sẽ quyết định xem có nên tiếp tục duy trì yêu cầu áp thuế chống bán phá giá (CBPG) đối với tôm của 5 nước để bảo vệ ngư dân và các nhà chế biến tôm nội địa hay không.

Năm 2005, Uỷ ban Thương mại Quốc tế ITC đã sử dụng thuế CBPG đối với tôm nhập khẩu từ Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam và Braxin do các nước này đã bán tôm với giá thấp hơn giá sản xuất.

“Xem xét hoàng hôn” dự kiến thực hiện vào tháng 2 năm tới. Tại đây, các nhà chức trách liên bang sẽ lắng nghe các ý kiến đánh giá kết quả đạt được từ việc áp dụng thuế CBPG trong hỗ trợ ngư dân cũng như cạnh tranh với hàng nhập khẩu.

Theo cơ quan chuyên trách Tôm bang Louisiana (Louisiana Shrimp Task Force), 5 nước đã chiếm tới 75% tổng nhập khẩu tôm vào Mỹ trước khi áp thuế CBPG. Sau 2 năm bị áp thuế, con số này đã giảm 18%.

Bobby Samanie, chủ tịch Uỷ ban Nghề cá và Động vật hoang dã bang Louisiana cho rằng Uỷ ban này sẽ không đưa ra bất cứ hành động nào cho tới tháng 1/2010. Với kinh nghiệm trực tiếp trong ngành tôm, Samanie cho rằng bang này sẽ chuẩn bị cho cuộc chiến chính trị quốc tế trong thương mại thủy sản. “Tôi hi vọng sẽ có một ai đó giải quyết vấn đề này”.

Trong khi đó, David Veal, Giám đốc điều hành Hiệp hội Chế biến Tôm Mỹ (ASPA) lại cho rằng thuế CBPG đối với tôm nhập khẩu là “công cụ hợp pháp quan trọng” để giúp các nhà chế biến và ngư dân khai thác tôm tránh những tổn thất lớn từ hàng nhập khẩu với lượng lớn trong thời điểm nhu cầu nội địa ở mức thấp. Ông Veal cũng khẳng định ASPA sẽ không ủng hộ bất cứ nỗ lực nào trong việc thu hồi một hoặc nhiều yêu cầu áp thuế CBPG.

Theo ông Veal, lý do quan trọng nhất khiến ngư dân và nhiều nhà chế biến tôm nội địa mất lòng tin vào yêu cầu áp thuế CBPG là việc không thu đủ tiền đóng thuế của các nhà cung cấp trong mấy năm gần đây. “Có một số trường hợp lảng tránh đóng thuế, đặc biệt là Trung Quốc”. Tính đến năm 2008, có tới hơn 42 triệu USD tiền thuế chưa thu được trong đó 38 triệu từ Trung Quốc.

Blog at WordPress.com.