Ktetaichinh’s Blog

May 12, 2010

“Nhà giàu” chuộng nông sản ngoại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:38 am
Tags: , ,
09/05/2010 06:17:35

Mặc dù là nước nông nghiệp với thế mạnh là các sản phẩm nông sản, nhưng con số thống kê hàng tỉ USD nhập khẩu nông sản, thực phẩm ở nước ta khiến người ta giật mình.

Số liệu thống kê tháng 4 cho thấy, nhập khẩu nhiều loại nông sản, thực phẩm tiếp tục tăng. Trước đó, một báo cáo chi tiết hơn của Bộ Công thương cho biết, hai tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng nông sản và thực phẩm chủ yếu đạt khoảng 280 triệu USD, tăng 56% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong đó mặt hàng tăng nhiều nhất là gạo tăng 152%; rau, củ tăng 127%; dầu mỡ động thực vật đã tinh chế tăng 96%; chế phẩm từ ngũ cốc, tinh bột, sữa (bánh kẹo, sữa đóng hộp…) tăng 99%; sản phẩm thịt cá, động vật tăng 79% và chế phẩm ăn được khác tăng 84%.

Năm 2009, tổng kim ngạch nhập khẩu các nhóm hàng là 1,5 tỉ USD.

Mô tả ảnh.
Hai tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng nông sản và thực phẩm chủ yếu đạt khoảng 280 triệu USD

Theo ông Đoàn Xuân Hòa, Phó cục trưởng Cục chế biến, Thương mại, Nông lâm thủy sản và Nghề muối, hiện nay VN mới chỉ chú trọng đến thị trường xuất khẩu mà chưa quan tâm đúng mức đến sự quan trọng của thị trường trong nước.

Một thực tế là rất nhiều sản phẩm của nước ta được xuất khẩu đi “nửa vòng trái đất” nhưng lại không đi được đoạn đường từ Nam ra Bắc. Ví dụ, xoài, dưa hấu của VN được xuất khẩu đi rất nhiều nước nhưng ta vẫn phải nhập hoa quả từ Mỹ, Úc…

Những mặt hàng xuất khẩu đi nước ngoài chủ yếu là những loại có chất lượng cao, trong khi đó, nông sản tiêu dùng trong nước lại thiếu những loại có chất lượng cao. Điều đó khiến cho một bộ phận người dân có thu nhập cao phải tìm đến các sản phẩm nhập ngoại.

Ông Hòa cho biết, vấn đề hiện nay là phải chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng chuyển từ lượng sang chất. Một thực tế là các mặt hàng nông sản trong nước đang rơi vào tình trạng thừa về số lượng nhưng thiếu về chất lượng.

Đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, vì vậy muốn hướng đến thị trường nội địa thì sản phẩm đó phải có chất lượng tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, phải đa dạng hóa sản phẩm, bao bì, kiểu dáng đẹp, bắt mắt, giá cả phải chăng, phù hợp với khẩu vị của người dân từng vùng, miền.

Đặc biệt, muốn phát triển được thị trường nội địa, các sản phẩm cũng phải xây dựng thương hiệu cho riêng mình và quáng bá rộng rãi tới người tiêu dùng.

Một ví dụ được ông Hòa đưa ra là trước đây, nước ta chủ yếu là bán hạt điều nhân (chiếm đến 90% thị trường), bây giờ do không đủ lao động, nên chuyển sang dùng cơ giới hóa. Vì vậy, số lượng hạt điều vỡ dập rất nhiều. Tuy nhiên, nếu nhà sản xuất biết sử dụng những nhân vỡ này làm nhân bánh kẹo thì chất lượng cũng ngon không kém gì hàng nhập ngoại, lại có thể tạo nên những sản phẩm rất phong phú từ hạt điều.

Mô tả ảnh.
Chế biến hạt điều trong nước

Một yếu tố nữa khiến cho việc nhập khẩu nông sản tăng đột biến, theo ông Hòa là do tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng VN.

“Không phủ nhận những loại hoa quả nước ngoài là rất ngon và họ có những thành tựu KHKT tốt để làm ra những sản phẩm tốt. Nhưng không hẳn chúng ta cứ phải ăn những sản phẩm ấy mới là tốt và chắc gì những sản phẩm Tây đã tốt hơn những sản phẩm Ta”, ông Hòa khẳng định.

Tuy nhiên, một bộ phận người dân có tâm lý có tiền thì phải xài hàng sang và hàng sang thì phải là hàng nhập ngoại. Dùng hàng càng đắt tiền thì lại càng cảm thấy yên tâm về chất lượng.

Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước thì nhập hàng ngoại về bán có thể thu nhập được lợi nhuận cao hơn vì lợi dụng tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng, nhiều cơ sở sản xuất có tâm lý không thích sản xuất đồ cho người Việt Nam.

Còn theo lý giải của Bộ Công thương trước đó với báo chí, lượng nông sản và thực phẩm nhập tăng mạnh do đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện: “Ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM nhu cầu đối với hoa quả cao cấp nhập khẩu từ các nước phát triển như Úc, Mỹ… ngày càng tăng cao nên lượng nhập khẩu cũng gia tăng. Đối với mặt hàng thịt và sản phẩm thịt, ngoài nhu cầu nhập khẩu để chế biến hàng thực phẩm, nhu cầu sử dụng thịt nhập khẩu của người dân cũng gia tăng”.

Mặt khác, đối với mặt hàng rau, củ, quả, ta nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc – chiếm 70% kim ngạch nhập khẩu rau quả năm 2009 – qua đường biên mậu do rau quả được trồng với kỹ thuật cao, lại trồng được quanh năm nên lượng rau, củ, quả tương đối dồi dào… Trong khi đó, rau quả của Việt Nam hay bị thiếu hụt nguồn cung trong những lúc trái vụ. Một số loại hoa quả chất lượng kém và chỉ có thời vụ ngắn.

Tuy nhiên, theo ông Hòa, thực tế số lượng hoa quả nhập khẩu này không đáng kể, chủ yếu phục vụ những đối tượng cao cấp, dùng trong khách sạn, nhà hàng sang trọng. Hiện nay chúng ta cũng không phải nhập khẩu rau vì rau sạch, rau tươi, rau trái vụ trong nước đều sản xuất được và nguồn cung rất dồi dào.

Giá trị nhập khẩu tăng đột biến là do lượng cao su và bông, đều tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước

“Nếu xét riêng giá trị nhập khẩu nông sản trong tháng 4 thì con số 1,5 tỷ USD là khá cao, nhưng nếu xét trên tổng giá trị nhập khẩu của cả nước thì là con số không lớn, nhóm mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất phải kể đến điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số, ô tô, xe máy,…”, ông Hòa cho biết.

Advertisements

April 29, 2010

Tại Sao Trái Cây VN Cạnh Tranh Yếu?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:51 am
Tags:


Trong mục vào lúc 09:45 Được đăng bởi dunghangViet
Theo đánh giá của Hiệp hội Rau quả Việt Nam, tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành rau quả đạt 20%, tuy nhiên mức tăng này chủ yếu do giá tăng, trong khi khối lượng gần như dậm chân tại chỗ.

Từ năm 2004 đến nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt 1,82 tỷ USD và có mặt tại 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó chủ yếu là Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hà Lan, Đài Loan, Đức Pháp, Anh, Thái Lan…

Trong năm 2009, xuất khẩu rau quả tiếp tục tăng so với năm trước và đạt kim ngạch 438 triệu USD, tuy nhiên theo nhận định của TS. Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam (Bộ NN&PTNT), cơ hội cho trái cây Việt Nam còn rất lớn, bởi nhu cầu tiêu thụ trái cây nhiệt đới trên thế giới còn rất lớn, đặc biệt là các loại đặc sản của Việt nam.

Vấn đề phân phối vẫn là diểm yếu nhất của ngành trái cây VN. Ảnh: C.H

Phải gắn kết các kênh phân phối

Theo ông Châu, mặc dù đang đứng trước cơ hội lớn, nhưng trái cây Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều thách thức rất lớn như sản xuất manh mún, chất lượng không đồng đều, chưa thế cơ giới hóa trong sản xuất, chưa có thưong hiệu lớn và đặc biệt là phải qua nhiều khâu trung gian mới tới được tay người tiêu dùng.

Ngoài ra, yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng ngày một cao hơn, trong khi đó ý thức của người sản xuất lại chưa đầy đủ về vấn đề này. Điều này khiến trái cây Việt Nam luôn thua thiệt và bị các nước trong khu vực lấn át khi xuất khẩu, thậm chí thua ngay tại “sân nhà”, một thị trường với hơn 80 triệu dân.

Hiện Việt Nam có khả năng sản xuất được một số trái cây có trái quanh năm, như thanh long, bưởi cũng như những trái cây đặc sản nhiệt đới như xoài, nhãn, măng cụt, cam, chuối. Đó là lợi thế mà Việt Nam cần tận dụng. Hằng năm, Mỹ nhập khẩu hơn 10.000 tấn trái cây nhiệt đới các loại. Song, phía Mỹ lại đòi hỏi rất cao về khâu kiểm dịch thực vật, bắt buộc phải chiếu xạ cho tất trái cây nhiệt đới nên chi phí bỏ ra quá cao.

Chính vì thế, trái cây Việt Nam cần gắn kết với các kênh phân phối bán lẻ khu vực, địa phương và xem đó là một phương tiện để trái cây Việt Nam xâm nhập vào thị trường toàn cầu. Theo ông John Hey, Tổng biên tập tạp chí Trái cây châu Á, là một thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam cần tận dụng phong trào công bằng mậu dich, liên kết với các nhà cung cấp tại các thị trường này để tận dụng hệ thống phân phối của họ để đưa trái cây Việt Nam đến tay người tiêu dùng nhanh nhất có thể.

“Các nhà xuất khẩu trái cây nên thông qua thương vụ Việt Nam tại các nước thuộc châu Âu, Mỹ để xây dựng được hệ thống vận chuyển trái cây hiệu quả và chủ động đến từng điểm bán lẻ”, ông John Hey gợi ý. Ngoài ra, ông John cho rằng, trái cây Việt Nam muốn chiến thắng với sự cạnh tranh với Thái Lan hay Trung Quốc tại thị trường châu Âu, và Mỹ thì phải cung cấp được số lượng trái cây lớn và liên tục.

Để trái cây VN vươn ra thế giới, cần có sự đồng lòng từ nông dân đến DN, nhà khoa học và Nhà nước. Ảnh: C.H

Liên kết 4 nhà còn lỏng lẻo

Ngoài việc sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng chưa bảo đảm yêu cầu, tư duy canh tác còn tùy tiện, làm theo phong trào, căn bệnh cố hữu khó chữa của nông dân Việt Nam là tự ý phá hợp đồng khi giá thị trường cao hơn giá ký kết khiến doanh nghiệp không mặn mà hợp lực tiêu thụ sản phẩm.

Trên thực tế, việc liên kết “bốn nhà” đã phần nào đem lại lợi ích cho nông dân và doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu trái cây nhưng hiệu quả và tính bền vững thấp. Theo TS. Võ Hùng Dũng, Giám đốc Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Cần Thơ, liên kết “bốn nhà” vướng mắc chủ yếu là giữa doanh nghiệp và nông dân.

Để giải quyết vấn đề lợi ích giữa các bên, Nhà nước phải đứng ra làm trọng tài thống nhất các mối liên kết. Theo ông Phạm Quang Đấu, Giám đốc Công ty Dịch vụ Kỹ thuật nông nghiệp An Giang, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ kinh tế hợp tác gắn với phát triển vùng sản xuất, từ đó hình thành các vùng nguyên liệu lớn tập trung, thống nhất một quy trình sản xuất để tạo ra sản phẩm chất lượng, có chính sách cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực này.

Ngoài ra, TS. Võ Mai cho biết thêm, chuyện liên kết bốn nhà trong nông nghiệp đã được đề cập từ rất lâu nhưng nói thì nhiều nhưng làm chẳng được bao nhiêu. Thậm chí, thực tế sản xuất và kinh doanh nông sản cho thấy, bốn nhà chẳng những ít liên kết mà còn làm khó nhau.

Bà Võ Mai cho rằng, lâu nay chúng ta muốn nông dân đầu tư vào sản xuất “sản phẩm nông nghiệp an toàn” thường hô hào rằng sản phẩm an toàn sẽ có giá cao hơn từ 10% đến 30% so với sản phẩm thông thường. Song, khi sản phẩm an toàn ra đời lại không có kênh phân phối chính thức nên rau ,củ, quả an toàn phải bán chung với những sản phẩm sản xuất theo truyền thống. Nhiều hợp tác xã sản xuất nông nghiệp an toàn thường giải thể sau khi những dự án hỗ trợ hết hiệu lực.

Theo ông Đấu, cho dù Nhà nước và nhà khoa học đã tạo cho doanh nghiệp và nông dân một chiếc thuyền (nhà nước giúp cơ chế, nhà khoa học giúp kỹ thuật) nhưng mối liên kết giữa doanh nghiệp và nhà nông còn nhiều bấp cập.

March 27, 2010

Cuộc chiến chống mặn, hạn ở ĐBSCL ngày càng quyết liệt

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:02 pm
Tags: ,


(Dân trí) – Hàng ngàn hecta cây ăn trái, hoa màu, tôm cá, lúa… đang thiếu nước tưới, hàng chục ngàn hộ dân thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng. Cuộc chiến với hạn, mặn ở ĐBSCL ngày càng quyết liệt.
>> Báo động hạn hán và mặn hóa ĐBSCL
Hàng ngàn hộ dân ở vùng hạn, mặn ĐBSCL đang ngóng chờ những chuyến xe bồn nước ngọt.

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Bến Tre cho biết: Nước mặn từ sông Cửa Đại, Hàm Luông và Cổ Chiên thâm nhập vào đất liền hơn 50 km. Tại xã Gia Hòa (huyện Châu Thành) xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam, phường 7, TP Bến Tre từ 3,5 phần nghìn đến 5,3 phần nghìn. Dự báo tình hình mặn có khả năng tiếp tục xâm nhập sâu hơn nhiều.

Ông Võ Trường Xuân, ấp Lân Bắc, xã Phú Sơn nói: Phú Sơn nằm ven sông Hàm Luông trong bán kính của vùng mặn xâm nhập. Trong 2 năm 2008 – 2009, nông dân ven sông đã tự bỏ tiền và hàng trăm ngày công làm 3 cống ngăn triều cường, trữ nước ngọt bảo vệ sản xuất. Tuy nhiên với mức xâm nhập mặn như hiện nay thì chưa thấm vào đâu.

Chính quyền huyện Chợ Lách có sáng kiến hướng dẫn người dân dùng cỏ, lục bình phủ gốc cây, dùng lá dừa che bóng cho cây trong những ngày khô hạn để giữ độ ẩm cho đất. Đối với vật nuôi, gia súc nên tăng cường bổ sung thức ăn xanh để giảm độ mặn trong khẩu phần ăn.

Ông Lê Phong Hải, Giám đốc Sở NN-PTNT Bến Tre nói: tình trạng xâm nhập mặn đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản) và sinh hoạt của nhân dân. Theo báo cáo của các địa phương, sẽ có khoảng 26.900 ha cây ăn trái, 4.000 ha ca cao, 4.000 ha lúa, 250 ha hoa kiểng, 450 ha hoa màu bị giảm năng suất.

Để ứng phó với tình hình xâm nhập mặn năm 2010, các giải pháp trước mắt của Bến Tre là: Tiếp tục gia cố đê bao, đắp đập tạm, nạo vét kênh mương để ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; cung cấp dụng cụ chứa nước cho gia đình nghèo, diện chính sách, mở rộng tuyến ống cấp nước của những nhà máy nước hiện có…

Đầu tháng 4/2010, nhà máy nước tại xã An Phú Trung, Ba Tri, có vốn đầu tư khoảng 13 tỷ đồng được đưa vào hoạt động sẽ cung cấp nước sạch cho trên 1.500 hộ dân. Tuy nhiên, để công trình phát huy hiệu quả cần tới 25,5 tỷ đồng để thực hiện nạo vét kênh mương, đê bao, các đập tạm, sửa chữa các cống ngăn mặn, trữ nước ngọt…

Tương tự tại Tiền Giang, mặn đã xâm nhập đến thành phố Mỹ Tho, cách biển gần 60 km. Toàn bộ các cống ngăn mặn ở huyện Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây… đã đóng kín, hàng ngàn hécta lúa đông xuân đang có nguy cơ giảm năng suất do thiếu nước ngọt.

Chi cục thủy lợi Tiền Giang đã mở 19 vòi nước công cộng để phục vụ cho 20.000 nhân khẩu thuộc 2 huyện Tân Phú Đông và Gò Công Đông đang bị thiếu nước sinh hoạt. Tỉnh Tiền Giang đang khẩn trương đưa phương tiện chở nước ngọt từ thành phố Mỹ Tho xuống cung cấp xuống cho các hộ dân thiếu nước sinh hoạt.

Sở NN-PTNT tỉnh Trà Vinh cho biết: Nắng nóng kéo dài, nước ao hồ cạn kiệt nhanh, độ mặn tăng cao tại 1.044 ha diện tích mặt nước ở các huyện Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang… đã khiến trên 100 triệu con tôm sú giống chết.

Chiều 25/3, Sở NN-PTNT Bạc Liêu cho biết: Từ ngày 20/3 đến nay, nước mặn tràn vào vùng ngọt chuyên sản xuất lúa. Độ mặn đo được tại Bạc Liêu – Sóc Trăng là 3,2 phần nghìn. Hiện Bạc Liêu còn khoảng 24.000 ha lúa đông xuân đang trổ bông, trong đó có hàng nghìn ha có nguy cơ bị mất trắng.

Ông Phạm Đình Đôn, Chi cục trưởng Bảo vệ môi trường Tây Nam Bộ, cho biết: Lưu lượng nước sông Mekong về tới khu vực đầu nguồn sông Cửu Long hiện chỉ còn khoảng 1.600m3/giây, chưa bằng 5% tổng lưu lượng trong mùa nước nổi. Nếu tận dụng triệt để nguồn tài nguyên này để tưới cho mỗi cây lúa thôi thì nguồn nước mặt vẫn không đủ.

Giải pháp sống chung với hạn đang được nông dân hướng đến. Việc đầu tiên nghĩ tới là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tìm những cây, con chịu hạn, chịu mặn. GS. TS. Nguyễn Văn Luật, Nguyên viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, cho rằng: Cây khoai lang là một trong những loại cây trồng nhiều tiềm năng trong điều kiện có tác động của biến đổi khí hậu.

Nắng nóng gây thiệt hại nặng đến trồng lúa, nuôi tôm ở Bạc Liêu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:55 pm
Tags: ,

Nắng hạn kéo dài làm các con
kênh ở Bạc Liêu khô hạn.
NDĐT – Có thể nói, vào vụ sản xuất năm 2010, nhiều nông dân ở hai vùng mặn-ngọt Bạc Liêu rất phấn khởi vì con tôm và hạt lúa đều có giá cao. Tuy nhiên, niềm vui chưa lâu thì thay bằng nỗi lo nhiều tháng qua nắng nóng gay gắt kéo dài, làm thiệt hại lớn đến sản xuất và đảo lộn đời sống của người dân…
Tôm nuôi… điêu đứng
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu, đến cuối tháng 3 dương lịch, toàn tỉnh đã thả nuôi gần 150.000 ha tôm. Trong đó, tôm công nghiệp, bán công nghiệp gần 1.500 ha, còn lại nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. Do nắng nóng kéo dài nên phần lớn nguồn nước trên các kênh rạch đã bị cạn kiệt, dẫn đến thiếu nước trầm trọng. Vì vậy, số diện tích tôm nuôi bị thiệt hại ngày càng tăng. Đáng lưu ý, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã có gần 7000 ha tôm nuôi bị thiệt hại. Nguyên nhân tôm chết được xác định hầu hết do nắng nóng gay gắt kéo dài, nhiệt độ chênh lệch quá cao giữa ngày và đêm nên tôm nuôi bị sốc…
Kỹ sư Lương Ngọc Lân, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu cho biết: “Để giải quyết hài hòa lợi ích giữa con tôm và cây lúa cho bà con nông dân, Ban chỉ đạo điều tiết nước tỉnh Bạc Liêu buộc phải cho mở một số cống ngăn mặn, giữ ngọt dọc theo tuyến quốc lộ 1A để tiêu thoát nước mặn ra sông Bạc Liêu – Cà Mau; đồng thời “kéo” nước ngọt từ kênh Quản lộ – Phụng Hiệp về để cứu lúa. Việc làm này ước tính sẽ có khoảng 20.000-25.000 ha tôm nuôi bị thiếu nước mặn do việc điều tiết nước thời gian tới không được “mạnh tay” vì phải đề phòng tình trạng xâm nhập mặn vào vùng ngọt. Để khắc phục và hạn chế thiệt hại cho người nuôi tôm, ngoài việc khuyến cáo người dân tuân thủ đúng các quy trình kỹ thuật cải tạo ao, thả nuôi, chăm sóc…, ngành Nông nghiệp Bạc Liêu đang tăng cường việc kiểm tra, kiểm sóat đối với chất lượng tôm giống sản xuất trong tỉnh và nhập từ ngoài tỉnh để đảm bảo chất lượng, hạn chế thiệt hại cho người dân…”.
Nông dân Bạc Liêu tích cực cứu lúa.
Lúa cũng… chết khát…
Vụ lúa đông xuân (lúa vụ 3) năm nay, Bạc Liêu có gần 45.000 ha. Theo ngành chức năng, chưa năm nào nông dân trong tỉnh sản xuất vụ lúa đông xuân lớn như năm nay. Mặc dù chính quyền và ngành Nông nghiệp không khuyến khích nông dân sản xuất lúa vụ 3, nhưng vì giá lúa thời gian qua ở mức khá cao (vào thời điểm bà con xuống giống, lúa 5.500-6.000 đồng/kg), nên nhiều người đã bất chấp tất cả, dù có người đã biết trước được khó khăn…
Ông Phú Văn Khải, Trưởng phòng NN và PTNT huyện Hòa Bình, cho biết: Vụ sản xuất lúa đông xuân năm nay, hầu hết 100% diện tích đất trong huyện đã được người dân xuống giống. Ngành Nông nghiệp huyện đã tích cực khuyến cáo về việc lúa vụ 3 sẽ bị sâu bệnh và thiếu nước ngọt (do vào mùa khô), nhưng vẫn không thể ngăn cản được nông dân. Huyện Hòa Bình hiện có diện tích lúa đông xuân cao nhất tỉnh, với 10.000 ha. Chính vì bất chấp khuyến cáo của ngành chuyên môn, nên đã xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng tại nhiều địa phương, trong khi cây lúa đang trong gian đoạn lòng đòng, trổ bông, giai đoạn quyết định cho sự thành, bại của cả vụ mùa.
Anh Nguyễn Văn Hùng Em, nông dân xã Vĩnh Mỹ B (Huyện Hòa Bình), than: “Tôi làm có năm công ruộng mà bơm nước cực quá. Lúc trước năm ngày mới bơm một lần, còn bây giờ ngày nào cũng phải bơm, vì nếu không thì lúa sẽ chết khô …” Dọc theo tuyến đường từ cầu số 2 (huyện Hòa Bình) đến thị trấn Phước Long (huyện Phước Long) dài gần 30 km, chúng tôi tận mắt chứng kiến để có nước ngọt cho cây lúa, nhiều hộ nông dân đã “liều” đắp các cống ngang tuyến đường liên tỉnh này và đặt máy bơm để bơm nước từ các kênh mương vào ruộng cứu lúa…
Tại các huyện như Phước Long, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai… cũng đang xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng. Theo nhận định của ngành nông nghiệp tỉnh, trong thời gian tới tình trạng thiếu nước ngọt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân trong tỉnh còn đáng lo hơn, vì hiện nay, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Bạc Liêu nói riêng đang vào giữa mùa khô hạn…
Trước tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, thực tế cho thấy, chính quyền và ngành chức năng ở Bạc Liêu chưa tìm ra các biện pháp khắc phục hữu hiệu. Tỉnh chỉ có thể thực hiện các giải pháp “tình thế” như chủ động điều tiết nước mặn, kết hợp với các biện pháp tăng cường chất lượng con giống thủy sản, nhất là giống tôm; khuyến cáo nông dân kỹ thuật cải tạo ao đầm, chọn con giống, cách chăm sóc…, nhằm hạn chế rủi ro cho người nuôi tôm.
Theo ngành nông nghiệp và nhiều nông dân Bạc Liêu, mùa khô năm nay nắng nóng gay gắt chưa từng có kể từ nhiều năm nay. Nắng nóng đã làm thiệt hại đến hàng ngàn ha tôm nuôi, hàng chục ngàn ha lúa vụ 3 của tỉnh và ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt của người dân…

March 18, 2010

Đầu ra cho nông sản – thực trạng và giải pháp – Bài 1:Những “núi” dưa xếp lên rồi hạ xuống (17/03/2010)

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:33 pm
Tags: ,

<!–

–>

Giá 1 kg dưa hấu tại cửa khẩu Tân Thanh chỉ 1.100 đồng. Nhưng cái giá “bằng chén trà” cũng không bán được cho ai. Các chủ buôn dưa bị ép giá trong cái thế “bán thì lỗ mà không bán thì chết”.

LTS: Tình trạng tồn ứ, ế ẩm của những quả dưa trong những ngày qua tại biên giới tỉnh Lạng Sơn hoàn toàn không có gì mới. Sau dưa sẽ là chuối, vải, nhãn, thanh long…? Từ nhiều năm qua, đầu ra của các sản phẩm nông nghiệp luôn chịu cảnh được mùa mất giá bởi hầu hết chúng được trồng tự phát, công nghiệp chế biến nhỏ lẻ manh mún, trông chờ chủ yếu vào xuất khẩu… Từ số báo này, ĐĐK sẽ  đăng loạt bài về thực trạng và những giải pháp tháo gỡ cho “đầu ra nông sản”

Từ nhiều năm qua, đầu ra của các sản phẩm nông nghiệp
luôn chịu cảnh được mùa mất giá
Giá 1 kg dưa hấu tại cửa khẩu Tân Thanh chỉ 1.100 đồng. Nhưng cái giá “bằng chén trà” cũng không bán được cho ai. Các chủ buôn dưa bị ép giá trong cái thế “bán thì lỗ mà không bán thì chết”. Nhìn những “núi” dưa hết hạ xuống rồi xếp lên tại Tân Thanh mới thấy đau lòng cho nhưng quả dưa Việt, “bò” hàng nghìn cây số, “xuất” ngoại rồi quay về bày bán ở một quán chợ nào đó.
Chuyện của anh nông dân chuyển nghề
Cửa khẩu Tân Thanh nửa đầu tháng 3 nhộn nhịp hẳn lên khi cứ mỗi ngày có thêm hàng chục, thậm chí hàng trăm xe chở dưa hấu từ các tỉnh đổ về chờ xuất quan. Năm nay được mùa dưa hấu, các chủ dưa dồn về Lạng Sơn để bán sang Trung Quốc. Giá “đầu vụ” bao giờ cũng “hời” nên hầu hết các chủ đều muốn chuyển dưa về biên giới nhanh nhất, để có lời nhất. “Thời điểm cao giá của năm ngoái là khoảng 1,6 đến 1,8 đồng Nhân dân tệ, tương đương 4.400 đồng đến 5.000 đồng/ 1kg. Thấp nhất cũng là 5 đến 6 hào, tương đương 1.400 – 1.600 đồng/ 1kg. Giá trước bù giá sau, trừ chi phí vận chuyển, trừ phí nọ phí kia cũng lãi được vài trăm nghìn một tấn”, anh Lê Minh Đạo, quê Tân Yên Bắc Giang, một chủ buôn cho biết.
Năm nay, anh Đạo cũng như các chủ buôn khác, bất chấp sự bất thường nóng lạnh của thời tiết, thu mua dưa ở  các nông trường dưa phía Nam đem lên Tân Thanh để bán sang Pò Chài (Trung Quốc). Con đường từ Dốc Quýt lên đến cửa khâu Tân Thanh. Có nhiều thời điểm xe container, ô tô tải nối đuôi nhau dài vài ba km gây ùn ứ nhiều ngày. Theo tổng hợp của Chi Cục hải quan cửa khẩu Tân Thanh, thời cao điểm nhất là khoảng 270 xe xuất quan, còn trung bình là 120 – 140 xe trong một ngày. Xe này đi, xe khác lại đến, có những xe đã phải nằm chờ 3, 4 ngày mới sang được bên kia biên giới. “Biết làm sao được, hàng đã đưa tới đây, mang về cũng chết, qua được ít nào hay ít nấy”, anh Đạo tiếp lời.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giá dưa hấu thu mua ở các hầu hết các “vựa” dưa tại Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định…  hiện đang rất thấp, chỉ từ 700 – 800 đồng/ 1kg. Thời điểm cuối tháng 2 đầu tháng 3, giá xuống chỉ còn 400 – 500 đồng/ 1kg . Người nông dân chỉ có hai sự lựa chọn “Hoặc bán, dù rẻ như cho, hoặc trắng đồng” bởi dưa hấu thì không thể ăn thay cơm. Hầu hết họ bán phá giá cho các chủ dưa, nếu không “trắng đồng” còn mất nhiều nữa. Anh Nguyễn Văn Tuynh, quê Vân Canh (Bình Định) trước trồng dưa, nay lái xe thuê cho một chủ dưa kể: nhà anh có 8 sào ruộng, với gần 2.000 gốc dưa, qua hơn 2 tháng đổ mồ hôi sôi nước mắt mới thu hoạch 20 tấn dưa. Vậy mà chủ dưa vào trả 750 đồng/ 1kg. “Đòi giá cao hơn thì chủ bảo tự đi mà bán. Bán cho chủ lãi chẳng được bao nhiêu. Cực chẳng đã đành chuyển sang lái xe thuê”.
Dưa ế cho… bò ăn                                             Ảnh:T.L
Quẫn bách vì … dưa được mùa
Khi chúng tôi có mặt tại cửa khẩu Tân Thanh là lúc tiết trời đã chuyển lạnh. Chị Vũ Thị Nguyệt, một chủ dưa ở Lạng Sơn tỏ ra mừng rỡ vì thời tiết có khắc nghiệt nhưng như thế dưa sẽ được bảo quản thêm ít ngày nữa. Cách đây chỉ hai hôm, trời nắng nóng nhiều ngày khiến cả trăm chủ dưa điêu đứng. Bảo quản quả dưa không khác gì “quả trứng”. Dưa dễ hỏng do vận chuyển, do “tồn” lâu ở biên giới, do cả trời nắng nữa. Tệ hơn, cũng vì nắng nóng, phía Trung Quốc ép giá dưa xuống còn 4 hào Nhân dân tệ, khoảng 1.100 đồng/ 1kg. Số thu về không đủ cho các loại “phí”. Vì sao giá dưa lại xuống thấp đến mức đó? Hầu hết các chủ dưa đều cho rằng giá dưa là do đối tác phía Trung Quốc đưa ra. Dưa lên nhiều thì giá sẽ bị ép xuống. Chị Nguyệt ta thán: “Mỗi xe lỗ vài triệu đồng. Vớt vát đồng nào hay đồng nấy, hy vọng cuối vụ giá lên lại”.
Thử làm phép tính theo giá bán của anh Tuynh, với 750 đồng giá bán tại gốc, 1 tấn dưa sẽ là 750 nghìn đồng, cước vận chuyển trung bình 1 triệu đồng/ tấn, tổng cộng 1,75 triệu đồng/ tấn. Nếu đem bán với giá thấp nhất ở thời điểm 4 hào tức 1,12 triệu đồng/ tấn, chủ dưa như chị Nguyệt lỗ 630.000 đồng/ tấn. Song nếu đem bán với giá 1,6 tệ một tấn, sẽ lãi tới 2,73 triệu đồng/ tấn, một con số không hề nhỏ nếu nhân với cả trăm tấn dưa. Tất nhiên, chủ dưa chỉ thực sự có lãi khi dưa của họ không bị hỏng, không bị lưu tại biên giới quá lâu, và không bị “trả lại” bởi chính họ cũng không thoát nạn ép giá. Theo ông Trần Văn Nghĩa, Phó Chi cục trưởng Hải quan Tân Thanh: Không phải xe dưa nào sang biên giới cũng được tiêu thụ trọn vẹn. Nhiều xe dưa bị trả về quá nửa, do chất lượng dưa xuống cấp, bị hỏng vì nắng nóng, hay bị giập vì vận chuyển. Các chợ dưa “lưu động” vì thế cũng mọc lên như nấm dọc theo cửa khẩu Tân Thanh, giá bán tùy hứng, song có một điểm chung: “Mua một giá- ăn mệt nghỉ”. “Nếu không bán được tại chỗ, các chủ dưa sẽ sàng lọc lần nữa, sau đó sẽ đổ về các chợ đầu mối ở Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội từ đó sẽ tỏa đi khắp miền Bắc. Tuy nhiên, có thể khẳng định, dưa đó không phải là dưa loại 1”, ông Nghĩa nhấn mạnh.
Nhìn những “núi” dưa hết hạ xuống rồi xếp lên tại Tân Thanh mới thấy đau lòng cho nhưng quả dưa Việt, “bò” hàng nghìn cây số, “xuất” ngoại rồi quay về bày bán ở một quán chợ nào đó. “Được mùa mất giá” vẫn không thể tháo gỡ nếu chỉ có một con đường “hẹp” là bán sang Trung Quốc.

March 17, 2010

Vùng mía nóng ngày càng… nóng hơn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:31 am
Tags: , ,

* Cảnh sát giao thông “bảo kê” cho KCP?

Người trồng mía ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên) không nhận tiền đầu tư của Cty TNHH Công nghiệp KCP VN mà tự xoay sở vốn SX nhằm bán mía cho các NM đường khác giá cao hơn. Thế nhưng vụ này, mía đã chín khô vẫn không bán được vì bị “ách” lại.

Chỉ quanh quẩn ở xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân- Phú Yên), chúng tôi đã nghe “nhẫy” tai chuyện cây mía bị “ngăn sông cấm chợ”. Anh Mang Đen, một người dân tộc Bana ở làng Soi Nga cho biết: “Nhà mình có 5 ha đất, muốn trồng mía mà không có vốn, bà con bày mình liên hệ với KCP nhận vốn đầu tư. Nhưng cái vốn này đến chậm quá lại phải làm nhiều giấy tờ lắm mà thời vụ thì không thể chậm trễ. Thế nên mấy năm nay mình nhận đầu tư của tư thương với cam kết là sẽ trừ nợ vào mía khi thu hoạch”.

Người nông dân chân chất này nói tiếp: “Tiền nhận đầu tư là 5 triệu đồng/ha, vốn đầu tư này không bị trả lãi như vốn đầu tư của KCP mà nhanh đến tay nên mình ưng cái bụng lắm. Bỗng nhiên không biết bị “mắc” cái gì mà người đầu tư vốn cho mình không chịu mua mía, mía đã chín khô mà cứ đứng giữa trời. Cứ nhìn ông mặt trời đỏ lòm thì mía của mình chắc sẽ mất chữ đường, mất sản lượng, nghĩa là mình sẽ bị mất nhiều tiền đấy!”.

Hỏi dò, chúng tôi được biết đã nhiều năm qua, bà Dương Thị Kim Loan quê ở thôn 4, xã An Thành, huyện ĐăkBơ (Gia Lai) chọn xã Xuân Lãnh làm chốn làm ăn bằng cách đầu tư vốn cho đồng bào dân tộc thiểu số ở đây trồng mía, đến khi thu hoạch thu hồi vốn bằng sản phẩm. Gặp bà Loan đang đứng ủ rũ bên những bao phân vừa được vận chuyển đến làng Soi Nga chuẩn bị đầu tư cho vụ mía mới, bà rầu rĩ nói: “Năm nay nữa là 11 năm tôi làm ăn với bà con dân tộc ở làng này. Vào những năm đầu, mía thu mua được tôi bán cho Cty KCP. Thế nhưng vì giá thu mua ở Cty này luôn thấp hơn giá thị trường, lại bị trừ tạp chất nặng quá nên không có lãi. Nghe ngóng, tôi được biết Cty CP Đường Bình Định thu mua giá cao hơn lại ít trừ tạp chất nên tôi chuyển hướng làm ăn sang Cty này”.

Không ngờ sự chuyển hướng của bà Loan lại mang đến cho bà và cả những người trồng mía tai hoạ lớn. “Họa đến với tôi từ khi ấy. Cách đây 3 năm, tôi chở 2 xe mía về Bình Định, vừa đến vùng giáp ranh tại địa bàn xã Xuân Lãnh (Phú Yên) thì bị CSGT chặn lại với lỗi quá khổ, quá tải. Kỳ ở chỗ mấy anh cảnh sát bảo rằng nếu tôi chở mía quay ngược lại bán cho Cty KCP thì sẽ được “tha” phạt, còn không nghe sẽ bị phạt và giam xe. Sợ quá, tôi chở ngược lại bán cho Cty KCP, không ngờ cân mía lấy phiếu xong, Cty KCP không thanh toán tiền xe 2 mía kia với lý do “phạt” cái tội chở mía ra Bình Định bán”- bà Loan trình bày tiếp.

Mặc dù UBND xã Xuân Lãnh đã có văn bản kiến nghị Cty KCP trả tiền cho bà nhưng đến nay 2 xe mía có trọng lượng hơn 48 tấn trị giá 30 triệu đồng của người phụ nữ có gan “nổi loạn” này vẫn chưa thu hồi được. “Hỏi vậy làm sao tôi còn dám làm ăn với Cty KCP nữa. Và từ đó đến nay, đến vụ thu hoạch, xe mía nào của tôi chở ra Bình Định đến địa phận xã Xuân Lãnh cũng đều bị CSGT chặn lại phạt và bắt phải cam kết phải bán mía cho Cty KCP”.

Anh Võ Văn Sỹ (55 tuổi) ở thôn Lãnh Trường, xã Xuân Lãnh, người đang sở hữu 1ha mía cho biết thêm: “Gia đình tôi trồng mía từ ngày giải phóng đến nay. Trước đây tôi đã từng bán mía cho Cty KCP. Thế nhưng giá cả luôn thấp hơn giá thu mua của các tư thương, lại còn “ép” người bán trong việc trừ tạp chất. Nếu như bán cho tư thương chúng tôi chỉ bị trừ tạp chất từ 1-2%, 1 tấn mía chỉ mất 20kg, còn ở Cty KCP trừ tạp chất đến 5-6%, 1 tấn mía mất đến 50-60kg, có nghĩa là 1 xe mía 20 tấn người bán mất đứt 1,4 tấn thì nông dân còn gì để ăn”.

“Bây giờ CSGT cứ chặn xe mía chở ra thì tư thương nào dám mua. Quanh năm có thấy bóng dáng ông CSGT nào ở đây đâu, nhưng cứ đến mùa thu hoạch mía là “nườm nượp” nên dân ở đây gọi cái chốt giao thông này là…chốt mía”- anh Sỹ “tố” khổ.

Ông Trịnh Minh Thái- PCT UBND xã Xuân Lãnh cho biết, cây trồng chủ lực của xã là cây mía với 1.000ha thu hút 80% dân số tham gia, tiếp đến là cây mì với 400ha, chỉ có 215 ha trồng lúa. Do chỉ ăn nước trời nên năng suất cây trồng ở đây rất thấp, mía trên đất tốt nhất cũng chi cho chừng 55 tấn/ha. Muốn cây mía phát triển ổn định nông dân cần phải đầu tư cao hơn các vùng mía khác. Thế nên khi bán mía, ai mà không muốn bán được giá cao để bù vào chi phí. Bây giờ bị “ngăn sông cấm chợ”, tư thương không dám mua, bán cho Cty KCP thì mất thu nhập.

Hiện nay dù tư thương không mua nhưng nhiều hộ nông dân vẫn không chặt mía bán cho Cty KCP chấp nhận ngày càng mất chữ đường, mất năng suất chờ tình hình được cải thiện. Mía đứng khô rang trên đồng dưới cái nắng như thiêu đốt. Tình trạng này đang ẩn chứa thảm họa: “bà hỏa” sẽ tấn công đồng mía. Và điều lo lắng này đã bắt đầu xảy ra. Ông Trịnh Minh Thái cho biết: “Vào đêm ngày 9/3, đám mía hơn 1 ha nằm gần vệ đường của ông Nguyễn Hùng (45 tuổi) ở thôn Lãnh Trường bị lửa thiêu rụi, may mà cứu kịp không bị cháy lan”.

TẬN MẮT CHỨNG KIẾN CẢNH SÁT CHẶN XE MÍA

Trưa ngày 9/3/2010, để xác minh thực hư, PV NNVN quyết định âm thầm đi theo xe mía của bà Loan chở mía về Bình Định. Theo chúng tôi biết thì xe mía này nhất định không phạm lỗi quá khổ quá tải vì chỉ chở chưa tới 10 tấn mía trên chiếc xe có trọng tải 20 tấn. Thế nhưng khi đến vùng giáp ranh Phú Yên- Bình Định thuộc xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân), lập tức 2 chiếc xe công tác, 1 của CSGT và 1 của Thanh tra giao thông Phú Yên ập đến chặn xe. Thật ngẫu nhiên, đúng lúc ấy có khoảng 7-8 nông dân địa phương đi làm đồng về thấy vậy đứng lại xem và phản ứng to tiếng, gay gắt.

PV đi lại bắt chuyện với họ để ghi âm những lời phát biểu bức xúc, vô tư của những nông dân chân chất này: “Trời quơi! Chiếc xe chở có bấy nhiêu mía kia mà bắt cái nỗi gì vậy. Sao không vào ngã ba trong kia để bắt những chiếc xe của Cty KCP chất mía “lút bin” mà lại cứ chặn bắt xe mía chở ra ngoài địa bàn. Làm gì cũng phải cho công bằng chứ để dân khỏi nói chứ. Nếu Cty KCP mua mía giá cao và dễ chịu như “người ta” thì ai mà không muốn bán gần cho đỡ tiền vận chuyển. Nếu không bị “chận”, người trồng mía ở đây bán cho các tư thương 1 xe mía sẽ có thêm được 2 triệu đồng. Nông dân ở vùng đất “khỉ ho cò gáy” này mà có thu nhập thêm được 2 triệu đồng/1 xe mía là lớn lắm”.

Ngày 12/3, NNVN đã có bài phản ánh chuyện cây mía ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên) bị “ngăn sông cấm chợ”. 2 hôm sau (14/3), chúng tôi bí mật trở lại vùng mía giáp ranh Bình Định- Phú Yên thuộc xã Xuân Lãnh, huyện Đồng Xuân (Phú Yên) mới nhận ra chuyện “ngăn sông cấm chợ” ngày càng nóng bỏng hơn.

Trong khi người trồng mía những địa phương khác đang tưng bừng thu hoạch mía trong niềm hân hoan tột cùng bởi giá thu mua của các NM Đường tăng tốc từng ngày thì nhiều hộ trồng mía ở huyện Đồng Xuân đang ngửa mặt than trời. Bởi lẽ mía đốn xong nằm thẳng cẳng dưới nắng chang chang mà chẳng tư thương nào dám mua vì biết chắc không thể nào “lọt” được cái “chốt chặn” tại làng Soi Nga, xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân) với lực lượng hùng hậu gồm CSGT, Thanh tra giao thông cùng “lủ khủ” dân phòng xã túc trực tại đây cả ngày lẫn đêm.

Lực lượng CSGT, Thanh tra giao thông cùng “lủ khủ” dân phòng xã túc trực ngày đêm tại “chốt mía” làng Soi Nga, Xuân Lãnh

Bây giờ chuyện “ngăn sông cấm chợ” không chỉ bằng cách chặn xe chở mía đi về hướng Bình Định vì lỗi quá khổ quá tải mà còn “tấn công” vào tận ruộng mía của những hộ nông dân không nhận đầu tư của Cty TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam với hy vọng được bán mía tự do với giá cao hơn.

Anh Nguyễn Văn Thanh quê ở xã Nhơn Mỹ, huyện An Nhơn (Bình Định) vào Đồng Xuân thu mua mía của những ruộng mía “tự do” mang về bán cho Cty CP Đường Bình Định than thở: “4 chiếc xe tải của tôi đang chất mía tại các ruộng mía thuộc xã Xuân Quang 2 (Đồng Xuân) thì cán bộ của Cty KCP đến tận ruộng mía gặp tôi và bảo “Nếu chở mía về bán cho KCP thì không vấn đề gì xảy ra. Còn nếu chở về Bình Định thì sẽ có CSGT “thăm hỏi”. Không còn cách nào cho xe đi lọt tôi đành đánh 4 xe mía chạy về bán cho KCP với giá rẻ”.

Nhưng đau hơn theo anh Thanh “Về đến bãi, KCP để 4 xe mía tôi nằm ngoài nắng từ sáng đến chiều mới tiến hành cân và chỉ mua với giá 760.000đ/tấn, trong khi đó tôi đã mua của nông dân đến 780.000đ/tấn lại còn bị trừ tạp chất đến 5% nên tính rốt ráo, giá bán mía chỉ còn có 680.000đ/tấn. Nếu chở được về bán cho Cty Đường Bình Định với giá hơn 800.000đ/tấn và chỉ trừ tạp chất 1% thì tôi còn có lãi, đằng này bán cho KCP 4 xe mía này tôi bị lỗ đến 6 triệu. Không chỉ vậy, bây giờ tôi đành “nằm chơi xơi nước” vì phải 10 ngày sau KCP mới thanh toán tiền”.

Chiếc xe của anh Nguyễn Thái Hòa đã bị CSGT gỡ biển số

Cả những nông dân địa phương tìm kế sinh nhai bằng nghề mua bán mía nhỏ lẻ nhằm xóa đói giảm nghèo cũng bị chính quyền địa phương “sờ gáy”. Anh Phan Đình Long ở thôn Lãnh Trường, xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân) ngán ngẩm: “Tôi không có vốn làm ăn lớn, chỉ dạo mua dăm ba đám mía của những hộ không “dính” đầu tư của KCP bán lại kiếm chênh lệch mỗi đầu tấn. Thế nhưng mới đây, khi vừa đốn mía xong tôi liền bị UBND xã Xuân Lãnh mời đến bảo là không có giấy “lưu thông mía” nên không cho tôi chở mía ra ngoài địa bàn. Tôi giải thích là tôi mua mía ở những hộ không nhận đầu tư thì tôi muốn bán đâu thì bán, nhưng “mấy ổng” không thông, gây khó dễ đủ bề. 2 xe mía 30 tấn của tôi chặt đã ngày thứ 5 rồi mà vẫn bị “giam” đến khô móp”.

Vào lúc 22 giờ ngày 14/3, đóng vai người buôn mía, PV NNVN ngồi trước cabin chiếc xe chở chừng 10 tấn mía đi từ Xuân Lãnh về huyện Vân Canh (Bình Định). Xe chở mía chạy đến “chốt mía” thuộc thôn Soi Nga thì bị hơn 10 CSGT, TTGT và dân quân xã chặn lại. Thấy xe mía chất thấp là vậy mà cũng bị CSGT bắt, hàng chục người dân địa phương đang ngồi hóng mát dọc đường bức xúc ùa ra phản ứng dữ dội. Chiếc xe CSGT lập tức nổ máy, chạy ào qua để thoát khỏi đám đông và biến mất. Chạy chừng 500m, chiếc xe CSGT dừng lại, đứng chắn ngang giữa đường để chặn xe mía.

PV NNVN ngồi trên cabin xe mía đã kịp dùng máy ảnh quay được 1 đoạn video clip cảnh làm việc “rất tích cực” của những nhà chức trách trong đêm tối và chiếc xe CSGT đứng ở vị trí rất…vi phạm luật giao thông để chặn những chiếc xe mía. Trong khi trước đó, theo ghi nhận của PV thì những chiếc xe chở mía của KCP chất mía cao “ngút trời” vẫn ung dung lưu hành suốt ngày mà không bị ngăn trở nào. Do trời tối lại không dám quay công khai nên hình ảnh không được đẹp, tuy nhiên video clip ngắn này cũng là bằng chứng không thể chối cãi về việc người trồng mía đang bị…hành khổ sở thế nào.

Có nghe thêm chuyện kể của anh Lê Thái Hòa (1966) ở thôn 4, xã Thành An, thị xã An Khê (Gia Lai), chủ chiếc xe tải 81L-4826 thì mới biết “hiệu lực kiểm tra” của CSGT Phú Yên nhằm vào những chiếc xe chở mía ra ngoại tỉnh “quyết liệt” đến mức nào. “Tôi có thằng em tên Võ lỡ mua mía ở xã Xuân Lãnh, mía đốn đã lâu nhưng vì CSGT chặn bắt gắt quá nên thuê giá cao mấy cũng không xe nào dám chở, mía đốn rồi để khô. Thương tình, tôi đánh xe xuống chở dùm. Xuống tới đây tối hôm 14/3 nhưng do trời tối thuê công chất lên xe không có. Sáng 15/3, khi đang chất mía thì thấy mấy “ông” CSGT lượn như chim én nên chất xong tôi không dám chạy xe ra, đã dừng xe núp vào bờ sông rồi nhưng vẫn bị “mấy ổng” tìm đến tháo biển số xe mất tiêu”.

Cuối cùng anh Hoà kết luận: “Tôi cũng đã có 5 năm làm cán bộ CA xã Thành An và đã có 7 năm làm tài xế vận chuyển mía từ An Khê về NM Đường Bình Định nhưng tôi chưa thấy nơi nào có chuyện CSGT chặn bắt mía “ngang xương” thế này”.

Anh Phạm Văn Võ (30 tuổi) ở xã Giang Bắc, huyện ĐăcBơ (Gia Lai), người thuê anh Hòa chở mía tâm sự: “Nếu không đi được mía cứ nằm dưới nắng gay gắt như thế này chắc chắn cứ 10 tấn mía mỗi ngày sẽ bị hao hụt mất 1 tấn vì mía khô. Tiền đi mua bán mía toàn vay, chuyến này lỗ to không biết lấy gì trả nợ”.

ĐỌC BÁO NNVN BỊ CÔNG AN MỜI LÊN ĐỒN… TRA HỎI

Chuyện xảy ra với ông Phạm Thành Đô (1960) ở thôn Lãnh Trường, xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân) mới thật sự là 1 “bi hài kịch”.

Số là sau khi NNVN có bài phản ánh về chuyện cây mía ở địa phương này bị “ngăn sông cấm chợ” khiến người trồng mía khóc đứng khóc ngồi, có người đọc được bài báo này mách lại, người trồng mía ở Xuân Lãnh rất phấn khởi vì có báo chí chia sẻ nỗi khó khăn nên ai nấy đều tìm báo đọc. Được người bạn cho mượn, ông Đô mang báo về chia sẻ với bà con trong xã. Nhưng không ngờ chuyện đọc báo khiến ông “rước họa vào thân”.

Giấy mời của UBND xã Xuân Lãnh mời ông Đô đến làm việc vì tội… đọc báo

Sáng ngày 13/3, ông Đô nhận được giấy của UBND xã Xuân Lãnh mời ông ngay chiều hôm ấy đến trụ sở UBND xã làm việc dù đó là ngày nghỉ. Làm việc với ông Đô là 1 cán bộ CA huyện Đồng Xuân. Tinh thần của buổi làm việc xoay quanh việc ông Đô có biết bài báo viết gì không và vì sao ông Đô giới thiệu cho nhiều nông dân trong vùng đọc bài báo đó?

Bức xúc quá, ngay tối hôm ấy ông Đô đã làm đơn gửi đến NNVN trình bày vụ việc trên. Lá đơn trình bày của ông Đô viết: “Báo Nông nghiệp VN là của cơ quan Nhà nước, chẳng lẽ nông dân chúng tôi đọc lại sai hay sao mà sau buổi làm việc đó, ông cán bộ Công an huyện còn nói để xem thử xếp tội tôi vào khung nào, lại còn bảo tôi sáng thứ hai tuần tới (15/3-PV) xuống huyện làm việc tiếp”.

Cũng xin nói rõ, khi thực hiện bài biết phản ánh thực trạng cây mía ở Đồng Xuân bị “ngăn sông cấm chợ” không có nghĩa là chúng tôi cổ súy cho người trồng mía ở đây bán mía cho các NM Đường Bình Định. Trước sau quan điểm của NNVN chỉ muốn có sự công bằng cho người trồng mía. Sẽ chẳng có gì để nói nếu KCP cạnh tranh nguyên liệu bằng cách nâng giá mía cao ngang bằng các NM đường trong khu vực và không thu mua “ép” nông dân bằng cách trừ tạp chất cao chứ không phải như cách KCP đang áp dụng hiện nay. 1 vụ mía kéo dài cả năm trời, đầu tư lớn, giờ mía bị “chặn” không bán được cầm bằng những người trồng mía ở Đồng Xuân đã lâm vào “cửa tử”

March 15, 2010

Đất phi nông nghiệp sẽ được tính thuế như thế nào?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:13 pm
Tags: , ,

Theo dự luật, thuế suất đối với đất ở tính theo năm được tính ở mức 0,03% với diện tích trong hạn mức

Tại kỳ họp Quốc hội thứ bảy tới đây, dự án Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp sẽ được trình Quốc hội, thay cho dự án Luật Thuế nhà đất đã được xem xét từ kỳ họp trước.

Việc sửa tên gọi của dự thảo luật này xuất phát từ việc chưa đưa nhà ở vào diện chịu thuế, sau khi tiếp thu ý kiến của nhiều vị đại biểu Quốc hội.

Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 15/3, dự án Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp bao gồm 4 chương và 13 điều, có hiệu lực từ 1/1/2012.

Theo đó, đối tượng chịu thuế là đất phi nông nghiệp, bao gồm: đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị; đất sản xuất, kinh doanh, phi nông nghiệp, bao gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh, đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

Dự thảo luật cũng quy định 6 đối tượng không thuộc diện chịu thuế, trong đó có đất xây dựng trụ sở cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh… Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng quy định này “quá thoáng”, cần phải được tính toán kỹ hơn.

Về thuế suất đối với đất, theo quy định tại dự luật, thuế suất đối với đất ở tính theo năm được tính ở mức 0,03% với diện tích trong hạn mức; 0,06% với phần diện tích vượt hạn mức nhưng không quá ba lần hạn mức và 0,1% cho phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức (tăng 0,01% so với dự luật đã trình Quốc hội).

Đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư áp dụng mức thuế suất là 0,03%. Mức này cũng được áp dụng đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Riêng đối với đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, đất để hoang hóa áp dụng thuế suất là 0,1%.

Dự luật cũng quy định giá của 1m2 đất chịu thuế là giá đất theo mục đích sử dụng đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định. Đối với đất ở nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư (bao gồm cả trường hợp vừa để ở vừa để kinh doanh) thì giá tính thuế được xác định bằng việc áp dụng hệ số phân bổ chia đều cho các tầng chịu thuế.

Theo dự thảo luật, kể từ ngày luật này có hiệu lực, Pháp lệnh Thuế nhà đất năm 1992và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm 1994 sẽ hết hiệu lực thi hành.

March 14, 2010

Đồng bằng sông Cửu Long: Thiếu nước gay gắt

TP – Vùng sông nước ĐBSCL đang gồng mình hứng chịu khô hạn khốc liệt, xâm nhập mặn. Ngày 12-3, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cùng các địa phương tìm giải pháp chống hạn, xâm nhập mặn cho ĐBSCL.

Khoan lấy nước ngầm để nuôi tôm ở Bạc Liêu  – Ảnh: Phan Thanh Cường

Thiếu nước ngọt cho lúa

ĐBSCL có 1.564.000 ha lúa đông xuân, đã thu hoạch xong 677.000 ha. Diện tích còn lại, có trên 620.000 ha của các tỉnh ven biển Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre đang bị khô hạn.

Các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân (Bạc Liêu) có 44.631ha lúa đông xuân, đã thu hoạch 13.000ha, còn lại đến giữa tháng 4-2010 mới thu hoạch.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cáo Đức Phát cho biết, các cơ quan chuyên môn dự báo hạn và mặn còn gay gắt hơn trong thời gian tới.

Ông Lương Ngọc Lân, PGĐ Sở NN& PTNT Bạc Liêu cho biết: “Nếu không có mưa trái mùa, diện tích trên sẽ khó sinh trưởng, phát triển”. Hiện nay, hơn 20.000 ha lúa đông xuân thiếu nước ngọt. Các tuyến kinh cấp 3 ở các xã Vĩnh Hưng, Vĩnh Hưng A (Vĩnh Lợi, Bạc Liêu) đã trơ đáy.

Ở tỉnh Sóc Trăng, các huyện Long Phú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị nước mặn xâm nhập và nông dân phải lựa nguồn nước rất gian nan để tránh bơm nhầm nước mặn cho đồng lúa.

Ông Trương Thanh Bình, GĐ Sở NN&PTNT Sóc Trăng, cho biết, Sóc Trăng đã xuống giống vụ xuân hè khoảng 50.000 ha, có 20.000 ha thiếu nước.

Tại tỉnh Cà Mau, khô hạn đang đặt 36.000 ha rừng tràm báo động nguy cơ cháy cấp 4, cấp 5. Ông Trần Văn Thức, PGĐ Sở NN&PTNT Cà Mau nhận định: “Nắng hạn kéo dài đến cuối tháng 4 và đầu tháng 5 sẽ thiếu nước chữa cháy rừng, nếu cháy rừng xảy ra”.

Hiện nay, các kinh rạch đang cạn nước, sụt giảm hơn 0,5m so với những năm trước.

Lượng mưa hụt nhiều, lại kết thúc sớm, nắng nóng ngay đầu năm, xâm nhập mặn sâu đến 70km. Lượng nước sông Mekong sụt giảm, thiếu nước thượng nguồn, không có nước đổ về ĐBSCL.

Từ đó, nước mặn theo các sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Tiền, Sông Hậu, Hàm Luông, Cổ Chiên, Quản lộ Phụng Hiệp… Vùng bán đảo Cà Mau, xâm nhập khu vực ngọt sớm gần 2 tháng so với những năm trước.

Thiếu nước mặn nuôi tôm

Mực nước tại các kinh rạch vùng bán đảo Cà Mau sụt giảm, tăng độ mặn tại các vuông tôm lên đến 28-30%. Người nuôi tôm ở Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân phải bơm nước để nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Lẹ ở xã An Xuyên (TP Cà Mau) cho biết, bà con ở hai bên sông Bạch Ngưu phải đặt máy bơm, chờ nước lớn để bơm vô vuông tôm. Nhà nhà bơm nước mặn nên sông cũng thiếu nước mặn nuôi tôm.

Ông Lương Ngọc Lân, PGĐ Sở NN&PTNT Bạc Liêu, cho biết, các cống lớn vùng mặn chỉ vận hành đóng lại hoặc mở ra để không cho mặn lấn sâu lên kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp về phía tỉnh Sóc Trăng.

Trong khi đó, các cống ở tỉnh Cà Mau, sông Cái Lớn tỉnh Kiên Giang còn bỏ ngỏ, dẫn đến thiếu nước cho khoảng 25.000 ha/55.000 ha đất nuôi tôm ở huyện Giá Rai, Phước Long.

Tỉnh Bạc Liêu lắp đặt 144 máy để bơm nước pha loãng khối mặn xâm nhập vào các huyện Giá Rai, Phước Long, Hòa Bình cho người nuôi tôm.

Lo nước ngọt cho người và lúa

Ông Nguyễn Văn Đồng, GĐ Sở NN&PTNT Hậu Giang đề nghị Bộ NN&PTNT hỗ trợ nông dân bơm nước thông qua tỉnh làm đầu mối thành lập các trạm bơm theo từng tiểu vùng, từng cụm dân cư.

Nguồn vốn kiên cố hóa kinh mương, tỉnh Hậu Giang sử dụng 45 tỷ đồng tận dụng nguồn nước ngọt để cứu lúa, đảm bảo sản xuất trên 50.000 ha.

Sở NN&PTNT Bạc Liêu đề nghị Bộ NN&PTNT hướng dẫn, phối hợp liên tỉnh, liên vùng vận hành các công trình đầu mối thuộc hệ thống thủy lợi Quản lộ  Phụng Hiệp để sử dụng nguồn nước ngọt.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết, các cơ quan chuyên môn dự báo hạn và mặn còn gắt hơn trong thời gian tới. Nên các cấp phải chuẩn bị nguồn tài chính, giải pháp kỹ thuật để chống khô hạn, chống xâm nhập mặn sâu hơn.

Trước mắt, triển khai ngay các giải pháp kỹ thuật để cung cấp nước cho dân, nước ngọt cứu lúa. Khôi phục đập tạm để chống hạn, tích trữ nước. Các địa phương từ tỉnh đến xã cần theo dõi sát tình hình, có biện pháp cụ thể cho địa phương mình.

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết thêm, đang theo dõi nguồn nước toàn tuyến sông Mê Kông và Bộ sẽ báo cáo Chính phủ để có biện pháp hỗ trợ dân, bảo đảm sản xuất.

March 13, 2010

Tiến sĩ Lê Đức Tuấn, giám đốc trung tâm Nghiên cứu rừng ngập mặn Cần Giờ- Hiểu thiên nhiên sẽ thân thiện với môi trường

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:45 am
Tags: , ,

SGTT – TS Lê Đức Tuấn, ngoài công tác quản lý, hiện đang là giảng viên khoa địa lý môi trường, đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM. Từ một cán bộ trồng rừng, ông trở thành tiến sĩ khoa học với giấc mơ biến Sài Gòn trở lại là một “đô thị trong rừng” như cái tên nguyên thuỷ của nó.

Ông là một trong những đội viên Thanh niên xung phong (TNXP) đầu tiên ở lại Cần Giờ và cùng với hàng ngàn con người nỗ lực khôi phục khu rừng ngập mặn này. Những năm tháng đó đã ghi dấu ấn trong ông như thế nào?

Trước tiên phải nói đến tầm nhìn sâu xa của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi đó là Bí thư Thành uỷ TP.HCM với tham vọng khôi phục hàng chục ngàn hécta rừng ngập mặn đang hoá bùn. Cũng nhờ ông Kiệt quyết mà TS Lê Văn Khôi, giám đốc lâm trường Duyên Hải, với cái nhìn của một nhà khoa học, ban đầu chỉ dám nhận 200ha/năm, khi ông Kiệt giao 4.000ha/năm cùng lời hứa sẽ huy động toàn lực lượng thì anh vẫn chần chừ không tin. Trước khi nhận dự án trồng lại rừng, TS Lê Văn Khôi đã đi khảo sát toàn miền Nam để tìm trái giống thì chỉ còn Cà Mau là nơi có thể cung cấp. Anh cho thành lập một tổ đi xuống tận Cà Mau thu mua. Mỗi ghe chở được cao nhất khoảng 30 tấn đi hết nửa tháng về đến Sài Gòn cũng chỉ dùng được 60%. Bên cạnh đó, anh Khôi cho thành lập các đội kỹ thuật xuống chỉ dẫn cho dân năm xã Thạnh An, Long Hoà, Cần Thạnh, Lý Nhơn và Tam Thôn Hiệp. Tổng cộng toàn bộ lực lượng là 3.000 người. Lúc đó, tôi mới 23 tuổi, là TNXP chuyển ngành nhưng từng học nông lâm nên được phân công vẽ sơ đồ cho việc gieo giống. Chúng tôi tiếp tục cho trồng thêm các loài cây.

Cây càng đa dạng thì rừng càng có tính bền vững. Sau khi rừng khép tán thì vài ba năm sau chúng tôi phát hiện cây dày quá do lúc gieo hạt không để ý. Thế là rủ nhau đi tỉa thưa. Có một kỷ niệm đáng nhớ, ấy là lúc chúng tôi bắt gặp một con mèo rừng to như con cọp làm ai cũng hồn vía bay lên. Khi nhìn lại biết chắc là mèo, ai nấy mới thở phào rồi cả bọn rú lên vì mừng: các loài thú đã quay về! Sau đó chúng tôi gặp cọp thiệt, thêm cả heo rừng, chồn, nhím… và các loại chim rừng cùng hằng hà sa số các loài cá. Còn bò sát cũng hàng trăm loài, kể cả những loài có tên trong Sách đỏ. Sau 22 năm, rừng Cần Giờ trở thành một khu rừng ngập mặn được phục hồi lớn nhất Việt Nam. Ngày 21.1.2000, uỷ ban MAB (Man and Biosphere programme) của UNESCO công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển của thế giới, cũng là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam.

Điều kỳ diệu là chính giới khoa học nước ngoài cũng đánh giá rất cao về tầm nhìn của các nhà lãnh đạo Việt Nam khi cho khôi phục lại cả một khu rừng bị tàn phá trong thời điểm mà các nước khác đang phá rừng. Còn nhớ lúc đó, TP.HCM còn có chính sách các nhà hàng, khách sạn phải phụ thu 8% để đưa vào quỹ xây dựng nguồn vốn cho việc trồng rừng ở Cần Giờ. Rồi không chỉ chính quyền tham gia mà ngay cả đến xã cũng thành lập ban chỉ đạo trồng rừng… tức huy động toàn nhân dân. Đó là sự gắn kết cộng đồng mà không phải nơi nào cũng làm được. Còn bây giờ, nói thật, chỉ chục năm gần đây, chúng tôi mới thực sự thấy gian khó vì muốn giữ được rừng, phải chống lại lòng tham của con người.

Có phải ông và những người đang làm công tác giữ rừng, phát động phong trào “đô thị xanh” đang phải đối mặt với rất nhiều dự án, quy hoạch xâm phạm đến “lá phổi” này và cả những mảng xanh khác của nội thành?

Ông bà mình ngày xưa biết con nào mùa nào đẻ trứng nên không cho đánh bắt, thậm chí còn dùng thần linh để giới hạn lòng tham của con người. Đất của mình, mình phải tính đến đời sau con cháu còn có ăn hay không

Đúng vậy, nói đến đây phải nhắc đến công lao rất lớn của giáo sư Phan Nguyên Hồng và Nguyễn Hoàng Trí. Nếu những người trí thức ấy không nỗ lực để UNESCO công nhận di sản thì có lẽ rừng Cần Giờ cũng đã bị nhiều dự án xây dựng xâm phạm. Mới đây tuyến đường mở rộng sáu làn xe cũng gây nhức nhối cho chúng tôi khi nhìn những mảng xanh bị chia cắt. Có đến 80ha rừng bị mất đi. Từ nước ngoài, có người gửi email hỏi: “Chúng tôi nhìn thấy trên vệ tinh con đường lớn cắt ngang qua rừng, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hệ sinh thái. Mục đích nhân văn nào khi chính quyền cho mở đường lớn như vậy xuyên qua rừng?” Chúng tôi trả lời với họ là đang tìm những nơi khác để trồng bù.

Con người luôn phải gắn với thiên nhiên, môi trường, không thể tách rời, vì giữa hệ thống thiên nhiên và con người luôn có sự trao đổi về chất. Ông bà mình ngày xưa biết con nào mùa nào đẻ trứng nên không cho đánh bắt, thậm chí còn dùng thần linh để giới hạn lòng tham của con người. Đất của mình, mình phải tính đến đời sau con cháu còn có ăn hay không.

Với xu hướng môi trường xanh toàn cầu hiện nay, ông có thể nói thêm về tầm quan trọng của việc giữ rừng Cần Giờ và hiện trạng ô nhiễm của TP.HCM?

TP.HCM có diện tích 209.000ha, tổng diện tích rừng hiện nay là 38.860ha, tức chỉ chiếm 18,5% diện tích tự nhiên. Rừng phân bố tập trung ở Cần Giờ, Bình Chánh và Củ Chi. Theo quy luật của tự nhiên thì độ che phủ cho một thành phố phải chiếm 40% mới cân bằng. Riêng rừng Cần Giờ chiếm 1/3 độ che phủ. Do yếu tố địa lý, khu rừng này lại nằm về phía đông nam của thành phố, ngay hướng gió biển thổi thẳng về đất liền, vì thế nó trở thành lá phổi sinh học khổng lồ, là món quà của mẹ thiên nhiên ban tặng cư dân thành phố. Nó còn là “nhà máy” điều hoà khí hậu cho Vũng Tàu, Đồng Nai. Vậy với 25% mảng xanh còn lại, TP.HCM phải có kế hoạch phủ lấp. Vì thế chúng tôi vừa làm xong dự thảo “Đề án bảo vệ, phát triển các loại rừng và cây xanh TP.HCM đến năm 2020 tầm nhìn 2025”. Trong đề án này, chúng tôi phân tích rất kỹ mức ô nhiễm của thành phố hiện nay từ môi trường đất, nước đến không khí. Đáng báo động là mức ô nhiễm do nhiệt và khói cùng với tốc độ đô thị hoá, bêtông hoá nhanh đã làm nhiệt độ bề mặt của đất gia tăng, cùng với bụi đã xuất hiện hiện tượng “đảo nhiệt” – làm cho nhiệt độ khu vực trung tâm thành phố gia tăng. Sài Gòn còn bị ô nhiễm mùi rất nặng. Tình trạng ô nhiễm môi trường quá mức đe doạ sự tồn vong của các khu rừng và mảng xanh đô thị. Nhà chức trách vẫn còn đánh giá thấp những đóng góp của ngành lâm nghiệp vào GDP của thành phố hiện nay. Chúng ta cần phải tính đúng và tính đủ các loại giá trị chức năng và giá trị đa dạng sinh học của rừng và mảng cây xanh vào GDP của TP.HCM.

Vậy theo ông, giải pháp tốt nhất cho tình hình không mấy khả quan này để tất cả chúng ta đều có thể thực hiện trước khi quá muộn là gì?

Ông Nguyễn Đình Quý, chi cục Lâm nghiệp TP.HCM

“Tôi làm việc với anh Tuấn đến nay đã hơn 20 năm. Chúng tôi cùng chia sẻ những ngày tháng trong rừng. Điều làm tôi ấn tượng về “người bạn rừng” này chính là tinh thần cầu tiến. Từ người đang đi học, bỏ dở rồi đi học lại, đến nay Tuấn đã có những công trình khoa học đáng nể. Hiếm có cán bộ lâm nghiệp nào đầy nhiệt huyết và xả thân như thế”

Đạo diễn Tường Phương:

“Tuấn với tôi là bạn học thời sinh viên, cùng học điện ảnh. Hai đứa chơi thân với nhau từ hồi đó. Sau khi đất nước giải phóng, Tuấn vào TNXP. Rồi bặt tin. Quả đất quay tròn, Tuấn lấy vợ cũng là bạn học của tôi, Thanh Bình – nghệ sĩ hoá trang nổi tiếng cho những bộ phim, trong đó có phim của tôi. Điều tôi bất ngờ là khi gặp lại anh toàn nói về rừng. Tôi càng nể khi thấy bạn mình tham gia những hội thảo khoa học với báo cáo viết bằng tiếng Anh, mới nhớ ra Tuấn có trình độ ngoại ngữ rất tốt. Anh còn viết sách bằng hai thứ tiếng Anh, Pháp. Một người như anh thật đáng tôn vinh trong xã hội mà giới trẻ đang chạy theo những giá trị ảo”

Nếu gọi việc trồng rừng, giữ rừng là một trong những giá trị để góp phần nâng cao chất lượng sống thì chúng ta đang dừng ở mức gây rừng để… thở thôi. Hiện nay dân số TP.HCM đang tăng nhanh, trong đó số hộ nông dân lại giảm dần, dự kiến đến năm 2020 là 9 triệu người nhưng chỉ có khoảng 450.000 nông dân. Sài Gòn trong tương lai tiếp tục phát triển công nghiệp, đô thị hoá, mở rộng các khu dân cư, môi trường xanh sẽ tăng cao. Do đó nhu cầu xây dựng các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, công viên, mảng cây xanh trong khu dân cư, mảng cây xanh đường phố phải là điều cấp thiết. Kinh phí cho việc nghiên cứu lâm nghiệp trước đây không được quan tâm nhiều. Có vẻ như năm 2010, trước sự thay đổi của khí hậu và trái đất nóng dần lên, người ta mới bắt đầu lo lắng và khởi xướng việc giữ rừng, trồng cây xanh.

Thành phố đã có chủ trương thành lập ban công tác chuyên ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Ngành nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất. Nếu nước biển dâng, rừng ngập mặn sẽ lấn sâu vào đất liền. Vì vậy phải có kế hoạch trồng cây chống sạt lở đê biển và các tuyến sông. Tuy muộn còn hơn không. Tóm lại kinh tế phát triển tới đâu phải nghĩ đến môi trường tới đó. Phát triển kinh tế thấy lợi nhuận trước mắt, nhưng muốn xây dựng môi trường bền vững cần vài chục năm. Tôi nghĩ, nếu hiểu thiên nhiên sẽ thân thiện với môi trường. Còn với chính cá nhân mỗi người, đem một cái cây về nhà chính là đã thêm khí thở cho mình và cả cho cộng đồng. Chúng tôi đang khuyến khích mọi người trồng cây ở khắp nơi có thể, từ sân thượng nhà mình đến phòng khách, phòng vệ sinh, nhà bếp… Làm sao cho ngôi nhà trọc của mình thành ngôi nhà xanh cũng là góp phần phủ xanh cho không gian thành phố. Thực tế hiện nay cho thấy chúng ta có nhân lực, có khoa học kỹ thuật nhưng tổ chức được hay không lại do trách nhiệm và lương tâm của con người. Cuối cùng thì mọi thứ cũng do con người cả thôi.

Ông nói những năm tháng ở rừng đã cho ông tình yêu và cả sự gắn bó với thiên nhiên như một “người bạn đời” thứ hai ngoài vợ. Tuy nhiên giấc mơ vào đời của ông lại là trở thành đạo diễn điện ảnh?

Năm đất nước giải phóng, tôi đang là sinh viên năm thứ hai trường Điện ảnh, khoa đạo diễn. Lúc đó, nhiều hoang mang và cả lo sợ, không biết sự thay đổi của lịch sử sẽ làm thay đổi cuộc đời mình thế nào. Thế là tôi đi TNXP, rồi gặp nhạc sĩ Lưu Hữu Phước cho tôi lời khuyên: “Em đi thi lại đi, học ngành nông nghiệp là hay nhất, nghề này cần cho đất nước thời bình”. Học xong, tôi về ty Lâm nghiệp TP.HCM làm việc. Năm đó, ty thành lập lâm trường Duyên Hải. Nơi đây từng là khu rừng ngập mặn hiếm hoi của đất nước. Quân đội Mỹ rải chất độc hoá học khiến không có loài sinh vật nào sống được. Tất cả tàn lụi dần, trông thật kinh khiếp. Tôi đã quyết định ở lại đây ban đầu vì lòng thương cảm vùng đất này.

Ông yêu rừng như thế, vậy còn thời gian nào cho gia đình hay không?

Tôi yêu gia đình mình và hài lòng với cuộc sống hiện nay. Tôi không tin vào số phận mà tin vào những gì mình tạo ra cho cuộc đời mình. Có lẽ do sống với thiên nhiên, hiểu rõ quy luật của tự nhiên cho nên tôi cũng áp dụng nó vào quy luật của đời mình. Cuộc đời tôi cũng đã có lúc rơi vào tuyệt vọng như chuyện mấy năm trời đi tù oan chỉ vì mình tin là mình đúng, người ta sai. Nhưng giờ ngẫm lại, là do mình không có cách ứng xử phù hợp. Rồi tôi cũng không giận ai lâu. Khi ai chửi tôi thậm chí hại tôi, tôi tự hỏi vì sao. Nếu trả lời được thì không giận họ nữa. Tôi tự cân bằng mình bằng cách sắp xếp công việc cho mình và gia đình sao cho hợp lý. Bản thân tôi phải đi rừng suốt, lại còn làm quản lý, đi dạy học và ngồi viết nghiên cứu. Cũng có khi tôi tự cho phép mình ra khỏi quy luật một chút bằng những ngày làm việc liên tục và ngủ bù hai ba ngày triền miên. Thi thoảng rơi vào trạng thái “ngoài quy luật” cũng khiến tôi thấy thú vị và tạo cảm hứng cho đời sống. Với tôi, biết hưởng thụ cuộc sống cũng là cách hoàn thiện bản thân.

Cám ơn ông về cuộc trao đổi thú vị này.

Tiến sĩ vật lý Nguyễn Văn Khải: “Càng giúp nông dân, càng tìm được nhiều phương pháp”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:57 am
Tags:

Lao Động Cuối tuần số 8 Ngày 07/03/2010 Cập nhật: 7:19 AM, 07/03/2010

Tiến sĩ vật lý Nguyễn Văn Khải (bìa trái).
(LĐCT) – Hiếm có tiến sĩ vật lý nào ở nước ta cũng được nông dân nhiều tỉnh thành từ Bắc chí Nam mời tới, nhờ cứu giúp  cây, trái, tôm, bò, gà… bị bệnh, bảo quản hoa trái tươi lâu… như ông Khải – người được họ quý trọng, thương mến gọi là “Ông già Ôzôn”(Ozone).

Với ông, giúp nông dân là giúp cái gì quan trọng nhất?

– Phương thức sản xuất mới chỉ cao  hơn kỹ năng  cũ của họ một chút.

Cái “một chút” ở đây là được đo theo chuẩn nào, thưa ông?

– Ví dụ thế này nhé: Họ có thói quen đổ ụp sọt thanh long lên sàn ôtô, tôi hướng dẫn xếp thanh long vào sọt thấp hơn chiều cao sọt, bê để lên ôtô. Dưa hấu, thấy họ lăn, vứt  uỵch  quả dưa, tôi nói trải  khăn vải ra, bưng để lên trên, chậm rãi thôi. Mận tam hoa chín, họ lấy gậy đập, nhặt trái rụng, tôi chỉ cách ngắt. Cam quýt họ vừa bứt, vừa nói chuyện, rồi ném xuống đất. Cam quýt bứt thì đau tay, năng suất lại thấp. Có vùng chuyên canh quýt tôi đến,  phát ra 126 cái kéo cắt quýt, chẳng  ai muốn dùng.

Tôi nghĩ cách bảo bọn trẻ con lấy kéo cắt quýt thi, thấy “hay hay”, có hiệu quả, bà con làm theo. Tôi nghe nông dân kể, đêm, họ nằm đếm có 98 tiếng bịch, sáng hôm sau, ra vườn nhặt đúng 98 quả sầu riêng chín rụng. Tôi nói với họ, nên tích cực chủ động, ban ngày đi gõ, thấy trái chín 85% là hái. Rất nhiều chuồng trại ở nước ta sai về cách và thời gian chiếu sáng, nông dân cứ nghĩ, con lợn, con gà, cần gì ánh sáng?

Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, chất lượng không khí,  rồi mới tới thức ăn, nước uống – những yếu tố quyết định kết quả chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản. Việc rửa thức ăn cho gia súc, gia cầm, đơn giản nhưng rất cần thiết. Chiếu sáng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm điện, bảo vệ môi trường, sử dụng dung dịch hoạt hoá điện hoá (nước ozone), theo tôi là hai yếu tố có tác dụng phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi, lại ngăn chặn dịch bệnh, giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng, chất lượng thịt.

Là một tiến sĩ vật lý, chuyên gia chế tạo các đầu thu laser, ông lại “ngoặt” sang việc giúp nông dân?

– Có thể áp dụng rất nhiều kiến thức lý sinh khi ra giúp nông dân. Thế này nhé: Quả cam người ta thường xếp thẳng, trái nhanh thối vì nước đọng ở núm. Tôi khuyên nông dân  để dốc nghiêng, vì khi dốc nghiêng, núm sẽ không đọng nước. Vì nghiên cứu đầu laser mà tôi biết cách chiếu sáng cho gà đẻ nhiều trứng, làm hoa nở đẹp, hãm hoa không nở… Áp dụng những kiến thức “cao siêu” vào những việc đơn giản, giúp nông dân có kết quả vì  những kiến thức đó là của tôi, không phải kiến thức vay mượn. Càng giúp nông dân nhiều, càng tìm ra được nhiều cách giúp nông dân.

Có khi nào ông nghĩ, tại  sao một chút cách thức làm việc đơn giản nhưng hiệu quả,  mà  bấy lâu nay, không ai  nghĩ  tới và chịu thay đổi?

– Tôi sinh ra ở Hà Nội. Thời gian tôi “xắn tay áo”  giúp nông dân nhiều nhất, có kết quả, tính đến nay  mới chỉ 15 năm, từ 1995; nhưng từ bé cho đến khi ra trận chiến đấu, đi học… tôi  luôn gắn với nông dân. Tôi nghĩ, cái “khác người” của tôi, chính là khi tới vùng nào, việc đầu tiên bằng con mắt của một nhà vật lý quan sát thật nhanh những thói quen xấu của nông dân trong lao động-sản xuất, những thói quen làm giảm chất lượng, sản lượng sản phẩm. Chữ xấu ở đây được xét dưới trình độ văn minh lao động.

Thưa ông, thói quen bắt đầu từ những hành động  có lựa chọn. Khi sự lựa chọn sai lầm cứ tiếp tục xảy ra, nó sẽ trở thành  thói quen xấu. Thói quen xấu của nông dân VN là được  tích tụ trong một nền kinh tế tiểu nông tồn tại hàng ngàn năm?

– Tôi nghĩ, tất cả do không có kỹ năng lao động. Không có kỹ năng bởi không được giáo dục. Chúng ta thường xuyên nói thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật cao, nhưng tôi có thể nói,  hiện chúng ta đang thiếu trầm trọng nguồn nhân lực kỹ thuật thấp: Những nông dân biết cắt lúa, hái vải, thu thanh long, chăn lợn đúng cách… Cần thay đổi cung cách ứng xử với sản phẩm mình làm ra. Không nên nhầm lẫn giữa phong thái làm việc chậm rãi với  cách làm việc lề mề, dềnh dàng.

Với tôi, quan trọng khi giúp nông dân là làm động tác mẫu để họ làm theo. Chỉ việc, ai cũng có thể chỉ, nhưng phải biết làm mẫu chính xác, để nông dân làm theo, vừa làm vừa giải thích vì sao có động tác ấy. Giúp nông dân không được phép sai. Mảnh ruộng, con bò, con lợn của họ  không phải là phòng thí nghiệm. Không có thời gian, cơ hội làm lại…

Từ đầu thế kỷ 20, một số học giả của nước ta chỉ rõ, phê phán những tính xấu của người Việt nói chung và nông dân Việt nói riêng. Tôi được biết, có những nghiên cứu xã hội đưa ra một phác thảo chân dung người Việt qua 10 đặc trưng cơ bản, trong đó nhấn mạnh: Nông dân Việt cần cù song dễ thoả mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng, ít quan tâm  đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm,…

– Tôi cũng đã từng nói thẳng: Nông dân Việt Nam không phải là người cần cù. Tôi vẫn thường gặp những phụ nữ 54 tuổi trèo cây hái vải bởi con cái  bỏ đi chơi, những người phụ nữ dân tộc làm lụng, trong khi ông chồng uống rượu say khướt… Tôi chỉ nông dân cách dùng nước ozone trừ sâu bệnh cho cây, họ nhờ luôn, thôi, bác phun nốt giúp cháu, cháu còn bận đi ăn cỗ ba ngày ở làng bên. Nông dân VN không kiên trì, họ bảo thủ,  không cầu tiến.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải giúp nông dân các vùng miền.  Ảnh do tiến sĩ Khải cung cấp.

Cái  nguy nhất của nông dân hiện nay là thoả mãn  với lợi lộc nho nhỏ trước mắt vừa có được, tâm lý “Ăn chắc/mặc bền”, “Nhịn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng” vẫn còn phổ biến. Họ  chỉ mơ những điều nho nhỏ thôi, rau trái từ 800 đồng bán lên 900 đồng, trong khi nếu chịu khó đầu tư một chút, có thể thu nhập cao hơn… Một cân quýt ở địa phương khi rộ mùa họ bán 3000 đồng, khi quýt lên giá 7000đồng/kg, thấy lời  gấp đôi, họ  đã vội đòi bán.

Khi tôi về  HN, họ nói dối với cả chủ tịch xã là quýt thối rồi, đề nghị lãnh đạo xã điện cho ông già Ôzôn nên bán đi. Tôi khuyên họ, cứ yên tâm, dùng nước ozone  có thể bảo quản trái cây được lâu, chờ bán được giá. Một số hộ vội vàng bán với giá 7000 đồng/kg. Một số hộ “thử” chờ, một thời gian  sau, quýt cháy hàng, có những hộ bán được 30.000 đồng/kg…

Khi tới giúp nông dân, tôi cũng có thói quen quan sát cực nhanh để nghĩ tới  tiếp ngay một điều: Họ sắp sửa nói không thật với mình  cái gì đây. Nghĩ vậy không phải để “bắt vở” họ mà  vì hiểu tâm lý “phòng thủ” của nông dân  xuất phát từ nỗi lo bị trị, bị trả thù, trù úm, chẳng hạn cả xã đang có vẻ sạch, riêng chuồng trại của nhà họ  gia súc bị bệnh, thế là họ làm xã mất điểm thi đua…

Chính quyền với họ vẫn là  cái gì đó mang tính răn đe. Họ sợ họ làm không hợp ý cấp trên… Tôi hiểu có những trường hợp, sau khi được giúp, họ không nói thật vì luẩn quẩn trong nỗi lo  bị nhà khác nghĩ là họ khá lên, giàu hơn, trong khi xung quanh họ vẫn còn người nghèo.

Nông dân Việt – tư tưởng bầy đàn vẫn còn, nghe ngóng, đợi người  khác làm, bắt chước, làm theo. Cái dở là sau khi biết người ta làm như thế nào, làm theo thì nhiều khi lại “cải tiến”, nhưng thực ra là bỏ qua công đoạn sản xuất, bớt xén vật liệu. Đặc biệt, 20-30 năm trở lại đây, là tâm lý “trên chưa bảo, chưa dám làm”…

Ông thường nói thẳng với nông dân về những thói quen xấu của họ?

– Nói thẳng chứ. Nói trong những cuộc tập huấn ở hội trường, trước hàng trăm người, nói khi ra đồng hướng dẫn cho bà con. Tôi nhìn nhận những thói quen xấu của nông dân để hiểu và tìm cách phù hợp giúp họ. Nhiều nơi, bà con đã trở nên thân thiết. Có dịp, thỉnh thoảng trở lại ghé thăm họ, họ lại vồn vã “báo cáo” tình hình  về chuồng gà “mình”, đồng làng “ta”, đầm tôm “mình”…

Biết ông Khải chẵn 10 năm, có dịp vài lần cùng ông đi thực tế, nhưng đôi khi  băn khoăn, tôi vẫn nói  thẳng ông với ông, sự sốt sắng giúp người của ông có thể bị suy diễn…; ông lại “can dự”, góp ý khá nhiều vấn đề… Ông Khải cười “Quan trọng là nói đúng  quy luật tự nhiên. Tôi được học hành cơ bản, nghiêm túc”.

Tôi biết, có những nông dân trẻ, những hộ gia đình khi gặp khó khăn vào “bước đường cùng”, thường  lắng nghe, làm theo, tiếp nhận sự giúp đỡ của ông Khải. Nhiều người  vượt lên hẳn, trở thành ông chủ. Kinh nghiệm “thương đau” từ vài lần thất bại khi đi giúp nông dân, khiến ông Khải  rút ra được một điều, giúp nông dân, phải có sự ủng hộ, phải cùng với chính quyền địa phương. Vai trò, tầm nhìn của chính quyền địa phương quan trọng.

Cuộc trò chuyện  giữa tôi và “Ông già Ozone” thỉnh thoảng lại bị ngắt quảng bởi những cú điện thoại, tư đồng nghiệp các báo gọi nhờ ông tư vấn cho các bài viết, từ một Việt kiều Canada gọi về đặt hàng bóng đèn huỳnh quang, từ Bình Thuận, Đồng Tháp, Đà Nẵng, nơi tháng một vừa qua, ông vừa ra giúp…

Trong cuộc gặp mặt cuối năm 2009 ở Cty CP Rạng Đông, ông  Phạm Thế Duyệt – nguyên Chủ tịch UBMTTQVN – nói với ông Khải: “Giúp nông dân Việt Nam giàu hơn lên là một việc cực kỳ quan trọng và rất to lớn”.

Một trong những chương trình  của TS Khải được biết đến nhiều là chiếu sáng tiết kiệm. Từ năm 2006 TS Khải hợp tác với một số các nhà khoa học Trung Quốc thiết kế, chế tạo thành công bóng đèn compact huỳnh quang làm sạch không khí có kiểu dáng khác với các loại đã có trước đây, công suất tiêu thụ điện năng 0,01W.

Sau 2 năm thử nghiệm, được kiểm định ở nhiều viện nghiên cứu của Trung Quốc, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường và Chất lượng Việt Nam, đã đăng ký thương hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, từ 1.1.2008 hai loại bóng này và các loại bóng huỳnh quang, LED khác được ứng dụng rộng rãi không những chỉ ở Việt Nam, Trung Quốc mà còn cả Mỹ, Đức, Canada, Thụy Sĩ, Nhật, Hàn Quốc… Trong 2010, “Ông già Ôzôn tiếp tục“ tiếp những chương trình giúp nước sạch, bảo quản trái cây,  chiếu sáng hợp lý, tiết kiệm điện…

Next Page »

Blog at WordPress.com.