Ktetaichinh’s Blog

March 18, 2011

Điều gì mới quan trọng?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:24 am
Tags:

28 phản hồi Đăng bởi Khai Tâm on 18/03/2011

Cách đây một tuần trở về trước, hình ảnh “người Nhật” trong mắt mình = tỉ mẩn + lẩn thẩn. Hơi máy móc, kỷ luật, và có phần lạnh lùng nữa. Tóm lại, theo tự điển ngôn ngữ hiện đại, là “củ chuối”!

Một viên gạch lát đường trên vỉa hè bị vỡ cần thay thế.  Thông thường chỉ cần 1 người, 1 xô vữa, 1 cái bay nhỏ và 5 – 10 phút. Nhưng ở đây, dễ bắt gặp trên đường một nhóm 4-5 người, chỉ để lo cho cái hòn gạch vỡ!  Hai người chặn hai đầu, cách xa “hiện trường” mỗi đầu khoảng 10m để “phân luồng giao thông” – vì là vỉa hè nên chủ yếu là người đi bộ và xe đạp, một vài chiếc mỗi phút trong giờ cao điểm, thấp điểm có khi nửa tiếng mới có một xe đi ngang. Một người trực tiếp lát lại viên gạch, người còn lại chuẩn bị vật liệu, dụng cụ, môt người nữa có thể đứng giám sát.  Thỉnh thoảng chở con đi học hai đón con về ngang qua những nơi sửa đường, gặp 2 bác ở  đầu phất cờ, dừng xe lại chờ lệnh chiều kia thông, có hiệu lệnh “mời” mới được phép đi. Bao giờ cũng kèm lời xin lỗi, và cảm ơn vì đã chờ đợi.   Nơi nào trải lại đường hay sửa những đoạn hơi dài thì cứ thế mà nhân số người lên. Đoạn đường được vá dài 5m cũng có khoảng chục người làm việc.  Cũng may là đường xá tốt, không mấy khi cần sửa, chứ không một người Việt như mình sẽ cứ phải ái ngại. Mình là người làm trở ngại người ta làm việc, mà cứ phải nhận lời xin lỗi. Là sao?

Vẫn thầm trách móc nhà trường sao rèn học sinh như rèn lính trong quân đội, “hành” con mình. Mùa đông, dù lạnh đến mấy cũng không đi tất trong lớp học của trường mẫu giáo, kể cả lớp học nhỏ nhất. Hàng tuần đều có những cuộc đi dạo, bất kể trời nóng chảy mỡ hay lạnh cắt da.  Mỗi đứa trẻ đầu đội mũ đồng phục có miếng vải che tai che gáy, khoác trên vai bình nước trà và cứ thế cả cô cả trò rồng rắn lên mây.  Các cấp lớn hơn thì tập thể dục giữa trời nắng chang chang.  Giữa mùa hè, đạp xe đi chợ, trời nắng người lớn đi trên đường còn thấy hoa xanh đỏ tím vàng hiện ra trước mắt, ngó vào sân trường thấy lũ trẻ đầu trần ngồi thành hàng giữa sân không một bóng cây, chờ đến lượt chạy!  Bụng dạ lẩm bẩm “Đúng là phát xít”.  Nhưng đó là mấy năm trước.  Công cuộc rèn con mình của nhà trường có hiệu quả trông thấy, chỉ sau khi sang đến năm nay bọn trẻ ít ốm đau hẳn đi kể cả những hôm thời tiết khắc nghiệt . Đấy không phải do công của người mẹ.

Một tuần nay thấy thêm nhiều thứ.

Trên TV, lãnh đạo đất nước kêu gọi người dân không mua xăng dầu tích trữ, để dành xăng cho những người sẽ phải đi di tản một chặng đường dài.  Rồi xăng dầu, dù vẫn có, nhưng nhiều nơi giới hạn số tiền mỗi lần mua.

Tưởng rằng tình hình biến động giá cả hàng hóa sẽ thay đổi, nhưng không. Ở vùng bị thiên tai, thậm chí các chủ máy bán hàng tự động mở ra phát miễn phí cho đồng bào. Các siêu thị hết hàng sớm trước khi có hàng mới đến, ông chủ đứng trước cửa xin lỗi vì không có đủ cung cấp cho nhu cầu của mọi người. Tại một cửa hàng mỳ ramen gần nơi tạm trú, chủ cửa hàng mở cửa và mời miễn phí tất cả mọi người, cho đến khi hết nguyên liệu để nấu. Trong tiết trời lạnh giá như giữa mùa đông  (trên dưới 0 độ C), tô mỳ nóng có sức mạnh thật lớn, cả về tinh thần.

Ở những nơi xa hơn, hàng hóa giảm giá, nhất là các nhu yếu phẩm. Lý do được chủ cửa hàng đưa ra: Để mọi người mua gửi/mang đến cho người thân ở những vùng bị nạn.

Hệ thống trang web bán hàng gần như lớn nhất nước ngừng gửi tất cả các thể loại email quảng cáo kể từ ngày 12.03, trong khi trung bình mỗi ngày một khách hàng phải nhận được 40-50 email quảng cáo của các cửa hàng trong hệ thống bán hàng !

Nếu “lạnh lùng”, tại sao người ta có thể yêu nhau được đến thế? Hóa ra mình nhầm.

Bởi ở đây người ta hiểu, tài nguyên quan trọng bậc nhất chính là  CON NGƯỜI.  Vì chẳng có tài nguyên gì, nên người ta càng coi trọng thứ vốn quý nhất này. Và cũng vì coi trọng con người, họ trở thành một trong những nền kinh tế đứng đầu thế giới, và hiện giờ, họ đã chứng minh cho cả thế giới biết họ có một nền văn hóa cũng đứng đầu thế giới.

Đơn giản là vậy nhưng mấy ai hiểu?

Một lần nữa, gia đình  KT xin cảm ơn những lời thăm hỏi từ tất cả, nhiều trong đó là những người bạn chưa từng gặp mặt.  Quả thực là trong cơn hoạn nạn mới thấy được nhiều thứ.  Thật xin lỗi nếu không trả lời kịp thời. KT chọn cách viết bài đều hàng ngày để báo bình an.

Có những comment ngỏ ý muốn quyên góp ủng hộ, xin hãy gửi tới Hội Chữ  Thập Đỏ Nhật Bản có địa chỉ trang web tại: http://www.jrc.or.jp/english/relief/l4/Vcms4_00002070.html

Advertisements

March 17, 2010

Vì sao Trung Quốc chỉ thích đàm phán song phương?

Ngoài việc tranh chấp với các nước ở vùng biển phía Đông Việt Nam, Trung Quốc còn có tranh chấp với Nhật Bản ở ba khu vực trong vùng biển phía Đông Trung Hoa. Một trong những tranh chấp đó liên quan tới bãi đá Okinotori, cách Tokyo khoảng 1.700 km về phía Nam. Trung Quốc không tranh chấp với Nhật về chủ quyền của bãi đá Okinotori, mà chỉ phản đối Nhật khi nước này đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho bãi đá này.

Trung Quốc dựa vào điều 121 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) để phản đối Nhật đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mở rộng ở Okinotori.

Trong công hàm phản đối Nhật vào đầu tháng 2 năm ngoái, Trung Quốc viện dẫn khoản 3, điều 121 của UNCLOS và cho rằng: Những hòn đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Trung Quốc lập luận rằng Okinotori chỉ là một tảng đá, nên không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như một hòn đảo.

Thế nhưng, ba tháng sau, khi Việt Nam cùng với Malaysia đệ trình bản đăng ký chung lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hiệp Quốc (CLCS), Trung Quốc lại phản đối bản đăng ký đó theo một lập luận khác với lập luận mà Trung Quốc đã phản đối Nhật.

Trung Quốc đã nói với 10 thành viên trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á rằng, họ nên làm việc với nhau trước khi làm việc với Trung Quốc để thảo luận vấn đề Biển Đông.

Giáo sư Carl Thayer

Công hàm phản đối của Trung Quốc viết: Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và vùng nước xung quanh, được hưởng những quyền chủ quyền và quyền tài phán bao quanh vùng nước cũng như tầng đất và đáy biển có liên quan… Chính phủ Trung Quốc yêu cầu Ủy ban không xem xét việc đệ trình của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Qua công hàm phản đối này, Trung Quốc đã biến “các bãi đá ngầmở biển Đông thành “những hòn đảo”, do vậy nên đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa trên các bãi đá này. Bất kể các bãi đá này, tương tự như bãi đá Okinotori, không có đời sống kinh tế riêng, do đó không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hiện nay, Trung Quốc đang dựa vào các bãi đá vừa kể để đòi chủ quyền khoảng 80% khu vực biển Đông.

Mới đây, trong một buổi họp báo giữa vào tháng 1, ông Mã Triệu Húc, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, tuyên bố: Đảo san hô Okinotori chỉ khoảng 10 mét vuông trên mặt biển khi nước thủy triều lên. Nó chỉ là một tảng đá, theo Công ước Liên Hiệp quốc về Luật Biển. Không thể đòi vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa quanh một tảng đá như thế.

000_Hkg2991146.jpg
Hội thảo quốc tế về vấn đề “Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển” tổ chức ở HN hôm 26/11/2009. AFP photo/Hoang Dinh Nam

Nói cách khác, cùng là bãi đá ngầm nhưng với Nhật thì Trung Quốc bảo Okinotori không thể có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa vì nó không phải là một hòn đảo, không có đời sống kinh tế tự lập. Còn ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi có các bãi đá ngầm như Okinotori thì Trung Quốc lại cho rằng, “các bãi đá ngầm” ấy có đời sống kinh tế độc lập để dựa vào đó đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng.

Những lập luận mà Trung Quốc sử dụng để phản đối Nhật khi Nhật đăng ký vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho bãi đá Okinotori mâu thuẫn với những lập luận mà Trung Quốc sử dụng khi đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trên các bãi đá ngầm ở biển Đông, trong tranh chấp với Việt Nam và các nước trong khu vực.

Phải chăng vì các lập luận này mâu thuẫn với nhau nên Trung Quốc không thích đàm phán đa phương? Nhật có thể dựa vào lập luận mà Trung Quốc đưa ra để đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà bác bỏ phản đối của Trung Quốc về đá ngầm Okitonori.

Tương tự, Việt Nam và các quốc gia khác đang có tranh chấp với Trung Quốc tại biển Đông có thể sử dụng lập luận của Trung Quốc về bãi đá Okinotori để bác bỏ đòi hòi của Trung Quốc.

March 6, 2010

China all at sea over Japan island row

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:37 pm
Tags: , ,

Japan’s Okinotori Island, which has a Tokyo postal address even though it lies roughly 1,770 kilometers south of the capital and it is actually a pair of tiny islets, has become a bone of contention for China.

Among other things, China refuses to grant it island status, and refers to it instead as an atoll, reef or simply a rock. By doing so, China hopes to throttle back Japan’s plan to create an exclusive economic zone (EEZ) there. The dispute over Okinotori, which Japan calls Okinotorishima, persists because it involves strategic concerns and rights to undersea resources over an area that is roughly equivalent to the entire land mass of the four main Japanese islands.

At an undersea resource development conference hosted by

Kyushu University last December that was attended by experts from China, Japan and South Korea and elsewhere, the cobalt-rich manganese crusts around Okinotori were highlighted. Although “rich natural resources” in the area are frequently mentioned as well by China, details are lacking.

At the East Asian Seas Congress in Manila last November, Japan’s submission to the United Nations Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) in March 2009 was discussed. This document addressed seven regions between Japan and the Philippines comprising 740,000 square kilometers. Besides potential overlapping claims with the United States and the Republic of Palau – not involving Okinotori – Japan is confronted by both China and the Republic of Korea (South Korea), which filed complaints last year with the CLCS concerning Japan’s actions on Okinotori. [1]

When the Democratic Party of Japan-led government headed by Prime Minister Yukio Hatoyama came to power last year, it wasted no time in declaring that Japan is allocating US$7 million in 2010 to create a facility on Okinotori in a bid to firmly establish yet another foothold there. This may seem like a large sum, but it represents less than 3% of the total amount spent thus far by Japan to sustain this remote island. Hundreds of millions of dollars have been allocated by the Japanese over the past two decades.

Japan now finds itself indebted to Vietnam, albeit indirectly. Vietnam is exposing curious contradictions that it has detected in China’s case against Japan in this instance.

Vietnam, along with other Southeast Asian nations, has a territorial dispute with China in the South China Sea. Last year, the Vietnamese government submitted a national report on the limits of its continental shelf “which lie 200 nautical miles beyond the country’s baselines in the northern part of the East Sea [Vietnam’s name for the South China Sea]” to the CLCS. This took place in late August.

Together, Vietnam and Malaysia also presented another joint report to the CLCS on the continental shelves of both countries, “which extend out over 200 nautical miles from their baselines in the southern part of the East Sea”.

The Vietnamese national report and the Vietnam-Malaysia joint report preceded the approval by the Japanese Diet (parliament) of a law in 2010 that authorizes the central government – not local government – to manage and control both Okinotori and the even more remote Minamitori Island, southeast of Tokyo – and about 290 kilometers more distant than Okinotori.

While China dismisses all of these actions by Japan as illegal, it is anxiously looking over its shoulder at the emboldened Vietnamese.

“The construction of infrastructure will not change Okinotori Reef’s legal position,” said China’s Foreign Ministry spokeswoman Jiang Yu at a press briefing in January, adding that this violates international maritime law. [2]

Japan claimed Okinotori, also known as Douglas Reef or Parece Vela, in 1931 as part of Ogasawara village in the prefecture of Tokyo, and officially named it Okinotorishima.

“The Japanese claim to an EEZ and continental shelf around Okinotorishima is based on several factors,” said Associate Professor Peter Dutton of the China Maritime Studies Institute at the US Naval War College. “First, Japanese scholars claim that Okinotorishima is an island that qualifies under the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) for an EEZ and continental shelf in that it sustains economic activity, even though it is apparently not much more than 10 square meters in size at high tide.

“This argument has only the most tenuous support under the current state of international law. The Japanese seem to recognize this fact and have set out a second legal basis, namely that Japan has longstanding historic interests in Okinotorishima, the adjacent waters, and the resources of the surrounding seabed. In Japan’s view, these interests have consolidated over time into legally protected rights.”

China points to Article 121 of UNCLOS, which defines an island as “a naturally formed area of land, surrounded by water, which is above water at high tide”. China designates it as a rock under the same article – rocks cannot sustain human habitation or economic life – because a rock by itself cannot be used to claim either an EEZ or by extension a continental shelf submerged in a relatively shallow sea.

By acting as if it has legal standing under UNCLOS, China has suddenly opened the door for Vietnam, and Vietnam has seized the opportunity.

The strategic importance of Okinotori cannot go unnoticed as it sits halfway on a line between the huge US military base on the island of Guam and Taiwan. While divergent Chinese and Japanese strategic interests are driving this dispute, China’s need to navigate freely is increasing.

“China has staked legal positions that have de-legitimized foreign military operations in a coastal country’s EEZ. China’s objections to US military activities in its EEZ are based on these legal perspectives,” said Dutton. “On the other hand, as China’s naval power has grown over the last couple of decades, China’s strategy for controlling the outcome of events throughout East Asia in times of crisis has also evolved. During times of crisis, China now has aspirations of challenging outside naval powers for control of the waters between the first and second island chain.” (The first island chain encompasses the Yellow Sea, the East China Sea and the South China Sea. The second encompasses the Japan Sea, the Philippines Sea and the Indonesia Sea.)

This puts China in an awkward position to say the least.

“To be consistent with its demand that the US cease performing military operations in and above China’s EEZ, China would not be able to undertake military operations in the waters of Japan’s EEZ surrounding Okinotori. As such, to preserve their own security interests, China refuses to recognize Japan’s claim,” said Dutton.

Prior to Vietnam’s move, the chief objective here for Japan had been to politely ignore China’s protests and to ensure that, above all else, Okinotori should not somehow sink beneath the sea.

“There is no change in the nature of the dispute. Japan has been planting coral on Okinotori to secure its status as an ‘island’, while China keeps criticizing [and asserting that] it is a ‘rock’, so as not to allow Japan’s EEZ,” said Yukie Yoshikawa, senior research fellow at the Reischauer Center for East Asian Studies in Washington, DC.

Planting coral there is just one of the latest Japanese measures, which have included pouring tons of concrete, at a cost of $280 million, to encase both of the islets, as well as covering them with a titanium net which cost another $50 million.

In 2005, Japan mounted a large address plaque there so that everyone would immediately know on arrival that they had reached “1 Okinotori Island, Ogasawara Village, Tokyo.” Soon after this was put in place, Tokyo governor Shintaro Ishihara was photographed kissing the plaque and waving the Japanese flag over it. He kept his life jacket on at the same time. [4]

As China attempts to convince the rest of Asia that what Japan is now undertaking actually harms its neighbors, Vietnam shakes its head.

“If Japan’s efforts succeed, other countries will not be allowed to fish or share other rich natural resources in a region that is currently regarded as international high seas,” said Wang Hanling, an expert in maritime affairs and international law at the Chinese Academy of Social Sciences. “Besides, for some neighbors such as China and the Republic of Korea, the fleets’ freedom of navigation along some key routes in the area will also be hampered. That will pose risks to their national security.”

In its dealings with Japan, China has even raised the issue of fairness at times, a tactic which must amuse Hanoi.

“Japan’s claim over Okinotori, which lies between Taiwan and Guam, is in a strategically important position for Japan’s benefit,” said Jin Yongming, a researcher at the Shanghai Academy of Social Sciences. “But the move has harmed other countries’ navigation interests and marine survey in the sea waters around Okinotori, and is contrary to the principle of fairness.” [4]

Why China is beginning to realize that the stance it has adopted here might backfire is becoming increasingly apparent. Vietnam still claims sovereignty over the Paracel Islands – China’s Xisha Islands – in the South China Sea, while the Spratlys, or Nansha Islands as China calls, them are claimed by China, Vietnam, the Philippines, Brunei and Malaysia.

In early 2009, or perhaps earlier, Vietnam started picking apart the “reefs and islands” argument raised by China supposedly under UNCLOS rules in its case against Japan, and said in effect, “Wait a minute, China, you are arguing the exact opposite regarding our claims in the East Sea.”

One minute, argues Vietnam, China asserts that Okinotori cannot have an exclusive economic zone or determine the limits of a continental shelf because it is an atoll, reef or rock and does not have an independent economic life, and the next minute China asserts that so-called “islands” in the East Sea all have independent economic life so they can support a claim to exclusive economic zones and continental shelves of 200 nautical miles covering 80% of the East Sea.

None of this rings true, or not to the extent that it allows China to proceed down the path it is taking. Ownership of the islands in the East Sea is really not central to the outcome because Vietnam contends that “no country can claim up to 80% of the East Sea on the basis of a claim to ownership of these islands”. [5]

In other words, look closely and one can detect dozens of little “Okinotoris” dotting the South China Sea. China is just hoping that the rest of the world – at least the rest of the world which has been following China’s attempt to derail Japan – will overlook them.
“It seems as though Vietnam is signaling that it would be satisfied with sovereignty over the islands and to leave most of the South China Sea as high seas. The implication of Vietnam’s perspective, were Vietnam to consolidate its claims at China’s expense, is that most of the South China Sea would remain open for all states to fish and extract seabed resources,” said Dutton. “That is not the effect of China’s claims over the South China Sea.”

At the same time, if China is attempting to counter this clever tactic by Vietnam, it is not doing a very effective job. In fact, China appears to be turning a blind eye to Vietnam here.

“This position presents China with an additional dilemma that it has not yet publicly begun to reconcile,” said Dutton.

Beijing’s decision to build a luxury resort in the Paracels in the South China Sea has not helped the situation.

“[Vietnam] demanded in early January 2010 that China abandon the project, which [it] said causes tension and further complicates the situation,” said Yoshikawa.

Still, when Chen Bingde, chief of the general staff of the Chinese People’s Liberation Army and a member of the Central Military Commission, met with Nguyen Chi Vinh, Vietnam’s deputy defense minister, in Beijing in early March, there was no mention of this dispute, not publicly anyway.

China has been diligent in other maritime matters despite any protests elsewhere. Just last month, for example, China finished work on the last of 13 permanent facilities on islands and reefs in the East China Sea as part of another intensive EEZ extension and development process. A new lighthouse at Waikejiao is the latest addition.

“Because Japan and China tend to look at foreign policy in a more relationship-oriented manner – rather than Washington’s event-driven policies – if both countries are on good terms, which you can say for now, the Okinotori Island issue will be taken care of so that it does not dampen the relationship,” said Yoshikawa.

Japan is not likely to suffer any consequences as it proceeds with its plans on Okinotori.

“I do not see that happening for the foreseeable future as this is a peripheral issue which is more likely to be affected by overall Sino-Japanese relations,” said Yoshikawa.

Nevertheless, China has a very good reason for persisting in its efforts here, regardless if it annoys Japan or not.

“There is not much that China can do about Japan’s claim, given China’s own claims in the South China Sea,” said Dutton. “However, China will probably continue to diplomatically object to Japan’s claim in order to preserve Chinese freedom of military action in the waters surrounding Okinotori.”

Notes: 1.) EAS CONGRESS 2009 HIGHLIGHTS , Nov 24, 2009
2.)Beijing slams Tokyo move on atoll, China Daily, Jan 8, 2010
3.)Japan and China Dispute a Pacific Islet , New York Times, July 10, 2005
4.) Japan atoll expansion ‘hurts neighbors’, China Daily, Feb 11, 2010
5.) Vietnam delimits its continental shelf in UN report. Vietnamnet, Aug 2009
Peter J Brown is a freelance writer from the US state of Maine.

(Copyright 2010 Asia Times Online (Holdings) Ltd. All rights reserved. Please contact us about sales, syndication and republishing.)

January 3, 2010

Thập kỷ mất mát thứ ba đang chờ đợi nước Nhật?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:57 am
Tags: ,

Đã hai mươi năm ròng Nhật Bản vật vã vì hậu quả của những bong bóng trong quá khứ.

Với nhiều người Nhật, những năm bùng nổ kinh tế vẫn còn nhói đau trong ký ức.

Họ nhớ lại những cái giá đáng hổ thẹn để mua tác phẩm của Van Gogh và Renoir; những bất động sản ở Manhattan; những giờ làm việc điên cuồng rồi đổ xô đến các khu trượt tuyết đông chật chỉ đến tốn thời gian xếp hàng chờ thang máy.

Bong bóng vỡ thế nào lại khó nhận thấy hơn. Thế giới không sụp đổ sau ngày 29/12/1989, ngày giao dịch cuối cùng của thập kỷ đó khi thị trường tạo đỉnh.

Tới năm sau người Nhật vẫn vung tiền mua các tác phẩm nghệ thuật theo trường phái ấn tượng tại nhà đấu giá Christie’s.

Chỉ đến năm 1991 bong bóng bất động sản mới vỡ tung. Không có vụ sụp đổ kiểu Lehman hay lừa đảo kiểu Bernie Madoff nào để sự ngạo mạn hiểu được cái ngu xuẩn của chính mình.

Nhưng khi chỉ số Nikkei 225 đạt mốc 38.916 điểm 20 năm trước, sự sống bắt đầu thoát khỏi nền kinh tế Nhật Bản.

GDP danh nghĩa quý III năm 2009 cho dù vẫn là khổng lồ nếu so với các nước khác đã giảm xuống dưới mức của năm 1992, khiến cảm giác có không chỉ một mà tới hai thập kỷ mất mát lại càng mạnh mẽ hơn.

Ngày 29/12, Nikkei đứng tại ngưỡng 10.638 điểm, giảm 73% so với đỉnh cho dù một ngân sách hào phóng được phác thảo hôm 25/12 mới giúp nó tăng thêm chút ít.

Giá bất động sản đô thị đã giảm gần 2/3. Một số căn hộ ở khu trượt tuyết giờ chỉ đáng giá 1/10 so với những gì “thế hệ bong bóng” đã trả để có được chúng.

Giá trị cứ giảm đều đặn như vậy tác động thế nào tới tâm lý người dân Nhật? Bong bóng vỡ không tàn phá nước Nhật như những gì cuộc Đại suy thoái đã làm với nước Mỹ trong thập niên 1930.

Thất nghiệp và tự tử tăng, đời sống thanh niên khó khăn hơn vì không kiếm nổi việc. Nhưng nước Nhật vẫn có tới 1,5 triệu tỷ yên tức 16.300 tỷ đôla tiền tiết kiệm, các doanh nghiệp xuất khẩu đẳng cấp và nhiều người dân vẫn may mặc, mua sắm và ăn uống xa hoa.

Như một quan chức cao cấp nói: “Người Nhật chưa bao giờ biết rằng mình đang ở trong một cuộc khủng hoảng, cho dù nền kinh tế có đang dần teo tóp.”

Tổn thất còn ẩn sâu bên trong mỗi cá nhân. Một trong những bong bóng đầu tiên nổ tung là bong bóng tâm lý: sự tự tin. Thay vì giận dữ, mọi người mất niềm tin vào sức mạnh kinh tế của Nhật Bản.

Tâm trạng nhà đầu tư nhanh chóng chuyển sang xu hướng ghét rủi ro. Đáng chú ý là nhà đầu tư cá nhân là những người đầu tiên rút khỏi thị trường, họ cũng bán ròng cổ phiếu trong giai đoạn 1991-2007. Mặc dù đã có 4 đợt tăng giá trong xu hướng giảm kể từ năm 1989 nhưng đều là nhờ sức cầu từ khối ngoại.

Người Nhật để tiền ở những nơi an toàn được chính phủ bảo đảm như bưu điện, những nơi này đến lượt mình lại đầu tư vào các trái phiếu an toàn. Kết quả là trái phiếu chính phủ loại 10 năm tăng giá 78% kể từ đáy năm 1999.

“Sản phẩm có thu nhập cố định là thị trường tăng giá dài nhất trên thế giới,” chiến lược gia trưởng của Goldman tại Nhật, bà Matsui nói.

Tâm lý giảm phát bắt đầu chiếm ưu thế. Khi giá giảm, tiền gửi ở ngân hàng hay bưu điện thực tế vẫn kiếm được khoàn lời không phải chịu thuế nhỏ.

Khi hệ thống ngân hàng bắt đầu lung lay lại bùng nổ làn sóng bán két sắt để dân chúng giữ tiền tại gia. Một quãng thời gian dài lãi suất bằng không thúc đẩy nhiều người tìm kiếm lợi suất cao hơn ở nước ngoài.

Tưởng tượng có một bà nội trợ quản lý tiền nong gia đình nào đó tên là Watanabe đang đặt cược vào trái phiếu Brazil, hơi châm biếm nhưng nếu vậy thì cho dù Tokyo có thất bại trong cuộc đua dành quyền đăng cai Olympic 2016, họ vẫn cứ tài trợ cho Thế vận hội tại Rio de Janeiro.

Vậy mà nhà đầu tư cá nhân Nhật Bản vẫn thận trọng với cổ phiếu quê nhà.

Tác động nguy hại nhất theo các nhà kinh tế đã được chuyển sang cho ngân hàng và doanh nghiệp.

Ngân hàng thấy mình ngập trong nợ xấu. Họ phải đối diện với những từ như thua lỗ, tái cơ cấu hay hợp nhất.

Nhưng theo Takuji Aida, nhà kinh tế tại UBS Nhật Bản, lợi suất dài hạn vẫn rất thấp do kỳ vọng giảm phát, do đó làm phẳng đường cong lợi suất (sự khác biệt giữa lãi suất ngắn và dài hạn).

Điều đó khiến ngân hàng không thể tìm được đường thoát suy thoái, vì vậy cho vay vẫn yếu ớt.

Trong khi đó doanh nghiệp tập trung vào việc trả nợ cũng như đối phó với giảm phát trong nền kinh tế nội địa và sức cạnh tranh từ các mặt hàng nhập khẩu giá rẻ.

Các nhà xuất khẩu lớn buộc phải tái cấu trúc và đã dễ chịu hơn trong đợt bùng nổ kinh tế từ 2002 đến 2007.

Nhưng doanh nghiệp trong các khu vực nhận được nhiều bảo hộ lại chống chọi kém: lợi nhuận, lương bổng và đầu tư đều giảm trong thập kỷ vừa qua.

Điều này gây tác động ngược lên các hộ gia đình. Khi doanh nghiệp thu hẹp, tỷ lệ hợp đồng lao động toàn thời gian đã giảm từ gần 80% lực lượng lao động năm 2007 xuống còn 66% năm 2007.

Tỷ lệ việc làm không thường xuyên thu nhập thấp do đó tăng. Lương bổng giảm khiến cả hai vợ chồng phải đi làm.

Có những hậu quả xã hội dài hạn khi thu nhập cứ giảm mãi thế này. “Cuộc suy thoái chậm chạp khiến mọi người không còn tự tin vào khả năng nuôi con của mình nữa,” ông Tasker nói.

Văn hóa vay mượn tiêu dùng yếu có nghĩa rằng dân chúng buộc phải dựa vào tiền tiết kiệm của mình hoặc cha mẹ.

Nhưng xã hội đang già đi nên tiết kiệm cũng tăng chậm dần. Tiết kiệm sẽ giảm khi có thêm người nghỉ hưu. Thập kỷ tới với thanh niên có lẽ sẽ còn khó khăn hơn hai thập kỷ vừa qua.

Theo Dân Trí/Nytimes

December 14, 2009

ĐỪNG BỎ LỠ CHUYẾN TÀU LẦN NỮA

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:29 am
Tags: ,

1. Giáo dục là trái tim của xã hội

A.S. Makarenko-nhà cải cách giáo dục kiệt xuất – danh nhân văn hóa thế giới người Nga – trong một lần bàn về tầm quan trọng của giáo dục đã từng ví von rằng: “nền giáo dục giống như trái tim, còn những công dân sống và làm việc trong xã hội giống như những giọt máu, được tim co bóp để đi nuôi sống cơ thể – tức là xã hội”.

Hiển nhiên một cơ thể khỏe mạnh luôn sở hữu một trái tim khỏe mạnh. Một xã hội, hay rộng ra hơn nữa một quốc gia muốn trở nên phát triển, trở thành cường quốc thì điều kiện tiên quyết hàng đầu luôn là một nền giáo dục phát triển, trong sạch, vững mạnh, nhanh nhạy hội nhập với thế giới bên ngoài, biết tiếp thu những kiến thức mới, công nghệ mới nhằm phục vụ cho công việc đào tạo và nuôi dưỡng nhân tài cho một xã hội tương lai.

Khoa học công nghệ ngày càng phát triển như vũ bão, kéo theo đó là sự thay đổi tất yếu của nền giáo dục trong mỗi quốc gia nhằm bắt kịp với tiến trình phát triển của khoa học công nghệ. Một triết lí giáo dục hôm nay có thể còn đúng, là chân lí, nhưng đến ngày mai có thể không còn đúng nữa. Bởi thế, một nền giáo dục được coi là thành công khi và chỉ khi nền giáo dục đó có đủ can đảm để gạt bỏ lề lối xưa cũ mang tính tiêu cực ko còn phù hợp với xu thế phát triển của khoa học và công nghệ, đi kèm với đó là mạnh dạn tiếp thu “gạn đục khơi trong” những cái mới, cái tiên tiến của những nước đi trước, từ đó rút ra một bài học, nhằm tạo nên bản sắc giáo dục cho riêng mình, mà có thể tóm gọn trong một câu nói rất đơn giản nhưng lại đầy ý nghĩa “ hòa nhập nhưng không hòa tan”.

2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

Thật vậy, nếu mở rộng tầm mắt vuợt qua cái màn ngăn cách về không gian và thời gian chúng ta nhìn sang nước Nhật – xứ sở của ngọn núi Phú Sĩ hùng vĩ những bộ quần áo Kimono nổi tiếng, hoa anh đào tươi đẹp, những miếng shushi bé xinh xinh vô cùng hấp dẫn. Nhưng có lẽ khi nhắc đến hình ảnh nước Nhật người ta liên tưởng ngay đến một cường quốc về khoa học kĩ thuật, xã hội phát triển ở mức cao, nhưng vẫn bảo tồn, phát triển được nền văn hóa với nhiều phong tục tập quán truyền thống của mình để trở thành một nét văn hóa vĩ đại của Châu Á khiến cho giới học giả, nghiên cứu phương Tây phải ngưỡng mộ.

Đi xa hơn một chút nữa vào thời điểm giữa thế kỉ 19 lúc đó nứoc Nhật phong kiến dưới sự cầm quyền của chế độ Mạc phủ Tokagawa, là một quốc gia nghèo nàn và lạc hậu trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội v..v (có khi còn kém hơn cả Việt Nam thời Nguyễn). Nhưng may thay, vào thời điểm đó nước Nhật lại có một vị minh quân, với cái nhìn vượt thời đại, đã kịp thời nhận thấy rằng, nếu cứ để sự tụt hậu về kinh tế, xã hội diễn ra mãi thì chẳng bao lâu một đế chế Nhật hùng cường trong quá khứ trong phút chốc sẽ trở thành một miếng mồi béo bở cho các nước thực dân xông vào xâu xé. Nguời đó chính là Minh Trị Thiên Hoàng, người đã quyết định đưa ra những cải cách triệt để, trên mọi mặt từ giáo dục, chính trị, quân sự cho đến kinh tế. Nhưng vấn đề được ông đặt lên hàng đầu là cải cách giáo dục, bằng việc từ bỏ lối thi cử khoa bảng, tầm chương chích cú kiểu cũ, thay vào đó là kiến thức khoa học – kĩ thuật của phương Tây, đưa sinh viên ra nước ngoài học tập.

Và đúng như triết lí của A.S. Makarenko, những giọt máu chất lượng cao cứ thế ra đời, tạo nên một thế hệ công dân, lãnh đạo mới, và kéo theo đó là hệ quả tất yếu của việc thay đổi cả hệ thống xã hội vốn ì ạch chậm chạp trong hàng mấy thế kỉ dài đẳng đẵng, chuyển sang một xã hội năng động, từ đó đưa cả một đất nước vốn dĩ có một nền nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc về kinh tế-quân sự, mà minh chứng tiêu biểu nhất là chiến thắng của hạm đội hải quân Nhật Bản trong chiến tranh Nga – Nhật năm 1905 và sau đó năm 1910 cả vùng Nam Mãn Châu và Triều Tiên cũng chính thức bị đặt dưới quyền kiểm soát của Nhật, để rồi hơn 30 năm sau Nhật Bản đã làm cả thế giới phải kinh hòang trứoc sức mạnh quân sự của mình trong thế chiến thứ 2.

Một cuộc cải cách thật vĩ đại và thần kì!

Cũng phải nhìn nhận rằng để có đuợc một nền giáo dục khoa học kĩ thuật phát triển nhanh như vậy, thì không thể chỉ cải cách riêng ngành giáo dục là đủ, mà cần phải đồng thời cải cách xã hội, chính trị một cách triệt để, nhằm tạo ra một cơ chế ổn định đồng bộ hỗ trợ lẫn nhau. Minh Trị Thiên Hoàng nhận thấy rằng: nền chính trị-xã hội Nhật Bản lúc đó rất lạc hậu, trở ngại lớn nhất là tầng lớp quý tộc phong kiến ăn bám xã hội. Nếu không cải cách triệt để hệ thống “ăn bám” này, thì giáo dục cũng như các ngành khác không thể phát triển đuợc.

Vậy nên ông quyết định ra lệnh bãi bỏ chế độ thái ấp phong kiến và chế độ bổng lộc đi kèm, thay thế bằng hệ thống quản lý hành chính theo cấp tỉnh. Thực hiện chế độ bình đẳng trong xã hội, mọi sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội phong kiến trước kia bị huỷ bỏ. Không những thế ông còn tạo ra một cơ chế để nhân tài có thể hiến kế giúp hưng thịnh quốc gia, bất chấp những cải cách đó có thể ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của mình. Như thế, ngoài cái uyên bác, minh triết của một nhà cải cách chiến lược, Minh Trị Thiên Hoàng còn là một nguời yêu nước, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh quyền lợi của phe nhóm cá nhân, chấp nhận cải cách để làm cho quốc gia hưng thịnh. Như thế, Minh Trị Thiên Hoàng đã đặt quyền lợi của tổ quốc, của quốc gia cao hơn cả những tư lợi ích kỉ thông thuờng của một con nguời bình thường.

3. Việt Nam đã lỡ một chuyến tàu

Quay trở lại với tình hình Việt Nam thời kì đó, dĩ nhiên cũng giống như Nhật, Việt Nam vào thế kỉ 19 là một nước nghèo nàn lạc hậu với nền kinh tế nông nghiệp thô sơ, tình trạng kinh tế – xã hội cũng hết sức bi đát, trong khi đó cái họa xâm lăng của nguời Pháp thì lại rõ mồn một hơn bao giờ hết. Truớc tình cảnh đó, một bậc trí thức cũng có cái nhìn đi trước thời đại là Nguyễn Truờng Tộ đã gửi 14 bản điều trần lên triều đình nhà Huế, đề nghị cải cách tất cả các mặt giáo dục, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v..v để biến Việt Nam trở thành cường quốc trong tương lai, và truớc nhất là có sức mạnh, để tự lực tự cường, tránh khỏi cái họa xâm lăng của thực dân Pháp. Tiếc thay! “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Triều đình Huế lúc đó tham quyền cố vị, ích kỉ chỉ biết nghĩ cho lợi ích cá nhân, tập đoàn phe nhóm của mình mà chẳng hề đoái hoài gì tới vận mệnh của sơn hà xã tắc trong cơn nguy khốn, nên đã xổ toẹt vào những lời vàng ngọc, quý giá, tâm huyết của Nguyễn Truờng Tộ. Xa hơn nữa, xét về một khía cạnh nào đó, triều đình Huế đã có tội với dân tộc với tổ tiên, khi đã bỏ lỡ một cơ hội ngàn vàng để đưa dân tộc Việt Nam trở thành cường quốc. Để rồi sau đó nứoc Việt Nam rơi vào vòng đô hộ của thực dân Pháp hơn 100 năm…

Kể lại lịch sử như thế là để chúng ta cùng nhau “ôn cố tri tân”, rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử để định hướng cho tương lai âu cũng là lẽ thừong tình ở trên đời. Ắt hẳn ai là người Việt Nam, dù có thể bất đồng quan điểm về vấn đề này, vấn đề kia, chắc chắn đều có chung một tâm nguyện, mong sao cho Việt Nam phát triển. Thế nhưng với quan điểm cá nhân của tôi – một sinh viên hiện đang sống và học tập ở Việt Nam, thì thực trạng giáo dục hiện tại của Việt Nam ta đã đến mức báo động. Có lẽ việc nêu chi tiết những hạn chế tiêu cực ở bài viết này là thừa, bởi điều đó đã có hàng ngàn, hàng vạn bài báo nói lên rồi. Rất rõ ràng. Rất chi tiết. Đành rằng, sai thì sửa, thế nhưng có một hiện trạng đã tiếp diễn hơn 20 năm nay trong nền giáo dục Việt Nam đó là sai mà… ko thấy sửa, hoặc sửa không triệt để, nửa vời.

Cả xã hội đã quá mệt mỏi với những lời hứa, tuyên bố của hết đời Vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo này đến Vị Bộ trưởng khác, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là “bắt cóc bỏ đĩa”. Chương trình giáo dục thì vừa nặng, lại không phù hợp với thực tế. Sinh viên học thì “bò cả ra” mà cũng không hết bài, trong khi đó do cách học chay, thuần lí thuyết, không thực hành nên sau khi học xong là “chữ thầy trả lại thầy”. Chương trình giáo dục chỉ tập trung đào tạo ra những con robot chỉ biết đọc và chép, hoàn toàn ko có tư duy sáng tạo, không có tính độc lập trong tư tưởng và suy nghĩ.

Bởi vậy, trong suốt 4 (hoặc 5) năm học đại học, sinh viên chỉ được trang bị những kiến thức xa rời thực tế, trong khi đó nhưng kĩ năng quan trọng của một nền khoa học – công nghệ hiện đại như tư duy logic, phong cách “team work” (làm việc nhóm), tự nghiên cứu, nhìn vấn đề trên nhiều khía cạnh v..v hoàn toàn không được đào tạo đến nơi đến chốn. Thế nên đến lúc ra trường, nhà tuyển dụng kêu ca, và lại phải cất công đào tạo lại, học lại.

Đó không chỉ là một sự phí phạm về thời gian, mà còn là sự phí phạm về tiền bạc, của cải của xã hội. Ấy là còn chưa kể những “dòng máu” được tạo ra không có chất lượng tốt nên đã làm cho cả cả nền kinh tế hoạt động trì trệ, bởi năng suất, hiệu quả lao động thấp. Điều này lại kéo theo cả sự tụt hậu đi xuống của nền khoa học, làm cho Việt Nam vốn đã lạc hậu trì trệ, lại càng trì trệ lạc hậu hơn.

Nhưng sự trì trệ này đâu chỉ gói gọn trong lĩnh vực khoa học giáo dục, nó còn tác động đến tất cả các vấn đề khác mang tầm vĩ mô như kinh tế, quản lí hành chính cho đến tầm vi mô như là giao thông, xóa đói giảm nghèo v.v… Mà hiển nhiên, cả xã hội đuợc ví như một cơ thể hoàn thiện, trong đó đòi hỏi tất cả các bộ phận làm việc phải đều và ổn định như nhau. Chỉ cần tay, hay chân, chúng ta bị thương, cũng ngay lập tức sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của tất cả các bộ phận khác trong cơ thể. Và đó chính là nguyên nhân hàng đầu làm cho biết bao nhiêu nỗ lực của chính phủ, các bộ ngành… trong hàng chục năm qua đều không đạt mục tiêu cao cả như mong muốn.

4. Xin đơn cử một ví dụ

Vấn đề tăng học phí chẳng hạn, ai cũng biết rằng với mức ngân sách hiện tại mà chính phủ đầu tư dành cho giáo dục là không đủ. Mà muốn phát triển giáo dục thì vấn đề “đầu tiên” là không thể thiếu. Bởi vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ra quyết định tăng học phí (có thể là 800.000 đồng/tháng). Nhưng nhìn vào mức thu nhập hiện tại của nhân dân, cộng thêm tỉ lệ lạm phát hai con số, giá cả tăng vùn vụt như hiện tại, nếu áp dụng mức học phí này thì chắc chắn rất nhiều sinh viên sẽ phải bỏ học bởi không có đủ tiền để trang trải học phí. Mà nếu không có tiền nâng cấp cho hệ thống giáo dục thì giáo dục lại ngày càng tụt hậu.

Rõ ràng, cải cách giáo dục đã động chạm và có liên quan đến rất nhiều các ngành khác trong xã hội. Trong khi đó sự lãng phí trong ngân sách giáo dục lại rất lớn – nguyên nhân do sự yếu kém trong quản lí. Đó là cái vỏng luẩn quẩn của giáo dục Việt Nam, không biết đến khi nào mới giải quyết nổi. Hết đề án này nọ, dự án thế này thế kia của Bộ đề ra những vẫn chưa thể giải quyết rốt ráo vấn đề. Tình hình giáo dục vẫn trì trệ, ngày càng xảy ra nhiều tiêu cực, Bộ trưởng vẫn lên hứa trước Quốc hội đều đều, và nhân dân cũng quá quen với những lời hứa này.

Chúng ta có thể thông cảm với ngài Bộ trưởng, bởi lỗi không phải do ngài. Bởi như lịch sử – thực tế đã chứng minh: để tiến hành cải cách giáo dục có hiệu quả, thì không thể chỉ cải cách riêng ngành giáo dục là đủ, mà phải cải cách cả hệ thống chính trị – xã hội đi kèm. Tất cả các quốc gia phát triển, văn minh trên thế giới đều có một nền giáo dục tiên tiến, và tuyệt nhiên không có bất cứ một quốc gia nào nghèo nàn, kém văn minh lại có một nền giáo dục phát triển cả. Đó là một thực tế, mà chúng ta không thể dùng lý luận nào đó để phủ nhận.

Nhìn sang các nước phát triển ngay trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, chúng ta bị bỏ xa quá rồi. Thời gian thì trôi vùn vụt, có ai chờ chúng ta đâu. Trong khi đó thi tụt hậu không còn là nguy cơ mà đã là một thực tế nhãn tiền. Bởi thế hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải có một sự thay đổi tư duy trong vấn đề hoạch định chính sách cải cách giáo dục. Chúng ta không cần những chính sách cải cách giáo dục nửa vời mang tính “bắt cóc bỏ đĩa”, mà là một chính sách cải cách toàn diện trên tất cả các mặt xã hội, kinh tế, văn hóa, lấy giáo dục làm trọng tâm. Muốn làm đuợc như thế thì cần phải có sự quyết tâm từ những bậc lãnh đạo cao nhất, cũng như sự nhất trí đồng lòng của tất cả các bộ ngành (chứ ko chi riêng của ngành giáo dục), thậm chí là cả toàn thể xã hội nữa, từ đó mới có cơ hội để cùng nhau bàn bạc tìm ra, một kế sách hợp lí cho ngành giáo dục.

Cách đây hơn 200 năm chúng ta đã một lần bỏ lỡ mất chuyến tầu song hành với các cường quốc khác trên thế giới. Hy vọng, giờ đây chúng ta ko phải lỡ tầu thêm một lần nữa. Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này

February 11, 2009

Quả bom Nhật

Quả bom Nhật – Bùi Tín

Vụ PCI đã không thể “khoanh” lại để ỉm đi. Nhóm lãnh đạo 14 nhân vật trong bộ chính trị nghĩ rằng “khoanh” được vụ tày trời Tổng Cục 2 thì sẽ “khoanh” được mọi thứ. Họ đang “khoanh” vụ PMU18 lại gần 3 năm nay, còn lật án chuyển thành ra vụ đàn áp báo chí chống tham nhũng. Công và tội nhập nhằng, đảo lộn ! Gần đây họ “khoanh” lại vụ bàn về Luật đất đai và Luật báo chí, sợ bùng nổ . Vụ PCI nổ ra từ giữa tháng 7-2008, hơn 100 ngày rồi. 4 viên chức cấp cao Nhật đã bị bắt, khởi tố từ tháng 8, đưa ra xét xử giữa tháng 11 tại tòa án Tokyô, nhưng phía Việt nam vẫn lờ đờ, lần lữa, khoanh lại, bịt mồm báo chí, đến đầu tháng 11 mới đình chỉ chức vụ ông Huỳnh Ngọc Sỹ, để bắt đầu cuộc điều tra. Cả xã hội ấm ức, băn khoăn. Lời hứa kiên quyết chống tham nhũng như chống giặc còn đó, Luật chống tham nhũng đã ban hành, Uỷ ban đặc trách chống tham nhũng được thành lập với thủ tướng làm chủ tịch, với bộ máy thường trực hùng hậu, đầy quyền uy. Thế nhưng cả bộ máy vẫn cứ lề mề không sinh khí. Vụ PCI nổ ra là một thách đố. Tại Quốc hội, bị đại biểu chất vấn, ông thủ tướng bị động, bối rối, không trả lời nổi là cuộc điều tra đã tiến hành đến đâu, đương sự trước những cáo buộc của phía Nhật đã trả lời ra sao ? nhận hay không nhận tội, hay ấp úng thế nào. Ông chỉ biết hứa mép : ” sẽ phối hợp với phía Nhật, việc rõ đến đâu xử đến đấy “. Nhiều đại biểu quốc hội không hài lòng, thắc mắc thêm, nhưng đành chịu. Nhưng phía Nhật không chịu. Chính phủ Nhật không chịu. Nhân dân Nhật, người đóng tiền cho viện trợ ODA – Viện trợ Quốc tế Chính thức cho Phát triển – không chịu. Và thế là ngài Đại sứ Nhật ở Hànội MITSUI SAKABA không chịu; ông nổi giận. Tại cuộc họp hàng năm Nhóm Tư vấn các nước tài trợ năm 2008, với đề tài “Ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tiềm năng tăng trưởng ” , trước mặt những quan khách thượng thặng , các nhà đầu tư lớn nhất, các đại sứ, hơn một trăm nhà báo, phóng viên phát thanh, vô tuyến truyền hình, ông buồn rầu và cứng rắn tuyên bố – như cho nổ một “quả bom” : “Chính phủ chúng tôi quyết định đình chỉ các dự án ODA đang tiến hành ở Việt nam “. Đây là một “quả bom”, bởi nhiều lẽ : 1-/ Nhật bản là nước cung cấp viện trợ phát triển ODA lớn nhất cho Việt nam; 2-/ Các dự án đang được xây dựng và chuẩn bị xây dựng có ý nghĩa lớn cho nền kinh tế và đời sống xã hội ở Việt nam, đã bị treo lại, đặc biệt là : dự án xây dựng hành lang Đông – Tây của Sài gòn; dự án vệ sinh môi trường đô thị của Sài gòn; công trình thoát nước của thành phố Hànội (giai đoạn 2); công trình vệ sinh thành phố Hải phòng; đường tàu điện Métro của thủ đô Hànội. Các công trình trên đây ước tính trị giá hơn 900triệu $ – US đôla; xin nhớ số tiền này càng lớn giữa cơn khủng hoảng tài chính hiện tại; 3-/ Sau các cơn lụt, lũ, úng ngập ở Hànội và Sàigòn vừa qua, các công trình trên càng trở nên cấp bách, nay bị đình lại, treo giò chưa biết đến bao giờ, sẽ tai hại cho cuộc sống hàng ngày vốn đang cơ cực của đồng bào lao động ta; 4-/ Chính phủ và Toà đại sứ Nhật phải bực mình, giận dữ lắm mới xử sự quyết liệt cả về nội dung và cung cách như vậy: đột nhiên tuyên bố giữa cuộc họp chính thức lớn nhất hàng năm, kết thúc một năm và mở đầu một năm mới, không hé ra thông báo trước , cũng không tiết lộ trước cho báo chí Nhật về quyết định hệ trọng này; 5-/ Ngay sau đó, đại sứ Nhật ra về, trước khi tuyên bố và trả lời các nhà báo quốc tế và Việt nam , rằng: ” đúng, nhân dân Nhật không hài lòng về vấn đề vốn ODA không được xử dụng tốt ở Việt nam; đúng, nhân dân Nhật rất thất vọng về vụ PCI không được giải quyết nhanh chóng và minh bạch …” . Lẽ ra phía Việt nam phải giật mình, tỉnh hẳn ra trước “quả bom cảnh cáo” nghiêm khắc và rất thoả đáng này. Nhưng không phải vậy. Khuyết điểm phản ứng chậm chạp, lờ đờ, thiếu trách nhiệm của chính quyền Việt nam các cấp rõ rệt như vậy, nhưng ông thủ tướng Dũng không có một lời xin lỗi phía Nhật bản. Hình như danh từ “xin lỗi” không có trong từ điển của nhóm lãnh đạo cộng sản. Đã vậy, bộ trưởng kế hoạch và đầu tư Võ Hồng Phúc lẽ ra phải nhận ra nhiều sai lầm của mình trước quá nhiều ca thán của các nhà đầu tư trong cuộc họp này, trong đó có vụ PCI, thì không, ông ta vẫn nhâng nháo một cách vô duyên trước các nhà báo quốc tế rằng : ” Tôi hy vọng rằng chuyện này chỉ là chuyện tạm thời thôi, chúng tôi – tôi và ngài đại sứ (Nhật bản) – rồi sẽ sớm ký công hàm ODA 2009 ” (!). Lẽ ra đúng theo ngôn ngữ lịch sự, ngọai giao thì phải nói ” chúng tôi – ngài đại sứ và tôi …” , chứ không phải “…tôi và ngài đại sứ …”. Trước công luận, ông bộ trưởng – thật đáng tiếc – tỏ ra hơi bị coi là mất dạy. Cũng đúng vào ngày hôm nay 5-12, đại sứ Nguyễn Phú Bình ở Tokyo phát biểu đại thể : Nhật bản là nước giàu nhất ở châu Á, có nghĩa vụ (!) giúp đỡ các nước chậm phát triển như Việt nam. Cũng là một kiểu nhâng nháo vô duyên, không đúng lúc. Lẽ ra phải khiêm tốn, giữ im lặng , nếu không có gan tỏ lời công khai “đáng tiếc”. Yêu cầu được trợ giúp lớn, xử dụng trợ giúp mờ ám, khuất tất, lại còn vỗ ngực : anh có nghĩa vụ giúp tôi đấy nhé. Vừa vô duyên, lại vô lễ với người dân mình mắc ơn. Vẫn chưa hết. Cũng đúng chiều hôm nay, ở Sàigòn, ông phó chủ tịch thành phố Lê Thành Tài, người được giao trách nhiệm trực tiếp xử lý vụ PCI tuyên bố :” chúng tôi vẫn còn chờ bằng chứng(!), phía Nhật bản đến hôm nay vẫn chưa thông báo cho chúng tôi một bằng chứng nào cả ! “. Trời đất ơi ! Lời khai có tuyên thệ trước cơ quan điều tra, lời thú nhận trước Toà án Tokyô, trước cả Hội đồng xử án, về đưa tiền cho Huỳnh Ngọc Sỹ bao nhiêu lần, ở chỗ nào, ngày giờ nào, mỗi lần bao nhiêu, với mục đích gì, đối cung của 4 bị cáo khớp với nhau, mọi lời khai đều sớm chuyển cho phía Việt nam, đó không là bằng chứngbất động, rồi ăn nói dại dột, ngu ngơ như thế ! ư ! Ông Tài đã hỏi Huỳnh Ngọc Sỹ về chuyện này ra sao rồi? ông Sỹ khai sơ bộ ra sao? Bác bỏ hay thú nhận, hay không nói gì? các tài liệu, kế toán, thu chi về các dự án này đã được thu giữ chưa? những nhân viên kế toán, kế hoạch, ngân hàng liên quan đã được khai thác đến đâu rồi? Sao ông lại May mà vụ án lớn này không thể “khoanh” lại và ỉm đi vì dính đến Chính phủ Nhật, đến luật pháp và nền văn minh – văn hoá quốc tế. Thế nhưng nó vẫn chưa thức tỉnh nổi những quan chức cầm quyền, từ bộ chính trị, chính phủ, đến những viên chức then chốt ở bộ ngoại giao, bộ kế hoạch đầu tư, ủy ban phòng chống tham nhũng, ban thanh tra chính phủ, ban kiểm tra trung ương, viện kiểm sát và toà án nhân dân tối cao. Vụ PCI do đó sẽ còn kéo dài dai dẳng, gây nên những hậu quả tệ hại khôn lường. Nhiều nước khác, nhiều nhà đầu tư sẽ giảm chi viện, rút đầu tư, chờ đợi, chăm chú xem xét hành động của phía chính quyền Việt nam đã tỏ ra biết điều đến đâu, trưởng thành đến mức nào, hoà nhập thế giới văn minh đến mức nào. Họ chỉ đánh giá qua việc làm, không phải qua những lời hứa hão.Thái độ ù lỳ, kênh kiêu ngỗ ngược chỉ phơi bày sự kém cỏi, lạc hậu của một chế độ chính trị độc đoán khó chơi trước thế giới. Họ chỉ làm khổ dân, tự chuốc lấy sự oán hận, ghét bỏ và khinh thị của nhân dân khắp nơi. Paris 5-12-2008.

February 8, 2009

Một thoáng Phù Tang

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:59 pm
Tags:

(TBKTSG) – Cứ mỗi lần trở lại Nhật Bản là tôi có thêm một ấn tượng khác, những ấn tượng này chồng chất lên nhau cho tôi một kết luận là một xã hội văn minh cần xuất phát từ những con người văn minh, trong đó dân trí và “quan trí” phải được tôi luyện qua một thời gian dài.

Nhưng quá trình “trăm năm trồng người” của Nhật Bản không phải là con lộ du kích “đi tắt đón đầu” mà là một con đường dài lắm chông gai.

Thời du học vài thập niên trước của tôi tại Nhật Bản không cho một ấn tượng gì sâu sắc về đất nước Phù Tang này, có lẽ vì thời gian ở đây không đủ dài, cũng như vì chuyện học hành chỉ vùi đầu vào sách vở rồi phải tất bật kiếm sống, cộng thêm một chút ham vui của tuổi trẻ, đã chiếm hết thời gian để có cái nhìn phân tích khách quan về sự hùng mạnh của Nhật Bản trong vài trăm năm qua.

Nhờ vào sự sắp xếp cẩn thận của người thân tại Nhật và Internet, chuyến du hành Nhật Bản phần lớn bằng xe lửa siêu tốc Shinkansen đã đưa tôi đi qua hàng ngàn cây số, ngang dọc miền Tây Nam nước Nhật bao gồm ba đảo lớn Honshu, Shikoku và Kyushu. Trong vòng mười ngày, tôi đặt chân đến những thành phố lớn, thị trấn nhỏ, đi tham quan các di tích lịch sử, những khu du lịch thời thượng và đến tận vùng “hoang vu” quê mùa.

Xe lửa siêu tốc Shinkansen

Với cái vé Japan Rail Pass giá đặc biệt cho du khách nước ngoài, người ta có thể dùng xe lửa các loại đi khắp nơi, kể cả xe lửa siêu tốc (bullet train) Shinkansen, với số lần sử dụng vô hạn định trong một thời gian được quy định trước.

Có thể nói xe lửa Nhật là một hệ thống giao thông công cộng hoàn hảo bậc nhất thế giới. Giờ đi giờ đến được thiết kế chính xác từng phút và áp dụng nghiêm chỉnh từ xe vài toa chạy chậm ghé từng nhà ga ở vùng quê tới xe lửa siêu tốc Shinkansen đi xuyên qua các thành phố lớn nhỏ ở chốn phồn hoa đô hội. Xe lửa siêu tốc Shinkansen. Xe lửa Shinkansen là một niềm tự hào của người Nhật. Hơn 44 năm qua (từ năm 1964), Shinkansen là một phương tiện di chuyển nhanh được thiết kế chạy trên đường ray cổ điển bình thường và chưa một lần xảy ra tai nạn. Từ đống tro tàn chiến bại của Đệ nhị Thế chiến, chính phủ Nhật Bản đã có một tầm nhìn chiếc lược khôn ngoan là đối với một quốc gia đất hẹp người đông, Nhật Bản cần một hệ thống đường sắt mới (Shinkansen có nghĩa là “tuyến đường mới”) cho xe siêu tốc để gia tăng sự di động của dân chúng giữa các thành phố lớn và cũng để kích thích nền kinh tế qua giao thông. Để thực hiện dự án mang tính cách mạng này Chính phủ Nhật đã kiên nhẫn thuyết phục Ngân hàng Thế giới cho vay 80 triệu đô la (không bị cắt xén vì tham nhũng!) để xây đoạn đường sắt đầu tiên Tokyo – Osaka (600 ki lô mét) và khánh thành năm 1964 vài tháng trước Tokyo Olympic. Thời gian đi lại giữa hai thành phố này giảm từ 7 tiếng xuống còn 3 tiếng. Ở thập niên 1960, đây là một kỳ tích của thế giới. Trong bốn mươi năm qua, tốc độ của xe Shinkansen tăng từ 200 ki lô mét/giờ đến 250 ki lô mét/giờ, 280 ki lô mét/giờ và bây giờ 300 ki lô mét/giờ. Đầu xe bây giờ đa dạng hơn, không còn hình dạng “đầu đạn” nguyên thủy nữa mà trở nên dài ra hình mỏ vịt. Theo sự quan sát của tôi thì đường ray không thay đổi nhưng đầu xe đã được thiết kế nhiều dạng khác nhau để gia tăng hiệu quả khí động lực học làm giảm sức cản không khí. Đứng trên những nhà ga trung tâm như ga Tokyo, cứ năm mười phút là có một chuyến tàu Shinkansen đến hoặc đi, hay trên nhà ga tỉnh lẻ những đoàn tàu siêu tốc sầm sập chạy qua như mũi tên bay, chưa kịp chụp một bức ảnh thì tàu đã lao đi. Trong khoảng thời gian tôi du hành tại Nhật, công ty đường sắt Nhật Bản tuyên bố cho về hưu toàn bộ xe siêu tốc Shinkansen “Hệ Zero” đầu đạn tròn nguyên thủy. Chuyến xe cuối cùng không còn một chỗ trống. Hàng ngàn “fan” đứng đợi tại các nhà ga để từ giã chuyến xe cuối cùng và chụp hình kỷ niệm như là chia tay với một người thân và cũng để cảm tạ sự phục vụ tận tình của Hệ Zero trong 44 năm qua. Tình cảm người Nhật là như vậy. Lịch sử phát triển đường sắt gắn liền với sự phát triển đời sống của người dân và nền kinh tế Nhật Bản. Cùng một nhịp điệu phát triển với xe siêu tốc Shinkansen, những chuyến tàu chậm địa phương cũng được nâng cấp toàn bộ. Xe lửa Nhật cũng đã có một thời kỳ mông muội sơ khai. Nhớ lại vài thập niên trước, bàn cầu toilet của những chuyến xe lửa nhà quê lên tỉnh chỉ là một lỗ trống thông ra bên ngoài. Có nghĩa là những sản phẩm bài tiết cứ thế đi thẳng xuống đường ray, “gửi gió cho mây ngàn bay”. Vì vậy trước khi tàu dừng ở ga, ông trưởng tàu lúc nào cũng ân cần dặn dò hành khách ráng kiên nhẫn ngừng lại những hoạt động bài tiết! Nhưng đây là chuyện của quá khứ. Những chuyến tàu liên tỉnh giờ đây đèn đuốc sáng choang, ghế bọc da đẹp hơn ghế cấp business hàng không, toilet có cửa tự động, sạch sẽ rộng rãi như một en-suite trong khách sạn. Kochi: Miền đất hào kiệt Tượng đài anh hùng Sakamoto Ryoma Tôi và người thân đến thành phố Kochi (tỉnh Kochi) trong một ngày nắng ấm. Kochi là một tỉnh phía Nam của đảo Shikoku rất phong phú về nông và hải sản; phía Nam nhìn ra Thái Bình Dương, phía Bắc có rừng núi vây quanh. Shikoku là đảo nhỏ nhất trong bốn đảo chính, Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku tạo thành nước Nhật. Mặc dù ở một địa thế không thuận lợi, nhưng miền đất Kochi (tên cũ là Tosa-han) này đã sản sinh ra hai nhân vật lỗi lạc khác giai cấp, sinh ra cùng thời, mang trách nhiệm lịch sử to lớn, cùng quyết định sự hưng vong và canh tân của Nhật Bản. Sakamoto Ryoma là một samurai trẻ tuổi mang ý chí cách mạng. Ông là một nhà thương thuyết tài ba đã hòa giải hai thế lực thù địch của hai tỉnh khác nhau (Satsuma-han và Choshu-han) cùng liên minh để tiến hành việc lật đổ chính quyền Mạc Phủ làm cuộc vận động Minh Trị Duy Tân (1867) lừng danh thế giới. Ông bị tử thương trong cuộc mưu sát năm mới 33 tuổi. Cuộc đời bi hùng nhưng ngắn ngủi của ông được kịch hóa trong bộ phim tiểu thuyết lịch sử trường thiên và sẽ được phát hình trên kênh truyền hình quốc gia NHK vào năm 2010. Nhân vật thứ hai là Nakahama Manjiro. Manjiro xuất thân ngư dân, bị đắm thuyền ngoài khơi lúc 14 tuổi (1841) được tàu Mỹ vớt mang về Mỹ và được một người Mỹ nuôi cho ăn học. Do một sự ngẫu nhiên và may mắn, ông là người Nhật đầu tiên đến Mỹ và cũng là người Nhật nói tiếng Anh đầu tiên. Ông có tên Mỹ là John, người Nhật gọi ông là “John” Manjiro. Mười năm sau, ông tìm cách trở về Nhật giúp nước, hoạt động trong ngành ngoại giao, thông dịch và hàng hải trong buổi giao thời giữa Mạc Phủ và Minh Trị. Ông cung cấp những thông tin vô cùng quan trọng về Mỹ cho chính quyền Mạc Phủ đương thời. Ông viết ra quyển tự điển “Anh ngữ Đàm thoại” đầu tiên cho đại chúng Nhật và dịch sách hàng hải tiếng Anh. Trong những anh hùng của Minh Trị Duy Tân, ông chỉ là một bóng mờ “văn nhân” nhưng có công lớn trong quá trình duy tân đất nước. Ngày nay, người dân Kochi dựng tượng đài, bia đá, tổ chức ngày văn hóa, các giải thưởng mang tên hai ông để nhớ ơn hai người con Kochi lỗi lạc của dân tộc. Kochi: Dòng sông xanh Một cây “cầu chìm” ở Kochi. Kochi nổi tiếng với những dòng sông lớn. Nói là sông lớn nhưng đó chỉ là những dòng chảy ngắn và nhỏ khi so với những chi lưu của dòng Mekong. Chúng tôi đến thăm dòng sông Shimanto. Người ta gọi Shimanto là “dòng sông xanh cuối cùng” của nước Nhật vì đây là dòng sông duy nhất không có đập nước. Từ thành phố Kochi đến Shimanto không hơn 120 ki lô mét nhưng cũng phải vượt qua gần 50 cái đường hầm xuyên chân núi dài ngắn khác nhau, khi vài chục thước khi vài cây số. Dọc hai bên đường ô tô hay xe lửa là những thửa ruộng nhỏ vài chục mét vuông hay nhiều lắm vài héc ta nối tiếp nhau bị ngăn chia bởi núi đồi. Địa hình của toàn thể nước Nhật cũng tương tự như vậy với 70-80% bao phủ bởi rừng núi. Những cánh đồng ngút ngàn như đồng bằng sông Cửu Long không hiện hữu trên đất nước cằn cỗi này. Kỹ thuật đào đường hầm hay đào lòng biển của Nhật vì vậy đạt mức hàng đầu thế giới. Dòng sông này không phải là Vườn quốc gia (National Park) mà chỉ là một nơi bình thường với ngư dân sống lác đác dọc hai bên bờ. Sự hiện đại hóa của nước Nhật để lại rất ít những hình ảnh hoang vu như cảnh vật dòng Shimanto. “Dòng sông xanh cuối cùng” cũng là một con sông ngắn với dòng chảy êm đềm. Ngư dân ở đây vẫn còn giăng lưới bắt cá hoặc lươn, một việc bình thường ở Việt Nam nhưng lại là những cảnh quan hiếm thấy tại Nhật. Cuộc sống bươn chải, lao lướt của thành phố khiến người Nhật phải tìm đến những miền hoang dã như dòng sông Shimanto để hòa điệu cùng thiên nhiên, tìm về cái yên tĩnh và mộc mạc của nước Nhật 50 hoặc 100 năm trước. Chúng tôi thuê một chiếc thuyền đi dọc theo dòng sông. Dòng sông trong xanh trôi nhè nhẹ qua những cây cầu xi măng bắt ngang vừa đủ cho một chiếc xe hơi nhỏ chạy qua. Người dân ở đây gọi những cây cầu này là Chinka-bashi (Trầm hạ kiều = cầu chìm). Tôi tò mò hỏi ông lái thuyền sao gọi là cầu chìm, ông từ tốn trả lời “Dòng sông này mỗi năm ngập 2, 3 lần và ngập luôn cầu nên gọi là cầu chìm”. Tôi hỏi tiếp “Sao không làm cao?”, “Làm cao tốn kém lại không cần thiết, nếu ngập thì chỉ 2, 3 ngày là nước rút đi”. Ông bảo vào năm 2005, một trận lụt khủng khiếp xảy ra, nước dâng cao 20 mét chỉ cần thêm 1 mét nữa thì tràn qua đê. “Anh có thấy cái nhà hai tầng xa xa đàng kia không?”, ông nói, “Mực nước dâng cao qua khỏi nóc nhà đấy!”. Cuộc sống hơi khó khăn vì lũ lụt thường xuyên nhưng ông bảo đây là quê hương và ông không muốn bỏ lên thành phố. Mùa xuân, ngư dân giăng câu thắp những bóng đèn điện nhỏ để bắt lươn con về đêm. Những con lươn con sẽ được nuôi trong hồ cho đến khi trưởng thành. Món lươn nướng khoái khẩu và xúp lươn là một đặc sản trong vùng. Mùa hè, dân thành phố kéo về đây để xem hàng vạn con đom đóm bay xung quanh bụi cây như những cây thông Giáng sinh dọc theo dòng sông. Lâu lắm rồi tôi không nhìn thấy đom đóm và không biết bây giờ có còn ở vùng quê Việt Nam? Kochi: Ôn tuyền lữ quán Một tòa lâu đài cổ ở Kochi. Nước Nhật bị công nghiệp hóa và người Nhật bị “stress” cao độ. Có dịp, họ ùa nhau đi tìm sự thư giãn nơi mà họ có thể “yukkuri dekiru” (được thoải mái). Khi đi du lịch họ trú ngụ ở nhà khách truyền thống gọi là “ôn tuyền lữ quán” (nhà khách với suối nước nóng). Những lữ quán này có phục vụ trọn gói với phòng ngủ chiếu tatami, tắm suối nước nóng, ăn tối và ăn sáng theo phong tục Nhật. An Nam ta có “tứ khoái”, nhưng tôi nghĩ Phù Tang hơn ta một “khoái”, có đến “ngũ khoái”! Cái khoái thứ năm là thú tắm suối nước nóng. Nằm trong vòng lửa Thái Bình Dương, nước Nhật từ Nam chí Bắc đầy nguồn suối nước nóng, rải rác khắp nơi. Những “ôn tuyền lữ quán” mọc lên ở những địa điểm du lịch tạo ra khu thư giãn cuối tuần hay ngày lễ cho dân thành phố. Đây là nơi những cặp vợ chồng son cũng như những cặp vợ chồng luống tuổi, cụ ông cụ bà, hay là một nhóm đồng nghiệp lui tới cùng nhau thoải mái trong bể suối nước nóng, rồi sau đó tận hưởng các món cá, mực sống sashimi truyền thống, cùng khề khà chén chú chén anh qua cốc rượu sake. Nơi chúng tôi trú ngụ là một “ôn tuyền lữ quán” nổi tiếng Kochi với cái tên rất nên thơ “Thành Tây Quán” (Joseikan). Các nghi thức hành xử (etiquette) trong bể nước nóng từ xưa đối với người Nhật đã trở thành một quy luật bất thành văn. Nhưng gần đây có lẽ lối thư giãn này hấp dẫn khách nước ngoài nên phải có “quy luật thành văn” phụ đề Anh ngữ, treo ở cửa ra vào. Rằng là bất kỳ nam phụ lão ấu phải hoàn toàn “như nhộng” không được mặc một thứ gì trên người kể cả đồ tắm; rằng là không được ồn ào, không được uống rượu, phải dội nước sạch sẽ trước khi ngâm mình trong bể; rằng là người có máu cao, mang thai chớ có liều lĩnh mà thọt cẳng vào. “Ôn tuyền lữ quán” nơi tôi trú ngụ thuộc hạng 5 sao nên ban quản lý càng chi tiết hơn về vệ sinh cá nhân. Rằng người nào có ghẻ nhọt thì không nên vào, nhưng ai mang bịnh trĩ thì cứ thoải mái không sao! Bể nước được đặt trong một khoảng không gian rộng rãi, nước suối được mang từ ngoài vào chảy róc rách, được pha với nước lạnh để điều chỉnh nhiệt độ khoảng 42-45 độ C. Tôi tò mò tìm hiểu cái bảng phân tích treo bên cạnh bể; bảng liệt kê các chất khoáng chứa trong nước và các thứ bệnh như đau lưng, đau khớp, phong thấp, tay chân rỉ mồ hôi… mà nguồn suối này có khả năng trị liệu. Tôi từ từ ngâm mình vào nước, vừa lim dim đôi mắt, vừa lắng tai nghe tiếng nước chảy để gia tăng sự đê mê trong bầu không khí đầy hơi nước, tận hưởng cái cảm giác râm ran của những làn nước nóng tưởng chừng như xuyên qua từng lỗ chân lông, đi vào từng thớ thịt. Bên cạnh cái bể lớn là cái bể nhỏ có cùng một nguồn nước nhưng treo thêm một cái bao rất to, hăng hắc mùi thuốc. Sashimi cá ngừ (katsuo), một đặc sản Kochi. Bảng phân tích cho biết cái bao này chứa 10 vị thuốc Bắc như đơn quy, trần bì (vỏ quýt), cam thảo, quế, gừng… chuyên trị năm ba thứ bệnh linh tinh khác. Kiểm điểm lại thì tôi thấy không bị mắc thứ bệnh nào, nhưng tiện chân nhảy vào cho mát da mát thịt. Sau khi tắm và ngâm trong suối nóng, tôi được trao cái áo yukata, một loại kimono nhẹ, mặc qua đêm và dùng cơm tối. Tôi súng sính mặc vào, choàng thêm một cái áo ngắn tay, ngắm tới ngắm lui, đi qua đi lại. Oai phong lắm lắm! Chỉ cần có thêm một búi tóc phía sau và cạo đầu chừa một chỏm tóc phía trước, bên hông vắt theo thanh kiếm dài katana là tôi biến thành samurai của thế kỷ 18! Triết lý nhân sinh của người Nhật tập trung ở chữ “hòa” (hòa hợp, hòa bình). Sự giao tế giữa con người hay giữa con người với thiên nhiên xoay quanh chữ “hòa”. Ngay trong ẩm thực, tôi cũng cảm thấy cái “hòa” khi ăn một miếng sashimi chấm nước tương với wasabi rồi uống một ngụm nhỏ sake. Cái cay nồng của wasabi xông lên mũi chảy nước mắt dường như được “hòa” dịu bằng cái cay của hơi sake hâm nóng. Thêm cái dư âm lâng lâng, sảng khoái còn phảng phất sau cuộc ngâm mình trong bể nước suối “hòa” lẫn cái ngà ngà của men rượu, “mượn ba chén dập dìu trăng gió”. Hai ba cái “khoái” cùng hòa hợp một lúc tạo ra hiệu ứng cộng hưởng đồng loạt (synergetic) cho ta một cảm giác tuyệt vời, không thể nào dùng lời tả hết…

Create a free website or blog at WordPress.com.