Ktetaichinh’s Blog

May 3, 2010

Kiềm chế nhập siêu: Bài toán khó giải

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:26 pm
Tags:
Thứ hai, 03/05/2010, 01:53 (GMT+7)
Tháng 4, nhập khẩu đạt con số 6,95 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch nhập khẩu 4 tháng qua lên hơn 24,8 tỷ USD. Với kim ngạch xuất khẩu 4 tháng là 20,1 tỷ USD, như vậy, nhập siêu những tháng đầu năm đã lên khoảng 4,7 tỷ USD, tương đương với hơn 23% kim ngạch xuất khẩu. Với cách làm như hiện nay, các chuyên gia cho rằng, mục tiêu kiềm chế nhập siêu dưới 20% trong năm nay là rất khó.

  • Ấn tượng… nhập khẩu

4 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu của hầu hết mặt hàng máy móc, nguyên liệu phục vụ sản xuất đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý trong đó là các loại hàng hóa, máy móc, thiết bị cần thiết và chiếm kim ngạch lớn đều tăng cao. Cụ thể, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 4 tỷ USD (tăng 14,8%); xăng dầu gần 2,2 tỷ USD (tăng 19,6%); vải 1,5 tỷ USD (tăng 19%); sắt thép 1,6 tỷ USD (tăng 33,9%); điện tử, máy tính và linh kiện 1,4 tỷ USD (tăng 43,7%); chất dẻo 1,1 tỷ USD (tăng 54,7%)…

Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết mặt hàng máy móc, nguyên liệu phục vụ sản xuất đều tăng so với cùng kỳ năm trước

Trong khi đó, ở lĩnh vực xuất khẩu, nếu như các mặt hàng dệt may, giày dép, thủy sản… có sự tăng trưởng thì một số mặt hàng có kim ngạch lớn khác lại giảm như: dầu thô đạt 1,8 tỷ USD, giảm 9,2% (lượng giảm 47,2%); gạo 1,1 tỷ USD, giảm 3,1% (lượng giảm 15,8%); cà phê 655 triệu USD, giảm 22,8% (lượng giảm 16,1%).

Đóng góp đáng kể cho con số tăng trưởng về kim ngạch nhập khẩu 4 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm 2009 (tăng 35,6%) là khu vực doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có mức tăng 55,6% với con số 10,2 tỷ USD. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu (tăng 44%, đạt giá trị 9,5 tỷ USD) thấp hơn so với nhập khẩu của khu vực FDI là nguyên nhân khiến nhập siêu từ khối doanh nghiệp này 4 tháng qua là 700 triệu USD.

Bộ Công thương cho biết, một trong những biện pháp trọng tâm được tập trung thực hiện để kiềm chế nhập siêu là tiếp tục đẩy mạnh công tác khai thác, xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm các thị trường tiềm năng mới. Công tác xúc tiến thương mại sẽ được đẩy mạnh vào các thị trường chủ lực như châu Á (Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc…), châu Âu (chủ yếu là EU), Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada) cũng như các thị trường truyền thống, mới để tận dụng mọi khả năng xuất khẩu.

Để đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu từ khu vực doanh nghiệp FDI, Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan rà soát lại những quy định hiện hành về xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để loại bỏ các quy định không phù hợp, bảo đảm đơn giản, thuận tiện nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, nhìn ở góc độ khác có thể thấy, từ nhiều năm trở lại đây, kim ngạch nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI thường chiếm trên 30% so với kim ngạch nhập khẩu cả nước. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của khối này khoảng 6 năm gần đây trung bình trên 25%/năm (ngoại trừ năm 2009 giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới).

Nguyên nhân của tình trạng này do Việt Nam là nước có trình độ kỹ thuật kém phát triển, sản xuất trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu máy móc, thiết bị nên việc nhập khẩu hàng năm của doanh nghiệp, nhất là ở khu vực FDI đều tăng mạnh. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nước ngoài khi đến Việt Nam thường lấy mục tiêu tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại Việt Nam, sau đó mới tính đến xuất khẩu, do đó hiệu quả kinh tế đem lại cho Việt Nam từ hoạt động xuất, nhập khẩu của doanh nghiệp FDI là không cao.

  • Vẫn loay hoay với giải pháp tình thế

Năm 2010, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam dự kiến là hơn 72 tỷ USD (tăng 5,6% so với 2009), trong đó, mục tiêu kiềm chế nhập siêu thấp hơn 20%. Tuy nhiên, ngay chính Bộ Công thương cũng cho rằng đây là một nhiệm vụ khó khăn bởi phần lớn nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu, máy móc thiết bị (thường chiếm trên 80%) đều phải nhập khẩu.

Với việc không có giải pháp mang tính lâu dài nên năm nào cũng vậy, vấn đề nhập siêu vẫn được đưa lên “bàn cân” nhưng không thể đưa ra được lời giải. Ngay đến mặt hàng thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam là dệt may, để xuất khẩu được khoảng 3 tỷ USD trong 4 tháng qua, chúng ta phải nhập nguyên phụ liệu (bông, sợi dệt, vải, nguyên phụ liệu) khoảng 2,6 tỷ USD.

Chỉ số nhập siêu tăng cao trong khi kim ngạch xuất khẩu còn thấp

Hiện nay, việc hạn chế nhập khẩu khá hiệu quả tập trung vào các nhóm các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ phẩm và một số máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được. Tuy nhiên, nhóm hàng hóa này chiếm tỷ trọng không cao trong cơ cấu mặt hàng nhập khẩu (nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu và nhóm hàng hạn chế nhập khẩu thường chỉ chiếm khoảng 17%). Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên thừa nhận, hiệu quả kiềm chế nhập siêu thấp là bởi các biện pháp đang áp dụng hiện nay chủ yếu tập trung vào hàng tiêu dùng trong khi tỷ trọng của nhóm này rất thấp.

Người có mức thu nhập thấp rất khó mua được những sản phẩm ngoại cao cấp.Ảnh: VIỆT DŨNG

Trên thực tế, hàng loạt giải pháp nhằm mang lại hiệu quả trong ngắn hạn đã được ban hành như hạn ngạch thuế quan, áp dụng cấp phép nhập khẩu tự động, tăng thuế nhập khẩu… nhưng kết quả không có nhiều chuyển biến. Bình luận về việc áp dụng chính sách thuế trong việc giảm nhập khẩu, kiềm chế nhập siêu, ông Vũ Văn Trường, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) cho biết, việc tăng thuế kiềm chế nhập siêu chỉ là giải pháp ngắn hạn và cũng cần hết sức cân nhắc khi áp dụng đối với các mặt hàng. Bởi nếu tăng thuế, với nhiều mặt hàng dù thuế cao doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu thì sẽ làm tăng chi phí của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sản phẩm đầu ra và đây không thể là giải pháp lâu dài cho việc hạn chế nhập khẩu.

Những giải pháp mang tính chất tình huống như thuế, rõ ràng không thể là giải pháp lâu dài cho việc kiềm chế nhập siêu. Phát triển công nghiệp phụ trợ là giải pháp đã được nhắc đến từ nhiều năm để giải quyết căn cơ bài toán nhập siêu nhưng đến nay, văn bản về quy hoạch, phát triển công nghiệp phụ trợ vẫn chỉ là… dự thảo. Đó cũng là nguyên nhân giải thích tại sao, hàng năm tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu của Việt Nam đều rất lớn (năm 2008 và 2009 lần lượt là 27% và 21,6%)

Advertisements

February 10, 2010

Phạm Chi Lan- Vấn nạn nhập siêu từ Trung Quốc 2010-02-08

Mặc Lâm, phóng viên RFA
Chỉ riêng trong năm 2009, nhập siêu vào Việt Nam đã lên tới con số gần 7 tỷ đô la, trong đó một số đáng kể đến từ Trung Quốc.
Mặc Lâm phỏng vần bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế, nguyên là thành viên của viện nghiên cứu IDS, nguyên cố vần kinh tế cho Văn Phòng Thủ Tướng để tìm hiều thêm chi tiết sau đây:Rẻ – Chất lượng thấp

Mặc Lâm: Thưa bà, Bộ Công Thương mặc dù cho biết là đã đưa ra nhiều giải pháp để đối phó với tình trạng nhập siêu, chẳng hạn như hạn chế cho vay ngoại tệ nhập khẩu ô tô, hoặc hạn chế nhập hàng tiêu dùng, thế nhưng nhập siêu từ các nước, đặc biệt là từ Trung Quốc, vẫn chưa thấy dấu hiệu ngưng lại. Bà có ý kiến gì về vấn đề này, thưa bà?

Bà Phạm Chi Lan: Nhập siêu từ Trung Quốc thì thật ra tôi cũng đã nêu ra từ cách đây mấy năm khi mà người ta chưa đưa ra những con số nhập siêu cụ thể từ nước nào, thì tôi theo dõi và tôi đã lên tiếng là nhập siêu từ Trung Quốc và từ mấy nước xung quanh Việt Nam là nhiều nhất, trong khi Việt Nam lại xuất siêu sang Hoa Kỳ, sang Liên Minh Châu Âu, thì đấy là một điều không thật đúng và tôi cũng đã nêu là những cái nhập siêu như thế này thì có một thời gian các quan chức của Bộ Công Thương còn cho là không đáng ngại bởi vì nó tạo nên đầu tư cho tương lai, nhập máy móc thiết bị về là để đầu tư cho tương lai.

Nhưng lúc ấy tôi đã nói lập luận của tôi là nếu như nhập siêu máy móc thiết bị mà lại là những máy móc thiết bị không đảm bảo chất lượng cao, không có công nghệ cao thì Việt Nam cũng sẽ có thể có những ngành công nghiệp trong tương lại nhưng mà lại tiếp tục là những ngành công nghiệp lạc hậu, thấp về trình độ công nghệ, tiêu hao nhiều nguyên liệu cũng như năng lượng, và như vậy là sản phẩm làm ra vẫn không thể cạnh tranh được với ai. Thế mà con đường rồi sẽ lại tiếp tục nhập siêu từ chính các quốc gia mà đang bán máy móc thiết bị cho mình.

Mặc Lâm: Nhìn một cách tổng quát, khi Việt Nam nhập hàng của Trung Quốc thì yếu tố nào kích thích doanh nghiệp tư nhân cũng như quốc doanh quyết định chọn Trung Quốc mà không phải là nước khác, thưa bà?

Bà Phạm Chi Lan: Trong cơ cấu thị trường của Việt Nam thì thường khi nhập khẩu về phía các nước bị nhập khẩu có liên quan nhiều tới điều kiện về giá cả hơn là chất lượng, đặc biệt là của máy móc thiết bị đến công nghệ, thì đây là điều không xứng đáng vì đối với máy móc thiết bị công nghệ thì ảnh hưởng của nó là lâu dài, nó phục vụ cho việc tạo nên một dây chuyền sản xuất chẳng hạn, hoặc là đề làm ra các sản phẩm khác, như vậy nó sẽ gây những hậu quả rất là tệ cho các ngành công nghiệp. Và như vậy thì Việt Nam sẽ không thể thoát khỏi tình trạng nhập siêu được, bởi vì luôn luôn sản phẩm của mình làm ra nếu  từ những sản phẩm nhập khẩu đó thấp kém hơn các nước khác. Riêng đối với Trung Quốc, một trong những gốc của tình trạng nhập siêu hiện nay, bởi vì giữa nguyên liệu thô đem xuất khẩu và máy móc thiết bị nhập khẩu về thì cái chênh lệch về giá cả rất là lớn và nó mang lại thuận lợi chi phía nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu máy móc thiết bị nhiều hơn.

Thứ hai nữa là so với các nước ASEAN khác như Thái Lan, Malaysia, Philippines thì họ cũng buôn bán với Trung Quốc rất nhiều, chừng nào họ cũng nhập siêu từ Trung Quốc nhưng họ xuất khẩu được nhiều hơn các sản phẩm trung gian, thành ra đây cũng là những chế phẩm công nghiệp của họ, và họ xuất sang Trung Quốc cũng lại trao đổi lại để rồi làm thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng nhiều hơn để bán ra nước ngoài hoặc là để sử dụng trong nước. Đây cũng là một cơ cấu thuận lợi hơn so với Việt Nam mà chẳng cần xuất khẩu các nguyên liệu thô và nông sản.

Mặc Lâm: Theo bà thì làm cách nào để thay đổi thói quen có điều kiện này trong tư duy của doanh nghiệp đối với vần đề nhập hàng hoá máy móc thứ phẩm của Trung Quốc?

Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi, cái cách để có thể thay đổi được là giảm dần sự phụ thuộc vào Trung Quốc qua nhập siêu như thế này thì trước hết một là Việt Nam phải tìm mở rộng hơn nữa thị trường của mình trong việc mua sắm máy móc thiết bị công nghệ, và điều này đặc biệt cần thiết cho Việt Nam đang muốn hướng tới một thời kỳ mới công nghiệp hoá thúc đẩy lên để có thể bật lên được, chấp nhận mua những sản phẩm có thể giá cao hơn những mà chất lượng tốt hơn và rốt cuộc cuối cùng nó sẽ rẻ hơn so với nhập khẩu với giá thấp bây giờ. Ở đây đặc biệt là những mua sắm trong các công trình đầu tư của nhà nước cũng cần phải tạo được một cơ chế mua sắm làm sao cho nó đảm bảo được hiệu quả cao hơn .

Không minh bạch?

Mặc Lâm: Thật ra thì các khoảng tiền nhập siêu lớn đều do nhà nước chủ động tạo nên khi mua lại các máy móc thiết bị từ Trung Quốc mà không có sự giám sát chặt chẽ. Theo bà thì làm sao nhà nuớc có thể rà soát lại một cách nghiêm túc tất cả các yếu tố tiêu cực này?

Bà Phạm Chi Lan: Lâu nay phần lớn các công trình của nhà nước thì do các cơ quan nhà nước đứng ra làm chủ đầu tư hoặc là các doanh nghiệp nhà nước, thông thường thì hiệu quả của họ trong hoạt động là không cao, mà tôi e là cả về nhập khẩu cũng vậy. Cái thứ hai nữa là phải tạo tính mình bạch tối đa trong việc mua sắm các sản phẩm này, bởi vì lâu nay thì thông thường khi việc mua đó là chủ động của những người đứng ra đi đàm phán chuyên môn nhiều hơn và nó thiếu cái minh bạch để giám sát được, xem xét được của các sản phẩm đó ra bao nhiêu, giá cả có hợp lý hay không.

Chúng tôi biết là cũng không thiếu trường hợp nhập thực tế là với giá rất cao mà thiết bị vẫn lạc hậu như thường, công nghệ vẫn tồi tệ, nên từ đây là vấn đề rất lớn. Cái chính là những công trình lớn hàng trăm triệu đôla hoặc là năm bảy chục triệu đôla nó mới tạo nên nhập siêu lớn, thế còn nhập hàng tiêu dùng cùng có những không phải là cái đóng góp chính cho cái nhập siêu.

Mặc Lâm: Nhưng nếu cứ để cho nhà nước tự kiểm soát lấy mình thì dư luận cho rằng kết quả sẽ rất hạn chế, theo bà thì vai trò của xã hội có thể góp được gì trong việc này?

Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi thì phải tạo nên cái tính minh bạch cao và có sự giám sát, đặc biệt là xã hội hoặc là các tổ chức khác hay là những người bỏ tiền thuế của mình để cho nhà nước hoặc là doanh nghiệp nhà nước đi nhập khẩu từ bên ngoài thì phải có quyền giám sát vào để xem cái nhập khẩu đó có mang lại lợi ích cho đất nước hay không.

Tôi nghĩ là làm sao cho cái cơ chế về kinh doanh cho có sự tham gia nhiều hơn của các doanh nghiệp khu vực tư nhân vào tất cả các hoạt động đầu tư phát triển lớn của đất nước. Khu vực tư nhân thì bao giờ họ cũng có động lực tự thân của họ là phải hiệu quả vì không hiệu quả thì họ không tồn tại được, cho nên để cho doanh nghiệp tư nhân tham gia nhiều hơn vào những đấu thầu trong các dự án lớn nhiều hơn thì họ sẽ có một tính toán khôn ngoan hơn, đầy đủ hơn để có thể đảm bảo lợi ích của Việt Nam.

Mặc Lâm: Riêng các sản phẩm thô xuất sang Trung Quốc của ta đã chiếm một tỷ trọng khá lớn và đã giữ được phần nào cán cân thương mại giữa hai nước. Bà thấy có điều gì cần phải cải thiện thêm ở lãnh vực này không ạ?

Bà Phạm Chi Lan: Về chuyện xuất khẩu của Việt Nam thì rất cần cải thiện cái chiều xuất khẩu sang Trung Quốc bằng cách chấm dứt tình trạng xuất khẩu những sản phẩm thô hoàn toàn mà không chế biến, kể cả về khai thác quặng mỏ, thì tôi nghĩ là những cái gì Việt Nam hiện đang chưa có khả năng chế biến được để tạo thêm giá trị gia tăng thì cũng không nên tiếp tục khai thác nữa.

Việt Nam không phải ở trong tình trạng cách đây hai chục năm mà cần thiết quá phải khai thác dầu thô để đem bán, mà bây giờ có thể có những sản phẩm khác và cũng có thể thu hút thêm đầu tư để tạo thêm những ngành chế biến tạo thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm này trước khi xuất khẩu đi. Vả lại xu hướng chung của thế giới hiện nay là như vậy và Việt Nam cũng đang trong tình trạng tương tự và tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt dần cho nên buộc phải tiết kiệm tài nguyên và phải xem xét lại việc khai thác tài nguyên của mình.

Cho nên trong xuất khẩu sang Trung Quốc thì tôi nghĩ là cần phải chấm dứt những sản phẩm xuất khẩu hoàn toàn màn tính chất nguyên liệu thô, không qua chế biến, mà không hợp lý thì rất cần phải chấm dứt đi; đối với các sản phẩm khác thì cố gắng tạo thêm các khả năng xuất khẩu sản phẩm tạo giá trị gia tăng nhiều hơn; nếu mà không thì Việt Nam có thể gồng lên để cố gắng xuất khẩu nhiều nhưng giá trị vẫn rất thấp và không thể nào cái thiện cái chiều xuất khẩu từ Việt Nam lên được.

Mặc Lâm: Xin cám ơn bà Phạm Chi Lan đã giúp cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

January 28, 2010

Nhập siêu do ACFTA?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:56 am
Tags: , , ,

SGTT – Theo tin của nhật báo Bưu điện Jakarta hôm 21.1.2010, trong phiên điều trần giữa Chính phủ và uỷ ban Công thương thuộc Hạ viện Indonesia trước đó một ngày, bộ trưởng Thương mại Mari Elka Pangestu đã khẳng định rằng chính phủ nước này đã gửi thư lên ASEAN, yêu cầu đàm phán lại một số dòng thuế trong hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), về nguyên tắc có hiệu lực từ 1.1.2010.

Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Công thương Nguyễn Cẩm Tú, tổng thư ký uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và trưởng đoàn đàm phán chính phủ về thương mại quốc tế.

Thưa ông, việc Indonesia sẽ sớm thảo luận với Trung Quốc về việc hoãn thực thi ACFTA, liệu có gây một sức ép, hay khó khăn nào đó lên Việt Nam với tư cách Chủ tịch ASEAN?

Không hề. Thứ nhất, việc làm của Indonesia đã được dự liệu trong điều 6 của hiệp định, trong đó quy định nước tham gia có thể sửa đổi cam kết nếu được các bên nhất trí. Nước đó phải thông báo, phải tham vấn với các bên tham gia hiệp định, chủ yếu là với nước bị tác động trực tiếp. Khi sửa đổi như vậy, theo thông lệ quốc tế, phải có biện pháp đền bù, tức là đẩy nhanh lộ trình giảm thuế các mặt hàng khác.

Thứ hai, ACFTA không phải là hiệp định chung giữa khối ASEAN và Trung Quốc mà là hiệp định của 11 nước bình đẳng với nhau, quyền lợi ngang nhau. Vì vậy, việc Indonesia đề nghị hoãn giảm thuế 228 nhóm hàng và đẩy nhanh việc giảm thuế 153 nhóm hàng khác, theo như báo chí đưa tin, hoàn toàn là việc riêng của họ, chứ không phải của ASEAN, và càng không liên quan đến chủ tịch ASEAN.

Tuy là chủ tịch ASEAN, Việt Nam không phải lo giải quyết, hay làm trung gian hòa giải gì cả. Chúng ta chỉ phải hỗ trợ cho tiến trình để các bên đạt được thoả thuận tốt nhất, phù hợp với lợi ích chung của các bên và lợi ích riêng của nước là đối tượng thay đổi cam kết.

Theo nhìn nhận của một số chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh trình độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước còn yếu kém, Việt Nam tham gia vào chương trình thu hoạch sớm làm gì, để nhập siêu ngày càng tăng?

Tôi nghĩ có sự hiểu lầm trong cách đánh giá này.

Thứ nhất, chương trình thu hoạch sớm là một trong ba cấu thành của lộ trình cắt giảm thuế theo hiệp định ACFTA. Hai cấu thành còn lại là cắt giảm thuế theo danh mục thông thường, và cắt giảm thuế theo danh mục nhạy cảm.

Thứ hai, thu hoạch sớm chủ yếu động chạm đến hàng nông sản chưa chế biến. Theo số liệu căn cứ cho đàm phán lúc đó, tức là số liệu xuất nhập khẩu năm 2002, chương trình thu hoạch sớm sẽ có tác động đến 389 triệu USD giá trị hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc, và 280 triệu USD giá trị hàng hoá nhập khẩu từ họ. Trong đó, các mặt hàng được hưởng lợi từ chương trình thu hoạch sớm rất quan trọng tới Việt Nam, như hải sản (201 triệu USD) và rau quả (129 triệu USD).

Trên thực tế, riêng với các nhóm hàng thuộc chương trình thu hoạch sớm, xuất siêu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng theo từng năm. Số liệu xuất siêu từ năm 2004 đến 2008 khi kết thúc chương trình này, lần lượt là 88 triệu USD, 124 triệu USD, 186 triệu USD, 248 triệu USD, và 234 triệu USD (do khủng hoảng toàn cầu).

Nhưng đổi lại việc được hưởng lợi từ chương trình thu hoạch sớm với xuất siêu tăng nhiều chục triệu USD hàng năm, chúng ta lại chịu nhập siêu từ Trung Quốc tăng nhiều tỉ USD hàng năm, trong lộ trình cắt giảm tới gần 7.000 dòng thuế theo ACFTA. Ông nghĩ sao về ý kiến cho rằng với việc tham gia ACFTA, chúng ta đã tham bát bỏ mâm?

Theo số liệu năm 2001, căn cứ để đàm phán ACFTA, thực chất 53% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc khi đó bị tác động, tức là thuộc nhóm 90% các dòng thuế trong lộ trình cắt giảm, còn 47% kim ngạch nhập khẩu thuộc về 10% hàng hoá không nằm trong lộ trình cắt giảm thuế. Đến năm 2007, các con số tương ứng là 37% và 63%. Như vậy, chưa kể tới việc lộ trình cắt giảm thuế quan của ta chậm hơn năm năm so với Trung Quốc, rõ ràng suy luận trên là thiếu cơ sở.

Tại sao nhập siêu lại tăng mạnh như vậy? Chủ yếu là từ máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, hoặc để hình thành hạ tầng cơ sở và năng lực sản xuất. Những thứ không thể thiếu trong quá trình phát triển đó, nếu không nhập của Trung Quốc, cũng phải nhập từ nước khác. Nếu nhập từ nước phát triển, tuy chất lượng có thể tốt hơn, nhưng chắc chắn giá sẽ cao hơn nhiều và tổng nhập siêu sẽ lớn hơn nhiều. Đây là sự lựa chọn của doanh nghiệp, nằm ngoài ý chí của Chính phủ và của xã hội.

Không còn cách nào khác, chúng ta chỉ có thể giải quyết tận gốc vấn đề nhập siêu bằng cách phát triển các ngành sản xuất nguyên nhiên vật liệu, thay vì xuất thô nhập thành phẩm; phát triển ngành công nghiệp cơ khí để đáp ứng nhu cầu máy móc; ngành vật liệu xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng hạ tầng, và công nghiệp phụ trợ để khỏi phải nhập linh kiện phụ tùng.

Trước khi ta đủ lớn mạnh để có thể cạnh tranh với cường quốc đi trước chúng ta cả chục năm, với rất nhiều ưu thế, rõ ràng việc giảm thuế đã tác động đến sản xuất trong nước. Tại sao ta không tích cực dựng các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ nhà sản xuất, và cả người tiêu dùng, đối với những hàng hoá giá rẻ, kém chất lượng?

Chúng ta đã hội nhập tương đối sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực, và theo thông lệ, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia. Tức là không được phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, giữa hàng hoá trong nước và nước ngoài.

Không phải chúng ta không áp dụng những biện pháp kỹ thuật như vậy, nhưng kết quả lại không như mong muốn. Bởi, do trình độ công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất của ta còn tương đối thấp, hầu hết các nhà sản xuất của ta khó đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng cao. Chúng ta buộc phải tiếp cận vấn đề này một cách thận trọng và có lộ trình cụ thể để giúp các nhà sản xuất trong nước, chứ không phải tạo thêm khó khăn cho họ. Trình độ họ tới đâu, quy định về chất lượng nâng tới đó.

Tại sao chúng ta chưa có chính sách ưu tiên, khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng, còn những doanh nghiệp nào không theo được thì nên loại bỏ? Như vậy, cả nền kinh tế, cả những doanh nghiệp tốt và cả người tiêu dùng đều có lợi.

Đây là một vấn đề phức tạp, và phải cân nhắc rất nhiều vấn đề mới có thể đưa ra câu trả lời. Tôi xin hẹn một dịp khác.

January 5, 2010

Nhập siêu: 12 đồng hàng hoá, 1 đồng dịch vụ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:11 pm
Tags: ,

Khi hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng sâu, một số lĩnh vực sẽ khó lòng cạnh tranh hơn nếu chỉ dựa vào lợi thế về giá và nhân công.

Ngoài 12,2 tỉ USD nhập siêu hàng hoá trong năm qua, Việt Nam còn nhập siêu dịch vụ 1,071 tỉ USD, tăng 17% so với năm trước. Theo số liệu của tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu dịch vụ của cả năm 2009 ước đạt hơn 6,8 tỉ USD.
Vận tải biển: yếu trên sân nhà

Trong cơ cấu nhập khẩu dịch vụ, cước phí vận tải và bảo hiểm hàng nhập khẩu chiếm 52,3%. Hơn 20 năm qua, Việt Nam theo mô hình phát triển kinh tế dựa trên xuất khẩu. Có lợi thế 3.260km bờ biển, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu năm 2009 khoảng 144 tỉ USD, trong đó 80% là vận tải bằng đường biển. Tuy vậy, đội tàu biển Việt Nam mới chiếm 20% lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, theo báo cáo phân tích ngành vận tải Việt Nam năm 2009 của tổ chức Business Monitor Intelligence (BMI).

Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, nguyên nhân vận tải biển Việt Nam thua sút có phần do thói quen bán theo FOB, mua CIF của các doanh nghiệp trong nước. Từng có những khuyến khích nặng tính bảo hộ như hỗ trợ miễn giảm thuế cho hàng xuất khẩu nếu sử dụng tàu của Việt Nam, nhưng thị trường vẫn có các quy tắc sàng lọc được các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp. Cho dù doanh nghiệp xuất, nhập khẩu từ bỏ thói quen mua CIF bán FOB, thì đội tàu biển 17 tuổi như của Việt Nam hiện nay vẫn khó cạnh tranh được, bởi chi phí bảo hiểm cho tàu càng già sẽ càng lớn. Chưa kể tới năng lực vận tải của đội tàu trong nước vẫn còn thấp. Trọng tải trung bình của đội tàu Việt Nam hiện nay là hơn 5,5 ngàn tấn, trong khi của Thái Lan là trên 6,5 ngàn tấn và của Trung Quốc là 12 ngàn tấn, theo số liệu phân tích của công ty Chứng khoán phố Wall.

Do khó tìm được nguồn hàng, doanh nghiệp vận tải buộc phải kiếm sống bằng cho thuê định hạn. Điều này chứng tỏ chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trên các con tàu không phải yếu mà do năng lực khai thác và quản trị của doanh nghiệp Việt Nam.

Thua sút trong thị trường vận tải, doanh nghiệp trong nước cũng thua kém trong việc phát triển dịch vụ hậu cần vận tải, với thứ hạng 53 trong tổng số 150 nước về chỉ tiêu đánh giá dịch vụ logistic.

Vì vậy, để giảm dần tỷ trọng nhập siêu dịch vụ, chìa khoá không chỉ nằm trong tay doanh nghiệp hoạt động trong ngành vận tải mà cần có sự chung tay của doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng. Trong môi trường cạnh tranh mang tính toàn cầu như vận tải biển, các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh được ở mức độ quy mô và khả năng vận hành mạng lưới vận tải một cách chuyên nghiệp. Khi quyền quyết định mở các điểm trung chuyển phụ thuộc vào các hãng tàu lớn thì doanh nghiệp nhỏ khó lòng chen chân.

Du lịch: hiệu quả thấp

So với năm 2008, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ du lịch năm 2009 đạt 3,05 tỉ USD, chiếm 52,8% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ. Điều đáng nói là doanh thu xuất khẩu dịch vụ du lịch giảm nhiều hơn so với mức độ suy giảm lượng khách đến. Trong khi lượng khách ước đạt 3,8 triệu lượt, giảm 10,9% thì doanh thu xuất khẩu dịch vụ du lịch giảm 22,4%.

Việc doanh thu giảm mạnh hơn lượng khách cho thấy hiệu quả khai thác dịch vụ của ngành được mệnh danh là công nghiệp không khói chưa thật cao. Báo cáo về lữ hành và du lịch Việt Nam phát hành tháng 12.2009 của EuroMonitor Intelligence nhận xét, trong khi nhu cầu du lịch và lữ hành tăng nhanh trong những năm gần đây, hạ tầng của ngành du lịch Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu này.

Để thấy rõ hơn điểm yếu của du lịch Việt Nam, có thể dựa vào báo cáo đánh giá chỉ số cạnh tranh về lữ hành và du lịch Việt Nam do diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố cuối quý 1 năm ngoái. Trong 140 nước và vùng lãnh thổ được xếp hạng, Việt Nam đứng thứ 96 về năng lực cạnh tranh trong ngành du lịch. Lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam, theo báo cáo trên, là giá rẻ, xếp thứ bảy trong 140 nước, lãnh thổ. Các lợi thế cạnh tranh gồm có khả năng phát triển du lịch bền vững, ít ô nhiễm, chính sách ổn định, mạng lưới giao thông, tài nguyên về cảnh quan, thiên nhiên. Trong khi đó, chất lượng về hạ tầng giao thông, số lượng phòng khách sạn không đủ đáp ứng nhu cầu, tai nạn giao thông, chất lượng nguồn nhân lực đã làm giảm khả năng thu hút khách của Việt Nam. Tuy có được lợi điểm về di sản văn hoá, nhưng Việt Nam cũng mất điểm trong lĩnh vực này do thiếu các sự kiện triển lãm văn hoá hay hội chợ tầm cỡ quốc tế, theo đánh giá của WEF.

Câu chuyện nhập siêu dịch vụ cho thấy, nhân công giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang mất dần vai trò lợi thế cạnh tranh và trong đó, bài toán quan trọng là chất lượng nguồn nhân lực.

Quốc Khánh

December 15, 2009

Trade deficit rising at an alarming rate

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:36 pm
Tags: ,

VNBusinessNews.com – The Ministry of Industry and Trade has taken ‘tough action’ against certain products that are believed to cause a rise in the trade deficit such as cars and cell phones. However, as experts put it, only a long-term plan can get to the root of the problem. If not, businesses will run into more difficulties.

The Deputy Minister of Industry and Trade, Do Huu Hao, says that 2009 saw the lowest level of industrial output on record in 10 years. In recent months, many businesses had to increase the import volume of liquefied gas by 35.7 percent, petroleum-related products by 8 percent and pharmaceutical materials by 43.1 percent.

In the meantime, import revenues

were rather high in some commodities such as food and foodstuffs (US$1.12 billion), mobile phones (US$747 million) and cosmetics (US$130 million).

Excluding cars, the country imported nearly US$5.7 billion worth of products in the first 10 months of 2009.

Vietnam’s exceptionally high trade deficit has been chalked down to a continuing decline in exports since the beginning of this year. For instance, contracts for timber exports decreased by 10 percent in value due to pressure from foreign importers. As a result, the turnover from the export of wooden furniture only made US$2.6 billion in the first 11 months of 2009, a drop of US$200 million over the same period last year.

Many other industries fared no better, like textile and garment manufacturers which could sign export contracts but in a disadvantaged position.

Given this, the Ministry of Industry and Trade has introduced several solutions to curb the trade deficit, including increasing exports in the last few weeks of 2009. But many experts maintain that this will not change the situation; the bottom line is there should be a longer-term vision to solve the problem.

The director of a major company that imports Korean cars say that the new barriers set up by the country against imported cars have caught businesses off guard. As a point of fact his company and other firms have already signed contracts to import cars and many of these are on the way to Vietnam. Adding to the problem is an extended time needed for customs clearance that would impose higher taxes on the coming deliveries and cause substantial losses to importers.

Another car importer in Hanoi argues that it would be difficult for enterprises to go along with new, strict customs clearance procedures. For example, the import of second-hand cars now requires documents relating to all the previous owners, not only the most recent one.

In other words, the adjustment of import-export regulations should be done in a fair, reasonable and systematic way with a long-range vision

March 8, 2009

Domino theory Feb 26th 2009 From The Economist print edition

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:39 pm
Tags: ,

Where could emerging-market contagion spread next?

THE drought of foreign capital is beginning to wreck many economies in central and eastern Europe. Currencies, shares and bonds are tumbling, and some economists fear that one or more of these countries could default on its foreign debts. Emerging-market crises have a nasty habit of spreading as investors flee one country after another. Some Middle Eastern markets, notably Dubai, are already in trouble. But which of the larger emerging economies are most vulnerable?

To answer that question in the past, economists used to pay most attention to the solvency of governments, and hence their debt-to-GDP ratios. But today, the biggest risk in the emerging world comes not from sovereign borrowing, but from the debts of firms and banks. As foreign capital dries up, they will find it harder to refinance maturing debts or to raise new loans.

Our table (based largely on figures provided by HSBC) uses three indicators to judge how vulnerable economies are to the global credit crunch. The first is the expected current-account balance for this year. Large deficits need to be financed, but banking and portfolio inflows are now scarce, and even foreign direct investment, which used to be seen as less volatile, has fallen sharply this year. Many of the smaller east European economies had double-digit deficits as a share of GDP in 2008, although deep recessions will reduce them this year. Among the countries in the table, Pakistan, South Africa and Poland are tipped to run current-account deficits of 8% or more of GDP this year—the size of Thailand’s deficit before its crisis in 1997.

As well as financing a current-account shortfall, a country has to repay or roll over existing debts. If external finance is not available, it must run down its reserves. Thus a useful measure of financing risk is short-term debt (due within 12 months) as a percentage of foreign-exchange reserves. Anything above 100%, implying that debts exceed foreign exchange, should ring alarm bells. (At the start of 1997 Thailand’s short-term debt was 130% of its reserves.) The ratio is estimated at over 250% in both Latvia and Estonia, but in all the larger emerging economies it is below 100%. However, HSBC forecasts that South Korea’s short-term debt will exceed its shrinking reserves before the year is out. The reserve cover in Indonesia, South Africa and Hungary is also looking thin. Russia’s reserves have plunged by more than one-third as the central bank has tried to prop up the rouble, but it still has a comfortable cushion.

The third indicator, the ratio of banks’ loans to their deposits, is one measure of the vulnerability of banking systems. When the ratio is over 1.0 (as in, say, Russia, Brazil, South Korea and Hungary), it means that the banks depend on borrowing, often from abroad, to finance domestic lending and so will be squeezed by the global credit crunch.

To get an overall sense of financial vulnerability we have ranked all the countries on each of the three measures and then taken their average score. If all emerging economies were included, the smaller east Europeans, such as Latvia, Ukraine and Romania, would dominate the top of the risk league. Among the 17 larger economies shown in the table, South Africa and Hungary look the most risky; China the least. Hungary has already had to go cap in hand to the IMF for a loan. South Africa may yet have to. Despite higher gold prices, weaker mineral exports are causing its current-account deficit to swell, possibly to more than 10% of GDP this year, at the same time as net foreign direct investment is expected to slump, so the country needs to borrow even more. The rand, which has already fallen sharply, remains one of the most vulnerable emerging-market currencies.

Not again

In contrast, the Asian emerging markets generally look the safest, taking all six slots at the bottom of the table. The main exception is South Korea, which, thanks to its large short-term foreign debts and highly leveraged banks, is deemed to be as risky as Poland. (Vietnam, though not included in the table, also scores high on the risk rating). South Korea is in much healthier shape than during the 1997-98 crisis. For example, it is expected to move back to a small current-account surplus this year and its reserves are much larger. But its banks and its currency still look vulnerable. The won has already fallen by almost 40% against the dollar over the past year, swelling the local-currency value of its foreign debts. Increased financial jitters in east Europe could make it harder for South Korea to roll over the $194 billion debt which falls due this year. But currency-swap agreements with America, Japan and China will give it plenty of firepower to draw on.

The overall score in the table only ranks countries’ relative risks. To assess the absolute risk of a crisis you need to estimate external-financing needs (defined as the sum of the current-account balance and the stock of short-term debt) over the next 12 months. Jonathan Anderson, at UBS, has calculated the gap between this and the stock of foreign-exchange reserves for 45 countries. The good news is that only 16 of them have a financing “gap”; in all the others, reserves are more than sufficient to cover a year’s worth of payments, even if there were no new capital inflows. Virtually all of those 16 countries are in central and eastern Europe. They include only two large emerging economies from outside the region: Pakistan, which already has an IMF programme, and South Africa. By contrast, South Korea should not have a financing gap, thanks to its expected move back into current-account surplus. Most emerging economies’ large reserves will help to keep them out of danger. Unfortunately, the longer that the credit crunch continues, the more those reserves will start to dwindle.

February 11, 2009

ĐÔ-LA NGOẠI SẼ ĐI TỚI ĐÂU

Báo cáo “Lựa chọn thành công: bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam”

Cuối tháng 6-2008 báo chí đồng loạt đưa tin Việt Nam thu hút hơn 31,6 tỷ đô-la Mỹ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đến giữa tháng 7 con số này được dự báo là sẽ vượt qua mức 40 tỷ vào cuối năm 2008. Nhưng chỉ chưa đầy 2 tuần sau đó số liệu chính thức được công bố đã làm ai cũng phải kinh ngạc: hơn 45 tỷ đô-la Mỹ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được cấp phép trong 7 tháng đầu năm 2008. Cơn sốt tỷ giá USD/VND tạm lắng dịu từ cuối tháng Sáu vừa rồi là nhờ một phần tác động rất lớn của những con số FDI này. Nhà nước thì hồ hởi với những thành quả tột bật, người dân thì hy vọng điều đó sẽ cải thiện đáng kể tình hình u ám đầy bất ổn từ cuối năm 2007 đến giờ. Tuy nhiên, nếu phân tích một cách có trách nhiệm các con số này thì người ta sẽ phải thực sự lo lắng vì những hệ quả rất đáng lo ngại của nó. Hãy tạm bỏ qua những khả năng xấu nhất – dùng kinh tế bẫy chính trị – tức là đăng ký thật nhiều để được cấp phép nhưng sẽ thực hiện giải ngân vốn rất ít để đặt Việt Nam vào tình trạng sụp đổ do vỡ nợ. Hãy giả định một tình huống lạc quan nhất mà chính phủ đang trông đợi: nguồn vốn FDI sẽ được thực hiện giải ngân nhanh chóng và ồ ạt trong vòng 3 năm 2008-2010. Theo dự báo mới nhất chưa được công bố rộng rãi của cục Đầu tư nước ngoài, tổng số vốn FDI đăng ký trong năm nay sẽ đạt không dưới 50 tỷ đô-la Mỹ. Số vốn FDI đã được cấp phép trước cuối năm 2007 nhưng chưa thực hiện vẫn còn thời hạn khoảng 40 tỷ nữa, đưa tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên hơn 90 tỷ đô-la Mỹ đang và sẽ rót vào Việt Nam. Để đạt được con số ấn tượng này, chính phủ đã phải ưu đãi “giành” cho các nhà đầu tư nước ngoài những lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn, từ thuế đến đất đai, từ quyền kinh doanh đặc biệt đến cả những bảo hộ ngầm. Ngược lại, những con thú sừng dài này phải cam kết thực hiện giải ngân nhanh chóng theo tiến độ mà chính phủ mong muốn (2008: 10 tỷ USD, 2009: 15 tỷ USD, 2010: 20 tỷ USD). Những đồng đô-la ngoại này sẽ làm chuyển biến và tác động như thế nào đến các khía cạnh kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước là điều đòi hỏi sự quan tâm của không chỉ nhà nước mà cả đông đảo các thành phần xã hội.

Tỷ trọng nền kinh tế

Dù được mọi ưu đãi và tập trung hỗ trợ của nhà nước nhưng sau 20 năm kể từ lúc có luật đầu tư nước ngoài 1988, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chỉ mới chiếm tỷ trọng hơn 17% tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào cuối năm 2007 như số liệu của tổng cục Thống kê công bố:

Trong khi đó, thành phần kinh tế tư nhân (ngoài nhà nước) chỉ mới được công nhận chính thức từ đầu năm 1991 bởi luật doanh nghiệp tư nhân 1990, và chỉ thực sự có được một môi trường pháp lý tương đối tốt từ đầu năm 2000 bởi luật doanh nghiệp 1999. Thành phần này không nhận đầu tư gì từ ngân sách hay hưởng những đặc quyền kinh doanh và bảo hộ đặc biệt từ nhà nước, cũng là thành phần bị nhũng nhiễu nhiều nhất bởi tệ quan liêu hành chính và tham nhũng nhưng đã vươn lên dẫn đầu tỷ trọng GDP từ đầu thập niên 1990. Đến cuối năm 2007 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp đến hơn 46% tổng sản phẩm trong nước (GDP), bỏ xa 36,8% của khu vực kinh tế nhà nước vốn chiếm gần trọn ngân sách đầu tư quốc gia và hơn 70% lượng vốn cho vay của các ngân hàng huy động được từ người dân, cùng với 100% vốn vay của nước ngoài do chính phủ bảo lãnh. Tổng cộng trong 3 năm từ 2005 đến 2007, khu vực kinh tế nhà nước đầu tư đến hơn 546 ngàn tỷ đồng, chiếm hơn 45% tổng giá trị đầu tư phát triển toàn xã hội:

Tuy nhiên, cấu trúc tỷ trọng này sẽ thay đổi đột biến từ năm nay khi dòng đô-la ngoại rót vào ồ ạt để đầu tư phát triển cho khu vực kinh tế nước ngoài tại Việt Nam. Trong cùng lúc đó thì khu vực kinh tế tư nhân bị chính sách thắt chặt tiền tệ – nâng lãi suất để chống lạm phát – trói cứng, vốn để duy trì mức cũ còn khó nói gì đến đầu tư mở rộng. Khu vực kinh tế nhà nước thì phải cắt giảm đầu tư công, nhưng dù sao nguồn vốn đầu tư cho nó vẫn khá dồi dào. Theo tài liệu “Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009” của bộ Kế hoạch Đầu tư gửi các bộ ngành, địa phương vào cuối tháng 6-2008 vừa rồi thì tổng giá trị đầu tư công trong năm 2008 dự kiến đạt 238 ngàn tỷ đồng[1] (tăng 19% so với 200 ngàn tỷ năm 2007), năm 2009 sẽ đạt 295 ngàn tỷ đồng[2]; đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân (ngoài quốc doanh) được dự báo đạt mức 190 ngàn và 235 ngàn tỷ đồng tương ứng cho 2008 và 2009, đây quả thật là một con số quá lạc quan so với 187 nghìn tỷ đồng trong năm 2007. Tiếp tục lạc quan để đưa ra số dự báo trị giá đầu tư phát triển trong năm 2010 của 2 khu vực kinh tế trong nước này sẽ tăng 20% so với số dự kiến của 2009[3]. Những giả định lạc quan Tỷ trọng đầu tư này sẽ dịch chuyển tỷ trọng GDP theo thành phần kinh tế như thế nào? Để có đủ thông số để tính toán, chúng ta lại giả định những con số lạc quan nhất trong tình hình hiện nay:chỉ số giá tiêu dùng CPI trung bình 2008 tăng 25% so với 2007, 2009 tăng 15% so với 2008, 2010 tăng 9% so với 2009; chính phủ sẽ kiềm được tỷ giá VND/USD ở mức bình quân là 16.700 cho cả năm 2008, 17.200 cho 2009 và 17.700 cho 2010. Dùng chỉ số hiệu quả sử dụng vốn ICOR[4] (bằng mức thay đổi tổng giá trị đầu tư chia cho mức thay đổi tổng giá trị sản lượng GDP được qui về giá so sánh với 1994 theo chuẩn của tổng cục Thống Kê) cho từng thành phần kinh tế, có thể tính ra kết quả:

Tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế nước ngoài bứt phá từ 17% trong năm 2007 lên 30% trong 2008; đến 2009 thì vươn lên dẫn đầu với 35%, nhỉnh hơn thành phần kinh tế tư nhân trong nước một chút. Nhưng nó sẽ khống chế hoàn toàn với tỷ trọng 37.5% GDP, bỏ xa hai thành phần kinh tế trong nước vào năm 2010. Một đất nước mà ngoại lực kiểm soát đến 30% nền kinh tế thì chủ quyền của người dân nước đó sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Ở Việt Nam ta, khi mới đạt tỷ trọng có 15% – 17% GDP mà thành phần kinh tế nước ngoài đã tạo sức ảnh hưởng rất lớn, chi phối thao túng đến hầu hết các chính sách vĩ mô thì sức mạnh của lực lượng này sẽ đến mức nào một khi nó chiếm tỷ trọng khống chế của cả nền kinh tế. Tỷ trọng này sẽ còn lớn hơn nhiều nếu tính cả tác động của nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Chưa có số liệu thống kê nào cho biết hiện nay có bao nhiêu phần trăm tỷ lệ vốn của các doanh nghiệp trong nước (cả quốc doanh và ngoài quốc doanh) được sở hữu bởi các tổ chức nước ngoài. Nhưng với nguồn vốn khổng lồ tích lũy được sau chiến dịch đầu cơ vào thị trường chứng khoán Việt Nam quá thành công của bầy thú sừng ngắn vừa rồi, cộng với việc chính phủ vừa cho phép chuyển nhượng các dự án đầu tư bất động sản cho nước ngoài, và hiệp định đầu tư song phương Việt-Mỹ sắp ký kết sẽ hỗ trợ mạnh mẽ và đảm bảo cho hoạt động này, chưa kể tình trạng thiếu vốn do lãi suất cao buộc các doanh nghiệp tư nhân phải tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư gián tiếp này thì không ai có thể nghĩ cái tỷ lệ này sẽ dưới 25% trong một hai năm tới. Đầu tư trực tiếp sẽ kiểm soát 37,5% GDP, đầu tư gián tiếp sẽ kiểm soát 25% của 62,5% còn lại, tương đương với 15,6% GDP. Tổng cộng thành phần kinh tế nước ngoài sẽ chiếm trên 53% của cả nền kinh tế. Thật khó mà không choáng váng khi nghĩ đến một con số như vậy. Nên nhớ rằng các con số này được tính toán dựa trên những giả định lạc quan nhất, chưa tính đến các tác động tự nhiên và cả những tác động bằng sức mạnh có chủ đích của các thực thể tham gia vào quá trình kinh tế làm biến đổi nhanh chóng các yếu tố kinh tế. Xem xét các tác động này theo đúng qui luật vận hành thì sẽ thấy rằng những mong muốn lạc quan này là không có cơ sở. Lạm phát và nhập siêu Báo chí trong nước đang lạc quan về những dấu hiệu giảm dần của tốc độ lạm phát và nhập siêu trong tháng Sáu và tháng Bảy vừa qua. Điều này chẳng khác gì việc chườm đá cho con bệnh đang bị sốt. Nguồn gốc căn bản của lạm phát và nhập siêu chưa bao giờ được thừa nhận để áp dụng những giải pháp đúng phù hợp. Thay vào đó là những mệnh lệnh hành chính áp đặt chủ quan lên quá trình vận hành nhằm kiềm nén, che dấu những triệu chứng biểu hiện ra ngoài của căn bệnh đang ngày một trầm trọng hơn. Nhập siêu là một nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát. Trước hết nó tác động làm giảm giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ, sự suy giảm này sẽ làm gia tăng chi phí nhập khẩu. Nếu nhu cầu nhập khẩu phải giữ nguyên khối lượng để đáp ứng nhu cầu nội địa thì giá cả trong nước sẽ tăng vọt và tiếp tục làm tăng cao mức nhập siêu. Cái vòng xoáy lẩn quẩn ấy chỉ chấm dứt khi nào nhu cầu tiêu dùng nội địa bị cắt giảm đáng kể. Trong tình hình hiện nay của Việt Nam, sự cắt giảm nhu cầu này sẽ dẫn đến suy thoái và khủng hoảng, nhấn chìm cả nền kinh tế và gây rối loạn xã hội. Với trên 99% dân số thuộc thành phần nghèo, bình dân và trung lưu thì mức chi tiêu hiện nay của họ đa phần là cầu tự định (thuật ngữ kinh tế học để chỉ mức cầu căn bản tối thiểu mà người ta muốn sử dụng ngay cả khi không có thu nhập). Đang cố gắng thoát nghèo như Việt Nam ta thì mức cầu như vậy là chính đáng và cần được thúc đẩy. Nếu nó bị kéo thấp xuống thì trung lưu sẽ trở thành bình dân, bình dân trở thành nghèo, nghèo trở thành đói. Thành quả tăng trưởng của nhiều năm có thể bị xóa sạch. Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009 của bộ Kế hoạch Đầu tư cho biết: “tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội cả năm 2008 dự kiến đạt khoảng 925 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 27,4% so với năm 2007”. Con số tăng trưởng 27,4% này tương đương với mức lạm phát, có nghĩa rằng người dân phải trả một cái giá cao hơn 27,4% cho cùng một khối lượng hàng hóa và dịch vụ sử dụng trong năm 2007. Như vậy mức tiêu dùng nội địa không tăng trong khi mỗi năm dân số tăng thêm cỡ một triệu người, tính trên đầu người là giảm sút. Xu thế này tiếp tục thêm một năm nữa thì những rối loạn xã hội sẽ xảy ra. Một quốc gia xây dựng chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu mà không đạt được tình trạng xuất siêu ở mức cao để tạo dự trữ lớn và thặng dư đủ cho tiêu dùng nội địa thì sẽ rước vào mình những nguy cơ chờ sẵn. Chúng sẽ bùng phát khi thị trường các nước nhập khẩu bị sụt giảm và thị trường toàn cầu bị biến động. Dựa vào xuất khẩu mà lại nhập siêu là “cái chết được báo trước”. Việt Nam theo đuổi chiến lược này nhiều năm qua nhưng chưa bao giờ có được xuất siêu, thay vào đó nhập siêu liên tục, năm sau cao hơn năm trước. Các chính sách vĩ mô hướng ngoại của Việt Nam đã không mang lại đến quả mong muốn. Đầu tư nước ngoài và xuất khẩu được chú trọng thúc đẩy nhưng lại tạo ra giá trị gia tăng quá thấp nên phần thu nhập còn ở lại trong nước không đủ bù đắp cho nhu cầu tiêu dùng nội địa ngày một tăng. Trong khi đó chiến lược khuyến khích sản xuất thay thế hàng nhập khẩu lại được thực hiện bằng việc bảo hộ bởi các rào cản hành chính là thuế và giấy phép. Sự bảo hộ này lại chỉ dành cho thành phần kinh tế nhà nước và nước ngoài. Các doanh nghiệp được bảo hộ lại khai thác lợi thế đó để bán giá cao cho người tiêu dùng trong nước. Nhà nước giảm nguồn thu thuế, người dân bị giảm sức mua, tất cả lợi ích này chạy hết vào túi các doanh nghiệp được bảo hộ và các quan chức làm nhiệm vụ bảo hộ. Điều trớ trêu là lợi ích càng cao thì khả năng cạnh tranh của chúng càng thấp. Sau khi gia nhập WTO thì các rào cản hành chính dần bị gỡ bỏ, thuế suất nhập khẩu giảm dần nên hàng nhập khẩu giá rẻ và chất lượng tốt hơn trở thành lựa chọn chính đáng của người dân. Các doanh nghiệp được bảo hộ giờ đây không còn sức chống đỡ, nhiều doanh nghiệp nhà nước thì không biết làm gì ngoài việc kinh doanh trái ngành nghề như đầu tư vào chứng khoán, tài chính và bất động sản; doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì đóng cửa sản suất xoay sang kinh doanh hàng nhập khẩu. Nhập siêu tăng vọt là tất yếu. Cầu tiêu dùng nội địa Một phần nhu cầu tiêu dùng nội địa trước giờ được đáp ứng tốt bởi các nhà sản xuất khu vực tư nhân. Nhưng nguồn cung này đang bị sụt giảm và đe dọa nghiêm trọng bởi lãi suất cho vay quá cao hiện nay. Lực lượng sản xuất này đang chịu đựng để duy trì hoạt động, đầu tư phát triển để tăng thêm sản lượng là chuyện không thể. Trong khi đó, nếu nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam trong thời gian tới đây thì sẽ làm tăng mạnh mức cầu đầu tư trong nước. Đầu tư này chưa thể tạo ngay ra sản phẩm trong vòng 1-2 năm nên sẽ gia tăng sự thiếu hụt nguồn cung hàng hóa và dịch vụ. Điều đó sẽ tạo áp lực lên nhu cầu tiêu dùng nội địa làm nó càng tăng giá. Sự khan hiếm hàng hóa tất yếu xảy ra. Để hoàn tất việc đầu tư nhanh chóng, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng cường nhập khẩu. Với nguồn đô-la ngoại sẵn có cộng với chính sách miễn giảm thuế để thu hút FDI thì việc nhập khẩu này trở nên quá dễ dàng và thuận lợi. Nhập siêu lại tăng, bắt đầu cho một vòng xoáy lẩn quẩn mới. Vốn đầu tư vừa rót vào lại chảy ra ngay lập tức. Người dân chưa kịp hưởng thành quả của đầu tư thì đã bị lạm phát và khan hiếm hàng hóa hoành hành ngay lập tức. Như vậy có thể thấy nguyên nhân gốc của vấn đề lạm phát và nhập siêu là do nhu cầu tiêu dùng nội địa đã không được chú trọng để có giải pháp đáp ứng hiệu quả. Chính phủ đang giải quyết vấn đề này bằng lệnh kiềm chế giá một số mặt hàng thiết yếu. Nhưng đây lại chính là nguyên nhân làm gia tăng thêm lạm phát và thiếu hụt nguồn cung. Nhìn thẳng vào sự thật sẽ thấy người dân không được hưởng mức giá đó. Các mức giá đó chỉ tồn tại trên sổ sách và được dùng để thống kê chỉ số giá tiêu dùng CPI. Nhưng nó lại để ngỏ một cơ hội tuyệt vời cho tham nhũng. Bình thường không ai dễ dàng gì làm cái việc bán rất rẻ sản phẩm của mình dưới giá thị trường để nhận những khoản đút lót lớn của các đại lý phân phối, tuy nhiên khi có mệnh lệnh hành chính là phải kiềm giá để hỗ trợ chống lạm phát thì việc này trở nên rất hợp pháp. Đại lý phân phối các mặt hàng này muốn mua được hàng buộc phải chi một khoản tiền hối lộ lên đến 80% phần chênh lệch giữa giá thị trường và giá kiềm chế. Và đây mới chính là căn nguyên của nạn đầu cơ trục lợi mà các quan chức chính phủ lớn tiếng phê phán, đổ lỗi cho người dân và doanh nghiệp. Những nhà sản xuất đàng hoàng không thể lươn lẹo như vậy, cũng không thể phạm pháp mà bán cao hơn giá chính phủ yêu cầu, theo giá này thì sẽ chịu lỗ lớn mà người tiêu dùng cuối cũng chẳng đuợc hưởng gì. Họ chỉ còn cách dừng sản xuất làm cho sản lượng cung ứng cho toàn xã hội càng sụt giảm trong lúc nhu cầu thì không giảm. Giá cả vì thế càng leo thang. Những nguyên vật liệu đã nhập khẩu để sản xuất lại được xuất ngược trở ra. Nhập siêu vì thế mà giảm chút ít. Triệu chứng chườm đá ấy lại được tuyên truyền lạc quan. Hiện tượng một số ngân hàng hạ lãi suất cho vay hiện nay là sự áp dụng bài vở này của những quan chức tham nhũng lọc lõi. Lựa chọn chống lạm phát Chúng ta đang ở trong tình trạng bệnh rất nặng. Nếu các triệu chứng phát bệnh trầm trọng bị che dấu thì đến khi nó bùng phát sẽ không còn cách nào chữa trị. Nguy hại hơn nữa là nó làm cho định bệnh sai dẫn đến chọn sai phương thuốc. Nếu không mau chóng chấm dứt chính sách lãi suất cao để chống lạm phát thì nền kinh tế Việt Nam sẽ sụp đổ ngay vào năm sau. Có 2 phương thức để chống việc tăng giá do lạm phát tiền. Thứ nhất là thắt chặt tiền tệ để giảm lượng tiền đang lưu hành bằng cách tăng lãi suất đi kèm với cắt giảm chi tiêu. Thứ hai là gia tăng sản lượng nhưng không tăng thêm lượng tiền lưu hành. Cách thứ nhất làm giảm sản lượng dẫn đến thiếu hụt nguồn cung, hậu quả của nó đối với nền kinh tế Việt Nam như vừa phân tích ở trên. Cách thứ hai là lựa chọn tối ưu cho tình hình của chúng ta hiện nay. Tuy nhiên những thầy thuốc ngoại danh giá đã đồng loạt khuyến nghị, thậm chí tạo sức ép lên chính phủ để phương thức thứ nhất phải được thực hiện. Nền kinh tế Việt Nam lâu nay tăng trưởng dựa chủ yếu vào sự gia tăng nguồn vốn chứ không phải nâng cao năng suất và giá trị sáng tạo. Điều này chưa bao giờ được chú trọng cải thiện mà còn bị làm xấu hơn do hiệu quả đầu tư ngày càng thấp của khu vực kinh tế nhà nước. Hiệu quả sử dụng vốn chưa được cải thiện mà thắt chặt tiền tệ, nâng cao lãi suất, cắt giảm chi tiêu thì chẳng khác gì hút máu khỏi cơ thể và khai tử các doanh nghiệp trong nước. Nó đồng thời tạo ra một khoảng trống tuyệt vời cho các doanh nghiệp nước ngoài vốn chẳng bị ảnh hưởng gì bởi chính sách thắt chặt tiền tệ lấp vào thay thế. Đây chính là nguyên nhân sâu xa của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tăng vọt gần đây. Các nhà doanh nghiệp nước ngoài thừa biết và có thể dự báo chính xác được thời điểm xảy ra những khoảng trống như vậy. Và do đó, lúc nào thì sẽ thực hiện giải ngân nguồn vốn đã đăng ký để hưởng ưu đãi là những kế hoạch đầy mưu tính để đạt được hiệu quả tối ưu. Hãy xem xét lý thuyết của phương thức thứ nhất – thắt chặt tiền tệ để hút tiền về bằng lãi suất cao. Nguyên lý hoạt động: đầu tiên sản lượng sẽ giảm do các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất vì thiếu vốn, dẫn đến sa thải làm tăng mức thất nghiệp; cung lao động gia tăng nên sẽ làm thay đổi kỳ vọng của người lao động về mức lương doanh nghiệp phải trả; điều này làm giảm thu nhập cá nhân dẫn đến giảm nhu cầu chi tiêu và giữ tiền; và do đó sẽ làm cho mức cầu hàng hóa và tiền giảm xuống nên cung tiền cũng giảm. Lạm phát nhờ vậy mà hạ nhiệt. Khi lạm phát giảm thì có thể điều chỉnh hạ lãi suất, từ đó sẽ tăng ngồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất làm giảm thất nghiệp và tăng nguồn cung hàng hóa. Liệu đây có phải là những gì mà người dân chúng ta sẽ kỳ vọng và chấp nhận? Những nghiên cứu thực chứng gần đây của các nhà kinh tế học tại nhiều nước áp dụng phương thức này đã chứng minh rằng những tác động của nguyên lý trên chỉ có thể tạo ra sự điều chỉnh đầy đủ trong vòng 2 năm. Hai năm là quá đủ để những khoảng trống tai hại nói trên được lấp đầy kín. Bây giờ hãy xem xét tiếp cách thức áp dụng thực tế lý thuyết này. Trước hết nó đòi hỏi rằng giá cả của hàng hóa, dịch vụ và tiền lương phải hoàn toàn linh hoạt theo phương thức thị trường, đây là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho nguyên lý của nó hoạt động. Một nền kinh tế rơi vào lạm phát cao, chính phủ của nó sau khi nghiên cứu rất kỹ để đưa ra những con số lạm phát thấp hơn dần rất cụ thể cho từng thời kỳ (gọi là lạm phát kỳ vọng). Tất cả những chỉ số giá này phải được công bố với toàn dân cùng với cam kết chống lạm lạm phát kiên quyết bằng cách thắt chặt tiền tệ. Niềm tin là một yếu tố rất quan trọng mà chính phủ phải có được từ dân chúng để họ tin tưởng mà thay đổi kỳ vọng của mình theo ý chí của chính phủ. Để đạt được điều này, chính phủ phải cam kết và thực hiện đúng việc cắt giảm chi tiêu của các cơ quan công quyền (bao gồm cả thu nhập của công chức) đồng thời với việc tăng trợ cấp và an sinh xã hội để hỗ trợ cho những người bị mất việc làm; điều chỉnh mức thuế thu nhập cá nhân để phù hợp với thu nhập thực tế bị giảm xuống do lạm phát tăng. Ngân hàng Trung ương sẽ liên tục quan sát và đo lường mức lạm phát thực tế và điều chỉnh nhanh chóng lãi suất theo nguyên tắc thực dương, tức là làm sao để lãi suất tiền gửi phải luôn cao hơn mức lạm phát hiện hành ở một mức cố định (gọi là lãi suất thực tế). Quá trình đo lường và điều chỉnh này phải diễn ra liên tục và nhanh chóng cho đến khi lạm phát giảm xuống mức kỳ vọng và xác lập trạng thái cân bằng dài hạn của nền kinh tế tại đó. Không chọn lãi suất cao So sánh với những gì đang diễn ra ở Việt Nam thì có thể thấy trước sự thất bại nặng nề của việc áp dụng lý thuyết này. Giá cả bị áp chế và dùng đó để đo lường chỉ số lạm phát. Không hề thấy chính phủ đưa ra một lộ trình cụ thể cho những chỉ số lạm phát kỳ vọng thấp dần theo từng thời điểm như thế nào, người dân chỉ được biết chung chung khi báo chí đưa tin về việc thủ tướng trả lời đại diện tập đoàn J.P Morgan Chase ngày 05-06-2008 rằng “lạm phát sẽ được hạ dần dần về mức một con số vào năm 2010”. Niềm tin thì lấy đâu ra khi mà cam kết trợ giá xăng dầu cho toàn dân bị thất hứa đột ngột, những chương trình trợ cấp cho một số đối tượng thì bị tệ quan liêu tham nhũng hạch họe và cắt xén. Có nhiều tiếng nói đề nghị xem xét điều chỉnh ngay mức đóng thuế theo pháp lệnh thuế thu nhập cho người có thu nhập cao hiện hành, thay đổi mức khởi điểm đóng thuế thu nhập cá nhân theo luật thuế mới sẽ được áp dụng đầu năm 2009 hoặc dời thời điểm thực hiện nó. Nhưng các quan chức tổng cục Thuế “thay mặt” quốc hội trả lời dứt khoát là không cần thiết. Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009 của bộ Kế hoạch Đầu tư cho biết thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2008 tăng cao, vượt xa mức dự toán và cùng kỳ năm 2007[5]. Lạm phát là một thứ “thuế” khủng khiếp đánh vào toàn dân làm giảm thu nhập thực tế của họ. Thuế nhà nước lại không điều chỉnh, đánh luôn vào phần thu nhập bị sụt giảm thì sức dân làm sao chịu đựng nổi. Chọn phương thuốc không phù hợp, lại dùng nó một cách sai trái thì hậu quả không thể lường hết được. Chỉ xét trên mục tiêu chống lạm phát của liều thuốc này được áp dụng ở nhiều nước, chưa nói đến những hệ quả mà nó tạo ra: có rất nhiều nước đã thất bại không thể hạ nhiệt lạm phát dù họ đã áp dụng nghiêm ngặt cách dùng thuốc. Lý do: chính phủ không tạo được niềm tin đối với dân chúng. Biện pháp này trên thực tế chỉ có thể áp dụng thành công ở những nước có nền kinh tế phát triển khá cao, có một hệ thống đảm bảo an sinh xã hội rất mạnh và sâu rộng, trạng thái kinh tế đã đạt gần tới mức toàn dụng lao động và sản lượng tiềm năng[6]. Nhưng điều quan trọng và trên hết là nội lực của nền kinh tế đó đã phải rất mạnh để chống lại những hệ quả do tác động của ngoại lực gây ra. Một cơ thể yếu không thể dùng một liều thuốc mạnh. Những thầy thuốc danh giá đã không hề cảnh báo cho con bệnh như vậy. Tệ hại hơn, họ lờ đi một điều kiện ban đầu rất quan trọng của lý thuyết này: “tốc độ lưu thông tiền giả định là không thay đổi”. Tốc độ lưu thông tiền là tốc độ lưu chuyển của lượng tiền trong một nền kinh tế. Tốc độ này càng cao thì lượng tiền cần càng ít cho cùng một khối lượng giao dịch. Đây là điều thực sự rất có ý nghĩa đối với việc quản trị kinh tế vi mô lẫn vĩ mô. Trong quản lý doanh nghiệp, nếu mỗi năm cần tạo ra mức doanh số 100 đồng mà số vòng quay vốn chỉ đạt 1 vòng/năm thì người ta cần đến 100 đồng vốn, nhưng nếu quay được 2 vòng/năm thì người ta chỉ cần 50 đồng vốn, nếu 4 vòng/năm thì chỉ cần 25 đồng vốn. Cứ thế, tốc độ quay vòng càng nhanh người ta càng cần ít vốn. Trong kinh tế vĩ mô cũng vậy, cùng một giá trị sản lượng (GDP) nếu môi trường kinh tế thông thoáng, vận hành trơn tru, tốc độ lưu thông tiền nhanh chóng thì nền kinh tế đó sẽ cần một lượng tiền ít hơn so với tình trạng ngược lại. Lý thuyết nói trên ngụ ý rằng khi mà tốc độ lưu thông tiền đã đạt mức tối ưu, không còn có thể cải thiện hơn được nữa bằng những biện pháp khác, thì gia tăng lãi suất lúc đó là cách khả dĩ duy nhất nhằm gia tăng tốc độ lưu thông tiền để giảm lượng cung tiền nên giảm được lạm phát. Điều này một lần nữa giải thích vì sao lý thuyết này chỉ có thể áp dụng cho những nền kinh tế đã có trình độ phát triển cao, tệ quan liêu tham nhũng ở mức rất thấp. Tốc độ lưu thông tiền Như vậy bản chất của vấn đề là gia tăng tốc độ lưu thông tiền. Hiểu được điều này Việt Nam ta có thể tự xây dựng một phương thức chống lạm phát hữu hiệu mà không tạo ra những hậu quả nghiêm trọng kèm những tác động khác không lường trước được. Về nguyên lý, khi gặp tình trạng lạm phát tiền thì một là hút lượng tiền đã cung ứng thừa trở về, hai là tăng sản lượng (tức là giá trị của cải) tương ứng với lượng tiền đã cung thừa ra. Phương thức thứ nhất dùng lãi suất đã phân tích là không phù hợp vì sẽ tạo ra những hậu quả nghiêm trọng. Phương thứ thứ hai thì nguy cơ ở chỗ lạm phát có thể tác động nhanh và mạnh gây sụp đổ nền kinh tế trước khi nó có thể tạo ra một lượng của cải cân bằng. Tuy nhiên, trong cái rủi có cái may: tốc độ lưu thông tiền hiện nay của nền kinh tế Việt Nam quá thấp[7] mà lý do chính của nó cũng là do tệ quan liêu tham nhũng gây ra. Quyết tâm cải cách hành chính thực sự và kiên quyết chống tham nhũng thực tâm sẽ có thể tăng tốc độ lưu thông tiền của cả nền kinh tế lên nhiều lần. Nó không những không tạo ra hệ quả xấu mà còn gia tăng hiệu quả đầu tư vốn (ICOR) cho cả nền kinh tế. Thành phần kinh tế nhà nước lâu nay chiếm tỷ trọng khoảng 37% GDP. GDP là đại lượng đại diện tốt nhất cho khối lượng giao dịch trong quá trình lưu thông vận hành của một nền kinh tế. Có nghĩa rằng thành phần kinh tế nhà nước chiếm đến 37% các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế được vận hành theo một chu trình khép kín mà nhà nước, doanh nghiệp và người dân là những mắc xích quan trọng. Ở Việt Nam nhà nước tham gia vào chu trình này với hai tư cách, vừa là doanh nghiệp, vừa là chính phủ. Do vậy sự ì ạch của khu vực nhà nước sẽ tạo ra sự chậm chạp, tắt nghẽn ở cả hai mắc xích lớn tập trung nhiều lưu lượng, gây ảnh hưởng dây chuyền lên toàn bộ chu trình và những mắc xích còn lại. Những doanh nghiệp tư nhân làm ăn với những doanh nghiệp nhà nước luôn phải chịu thiệt thòi về vòng quay vốn, chẳng có hợp đồng nào dù nhỏ có thể thu hồi tiền dưới 1 năm, trung bình là 2 năm, dài thì có khi vài ba năm. Cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước thì còn tệ hơn nữa. Các giao dịch giữa người dân, doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước theo nghĩa công bộc của dân thì lại càng tồi tệ. Muốn nhận được tiền thoái thu thuế thì không khác gì ăn xin. Tiền vốn đã bỏ ra nhập hàng phải nằm chờ hải quan kiểm hóa thông quan đến cả tuần lễ. Tiền và vât liệu xây dựng nằm chờ để xin được giấy phép xây sửa nhà. Có thể kể cả tháng mà không hết tất cả những thứ tương tự làm tắt nghẽn lưu thông tiền. Thu hồi vốn chậm nên doanh nghiệp và người dân phải vay tiền ngân hàng, vì thế lượng cung tiền gia tăng trong khi giá trị của cải (sản lượng) chẳng tăng lên chút nào mà còn phải chia sẻ cho các ngân hàng do lãi suất vay. Lạm phát ở Việt Nam trong nhiều năm liền luôn ở mức cao là vì vậy. Giới ngân hàng nhờ đó hưởng lợi lớn quá dễ dàng mà chẳng cần sáng tạo cung cấp thêm dịch vụ gì có lợi cho doanh nghiệp và người dân. Kết quả là đã tạo ra ma lực kéo người ta ùn ùn bỏ vốn đi lập ngân hàng. Một số ngân hàng cho vay vô tội vạ mà không ý thức rằng mình đang “in” thêm tiền cho nền kinh tế. Tốc độ lưu thông của cả nền kinh tế chậm đến là vậy. Thế nhưng ở một vài lĩnh vực cục bộ thì lại có tốc độ nhanh đến dị thường, quay vòng nhanh lẹ đến chóng mặt. Đó chính là thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản. Chẳng có đâu trên thế giới mà chứng khoán lên ồ ạt rồi xuống ào ào trong vòng một vài tháng, bất động sản thì sốt rồi đóng băng vài ba lần chỉ trong vòng hơn 3 năm. Ai cũng hiểu là do những nhóm lợi ích mạnh thao túng, nhưng thực tế là họ chẳng thể làm được nếu không có sự tiếp tay của quan chức nhà nước. Khi hai thị trường này sốt đến chóng mặt thì nhà nước lại hồ hởi, báo chí lại hoan nghênh. Không biết người ta có hiểu rằng đó vừa là triệu chứng của một căn bệnh nặng, vừa là nguyên nhân làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng như ngày nay hay không. Lượng tiền các ngân hàng cung ra được bơm vào vòng xoáy hút nhồi của 2 thị trường này, nó hút luôn cả những nguồn vốn trong dân và lĩnh vực kinh tế khác. Kết quả nó tạo ra là một nền kinh tế thừa tiền nhưng thiếu vốn. Lưu thông tiền vì thế lại càng chậm chạp. Nó tạo ra rất ít của cải vật chất, thậm chí không có nhưng lại sản sinh ra một lớp người có rất nhiều tiền. Lớp người này kiếm tiền quá dễ nên tiêu xài bạt mạng cho những nhu cầu xa xỉ, tạo thêm gánh nặng và cả tệ nạn cho xã hội. Sự phồn vinh giả tạo là vì thế. Xem tiếp tại đây Tải file pdf và prc (đọc trên di động) tại đây Chú dẫn: [1] Bao gồm: vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước khoảng 102 nghìn tỷ đồng, vốn trái phiếu Chính phủ đạt 25 nghìn tỷ đồng, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước đạt 40 nghìn tỷ đồng, vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước đạt 71 nghìn tỷ đồng. [2] Bao gồm: nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước khoảng 125 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn trái phiếu Chính phủ 35 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước khoảng 50 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn từ khu vực doanh nghiệp nhà nước khoảng 85 nghìn tỷ đồng. [3] Tài liệu “Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009” của bộ KHĐT không đưa ra số dự báo cho năm 2010. [4] Incremental Capital Output Ratio. Do đặc điểm về độ trễ trong hiệu quả đầu tư nên các chỉ số này được thống kê một giai đoạn dài 3 năm (2005-2007) và dùng chúng để tính mức tăng trưởng dựa trên mức đầu tư cho giai đoạn 3 năm kế tiếp (2008-2010), xem như 3 thành phần kinh tế sẽ giữ nguyên hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho tăng trưởng. Tình hình thực tế hiện nay thì chỉ có thành phần kinh tế có vốn nước ngoài là có khả năng gia tăng hiệu quả này. [5] Nguyên văn: “Thu ngân sách nhà nước 6 tháng tăng cao bảo đảm nhu cầu chi tiêu cần thiết, nhất là bảo đảm cấp đủ kinh phí thực hiện các chính sách an sinh, xã hội. Thu NSNN 6 tháng đạt 195.850 tỷ đồng, bằng 60,6% dự toán, tăng 40,8% so với cùng kỳ năm 2007 và bằng 31,3% GDP; trong đó: thu nội địa (không kể dầu thô) ước đạt 107.300 tỷ đồng, bằng 56,7% dự toán (cùng kỳ năm 2005 đạt 53,8%, năm 2006 đạt 48,8%, năm 2007 đạt 46,1%), tăng 37,3% so với cùng kỳ năm 2007; thu từ dầu thô đạt 42.210 tỷ đồng, bằng 64,3% dự toán, tăng 40,8% so với cùng kỳ. Giá dầu thanh toán tháng 6 bình quân đạt 125 USD/thùng, bình quân 6 tháng đầu năm đạt 105 USD/thùng, tăng 41 USD/thùng so với dự toán; sản lượng dầu thanh toán ước đạt 6,89 triệu tấn, bằng 44,5% dự kiến năm; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 43.740 tỷ đồng, bằng 67,8% dự toán năm, tăng 53,7% so với cùng kỳ. Cả năm 208 phấn đấu thu ngân sách Nhà nước ước đạt trên 358 nghìn tỷ đồng, tăng 11% so với dự toán năm. Trong đó: thu nội địa đạt 198 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với dự toán; thu từ dầu thô đạt trên 85 nghìn tỷ đồng, tăng 30,8% so với dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 71 nghìn tỷ đồng, tăng trên 10% so với dự toán. Tổng chi ngân sách nhà nước dự kiến đạt 369 nghìn tỷ đồng, giảm 7,4% so với dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 102 nghìn tỷ đồng, tăng 4% so với dự toán. Bội chi ngân sách khoảng 59 nghìn tỷ đồng, bằng 4% GDP. Năm 2009 Tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 379-388 nghìn tỷ đồng; tổng chi ngân sách nhà nước 461-470 nghìn tỷ đồng. Bội chi ngân sách nhà nước khoảng 87.000 nghìn tỷ đồng, bằng 5% GDP. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 thấp hơn năm 2008.” [6] Thuật ngữ kinh tế học để chỉ mức sản lượng mà một nền kinh tế làm ra được nếu tất cả các lực lượng sản xuất được sử dụng đầy đủ. [7] So với các nước phát triển thấp hơn cả chục lần, với các nước công nghiệp tới vài lần.

Tham nhũng hãm tốc độ

Chẳng có gì là không chính xác khi nói rằng nguyên nhân của tất cả mọi vấn đề trên làm nền kinh tế lưu thông ì ạch là do tham nhũng. Vì để được hối lộ nên những thủ tục hành chính quan liêu không thể cải thiện bất chấp quyết tâm cải cách hành chính từ trên cao. Người dân muốn được việc thì phải chi tiền bôi trơn, càng làm giảm đi nguồn vốn. Vì để được đút lót, ăn chia những món lợi béo bở từ làm giá đầu cơ chứng khoán, bất động sản nên quan chức mới tiếp tay cho những nhóm lợi ích. Tham nhũng không những làm chậm tốc độ lưu thông tiền mà còn giảm mạnh hiệu quả sử dụng vốn. Một tác động kép thật tai hại.

Tham nhũng là nhân chứ không phải là quả, không như chủ tịch nước thường nói “tham nhũng là do ta quản lý kém”. Do tham nhũng nên hệ thống quản lý kém đã cố tình được tạo ra và duy trì. Muốn chống tham nhũng thì phải hạn chế rồi tiến đến triệt tiêu động lực tham nhũng. Thế nào để làm được điều đó thì đã có nhiều góp ý gửi cho các vị lãnh đạo cao nhất từ lâu. Vấn đề còn lại là ở các vị. Chống tham nhũng vừa dễ vừa khó. Dễ vì nó chẳng tốn kém gì mà lại còn được lợi, không phải đánh đổi cái gì khác như các giải pháp chống lạm phát đang thực hiện. Khó vì nó đòi hỏi người ta phải vượt qua khỏi những gì đời thường, những vấn đề lịch sử, những vấn đề tình cảm và lợi ích cá nhân để chỉ nhắm đến một thước đo duy nhất: quyền lợi của đa số dân chúng.

Ở Việt Nam nhập siêu tăng nhanh cũng có phần đóng góp của tham nhũng. Các quan chức tham lam giờ đây thích tích trữ tài sản ở nước ngoài. Họ yêu cầu các đơn vị cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên liệu và dịch vụ nhập khẩu phải thanh toán tiền hối lộ ở bên ngoài. Giá nhập khẩu vì vậy mà bị nâng lên. Năm ngoái thủ tướng chính phủ có văn bản chỉ thị một số chủng loại hàng hóa mà các đơn vị nhà nước phải mua qua các doanh nghiệp trong nước thì các quan chức tham nhũng này yêu cầu các nhà thầu trong nước phải có công ty đại diện ở nước ngoài để ký hợp đồng cung ứng cho những phần hàng hóa nhập khẩu. Với mức nhập khẩu lớn như Việt Nam hiện nay, một khoản thất thoát 5-10% từ nhập khẩu của các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước cũng làm cho nhập siêu tăng thêm vài tỷ đô-la Mỹ một năm.

Chống lạm phát hiệu quả

Một lần nữa, xin được kêu gọi chính phủ hãy dừng ngay chính sách thắt chặt tiền tệ gia tăng lãi suất để chống lạm phát. Hãy tập trung gia tăng tốc độ lưu thông tiền cho cả nền kinh tế bẳng cải cách hành chính kèm chống tham nhũng triệt để. Song song đó, tập trung lành mạnh hóa ngay thị trường chứng khoán và bất động sản để đưa nó vào chu trình vận hành chung của cả nền kinh tế nhằm thực sự tạo ra của cải vật chất phục vụ cho người dân chứ không phải là công cụ để đầu cơ trục lợi. Điều này đồng nghĩa với việc nó sẽ được trả về với giá trị thực và sẽ có không ít kẻ đầu cơ phá sản. Nhưng tuyệt đối không cứu thị trường, không cứu bất kỳ ai tham gia vào thị trường bằng bàn tay của nhà nước. Thay vào đó là tập trung xác lập một thị trường hoàn toàn cạnh tranh[8], đảm bảo sự công bằng cho mọi thành phần kinh tế kể cả nước ngoài được tham gia dễ dàng vào thị trường. Nhưng nhà nước phải có những chương trình hỗ trợ (chứ không phải bảo hộ) cho các thành phần kinh tế trong nước bằng những biện pháp xanh phù hợp với qui định của WTO.

Thực tế sau gần 5 tháng thực hiện thắt chặt tiền tệ cho thấy nó chẳng mang đến kết quả nào cho việc chống lạm phát. Cung tiền thay vì phải giảm thì vẫn tiếp tục tăng nhưng tốc độ lưu thông tiền vẫn chậm chạp[9]. Tiền tăng nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn, doanh nghiệp trong nước vẫn khát tiền, người dân không có niềm tin lạm phát sẽ giảm. Đua tranh lãi suất để thu hút tiền tiết kiệm trong dân thực chất không khác gì tiếp máu để nuôi những hạch ung thư chứng khoán và bất động sản. Chỉ có cách tăng cao tốc độ lưu thông tiền thì doanh nghiệp sẽ cần ít vốn đi mà vẫn có thể tăng được sản lượng nhanh chóng với chi phí thấp – một yếu tố quan trọng để giảm lạm phát. Nếu làm thật tốt điều đó thì có khi chẳng cần phải vay thêm vốn, có thể điều chuyển vốn lưu động đang dôi ra (do tốc độ quay vòng vốn được cải thiện) để đầu tư phát triển, tiếp tục tạo ra sản phẩm đáp ứng rất tốt cho nhu cầu tiêu dùng và đầu tư trong nước.

Về phía người dân, một chính sách vĩ mô đúng đắn vào lúc này là phải thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng nội địa và làm sao để người dân có đủ sức mua nhằm gia tăng thể lực, trí lực hơn nữa để thay đổi thành phần của mình cao hơn. Trí lực và thể lực của người dân là những nền tảng quan trọng để tạo ra của cải cho quốc gia, chúng càng tốt thì đất nước càng mạnh, người dân càng giàu. Có tiền mà đem cất đi thì người ta không thể thay đổi tốt hơn, xã hội không thể phát triển thịnh vượng. Quốc hội cần điều chỉnh ngay mức phải nộp thuế thu nhập dành cho người có thu nhập cao hiện hành phù hợp với mức độ lạm phát, cần đình hoãn việc thi hành luật thuế thu nhập cá nhân vào đầu năm sau đến một thời điểm thích hợp. Việc này chắc chắn sẽ tạo niềm tin cho dân chúng rất lớn để tiếp tục đầu tư vào tương lai, thay vì hoài nghi phòng thủ bằng những kế hoạch dự phòng tiêu cực như hiện nay. Khi không có niềm tin thì việc làm đó của người dân là chính đáng.

Việc lành mạnh hóa thị trường chứng khoán và bất động sản sẽ thực sự giải nguy cho các ngân hàng vốn đang rất nguy cấp vì bị chôn một lượng tiền cực lớn vào đó. Không những thế, nó còn làm giảm ngay áp lực đua tranh gia tăng lãi suất. Cùng với lượng vốn cần ít đi do tốc độ lưu thông tiền tăng mạnh chắc chắn sẽ kéo lãi suất xuống mức thấp. Làm thật tốt thì kéo lãi suất xuống dưới 10% trong năm nay không phải là việc quá khó. Chính phủ không được can thiệp, ngược lại cần hỗ trợ các ngân hàng phát mãi các tài sản thế chấp không thanh toán được nợ cho dù con nợ đó có là ai. Số tiền thu hồi về có thể không thể bằng lúc cho vay ra nên phải chịu lỗ nặng, nhưng lỗ nặng còn hơn là sụp đổ lúc chưa kịp lỗ. Dù sao các ngân hàng cũng đã được hưởng lợi quá lớn thời gian trước. Ngân hàng không còn nguy cơ, doanh nghiệp không bị khát vốn, người dân không cần thủ nhiều dự trữ thì sức mạnh của những kẻ ghim giữ tiền với những mưu tính thâm hiểm sẽ giảm đi một cách đáng kể.

Những kẻ này muốn đưa tiền vào lưu thông cũng không phải dễ nếu như chính phủ có biện pháp chống đầu cơ hữu hiệu. Muốn vậy thì giá cả phải được hoàn toàn linh hoạt theo nguyên tắc thị trường đồng thời với việc chính phủ phải tập trung giám sát và chế tài nghiêm ngặt việc tuân thủ luật pháp để duy trì một môi trường cạnh tranh quyết liệt. Việt Nam đã có đủ những bộ luật như vậy, điều cần thay đổi là sửa các nghị định để tăng mức xử phạt hành chính lên thật cao, thật thích đáng. Việc ghìm giá chẳng mang đến lợi ích gì ngoài việc tiếp tay cho tham nhũng và làm giảm động lực đầu tư cho sản xuất để gia tăng sản lượng.

Duy nhất 3 mặt hàng là xăng dầu, điện, nước cần được nhà nước trợ giá. Việc nâng giá xăng dầu vừa rồi chính phủ đã bỏ mất một cơ hội và công cụ quan trọng để tạo sự bình ổn vĩ mô. Nếu giữ mức giá cũ thì ngân sách nhà nước chỉ cần bù không quá 15 ngàn tỷ đồng trong năm nay (không thể là trên 70 ngàn tỷ như bộ trưởng Tài chính phát biểu). Con số này quá nhỏ so với thu 85 ngàn tỷ đồng từ dầu thô vào ngân sách 2008, nó chưa bằng khoản thặng dư tăng thêm do giá dầu thô tăng vọt. Trong tình hình vĩ mô rất nhiều biến động, các nhà quản lý rất cần một số cái neo để cố định một vài yếu tố đầu vào quan trọng. Khủng hoảng giá dầu thế giới gây rối loạn cho rất nhiều nền kinh tế. Nhưng Việt Nam may mắn khai thác được dầu thô. Dùng thặng dư do tăng giá dầu thô để trợ cấp giữ cố định giá xăng dầu cho toàn dân, cho cả nền kinh tế là biện pháp vừa hợp đạo lý, vừa mang lại hiệu quả cao. Nhiều ý trả lời, phát biểu của nhiều quan chức chính phủ cho thấy những quan điểm sai lầm: trợ giá là phi kinh tế thị trường trong khi đó các mệnh lệnh hành chính để áp chế giá cả lại được xem là cần thiết của chính phủ trong nền kinh tế thị trường. Những phản bác chỉ trích về việc trợ giá xăng dầu nếu có sẽ đến từ những nước thành viên WTO, nhưng tới hiện nay Việt Nam chưa bị ràng buộc bởi những việc làm như thế. Giá xăng dầu đã được điều chỉnh lên bằng mức ở Mỹ, ở Úc. Thế nhưng bộ trưởng Tài chính vẫn dự kiến có thể sẽ phải bù trên 50 ngàn tỷ đồng cho đến cuối năm nay thì thực sự phải đáng lo ngại.

Quốc doanh và tư nhân

Cần tạo điều kiện ngay cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh doanh mà Việt Nam đã cam kết mở cửa cho nước ngoài theo lộ trình gia nhập WTO, sắp tới là hiệp định đầu tư song phương với Mỹ. Doanh nghiệp tư nhân hiện nay không chỉ bị hạn chế đầu tư bởi lãi suất cao mà còn bị gạt ra bên ngoài bằng rào cản pháp lý. Những lĩnh vực có khả năng sinh lời cao hiện nay chỉ dành cho doanh nghiệp nhà nước và được cam kết cho nước ngoài tham gia vào sau 3 đến 5 năm gia nhập WTO. Doanh nghiệp trong nước không có lý do gì không thể tận dụng lợi thế đi trước trên sân nhà. Doanh nghiệp tư nhân thì không được làm, doanh nghiệp nhà nước cả năm nay dồn sức cho những khoản đầu tư vào chứng khoán, tài chính-ngân hàng, bất động sản và nhiều việc trái nghề khác, giờ thì loay hoay với cắt giảm đầu tư công. Điều này lại càng tạo ra thêm những khoảng trống tai hại cho các doanh nghiệp nước ngoài dễ dàng lấp vào.

Hơn nữa, cần thay đổi vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước là để hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân phát triển, chứ không phải trở thành những đối thủ cạnh tranh mạnh, trực diện với khu vực tư nhân như hiện nay. Với tiềm lực lớn, các doanh nghiệp nhà nước luôn phải đi tiên phong để đầu tư vào những hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi đầu tư lớn để phục vụ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, xem họ là khách hàng của mình. Người ta sẽ phải hỗ trợ và nâng đỡ khách hàng của mình chứ không thể chèn ép như tình trạng hiện nay. Làm được như vậy thì cả 2 khu vực doanh nghiệp trong nước đều mạnh, tạo ra một nội lực rất khỏe. Chính sức mạnh này sẽ cuốn các đầu tư nước ngoài vào để gia tăng thêm giá trị và sức mạnh cho guồng máy kinh tế Việt nhờ kết hợp với công nghệ ngoại và kết nối với thị trường quốc tế. Với thực trạng “chia rẽ” như hiện nay nền kinh tế đã yếu lại còn yếu hơn khi dòng vốn ngoại ập vào. Khối ngoại sẽ điều khiển cuộc chơi, những tập đoàn và tổng công ty nhà nước sẽ chẳng khác gì những con hổ giấy, dễ dàng bị xé nát, bán rẻ.

Một khi các doanh nghiệp nhà nước mạnh lên theo như cách đã đề cập ở trên, tự nó sẽ tạo ra một động lực giải tư lành mạnh đặt trên lợi ích của quốc gia hài hòa với tất cả các thành phần kinh tế. Động lực như vậy sẽ hoàn toàn khác với những kiểu động lực của cổ phần hóa hiện nay. Khách hàng – những doanh nghiệp tư nhân đương nhiên là muốn được sở hữu một phần các nhà cung cấp chủ lực của mình, ngược lại thì các nhà cung cấp này cũng muốn khách hàng của mình trở thành cổ đông. Điều này sẽ tạo ra những cấu trúc cổ đông hiệu quả, chặt chẽ nên càng gia tăng giá trị của doanh nghiệp. Sẽ thực sự tai hại nếu nghĩ rằng chỉ có cách bán rẻ cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược (được hiểu là nước ngoài) thì mới có thể làm cho doanh nghiệp nhà nước mạnh lên.

Chính trị và xã hội

Nếu không chấp nhận thay đổi và thay đổi nhanh chóng từ nay đến cuối năm 2009 thì chắc chắn rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ lệ thuộc mạnh mẽ vào nước ngoài khi những cam kết mở cửa sâu rộng với quốc tế có hiệu lực. Hãy nhìn vào nhiều nước ở châu Mỹ La tinh mà xem, nước ngoài sở hữu và chi phối hầu hết nền kinh tế. Những nơi đó có rất nhiều những tập đoàn khổng lồ nhưng chẳng thấy hoạt động hay tiếng tăm gì ở ngoài nước. Chúng xây rào để tập trung khai thác tối đa thị trường nội địa với giá cắt cổ. Những kết nối với thị trường quốc tế của chúng nếu có cũng chỉ là gia công nhờ lao động rẻ, xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản, nông sản nhờ lợi thế thiên nhiên. Chúng bóp chết cạnh tranh để liên kết thỏa thuận với nhau kiểm soát thị trường, bóng dáng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ gần như không có. Vì thế mà thành phần trung lưu cũng chẳng tồn tại. Một nền kinh tế như thế thì có khác gì với kiểu của các nước thuộc địa thời thực dân.

Ở những nước này, người ta sẽ dễ choáng ngợp với những đô thị nguy nga tráng lệ nhưng những người buôn bán nhỏ lẻ bị cấm đoán ở đó. Xã hội phân chia ra hai thành phần ở hai thái cực, tầng lớp thượng lưu chỉ dưới 1% dân số nhưng sở hữu đến hơn 50%-60% lượng của cải của toàn xã hội, kiểm soát đến 80%-90% cả nền kinh tế, 99% thành phần bình dân nghèo chia nhau phần còn lại. Ở bất kỳ đất nước phát triển nào, thành phần trung lưu luôn là lực lượng và động lực để dẫn dắt sự tiến bộ của toàn xã hội. Giáo sư Joseph E. Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001 viết: “Tầng lớp trung lưu là tầng lớp có truyền thống ủng hộ sự cai trị bằng luật pháp, ủng hộ giáo dục phổ thông cho mọi người và ủng hộ tạo lập hệ thống an sinh xã hội. Đây là những yếu tố cơ bản cho một nền kinh tế lành mạnh và sự xói mòn của tầng lớp trung lưu đã đồng thời kéo theo sự giảm sút ủng hộ những cải cách quan trọng này… Trong lịch sử, tầng lớp trung lưu luôn là trung tâm trong xây dựng xã hội dựa trên những nguyên tắc luật pháp và giá trị dân chủ”.[10] Chính vì vậy mà tầng lớp thống trị ở những nước này không muốn tồn tại thành phần trung lưu. Không có thành phần này dẫn dắt nên lá phiếu đa số của thành phần bình dân nghèo rất dễ bị lợi dụng và thao túng.

Ở Peru vào năm 1990 người dân nước đó đã bầu một người Nhật, với khuôn mặt Nhật, cái tên cũng Nhật – Fujimori – lên làm tổng thống trong 10 năm liền. Sau một vài chương trình mị dân đầu nhiệm kỳ, Fujimori bắt đầu thực hiện những chính sách hạn chế cạnh tranh làm lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt từ Nhật. Kinh tế Peru có thời tăng trưởng rất cao nhưng phân hóa xã hội và giàu nghèo lại càng trầm trọng. Cuối cùng ông ta bị hạ bệ trong lúc đang công du ở Nhật. Sau đó người dân phát hiện ra tổng thống của mình đã khai man là sinh trưởng ở Peru, thực chất là sinh ra ở Nhật, gần trưởng thành mới tới Peru.

Văn hóa và bản sắc

Một nền kinh tế bị bóp chết cạnh tranh không chỉ tạo ra các vấn đề về kinh tế. Ở một môi trường cạnh tranh quyết liệt thì cạnh tranh cao nhất cuối cùng là cạnh tranh con người, cạnh tranh chất xám. Chỉ khi đó con người mới thực sự được tôn trọng. Xem xét tác động của việc này ở khía cạnh văn hóa và bản sắc sẽ thấy nó ảnh hưởng quan trọng như thế nào. Một doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn tại một địa phương nào đó. Nếu buộc phải cạnh tranh thì họ phải có những chính sách nâng đỡ tài lực, thể lực và trí lực của người lao động địa phương. Muốn vậy họ phải xây dựng những chính sách quản trị phù hợp với văn hóa địa phương để ưu đãi và thu hút nhân tài về cho họ. Kết quả là chính lực lượng lao động này sẽ tăng cường tính văn hóa địa phương kết hợp sự giao thoa với văn hóa du nhập từ doanh nghiệp nước ngoài để tạo nên những thành tựu văn hóa mới của địa phương đó mà không mất đi bản sắc. Tiến đến là làm giàu văn hóa đó đến mức có thể lan tỏa ra những khu vực khác, cộng đồng khác.

Nhưng nếu ngược lại, ở một môi trường cạnh tranh không phải là sống còn và tại đó thu hút đầu tư nước ngoài là nhờ nguồn lao động rẻ. Lực lượng lao động đó không đủ mạnh về tri thức và năng lực, hay chỉ là những lao động giản đơn thì thường phải tranh giành để làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp này không việc gì phải nương theo văn hóa địa phương để xây dựng các chính sách quản trị phù hợp mà ngược lại người lao động địa phương đó phải thỏa mãn ông chủ nước ngoài, hành xử hoàn toàn theo văn hóa của họ. Kết quả là lực lượng lao động địa phương sẽ đánh mất đi bản sắc văn hoá của mình và để văn hóa ngoại du nhập lấn át. Còn nhiều những quan hệ giao tiếp văn hóa ở nhiều lĩnh vực và cộng đồng khác nhau nhưng chắc chắn rằng trong thế giới ngày nay văn hóa chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi các sản phẩm, dịch vụ và phương thức quản trị của các doanh nghiệp.

Hoàng yến và diều hâu

Những đồng đô-la ngoại luôn có sức ảnh hưởng lớn, làm chuyển biến sâu sắc và tác động khốc liệt một cách toàn diện đến tất cả các khía cạnh kinh tế, xã hội lẫn chính trị của những nơi mà nó đi đến. Dù vậy kết quả của những tác động này sẽ thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào thái độ phản ứng và sức mạnh của nội lực. Những mong tầng lớp trí thức, tầng lớp trung lưu của đất nước hãy thực sự quan tâm, nghiên cứu và lên tiếng cảnh bảo cần thiết cho cả xã hội. Có nhiều định nghĩa về trí thức, nhưng thật đơn giản: trí thức là dùng trí tuệ của mình để thức xã hội; thức là thức tỉnh, là đánh thức người ngủ mê, là làm cho người khác nhận thức đúng. Người có học mà không làm được chữ thức thì không thể gọi là trí thức, lại còn để bị ru ngủ nữa thì thật nguy hiểm cho xã hội. Xã hội Việt Nam ta bây giờ không ngủ nhưng vẫn mê.

Những tiếng nói đại diện cho ngoại lực ngày càng có sức ảnh hưởng mạnh hơn trong xã hội Việt Nam. Lý thuyết dùng lãi suất cao để chống lạm phát ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20 bởi nhà kinh tế học nổi tiếng Irving Fisher, nhưng các nước phát triển ngày nay chưa bao giờ áp dụng nó mãi cho đến những năm cuối thập kỷ 1970. Đơn giản vì nó chưa phù hợp với tình trạng lúc đó của họ. Ấy vậy mà phương thức này lại được quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) áp đặt cho rất nhiều nước cần sự trợ giúp, bất chấp sự thất bại rõ ràng của những nơi đã dùng trước đó. Giáo sư Joseph E. Stiglitz, cựu phó chủ tịch ngân hàng Thế giới (World Bank), đã từng lên tiếng phản đối quyết liệt phương thức này vì ông thấy rõ những hậu quả của nó gây ra cho các nước đang phát triển. Sau nhiều lần thuyết phục ông giữ im lặng không được, World Bank đã sa thải ông vào đầu năm 2000. Việt Nam chưa cầu viện chính thức tới sự trợ giúp của IMF nhưng phương thuốc này đã đang được đưa vào áp dụng ở Việt Nam quá dễ dàng. Nó được rao giảng rất nhiều bởi các chuyên gia nước ngoài với sự ủng hộ tuyên truyền mạnh mẽ của nhiều tờ báo lớn. Kinh tế học không phải là kỹ thuật – công nghệ mà có thể đi tắt đón đầu.

Nếu chúng ta không lên tiếng, không làm gì thì những sự ảnh hưởng như vậy không chỉ dừng lại ở một phương thuốc. Danh nhân Cao Bá Quát đã từng chia trí thức thành ba loại, ứng với ba loài chim. Loại thứ nhất là hồng hạc bay giữa trời xanh. Loại thứ hai là hạc đen ẩn bên sườn núi. Loại thứ ba là hoàng yến luẩn quẩn ở chốn lâu đài của kẻ quyền quý. Ngày nay, những con chim hoàng yến không chỉ biết hót vui tai mà còn biết đồng thanh gầm gừ lại những tiếng lạ trái tai chủ. Nhưng có lẽ chính Cao Bá Quát cũng không thể ngờ rằng bây giờ nhưng con diều hâu cũng biết hót rất ngọt tai con mồi.

Gốc dân hay gốc ngoại

Vào những lúc khó khăn thế này, triết lý lấy dân làm gốc luôn đúng và càng có ý nghĩa. Chúng ta vẫn thường nghe tuyên truyền như vậy nhưng diễn biến thực tế lại không hoàn toàn đúng thế. Trong một lần trả lời thời báo Kinh tế Việt Nam vào ngày 12-06-2008 về việc làm sao để củng cố lòng tin của người dân vào chính sách tiền tệ, thống đốc ngân hàng Nhà nước trả lời bằng cách nói rằng nó được đánh giá cao bởi đại diện tập đoàn JP Morgan Chase và phó chủ tịch ngân hàng Thế giới. Hay như mới đây, một doanh nhân nổi tiếng trong nước trả lời thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 03-08-2008, tờ báo này ngạc nhiên đặt câu hỏi về cơ sở cho khả năng nộp ngân sách 4,5 tỷ đô-la Mỹ/năm trên mức doanh thu 6,5 tỷ đô-la Mỹ/năm có thể tạo ra của một dự án liên doanh với nước ngoài là trung tâm phần mềm Thủ Thiêm. Vị doanh nhân này toàn mượn lời và uy của đối tác nước ngoài làm câu trả lời của mình.

Cách thức ứng xử như thế đã trở nên phổ biến ở rất nhiều thành phần trong xã hội. Tai hại hơn là nó không chỉ tạo ra một tâm lý sính ngoại mà còn định hình một niềm tin rằng có ngoại lực sẽ làm mọi thứ trở nên tốt đẹp. Sự tập kích của dòng vốn ngoại vào Việt Nam được quảng bá rộng khắp để người dân tin rằng các chính sách vĩ mô của chính phủ vẫn đúng đắn nên thu hút được người ngoài vào làm ăn, chứng tỏ môi trường Việt Nam đầy hấp dẫn và thuận lợi, khó khăn là tạm thời. Sức chịu đựng của dân được đánh giá quá cao nhưng lòng tự trọng của họ lại bị đánh giá quá thấp.

Nếu thực hiện các biện pháp chống lạm phát và khắc phục tình hình khó khăn hiện nay dựa trên nguyên tắc lấy dân làm gốc thì chắc chắn sẽ thu được kết quả tốt đẹp và nhanh chóng. Lạm phát sẽ giảm nhanh, có thể xuống dưới 10% vào năm sau. Ngược lại duy trì các giải pháp và chính sách vĩ mô như hiện nay thì lạm phát không thể dưới 35% vào cuối năm và khó có thể giảm trong năm sau. Lúc đó sức mạnh của những đồng đô-la ngoại sẽ càng lớn. Họ sẽ gây sức ép phá giá tiền đồng để giá trị tiền đô đủ bù đắp cho mức lạm phát khi giải ngân vốn đầu tư. Khi đã mất lòng dân, chính phủ lấy gì để chống đỡ ngoài việc chấp nhận “trả tỷ giá về giá trị thực”. Không dưới 22.000 VND/USD. Ở mức này, tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế nước ngoài sẽ còn lớn con số 53% đã tính toán ở mức giả định lạc quan nhiều.

Các nhà cầm quân giỏi là những người xác định được những điểm nhắm chiến lược để tập trung quân lực vào đó. Chiếm được những điểm này sẽ khống chế được cục diện của cuộc chiến. Trong quản lý kinh tế xã hội cũng vậy. Với Việt Nam hiện nay, điểm nhắm chiến lược chính là tệ quan liêu tham nhũng.

“Hiểu lòng dân, hậu dân sinh để dụng sức dân” là điều mà những người gánh vác việc lớn cần phải biết.

Trần Đông Chấn

Đầu thu tháng 8, 2008.

Chú dẫn:

[8] Đảm bảo sự cạnh tranh đồng nghĩa với việc chống lại những hành động bóp chết cạnh tranh.

[9] Theo Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009: “Qua 6 tháng thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, tổng phương tiện thanh toán (M2) trong nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2008 chỉ tăng 4,48% so với cuối năm 2007, thấp hơn cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước 24,62%) và tăng 24,06% so với cùng kỳ năm trước. Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng tháng 6 giảm 7,13% so với tháng 12/2007 và giảm 17,46% so với cùng kỳ năm trước”.

[10] Trang 117 & 215 Sách Toàn cầu hóa và những mặt trái – Nhà xuất bản Trẻ – 04/2008.

Blog at WordPress.com.