Ktetaichinh’s Blog

March 13, 2010

Fitch Warns May Cut Vietnam Ratings As Dong Confidence Crumbles

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:58 am
Tags: , , , ,

By Leigh Murray
Of DOW JONES NEWSWIRES
Fitch Ratings Friday warned it may cut Vietnam's credit ratings deeper into junk
territory, citing weakening domestic confidence in the dong, and said balance of payment
support is needed before trust can be restored.
Fitch put Vietnam's long-term foreign and local currency ratings of BB- on negative
watch. It also put its short-term foreign currency rating and country ceiling of BB- on negative
watch.
The ratings agency said the Southeast Asian country must allow greater data transparency
for international reserves and the balance of payments to help avert negative rating action.
“The strength of Vietnam's external finance position, which has provided support to the
sovereign's overall creditworthiness, has been sharply eroded as the economy
displays signs of domestic overheating and residents lose confidence in the local currency,”
Ai Ling Ngiam, Director in Fitch's Asia Sovereign team, said in a statement released by
the ratings agency.
“Without a strong policy tightening backed by significant BOP support, confidence in the
Vietnamese dong is unlikely to be restored,” the Fitch statement said.
An official at the State Bank of Vietnam said he was not aware of the Fitch announcement
and had no comment.
The Fitch move is the latest sign of pressure on Vietnam's economy. Vietnam's
recovery from the global crisis–growth is set to rise to 6.5% this year from 5.32% in 2009–is
marred by surging inflation and a wide trade deficit. An interest rate hike Dec. 1 and two
currency devaluations since November have done little to fix those problems.
Black market traders Friday were demanding a 4.2% premium for the U.S. dollar over the
official dollar-dong exchange rate, underlining weak confidence in the Vietnamese currency.
Fitch said the premium indicates ongoing depreciation pressures on the dong.
The central bank recently said flexibility in the exchange rate in coming months was
necessary to boost exports, reduce Vietnam's trade deficit and improve its
international balance of payments, but economists say a tighter monetary policy is also necessary to cool the economy, restrain demand-side inflation and help make dongdenominated
assets more attractive for foreign investors.
Barclays Capital analyst Prakriti Sofat said in a note that the Fitch move was not justified,
arguing that while the dong remains weak he doesn't believe domestic confidence in
the currency has deteriorated. He added that Vietnam's trade deficit has improved this
year, its external debt is relatively healthy and the central bank has been moving to tighten
policy.
“Given this backdrop we believe that Fitch rating outlook change to negative is hasty and
short-sighted. It does not take into account the fundamental strength of the Vietnamese
economy and the country's long-term potential,” Sofat said.
Fitch said official data show gross international reserves have fallen to $15.9 billion in
October last year from $23.6 billion in September 2008, adding that more recent figures have
not been published.
It forecast that foreign exchange reserves may decline to 2.6 months of imports and 1.6
months of current external payments this year–the lowest since 1994 and weakest
“A preference towards Vietnamese dong devaluation to boost exports and the
authorities' pro-growth policy measures in the run-up to the January 2011 national
congress of the ruling Communist Party point to risks of further build-up in inflationary
pressures and a weak policy response,” Fitch said.
Further evidence of deteriorating public confidence in dong-denominated assets and rising
dollar liquidity constraints–due to robust dollar demand–is the nine failed primary auctions by
the State Treasury since last November.
Fitch warned that bond yields may spike further due to increasing interbank rates at a time
loan demand is propped up by the government's three interest rate subsidy scheme.
Fitch's Ai Ling later told Dow Jones Newswires the most immediate and effective
support for the balance of payments would come from fiscal tightening, while other avenues
would include government debt issuance, foreign direct investment, portfolio inflows, as well
as bilateral and multilateral support in the form of developmental assistance.
Brayan Lai, credit analyst at Credit Agricole, said the Fitch news didn't mark a major
event for the market, given ongoing “expectations that Vietnam faces fiscal and monetary
pressures.”
Vietnam's 2020 dollar-denominated bond, which it sold in January at 98.576, was
quoted unchanged from yesterday at 101.75-102.50, said Singapore-based trader.
Still, the announcement isn't likely to bode well for Vietnamese borrowers that may be
looking at tapping the international bond market Phu My Bridge BOT Joint Stock Co was reported by state media Thursday to be planning to
raise $700 million from an overseas bond issue to fund the construction of three projects,
including the construction of two bridges and a tram system in Ho Chi Minh City. So far, only
the Vietnam government has issued overseas bonds.
-By Leigh Murray, Dow Jones Newswires; 66-2690-4200; leigh.murray@dowjones.com
(Ditas Lopez in Singapore contributed to this article.)
Trang 3/3

Advertisements

Trôi nổi thị trường ngoại tệ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:30 am
Tags: ,

NDĐT – Trong nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay trên thực tế, tình trạng
“đô la hoá nền kinh tế” dường như đang ngày càng được lan nhanh hơn ra nhiều mặt
của cuộc sống. Nhà nhà, người người quy đổi giá trị các vật dụng, tài sản của mình ra
đô, ra euro trong giao dịch, thanh toán. Pháp lệnh Ngoại hối (có hiệu lực ngày 1-6-
2006) cho phép người dân gửi và rút cả lãi lẫn gốc bằng ngoại tệ tiền mặt khi gửi ngân
hàng, tổ chức tín dụng có vẻ như khiến đồng nội tệ lại ngày càng bị “lép vế”.
Quy định của pháp luật Việt Nam không cho phép các giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng
cáo…bằng ngoại hối trừ các giao dịch của tổ chức tín dụng và các giao dịch khác được cấp phép,
song tại nhiều thành phố lớn, việc nhiều cơ sở kinh doanh công khai niêm yết giá bằng ngoại tệ
không phải là hiếm. Điều đáng nói là cơ chế xử phạt tại các văn bản hướng dẫn lại gặp vướng mắc
do những quy định pháp luật chồng chéo.
Đô la hoá là trong nhiều giao dịch dân sự một trong những “cú huých” cho thị trường mua bán
ngoại tệ chợ đen có “cơ” để khuyếch trương, bành trướng và nở rộ. Theo một người dân ở Cầu
Giấy cho biết, “Nếu đi làm thủ tục tại ngân hàng liên quan đến ngoại hối thường phải rườm rà về
mặt giấy tờ. thủ tục, rồi lại phải chứng minh nguồn gốc số ngoại hối đó. Trong khi đó, chỉ cần tấp
vô một lề đường là đã có thể mua bán dễ dàng, không hạn chế về số lượng và chưa mấy ai bị mua
phải đô la giả cả. Mua và gửi bằng các loại ngoại tệ mạnh như đô hay euro thì an toàn vì tiền của
mình biến động liên tục, chắng biết đâu mà lần”. chị cho biết.
Vậy Pháp lệnh ngoại hối có phải là một trong những “thủ phạm” gây ra tình trạng đô la hoá nền
kinh tế hay “văn bản trên giấy” khi không thể kiểm soát được thị trường ngoại tệ, hạn chế được
nạn đầu cư, tích trữ, mua bán trôi nối ở thị trường chợ đen? Sau đây là ý kiến chưa phải là tất cả
của đại diện giới luật gia và các nhà nghiên cứu quản lý.
Võ Đình Toàn – Phó Viện trưởng Viện khoa học pháp lý: “Pháp lệnh Ngoại hối không có
lỗi”
Theo tôi Pháp lệnh Ngoại hối không có lỗi và những quy định của nó cũng được ban hành khá chặt.
Pháp luật hiện hành của chúng ta không cấm sở hữu tài sản là ngoại tệ mà chỉ cấm những giao
dịch không được phép mà thôi và điều này là hoàn toàn đúng. Sở hữu và giao dịch là hai phạm trù
khác nhau. Anh hoàn toàn có quyền được gửi tiền bằng ngoại tệ và rút ra bằng ngoại tệ nhưng khi
giao dịch, sử dụng như thế nào là phải do pháp luật quy định.
Về nguyên lý kinh tế, khi có lạm phát thì giá trị của đồng nội tệ bị sụt giảm và trong giao dịch nếu
các nhà kinh doanh không lấy phương tiện thanh toán quốc tế làm chuẩn thì không có lãi. Các loại
ngoại tệ mạnh hiện tại cũng đang được ưu ái lấy làm thước đo của giá trị các tài sản vì đó là quy
luật phát triển tất yếu của nền kinh tế.
Muốn pháp lệnh thật sự “sống” được thì mạng lưới thực thi pháp luật phải hoạt động hiệu quả vì
pháp luật chỉ tạo ra hành lang pháp lý, còn từ đó đến thực tế áp dụng là cả một quá trình. Điều
quan trọng là lượng dự trữ ngoại tệ của nhà nước phải mạnh, có biện pháp ổn định được giá trị của
đồng nội tệ, kiểm soát giao dịch chợ đen, và phải có biện pháp kiểm soát nguồn gốc thu nhập của
người dân. Một số quốc gia trên thế giớí, ví dụ như Thuỵ Điển chẳng hạn, còn đánh cả thuế về tài
sản, như thế sẽ kiểm soát được các giao dịch trái pháp luật.
Tiến sỹ luật kinh tế Ngô Huy Cương- giảng viên khoa luật Trường Đại học quốc gia:
“Không nên đưa ra quy định cứng về thị trường tiền tệ”

Pháp lệnh Ngoại hối có phải là nguyên nhân gây ra tình trạng đô la hoá hay không cũng chưa thể
kết luận vội. Tuy nhiên, nếu quy định là gửi bằng ngoại tệ, rút ra bằng nội tệ sẽ không khuyến
khích gửi tiền và đưa ngoại tệ vào Việt Nam do ảnh hưởng sự biến động của tỷ giá. Chúng ta cần
có chính sách linh hoạt, mềm dẻo cho từng thời kỳ, khuyến khích nền kinh tế phát triển vì nền
kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi, “đang tập làm ăn”. Đưa ra luật phải cân nhắc
vấn đề nào cần đưa vào, cái gì cần là chính sách linh động, chứ không nên chỉ quan tâm đến thẩm
quyền.
Vấn đề làm thế nào để hạn chế vấn nạn mua bán ngoại tệ “chợ đen” thực sự là khó. Nếu chúng ta
sử dụng công cụ pháp luật để hạn chế thì cũng cần có một thời gian cứu cẩn thận để đưa ra những
giải pháp hợp lý, không nên đưa ra để xử lý vấn đề mang tính thời điểm vào pháp luật để điều
chỉnh lâu dài như vậy sẽ khó phù hợp với qui luật thị trường.
Luật sư Lê Vinh (Văn Phòng Luật Sư Chương Dương): “Cấm vẫn lách!”
Việc pháp lệnh quy định hạn chế sử dụng ngoại hối ngoại trừ những giao dịch của một số chủ thể
nhất định như ngân hàng, công ty tài chính có giấy phép hoạt động ngoại hối (theo điều 22) chẳng
có gì không đúng. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều cá nhân, tổ chức sử dụng ngoại tệ như một công
cụ thanh toán với nhau.
Nhiều trường hợp “khéo lách” bằng cách khi quy giá trị tài sản giao dịch cần thanh toán và thực tế
thanh toán là ngoại tệ nhưng trong hợp đồng vẫn quy đổi thành đồng Việt Nam. Nhưng cũng có
trường hợp giao kết thanh toán bằng ngoại tệ nên khi có tranh chấp, điều khoản liên quan đến
công cụ thanh toán đương nhiên bị tuyên vô hiệu. Tình trạng đô la hóa giao dịch hiện nay ở nước
mình chủ yếu là do thói quen, do yếu tố tâm lý, kinh tế chứ không phải do nguyên nhân luật pháp.
Nếu cấm rút bằng ngoại tệ khi người dân đã gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ gây thiệt hại
cho người gửi, không kích thích thị trường. Có chăng chỉ nên áp dụng cho một số trường hợp đặc
biệt (có thể do Chính phủ, Thủ tướng quy định).

Ngoại hối đã dễ thở hơn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:22 am
Tags: , ,

Friday, 12. March 2010, 06:27:32

Tại các điểm mua, bán ngoại tệ “tự do” trên phố Hà Trung, Hà Nội, các giao dịch diễn ra “âm thầm” nhưng vẫn sôi động.

Thời điểm này chúng tôi đã có thể dễ dàng mua ngoại tệ của ngân hàng, so với cách đây. Giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đã gần ngang nhau”, ông Võ Nguyên Quý, giám đốc một doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ chuyên kinh doanh thang máy ở Hà Nội cho biết.

Khác với mấy tháng trước, khi thị trường ngoại tệ tỏ ra khá căng thẳng. Nhiều doanh nghiệp như ông Quý khó có thể mua được ngoại tệ từ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu. Ông Quý buộc phải mua ngoại tệ trên thị trường tự do với giá cao để thực hiện các hợp đồng sản xuất. Chính vì vậy, tại các điểm mua, bán ngoại tệ “tự do” trên phố Hà Trung, Hà Nội, các giao dịch diễn ra “âm thầm” nhưng vẫn sôi động.

Tuy nhiên đến thời điểm này, thị trường ngoại hối đã có nhiều chuyển biến tích cực. Giới chuyên gia đánh giá cao quyết định của Ngân hàng nhà nước, mở rộng cơ chế lãi suất thỏa thuận cho các khoản tín dụng trung – dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh.

Theo nhận định của các chuyên gia, sau khi NHNN quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại các TCTD là 1%/năm, lợi ích của việc nắm giữ USD đã giảm. Động thái này cùng với việc điều chỉnh tỷ giá lên 18.544 đồng/USD (tăng 3,36%) sát với kỳ vọng của thị trường đã khiến cho tâm lý găm giữ ngoại tệ đã phần nào được giải tỏa, thúc đẩy các tổ chức, cá nhân bán ngoại tệ ra thị trường, qua đó giúp các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với ngoại tệ, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường ngoại hối.

Theo thông tin từ Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN) và thị trường, các doanh nghiệp đã bắt đầu bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, sau khi NHNN triển khai các biện pháp can thiệp thị trường vàng, tỷ giá trên thị trường tự do đã giảm. Cung – cầu ngoại tệ đã cân bằng, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ.

Tại Hà Nội, giá giao dịch mua – bán chiều 11/3, USD thị trường tự do tiếp tục giảm xuống mức 19.30 0- 19.320 đồng/USD, giảm khoảng 40 – 60 đồng/USD so với ngày 2/3. Tỷ giá liên ngân hàng ngày 11/3 vẫn được NHNN công bố là 18.544 đồng/USD. Trong khi biên độ tỷ giá giao dịch công bố của NHTM đã thu hẹp ở mức 19.080 – 19.100 đồng/USD, so với 19.050 – 19.100 đồng/USD ngày 4/3.

Theo giải thích của Ngân hàng Nhà nước, sở dĩ thị trường ngoại hối có dấu hiệu tích cực là do Ngân hàng Nhà nước điều hành giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng, làm tăng nguồn vốn để cho vay khoảng 500 triệu USD, giảm chi phí huy động vốn khoảng 0,1% và tác động ổn định tỷ giá.

Ngân hàng nhà nước điều chỉnh tỷ giá là nhằm thực hiện các biện pháp chống găm giữ và đầu cơ, can thiệp bán ngoại tệ cho các nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thiết yếu nhằm từng bước tạo sự chuyển biến tích cực của thị trường ngoại tệ: Trước tình hình thanh khoản ngoại tệ trên thị trường cải thiện chậm, nhằm cân đối hài hoà cung – cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo các chuyên gia, quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá đã phát huy tác dụng. Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu đồng thời buộc các doanh nghiệp nhập khẩu phải cân nhắc việc sử dụng ngoại tệ, qua đó hỗ trợ kiểm soát nhập siêu; Thứ hai, sau khi NHNN điều chỉnh tỷ giá sát với kỳ vọng tỷ giá của thị trường và quy định trần lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế, lợi ích của việc nắm giữ USD đã giảm, do vậy, tâm lý găm giữ ngoại tệ đã phần nào được giải tỏa, thúc đẩy các tổ chức, cá nhân bán ngoại tệ ra thị trường, qua đó giúp các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với ngoại tệ, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường ngoại hối; Thứ ba cũng là do nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu bán ngoại tệ, thanh khoản thị trường được cải thiện.

Tỷ giá trên thị trường tự do giảm nhẹ so với thời điểm trước khi điều chỉnh tỷ giá, khiến chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tự do được thu hẹp từ mức trên 1.000 đ/USD hiện chỉ còn khoảng 300-400 đ/USD.

Bên cạnh những tác động tích cực, việc điều chỉnh tăng tỷ giá cũng đem lại một số hệ quả không tránh khỏi như tăng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài cũng như trả nợ vay bằng ngoại tệ trong nước, tác động làm tăng giá nhập khẩu.

Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, chủ động và thận trọng để kiểm soát mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng đối với nền kinh tế tăng khoảng 25%, lãi suất và tỷ giá phù hợp với mục tiêu và điều kiện kinh tế vĩ mô, lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông ở mức hợp lý để đảm bảo khả năng an toàn thanh toán hệ thống ngân hàng, hỗ trợ thanh khoản cho nền kinh tế.

March 8, 2010

“Thiên đường” thành địa ngục

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:53 am
Tags: ,

Từ giữa năm 2004 đến nay, đã có hơn 60 con bạc “đại gia” tại TPHCM mất sạch nhà cửa vì qua “thiên đường” Bavet đánh bạc, còn số con bạc bình dân tán gia bại sản thì nhiều không kể xiết

> Càng chơi, càng cháy túi > Dễ hơn đi chợ

Nói về tệ nạn cờ bạc ở khu Bavet – Campuchia, một blogger đã bức xúc viết: “Tổ chức “thiên đường cờ bạc” ngay tại vùng biên, các chủ sòng chỉ việc ung dung ngồi hốt bạc của những người khách tự nguyện đến cống nạp mà chẳng cần quan tâm đến việc những đồng tiền ấy từ đâu ra, kể cả nó có nhuốm màu ma túy hoặc máu…”.
Dù mới khai trương nhưng sòng Titan King Casino ở Bavet luôn tấp nập khách đến đánh bạc

Tán gia bại sản
Tại quầy giải khát ở sòng Titan King Casino trong khu Bavet, chúng tôi dọ hỏi một “lưu linh” xung quanh việc có hay không chuyện người chơi mượn tiền đánh bạc nhưng không có trả sẽ bị giữ lại để đòi tiền chuộc. “Lưu linh” này xác nhận: “Giá mỗi con bạc bình thường là 2.000 USD. Người nào mượn không có tiền trả thì bọn em giữ lại rồi gọi người nhà từ VN đem tiền sang chuộc về”.

Một vị khách và cũng là con bạc của sòng này quay sang chúng tôi nói đùa đầy chua chát: “Bây giờ làm gì cũng có khuyến mãi. Theo tôi, các sòng bạc nên khuyến mãi quan tài, bởi ở đây thiếu gì người tự tử vì trắng tay!”.
Theo thông tin chúng tôi điều tra được, từ giữa năm 2004 đến nay, đã có hơn 60 con bạc “đại gia” tại TPHCM mất sạch nhà cửa vì qua “thiên đường” Bavet đánh bạc, còn số con bạc bình dân tán gia bại sản thì nhiều không kể xiết.
Ông Tám Ngon, nhà ở huyện Bến Cầu – Tây Ninh, người từng sang Bavet chơi vào thời điểm vài sòng bạc đầu tiên ở đây mới mọc lên, tiết lộ: “Tôi từng nghe những ông chủ sòng bạc tại khu Bavet tuyên bố rằng nếu khách chơi thắng được tiền thì chỉ đem xây mả mới có thể giữ lại được! Nếu không, trước sau gì tiền đó sẽ quay lại túi chủ sòng bạc, còn người chơi sẽ tán gia bại sản”.
Ông Tám Ngon dẫn chứng trường hợp bà G., trước đây là chủ một khách sạn ở quận 1 – TPHCM. Vì mê sang Bavet chơi, bà G. đã bỏ cả chồng con, bán luôn khách sạn để lấy tiền đánh bài.

“Rốt cuộc bà G. trắng tay, không mặt mũi nào về VN nên ở lại rửa bát thuê cho sòng bạc. Vậy mà máu mê cờ bạc của bà G. vẫn không dứt, cứ kiếm được đồng nào là bà lại ném vào “thiên đường” nên đến giờ vẫn loay hoay làm thuê trên đất bạn” – ông Tám Ngon kể.

Ông còn cho biết một “đại gia” khác ở Bình Dương hiện đã thân bại danh liệt. “Tính từ khi sang Bavet chơi bài đến khi trắng tay, số tiền “đại gia” này ném vào các sòng bạc không dưới 5 triệu USD” – ông Tám Ngon khẳng định.
Chảy máu ngoại tệ
“Thiên đường cờ bạc” Bavet có trên 10 sòng, như:  Titan King Casino, Las Vegas, Mộc Bài, New World, Winn, Le Macau, Sun City, Volvo, Vip, Full House, J Club…

Theo tìm hiểu của chúng tôi, chủ các sòng này thông qua một số đường dây môi giới đã tổ chức được cả mạng lưới “tiếp thị và khuyến mãi” đến tận gia đình, khu phố, doanh nghiệp… để chiêu dụ các con bạc. Trong  đó, họ chú trọng lôi kéo các “đại gia” nhiều tiền lắm của ở TPHCM.
TPHCM và Tây Ninh hiện có khoảng 10-12 nhóm với hơn 40 người chuyên đưa đón khách từ VN sang Bavet đánh bạc. Những người này được hưởng 0,2% trên số tiền khách đánh bạc đổi “phỉnh” tại sòng.

Ngoài ra, trước khi đến các sòng bạc ở khu Bavet, nếu khách không muốn đổi “phỉnh” từ dịch vụ của sòng thì có thể đổi ngay trên xe chở họ từ VN sang.

Riêng ở TPHCM, tại các trạm đón khách (khu vực nhà hàng K.H. gần Sân vận động Thống Nhất, khu vực nhà hàng P.L. trên đường Lý Thường Kiệt – quận 11, nhà hàng P.H. – quận 5, đường Tản Đà – quận 5…) đều có nhiều đầu nậu sẵn sàng cho các con bạc ký gửi tiền để qua Bavet chơi. Khi khách có nhu cầu mượn tiền, những đầu nậu này liên lạc nhau qua điện thoại di động với các đường dây cho vay tiền tại sòng bạc để đáp ứng. Khi về VN, các con bạc sẽ thanh toán theo thỏa thuận. Nếu khách thắng bạc ở tại sòng thì có thể thông qua số đầu nậu này để nhận tiền thắng bạc tại nơi cư trú.
Khách sang Bavet không cần mang nhiều tiền, chỉ cần bỏ túi 100 – 200 USD để chi phí dọc đường, còn tiền đánh bạc sẽ có người của các sòng cho mượn, sau đó thua thắng gì đều thanh toán tại VN. Theo quan sát của chúng tôi, hầu hết con bạc sang Bavet chơi đều mang theo rất ít tiền nhưng thực tế số tiền họ ăn thua rất lớn.

Nguồn tin từ cơ quan chức năng cho biết bình quân mỗi ngày có đến cả triệu USD theo chân các con bạc chảy lậu sang biên giới để ném vào “thiên đường cờ bạc” Bavet.

Được bạc cũng không yên
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết tại các sòng ở khu Bavet có rất nhiều đường dây bảo kê, dắt mối con bạc và đổi phỉnh hoạt động 24/24 giờ, như Tỷ Phú, Na, Thành Lợi, Lợi… Trong đó, vợ chồng C. và H. làm chủ đường dây dắt mối, tổ chức cờ bạc quy mô nhất. Sau khi tiếp cận các đại gia, vợ chồng C. và H. rủ rê họ qua Campuchia mua sắm, “giải trí” cờ bạc. C. và H. còn sắm xe du lịch dùng làm phương tiện đưa đón các con bạc.

Theo một nguồn tin từ cơ quan chức năng, C. và H. đang móc nối với các đối tượng cờ bạc mới thụ án xong để làm “vệ tinh” dẫn khách từ VN qua Campuchia đánh bạc.
Các đường dây khác ở “thiên đường” Bavet thường thuê những băng “anh chị” từ Hà Nội, Hải Phòng vào bảo kê, dắt mối và điều hành. Ngoài hoạt động cờ bạc, các băng nhóm này còn chi phối toàn bộ dịch vụ nhà hàng, khách sạn, massage, múa thoát y, cho vay lãi nặng, đòi nợ thuê… Những đường dây này có hẳn đội ngũ chuyên đâm thuê chém mướn. Các ông chủ sòng bạc thuê họ dằn mặt hoặc thanh toán những con bạc nào không chung chi tiền sòng phẳng, có thể tổ chức cướp tài sản khi có con bạc nào thắng lớn. Thậm chí, đối với những người thắng đậm, chúng sẵn sàng chỉ điểm cho cơ quan chức năng tóm gọn. Mới đây, một nhóm sang Bavet đánh bạc thắng đậm đã bị các đối tượng này chỉ điểm cho cơ quan chức năng bắt giữ với số tiền hơn 70.000 USD.

March 2, 2010

USD tự do tăng mạnh: áp lực đè nặng DN

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:42 am
Tags: , , ,

01/03/2010 17:05:20

– Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ từ 17.941 lên 18.544 (khoảng 3,3%), giá đô la trên thị trường tự do cũng tăng mạnh. Giao dịch mua vào bán ra sáng nay (1/3) giao động khoảng 19.450 – 19.500 đồng/USD, tăng từ 50 – 70 đồng/USD.

Theo ông Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính), sức ép về cân đối cung cầu ngoại tệ sẽ buộc phải phá giá. Phá giá đồng VN thì lại làm tăng giá hàng nhập khẩu, dẫn đến giá cả trong nước cũng tăng theo làm đồng VN mất giá..

Áp lực tỷ giá

Ông đánh giá thế nào với việc tăng tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ lên 3,3%?

Mô tả ảnh.
Tiến sĩ Vũ Đình Ánh

Việc tăng tỷ giá này của ngân hàng nhằm mục đích bình ổn giá đô la Mỹ, kéo giá đô la trong ngân hàng và thị trường tự do gần nhau để giảm tình trạng ngoại tệ chảy khỏi kênh ngân hàng.

Ngoài ra, chúng ta phải điều chỉnh tỷ giá vì thâm hụt cán cân quá lớn. Tháng 1, tháng 2 mới chỉ là những tháng khởi động, nhưng từ tháng 3 trở đi, nhập siêu sẽ tăng lên rất lớn.

Nhập siêu như thế lại gây áp lực lên tỷ giá vì mất cân đối về ngoại tệ, các nguồn ngoại tệ hiện nay mình vẫn chưa kiểm soát được. Bắt các Tổng công ty bán nhưng họ cũng chỉ bán một phần nhỏ, còn ngoại tệ ngoài luồng thì chịu, mà trên tài khoản không phải tất cả bán hết.

Để hạn chế tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất tiền gửi bằng tiền đô là 1%, nhưng thực tế hiện nay vẫn tồn tại cơ chế 2 giá, kể cả giá tiền gửi và cho vay. Cho vay danh nghĩa là theo mức lãi suất quy định nhưng nhiều khi để hấp dẫn, nhiều ngân hàng thương mại lại cho vay với mức giá khác. Để loại bỏ cơ chế 2 giá này thì rất khó vì hiện nay chúng ta vẫn không đủ ngoại tệ.

Việc tăng tỷ giá này có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động xuất nhập khẩu?

Hiện nay các ngân hàng thương mại đều đồng loạt tăng trần cả huy động và cho vay. Theo quy luật, cứ phá giá thì sẽ có lợi cho xuất khẩu và có hại cho nhập khẩu.

Tuy nhiên, xuất khẩu ở Việt Nam, do không khống chế được về giá và kết cấu của xuất khẩu là khai thác nguyên liệu thô để bán, nên thu được nhiều hay ít, cho dù có phá giá thì cũng chỉ thêm được tiền Việt Nam, chứ không có giá trị về mặt cạnh tranh quốc tế. Mình không thể hạ giá bằng đô la thấp hơn vì đây là tỷ giá của mình thay đổi. Nói chung phá giá không ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu.

Tăng tỷ giá nhằm bình ổn thị trường đô la.
Tăng tỷ giá nhằm bình ổn thị trường đô la.

Trong xuất khẩu các nhóm hàng khác nhau cũng chịu những tác động khác nhau. Đối với nhóm hàng khai khoáng (dầu thô, gạo,…) thì càng điều chỉnh tỷ giá thì doanh nghiệp càng nộp ngân sách nhiều tiền hơn.

Tuy nhiên, với một số mặt hàng phải nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu như may mặc, da dày, thì điều chỉnh tỷ giá không tác động là mấy, do nhóm hàng này thực chất không làm lợi được mấy, chủ yếu là đầu vào tăng, sau đó họ lại gia công một chút rồi bán thì hàm lượng giá trị gia tăng cũng không đáng kể.

Về nhập khẩu, phá giá càng không ảnh hưởng nhiều. Khi điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái thì giá bán của hàng nhập khẩu ở VN sẽ cao, thế nhưng hàng nhập khẩu của VN thì giá cao thế chứ cao nữa vẫn dùng, vì hàng trong nước không thay thế được. Do đó, không giảm về tiêu dùng.

Do vậy mỗi lần điều chỉnh tỷ giá hối đoái là giá lại tăng, và tăng đầu tiên là hàng hóa nhập khẩu. Hàng hóa nhập khẩu lại là đầu vào cho những sản xuất khác, kéo theo giá thành của nhiều sản phẩm cũng tăng.

Đối với doanh nghiệp, tỷ giá tăng có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh không?

Ở VN hiện nay, một mặt cơ quan quản lý không cho mua đô la chợ đen, chỉ được bán. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhập khẩu hàng về thì cũng không ai hỏi nguồn ngoại tệ ở đâu và bản thân ngân hàng không cung cấp đủ nên khác gì bảo người ta ra ngoài mà mua…”

Đối với doanh nghiệp, khi họ không mua được đô la ở trong ngân hàng thì họ sẽ phải mua ở ngoài thị trường tự do. Giá đô la ở ngoài tăng cao thì họ sẽ mua với giá cao, sau đó cũng bán với giá cao.

Họ sẽ chỉ thiệt ở chặng thứ hai khi bán rồi lại mua đô la để nhập. Nhưng thực tế cái đó đều được tính trong cả một chu trình kinh doanh, chứ nếu thiệt thì doanh nghiệp sẽ không nhập hàng về để chịu thua lỗ.

Còn việc mua đô la trong ngân hàng thì cũng chưa chắc đã mua được với mức giá đúng của nó. Vì vậy, họ sẵn sàng mua đô la ở bất cứ đâu miễn là đủ ngoại tệ để nhập hàng. Tuy nhiên, nếu mua ở ngoài chợ đen thì sẽ khó khăn về mặt hạch toán.

Ở VN hiện nay, một mặt cơ quan quản lý không cho mua đô la chợ đen, chỉ được bán. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhập khẩu hàng về thì cũng không ai hỏi nguồn ngoại tệ ở đâu và bản thân ngân hàng không cung cấp đủ nên khác gì bảo người ta ra ngoài mà mua.

Muốn cân đối nguồn đô la hiện nay, theo tôi cách tốt nhất là hạn chế nhập siêu.

Xăng tăng giá, DN giải thích “cho vui”

Hiện nay giá xăng thành phẩm đang giảm, trong khi giá xăng bán tại các đại lý lại tăng, điều này có phải bị tác động với việc tăng tỷ giá?

Giá bán lẻ xăng dầu hiện nay có khoảng 11 bộ phận cấu thành, tỷ giá là một phần. Nhà nước cho phép doanh nghiệp được quyết định giá xăng theo nguyên tắc cộng trừ 7% .

Nhiều doanh nghiệp cho rằng do giá xăng thế giới thay đổi nên tăng giá. Nhưng giá xăng không thay đổi trong thời điểm mà trong thời gian dài, tương ứng với lượng dự trữ xăng dầu của VN, trước kia là 20 ngày, bây giờ là 30 ngày. Nó phải biến động giá trong một chu kỳ như thế mới coi là tỷ giá là một yếu tố.

Thực chất 10 yếu tố còn lại không ai đưa ra giải thích nên mỗi lần DN xăng dầu giải thích như thế cũng chỉ là nói cho vui, không có nghĩa giá xăng dầu thế giới tăng 10% thì VN cũng tăng 10%, còn các yếu tố khác như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tỷ lệ hoa hồng trích cho các đại lý và là đại lý nhiều cấp thì sao.

Việc tăng tỷ giá này có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế và chính sách tiền tệ?

Sức ép về cân đối cung cầu ngoại tệ sẽ buộc phải phá giá. Phá giá đồng VN thì lại làm tăng giá hàng nhập khẩu, dẫn đến giá cả trong nước cũng tăng theo làm đồng VN mất giá.

Đồng VN mất giá lại tạo sức ép lên tỷ giá, tạo ra vòng xoáy. Khi đồng VN liên tục mất giá thì người ta chối bỏ đồng VN và quay sang ngoại tệ khác hoặc dự trữ vàng, và như thế đồng VN sẽ càng mất giá.

  • Nguyễn Yến (thực hiện)

February 28, 2010

Nhấp nhổm chờ mua bán ngoại tệ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:19 pm
Tags: ,
Quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá có hiệu lực từ 11/2/2010, nhưng đến 23/2 thị trường ngoại tệ vẫn trong trạng thái chờ

Quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá có hiệu lực từ 11/2/2010, nhưng đến 23/2 thị trường ngoại tệ vẫn trong trạng thái chờ.

Ngay sau khi quyết định của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực, tỷ giá mua vào và bán ra của các ngân hàng thương mại đã có khoảng cách. Đến 23/2, hầu hết các ngân hàng thương mại đều niêm yết giá bán bằng nhau ở mức kịch trần 19.100 đồng/USD. Còn giá mua vào có khác nhau, tại VCB là 18.800 đồng/USD. Eximbank: 18.990 đồng/USD (tiền mặt) và 19.000 đồng/USD (chuyển khoản). ACB: 19.050 đồng/USD. EAB: 19.000 đồng/USD.

Tại thị trường tự do, tỉ giá trong ngày 23/2 trong khoảng 19.350 – 19.380 đồng/USD, giảm nhẹ khoảng 40 – 50 đồng/USD so với hai ngày trước đó. Đây có phải những dấu hiệu cho thấy cung cầu USD đã bớt căng thẳng?

Doanh nghiệp đã bán USD

Ông Phạm Văn Bảy, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang (Afiex) cho biết: “Chính sách thay đổi tỷ giá mà ngân hàng Nhà nước vừa áp dụng giúp công ty bán được ngoại tệ ở mức cao nhất là 19.100 đồng/USD. Theo tôi, với mức điều chỉnh như vậy tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Từ nay sẽ không còn tâm lý găm giữ như trước, vì nếu nhốt ngoại tệ trên tài khoản thì với lãi suất USD như hiện nay (1% – PV) sẽ không có lời. Còn chờ tỷ giá tăng thêm nữa, thì khó xảy ra”.

Còn ông Trần Thiện Lĩnh, Giám đốc Công ty Thuỷ sản Thuận Phước, Đà Nẵng cũng nói rằng, thu ngoại tệ về là bán ngay. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng mua ngoại tệ ở mức giá cao nhất. “Doanh nghiệp chúng tôi phải dựa vào mối quan hệ mới bán được mức 19.100 đồng/USD”, ông Lĩnh nói như vậy.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á cũng cho biết: “Một số doanh nghiệp đã chấp nhận bán ra ngoại tệ. Nhưng mới ra Tết, giao dịch còn ít, nên chưa thể nói được gì nhiều”.

Nín thở chờ

Một doanh nghiệp vận tải biển có nguồn thu ngoại tệ khá lớn chiều 23/2 nói: “Vẫn nghỉ tết nên chưa nắm rõ tình hình”. Anh Hùng, một người dân có khoảng 10.000 USD gửi ngân hàng cười: “Mình đầu tư nhỏ lẻ. Vẫn biết bán đô lấy tiền đồng gửi ngân hàng sẽ có lãi suất cao hơn, nhưng phải chờ xem thị trường diễn biến thế nào đã”.

Ở các tiệm vàng, quầy thu đổi ngoại tệ, giới kinh doanh cho biết hai ngày qua hoạt động mua bán khá vắng lặng. Chủ tiệm vàng ở khu vực Bến Thành kể: “Chỉ có khách nước ngoài, Việt kiều đi mua sắm đổi một vài trăm Đô la lấy tiền chi tiêu. Còn lại bạn hàng trong chợ chỉ hỏi giá tham khảo liên tục chứ không mua không bán”.

Những điểm có dịch vụ thu đổi ngoại tệ tận nhà cho biết, lượng khách đầu năm chỉ bằng 30% so với trước tết. Một chủ tiệm vàng ở khu vực quận 3 cũng cho biết: “Đã có khách mối ở các công ty dọ giá, nhưng họ chưa quyết định mua hay bán. Trong giới làm ăn thì dự báo giá Đô la sẽ còn tăng nữa. Nhưng vẫn có thông tin cho rằng các ngân hàng sẽ mở rộng cửa bán đô với tỷ giá chính thức, nên các công ty, khách buôn bán có nhu cầu giao dịch tiền đô vẫn chưa đặt hàng”.

Theo phó tổng giám đốc một công ty kinh doanh vàng bạc đá quý, thị trường đầu năm đang chờ các động thái từ ngân hàng.

Bản thân các ngân hàng thương mại cũng chờ. Ông Nguyễn Đức Thái Hân, phó tổng giám đốc ACB nói: “Lượng khách thanh toán chưa quay lại quy mô bình thường sau tết. Chúng tôi cũng mới làm việc trở lại 1 – 2 ngày nên chưa thể đánh giá được cung cầu USD hiện tại.” Ông Hân cũng nhận xét rằng: “Không thể căn cứ trên giá niêm yết đã có khoảng cách giữa mua vào bán ra thay vì bằng nhau và ở mức kịch trần như trước đây để cho rằng nguồn cung USD đã dồi dào hơn”.

Một nhà nhập khẩu máy tính (đề nghị không nêu tên) cho biết, dù Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá gần sát với giá thị trường để chống hiện tượng làm giá, nhưng đầu năm, khi nhu cầu mua đồng USD chưa nhiều thì kiếm được lượng USD theo như mong muốn không phải dễ.

Kế toán trưởng của một doanh nghiệp nhập khẩu hàng kỹ thuật số cho biết, hiện nay, một số ngân hàng vẫn gợi ý doanh nghiệp mua ngoại tệ theo thoả thuận. Và giá niêm yết vẫn chỉ để niêm yết. “Họ (ngân hàng) yêu cầu chúng tôi nộp hồ sơ. Sau đó họ sẽ thoả thuận tỷ giá. Nếu doanh nghiệp chấp nhận, hai bên sẽ tiến hành mua bán. Trước khi nộp hồ sơ, chúng tôi có đề nghị cho biết tỷ giá cần thoả thuận nhưng họ từ chối công bố. Họ cũng không cho biết có đáp ứng đủ nhu cầu doanh nghiệp hay không”.

February 22, 2010

Bài toán ngoại tệ tạm thời có lời giải

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:22 pm
Tags: ,

Lao Động số 39 Ngày 22/02/2010 Cập nhật: 9:17 AM, 22/02/2010

(LĐ) – 27 Tết, khi mà mọi giao dịch của nền kinh tế được giảm thiểu đến mức tối đa để chuẩn bị đón tết cổ truyền thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đột ngột ra thông báo quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại TCTD và quyết định điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH.

TGĐ một NHTMCP thốt lên: “Tôi không ngờ NHNN lần này lại ra tay nhanh và bất ngờ như vậy”.

Ngoài dự đoán của thị trường, nhưng trong tính toán thời điểm của NHNN. Khi tỉ giá thị trường tự do đang ở mức thấp nhất trong vòng nhiều tháng qua, người dân và DN đa phần đã ngừng các giao dịch tài chính để mua sắm, những xáo động về tâm lý sẽ giảm thiểu.

Để ý thấy những quyết định quan trọng của NHNN thường được đưa ra trong hai bối cảnh. Thứ nhất trong tình thế bắt buộc phải đưa ra quyết định (như cho phép nhập khẩu vàng vừa rồi) tình thế này khá dễ đoán định.

Thứ hai chọn thời điểm tình hình có vẻ êm ả, hầu như không có những vấn đề nóng mà thị trường nghĩ rằng cần có giải pháp (như quyết định nâng mức LS tiền gửi USD và điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH hôm 10.2 vừa qua).

Chính sách ban hành trong thời gian này sẽ khiến thị trường bớt bị sốc và không có những phản ứng thái quá, nóng vội gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia thị trường. Trong tình huống này, mặc dù thị trường bị bất ngờ, nhưng những hiệu quả đạt được trong công tác quản lý là khá cao.

Lần này cũng vậy, sau cơn sốt ngắn ngủi trong buổi sáng ngày 11.2, USD trên thị trường tự do nhảy lên 19.650 đồng/USD, đến trưa cùng ngày tỉ giá đã giảm dần và chiều giảm khá mạnh.

Phản ứng của giới tài chính chưa rõ rệt, còn các NĐT coi quyết định này của NHNN là tích cực cho NH và TTCK. Một NĐT nói: “NHNN điều chỉnh tỉ giá như thế là rất tốt cho thị trường tiền tệ nói chung và hệ thống NH nói riêng. Thanh khoản USD sẽ được cải thiện đáng kể. Tỉ giá tăng, LS gửi USD giảm buộc các DN sẽ phải so sánh lợi ích giữa găm giữ USD trên tài khoản hay chuyển đổi thành VND thì có lợi hơn, để từ đó tự nguyện bán USD cho NH. Khi tỉ giá trong và ngoài thị trường chính thức không chênh lệch nhiều nữa thì nguồn cung USD cho NH cũng sẽ tăng lên. Bài toán ngoại tệ tạm thời có lời giải”.

Cơ sở ra quyết định

Theo thông tư số 03/2010/TT-NHNN, kể từ ngày 11.2.2010, mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế (trừ TCTD) tại TCTD tối đa là 1,0%/năm (mức LS tối đa mà các NHTM đang áp dụng là 4,5%/năm). Tỉ giá bình quân liên NH giữa USD và VND áp dụng cho ngày 11.2.2010 là 18.544 VND/USD (tăng 603 đồng, tương ứng 3,3% so tỉ giá ngày hôm trước 10.2).

Mục đích của việc ban hành thông tư 03 và điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH theo NHNN là nhằm cân đối hài hoà cung – cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.

Như chúng ta đã biết, trong năm 2009, NHNN đã thực hiện một loạt biện pháp để bình ổn thị trường như điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH, bán can thiệp với quy mô lớn cho tất cả các TCTD có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở xuống.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu 7 DN và tập đoàn nhà nước lớn bán ngoại tệ cho NHTM. Những biện pháp trên tuy đã cải thiện tình hình thị trường ngoại hối, tăng tính thanh khoản cho thị trường nhưng kết quả chưa được như mong đợi.

Lượng ngoại tệ mà các DN bán cho NHTM thấp hơn nhiều với số dư trên tài khoản tiền gửi; nhu cầu nhập khẩu ngày càng tăng mạnh do kinh tế đang phục hồi. Dự trữ ngoại hối quốc gia ở mức thấp. Hiện tượng hai tỉ giá khiến cho tâm lý kỳ vọng găm giữ USD trên tài khoản chờ hưởng chênh lệch tỉ giá không hề giảm bớt, đã tác động xấu đến tỉ giá trên thị trường tự do khiến cho niềm tin vào VND bị giảm sút…

Việc NHNN buộc quy định trần LS tiền gửi USD của các TCKT tối đa 1%/năm cho thấy hiện tượng găm giữ USD trên tài khoản của các DN còn rất nặng nề. Họ vẫn có tâm lý kỳ vọng tỉ giá VND/USD còn có sự điều chỉnh, thêm nữa DN lo bán rồi không mua được ngoại tệ từ NH khi cần.

Từ trước đến giờ DN giữ ngoại tệ vẫn lợi hơn giữ VND vì hưởng lợi kép từ tỉ giá lẫn lãi suất đó là chưa kể nguồn gốc ngoại tệ này có được của nhiều DN từ sự hưởng lợi độc quyền với nhiều ưu đãi trong khai thác tài nguyên khoáng sản của quốc gia và từ đồng vốn VND được hưởng chính sách kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Khống chế LS trần tiền gửi USD của các tổ chức 1%/năm, đi kèm với điều chỉnh mạnh tỉ giá liên NH, NHNN đã “kinh tế hoá biện pháp hành chính” buộc các tổ chức kinh tế khi nắm giữ USD sẽ phải tính toán việc găm giữ hay bán ngay ngoại tệ cho NH khi có nguồn thu.

Tỉ giá-vẫn cần giải pháp căn bản

Việc điều chỉnh mạnh tỉ giá chia thành từng đợt (lần đầu vào quý IV/2009 và mới đây) là thông điệp mà NHNN gửi đến giới DN là NHNN sẽ cương quyết làm cho mối quan hệ giữa VND và USD ở mức hợp lý hơn và các DN vay USD (kể cả vay vốn trong ngoài nước) nếu sử dụng đồng vốn có hiệu quả thì hiệu quả làm ra vẫn thừa khả năng bù cho khoản chênh lệch tỉ giá này.

Như vậy, kỳ vọng về việc tìm kiếm lợi ích tăng giá ngoại tệ trong thời gian tới là rất nhỏ, không đáng kể so với việc mau chóng biến nguồn ngoại tệ có được thành VND để đưa vào một chu trình luân chuyển vốn mới, nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh.

Tuy nhiên, theo nhiều ý kiến thì việc điều chỉnh tỉ giá và LS vừa qua tuy là yếu tố tích cực cho thị trường trong thời gian tới, nhưng có tác dụng dài hạn hay không lại là một vấn đề còn chờ xem. Liệu các NHTM có nhân dịp này mà hạ LS huy động USD của các thành phần khác xuống để giảm chi phí bình quân đầu vào chung của nguồn vốn huy động? Và các NHTM là đối tượng đầu tiên được hưởng lợi từ chính sách sẽ có hành động gì để san sẻ lợi ích này thông qua lãi suất cho vay với các thành phần kinh tế khác?…

Một chuyên gia tài chính NH nói: “Quyết định điều chỉnh tỉ giá vừa rồi của NHNN chỉ giải quyết triệu chứng, chưa căn bản. Nếu vấn đề nhập siêu cao chưa được giải quyết thì cung-cầu ngoại tệ vẫn mất cân đối và đương nhiên sẽ lại tạo ra chênh lệch tỉ giá giữa hai thị trường chính thức và không chính thức”.

Việc nhập siêu này, nếu VN không có các biện pháp thích hợp cùng với một quyết tâm thực hiện cao để giảm dần, thông qua các chính sách khuyến khích sản xuất, gia tăng xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của DN, khai thác được nguồn lực đầu tư của toàn XH, cải cách chuyển đổi cơ cấu kinh tế và thủ tục hành chính, có những giải pháp chủ động về nguồn ngoại tệ nhằm bù đắp cho sự sụt giảm của dòng vốn đầu tư nước ngoài, của kiều hối… thì các chính sách ngoại hối mà NHNN ban hành vẫn chỉ mang tính ngắn hạn và chắp vá mà thôi.

Bài toán ngoại tệ tạm thời có lời giải

February 12, 2010

Vì sao “thắt” lãi suất tiền gửi USD của tổ chức?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:11 pm
Tags: , ,
Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 15:49

Vì sao “thắt” lãi suất tiền gửi USD của tổ chức?

Ngày 11/2, các ngân hàng đồng loạt rút lãi suất huy động USD đối với các tổ chức về tối đa 1% thay vì từ 2,5% – 4,5%/năm trước đó.

Sau 3 năm cho thực hiện cơ chế thỏa thuận, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu “thắt” lãi suất tiền gửi USD của các tổ chức tại ngân hàng

Sau 3 năm cho thực hiện cơ chế thỏa thuận, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu “thắt” lãi suất tiền gửi USD của các tổ chức tại ngân hàng.

Ngày 10/2, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng Đô la Mỹ (USD) của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng.

Theo đó, kể từ ngày 11/2/2010, mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng) tại tổ chức tín dụng được ấn định tối đa là 1,0%/năm. Quy định về lãi suất tiền gửi bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng theo Quyết định số 07/2007/QĐ-NHNN ngày 6/2/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về lãi suất tiền gửi của pháp nhân tại tổ chức tín dụng hết hiệu lực thi hành.

Đối với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng phát sinh trước thời điểm chính sách mới có hiệu lực thi hành, thì được tiếp tục thực hiện cho đến hết thời hạn đã thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế.

Như vậy sau 3 năm cho thực hiện cơ chế thỏa thuận, Ngân hàng Nhà nước trở lại “thắt” lãi suất tiền gửi USD của các tổ chức tại ngân hàng. Trước năm 2007, Ngân hàng Nhà nước cũng từng áp cơ chế trần cụ thể ở các kỳ hạn đối với nguồn tiên gửi này.

Trước mắt, có thể thấy chính sách trên ảnh hưởng cụ thể đến lợi ích của các tổ chức gửi ngoại tệ có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng ở những hợp đồng mới bắt đầu từ ngày 11/2/2010. Trước đó họ được nhận các mức lãi suất có từ 2,5% – 3,5%/năm, thậm chí tại một số ngân hàng cổ phần lên tới trên 4%/năm, hoặc theo thỏa thuận đối với các trường hợp cụ thể và theo các mức tiền gửi; nay tối đa chỉ 1%/năm.

Vì sao Ngân hàng Nhà nước có quyết định “thắt” lại lãi suất của nguồn tiền gửi này? Thông cáo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, cùng với việc tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, mục đích của Thông tư là “nhằm cân đối hài hòa cung – cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô”.

Tất nhiên giải thích đó không thỏa mãn với những yêu cầu cụ thể. Nhưng có thể tính đến một số phản ứng mà có thể Ngân hàng Nhà nước mong đợi.

Theo bình luận của một công ty chứng khoán gửi đến nhà đầu tư mang tính tư vấn, “đây chính là một hình thức kết hối theo hình thức “tự xử” đối với các tổ chức có tiền gửi USD, ngăn chặn việc Đô la hóa trong nền kinh tế và giúp tăng nguồn cung USD đối với các ngân hàng thương mại”.

Hiện nay, đầu vào ngoại tệ của Việt Nam chủ yếu có từ xuất khẩu, kiều hối, đầu tư nước ngoài… Trong năm 2009, một tình trạng nổi bật và kéo dài là việc nhiều doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ, ngay cả nguồn kiều hối, găm giữ và không bán lại cho ngân hàng, dẫn đến căng thẳng trên thị trường. Nay, với chính sách mới, quyết định găm giữ sẽ phải cân nhắc.

Với quy định trên, lãi suất tiền gửi USD của tổ chức kinh tế tối đa là 1%/năm, tạo sự chênh lệch quá lớn so với lãi suất tiền gửi VND (phổ biến là 10,49%). Chênh lệch và lợi ích lớn khi chuyển sang tiền gửi VND sẽ có giá trị thúc đẩy hoạt động bán lại ngoại tệ cho ngân hàng, nhất là từ các doanh nghiệp xuất khẩu. Hẳn đây là mục đích cụ thể của Ngân hàng Nhà nước, để từ đó “cân đối hài hòa cung – cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ” như nhà điều hành giải thích.

Cùng với quy định “trần” lãi suất, việc tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng cùng thời điểm cũng là một quyết định cộng hưởng để các tổ chức đang găm giữ ngoại tệ hài lòng hơn với quyết định bán ra.

Tuy nhiên, một vấn đề khác nảy sinh là khi lãi suất tiền gửi có kỳ hạn “rơi” mạnh và bị khống chế tối đa 1%/năm như vậy sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động ngoại tệ của các ngân hàng thương mại từ khối tổ chức. Điều này hẳn Ngân hàng Nhà nước đã có sự tính toán và cân đối trên cơ sở cơ cấu các nguồn tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống hiện nay.

Mặt khác, cũng không loại trừ khả năng mức “trần” theo cơ chế mới có một sự linh hoạt; Ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh trong từng thời điểm để phù hợp với tình hình huy động và cho vay ngoại tệ trong hệ thống.

January 20, 2010

Giảm mạnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:58 am
Tags:

Ngân hàng Nhà nước giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, tạo điều kiện thêm vốn cho các tổ chức tín dụng.

Ngày 18/1/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Quyết định số 74/QĐ-NHNN điều chỉnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng.

Theo đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ áp dụng cho các tổ chức tín kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 2/2010 giảm mạnh so với mức hiện hành.

Cụ thể, theo quy định mới, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng bằng ngoại tệ áp dụng cho các ngân hàng thương mại nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Agribank), ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 4% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc; giảm mạnh so với mức 7% áp dụng từ 1/1/2009.

Đối với Agribank, quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc (trước đó là 6%).

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng ngoại tệ áp dụng cho các ngân hàng thương mại nhà nước (không bao gồm Agribank), ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính là 2% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc (trước đó là 3%).

Đối với Agribank, quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc (thay cho mức 2% hiện hành).

Như vậy, cùng với việc 7 tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ, việc Ngân hàng Nhà nước giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc nói trên sẽ tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại có thêm nguồn vốn ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Trong ngày 18/1, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 1 USD = 17.941 VND, mức cố định trong hơn một tháng qua.

January 19, 2010

Mạnh tay với mua bán ngoại tệ trái phép

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:46 pm
Tags: ,

uesday, 19. January 2010, 14:25:09

Thị trường ngoại tệ tự do TP.HCM đang thu hẹp trước sự kiểm tra của cơ quan chức năng. Tuy nhiên cần có những biện pháp khác đi kèm để giảm dần tình trạng “đô la hóa” hiện nay.

Có thể bị khởi tố hình sự

Trong những ngày đầu năm 2010, cơ quan chức năng tại TP.HCM đã ra quyết định xử phạt 2 đơn vị thu đổi ngoại tệ trái phép với số tiền phạt 57,5 triệu đồng/đơn vị.

Cơ quan chức năng cũng đang hoàn tất 2 hồ sơ mua bán ngoại tệ trái phép để ra quyết định xử phạt và hiện cũng đang tiến hành nhiều đợt kiểm tra đột xuất các cơ sở có dấu hiệu mua bán ngoại tệ trái phép cũng như niêm yết giá cả hàng hóa dịch vụ bằng ngoại tệ.

Ông Nguyễn Hoàng Minh – Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh TP.HCM cho biết, khác với những năm trước, NHNN thường phối hợp với các cơ quan chức năng khác như công an, quản lý thị trường để thành lập đoàn kiểm tra các đơn vị mua bán ngoại tệ trái phép hay niêm yết giá cả hàng hóa bằng ngoại tệ thì từ cuối năm 2009, các cơ quan chức năng này tự chủ động đi kiểm tra đột xuất nhằm đảm bảo tính bảo mật, bất ngờ đối với những điểm kinh doanh ngoại tệ hay niêm yết hàng hóa dịch vụ trái phép này. Cụ thể, NHNN sẽ kiểm tra những điểm thu đổi ngoại tệ được cấp phép, công an kiểm tra những đơn vị không được cấp phép và cơ quan quản lý thị trường kiểm tra những đơn vị niêm yết giá cả hàng hóa dịch vụ bằng ngoại tệ. Trong 4 tháng cuối năm 2009, cơ quan chức năng đã xử phạt 1 doanh nghiệp và 4 cá nhân với số tiền phạt là 189,5 triệu đồng, đồng thời phạt 34 đơn vị niêm yết giá cả hàng hóa bằng ngoại tệ gồm các cửa hàng mua bán hàng tiêu dùng, máy tính, đồ thể dục thể thao… là 25 triệu đồng/đơn vị.

Ngoài các điểm giao dịch ngân hàng, trên địa bàn TP.HCM hiện nay có 83 đại lý thu đổi ngoại tệ mà người dân có thể đến để đổi. Các đại lý thu đổi ngoại tệ chủ yếu đặt tại khách sạn 3 sao trở lên, siêu thị, văn phòng bán vé hàng không nước ngoài, sân bay, các trung tâm thương mại…
Ông Nguyễn Hoàng Minh cho biết, người dân hiện nay chưa hiểu việc mua bán ngoại tệ tại các điểm trái phép khi bị phát hiện sẽ bị tạm thu số ngoại tệ này. Do đó, trong thời gian tới, ngân hàng sẽ tuyên truyền rộng rãi hơn về vấn đề này trong dân chúng.

Theo một chuyên gia về ngoại hối, sau khi cơ quan chức năng có quyết định phạt hành chính đối với hành vi mua bán ngoại tệ trái phép thì số ngoại tệ tạm thu sẽ phải thực hiện bán lại cho ngân hàng. Hành vi mua bán ngoại tệ trái phép bị xử phạt vài lần là đã có thể khởi tố hình sự.

Cùng với quy định các tập đoàn kinh tế phải bán ngoại tệ lại cho ngân hàng, những đợt kiểm tra thường xuyên của các cơ quan chức năng đã phần nào làm cho thị trường ngoại tệ tự do thu hẹp, giá USD tự do giảm nhanh, một số điểm thu đổi trái phép không còn dám công khai như trước.

Cải thiện tỷ giá để “diệt” chợ đen

Trên thực tế, nhiều năm qua việc kiểm tra thị trường ngoại tệ tự do đã được tiến hành, đặc biệt là dịp cuối năm. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn thì mọi việc lại “đâu vào đó”. Các hoạt động thu đổi, niêm yết, dùng ngoại tệ thanh toán càng diễn ra nhiều hơn. Tiến sĩ Lê Thẩm Dương (ĐH Ngân hàng TP.HCM) lý giải, chênh lệch giá ngoại tệ trong và ngoài ngân hàng, cộng với việc các ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ của người dân nên mới “lòi” ra thị trường chợ đen. Chưa kể khi người dân bán ngoại tệ cho ngân hàng thì giá bán sẽ thấp hơn khoảng 1.000 đồng/USD so với thị trường tự do, như vậy thì người dân thiệt. Do đó, phải làm sao cho tỷ giá trong ngân hàng nới dần đến tự do hóa thì mới triệt được tận gốc vấn đề USD hóa. Tuy nhiên giải pháp này khó thực hiện vì tỷ giá là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô.

Trên thực tế, tình trạng khiến các ngân hàng khó thu hút được nguồn ngoại tệ trong dân chúng là do việc mua ngoại tệ trong ngân hàng quá khó khăn. Người dân mang ngoại tệ vào ngân hàng bán thì dễ nhưng khi họ cần đi du học, chữa bệnh, du lịch… thì mua ngoại tệ lại cực kỳ khó. Trong một số thời điểm, người dân cần bán ngoại tệ thì ngân hàng lại “chê” không mua. Có thể nói, chính ngân hàng đã “đẩy” khách hàng ra thị trường chợ đen nên thị trường này mới có đất hoạt động.

Bên cạnh đó, việc một số tổ chức nước ngoài dự báo giá USD cuối năm 2010 sẽ tăng lên cũng dẫn đến tình trạng găm giữ ngoại tệ trong người dân. Một chuyên gia cho rằng, để người dân không găm giữ ngoại tệ thì cần làm rõ sự kỳ vọng này là không có cơ sở.

Next Page »

Blog at WordPress.com.