Ktetaichinh’s Blog

December 29, 2010

9 sự kiện nổi bật ngành ngân hàng tài chính năm 2010 Monday, 27. December, 08:58 KINH TẾ VIỆT NAM

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:18 pm
Tags: ,
Bỏ sàn vàng, sửa đổi thông tư 13, bơm mạnh vốn trên thị trường OMO, bơm mạnh ngoại tệ, cấp quota nhập khẩu vàng…là các biện pháp của NHNN bình ổn thị trường tiền tệ năm 2010.

1. Phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu chính phủ với lãi suất 6,57%/năm

Ngày 25/1/2010 tại New York, Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn 10 năm với lãi suất danh nghĩa là 6,75% và lợi tức phát hành là 6,95%. (Mức lợi tức này cao hơn mức lợi tức của Indonesia và Phillippines phát hành thời điểm gần đó đến 1%/năm, mặc dù định mức tín nhiệm của Việt Nam cao hơn cả Indonesia và Phillippines một bậc).

Số trái phiếu này được niêm yết tại Sở GDCK Singapore và đáo hạn vào ngày 29/1/2020.

Số tiền 1 tỷ USD đã về tài khoản của Việt Nam vào ngày 29/1/2010. Số vốn huy động đợt này được dùng để thực hiện chi tiêu Chính phủ nói chung, kể cả cho vay lại với các dự án đầu tư.

Trong đó 700 triệu USD tập trung dành cho Dung Quất vay lại (Petro Vietnam được vay với lãi suất 3,6%/năm). Ngoài ra, phần còn lại Bộ Tài Chính thực hiện trình Thủ tướng quyết định xem xét phần bổ dự án đầu tư.

2. Đóng cửa sàn vàng vào 30/03/2010

Trước những diễn biến khó kiểm soát của sàn vàng, ngày 30/12/2009 Chính phủ đã yêu cầu chấm dứt hoạt động sàn giao dịch vàng trên toàn quốc từ 30/3/2010. Đồng thời Thủ tướng cũng yêu cầu Thống đốc NHNN bãi bỏ ngay quy định về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài.

Yêu cầu này của Thủ tướng đã được các sàn vàng thực hiện nghiêm túc nhưng cũng có một số sàn vàng hoạt động chui trong một thời gian ngắn, hoặc chuyển sang hình thức kinh doanh bạc hay các hàng hóa khác trá hình.

Đối với hoạt động kinh doanh vàng ở nước ngoài, NHNN đã đồng ý giãn thời gian cho các tổ chức tín dụng tất toán, đóng tài khoản chậm nhất vào ngày 31/7/2010.

3. Cả 3 tổ chức tín dụng hàng đầu thế giới lần lượt hạ tín nhiệm của Việt Nam trong năm 2010

Thàng 7/2010, Fitch hạ tín nhiệm của VN từ BB- xuống B+ do Việt Nam có dự trữ ngoại hối thấp và hệ thống ngân hàng yếu kém. Tháng 9, Fitch hạ xếp hạng tín nhiệm của ngân hàng Vietcombank và ACB xuống mức D/E từ mức D do tăng trưởng các khoản vay ở mức cao và chất lượng các khoản vay thấp.

Fitch cho rằng đối với cả hai ngân hàng, ngay cả khi hoàn thành kế hoạch tăng vốn năm 2010 cũng không đủ để ứng phó khi chi phí tín dụng cao và hỗ trợ tăng trưởng các khoản vay.

Các tổ chức như ngân hàng ADB, IMF đều ngạc nhiên với quyết định hạ xếp hạng tín dụng của Fitch đối với Việt Nam bởi các tổ chức như IMF, World Bank, ADB đều đưa ra nhận định lạc quan về tình hình kinh tế Việt Nam.

Tháng 12/2010, Moody hạ tín nhiệm đối với trái phiếu của Việt Nam từ Ba3 xuống B1 do rủi ro liên quan đến khủng hoảng cán cân thanh toán, áp lực mất giá lên tiền đồng và lạm phát tăng cao.

Moody đề cập đến vấn đề nợ nần tại tập đoàn Vinashin và duy trì triển vọng tiêu cực đối với Việt Nam. Moody cho rằng lạm phát tại Việt Nam, sau khi lên 11% vào tháng 11/2010 (so với cùng kỳ năm ngoái) – mức cao nhất trong 20 tháng, sẽ gây ra nhiều áp lực lên tỷ giá hối đoái và hiện tượng rút vốn.

Moody hạ xếp hạng tiền gửi ngoại tệ của 6 ngân hàng Việt Nam (ACB, BIDV, MB, Sài Gòn – Hà Nội, Techcombank, VIB) xuống mức “B2” từ mức “B1”, triển vọng tiêu cực trong ngày thứ Tư sau khi hạ xếp hạng tín dụng của Việt Nam. Moody cũng hạ xếp hạng từ 1 đến 2 bậc đối với Đánh giá tín dụng cơ sở (Baseline Credit Assessments) và xếp hạng sức mạnh tài chính của ngân hàng (Bank Financial Strength Ratings) của 6 ngân hàng này.

Ngày 23/12/2010, Standard & Poor’s (S&P) tuyên bố hạ một bậc điểm tín nhiệm nợ quốc gia của Việt Nam. Điểm tín nhiệm dành cho nợ ngoại tệ dài hạn của Việt Nam bị tổ chức này cắt giảm xuống BB- từ BB. Điểm tín nhiệm nợ nội tệ dài hạn của Việt Nam cũng bị giảm 1 bậc xuống BB từ BB+, trong khi điểm dành cho nợ nội tệ ngắn hạn được duy trì ở mức B.

Việc hạ xếp hạng tín dụng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động huy động vốn trái phiếu quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới, mức lợi tức chi ra để vay vốn sẽ tăng cao.

4. Vàng tăng cao nhất lên 38,5 triệu đồng tăng 43,6% so với giá đóng cửa năm 2009, xuất hiện thông tin vàng trong dân là 1000 tấn, Thống đốc công bố 12 năm VN nhập siêu 71 tấn vàng

Giá vàng trong năm 2010 đã lập kỷ lục vào ngày 09/11/2010 khi tăng kỷ lục lên 38,5 triệu đồng/lượng, tăng 44,68% so với giá đóng cửa của phiên giao dịch cuối cùng năm 2009 (26,61 triệu đồng/lượng) và tăng 36,8% so với 3 tháng trước đó.

Trong khi đó, đến ngày 07/12/2010 giá vàng thế giới mới lập kỷ lục của năm lên 1.427,8 USD/oz, mức thấp nhất của giá vàng thế giới trong năm 2010 là 1.061,4 USD/oz, chênh lệch 34,5%.

Nếu tính theo giá đóng cửa tại thị trường New York năm 2010, mức cao nhất là 1.423, USD/oz, tăng so với đóng cửa năm 2009 là 23,8%.

NHNN trong năm vừa qua đã phải đưa ra khá nhiều quy định nhằm hạ nhiệt thị trường vàng như 2 lần cho phép doanh nghiệp nhập khẩu vàng, giảm thuế nhập khẩu vàng từ 1% còn 0% từ ngày 12/11/2010; tăng thuế xuất khẩu vàng từ 0% lên 1% từ 01/01/2011; ban hành thông tư 22 hạn chế việc huy động và sử dụng vốn huy động bằng vàng của các NHTM.

Trên thị trường xuất hiện thông tin vàng trong dân là 1000 tấn tuy nhiên Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu công bố số liệu nhập siêu vàng trong 12 năm trở lại đây của Việt Nam là 71 tấn.

5. USD lên cao nhất 21.500 đồng vào tháng 11/2010, Việt Nam 2 lần hạ giá đồng nội tệ

Năm 2010, NHNN có 2 đợt điều chỉnh tỷ giá.

Lần đầu vào ngày 10/2/2010, NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 17.941 đồng lên 18.544 đồng/USD (mức tăng 3,3%), như vậy trần mua bán USD tại các NHTM là 19.100 đồng/USD. Cùng ngày, NHNN cũng quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của các tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng) tại tổ chức tín dụng tối đa là 1,0%/năm. Áp dụng từ ngày 11/2/2010.

Lần thứ 2, NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng lên 18.932 đồng/USD, áp dụng từ ngày 18/8, mức tăng 2,09%, trần mua bán USD tại các NHTM tăng lên 19.500 đồng/USD.

Sau lần điều chỉnh tỷ giá thứ 2 của NHNN, cùng với những biến động bất ổn của giá vàng trong nước và quốc tế, trên thị trường tự do, đô la Mỹ đã có lúc lập kỷ lục 21.530 đồng/USD, tăng 12% so với giá đóng cửa năm 2009 và cao hơn tỷ giá niêm yết tại các NHTM cùng thời điểm khoảng 10%.

Tỷ giá tăng mạnh gây ảnh hưởng tới các doanh nghiệp nhập khẩu bởi họ vẫn phải mua USD tại ngân hàng với tỷ giá như trên thị trường tự do. Lý do là các NHTM không đủ nguồn cung cấp USD cho doanh nghiệp nhập khẩu khi các doanh nghiệp xuất khẩu không chịu bán USD cho ngân hàng.

Ngày 04/11/2010, Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia công bố Chính phủ đồng ý bơm mạnh ngoại tệ vào các ngành phục vụ sản xuất thiết yếu chứ không bơm vào xuất khẩu và Chính phủ sẽ không điều chỉnh tỷ giá đến cuối năm. Theo ông Lê Đức Thúy, trong tháng 10/2010, NHNN đã bán ra 200 triệu USD để bình ổn thị trường.

Những ngày cuối năm, NHNN công bố kiều hối năm 2010 có thể đạt 8 tỷ USD và trạng thái căng thẳng ngoại tệ đã hạ nhiệt, NHTM đã có nguồn USD dồi dào do các doanh nghiệp đã chịu bán USD cho ngân hàng, ngoài ra, tỷ giá USD tự do những ngày cuối năm chỉ dao động quanh mốc 21.000 đồng/USD.

5. Thông qua Luật ngân hàng (sửa đổi) và Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi): Ngân hàng mẹ ko được cấp tín dụng cho CTCK con

Luật Ngân hàng (sửa đổi) và Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010.

Theo Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi), tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh CK mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát. Ngoài ra, Luật cũng quy định, ngân hàng không được cho vay để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở nhận tài sản đảm bảo bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận góp vốn.

Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi), việc cho phép các tổ chức tín dụng áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận không có nghĩa là để lãi suất tự do thả nổi trên thị trường.

Trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ can thiệp trực tiếp vào cơ chế lãi suất của tổ chức tín dụng.

Theo quy định của dự luật, NHNN có trách nhiệm công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi.

Ngân hàng Nhà nước không được tham gia góp vốn vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác ngoài chức năng nhiệm vụ của mình.

6. Thông tư 13 ban hành ngày 20/5 về tăng tỷ lệ an toàn vốn (CAR) từ 8% – 9% và áp dụng các tỷ lệ mới về tính hệ số rủi ro đối với khoản vay ngân hàng và bất động sản. NHNN sửa đổi thành Thông tư 19 áp dụng ngày 01/10/2010.

Ngày 20/5, thống đốc NHNN đã ký Thông tư số 13/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, theo đó, tỷ lệ CAR sẽ được điều chỉnh tăng lên 9% thay vì 8% như trước. Áp dụng từ ngày 01/10/2010.

Ngoài ra, thông tư 13 yêu cầu tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động theo tỷ lệ 80%/85%; giới hạn tín dụng (TCTD không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán; Tổng dư nợ cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu tư, kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD…); tỷ lệ khả năng chi trả (thanh khoản); giới hạn góp vốn, mua cổ phần; hệ số rủi ro các khoản cho vay đầu tư chứng khoán và BĐS là 250%…

Việc ban hành Thông tư 13 đã ảnh hưởng mạnh đến cả thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng như hoạt động của các NHTM. Hiệp hội các ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã gửi đơn kiến nghị NHNN xem xét, sửa đổi Thông tư 13.

Ngày 27/9, chỉ cách 03 ngày bắt đầu thực hiện Thông tư 13, NHNN ban hành Thông tư 19 sửa đổi Thông tư 13, trong đó có nhiều điểm sửa đổi nới lỏng nguồn cấp tín dụng cho các NHTM trong việc thực hiện nội dung Thông tư này.

Theo đó, các NHTM được cấp tín dụng từ nguồn huy động, Bỏ cấu phần “bảo lãnh” trong tổng cấp tín dụng; Cho phép tổ chức tín dụng (TCTD) được tính 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế và khoản vay của TCTD khác có thời hạn từ 3 tháng trở lên vào nguồn vốn huy động và tiền vay của tổ chức tín dụng nước ngoài.

Việc sửa đổi thông tư 13 tạo thuận lợi hơn cho các NHTM so với thông tư cũ; bởi các ngân hàng sẽ không còn bị hạn chế bởi tỷ lệ 20% vốn vay trên thị trường liên ngân hàng để cấp tín dụng khi NHNN cho phép sử dụng vốn vay các tổ chức tín dụng khác với kỳ hạn từ 3 tháng trở lên để cấp tín dụng.

7. Tín dụng tăng chậm vào nửa đầu năm, cả năm tăng trưởng tín dụng 27,65%. Lãi suất huy động lập kỷ lục 18%/năm bởi “hiện tượng Techcombank”.

Đến tháng 6/2010 tín dụng tăng khoảng 10,52%, nhưng tín dụng bằng VNĐ chỉ tăng 4,6%, tín dụng ngoại tệ tăng 27%. Tuy nhiên, đến hết năm 2010, tín dụng tăng 27,65% (đã loại trừ hư số tăng của tỷ giá vàng), tín dụng bằng VND tăng 25,34%, bằng ngoại tệ tăng 37,76%.

Giữa năm 2010, các NHTM cam kết cho vay VND với lãi suất 12%, huy động 10%/năm, thực tế mức lãi suất cho vay phi sản xuất khoảng 13 – 15%/năm, huy động 11%/năm. Tuy nhiên đến cuối năm, đã có lúc lãi suất huy động lên tới 18%/năm, lãi suất cho vay 21%/năm.

Sau những diễn biến khó lường của tỷ giá và giá vàng trong nước vào những ngày cuối tháng 10/2010, trong cuộc họp ngày 04/11, Ủy ban Giám sát tài Chính Quốc gia công bố thả nổi lãi suất theo thị trường. Ngày 05/11, NHNN tăng lãi suất cơ bản từ 8% lên 9%. Các thành viên Hiệp hội ngân hàng nâng mức lãi suất huy động đồng thuận lên trần 12%/năm.

Tuy nhiên liên tục sau đó các NHTM nhỏ cạnh tranh lãi suất huy động, đẩy lên mặt bằng 14%/năm, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng lên trên 13%/năm, có thời điểm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lên tới 20%/năm.

Ngày 11/11, NHNN công bố bơm mạnh vốn trên OMO, mở thêm kỳ hạn 14 ngày để bình ổn thị trường liên ngân hàng.

Ngày 8/12, Techcombank công bố thực hiện chương trình “3 ngày vàng” với lãi suất 17,6%/năm, tạo tiền đề cho các NHTM nhỏ chuyển sang thỏa thuận ngầm với khách hàng với lãi suất 17 – 18%/năm.

Ngày 15/12, sau khi nhóm họp với các NHTM tại miền Bắc và miền Nam, được sự đồng thuận của 50 ngân hàng cam kết giảm trần lãi suất về 14%/năm bao gồm các khoản khuyến mại, NHNN chính thức chỉ đạo các NHTM không được vượt quá trần lãi suất này và sẽ có những biện pháp mạnh đối với các NHTM vượt trần lãi suất. Đồng thời NHNN cũng cử các đoàn kiểm tra phải báo cáo hàng ngày với Thống đốc về tình trạng huy động lãi suất trên địa bàn. Trên thị trường OMO, NHNN có thời điểm mỗi ngày bơm 20.000 tỷ đồng để bình ổn thị trường.

Cuối tháng 12, tình hình lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường dân cư ổn định trở lại, lãi suất cho vay giảm về 18 – 20%, lãi suất cho vay qua đêm giảm xuống 10 – 12%/năm.

8. Hoãn thi hành nghị định 141 đến 31/12/2010 sau khi có gần chục ngân hàng không có khả năng hoàn thành đúng hạn.

Theo Nghị định 141 của Chính phủ ban hành ngày 22/11/2006, các NHTM đến hết năm 2010 phải đủ vốn pháp định là 3.000 tỷ đồng, công ty tài chính là 500 tỷ đồng và công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng.

Hết tháng 11/2010, toàn hệ thống ngân hàng còn khoảng 19 ngân hàng thương mại khó có khả năng hoàn thành tăng vốn đúng hạn. TTCK trong một thời gian dài hoạt động cầm chừng trong khi nhiều ngân hàng tăng vốn cùng một lúc khiến cổ phiếu ngân hàng không hấp dẫn NĐT…

Ngày 14/12, NHNN chính thức công bố Chính phủ đã đồng ý phương án đề xuất của NHNN gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng thêm 01 năm so với nghị định 141, đến ngày 31/12/2011.

Dù được giãn thời gian, nhưng hầu hết các ngân hàng đều cho biết sẽ thực hiện tăng vốn đúng như kế hoạch đề ra từ đầu năm. VietBank, Mekong Bank, GPBank đã công bố hoàn tất việc tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng. DaiA Bank, HDbank dự kiến cũng hoàn thành việc tăng vốn trong tháng 12 năm nay. Các ngân hàng này chủ yếu được sự hậu thuẫn từ cổ đông lớn trong nước hoặc tổ chức nước ngoài.

Ngày 21/12/2010, Thống đốc NHNN cũng đã chấp thuận đề nghị thay đổi mức vốn cho 4 chi nhánh ngân hàng nước ngoài là Ngân hàng Huanan Commercial Bank Ltd., Chi nhánh TP.HCM (tăng vốn từ 15 triệu USD lên 65 triệu USD), NHTM Chinatrust Chi nhánh TP.HCM (15 triệu USD lên 50 triệu USD); Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd. – Chi nhánh TP.HCM (15 triệu USD lên 133,5 triệu USD) và Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd. – Chi nhánh TP.Hà Nội (15 triệu USD lên 133,5 triệu USD). Các ngân hàng này cũng phải tăng vốn theo nghị định 141 của Chính phủ.
9. Cá nhân, tổ chức chỉ được góp vốn vào 1 tổ chức tín dụng

Ngày 17/12/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 60/NQ-CP về việc đơn giản hoá thủ tục hành chính (TTHC) thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).

Một trong số nội dung của Nghị quyết là mỗi cá nhân hoặc tổ chức và người có liên quan của cá nhân hoặc tổ chức đứng đơn chỉ được tham gia góp vốn thành lập 1 ngân hàng (bao gồm cả ngân hàng đang hoạt động); không được tham gia góp vốn thành lập ngân hàng nếu cá nhân hoặc cá nhân đó cùng với người có liên quan đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu của một ngân hàng; tổ chức hoặc tổ chức đó cùng với người có liên quan đang sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của một ngân hàng (quy định cũ là cá nhân hoặc tổ chức được tham gia thành lập 02 ngân hàng).
Ban Biên Tập CafeF

Advertisements

June 22, 2010

ATM: Kết nối mà chưa thông

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:11 pm
Tags:
Cập nhật lúc : 9:12 AM, 04/06/2010

Từ nay đến cuối năm, VNBC sẽ kết nối hết với các ngân hàng thành viên trong smartlink, còn ở Bannetvn tối thiểu sẽ kết nối 60 -70% thành viên.

Những vướng mắc về công nghệ gần như không còn; sự hợp tác, thỏa thuận về lợi ích cũng đã có, ba liên minh thẻ Smartlink, Banknetvn và VNBC đã bước đầu liên kết một số ngân hàng thành viên với nhau, mang đến cho người dùng nhiều tiện ích hơn.

Bà Lý Thị Ngọc, phó tổng giám đốc của VNBC cho biết, riêng trong tháng 5 này, số khách hàng của Smartlink đến rút tiền tại hệ thống ATM của DAB “tăng chóng mặt” đến 80.000 lượt giao dịch. Còn chỉ mới kết nối với 3 ngân hàng của mạng Banknetvn, số khách hàng của Banknetvn đến rút tiền là 40.000 lượt giao dịch. Theo bà, số tiền nạp tăng theo qua từng tháng. Trước đây, DAB nạp vào máy ATM khoảng 3.000 tỉ đồng một tháng, từ khi có thêm hai hệ thống này, tháng 4 vừa rồi DAB chi thêm 3%, còn tháng 5 chi thêm 5%.

Mạng máy cà thẻ (POS) vẫn là ốc đảo

Vụ bắt tay gần đây giữa liên minh thẻ VNBC (gồm chín ngân hàng thành viên) và Banknetvn (15 ngân hàng thành viên) đã bước đầu kết nối hệ thống thanh toán ATM của ngân hàng Đông Á với ba ngân hàng Agribank, Vietinbank và BIDV.

VNBC cũng khơi thông hệ thống thanh toán với hai ngân hàng Vietcombank và Techcombank trong hệ thống thẻ Smartlink (gồm 29 ngân hàng thành viên). Khách hàng có thẻ của một ngân hàng trong số này, ngoài việc thực hiện được giao dịch trong nội mạng liên minh, có thể sử dụng trên ATM ở các ngân hàng đã liên kết ngoại mạng trên.

Dù chưa kết nối hết toàn bộ các thành viên trong mỗi mạng với nhau, nhưng ông Lê Trí Thông, phó tổng giám đốc của DAB đánh giá, những vướng mắc lớn nhất về mặt công nghệ và thỏa thuận hợp tác trước kia đã không còn. Theo đó, sau khi kết nối ATM với nhau, các liên minh sẽ tính đến kết nối liên mạng máy cà thẻ (POS).

Hiện nay, chủ thẻ chỉ có thể dùng POS trong nội mạng, còn dùng liên mạng thì phải đợi đến quý 3 năm nay, ông Thông cho biết. “Đi mua sắm ở siêu thị, khách hàng đưa thẻ thanh toán ATM của DAB thì POS của Vietcombank chưa đọc được, POS của mỗi liên minh còn là một “ốc đảo””, ông nói.

Theo ông Ngô Ngọc Đông, tổng giám đốc Banknetvn, mỗi hệ thống có các tiêu chuẩn riêng kết nối thành viên của mình, vì vậy hai hệ thống kết nối với nhau không có nghĩa các thành viên tự động kết nối được với nhau. Thành viên hệ thống này kết nối với thành viên hệ thống kia phải trải qua các bước kiểm tra, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo hệ thống ATM/POS của hai bên nhận diện, hòa được mạng của nhau.

Theo ông Thông, dự kiến từ nay đến cuối năm, VNBC sẽ kết nối hết với các ngân hàng thành viên trong smartlink, còn ở Bannetvn tối thiểu sẽ kết nối 60 -70% thành viên.

Nội ngoại còn chưa thông

Trước mắt, chủ thẻ chỉ mới thực hiện được bốn giao dịch cơ bản: vấn tin, rút tiền, in sao kê, và chuyển khoản trong nội bộ ngân hàng. Một vài ngân hàng như DAB đang thử nghiệm chuyển khoản chéo từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Những dịch vụ riêng biệt của từng ngân hàng như chuyển khoản thanh toán hóa đơn, mua card điện thoại, nộp tiền mặt vào máy… thì chỉ có thể thực hiện trên chính máy ATM của ngân hàng phát hành thẻ.

Thử mang thẻ của DAB giao dịch trên máy của Agribank, không những không thực hiện được giao dịch, mà máy còn nuốt thẻ. “Khi không thực hiện được giao dịch và bị nuốt thẻ, có thể là do máy gặp trục trặc kỹ thuật ,chứ không liên quan đến kết nối mạng”, ông Thông giải thích.

Tính đến tháng 5, trên cả nước đã có 10.200 máy ATM, 37.000 máy cà thẻ (POS), 47 ngân hàng phát hành 23 triệu thẻ thanh toán. Qua hệ thống ATM, 4 dịch vụ cơ bản được triển khai là rút tiền, vấn tin tài khoản, sao kê số dư, chuyển khoản.

Những sự cố là không hiếm, khi mỗi ngân hàng có một công nghệ, hạ tầng kỹ thuật, các “đời” máy ATM của nhiều hãng khác nhau. Ông Thông cho biết, các liên minh đang đang từng bước giải quyết hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật cho từng ngân hàng, sửa cấu hình tương ứng và chờ một số ngân hàng đang thay đổi ngân hàng lõi (core banking).

Khi giao dịch trên ATM của ngân hàng khác gặp các sự cố như máy nuốt thẻ, nuốt tiền, gặp tiền giả, không rút được tiền mà máy vẫn “ghi sổ”… thì người sử dụng thẻ phải liên lạc với chính ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành sẽ liên lạc với ngân hàng thanh toán để giải quyết sự cố.

Còn ở Smartlink, nếu máy nuốt thẻ, thì chủ thẻ đến ngân hàng phát hành thông báo và chờ lấy thẻ về, hoặc ngân hàng phát hành thẻ sẽ cho giấy giới thiệu tới ngân hàng thanh toán để lấy thẻ. Ông Thông cho biết, thời gian xử lý trong vòng 3 ngày làm việc.

Về phí giao dịch, tùy vào mỗi liên minh thỏa thuận, các ngân hàng thành viên trong liên minh cùng tuân theo. Phí giao dịch nội mạng thuộc Banknetvn và Smartlink là 3.300 đồng/lần giao dịch rút tiền, các giao dịch khác phí là 1.650 đồng/lần thực hiện; nội mạng ở VNBC là 2.000 đồng/giao dịch. Còn giao dịch liên mạng thì 3.300 đồng/lần giao dịch rút tiền. Và cũng tùy ngân hàng quyết định, có ngân hàng như Tienphongbank trả thay khoản phí này cho khách hàng.

Bao giờ ATM mới thực sự trở thành một chi nhánh ngân hàng với đầy đủ những dịch vụ cơ bản? Các đơn vị mà chúng tôi tiếp xúc đều không trả lời được, chỉ biết là tương lai sẽ “tươi sáng”

June 3, 2010

Lãi lớn nhờ chênh lệch lãi suất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:03 pm
Tags: ,

“Ngân hàng nào đã từng mua nhiều trái phiếu Chính phủ thì lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất càng lớn. Với lãi suất cầm cố tại ngân hàng Nhà nước (NHNN) là 8%/năm và lãi suất cho vay thực tính đến thời điếm cuối tháng 4 là 17 – 20% thì nguồn lợi nhuận thu về là không nhỏ”, TS. Nguyễn Đức Hưởng, phó chủ tịch HĐQT ngân hàng Liên Việt (LienVietBank) cho biết.Ví dụ như, trong cơ cấu thu nhập luỹ kế của Sacombank đến hết ngày 30.4, nguồn thu từ lãi (bao gồm tín dụng, kinh doanh vốn liên ngân hàng…) chiếm 64% và dịch vụ là 15%, còn lại là thu nhập ngoài lãi. Nguồn thu của VCB cũng vậy, thu từ lãi chiếm khoảng 55 – 60%, phần còn lại thuộc về hoạt động dịch vụ.

Theo ông Hưởng, về cơ bản, nguồn thu chính từ hoạt động ngân hàng trong bốn tháng đầu năm được hình thành từ lãi cho vay, đầu tư (góp vốn, tham gia thị trường tài chính chứng khoán, hoạt động phái sinh…) và dịch vụ. Nguồn thu từ dịch vụ chưa được kỳ vọng nhiều, vì trên thực tế, ngân hàng đang chịu lỗ từ những dịch vụ liên quan đến ATM, kể cả VCB. Hoạt động đầu tư trong bốn tháng đầu năm cũng không khả quan do doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh và đang chịu lãi suất cao. Riêng hoạt động đầu tư chứng khoán đã mang lại nguồn lợi nhuận không nhỏ do một số cổ phiếu trong danh mục đầu tư đã tăng trưởng 100% và ngân hàng được hoàn lại trích lập dự phòng rủi ro đầu tư tài chính năm trước và hạch toán vào lợi nhuận những tháng đầu năm. Còn hoạt động cho vay, dù giai đoạn khó khăn hay thuận lợi, nguồn thu từ hoạt động này bao giờ cũng là nguồn thu chính đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng.

“Mặc dù Chính phủ có chủ trương giảm lãi suất huy động và cho vay xuống còn 10% và 12%, nhưng mặt bằng lãi suất khó giảm ngay. Vì vậy, lợi nhuận từ nay đến cuối năm của ngân hàng vẫn phải trông chờ vào tăng trưởng tín dụng và sau năm tháng chạy “rốt đa” thì từ tháng 6 tín dụng sẽ bật mạnh trở lại”, ông Quảng nhận xét.

Thực tế, một số ngân hàng như ACB phấn đấu đến cuối năm, tỷ trọng nguồn thu từ lãi (cả hoạt động tín dụng, kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng, trái phiếu…) chiếm khoảng 50% tổng nguồn thu đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng. ABBANK kỳ vọng nguồn thu từ dịch vụ lên 25% trong tổng doanh thu nhằm giảm sự phụ thuộc từ hoạt động cho vay

Một nguồn thu nữa mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng tính đến giữa tháng 4.2010, đó là kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng. Trước khi bị siết, thị trường hai là nơi mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng có lợi thế về thanh khoản do lãi suất luôn cao hơn thị trường một. Với biến động lãi suất từ cuối tháng 2 đến giữa tháng 4, những ngân hàng có lợi thế về vốn đã kịp thu lợi rồi, ông Nguyễn Quyết Thắng, tổng giám đốc ngân hàng Dầu khí toàn cầu (GP.Bank), bình luận.

June 1, 2010

Ngân hàng ngoại “ngại” lộ trình tăng vốn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:40 pm
Tags: ,

Áp trần hạn mức cho vay để đảm bảo công bằng

Cũng nằm trong các vấn đề kiến nghị của BWG, là điều 128 của dự thảo, quy định tổng mức tín dụng cấp cho một khách hàng không vượt quá 15% tổng vốn chủ sở hữu của một ngân hàng được thành lập tại Việt Nam, hoặc một chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cho vay.

Theo ông Tobin, tất cả các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hiện nay đều duy trì mức hạn mức cho vay đối với một khách hàng là 15% vốn chủ sở hữu của ngân hàng mẹ. Và vì thế, nếu điều 128 được áp dụng, các chi nhánh ngân hàng này sẽ phải tìm nguồn tài trợ từ ngân hàng mẹ cho các khoản vay vượt quá hạn mức 15%.

“Điều này sẽ ảnh hưởng đến tổng vay nợ nước ngoài của Việt Nam, cản trở chi nhánh nước ngoài của các ngân hàng nhỏ trong việc kinh doanh tại Việt Nam, và sẽ là trở ngại lớn đối với các thành viên mới gia nhập thị trường hoặc các hoạt động tiếp tục đầu tư”, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam phân tích.

Ông Tobin cũng lưu ý thêm, nếu theo Nghị định 22, các khoản vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải dựa trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng mẹ. “Chúng tôi đề xuất sửa đổi điều 128 phù hợp với các quy định hiện hành”, ông nói.

Phản hồi ý kiến trên, Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến khẳng định: “Quy định này không có hồi tố, không bắt buộc ngân hàng mẹ phải xuất đủ vốn cho các chi nhánh theo những lo ngại của BWG. Điều này cũng phù hợp với những tư vấn của tổ chức quốc tế, cũng như thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn”.

Đồng tình đây là một điểm mới, nhưng ông Tiến cho rằng quy định này là cần thiết, vì phù hợp với chính sách đối xử với chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong hội nhập WTO của Việt Nam, đồng thời đảm bảo sự công bằng với các ngân hàng trong nước.

Dân giữ USD có tương đương dự trữ ngoại hối VN?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:44 pm
Tags: ,

http://sgtt.com.vn/Thoi-su/120584/Dan-giu-USD-tuong-duong-du-tru-ngoai-te.html

Nhưng đây chỉ là một phần trong bức tranh người Việt Nam giữ tài sản bằng USD, thay vì tiền đồng. Người ta mua USD để cho con đi học nước ngoài, thanh toán ôtô nhập khẩu, trả tiền cho chiếc iPod, hay đơn thuần là cất trong tủ… Những hoạt động này làm nền kinh tế Việt Nam bị đôla hoá rất cao, ít nhất so với các quốc gia khác trong khu vực. Kinh tế gia trưởng của ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Martin Rama giải thích về hiện tượng này: “Người dân và doanh nghiệp không yên tâm về tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD. Có rất nhiều người đang găm giữ USD vì họ cho rằng găm giữ USD là biện pháp bảo vệ tài sản cho họ”.

Người Việt thực sự đang giữ bao nhiêu USD? Câu hỏi này gây tò mò cho chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh. Ông Doanh kể lại, ông đã cùng ngồi phỏng đoán với phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa về con số này dựa trên nhiều yếu tố như dự trữ ngoại hối, vay nợ của Chính phủ, kiều hối, FDI, xuất khẩu, lượng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng… đã công bố cuối năm ngoái. “Chúng tôi giật mình khi thấy sai số là 9,7 tỉ USD. Con số này không thấy xuất hiện trong tài khoản ngân hàng. Tức là nó nằm trong túi người dân (=>chắc túi người dân không, hay … túi ai khác!!!) . Điều này cho thấy chúng ta không thiếu ngoại tệ, nếu huy động được số tiền này”, ông Doanh nói (nếu, …).

Đánh giá của ông Doanh gần giống với một báo cáo mới công bố của ngân hàng Thế giới. Báo cáo này lưu ý rằng, có nhiều hạng mục bị sai số một cách không bình thường trong cán cân thanh toán (lên tới 10% GDP). “Người dân Việt Nam đang nắm giữ hàng tỉ USD”, ông Rama giải thích cho hiện tượng này.

Chuyên gia kinh tế trưởng của ngân hàng Thế giới tại khu vực Đông Á – Thái Bình Dương Vikram Nehru: “Thâm hụt tài khoản đối ngoại là đáng quan ngại đối với Việt Nam. Theo tôi, một cách giải quyết vấn đề này là tăng lãi suất. Nó sẽ mang lại hai kết quả. Thứ nhất là làm nguội bớt sức ép lạm phát; thứ hai là có hiệu ứng làm dòng vốn tài chính tạo ra thâm hụt quay trở lại, người dân rời bỏ USD để quay sang tiền đồng, qua đó dự trữ ngoại hối sẽ được bắt đầu tích luỹ lại”.

May 17, 2010

Vốn tắc, ngân hàng phải chạy đường vòng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:04 pm
Tags:
Cập nhật lúc : 3:34 PM, 14/05/2010

Lãi suất huy động từ thị trường liên ngân hàng thấp, trong khi từ dân cư và doanh nghiệp cao, nhưng ngân hàng thiếu không thể tìm đến nguồn vốn rẻ.

Lãi suất huy động từ thị trường liên ngân hàng thấp, trong khi từ dân cư và doanh nghiệp cao, nhưng ngân hàng thiếu không thể tìm đến nguồn vốn rẻ, còn ngân hàng thừa phải lách để đến với người vay.

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, từ 29/4 đến 6/5 doanh số giao dịch bình quân một ngày trên thị trường liên ngân hàng giảm 1.784 tỷ đồng so với tuần trước đó. Dù lãi suất liên ngân hàng qua đêm chỉ 6,82%/năm, 1 tháng 9,34%/năm… nhưng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn ngắn ở nhiều ngân hàng cổ phần vẫn ở mức 11,5%/năm.

Giải thích nguyên nhân lãi suất liên ngân hàng thấp nhưng các tổ chức tín dụng vẫn phải huy động từ dân cư và doanh nghiệp với lãi suất cao, Tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần tại Hà Nội tiết lộ, đó là do khuyến cáo của Ngân hàng Nhà nước. Theo đó, các tổ chức tín dụng không nên vay từ thị trường liên ngân hàng vượt quá 20% tổng vốn huy động từ dân cư và doanh nghiệp, vượt quá mức này sẽ bị thanh kiểm tra toàn diện.

Vì khuyến cáo này, các ngân hàng cổ phần nhỏ trước dựa nhiều vào vốn liên ngân hàng giờ phải tìm nguồn khác khiến nhu cầu vay trên thị trường liên ngân hàng sụt giảm. Đối với các ngân hàng dư thừa vốn, họ cũng phải xoay sở tìm đầu ra.

Lãnh đạo một ngân hàng quốc doanh cho biết huy động được nhiều mà tín dụng tăng trưởng thấp, nếu không tìm được đầu ra thì sẽ lỗ nặng. Vì vậy, nếu không được cho vay trực tiếp trên thị trường liên ngân hàng thì các ngân hàng sẽ đi đường vòng.

Thông thường, ngân hàng sẽ bơm tiền cho các công ty con của mình, sau đó đơn vị này đem tiền đến gửi ở tổ chức tín dụng khác đang cần vốn. Cách này giúp ngân hàng cần vốn không vi phạm khuyến cáo về tỷ 20% của Ngân hàng Nhà nước mà vẫn huy động đủ khối lượng cần thiết mà nhanh hơn từ dân cư. Tuy nhiên, chuyên gia này cho rằng: “Cách làm này khiến thị trường tiền tệ bị méo mó và vận hành không hiệu quả”.

Phó tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần lớn có trụ sở tại Hà Nội nói với VnExpress.net lẽ ra khi huy động vốn từ dân cư và doanh nghiệp mà lãi suất cao thì các ngân hàng có thể chuyển sang liên ngân hàng với lãi suất thấp hơn và sau đó mặt bằng chung sẽ giảm xuống. Nhưng do tỷ lệ 20%, ngân hàng thiếu vốn không thể tìm thêm nguồn rẻ hơn ở thị trường liên ngân hàng, dòng tiền bị ùn tắc và chi phí huy động vốn tăng lên. Do vậy, ngân hàng cũng khó hạ lãi suất cho vay và không kích thích được tăng trưởng tín dụng”.

Với tốc độ tăng trưởng tín dụng của 4 tháng đầu năm chỉ 5,5% hệ thống ngân hàng khó có thể hỗ trợ tốt cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5% của năm nay. Vì thế, tạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng hạ chi phí huy động vốn sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng tín dụng, chuyên gia này bình luận.

Tuy nhiên, ông Phạm Thanh Hà – Trưởng phòng tác nghiệp kinh doanh vốn của Vietcombank lại cho rằng Ngân hàng Nhà nước phải cân đối giữa việc kiểm soát rủi ro khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. “Nếu như muốn đảm bảo an toàn, ít rủi ro thì phải chấp nhận giảm bớt hiệu quả. Đó cũng là điều bình thường”, ông này nói.

Một lãnh đạo cấp cao của Ngân hàng Nhà nước cho biết cơ quan này đã nhận được ý kiến từ phía các tổ chức tín dụng về vấn đề cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước sẽ nghiên cứu để có các biện pháp thích hợp. Tuy nhiên, cơ quan quản lý đã phát hiện ra những đường đi khác thường của nguồn vốn tại một số ngân hàng. “Chúng tôi sẽ tiến hành thanh kiểm tra đối với những tổ chức này để tìm hiểu rõ hơn nguyên nhân”, ông này tiết lộ.

May 12, 2010

Ngân hàng thương mại nhà nước: Lợi thế trong cạnh tranh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:31 am
Tags: , ,
Lao Động số 104 Ngày 10/05/2010 Cập nhật: 8:45 AM, 10/05/2010
Các NHTMNN có lợi thế về nguồn vốn giá rẻ. Ảnh: Giang Huy
(LĐ) – Có nguồn vốn giá rẻ, các ngân hàng thương mại nhà nước đang chiếm ưu thế trong việc thu hút khách hàng so với ngân hàng thương mại cổ phần.

Có nguồn vốn giá rẻ

Lý do khiến khối NHTM nhà nước luôn có mặt bằng LS cho vay thấp hơn các NHTM cổ phần vì họ có nguồn vốn giá rẻ từ các khách hàng lớn (mà NHTM nhà nước có được nhờ uy tín của Nhà nước), đó là: Tiền gửi thanh toán của các tập đoàn DN; tiền gửi của các tổ chức bảo hiểm và Kho bạc Nhà nước; giải ngân vốn ODA.

Lấy ví dụ việc thu hút vốn ODA và hoạt động giải ngân qua NH phục vụ: Căn cứ vào quy định trong hiệp định vay, thoả thuận tài trợ và các quy định của các cơ quan quản lý trong nước, việc rút vốn, thanh toán bằng nguồn vốn ODA được thực hiện qua NH phục vụ theo một hoặc một số hình thức: Thanh toán trực tiếp/hoặc chuyển tiền: Thanh toán theo phương thức hoàn trả; thanh toán theo phương thức tín dụng/nhờ thu; thanh toán qua tài khoản tạm ứng/tài khoản đặc biệt.

Hoạt động giải ngân vốn ODA các NH được chỉ định phục vụ thu được một số lợi ích trong kinh doanh ngoại tệ, hoạt động tín dụng và thanh toán, đặc biệt là trong huy động vốn vì thông qua việc rút vốn ODA ngân hàng phục vụ đã thu hút được lượng tiền ngoại tệ (vốn ODA) và nội tệ (các nhà thầu) khá lớn duy trì trên các tài khoản mở tại NH phục vụ với chi phí rất thấp.

Bên cạnh đó, các NHTM nhà nước luôn nhận được sự hỗ trợ từ NHNN. Gần đây, NHNN tuyên bố sẽ đáp ứng nhu cầu vay vốn thiếu hụt thanh khoản tạm thời của các NHTM nhà nước với LS thích hợp và thời gian phù hợp (chắc LS thấp hơn khá nhiều so mặt bằng LS huy động thị trường và thời gian dài hơn cho vay tái cấp vốn và chiết khấu với các NHTM cổ phần). Các NHTM cũng chủ định hướng khai thác tối đa kênh hỗ trợ của NHNN.

Một ưu thế khác của các NHTM nhà nước nữa là họ có thể thực hiện khá hiệu quả việc huy động vốn nước ngoài thông qua các kênh vay thương mại, LC, reifinancing… BIDV đã dự kiến phát hành 300-500 triệu USD trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế để bổ sung nguồn vốn trung – dài hạn. Các NHTM cổ phần khó đủ độ tín nhiệm để thu hút vốn nước ngoài.

Mạnh trong cạnh tranh tiền gửi dân cư

Vốn tiền gửi dân cư chiếm 43%/tổng nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM. Tỉ trọng này cao hơn ở các NHTM cổ phần (trên 50%-70%/) do LS huy động của các NH này cao hơn. Ở NHTM nhà nước thường chỉ chiếm trên 30%. Ý thức được sự ổn định của tiền gửi dân cư trong bối cảnh tiền gửi tổ chức liên tục sụt giảm, năm 2010, các NHTM nhà nước cũng cạnh tranh gay gắt với các NHTM cổ phần.

Điều đáng chú ý ở đây là thay vì công bố mức LS huy động cao, NHTM nhà nước thường lẩn bằng hình thức khuyến mãi. Cộng thêm giá trị khuyến mãi thì thực tế LS huy động của các NHTM nhà nước có phần còn cao hơn NHTM cổ phần.

Hiện theo sự đồng thuận thì các NHTM nhà nước huy động VND dưới trần 11,5% và chuyển các chi phí khuyến mãi trước đây vào LS huy động niêm yết, nhưng BIDV đang có chương trình “Tiết kiệm siêu khuyến mãi” kéo dài từ ngày 2.4.2010 đến 2.7.2010 đối với tiền gửi tiết kiệm VND và USD từ 12 tháng trở xuống. Ngoài mức LS cạnh tranh được cố định trong suốt thời gian gửi tối đa là 11,5%/năm đối với VND. Tham gia chương trình, khách hàng còn nhận ngay quà tương đương mức tặng LS lên tới 1,5%/năm đến 2,2%/năm. Như vậy, LS thực BIDV đang chào người gửi là 13%-13,7%/năm.

Với những chiêu thế này thì NHTM nhà nước cũng không kém cạnh gì các NHTM cổ phần trong cạnh tranh hút tiền gửi dân cư. Có lẽ rất khôn ngoan khi một NHTM nhà nước định hướng: Không đẩy LS cao mà vẫn huy động được vốn, bảo đảm thanh khoản và vẫn giữ vai trò “chủ nợ lớn” trên thị trường liên ngân hàng.

Hút khách hàng của NHTM cổ phần

Cho đến nay, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn là khách hàng chính của các NHTM nhà nước, nhưng cùng với tiến trình cổ phần hoá và những biểu hiện yếu kém, hạn chế của loại hình DN này trong kinh tế thị trường, các NHTM NN đã đẩy mạnh cơ cấu lại nền khách hàng theo hướng điều chỉnh nâng tỉ trọng khách hàng là DN nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân. Đối với DNNN chú trọng các DN được xếp hạng tín dụng từ A trở lên.

Một khi mặt bằng LS cho vay không chênh lệch lắm thì khách hàng khu vực tư nhân thường vay vốn NHTMCP, vì thủ tục đơn giản và được chăm sóc tốt hơn, nhưng khi LS có sự chênh lệch lớn thì đương nhiên họ chọn NHTM nhà nước.

Hiện các NHTMCP quy mô trung bình và nhỏ có khối lượng lớn vốn tiền gửi LS cao của dân cư và của các NH khác từ quý I đang rất lo lắng vì LS cho vay trên thị trường đang giảm dần. Những NH này không thể hạ LS cho vay được (lỗ), họ sẽ mất các khách hàng tốt sang tay các NHTM nhà nước và phải chấp nhận cho vay các khách hàng xấu với mức độ rủi ro cao hơn.

Không thể phủ nhận vai trò của các NHTM nhà nước trong việc bình ổn thị trường tiền tệ. Sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và NHNN cho các NH này cũng là để các NHTM nhà nước phát huy tốt được vai trò của mình.

Tuy nhiên, thông tin tốc độ tăng trưởng dư nợ của các NHTM nhà nước lớn hơn tốc độ tăng dư nợ và một số NHTM nhà nước trở thành con nợ của các NHTM cổ phần cũng là những cảnh báo về quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản và đảm bảo các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng của một số NHTM nhà nước đang có vấn đề.

Người ta cũng lo ngại về tỉ lệ các khoản nợ xấu của một số NHTM nhà nước cũng đang tăng mạnh. Lợi thế, nhưng không lạm dụng để biến thành nguy cơ rủi ro là điều các NHTM nhà nước nên chú ý.

May 3, 2010

Thanh toan khong dung tien mat NGUYỄN HỒNG HẢI – NGUYÊN PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC OCEANBANK.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:54 am
Tags: , ,

1. Tác dụng của thanh toán không dùng tiền mặt: ?
– Ngân hàng tiết kiệm được chi phí hoạt động trong việc vận chuyển, kiểm đếm và bảo quản tiền mặt
– Khách hàng không cần phải để tồn quỹ, để trong nhà nhiều tiền mặt vừa mất an toàn, không tiện lợi và tốn kém khi thanh toán;
– Nền kinh tế tiết kiệm nhiều nguồn lực cho việc in ấn, phát hành tiền mặt, và thanh toán không dùng tiền mặt là cơ sở để phát triển, đẩy mạnh các dịch vụ giao dịch thanh toán trực tuyến tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, và an toàn với chi phí thấp.

2. Thực trang thanh toán không dùng tiền mặt tại VN:
Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt hiện tại vẫn còn khá cao – chiếm khoảng 14% (tỷ lệ này ở các nước có nền kinh tế phát triển đều dưới 1 con số), đặc biệt trong khu vực chi tiêu cá nhân, số người sử dụng dịch vụ ngân hàng để thanh toán chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp, lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có thu nhập cao và ổn định. Tuy chính phủ và Ngân hàng NN đã có nhiều giải pháp và khá tích cực trong xây dựng hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt tại VN nhưng theo tôi hiện tại quá trình này vẫn đang còn diễn ra chậm và chưa đáp ứng được yêu cầu.

3. Vai trò của các Ngân hàng thương mại trong việc phát triển hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt.
Có nhiều nguyên nhân làm chậm tiến độ việc triển khai hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt hiện tại, nhiều người đưa ra các lý do như do thói quen của người dân (ở tất cả các nước trước khi thực hiện thành công thanh toán không dùng tiền mặt thì người dân của họ cũng đều có thói quen dùng tiền mặt ), hoặc do khuôn khổ pháp lý, hay cơ sở hạ tầng của hệ thống thanh toán của Ngân hàng nhà nước. Nhưng theo tôi vấn đề hiện tại cơ bản đang làm chậm tiến độ của việc triển khai hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt nằm ở định hướng phát triển và hợp tác giữa các NHTM. Thể hiện qua những yếu tố sau:
– Chậm trễ trong việc kết nối hệ thống thanh toán thống nhất giữa các Ngân hàng Thương mại: Chúng ta biết rằng, đối tượng cung cấp dịch vụ ngân hàng tới các cá nhân, tổ chức chính là các ngân hàng thương mại, nếu không tạo ra một hệ thống kết nối thanh toán thống nhất giữa các Ngân hàng thương mại thì sẽ gây khó khăn và bất tiện cho người sử dụng dịch vụ ngân hàng khi phải mở nhiều tài khỏan tại các Ngân hàng khác nhau. Các Ngân hàng nên bắt tay nhau để tạo ra thị trường lớn hơn để cùng khai thác thay vì cạnh tranh nhau trên thị phần còn nhỏ bé. Nếu Việt Nam thực hiện việc thanh toán không dùng tiền mặt thành công như ở các nước phát triển theo tôi nghĩ không sẽ không thiếu dịch vụ và không thiếu khách hàng cho tất cả các Ngân hàng hiện tại với thị trường Việt Nam có tới gần 90 triệu dân như ở VN. Các trở ngại về công nghệ, năng lực theo tôi sẽ không phải là vấn đề lớn nếu các Ngân hàng TM chủ chốt thực sự muốn đẩy nhanh tiến độ kết nối hệ thống thanh toán.
– Cần phải thay đổi cách nhìn về phát triển các dịch vụ thanh toán hiện tại: Theo tôi được biết thì hầu hết các Ngân hàng tại Việt Nam hiện nay đều bị thua lỗ trong mảng kinh doanh thẻ và trong tương lai nếu vẫn tiếp tục triển khai như hiện tại thì sẽ tiếp tục bị lỗ, Các ngân hàng thương mại đang chạy đua trong việc mở rộng mạng lưới và phát triển hệ thống máy ATM nhưng việc phát triển này vừa gây ra lãng phí lại không hiệu quả. Ví dụ như ở thị trường Đà nẵng có tới gần 900 ngàn dân mà có gần bằng ngần đó thẻ ATM được phát hành, số thẻ ATM thực sự được sử dụng theo tôi chỉ khoảng vài chục ngàn người, việc phát triển hệ thống thẻ ATM chưa giải quyết được triệt để vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt vì khi người dân rút tiền từ thẻ ATM họ sẽ lại dùng tiền mặt để thanh toán, hiện tại các NH Thương mại mới kết nối hệ thống máy ATM thống nhất. Trong khi, điều cần phát triển nhất là các máy POS thì các ngân hàng thương mại chưa thực sự chú trọng, chi phí một máy POS chỉ khoảng vài triệu và có thể giảm xuống vài trăm ngàn ( nếu trong nước sản xuất hoặc chính phủ hỗ trợ ), nếu các máy POS đó được đặt khắp mọi nơi từ các chợ, siêu thị, cơ quan trường học… và với một hệ thống POS được kết nối thống nhất giữa các ngân hàng thì sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho người dân trong việc thanh toán không dùng tiền mặt. Máy POS không những có đăc điểm chi phí rẻ, dễ sử dụng, nhỏ gọn và dùng được các chức năng, thanh toán, truy vấn số dư..
– Các sản phẩm được thiết kế còn bất tiện và hạn chế trong việc sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy rằng hầu hết các NH thương mại đã thay Corebanking mua ở nước ngoài nhưng các sản phẩm tiền gửi thiết kế vẫn theo hình thức cũ. Tôi lấy ví dụ như các ngân hàng thiết kế sản phẩm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Mỗi lần gửi tiền thì Ngân hàng lại cấp cho một quyển sổ tiết kiệm mới, việc rút bớt một phần hoặc nộp tiền vào sổ người dân lại phải tới ngân hàng, ký tá rất nhiều thủ tục và giấy tờ, việc chuyển tiền từ tiền gửi tiết kiệm sang tiền gửi thanh toán không thuận tiện và vẫn phải tới ngân hàng. Tôi cũng có mở một tài khoản tại Canada và tôi dùng nhiều sản phẩm tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm khác nhau. Tuy nhiên tôi chỉ cần duy nhất một thẻ ATM và số tài khoản, và tôi có thể kiểm tra toàn bộ các sản phẩm mình có thông qua thẻ ATM và E-banking, chuyển, rút tiền đơn giản thông qua máy ATM hoặc E-banking và khi giao dịch không phải mang theo bất cứ giấy tờ nào.
– Các NHTM chưa mạnh dạn trong việc triển khai E- banking. Khi thực hiện giao dịch E-banking tại các NHTM tại VN tôi thường phải nhập tới 3 vòng mật khẩu, kèm theo phải sử dụng các thiết bị bảo mật, trong khi đó tại Canada tôi chỉ cần nhập 1 vòng mật khẩu để sử dụng dịch vụ, tôi hỏi vấn đề này tại các ngân hàng ở Canada thì họ nói là nếu có hacker hoặc bị người khác lợi dụng thì khi người bị hại thông báo họ sẽ phối hợp với ngân hàng bạn để trả lại số tiền cho người bị hại và cơ quan an ninh sẽ phối hợp điều tra để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

4. Vai trò của các cơ quan chức năng:
Theo tôi về phía Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cũng đã rất tích cực trong việc đẩy nhanh việc thanh toán không dùng tiền mặt. Cụ thể:
Về phía Chính Phủ và NHNN cũng đã có những hành động cụ thể để đẩy nhanh việc triển khai hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt tại VN. Về phía Chính phủ và NHNN đã ban hành các văn bản:
– Đề án Thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020 theo Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
– Nghị định 161/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 Quy định thanh toán bằng tiền mặt; Chỉ thị 20/2007/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Quyết định về Séc, về Nhờ thu Hối phiếu qua người thu hộ, về Thẻ ngân hàng…
– Ngân hàng NH là đơn vị chủ trì, đứng ra để yêu cầu các NHTM thực hiện việc kết nối hệ thống thanh toán thẻ ATM
– Đồng thời NHNN cũng đã thực hiện triển khai hệ thống thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử liên ngân hàng….

Tuy nhiên, theo tôi NHNN nên định có vai trò định hướng cho các NHTM trong việc phát triển hệ thống POS và kết nối hệ thống này, đẩy nhanh tiến độ kết nối hệ thống máy POS. Chính phủ có thể hỗ trợ một phần tiền nếu các đơn vị sử dụng máy POS để giảm chi phí máy POS tại VN xuống, Việt Nam nên có một chiến dịch để thực hiện triển khai đồng loạt việc trang bị và sử dụng hệ thống máy POS tại các cơ sở thanh toán ( cơ quan, siêu thị, chợ, cửa hàng….) đồng thời có chiến dịch truyền thông và phối hợp với các NH Thương mại tổ chức hệ thống đào tạo người dân sử dụng máy POS và các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt khác của Ngân hàng, Các ngân hàng thương mại cũng nên có trung tâm và phương án để xử l‎y các sự cố liên quan tới việc khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ thanh toán của NH TM.

April 21, 2010

Thăng trầm câu chuyện Giá – Lương – Tiền

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:36 pm
Tags: , ,
Huỳnh Bửu Sơn

LTS: Nhiều người còn nhớ, khoảng giữa năm 1986, những hậu quả của cuộc cải cách giá – lương – tiền khiến đời sống kinh tế trở nên vô cùng khó khăn. Lưu thông hàng hoá bị đình trệ vì thiếu tiền mặt, đây đó quay lại phương thức hàng đổi hàng. Để tự cứu các địa phương càng tăng cường các biện pháp ngăn sông cấm chợ nhằm giữ chặt hàng hoá cho địa phương mình, điều này càng làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá lâm vào cảnh bế tắc.Nhóm Thứ Sáu” không những khẳng định những biện pháp cải cách tiền lương thời đó không phù hợp mà còn cho rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả. Họ kiến nghị chấm dứt tức khắc tình trạng ngăn sông cấm chợ mà trước tiên là bãi bỏ các trạm kiểm soát trên các truyến giao thông. Tuần Việt Nam xin giới thiệu câu chuyện 3 kỳ của chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn nhằm kể lại những kỷ niệm này.

I.  Chuyến đi Duyên Hải và ý tưởng ban đầu về hội nhập

Đã từng có một thời, ngăn sông cấm chợ rất phổ biến nước ta. Đó là thời kỳ nhiều người châm biếm: ta hiện có 400 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (ý nói các quận, huyện khác nhau). Bởi vậy, sau chuyến đi thực tế xuống Duyên Hải, chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn có ấn tượng khó quên về cuộc sống chật vật, thiếu thốn tiện nghi của người dân nơi đầu sóng ngọn gió. Cũng từ chuyến đi đó, đã hình thành trong ông ý nghĩ ban đầu về hội nhập kinh tế như một động lực cho phát triển.

Kỷ niệm đầu tiên đánh dấu việc tôi tham gia Nhóm chuyên viên Cholimex là chuyến đi công tác tại Duyên Hải cùng anh Trần Bá Tước và anh Võ Hùng.

Chúng tôi đi Duyên Hải lần đó với mục đích là làm một “survey” về tiềm năng xuất khẩu. Thời đó đường đi từ thành phố đến Duyên Hải rất khó khăn, phải vừa đi xe lẫn đi phà. Chúng tôi đến trụ sở huyện thì trời đã sụp tối. Một anh cán bộ trực tiếp chúng tôi, xem giấy giới thiệu và chỉ hướng về dãy nhà mà huyện bố trí cho chúng tôi ở. Lúc đó khoảng 7 giờ tối, toàn khu đều không có điện, trời lại mưa lâm râm. Chúng tôi người mang túi, người xách ba lô (anh Võ Hùng có một cái ba lô rất xịn) băng qua con đường đất mà mưa dầm đã làm lầy lội để đến dãy nhà chìm khuất trong bóng tối và cơn mưa.

Trời tối, đường ngập nước nên chúng tôi không phân biệt được con đường và đầm lầy, phải lội bì bõm trong bùn. Một lần tôi bước hụt chân vào một vũng bùn sâu, đến khi rút chân lên thì chiếc dép vẫn còn nằm bên dưới. Tôi phải nhờ anh Tước cầm hộ túi xách rồi dùng tay mò tận dưới bùn để lôi chiếc dép lên. Khi đến dãy nhà, chúng tôi ướt lóp ngóp, căn nhà thì tối thui. May nhờ anh Võ Hùng có mang theo quẹt lửa (tôi và anh Tước không hút thuốc) nên chúng tôi gom một mớ giấy vứt bừa bãi trong phòng làm đuốc.

Phòng này hình như là phòng học nên không có giường, chỉ có mấy cái bàn học kê lỏng chỏng. Muỗi rất nhiều. Chúng tôi mắc mùng vào các chân bàn kê ngược lên trên và trải giấy báo nằm ngủ dưới đất. Một giấc ngủ ngon ơi là ngon. Sáng ra, nhìn chung quanh mới thấy khu đất rất rộng rãi quang đãng. Phía sau dãy nhà chúng tôi ở đêm qua là khu vực hồ chứa nước của trụ sở huyện, có đến năm sáu cái hồ to xây lộ thiên. Còn dọc bờ tường của dãy nhà trụ sở là hàng chục cái mái đầm lớn tướng. Chúng tôi đánh răng, rửa mặt trong tinh thần hết sức tiết kiệm vì biết rằng nước uống, nước sinh hoạt ở đây quí giá vô ngần. Vào mùa nắng, phải chờ nước từ thành phố xuống.

Vào cái thời mà mỗi quận, huyện là một địa bàn công nông nghiệp hoàn chỉnh, Duyên Hải cũng phải gắng sức hoàn thành tốt vai trò của nó để thành phố Hồ Chí Minh có được cái gọi là tiềm năng hải sản xuất khẩu. Những ấn tượng về chuyến đi khiến tôi, trong khi trao đổi với các bạn về tiềm năng của Duyên Hải, cứ nói đi nói lại mãi về những vấn đề căn bản mà nó phải được giải quyết trước khi nói chuyện phát huy tiềm năng, đó là điện, nước, đường giao thông mà đường giao thông là quan trọng nhất. Không nối được mạch máu với quả tim là thành phố Hồ Chí Minh để tiếp nhận nhựa sống từ đó, Duyên Hải sẽ mãi mãi chỉ là tiềm năng.

Chuyến đi Duyên Hải, ngoài ấn tượng khó quên về cuộc sống chật vật, thiếu thốn tiện nghi của người dân nơi đầu sóng ngọn gió, đã hình thành trong tôi ý nghĩ ban đầu về hội nhập kinh tế như một động lực cho phát triển.

Trong những buổi mạn đàm, có lẽ tôi là người nặng lời nhất về tình trạng cấm chợ ngăn sông rất phổ biến vào thời kỳ đó, thời kỳ mà nhiều người châm biếm rằng ta hiện có đến 400 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (ý nói các quận huyện khác nhau).

Khoảng đầu năm 1986, tôi bắt đầu sinh hoạt thường xuyên với các anh em chuyên viên Cholimex vào thứ Sáu hàng tuần. Chọn chiều thứ Sáu vì đây là ngày anh em ít bận nhất, đó cũng là ngẫu nhiên lúc ban đầu. Sau này, khi sinh hoạt đã đều đặn rồi, anh em chủ động sắp xếp để không kẹt công việc vào chiều thứ Sáu, có nhiều anh phải dời ngày dạy tại các trường đại học để tránh trùng ngày. Ban đầu, các đề tài xoay quanh những dự án sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của công ty Cholimex. Anh Ba Hoà, Giám đốc công ty có dự họp một vài lần, sau đó uỷ nhiệm cho anh Phan Chánh Dưỡng là Phó giám đốc công ty chủ trì luôn.

Thật ra, sáng kiến mời các chuyên viên cộng tác là của anh Dưỡng và anh Tước, nhưng cũng cần phải thông qua anh Ba Hoà để hợp thức hoá vì anh là Giám đốc công ty. Lần đầu tiên gặp anh Dưỡng, tôi đã có ấn tượng ngay. Anh nói năng gãy gọn khúc chiết tuy là giọng Bạc Liêu – Cà Mau có pha chút giọng Hoa nhưng nghe rất rõ ràng. Anh có những lập luận đầy thuyết phục và có cách so sánh minh hoạ rất hình tượng và dễ hiểu để chứng minh cho lập luận của mình. Về điểm này, anh Dưỡng và anh Lâm Võ Hoàng rất giống nhau, tuy cách so sánh minh hoạ của anh Hoàng có phần chua chát và châm biếm hơn.

Anh Dưỡng là người rất thông minh. Anh học toán, không phải là dân kinh tế “nòi” nhưng những vấn đề kinh tế hóc búa nào đã qua một lần trao đổi là anh đều nắm vững và khi thảo luận lại anh trình bày quan điểm của mình về vấn đề đó một cách sâu sắc và đúng đắn. Anh còn hơn chúng tôi ở chỗ phối hợp được những lý luận toán học, quy luật vật lý để chứng minh những vấn đề kinh tế xã hội bằng những lập luận mang tính thuyết phục.

Tôi rất thích trao đổi với anh Dưỡng tuy rằng chúng tôi có rất ít thời gian để nói chuyện riêng. Chúng tôi tận dụng thời gian cùng ngồi trên xe đi về nhà để mỗi lần nói một chuyện. Thôi thì đủ thứ đề tài từ vũ trụ đến triết học, tôn giáo, binh pháp… quan hệ đối nhân xử thế xưa nay.

Anh Dưỡng là người siêng đọc, chịu khó nghiên cứu. Anh có một tập nghiên cứu về vũ trụ không thời gian với những ý tưởng rất mới lạ và không phải là không có cơ sở khoa học. Anh là một người đa tài, có năng lực nhưng tôi có cảm giác là anh không gặp thời… Đáng lẽ anh có thể có những đóng góp nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn cho đất nước nếu anh được sử dụng đúng tài năng của mình.

Có thể anh không chia xẻ với tôi cảm giác đó và cũng như tất cả anh em, chúng tôi hài lòng về cái mình đã được và đã đóng góp được, không phải ở kết quả của chúng mà là ở chỗ chúng đã được diễn đạt. Có khi ở một vị trí nào đó nghĩ là thuận lợi hơn nhưng lại không nói được hết ý mình thì sao!

Khoảng giữa năm 1986, những hậu quả của cuộc cải cách giá, lương, tiền đã được cảm nhận ở khắp nơi trên cả nước. Lưu thông hàng hoá bị đình trệ vì thiếu tiền mặt, ở các tỉnh, nhất là ở nông thôn người ta quay lại phương thức hàng đổi hàng.

Một người quen của tôi ở Vĩnh Long nói rằng để mua mấy mét vải cho con, anh phải mang mấy giạ lúa ra đổi. Tiền lẻ thiếu trầm trọng khiến cho mặt bằng giá bị nâng lên một cách bất đắc dĩ, càng làm cho hoạt động trao đổi hàng hoá trở nên đình trệ.

Trong bối cảnh đó, để tự cứu, các địa phương càng tăng cường các biện pháp ngăn sông cấm chợ với mục tiêu là giữ chặt hàng hoá cho địa phương mình, điều này càng làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nước lâm vào cảnh bế tắc. Việc cải cách tiền lương không cải thiện được thu nhập thực tế của cán bộ công nhân viên vì mặt bằng giá sau cải cách đã thay đổi.

Nền kinh tế đứng trước một nghịch lý: giá hàng tăng, sản xuất đình trệ, đồng tiền khan hiếm, đông đảo người dân ở nông thôn không có tiền, nhưng đồng thời lại phổ biến tâm lý e ngại giữ tiền đồng, ai có thừa một ít tiền đồng đều vội vã mua vàng hoặc đô la cất giữ. Những người thực hiện cuộc cải cách giá – lương – tiền nghĩ rằng đó là một giải pháp cho nền kinh tế nhưng không ngờ chính cái gọi là giải pháp đã tạo ra một bài toán khó, đòi hỏi một liệu pháp mới.

Vào thời điểm đó, không thiếu những nhận định đại loại như: “tiền mặt vừa thừa vừa thiếu, thừa trong dân cư và thiếu trong hệ thống ngân hàng và trong khu vực Nhà nước” hoặc “nền kinh tế đang lâm vào tình trạng lạm phát phi mã”. Từ những nhận định như vậy, nhiều giải pháp đã được đề xuất như “phải tăng cường giám sát chặt chẽ tiền mặt”, “hạn chế phát hành tiền ra lưu thông”, “kiểm soát chặt chẽ lưu thông hàng hoá, chống đầu cơ tích trữ, tăng cường quản lý thị trường”… Khỏi phải nói, những biện pháp như thế chẳng những không cải thiện được tình hình mà còn làm trầm trọng thêm.

Vào khoảng tháng 10 năm 1986 – tôi không nhớ rõ lắm – anh Hai Chí và anh Năm Nghị có đến trao đổi với anh em, chắc là do anh Hai Chí gợi ý và anh Dưỡng nhận lời. Nội dung cuộc trao đổi xoay quanh vấn đề giá – lương – tiền.

Anh Hai Chí nói qua về tình hình của thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị anh em góp ý về một giải pháp nhằm giúp thành phố khắc phục hậu quả khó khăn này. Cuộc thảo luận rất sôi nổi vì không những nó đặt ra một số vấn đề về thực tiễn mà còn liên quan đến các vấn đề về lý thuyết kinh tế. Tôi còn nhớ mình đã nói với anh Hai Chí rằng vấn đề này không thể chỉ giải quyết trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh và hơn nữa bản thân thành phố không thể tự giải quyết nổi. Cuối buổi họp, anh Dưỡng thay mặt anh em nhận lời thực hiện đề tài theo yêu cầu của anh Hai Chí.

Đây có thể nói là một đề tài đầu tiên có tính chất vĩ mô mà Nhóm nhận thực hiện và tất cả anh em đều mang một tinh thần hăng hái nhập cuộc. Tôi vinh dự được anh em tín nhiệm giao làm chủ đề tài và cùng thống nhất là đề tài không hạn chế trong phạm vi thành phố vì nó đụng chạm đến những biện pháp kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, vì không có điều kiện tiếp cận số liệu thống kê kinh tế cả nước nên tôi phải sử dụng số liệu có được tại thành phố trước năm 1975 để minh hoạ và chứng minh. Phải nói rằng việc thu thập số liệu thống kê vào thời kỳ đó là muôn vàn khó khăn vì số liệu nào cũng được xem là mật cả. Tuy thế, với một tinh thần hăng say, các anh em tham gia đề tài thích cực thảo luận trao đổi, góp nhặt số liệu, phân tích, đánh giá và đi đến thống nhất về nhận định tình hình và giải pháp đề xuất.

Phải nói rằng, quá trình đi đến thống nhất nhận định là một quá trình hết sức gay go và thú vị. Mỗi người đều nói hết những suy nghĩ, những đánh giá của riêng mình, vận dụng hết những kiến thức ở trường lớp, trong sách vở và cả những kinh nghiệm thực tế ngoài đời. Và không phải chỉ có những người tham gia đề tài mới thảo luận mà mọi anh em có mặt trong buổi họp đều được mời tham gia ý kiến.

Các cuộc thảo luận hăng say đến nỗi trước đây anh em chỉ họp mỗi tuần một lần, thời gian đó nâng lên mỗi tuần họp đến 3 lần vào các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu. Vậy mà buổi họp nào cũng đầy đủ anh em đến dự. Có hôm trời mưa như trút nước, anh Phan Tường Vân vẫn đạp chiếc xe đạp lọc cọc đến. Có lúc anh em cãi nhau căng thẳng, anh Tước và tôi phải dàn hoà. Vậy mà dần dần các vấn đề được mổ xẻ bộc lộ ra, sáng tỏ dần và điều đáng quí nhất là qua các cuộc tranh luận anh em ngày càng thống nhất với nhau hơn trong cách nhận thức vấn đề.

II.  Việc ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá

Trước hơn hai mươi quan chức, Nhóm Thứ Sáu quả quyết: “Việc ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong nền kinh tế; Việc cải cách tiền lương là đúng, nhưng những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của cuộc cải cách tiền lương. Cuộc cải cách giá – lương – tiền có thể đã thành công nếu Nhà nước không đổi tiền”.

Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định vào niềm tin mỏng manh của người dân vào đồng tiền Việt Nam và sự chạy trốn đồng bạc của người dân cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giá của đồng bạc.

Khi cả đoàn đã đến Hà Nội (tôi ra trước bằng máy bay, còn đoàn anh Dưỡng và anh Tước đi đường bộ), anh Dưỡng liên lạc với văn phòng ông Sáu Dân báo cho họ biết đoàn đã ra và hẹn ngày làm việc. Bên văn phòng nói là họ đã biết việc này và bảo cứ chờ, chừng nào thu xếp lịch xong sẽ thông báo cho biết.

Lần đầu diện kiến ông Sáu Dân

Chiều hôm đó, mọi người kéo nhau đi ăn tối, riêng tôi với vợ tôi vì có hẹn đến thăm nhà chị bạn mới quen nên không cùng đi. Khi chúng tôi quay về khách sạn, lúc đó khoảng 6 giờ 15 thì gặp anh Dưỡng, hối hả bảo tôi phải chuẩn bị tài liệu ngay vì ông Sáu hẹn làm việc lúc 7 giờ. Lúc đó, tôi và vợ tôi đều chưa ăn tối, nhưng không kịp nữa vì khoảng 6 giờ rưỡi là khởi hành.

Tôi chỉ kịp xem sơ lại tài liệu, nghĩ rằng buổi làm việc tối nay cũng chỉ là làm sơ bộ với các chuyên viên văn phòng của ông Sáu thôi. Cả anh Dưỡng và anh Tước cũng đều nghĩ như thế nên giục tôi đi sớm, không cần phải chuẩn bị nhiều. Thế là tôi ôm cái bụng đói cùng một mớ tài liệu lên đường. Còn nhớ ngoài ba anh em còn có cả anh Hai Đoàn và một anh Trần Ngọc, Phó giám đốc công ty Cholimex .

Chúng tôi đến khu Quảng Bá, nơi làm việc của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng lúc đó, trước 7 giờ một chút. Khi bước vào hội trường, tôi cảm thấy hơi choáng váng, không biết anh Dưỡng và anh Tước có cùng cảm giác ấy không. Tôi tưởng làm việc chỉ với năm ba người chuyên viên cùng với ông Sáu, hoá ra đêm đó ở hội trường có đến hơn hai mươi người, trongđó chỉ có một người mà tôi biết vì đã từng làm việc trước đây là anh Ba Châu, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một chức vụ tương đương với Bộ trưởng.

Chúng tôi được giới thiệu với ông Sáu Dân, đó là lần đầu tiên tôi diện kiến ông Sáu và ngay từ lần đầu trong tôi đã có một tình cảm mến mộ và kính trọng đối với ông.

Khi chủ khách an toạ, anh Vũ Quốc Tuấn – trợ lý của ông Sáu – đứng lên giới thiệu thành phần tham dự, tôi mới biết những người có mặt hôm đó gồm toàn Bộ trưởng, Thứ trưởng các Bộ có liên quan đến tài chính, kinh tế, các vị trong Ban Kinh tế Trung ương, Ban Công nghiệp Trung ương, Viện Nghiên cứu Kinh tế và các chuyên viên có tầm cỡ của Bắc Hà.

Sau đó, ông Sáu có nói vài lời ngắn gọn về nội dung buổi làm việc là nghe và trao đổi ý kiến về bản đề cương do các anh em chuyên viên ở thành phố soạn thảo như một ý kiến đề xuất về các giải pháp nhằm tháo gỡ tình hình khó khăn về kinh tế hiện nay. Ông đề nghị các anh em cứ mạnh dạn nói thẳng, nói hết ý đừng ngần ngại vì đây là một buổi trao đổi có tính chất khoa học.

Anh Dưỡng phát biểu trước, giới thiệu về đề cương và quá trình soạn thảo đề cương, nêu lên nỗi bức xúc của các anh em chuyên viên kinh tế ở thành phố về tình hình hiện nay và những khó khăn mà anh em gặp phải trong quá trình làm việc như vấn đề tư liệu, số liệu… Anh phát biểu khoảng 10 phút, giọng nói khá xúc động. Sau đó anh giới thiệu tôi trình bày đề cương.

Dùng thực tế đời sống để chứng minh thực tế Khi đứng lên để thuyết trình, tôi cảm thấy thật sự xúc động, nếu không nói là run. Nhưng sau khi nói vài câu thì tôi bình tĩnh lại, thấy đầu óc rất sáng suốt (có lẽ nhờ bụng đói chăng), trình bày vấn đề một cách rõ ràng, mạch lạc và càng nói càng hăng, giống như được trút ra những nỗi niềm tâm sự bị dồn nén bấy lâu nay.

Về giá, tôi muốn chứng minh rằng tình trạng tăng giá hàng mà chúng ta đang chứng kiến chỉ là một sự tăng giá ảo, nó không mang lại sự kích thích sản xuất hay giải quyết công ăn việc làm như tác động thường thấy của lạm phát trong một nền kinh tế đang tăng trưởng. Mỗi người nhìn hiện tượng giá cả từ góc độ của mình và đều thấy nó khác nhau, người tiêu dùng thấy giá hàng tăng nhưng nhà sản xuất lại thấy giá không bù đắp nổi chi phí, đặc biệt người nước ngoài xài đô la tại Việt Nam sẽ thấy giá cả hàng hoá tại đây ngày càng rẻ hơn. Hầu như giá cả mọi loại hàng hoá đều giảm so với vàng và đôla.

Mặc khác, bằng những con số thực tế, tôi chứng minh rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ mà chúng ta tạo ra đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong nền kinh tế như thế nào: trong khi giá 1 kg khoai mì lát tại thành phố Hồ Chí Minh là 2 đồng thì tại Ban Mê Thuật chỉ là 50 xu. Giá các mặt hàng khác cũng tương tự. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng mục tiêu không thay đổi của chính sách tiền tệ tại các nước kế hoạch hoá tập trung trong đó có Việt Nam là chống lạm phát bằng cách hạn chế lượng tiền đưa ra lưu thông nên nó không thể tạo ra lạm phát đúng nghĩa mà chỉ có thể tạo ra suy thoái và sự kiệt quệ sức sản xuất.

Và chính vì lượng hàng hoá cung ứng cho nền kinh tế luôn luôn thấp so với nhu cầu, tình trạng tăng giá suy thoái xảy ra triền miên và chúng ta không thể khắc phục tình trạng này bằng việc tiếp tục hạn chế khối tiền tệ. Nếu để tình trạng này tiếp tục diễn ra sẽ dẫn đến hiện tượng phi tiền tệ hoá nền kinh tế, người dân hoặc sẽ dùng vàng và đôla làm phương tiện thanh toá, cất giữ hoặc sẽ trở lại thời kỳ hàng đổi hàng.

Về lương, việc cải cách tiền lương là đúng, nhưng những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của cuộc cải cách tiền lương. Tôi có nói, cuộc cải cách giá – lương – tiền có thể không gây ra những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế nếu Nhà nước không đổi tiền.

Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định vào niềm tin mỏng manh của người dân vào đồng tiền Việt Nam và sự chạy trốn đồng bạc của người dân cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giá của đồng bạc.

Trong phần kiến nghị, tôi có đề nghị mấy điểm chính như chấm dứt tức khắc tình trạng cấm chợ ngăn sông bằng cách trước tiên bãi bỏ các trạm kiểm soát hàng hoá trên các trục lộ giao thông, áp dụng một chính sách tiền tệ tích cực nhằm hỗ trợ cho sản xuất phát triển, cải tổ hệ thống ngân hàng để tạo sự tín nhiệm cho người gửi tiền, chuẩn bị những  loại tiền có mệnh giá lớn như 100 ngàn đồng chẳng hạn và đặc biệt phải công bố cho người dân biết là Chính phủ sẽ không bao giờ đổi tiền nữa.

Khi tôi kết thúc phần trình bày, đã gần 8giờ30. Ông Sáu đề nghị nghỉ giải lao 10 phút, trong thời gian đó chúng tôi được chiêu đãi một chén chè đậu xanh hay hạt sen gì đó. Thôi thì cũng tạm đỡ đói. Sau đó trong phần thảo luận, có khá nhiều chuyên viên Bắc Hà tỏ ra đồng tình với đề cương của chúng tôi. Cũng có một vài câu hỏi, nhưng chủ yếu là để làm sáng tỏ vấn đề, không phải để cật vấn. Chính chúng tôi cũng không ngờ đạt được một sự nhất trí cao như vậy.

Sau này, anh Dưỡng kể lại có một vài người gặp anh và nói: “Các anh nói đúng những điều chúng tôi nghĩ mà không dám nói ra”. Ông Sáu Dân có vẻ rất thích thú, cuối buổi họp ông đến hỏi thăm từng anh em chúng tôi, khi được biết trong đoàn, anh Dưỡng và tôi có đưa bà xã ra thăm Hà Nội, ông liền dặn trước khi về Sài Gòn mời đoàn đến gặp ông và mời luôn cả hai phu nhân đi theo đoàn không chính thức. Lần đầu gặp ông Sáu, tôi gọi ông bằng bác. Thật ra lúc đó trông ông trẻ trung và khoẻ mạnh lắm. Ông bảo cứ gọi bằng anh cho thân mật nhưng tôi nói vì tôi là đồng nghiệp của con gái ông nên theo lễ phải gọi ông bằng bác. Sau này, không hiểu vì sao tôi lại đổi cách xưng hô và gọi ông là chú Sáu.

Trước khi ra về, anh Ba Châu có đến gặp và đề nghị chúng tôi đến Ngân hàng Nhà nước để trình bày thêm cho anh và các vị lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nghe về đề tài này. Chúng tôi vui vẻ nhận lời. Ông Nguyễn Văn Trân, lúc đó là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương cũng đến gặp chúng tôi và ngỏ lời mời tương tự. Chúng tôi cũng nhận lời và đề nghị ông bố trí ngày giờ thuận tiện.

Khoảng 10 giờ chúng tôi mới trở về khách sạn. Trong đoàn ai nấy đều vui vì đánh giá buổi trình bày là thành công. Về đến khách sạn, bà xã đưa cho ăn cái bánh gì đó, hình như là bánh giò với chả lụa, nhưng lúc đó bụng thấy hết đói rồi.

Những ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục làm việc cũng về đề tài nói trên tại Ngân hàng Nhà nước và Viện Kinh tế. Tôi không nhớ rõ về buổi làm việc tại Viện Kinh tế, chỉ còn giữ ấn tượng về ông Nguyễn Văn Trân là một người tầm thước, rất tinh tế và lịch sự.

Riêng buổi làm việc tại Ngân hàng Nhà nước, tôi có cảm tưởng các vị bên ngân hàng không đồng tình cho lắm về cách đánh giá và nhận định của đề tài. Họ không nêu ý kiến cụ thể nhưng có vẻ không hưởng ứng, một vài người tỏ vẻ nghi ngờ các số liệu trong đề cương, có anh cho rằng những con số lấy tại thành phố Hồ Chí Minh không đủ để chứng minh cho cả nền kinh tế. Riêng anh Ba Châu tỏ ra rất quan tâm, anh xin một bản copy của đề cương, cám ơn chúng tôi và hẹn khi vào thành phố sẽ đến gặp anh em và đặt hàng về một đề tài khác.

Cũng trong thời gian đó, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cho người mời chúng tôi đến trao đổi với ông một buổi tại Bộ Ngoại giao. Buổi sáng hôm ấy, ông Thạch cho xe đón ba người chúng tôi đến Bộ làm việc trực tiếp với ông và ông Vũ Khoan, lúc đó là Vụ trưởng. Ông Vũ Khoan không nói gì, chỉ ngồi ghi chép. Ông Thạch hỏi rất nhiều, chúng tôi thay phiên nhau trả lời và giải thích về cơ sở các nhận định của mình trong đề cương.

Tôi nhớ ông có hỏi một câu về phân phối lương thực: Nhà nước có nên tiếp tục quản lý chặt không? Tôi trả lời nếu Nhà nước cứ tiếp tục ép nông dân phải bán gạo cho Nhà nước với giá thấp thì sản xuất lương thực sẽ không tăng được và nước ta tiếp tục thiếu gạo. Cần phải cho phép người nông dân bán nông phẩm thặng dư cho bất cứ ai và đến bất cứ nơi nào. Trước nay ta vẫn có ác cảm với tư thương, nhưng tư thương là ai? Họ chính là nông dân hay gia đình của nông dân, hoặc ít ra cũng là người giúp đỡ nông dân tiêu thụ sản phẩm.

Ông Thạch có vẻ đồng tình với nhiều ý kiến của anh em chúng tôi, đặc biệt được chúng tôi thuyết phục là tình hình tiền mặt lưu thông lúc đó đang thiếu chứ không phải thừa. Ông tâm sự rất thích đọc quyển Kinh tế học của Samuelson và cũng nhận định là cần phải có một cuộc cải cách mạnh mẽ về kinh tế.

Những ngày tiếp theo thực sự là những ngày thảnh thơi. Tôi có cảm giác làm tròn được một công việc  có ý nghĩa. Những ngày sau đó, vợ chồng tôi la cà thăm viếng 36 phố phường của Hà Nội và được anh Hai Đoàn đưa đến gặp ông Vũ Kỳ, người giúp việc cho Bác Hồ trước đây, nay đã là một cụ già tráng kiện, quắc thước với mái tóc bạc phơ. Ông kể cho chúng tôi nghe những giai thoại thú vị về cuộc đời Bác, đưa chúng tôi đi xem căn nhà sàn nơi Bác làm việc với cách bài trí hết sức đơn giản, mộc mạc….

Buổi chiều hôm trước ngày về, đoàn có ghé thăm ông Sáu Dân. Ông tiếp chúng tôi vui vẻ, thân mật và cho biết đề nghị của chúng tôi về việc giải toả các trạm kiểm soát hàng hoá đã được thực hiện. Quả nhiên, khi chúng tôi xuôi về Nam bằng đường bộ, suốt dọc đường gần hai ngàn cây số không còn một trạm kiểm soát nào.

III.  Trí thức chế độ cũ góp sức cải tổ ngành Ngân hàng

Kết quả tốt đẹp của chuyến đi đã tạo nên một nguồn cảm hứng khiến chúng tôi làm việc hăng say hơn. Anh Ba Châu vào gặp anh em và đề nghị xây dựng đề cương về cải cách hệ thống Ngân hàng với mục tiêu là biến hệ thống ngân hàng từ một cấp thành hai cấp. Chúng tôi vui vẻ nhận lời.

Sau đề tài về ngân hàng, chúng tôi tập trung nghiên cứu về việc đổi mới ngân hàng ngoại thương và vấn đề hội nhập kinh tế từ bên trong (kinh tế vùng).

Vào tháng 10/1987, theo đề nghị của Ban Kinh tế Thành uỷ, tôi rời công ty Imexco để tham gia vào Sài Gòn Công thương Ngân hàng, ngân hàng cổ phần đầu tiên của Việt Nam. Đây là lần thứ hai tôi trở về ngành ngân hàng sau 5 năm công tác trong ngành ngoại thương.

Háo hức tham gia đề án cải tổ ngành ngân hàng

Đến năm 1989, vào khoảng tháng 8, tôi nhận được một giấy mời ra Hà Nội. Tôi đến Hà Nội vào buổi chiều, ngay tối hôm đó đã có buổi làm việc sơ bộ với nhóm chuyên viên được Văn phòng Chính phủ mời, trưởng nhóm là anh Phan Văn Tiệm, lúc đó là Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước. Phiên họp hôm đó có cả anh Nguyễn Thiệu tham dự. Đề tài là cải tổ ngành ngân hàng, vấn đề này được chính phủ giao cho hai nhóm chuyên viên phụ trách, một nhóm chuyên viên của Văn phòng Chính phủ và một nhóm chuyên viên do Ngân hàng Nhà nước chủ trì (lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm vừa thay thế anh Ba Châu làm Tổng giám đốc).

Tôi được biết lý do phải tổ chức hai nhóm là để công trình nghiên cứu mang tính khách quan và bao quát, phía Ngân hàng Nhà nước thì có chuyên môn trong lĩnh vực ngân hàng, phía nhóm chuyên viên Văn phòng Chính phủ (lúc đó gọi là Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng) thì có tầm nhìn kinh tế vĩ mô rộng hơn.

Sau buổi trao đổi đêm đó, anh Tiệm và chúng tôi thống nhất mỗi thành viên sẽ trình bày một đề cương và hẹn gặp nhau lại để thống nhất đề cương, trình ông Sáu Dân duyệt rồi sẽ phân công triển khai.

Hôm sau, tôi còn đang ở nhà khách thì có một cán bộ Ngân hàng Nhà nước đến gặp và gửi cho tôi giấy mời của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị tôi đến làm việc.

Tôi được ông Nguyễn Văn Đạm, Phó Tổng giám đốc thứ nhất của Ngân hàng Nhà nước tiếp (lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm đang công tác ở nước ngoài). Ông Đạm cho biết Ngân hàng Nhà nước có thành lập một tổ chuyên viên cải tổ ngân hàng và đề nghị tôi tham gia. Tôi trình bày với ông là tôi đã được bố trí tham gia nhóm anh Tiệm, nhưng ông Đạm nhấn mạnh rằng tôi vốn là người của ngành ngân hàng, vả lại hiện nay đang công tác trong ngành, không lý gì khi ngành đang cần tôi lại không tham gia.

Cuối cùng, tôi đành phải nhận lời tham gia cả hai tổ, trong thâm tâm tôi nghĩ rằng có khi điều này cũng có lợi vì tôi có thể làm gạch nối cho hai tổ và làm cho những khác biệt giữa hai nhóm có thể giảm đi.

Hôm trước khi về, tôi đến chào ông Sáu Dân và báo cáo về các buổi làm việc với anh Tiệm và anh Đạm. Ông đồng tình việc tôi tham gia vào hai tổ và  hỏi tôi có giới thiệu thêm ai có thể tham gia vào chương trình này không? Tôi nghĩ ngay đến anh Lâm Võ Hoàng hiện đang cộng tác với Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố và giới thiệu đôi nét về anh Hoàng với ông Sáu. Ông lập tức dặn anh Thiệu chuẩn bị giấy mời anh Hoàng tham gia tổ do anh Tiệm chủ trì. Thế là trong chuyến đi Hà Nội tiếp theo sau đó để thông qua đề cương, tôi đi cùng với anh Hoàng và hình như đó cũng là lần đầu tiên anh Hoàng ra Hà Nội. Khi diện kiến ông Sáu Dân lần đầu tiên, tôi thấy anh rất phấn khích.

Sau đó, cả anh Hoàng cũng được mời tham gia hai tổ công tác, một do anh Kiêm chủ trì, một do anh Tiệm. Đó cũng là một điều may vì bản dự thảo đề cương cải tổ do tôi soạn, cùng với bản dự thảo của anh Lê Xuân Nghĩa đều được cả hai tổ thảo luận và đi đến thống nhất. Kết quả là các sự khác nhau ban đầu giữa quan điểm cải tổ của hai nhóm đã thu hẹp đáng kể và cuối cùng đi đến nhất trí trình Hội đồng Bộ trưởng trong một đề cương chung vào cuối năm 1989, sau chưa đầy hai tháng làm việc với những cuộc tranh luận sôi nổi hào hứng, đôi khi rất kịch liệt và căng thẳng trong mỗi tổ và giữa hai tổ. Sau này, chúng tôi và các anh em chuyên viên Bắc Hà đều trở thành những người bạn thân thiết.

Đó là các anh Phan Văn Tiệm, Phan Quang Tuệ, Lê Xuân Nghĩa ở Tổ Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng,các anh Cao Sỹ Kiêm, Nguyễn Văn Chuẩn, Nguyễn Quang Liên, Ngô Tuấn Kiệt, Lê Văn Tư, Lê Trọng Khánh, Cao Cự Bội, Lê Hoàng, Trịnh Bá Tửu, Trang Sĩ Liêm… Ở Tổ chuyên viên Ngân hàng Nhà nước và đặc biệt là anh Nguyễn Thiệu (tổ VPHĐBT) sau này trở thành người bạn tâm giao của tôi dù anh lớn hơn tôi đến một con giáp .

Sau khi đề cương đã được hai tổ hoàn thành và trình trước cho ông Sáu, một hôm ông Sáu cho gọi anh Lâm Võ Hoàng và tôi đến làm việc với ông tại nhà, hôm đó có cả anh Nguyễn Thiệu, để hỏi thêm về một số vấn đề chưa rõ trong cả hai đề cương. Trong buổi gặp mặt đó, anh Hoàng và tôi báo cáo với ông những nhược điểm hiện có của hệ thống ngân hàng một cấp trong đó nổi cộm nhất là sự nhập nhằng giữa chức năng ngân hàng và ngân sách (cho vay và cấp phát), cũng như giữa vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước và vai trò kinh doanh của các ngân hàng thương mại (điều mà anh em chúng tôi hay gọi là vừa đá bóng vừa thổi còi).

Chúng tôi cũng đề nghị xác lập vị trí độc lập của Ngân hàng Nhà nước với chức năng của một Ngân hàng Trung ương đối với việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ. Nhưng ông Sáu cho rằng bước đi như thế là quá nhanh và chưa thích hợp với tình hình và điều kiện hiện nay. Riêng đối với đề xuất về việc thiết lập cơ chế Hội đồng Quản trị Ngân hàng Nhà nước thì ông ủng hộ. Việc thay đổi danh xưng của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cũng được ông nhất trí, thay vì gọi là Tổng giám đốc như trước đây (dễ gây lầm lẫn) thì gọi là Thống đốc cho thống nhất với cách gọi phổ biến của nhiều nước.

Sau này, khi trình bày đề án trước Hội đồng Bộ trưởng, phải nói là nếu không được sự đồng tình của ông Sáu Dân, cả hai tổ nghiên cứu khó mà thuyết phục được một số vị lãnh đạo trong Hội đồng Bộ trưởng vẫn quan niệm rằng cơ chế Hội đồng Quản trị chẳng khác nào một Chính phủ trong một Chính phủ, còn danh xưng Thống đốc sao mà nghe “sặc mùi đế quốc”.

Hôm đó, chúng tôi làm việc với ông Sáu từ 10 giờ sáng đến tận 2 giờ trưa, và dùng cơm trưa “dã chiến ” cùng ông, đây có thể là buổi làm việc lâu nhất với ông Sáu và ông đã chỉ đạo một việc mà tôi cho là rất quyết định đối với công cuộc cải cách hệ thống Ngân hàng Việt Nam: yêu cầu chúng tôi tập trung dự thảo Luật Ngân hàng.

Dấu ấn: Pháp lệnh Ngân hàng 1990

Trong suốt hai tuần lễ giữa tháng 10/1989 tôi đã tham khảo chủ yếu 2 Luật Ngân hàng trước năm 1975, đối chiếu với các quy định hiện hành về ngân hàng và điều kiện kinh tế vào lúc đó, có tham khảo thêm các luật của Pháp, Đức, Anh, Mỹ và đã hoàn tất sơ bộ hai dự thảo pháp lệnh, một cho Ngân hàng Thương mại, một cho Ngân hàng Trung ương, đồng thời nhờ dịch cả hai sang tiếng Anh và tiếng Pháp.

Vào tháng 3/1990, anh Nguyễn Thiệu, anh Lê Văn Tư và tôi, ba người được ông Sáu cử đi Pháp và Thái Lan với sự tài trợ của hai ngân hàng BFCE và IndoSuez để tham khảo ý kiến của các giới ngân hàng ở Pháp và Thái Lan về hai pháp lệnh (đặc biệt với Banque de France và Ngân hàng Trung ương Thái Lan). Cũng nhân chuyến đi đó, tôi đã gặp ông Berth, đại diện IMF tại Pháp và nhờ IMF cho ý kiến về dự thảo pháp lệnh ngân hàng. IMF đã đánh giá cao dự thảo hai pháp lệnh ngân hàng và đã có bản góp ý rất quan trọng. Chính trên cơ sở đó mà sau này khi đề cương cải tổ hệ thống ngân hàng được cả hai tổ thống nhất việc thảo luận dự thảo luật đã có thể tiến hành ngay và mặc dù có nhiều thay đổi, dự thảo cuối cùng đã được Chánh phủ thông qua vào tháng 5/1990 và trình Chủ tịch nước ban hành dưới hình thức Pháp lệnh Ngân hàng (tháng 10/1990). Phải thừa nhận rằng Pháp lệnh Ngân hàng đã được thông qua trong một thời gian ngắn có thể nói là kỷ lục vào lúc đó.

Thời gian làm việc cho đề án cải tổ ngân hàng và soạn thảo pháp lệnh dưới sự chỉ đạo của ông Sáu Dân là một thời gian có ý nghĩa nhất trong đời làm việc của tôi và cũng là thời gian mà Nhóm Thứ Sáu làm việc cật lực. Hầu như mọi vấn đề gút mắc đều được mang ra thảo luận trong các buổi sinh hoạt và những góp ý của các anh em trong Nhóm đã giúp làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề, cung cấp cho chúng tôi những lý luận mang tính thuyết phục để có thể nhanh chóng đi đến việc hoàn chỉnh đề án cải tổ.

Tuy nhiên, tôi cũng nhận thấy sẽ có những trở ngại chủ quan làm chậm tiến trình cải tổ và sẽ không dễ gì vượt qua những trở ngại ấy với các điều kiện về nhận thức vào thời điểm đó. Nhưng trong tinh thần thực tế và không cầu toàn, tôi đã cùng với các anh em chuyên viên Bắc Hà vượt qua được những cuộc tranh luận chuyên môn tưởng chừng như bế tắc (nhiều lúc phải đạp chân nhắc anh Hoàng không nên đi quá xa) và cuối cùng đã cùng nhau đạt đến một sự hoàn chỉnh nhất định cho cả đề án lẫn pháp lệnh.

April 1, 2010

Thành lập ngân hàng TMCP phải hội đủ 5 tiêu chí

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:31 am
Tags: ,

Một ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) muốn thành lập và hoạt động phải đảm bảo 5 tiêu chí: vốn điều lệ, số lượng cổ đông, tỷ lệ sở hữu số vốn điều lệ, cách thức tổ chức và các vấn đề liên quan đến hoạt động ngân hàng.

Ảnh minh họa.

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 9/2010/TT-NHNN quy định về việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng TMCP.

Theo đó, thứ nhất, ngân hàng phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật tại thời điểm thành lập; vốn điều lệ được góp bằng đồng Việt Nam; nguồn vốn góp thành lập ngân hàng phải tuân thủ những điều kiện cụ thể.

Thứ hai, phải có tối thiểu 100 cổ đông tham gia góp vốn thành lập ngân hàng, trong đó có tối thiểu 3 cổ đông sáng lập là tổ chức có tư cách pháp nhân. Các cổ đông phải có khả năng về tài chính để góp vốn thành lập ngân hàng.

Lưu ý là cá nhân hoặc tổ chức và người có liên quan của cá nhân hoặc tổ chức đó chỉ được tham gia góp vốn thành lập 1 ngân hàng, không được tham gia góp vốn thành lập ngân hàng nếu cá nhân hoặc cá nhân đó cùng với người có liên quan đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu của một ngân hàng, tổ chức hoặc tổ chức đó cùng với người có liên quan đang sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của một ngân hàng; cổ đông là tổ chức phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định (thời gian hoạt động tối thiểu là 3 năm và kinh doanh có lãi trong 3 năm liền kề năm đề nghị thành lập ngân hàng).

Đối với cổ đông là doanh nghiệp nhà nước phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản cho phép tham gia góp vốn thành lập ngân hàng.

Thứ ba, các cổ đông sáng lập (là cá nhân, tổ chức) phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% vốn điều lệ khi thành lập ngân hàng, đồng thời các cổ đông sáng lập là tổ chức phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% tổng số cổ phần của các cổ đông sáng lập.

Thứ tư, ngân hàng phải có điều lệ tổ chức và hoạt động phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.

Thứ năm, ngân hàng phải đảm bảo các điều kiện hoạt động như có đề án thành lập, có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có nhân sự chủ chốt, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại…

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.