Ktetaichinh’s Blog

May 12, 2010

Ngân hàng thương mại nhà nước: Lợi thế trong cạnh tranh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:31 am
Tags: , ,
Lao Động số 104 Ngày 10/05/2010 Cập nhật: 8:45 AM, 10/05/2010
Các NHTMNN có lợi thế về nguồn vốn giá rẻ. Ảnh: Giang Huy
(LĐ) – Có nguồn vốn giá rẻ, các ngân hàng thương mại nhà nước đang chiếm ưu thế trong việc thu hút khách hàng so với ngân hàng thương mại cổ phần.

Có nguồn vốn giá rẻ

Lý do khiến khối NHTM nhà nước luôn có mặt bằng LS cho vay thấp hơn các NHTM cổ phần vì họ có nguồn vốn giá rẻ từ các khách hàng lớn (mà NHTM nhà nước có được nhờ uy tín của Nhà nước), đó là: Tiền gửi thanh toán của các tập đoàn DN; tiền gửi của các tổ chức bảo hiểm và Kho bạc Nhà nước; giải ngân vốn ODA.

Lấy ví dụ việc thu hút vốn ODA và hoạt động giải ngân qua NH phục vụ: Căn cứ vào quy định trong hiệp định vay, thoả thuận tài trợ và các quy định của các cơ quan quản lý trong nước, việc rút vốn, thanh toán bằng nguồn vốn ODA được thực hiện qua NH phục vụ theo một hoặc một số hình thức: Thanh toán trực tiếp/hoặc chuyển tiền: Thanh toán theo phương thức hoàn trả; thanh toán theo phương thức tín dụng/nhờ thu; thanh toán qua tài khoản tạm ứng/tài khoản đặc biệt.

Hoạt động giải ngân vốn ODA các NH được chỉ định phục vụ thu được một số lợi ích trong kinh doanh ngoại tệ, hoạt động tín dụng và thanh toán, đặc biệt là trong huy động vốn vì thông qua việc rút vốn ODA ngân hàng phục vụ đã thu hút được lượng tiền ngoại tệ (vốn ODA) và nội tệ (các nhà thầu) khá lớn duy trì trên các tài khoản mở tại NH phục vụ với chi phí rất thấp.

Bên cạnh đó, các NHTM nhà nước luôn nhận được sự hỗ trợ từ NHNN. Gần đây, NHNN tuyên bố sẽ đáp ứng nhu cầu vay vốn thiếu hụt thanh khoản tạm thời của các NHTM nhà nước với LS thích hợp và thời gian phù hợp (chắc LS thấp hơn khá nhiều so mặt bằng LS huy động thị trường và thời gian dài hơn cho vay tái cấp vốn và chiết khấu với các NHTM cổ phần). Các NHTM cũng chủ định hướng khai thác tối đa kênh hỗ trợ của NHNN.

Một ưu thế khác của các NHTM nhà nước nữa là họ có thể thực hiện khá hiệu quả việc huy động vốn nước ngoài thông qua các kênh vay thương mại, LC, reifinancing… BIDV đã dự kiến phát hành 300-500 triệu USD trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế để bổ sung nguồn vốn trung – dài hạn. Các NHTM cổ phần khó đủ độ tín nhiệm để thu hút vốn nước ngoài.

Mạnh trong cạnh tranh tiền gửi dân cư

Vốn tiền gửi dân cư chiếm 43%/tổng nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM. Tỉ trọng này cao hơn ở các NHTM cổ phần (trên 50%-70%/) do LS huy động của các NH này cao hơn. Ở NHTM nhà nước thường chỉ chiếm trên 30%. Ý thức được sự ổn định của tiền gửi dân cư trong bối cảnh tiền gửi tổ chức liên tục sụt giảm, năm 2010, các NHTM nhà nước cũng cạnh tranh gay gắt với các NHTM cổ phần.

Điều đáng chú ý ở đây là thay vì công bố mức LS huy động cao, NHTM nhà nước thường lẩn bằng hình thức khuyến mãi. Cộng thêm giá trị khuyến mãi thì thực tế LS huy động của các NHTM nhà nước có phần còn cao hơn NHTM cổ phần.

Hiện theo sự đồng thuận thì các NHTM nhà nước huy động VND dưới trần 11,5% và chuyển các chi phí khuyến mãi trước đây vào LS huy động niêm yết, nhưng BIDV đang có chương trình “Tiết kiệm siêu khuyến mãi” kéo dài từ ngày 2.4.2010 đến 2.7.2010 đối với tiền gửi tiết kiệm VND và USD từ 12 tháng trở xuống. Ngoài mức LS cạnh tranh được cố định trong suốt thời gian gửi tối đa là 11,5%/năm đối với VND. Tham gia chương trình, khách hàng còn nhận ngay quà tương đương mức tặng LS lên tới 1,5%/năm đến 2,2%/năm. Như vậy, LS thực BIDV đang chào người gửi là 13%-13,7%/năm.

Với những chiêu thế này thì NHTM nhà nước cũng không kém cạnh gì các NHTM cổ phần trong cạnh tranh hút tiền gửi dân cư. Có lẽ rất khôn ngoan khi một NHTM nhà nước định hướng: Không đẩy LS cao mà vẫn huy động được vốn, bảo đảm thanh khoản và vẫn giữ vai trò “chủ nợ lớn” trên thị trường liên ngân hàng.

Hút khách hàng của NHTM cổ phần

Cho đến nay, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn là khách hàng chính của các NHTM nhà nước, nhưng cùng với tiến trình cổ phần hoá và những biểu hiện yếu kém, hạn chế của loại hình DN này trong kinh tế thị trường, các NHTM NN đã đẩy mạnh cơ cấu lại nền khách hàng theo hướng điều chỉnh nâng tỉ trọng khách hàng là DN nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân. Đối với DNNN chú trọng các DN được xếp hạng tín dụng từ A trở lên.

Một khi mặt bằng LS cho vay không chênh lệch lắm thì khách hàng khu vực tư nhân thường vay vốn NHTMCP, vì thủ tục đơn giản và được chăm sóc tốt hơn, nhưng khi LS có sự chênh lệch lớn thì đương nhiên họ chọn NHTM nhà nước.

Hiện các NHTMCP quy mô trung bình và nhỏ có khối lượng lớn vốn tiền gửi LS cao của dân cư và của các NH khác từ quý I đang rất lo lắng vì LS cho vay trên thị trường đang giảm dần. Những NH này không thể hạ LS cho vay được (lỗ), họ sẽ mất các khách hàng tốt sang tay các NHTM nhà nước và phải chấp nhận cho vay các khách hàng xấu với mức độ rủi ro cao hơn.

Không thể phủ nhận vai trò của các NHTM nhà nước trong việc bình ổn thị trường tiền tệ. Sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và NHNN cho các NH này cũng là để các NHTM nhà nước phát huy tốt được vai trò của mình.

Tuy nhiên, thông tin tốc độ tăng trưởng dư nợ của các NHTM nhà nước lớn hơn tốc độ tăng dư nợ và một số NHTM nhà nước trở thành con nợ của các NHTM cổ phần cũng là những cảnh báo về quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản và đảm bảo các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng của một số NHTM nhà nước đang có vấn đề.

Người ta cũng lo ngại về tỉ lệ các khoản nợ xấu của một số NHTM nhà nước cũng đang tăng mạnh. Lợi thế, nhưng không lạm dụng để biến thành nguy cơ rủi ro là điều các NHTM nhà nước nên chú ý.

Advertisements

April 28, 2010

Ngân hàng Nhà nước đang phạm luật?

Nếu cho rằng, với sự ra đời của Thông tư số 12 của Ngân hàng Nhà nước, pháp luật đã dỡ bỏ chế độ trần lãi suất và thiết lập hoàn toàn cơ chế lãi suất thoả thuận đối với các tổ chức tín dụng là không đúng.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư số 12/2010/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 14/4/2010 để hướng dẫn các tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay theo lãi suất thoả thuận. Theo đó, các TCTD thực hiện cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với “nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả“.

Những hệ lụy pháp lý

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết 23 ngày 06/11/2008 của Quốc hội thì những khoản cho vay ngoài cho vay sản xuất kinh doanh có hiệu quả và việc huy động vốn của TCTD vẫn phải tuân thủ chế độ trần lãi suất qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005.

Do vậy, việc NHNN chấm dứt hiệu lực thi hành của Quyết định số 16 và 33 năm 2008 của NHNN về cơ chế trần lãi suất không có nghĩa là qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 về trần lãi suất không còn hiệu lực thi hành đối với các TCTD.

Mặt khác, Thông tư số 12 qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh “có hiệu quả“. Nói cách khác, đối với các dự án, phương án không “có hiệu quả” hoặc không tính được hiệu quả thì vẫn phải thực hiện chế độ trần lãi suất cho vay.

Tuy nhiên, Thông tư số 12 chưa giải thích, hay nói cách khác, không hướng dẫn  tiêu chí cho việc đánh giá một dự án, phương án sản xuất-kinh doanh là có hay không có hiệu quả. Bởi vậy, dễ sinh ra tranh chấp hợp đồng tín dụng, dễ làm cho các TCTD phạm luật. Chẳng hạn, một dự án đầu tư  mang lại một tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 11,5 %/năm, lúc khác đã có thể được xem là “có hiệu quả“, nhưng lúc này thì chưa hẳn vì nếu không đầu tư mà đem tiền gửi vào ngân hàng cũng được một số lãi tương đương. Nên, nếu trừ chi phí cơ hội thì dự án  thành không có hiệu quả. Hoặc như khoản vay của các doanh nghiệp hiện tại đang làm ăn không có lợi nhuận, thua lỗ, …

Điều hết sức đáng lo ngại là Thông tư số 12 không tuân thủ Nghị quyết số 23 của Quốc hội khi Thông tư này qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với cả các nhu cầu vốn phục vụ đời sống. Các Nghị quyết của Chính phủ có liên quan  như Nghị quyết số 30 ngày 11/12/2008, Nghị quyết số 12 phiên họp Chính phủ thường ký tháng 2 năm 2009, Nghị quyết số 18 ngày 6/4/2010 đều chỉ đạo NHNN hướng dẫn các TCTD thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với “dự án sản suất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“, mà không có nghị quyết nào qui định NHNN cho phép các TCTD cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với nhu cầu vốn phục vụ đời sống.

Và gần đây khi chủ trì buổi làm việc tại NHNN ngày 20/4/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “NHNN chú ý chỉ đạo, hướng dẫn các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“.

Giải pháp hợp thức để tranh chấp không phát sinh

Nhưng, điều nguy hiểm là TCTD phải đối mặt với rủi ro về hợp đồng tín dụng vô hiệu do vi phạm pháp luật về lãi suất cho vay một khi khách hàng khởi kiện. Và, khách  hàng có  thể  kiện  bất cứ lúc nào vì Bộ luật dân sự năm 2005 không hạn chế về thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vi phạm pháp luật.

Điều này làm tăng khả năng mất an toàn hoạt động cho hệ thống các TCTD. Bởi vì, theo Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật (khoản 2 Điều 83) thì hướng dẫn  hay qui định của NHNN mà trái Nghị quyết của Quốc hội sẽ không có giá trị áp dụng.

Nếu cho rằng, thời điểm hiện nay là phù hợp để thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, chỉ có một cách duy nhất cho NHNN thực hiện được điều này mà không vi phạm pháp luật là NHNN ấn định lãi suất cơ bản ở mức đủ lớn để khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 không phát sinh tác dụng đối với các TCTD.

Chẳng hạn, NHNN chỉ cần ấn định lãi suất cơ bản mức 9%/năm trở lên và thực hiện các biện pháp hạ lãi suất mà NHNN lựa chọn thì sẽ không có trần lãi suất  trên thực tế đối với các TCTD.

Luật NHNN không qui định một sự ràng buộc nào về lượng giữa lãi suất cho vay của các TCTD với lãi suất cơ bản, và vì điều mà các TCTD thực sự quan tâm đó là lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu cũng như các điều kiện và mức độ NHNN thoả mãn nhu cầu của các TCTD về tín dụng từ NHNN.

Muốn cho trần lãi suất trở thành trần hình thức hay muốn dỡ bỏ chế độ trần lãi suất đối với các TCTD mà lãi suất cho vay của các TCTD không vượt mức mong muốn của NHNN thì vấn đề cốt lõi là NHNN phải thực hiện được cân bằng quan hệ cung cầu tín dụng ngân hàng tại mức lãi suất mong muốn của NHNN.

Để cân bằng cung cầu tín dụng ngân hàng, có nhiều cách. Trong đó có những cách mà NHNN đã công bố như tăng mức độ đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho các TCTD, … nhưng một trong các cách mà NHNN cần hết sức quan tâm là kiểm soát tốt, có hiệu qủa đối với chất lượng tín dụng của các TCTD.

Khi những ràng buộc pháp lý còn hiệu lực thì NHNN cũng như các TCTD cần định lượng những tiêu chí trong quá trình thực hiện Thông tư số 12 của NHNN  để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

March 25, 2010

Áp lực nguồn cung đè nặng cổ phiếu ngân hàng

Theo giới đầu tư, việc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn và kế hoạch niêm yết của một số ngân hàng đang gây ra nhiều lo ngại về nguồn cung quá lớn của cổ phiếu ngành này cùng những tác động tiêu cực của nó tới toàn thị trường chứng khoán.

Theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước thì đến ngày 31-3 các ngân hàng thương mại phải có báo cáo về kế hoạch và lộ trình tăng vốn lên mức tối thiểu là 3.000 tỉ đồng, và chậm nhất là ngày 31-12 các ngân hàng phải hoàn tất việc này. Hiện nay, vẫn còn 24 ngân hàng chưa đáp ứng đủ số vốn mà Ngân hàng Nhà nước yêu cầu, với tổng số lượng vốn gần 40.000 tỉ đồng.

Nhiều ngân hàng thông báo việc tăng vốn trong các đại hội cổ đông gần đây, và nhiều công ty cũng đã có kế hoạch lên sàn để hy vọng tăng thanh khoản cho cổ phiếu khi thị trường OTC rơi vào tình trạng ảm đạm, hầu như không có giao dịch.

Ngân hàng Miền Tây đã có thông báo chốt danh sách cổ đông để lưu ký chứng khoán vào ngày 2-4 và dự kiến sẽ niêm yết trong tháng 4. Theo đại diện của ngân hàng này, sau khi niêm yết sẽ phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ 1.000 tỉ đồng lên 2.000 tỉ đồng và đến cuối năm sẽ tăng lên 3.000 tỉ đồng.

Còn theo Ngân hàng Phương Đông (OCB), chủ trương niêm yết 200 triệu cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM đã được đại hội cổ đông thông qua nên trong năm nay sẽ chính thức lên sàn. Bên cạnh đó, OCB còn có kế hoạch tăng vốn lên 3.000 tỉ đồng vào năm nay.

Ngoài ra, Ngân hàng Nam Việt (Navibank), Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Nhà Hà Nội (Habubank), Ngân hàng Việt Nam Thương tín (Vietbank), Ngân hàng Kiên Long (Kienlongbank) cũng đang chuẩn bị lên sàn và phát hành cổ phiếu tăng vốn. Bên cạnh đó, các ngân hàng hiện đã niêm yết như Sacombank, Eximbank cũng đang có dự định phát hành cổ phiếu và chứng từ có giá để tăng vốn điều lệ trong năm nay.

Theo ông Lê Đạt Chí, Trưởng bộ môn Đầu tư tài chính, Đại học Kinh tế TPHCM thì việc các ngân hàng ồ ạt tính chuyện niêm yết và phát hành thêm cổ phiếu sẽ là một áp lực lớn lên chính các cổ phiếu này, cũng như các cổ phiếu trên sàn. Ông Chí cho rằng, từ cuối năm 2009 đến nay, ngành ngân hàng hoạt động trong điều kiện không mấy thuận lợi do chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, đã khiến cho cổ phiếu của ngành này không còn hấp dẫn. “Đơn cử là cổ phiếu STB của Sacombank và EIB của Eximbank. Có nhiều phiên thị trường tăng điểm nhưng các cổ phiếu này vẫn đứng hoặc giảm giá”, ông nói.

Theo ông Chí, nếu thêm một lượng cổ phiếu tương đương với hàng chục nghìn tỉ đồng lên sàn thì lượng cung cổ phiếu ngân hàng sẽ rất lớn. “Thêm vào đó, lợi nhuận phân phối cho cổ đông giảm xuống do vốn điều lệ tăng lên thì chắc chắn cổ phiếu ngân hàng trong năm nay sẽ khó có khả năng vực dậy”, ông nói thêm.

Trưởng phòng phân tích của một công ty chứng khoán cũng cho rằng việc nhiều ngân hàng tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu sẽ khiến nhiều cổ đông có cơ hội chọn lựa các cổ phiếu ngân hàng để đầu tư. Nhưng mặt bằng chung về tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng trên vốn điều lệ hiện không cao nên cổ phiếu của các ngân hàng khi lên sàn khó có thể đạt được mức giá cao khi so sánh với cổ phiếu các ngành khác như cao su, bất động sản…

Bên cạnh đó, việc phát hành cổ phiếu ồ ạt của các ngân hàng cũng sẽ khiến cho thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng, vị này nói thêm. Vì thị trường hiện nay đang được dẫn dắt bởi nhóm ngành tài chính, bất động sản, với khoảng 30% vốn hóa, trong đó cổ phiếu ngân hàng chiếm phần không nhỏ.

Ông này cho rằng khi lượng cổ phiếu ngân hàng quá nhiều cộng với các doanh nghiệp niêm yết khác cũng đã thông báo kế hoạch phát hành cổ phiếu thêm trong năm nay, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ đối đầu với lực cung rất lớn. “Điều đáng lo ngại là lượng cầu hiện không cao, cùng với những dự báo ít khả quan về thông tin vĩ mô trong năm nay, thì lượng cung lớn sẽ là một thách thức đối với sự đi lên của cổ phiếu và chỉ số VN-Index”, vị này nói thêm.

December 13, 2009

Central bank to purchase dollar reserves from state corporations

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:12 pm
Tags: , ,

VNBusinessNews.com – Vietnam’s seven largest state-owned corporations had made dollar deposits of about US$1.9 billion in local banks as of the end of November, and the central bank aims to purchase these, an official said.

Of the total figure, term deposits were recorded at around $1.2 billion while the remaining was in demand deposits, local news website VietNamNet quoted Nguyen Quang Huy, head of the central bank’s Foreign Exchange Management Department, as saying Thursday.

Huy said the State Bank of Vietnam would discuss with corporations the purchase their dollar reserves to make sure it is done effectively. He said the central bank would ensure they have enough dollars to meet their needs.

The government had recently asked state-owned corporations to sell their US dollars to ease a shortage of the currency. State Bank Governor Nguyen Van Giau said late last month that local companies, mostly state owned corporations, hold about $10.3 billion in US dollars.

Vietnam’s foreign exchange reserves fell in August to about $16.5 billion from $23 billion at the end of 2008, World Bank data showed in November.

February 14, 2009

Ngân hàng đẩy mạnh cho vay tiêu dùng

Filed under: ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 3:36 pm
Tags: , ,

2/13/09

(TBKTSG Online) – Sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận, các ngân hàng gần đây đã liên tục quảng bá về các sản phẩm cho vay tiêu dùng nhằm đẩy mạnh tín dụng cho mảng kinh doanh này sau một thời gian im ắng do cơ chế lãi suất. Kể từ giữa năm 2008, lãi suất cơ bản liên tục bị cắt giảm khiến trần lãi suất cho vay của các ngân hàng phải giảm xuống dần do quy định lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Do đó, hầu như các ngân hàng thương mại đều tạm dừng cho vay các khoản vay tiêu dùng hoặc siết chặt các điều kiện cho vay vì mức lãi suất lúc đó không thể bù đắp chi phí rủi ro cho các khoản vay này. Tuy nhiên, đến cuối tháng 1-2009, NHNN đã cho phép các ngân hàng thương mại áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận cho các khoản vay tiêu dùng, kể cả cho vay qua hình thức thẻ tín dụng và thấu chi trên tài khoản. Vì thế, từ đầu tháng 2, các ngân hàng đã lần lượt tung ra các chương trình cho vay tiêu dùng và không ít ngân hàng đặt mục tiêu phát triển mạnh mảng cho vay này trong năm nay. Ông Hồ Anh Ngọc, giám đốc Khối dịch vụ tài chính cá nhân phía Nam của Ngân hàng Techcombank, cho biết mặc dù nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn và các khoản vay tiêu dùng được xem là có rủi ro cao nhưng ngân hàng vẫn không thay đổi chính sách phát triển đối với mảng dịch vụ này. Lý do là Techcombank định hướng phát triển thành ngân hàng bán lẻ. Tuy nhiên, ông Ngọc cho biết trong tình hình kinh tế hiện nay, nhu cầu vay tiêu dùng cũng không tăng nhiều. “Từ đầu năm nay, số lượng người đến vay tiêu dùng tại Techcombank không thay đổi. Tuy nhiên, trong số đó có nhiều người đã hoàn trả nợ và có những khoản vay mới”, ông nói. Hiện hạn mức cho vay tín chấp tiêu dùng của Techcombank cao nhất là 200 triệu đồng và dư nợ của khối khách hàng cá nhân chiếm 30% tổng dư nợ của ngân hàng. Ông Đàm Thế Thái, giám đốc Khối khách hàng cá nhân của Ngân hàng An Bình, cho biết từ đầu tháng này ngân hàng cũng bắt đầu đẩy mạnh các sản phẩm cho vay tiêu dùng và có một số tín hiệu tốt khi thấy có khách hàng đến hỏi vay mua nhà. Ông nói An Bình trong năm nay sẽ cố gắng nâng dư nợ cho khối khách hàng cá nhân từ 40% hiện nay lên 50-60% tổng dư nợ của ngân hàng. Mới đây nhất là ngân hàng mới ra đời được 10 tháng, Liên Việt vừa thông báo ban hành sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp với tên gọi Best Consuming. Theo đó, khách hàng là cán bộ, nhân viên của các tổ chức, doanh nghiệp có thể vay vốn tại Liên Việt mà không cần tài sản bảo đảm và không cần bảo lãnh trả thay của công ty với hạn mức vay có thể lên đến 500 triệu đồng và thời hạn cho vay tối đa là 36 tháng. Lãi suất cho vay sẽ được tổng giám đốc ngân hàng quy định trong từng thời kỳ và theo cơ chế lãi suất thỏa thuận với mức thấp nhất là 1%/tháng. Ông Nguyễn Đức Hưởng, tổng giám đốc Ngân hàng Liên Việt nhận định: “Mặc dù tín chấp tiêu dùng chứa đựng nhiều rủi ro (không có tài sản đảm bảo) nhưng nếu quy định rõ ràng, cụ thể với quy trình quản lý chặt chẽ thì đây chính là thị trường đầy tiềm năng để các công ty tài chính và ngân hàng khai thác”. Bên cạnh sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp, hiện Liên Việt cũng đang áp dụng các sản phẩm tín dụng tiêu dùng có tài sản thế chấp như cho vay mua xe ô tô trả góp, cho vay mua nhà đất… cùng các sản phẩm tiêu dùng khác. Cuối tháng 1-2009, tín dụng tiêu dùng của Liên Việt chiếm 7% tổng dư nợ 3.000 tỉ đồng của ngân hàng. Các ngân hàng khác như ACB, Phương Đông, Đông Á, SeABank… hiện cũng muốn đẩy mạnh cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, lãi suất cho vay mảng này của các ngân hàng khác nhau tùy theo đối tượng và theo sản phẩm vay, lãi suất dao động ở mức 12-18%/năm.

February 9, 2009

Vietnam Treasury Plans to Sell $1.3 Bln Bonds, Bills in H1

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:57 pm
Tags: ,

VietBusinessNews – Vietnam’s State Treasury plans to auction VND22 trillion ($1.3 billion) worth of government bonds and bills in the first half this year, up 6% on quarter.

Between now and end-March, the treasury will sell VND12 trillion of bills and VND10 trillion of bonds, the treasury said in a statement Wednesday.

The treasury said it wants to raise funds for an economic-stimulus package. Last month, the treasury said it will triple the size of bonds sales to VND110 trillion ($6.508 billion) this year.

The Hanoi Securities Trading Center said in an emailed statement that it will auction VND1.5 trillion of two-, three-year bonds next Thursday (February 12).

Do Hoang Quynh Trang, a fixed-income trader at Hanoi-based Ocean Commercial Bank Joint Stock Bank forecast that yields will continue to go down after Vietnam central bank cut benchmark interest rate to 7% effective early this month.

Late last year, the government of Viet Nam announced a $6 billion economic-stimulus package to ward off the economic slowdown. It is urging banks to subsidize 4% interest rate of loans for local companies as part of the package to avert recession right in February, state media said. (TN)

Create a free website or blog at WordPress.com.