Ktetaichinh’s Blog

March 6, 2010

Ngân hàng: Ngoại lãi nhiều, nội lãi ít

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:38 am
Tags: ,
Điều gì đã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài?

Gần đây những chiếc máy rút tiền tự động ATM của các ngân hàng ngoại như ANZ, HSBC xuất hiện ngày càng nhiều trong khu vực trung tâm Tp.HCM. Không giống như trước, máy ATM của ngân hàng ngoại chỉ được đặt ở cạnh hội sở chính, bây giờ họ có thể đặt ở nhiều nơi.

Cùng với việc mở rộng mạng lưới, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài dần lấn lướt các đồng nghiệp nội địa, đặc biệt trong tăng trưởng lợi nhuận, họ đang để sau lưng một khoảng cách khá xa với các ngân hàng cổ phần.

Năm ngoái, theo thống kê của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Tp.HCM, các ngân hàng nước ngoài trên địa bàn có mức tăng trưởng lợi nhuận tới 168,3% so với năm 2008, với con số tuyệt đối 3.517 tỉ đồng (1.311 tỉ đồng năm 2008).

Trong khi đó tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng cổ phần chỉ có 20,3%, từ 4.988 tỉ đồng năm 2008 lên 5.999 tỉ đồng năm 2009.

Các ngân hàng cổ phần hối hả cho vay, hối hả nâng lãi suất huy động để cạnh tranh lẫn nhau và hối hả phát triển tín dụng. So với cuối năm 2008, năm vừa qua tăng trưởng tín dụng của khối cổ phần nhảy lên 59,9%, mức tăng mạnh nhất trong số các ngân hàng. Còn các ngân hàng nước ngoài vẫn “bình chân như vại” trong mảng tín dụng. Họ dường như không quan tâm lắm đến nâng dư nợ cho vay. Kết quả là tăng trưởng tín dụng của họ năm ngoái âm – 0,66%.

Vậy điều gì đã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài? Ở một ngân hàng nước ngoài lớn, trong cơ cấu lợi nhuận 40% là kinh doanh ngoại hối và trái phiếu; thu phí thanh toán xuất nhập khẩu và các phí khác của khách hàng doanh nghiệp chiếm 20%; cho vay tiêu dùng cá nhân cộng dịch vụ 20%, dịch vụ khác chiếm tỷ trọng còn lại. Ở một số ngân hàng nước ngoài khác, lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ và ngân quỹ cũng chiếm 40% lợi nhuận.

Rõ ràng, dịch vụ ngoại hối và phí mới là nguồn lợi nhuận chính của ngân hàng nước ngoài. Khi mà ngân hàng nội địa bị ràng buộc bởi hàng loạt các quy định hành chính liên quan đến kinh doanh ngoại tệ, không thể lách luật, thì ngân hàng nước ngoài tỏ ra linh hoạt.

Suốt một thời gian dài họ mua bán Đô la Mỹ với doanh nghiệp thông qua một ngoại tệ thứ ba để đạt được tỷ giá mong muốn và khi Ngân hàng Nhà nước cấm nghiệp vụ này, họ vẫn sử dụng ngoại tệ thứ ba thông qua một ngân hàng thứ ba.

Thí dụ doanh nghiệp XYZ muốn mua Đô la Mỹ của họ, thì đầu tiên doanh nghiệp đó phải mua Euro của ngân hàng nội địa XYZ với một tỷ giá thỏa thuận. Họ bán Euro cho ngân hàng XYZ để XYZ bán cho doanh nghiệp. Có Euro rồi, doanh nghiệp bán lại cho họ cũng theo giá thỏa thuận vào ngày hôm sau, làm sao tương ứng với sự chênh lệch của Đô la Mỹ (giữa giá niêm yết của ngân hàng và giá thị trường tự do) mà họ bán cho doanh nghiệp. Trên hợp đồng, giá mua bán Đô la vẫn tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước, nhưng trên thực tế, sau một sự lòng vòng, giá thực mua – bán đã khác nhiều.

Ngoài ra một số ngân hàng nước ngoài áp dụng phí ngoại tệ linh hoạt (flexible fees) khi doanh nghiệp chuyển khoản ra nước ngoài, mở L/C, bảo lãnh… Với các công ty đa quốc gia, việc đưa ra các mức phí càng thuận lợi hơn, nhất là khi các công ty này nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu, triển khai dự án đầu tư.

Không phải ngẫu nhiên, các công ty của nước nào thì thường giao dịch với ngân hàng của nước ấy mở ở Việt Nam. Chẳng hạn các công ty Hàn Quốc giao dịch với ngân hàng Hàn Quốc, Đài Loan với Đài Loan, Pháp với Pháp, Úc với Úc… Ngân hàng trong nước không thể “bắt chước” cách kinh doanh ấy của ngân hàng nước ngoài vì nếu làm vậy có thể bị thanh tra, kiểm tra liên tục.

Tuân thủ đúng quy định, ngân hàng nội khó tìm lợi nhuận từ kinh doanh ngoại hối. Một khi giá mua bán Đô la Mỹ chuyển khoản và tiền mặt luôn kịch trần và bằng nhau, các ngân hàng cổ phần chỉ còn cách giới thiệu các doanh nghiệp với nhau để tự thương lượng. Hậu quả là doanh thu kinh doanh ngoại tệ năm 2009 của nhiều ngân hàng cổ phần sụt giảm mạnh, có ngân hàng thậm chí lỗ ở mảng này.

Lợi nhuận từ dịch vụ thấp, ngân hàng cổ phần lao vào tín dụng. Cho vay chỉ cung cấp 20% cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài, nhưng lại chiếm đến 75-80% lợi nhuận của ngân hàng nội. Sự lệch pha đó dẫn đến sự lệch pha về chất lượng tín dụng của hai khối.

Năm 2009 tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng nước ngoài ở Tp.HCM chỉ chiếm 0,63% tổng dư nợ. Tuy nhiên với ngân hàng cổ phần, tỷ lệ này là 1,39%, gấp hơn hai lần tỷ lệ của ngân hàng nước ngoài. Còn so với ngân hàng quốc doanh, nơi nợ xấu chiếm 2,02% tổng dư nợ, thì tỷ lệ nợ xấu của nước ngoài chỉ bằng một phần ba.

Cùng một môi trường kinh doanh như nhau, cùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô như nhau, vì sao ngân hàng ngoại lãi nhiều, ngân hàng nội lãi ít? Phải chăng sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ấy chỉ thuần túy do ngân hàng nước ngoài nhiều kinh nghiệm, công nghệ cao hay đằng sau đó còn là sự quản lý ở mức độ khác nhau đối với tổ chức tín dụng nội và ngoại của Ngân hàng Nhà nước?

Advertisements

January 14, 2010

Ngân hàng lớn nhất khu vực mở chi nhánh ở VN

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:29 pm
Tags:

DBS hiện có mặt trên 16 thị trường, với mạng lưới gồm hơn 200 chi nhánh và hơn 1.000 máy ATM ở 50 thành phố trong khu vực.

DBS, ngân hàng lớn nhất Đông Nam Á có trụ sở chính đặt tại Singapore, vừa thông báo sẽ mở chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh đầu tiên của DBS ở Việt Nam ngay trong năm nay sau khi được cấp phép.

Giấy phép mở chi nhánh DBS TP. Hồ Chí Minh được trao cho DBS trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long, với sự chứng kiến của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

Phát biểu nhân sự kiện này, đại diện của DBS cho hay, việc thiết lâp chi nhánh ở Việt Nam sẽ tăng cường phát triển mạng lưới của DBS ở Châu Á. Mặt khác, Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cũng giúp DBS hỗ trợ các khách hàng Singapore khi họ mở rộng kinh doanh ở nước ngoài và đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của doanh nghiệp Việt Nam về dịch vụ ngân hàng Châu Á.

Khởi đầu, Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh của DBS sẽ tập trung hỗ trợ nhu cầu tài chính của các doanh nghiệp Singapore và các doanh nghiệp ở Châu Á có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Các doanh nghiệp này sẽ có cơ hội tiếp cận với hệ thống dịch vụ toàn diện bao gồm tín dụng, tài trợ thương mại, quản lý tiền mặt và tư vấn ngân quỹ. Sau đó, chi nhánh sẽ phát triển thêm các dịch vụ phục vụ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ.

DBS cũng sẵn sàng hỗ trợ các công ty Việt Nam trong các lĩnh vực tài trợ thương mại, thanh toán và thị trường vốn. Ví dụ, khi các công ty Việt Nam mở rộng quy mô ra khu vực, nhiều công ty sẽ tăng cường tìm kiếm khả năng tiếp cận với nguồn tài trợ từ thị trường vốn nước ngoài. Với tư cách là một ngân hàng có kinh nghiệm hoạt động lâu năm trên thị trường vốn, DBS là địa chỉ tin cậy để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam khi họ có nhu cầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Singapore.

Ngoài ra, DBS sẽ sử dụng những kinh nghiệm thương mại và mối quan hệ trong khu vực như một đòn bẩy hỗ trợ khách hàng hoạt động ở Việt Nam giải quyết những nhu cầu tài chính thường nhật.

Ngân hàng DBS hiện có nhiều khách hàng lớn có vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp đáng kể vào Việt Nam. Ước tính, đến cuối tháng 11/2009, các công ty Singapore đã đầu tư hơn 760 dự án vào Việt Nam, với tổng vốn đầu tư lên tới 17 tỷ USD. Trong số này, nhiều công ty là khách hàng lâu năm của DBS và mong muốn sử dụng cùng một hệ thống dịch vụ ngân hàng cho các hoạt động kinh doanh giữa Singapore và Việt Nam.

Hiện tại, DBS đã có văn phòng đại diện tại Hà Nội, được khai trương vào tháng 7/2008, nhằm hỗ trợ phát triển mảng dịch vụ ngân hàng bán buôn của DBS. Đây là một trong những tập đoàn dịch vụ tài chính lớn nhất ở Châu Á và là ngân hàng hàng đầu về dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp, ngân quỹ, quản lý tài sản, môi giới chứng khoán, huy động vốn trên thị trường chứng khoán và thị trường vốn.

DBS hiện có mặt trên 16 thị trường, với mạng lưới gồm hơn 200 chi nhánh và hơn 1.000 máy ATM ở 50 thành phố trong khu vực.

January 5, 2010

Ngân hàng ngoại nửa mừng, nửa lo

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:57 am
Tags:
Với các tổ chức tín dụng nước ngoài, nếu những con số thống kê 2009 như một liều thuốc an thần thì viễn cảnh tương lai gần lại có thể như một cơn ác mộng.

Vui cứ vui…

Khuôn mặt của Tổng giám đốc Ngân hàng Standard Chartered tại Việt Nam Ashok Sud như giãn ra sau một ngày làm việc căng thẳng. Khác hẳn với phong thái thường ngày, trong bộ trang phục hơi “bụi”, ông nở nụ cười thoả mãn khi được hỏi về kết quả kinh doanh của Ngân hàng năm 2009. “Tốt và quan trọng là tốt hơn năm trước”.

Năm nay, Ngân hàng Standard Chartered có nhiều thứ để vui. Không những mở rộng được phân khúc ngân hàng bán lẻ, mà với các đối tượng khách hàng doanh nghiệp lớn, họ đã “quyến rũ” được những khách hàng lớn, kể cả Tổng công ty Xi măng Việt Nam, những doanh nghiệp mà trước đây “đương nhiên” là khách hàng của khối ngân hàng thương mại nhà nước.

Nhiệm kỳ của ông tại Việt Nam, sẽ kết thúc vào cuối năm 2010, đang “xuôi chèo mát mái”.

Cũng giống như Standard Chartered, khối tổ chức tín dụng năm nay có thể xoa tay hài lòng. Trong 10 tháng đầu năm 2009, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổng mức lợi nhuận trước thuế của các tổ chức tín dụng nước ngoài đạt 2.947 tỷ đồng, tức là gấp đôi mức 1.418 tỷ đồng của 10 tháng đầu năm 2008.

Nhìn vào mức tăng trưởng 100% này, bà Dương Thu Hương, Chủ tịch Hiệp hội Ngân hàng rất ấn tượng và thừa nhận rằng các tổ chức tín dụng nước ngoài làm ăn khá bài bản và chuyên nghiệp. Nhìn vào con số tuyệt đối, tổng số lãi của khối tổ chức tín dụng nước ngoài có thể chưa bằng một ngân hàng cỡ lớn của Việt Nam, nhưng tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ thể hiện xu hướng chiếm lĩnh thị trường của khối này.

“Quy tắc kinh doanh chặt chẽ theo mô hình của ngân hàng mẹ, nên tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng nước ngoài rất thấp”, bà Hương nhận định.

Quả thực, tỷ lệ nợ xấu của khối ngoại là dưới 1%, thấp hơn khá nhiều mức bình quân thị trường ngân hàng là trên 2%.

Đóng góp rất lớn vào sự phát triển của các tổ chức tín dụng nước ngoài, theo bà Hương là sự tăng trưởng liên tục trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. “Các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu sử dụng dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam”.

…lo cứ lo

Bỏ lại sau lưng những thành công quá khứ, khi nhìn nhận về thị trường trong 2010 và các năm tiếp theo, ông Ashok Sud tỏ ra một chút quan ngại về việc cơ quan quản lý có khả năng “siết” hoạt động tín dụng của các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ngoại.

Trong dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng mới, Điều 128 đã siết chặt quy định cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng nước ngoài. Theo đó, đối với một khách hàng, các chi nhánh và ngân hàng nước ngoài chỉ được phép cho vay không quá 15% vốn điều lệ đăng ký tại Việt Nam, thay vì 15% vốn điều lệ của ngân hàng mẹ tại chính quốc.

Điều này được dự báo rằng sẽ gây ít nhiều khó khăn, đặc biệt cho các chi nhánh ngân hàng nước ngoài với số vốn điều lệ tại Việt Nam đa số ở mức 15 triệu USD kể từ năm 2011.

“Điều này có thể ảnh hưởng tới các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và có lẽ NHNN nên cân nhắc lộ trình áp dụng”, ông Ashok Sud bình luận.

Qua nhiều lần góp ý trong quá trình xây dựng dự thảo Luật các tổ chức tín dụng, các ngân hàng nước ngoài đều tập trung vào điểm 128 này. Tuy nhiên, tại Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức hồi đầu tháng 12/2009, phản hồi của NHNN có thể khiến nhiều ngân hàng nước ngoài phải thất vọng.

Tuy nhiên, nhìn từ quan điểm của NHNN cũng có thể thấy sự hợp lý của quyết định này. Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ được đối xử bình đẳng với các ngân hàng trong nước kể từ năm 2011 (được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ dân cư), do đó sẽ phải chịu sự giám sát, quản lý như các ngân hàng trong nước.

Thêm vào đó, trong hoàn cảnh thị trường tài chính thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, quản lý chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo vốn điều lệ của ngân hàng mẹ không phải là một cách “nắm đằng chuôi”. Quản lý theo vốn điều lệ đăng ký tại Việt Nam là một cách “an toàn” nhất, giống như việc quản lý các công ty bảo hiểm nước ngoài. Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có một lựa chọn mở là tăng vốn tại Việt Nam.

Bình luận về điều này, một lãnh đạo ngân hàng thương mại cổ phần cho biết, thực ra các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có nhiều cách để cho vay, như cho vay hợp vốn hoặc thu xếp cho chi nhánh ngân hàng tại các quốc gia khác cho khách hàng Việt Nam vay vốn.

Tuy nhiên, dù có thể xoa tay hài lòng với các kết quả kinh doanh trong những năm qua, các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn có lý do để mà lo ngại khi điều kiện cho vay vốn được siết chặt hơn.

Theo Vũ Giang

December 29, 2009

Foreign banks expand presence in Vietnam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:17 am
Tags:

VNBusinessNews.com – Many foreign banks have joined up with local partners to expand their presence in Vietnam’s market in addition to opening more branches and introducing new products.

ANZ Vietnam has linked up with the Vietnam Post Corporation (VNPost) and the Bank for Agriculture and Rural Development of Vietnam (Agribank) to enable collection and payment services to be made at their branches nationwide.

Working in conjunction with VNPost and Agribank will help ANZ to offer its banking services at nearly 2,000 of VNPost’s post offices and 2,200 of Agribank’s branches and transaction centres.

Earlier, HSBC Vietnam had signed a cooperation agreement to integrate its banking services with VNPost’s system. HSBC has also recently made an agreement with VNPost to provide a premium collecting service for the Bao Viet Life Insurance Corporation. Ha Tay has been chosen for the pilot run in 2010 and will later be expanded to other localities so Bao Viet Life’s customers can pay their premiums at any post office nationwide.

According to Thomas Tobin, HSBC Vietnam’s General Director, this will help it to provide customers with a more convenient service.

Following their successful liaison with Bao Viet Life Insurance Corporation, more businesses can now collect and pay regular charges or fees such as rents, telephone charges and water bills using the new service, said Tonbin.

Meanwhile, ANZ Vietnam’s General Director Dam Bich Thuy stressed the importance of capital management in businesses that have to collect regular large-scale fees. ANZ Vietnam is developing the service to help firms manage their finances more efficiently.

VNPost’s General Director Do Ngoc Binh said that cooperating with ANZ and HSBC will enable his firm to learn from their partners’ state of the art monetary management, ensuring more effective management when collecting and paying fees.

December 22, 2009

Khó khăn nhưng ngân hàng nước ngoài vẫn “hốt bạc”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:48 am
Tags:

Monday, 21. December 2009, 16:18:51

Dẫu năm 2009 đầy khó khăn đối với ngành tài chính ngân hàng, các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam vẫn hoạt động an toàn, hiệu quả và làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường và doanh nghiệp Việt Nam.

Kể từ khi Việt Nam mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng đến nay, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng nước ngoài có mặt tại thị trường Việt Nam ngay từ đầu những năm 1990, sau khi hệ thống ngân hàng Việt Nam được phân thành hai cấp, với hai loại hình: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh.

Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 đã cho phép thêm một hình thức hiện diện thương mại mới, đó là ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Sự xuất hiện thêm loại hình ngân hàng mới này đã làm tăng tính hấp dẫn và phong phú cho thị trường tài chính Việt Nam, nhưng cũng thêm một thách thức đối với các ngân hàng thương mại trong nước.

Tính đến nay, có 45 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (NHNNg) được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam, trong đó có một số ngân hàng nước ngoài có 2 chi nhánh độc lập, 5 ngân hàng liên doanh với hơn 20 chi nhánh phụ thuộc.

Ngoài ra, thực hiện các cam kết với WTO, Ngân hàng Nhà nước đã cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, đó là Ngân hàng HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan và Hong Leong. Hầu hết, các ngân hàng nước ngoài đều mở chi nhánh tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, còn có trên 50 văn phòng đại diện của các tổ chức tín dụng (TCTD). Nhìn chung, các ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện NHNNg đang hoạt động tại Việt Nam đóng vai trò là cầu nối thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Trong năm 2009, cũng như các ngân hàng mẹ ở nước ngoài, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, các TCTD nước ngoài tại Việt Nam vẫn hoạt động an toàn, hiệu quả và làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường và doanh nghiệp Việt Nam.

Đến cuối tháng 10/2009, nguồn vốn huy động của các TCTD nước ngoài tại Việt Nam tăng 17,8%, tổng dư nợ tín dụng tăng 14%, tổng tài sản có tăng 14,9% so với cuối năm 2008; tỷ lệ nợ xấu chiếm dưới 1% trong tổng dư nợ. Về cơ bản, các TCTD nước ngoài luôn đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động và trích lập dự phòng rủi ro đúng quy định, có ý thức tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Hầu hết các TCTD nước ngoài đều hoạt động có lãi (chênh lệch thu chi lũy kế của các ngân hàng nước ngoài đến cuối tháng 10/2009 đạt 2.947,5 tỷ đồng). Do hoạt động của các chi nhánh NHNNg thuần tuý là vì mục tiêu lợi nhuận, không phải thực hiện việc cho vay chính sách nên nợ quá hạn rất thấp, dư nợ tăng trưởng lành mạnh. Bên cạnh đó, các chi nhánh NHNNg còn được ngân hàng mẹ hỗ trợ nhiều mặt nên càng có điều kiện để mở rộng cho vay

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng trưởng 2 con số

Trong năm 2009, hoạt động kinh doanh của một số chi nhánh NHNNg cũng gặp khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, thu nhập trước thuế của các ngân hàng này vẫn đạt 2.612 tỷ VND; nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng khá (tăng 17,8% và 10,8% so với cuối năm 2008); tỷ lệ nợ xấu chiếm 0,6% tổng dư nợ, tăng so với tỷ lệ của cuối năm 2008 (0,47%), nhưng vẫn ở mức thấp so với các nhóm ngân hàng khác; tổng tài sản có tăng 14% so với cuối năm 2008.

Về dịch vụ thanh toán, các chi nhánh NHNNg thường đến từ những nước phát triển, nơi mà hệ thống ngân hàng tài chính cũng đạt đến trình độ phát triển tương đối cao nên hoạt động của các chi nhánh này tại Việt Nam cũng được thừa hưởng những ưu thế đó. Điều này được thể hiện rõ qua các loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, chất lượng dịch vụ cũng như thái độ phục vụ khách hàng. Các chi nhánh NHNNg thường tiên phong trong việc áp dụng công nghệ hiện đại, giới thiệu sản phẩm dịch vụ mới. Do vậy, có thể nói các chi nhánh NHNNg thường chiếm ưu thế trong các dịch vụ thanh toán và hoạt động phi tín dụng.

Về khả năng sinh lợi của các chi nhánh NHNNg, nhìn chung, cao hơn so với các ngân hàng trong nước do các ngân hàng này sử dụng vốn được cấp và vốn vay tương đối hiệu quả, mức rủi ro thấp. Bên cạnh đó, các ngân hàng này còn có nguồn thu đáng kể từ các hoạt động phi tín dụng, mảng hoạt động còn yếu của các ngân hàng Việt Nam hiện nay.

Cầu nối hút vốn đầu tư nước ngoài

Về hoạt động của các văn phòng đại diện NNHNg tại Việt Nam, trong thời gian qua, các văn phòng này đã đóng vai trò là cầu nối quan trọng cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời cũng hỗ trợ khách hàng của ngân hàng mẹ trong việc nghiên cứu thị trường nhằm cải thiện môi trường đầu tư và thiết lập quan hệ với các chủ thể kinh tế Việt Nam.

Các văn phòng đại diện này cũng có những hỗ trợ đáng kể đối với Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp Việt Nam như đào tạo cán bộ, tổ chức hội thảo, cung cấp một số luật nước ngoài liên quan để Ngân hàng Nhà nước tham khảo trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, giới thiệu các kỹ năng ngân hàng hiện đại, cải thiện quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nhìn chung, các văn phòng đại diện NHNNg đều nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Việt Nam và các quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Đối với các ngân hàng liên doanh, hoạt động của nhóm ngân hàng này tăng trưởng khá ổn định, trong đó nguồn vốn huy động tăng 18,2%, dư nợ tín dụng tăng 34,3% so với cuối năm 2008, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,8% tổng dư nợ, tổng tài sản có tăng 18,3%, thu nhập trước thuế đạt 477 tỷ VND. Mạng lưới hoạt động của các ngân hàng này tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, sản phẩm và dịch vụ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm truyền thống.

Có thể nói các NHNNg đang có một môi trường hoạt động tương đối thuận lợi và có nhiều triển vọng, sẽ đầu tư và tham gia nhiều hơn vào thị trường tài chính Việt Nam thông qua các sản phẩm mới, cung cấp dịch vụ ngân hàng hiện đại với những thông lệ và chuẩn mực quốc tế, góp phần xây dựng một nền tài chính – ngân hàng phát triển toàn diện, vững mạnh tại Việt Nam.

theo chinhphu.vn
Việt Báo (Theo_VnMedia

Create a free website or blog at WordPress.com.