Ktetaichinh’s Blog

April 9, 2010

Trung Quốc làm lệch sự cân bằng tài nguyên

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:10 pm
Tags: , ,
Khi Mỹ và các nước phương Tây khác phục hồi từ cuộc suy thoái lớn, họ sẽ khám phá rằng bàn cờ tài nguyên toàn cầu đã bị nghiêng mạnh về phía TQ.

Hãy nghĩ về nó như một câu chuyện của hai nước. Khi nói đến việc mua sắm các nguồn lực để xã hội công nghiệp hoạt động, Trung Quốc hiện là nước nghiện mua sắm nhất trên hành tinh, trong khi Hoa Kỳ chỉ ở nhà.

Bị ảnh hưởng mạnh do suy thoái toàn cầu, Hoa Kỳ có kinh nghiệm trong việc giảm tiêu thụ dầu hỏa và các vật liệu công nghiệp quan trọng khác. Trung Quốc thì khác.

Do tác động của suy thoái kinh tế ở Mỹ sẽ kéo dài trong nhiều năm, các nhà phân tích tiên đoán sự phục hồi chậm khi nói đến việc tiêu thụ tài nguyên. Trung Quốc không phải như vậy.

Thật vậy, người Trung Quốc đã có kinh nghiệm trong việc tăng mạnh sử dụng nguồn dầu và các nguồn hàng hóa khác.

Hơn thế nữa, lường trước được việc tiêu thụ thật nhiều tài nguyên để thúc đẩy tăng trưởng trong tương lai, và lo lắng về việc không biết có đủ các nguồn tài nguyên cung cấp, các công ty năng lượng khổng lồ của Trung Quốc và các công ty sản xuất – nhiều công ty đó thuộc sở hữu nhà nước – đã thực việc chi tiêu quá mức, khi phải đóng các nguồn cung cấp tài nguyên trong thế kỷ 21.

Họ đã mua các mỏ dầu, trữ lượng khí đốt tự nhiên, hầm mỏ, đường ống, nhà máy lọc dầu, và các nguồn tài nguyên khác trong một cuộc mua sắm bận rộn trên toàn cầu với tỷ lệ gần như chưa từng thấy.

Như đa số các quốc gia khác, Trung Quốc chịu một số ảnh hưởng xấu do suy thoái kinh tế mạnh trong năm 2008. Xuất khẩu giảm và việc tăng trưởng kinh tế bùng nổ trước đó, đã bị chậm lại so với mức kỷ lục. Tuy nhiên, cảm ơn gói kích cầu $586 tỉ đô la, những ảnh hưởng tồi tệ nhất chỉ tồn tại trong thời gian ngắn đã được chứng minh và tăng trưởng nhanh sớm trở lại với nhịp độ cao như trước đây.

Từ đầu năm 2009, Trung Quốc đã có kinh nghiệm về những bước nhảy quan trọng liên quan tới quyền sở hữu xe hơi và xây dựng nhà – cùng với những lo ngại về việc tạo ra bong bóng nhà ở – trong các dấu hiệu về sự thịnh vượng quay trở lại. Điều này lần lượt tạo ra một nhu cầu gia tăng trong việc sử dụng dầu, thép, đồng, và các vật liệu thô khác.

Chẳng hạn như dầu hỏa, tại Hoa Kỳ, thực tế việc tiêu thụ dầu đã giảm 9% trong hai năm qua, từ 20,7 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2007 còn 18,8 triệu thùng mỗi ngày năm 2009. Ngược lại, lượng dầu tiêu thụ ở Trung Quốc đã tăng trong cùng kỳ, từ 7,6 triệu thùng mỗi ngày lên tới 8,5 triệu thùng.

Theo các dự báo mới nhất từ Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, điều này là bình thường. Nhu cầu sử dụng dầu của Trung Quốc dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng trong suốt thời gian còn lại của năm nay và năm 2011, ngay cả khi lượng dầu tiêu thụ của người Mỹ không thay đổi.

Cũng như Hoa Kỳ, Trung Quốc mua một số dầu nhất định từ các giếng dầu trong nước, nhưng phải mua phần gia tăng từ các nhà cung cấp nước ngoài. Trong năm 2007, nước này sản xuất 3,9 triệu thùng mỗi ngày và nhập khẩu 3,7 triệu thùng, nhưng tỷ lệ đó đang thay đổi rất nhanh.

Đến năm 2020, được dự kiến chỉ sản xuất 3,3 triệu thùng, trong khi nhập khẩu 9,1 triệu thùng. Tình hình này cho thấy có “lỗ hổng chiến lược”, và do đó làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc gặp nhiều khó khăn.

Để giải quyết, cũng như các viên chức Mỹ trong hàng thập kỷ qua, họ đã đi tới việc giành quyền kiểm soát các nguồn năng lượng nước ngoài – và nhiều vật liệu tương tự quan trọng khác, bao gồm cả khí tự nhiên, sắt, đồng, và uranium.

Trung Quốc lạm dụng năng lượng

Các công ty năng lượng Trung Quốc bắt đầu mua lại các công ty nước ngoài và liên doanh khoan dầu (hoặc ít nhất mua cổ phần trong các các công ty này) ngay đầu thế kỷ 21. Ba tổng công ty dầu thuộc sở hữu nhà nước – Tổng Công ty Dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC), Tập đoàn Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) và Công ty cổ phần Dầu mỏ hóa chất Trung Quốc (Sinopec) – đã dẫn đầu.

Những công ty này hoặc các công ty con có một phần vốn tư nhân như PetroChina thuộc CNPC và Công ty TNHH Quốc tế CNOOC thuộc Tập đoàn CNOOC – đã bắt đầu chiếm hết tài sản năng lượng nước ngoài tại Angola, Iran, Kazakhstan, Nigeria, Sudan và Venezuela.

Nhìn chung, những việc mua bán này vẫn còn ít so với các công ty khổng lồ phương Tây như ExxonMobil, Chevron, Royal Dutch Shell và BP. Tuy nhiên, nó đại diện cho một cái gì đó mới: sự hiện diện của một Trung Quốc phát triển trong vũ trụ đã từng bị các “công ty lớn ” phương Tây thống trị.

Sau đó, cuộc suy thoái mạnh đã xảy ra. Kể từ năm 2008, các công ty phương Tây hầu như đã miễn cưỡng đầu tư lớn vào các liên doanh dầu mỏ nước ngoài, do sợ suy thoái kéo dài sẽ giảm doanh số bán hàng toàn cầu. Tuy nhiên, các công ty Trung Quốc đã gia tăng các nỗ lực mua bán của họ.

Các quan chức chính phủ cao cấp đã thúc giục họ, những quan chức này đã thấy tầm quan trọng trong việc mua lại các nguồn tài nguyên có giá trị quyết định cho tương lai bị đói năng lượng với giá hạ.

Ông Zhang Guobao, người đứng đầu Tổng cục Năng lượng đã khẳng định hồi đầu năm 2009: “Cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế … có cùng một cơ hội và thử thách như nhau. Sự [phát triển kinh tế] chậm lại … đã giảm giá các nguồn tài nguyên năng lượng quốc tế và giúp chúng tôi tìm kiếm các nguồn tài nguyên ở nước ngoài”.

Như một vấn đề về chính sách, chính phủ Trung Quốc đã làm việc cực nhọc để tạo điều kiện kiểm soát các nguồn năng lượng nước ngoài. Ngoài những thứ khác, họ đã cho các công ty tài nguyên lớn của Trung Quốc vay dài hạn với lãi suất thấp, để tìm kiếm việc làm ăn ở nước ngoài, cũng như chính phủ nước ngoài sẵn sàng cho phép các công ty Trung Quốc tham gia vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của họ.

Chẳng hạn như năm 2009, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) đã đồng ý cho CNPC vay $30 tỉ đô la trong thời hạn 5 năm để hỗ trợ nỗ lực của công ty mua các tài sản ở nước ngoài. Tương tự, CDB đã cho công ty Petrobras, công ty dầu do chính phủ Brazil kiểm soát, vay 10 tỷ USD để phát triển mỏ dầu sâu ngoài khơi, đổi lại là một lời hứa cung cấp cho Trung Quốc 160.000 thùng dầu thô Brazil mỗi ngày.

Bị kích thích theo cách này với dòng tiền mặt bất tận quay trở lại, CNPC và các công ty khổng lồ khác của Trung Quốc đã đi vào một cuộc nghiện [mua sắm] toàn cầu, mua lại tài nguyên của mỗi loại [hàng hóa] tưởng tượng với số lượng đáng kinh ngạc ở Trung Á, châu Phi, Trung Đông, và châu Mỹ Latinh . Một phần danh sách của các hợp đồng quan trọng hơn gần đây bao gồm:

– Tháng 4 năm 2009, CNPC đã liên doanh với Kazmunaigas, công ty dầu thuộc sở hữu nhà nước của đất nước giàu năng lượng ở Trung Á Kazakhstan, để mua công ty năng lượng Kazakh, Công ty Liên doanh Mangistaumunaigas (MMG), với giá $3,3 tỉ đô la. Đây chỉ là các hợp đồng mới nhất trong một loạt các thỏa thuận cho Trung Quốc quyền kiểm soát hơn ¼ sản lượng dầu đang tăng của Kazakhstan. Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc đã cho vay $5 tỉ đô la để đầu tư vào dầu trong hợp đồng mới nhất này.

– Tháng 10 năm 2009, một liên doanh giữa CNPC và BP đã giành một hợp đồng khai thác giếng dầu Rumaila ở Iraq, có thể đây là một trong những giếng dầu lớn nhất thế giới ở đất nước có trữ lượng dầu lớn thứ ba trên thế giới.

Theo hợp đồng này, liên doanh sẽ đầu tư $15 tỉ đô la để tăng sản lượng hàng ngày của Rumaila từ 1,1 triệu-2,8 triệu thùng, tăng gấp đôi sản lượng ròng của Iraq. CNPC nắm 37% cổ phần; BP 38% cổ phần và chính phủ Iraq nắm 25% cổ phần còn lại.

Nếu liên doanh thành công, Trung Quốc có quyền sử dụng một trong những nguồn dầu khí có nhiều hứa hẹn trong tương lai nhất thế giới và là nền tảng để tham gia vào ngành công nghiệp dầu kém phát triển của Iraq.

– Tháng 11 năm 2009, Sinopec đã liên doanh với công ty Petroecuador, công ty thuộc sở hữu nhà nước Ecuador, một liên doanh 40:60 (Petroecuador nắm giữ phần nhiều hơn) để khai thác hai mỏ dầu ở phía đông tỉnh Pastaza của Ecuador. Sinopec trở thành nhà sản xuất chính ở Ecuador, đã liên doanh với CNPC để mua tài sản năng lượng của Ecuador thuộc tập đoàn EnCana của Canada hồi năm 2005 với giá $1,4 tỉ.

– Tháng 12 năm 2009, CNPC đã mua một phần của Boyaca 3 lô đất có dầu ở vành đai Orinoco, một khoản tiền lớn bỏ vào các mỏ dầu lớn ở miền đông Venezuela. Trong tháng đó, CNOOC đã lập một liên doanh với công ty nhà nước Petroleos de Venezuela SA để khai thác lô Junin 8 trong cùng một vùng.

Những hành động này được xem là một phần trong nỗ lực chiến lược của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez để gia tăng việc xuất khẩu dầu của đất nước ông tới Trung Quốc và giảm sự lệ thuộc việc xuất khẩu vào thị trường Mỹ.

– Cũng trong tháng 12 năm ngoái, CNPC đã ký một thỏa thuận với chính phủ Myanmar xây dựng và vận hành một đường ống dẫn dầu chạy từ đảo Maday ở phía tây nước này tới Thụy Lệ, tỉnh Vân Nam, phía tây nam Trung Quốc.

Đường ống dẫn dầu dài 2.800 km sẽ cho phép tàu chở dầu Trung Quốc từ châu Phi và Trung Đông dỡ bỏ hàng hóa của họ ở Myanmar trên Ấn Độ Dương. Do đó tránh các chuyến đi dài tới bờ biển phía đông Trung Quốc ngang qua eo biển Malacca và Biển Biển Đông, khu vực do Hải quân Mỹ chi phối đáng kể.

– Tháng 3 năm 2010, Công ty Quốc tế CNOOC đã công bố kế hoạch mua 50% Tổng Công ty Bridas, một công ty năng lượng tư nhân của Argentina với các hoạt động dầu hỏa và khí đốt tại Argentina, Bolivia và Chile. CNOOC sẽ trả $ 3,1 tỉ đô la cho phần của mình ở Bridas, công ty do gia đình ông trùm Carlos Bulgheroni của Argentina sở hữu.

– Tháng 3, PetroChina liên doanh với công ty dầu khí Shell để mua Công ty Năng lượng Arrow, một công ty của Úc cung cấp chính về khí đốt tự nhiên có nguồn gốc từ vĩa than có khí metan. Hai công ty đang trả khoảng $1,6 tỉ cho mỗi bên và sẽ liên doanh 50:50 để điều hành Công ty Cổ phần Arrow.

Đó chỉ là lĩnh vực năng lượng. Các công ty kim loại và khai thác mỏ Trung Quốc đã làm sạch thế giới với những dự trữ đầy hứa hẹn như: sắt, đồng, boxit, và các loại khoáng sản công nghiệp chính khác.

Chẳng hạn như trong tháng 3, Aluminum Corp của Trung Quốc, hay Chinalco đã mua lại 44,65% cổ phần trong dự án quặng sắt Simandou ở nước Guinea, châu Phi. Chinalco sẽ trả cho công ty khai thác mỏ khổng lồ Anh – Úc, Rio Tinto Ltd., số tiền $1,35 tỉ đô la cho cổ phần này.

Nên nhớ rằng Chinalco đã sở hữu 9,3% cổ phần trong Rio Tinto và đã bị ngăn không cho mua lại cổ phần lớn hơn trong công ty này, cám ơn nỗi sợ hãi của Úc rằng Trung Quốc đang hấp thụ quá nhiều công nghiệp khoáng sản và năng lượng của đất nước.

Làm lệch sự cân bằng tài nguyên thế giới

Các công ty Trung Quốc như CNPC, Sinopec và Chinalco không phải một mình trong việc tìm kiếm sự kiểm soát nguồn tài nguyên có giá trị ở nước ngoài. Các công ty lớn của phương Tây cũng như các công ty thuộc sở hữu nhà nước ở Ấn Độ, Nga, Brazil, và các nước khác cũng đã được mua các tài sản như thế.

Tuy nhiên, rất ít công ty chỉ theo đuổi một mục đích duy nhất như các công ty Trung Quốc, lợi dụng giá cả tương đối thấp theo sau sự suy thoái toàn cầu, và ít có công ty có sẵn nhiều tiền như các công ty như thế, nhờ vào thiện chí của Ngân hàng Phát triển Trung Quốc và các cơ quan chính phủ khác cung cấp sự ủng hộ tài chính hào phóng.

Khi Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác cuối cùng phục hồi từ cuộc suy thoái lớn, họ sẽ khám phá ra rằng bàn cờ tài nguyên toàn cầu đã bị nghiêng mạnh về phía Trung Quốc.

Các nhà sản xuất năng lượng và khoáng sản đã từng xuất trực tiếp sản lượng của mình – và thường là do lòng trung thành chính trị của họ – sang Hoa Kỳ, Nhật Bản và Tây Âu hiện nay xem Trung Quốc như khách hàng chính và là người giúp đỡ.

Một điều có thể nhận ra sự thay đổi này, Ả Rập Saudi công bố gần đây rằng họ đã bán nhiều dầu cho Trung Quốc trong năm ngoái hơn là Hoa Kỳ, trước đây là khách hàng lớn nhất và được chiều chuộng nhất của họ.

Ông Khalid al A-Falih, Chủ tịch và là Giám đốc Điều hành của Saudi Aramco, công ty dầu khổng lồ thuộc sở hữu nhà nước đã nói: “Chúng tôi tin rằng đây là sự chuyển đổi lâu dài. Thay đổi dân số và xu hướng kinh tế đang càng làm rõ ràng hơn – văn bản nằm ở trên tường. Trung Quốc là thị trường tăng trưởng về dầu khí”.

Và bây giờ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang tránh bất kỳ sự ám chỉ nào liên quan tới việc mua lại tài nguyên ở nước ngoài trong thời gian gần đây, kéo theo các cam kết chính trị hay quân sự, có thể gây ra sự xích mích với Hoa Kỳ hoặc các cường quốc phương Tây khác.

Họ nhấn mạnh rằng đây chỉ là những giao dịch thương mại. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi thực tế là các mối quan hệ của Trung Quốc về tài nguyên càng gia tăng với các quốc gia như Angola, Australia, Brazil, Iran, Kazakhstan, Saudi Arabia, Sudan và Venezuela có ý nghĩa địa chính trị mà dường như Washington, London, Paris và Tokyo sẽ không bỏ qua.

Có lẽ đi xa hơn bất kỳ sự phát triển gần đây là việc mua sắm toàn cầu của Trung Quốc cho thấy sự cân bằng quyền lực trên thế giới đang dịch chuyển từ Tây sang Đông như thế nào.

Michael Klare là giáo sư nghiên cứu về hòa bình và an ninh thế giới tại trường Cao đẳng Hampshire ở Amherst, bang Massachusetts, tác giả của phim tài liệu gần đây nhất “Quyền lực gia tăng, trái đất thu hẹp lại”.

Advertisements

March 18, 2010

Nhiệt điện: khốn khổ vì than

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:30 pm
Tags:

SGTT – Để khắc phục tình trạng mất cân đối, lệ thuộc quá nhiều vào thuỷ điện, trong nhiều năm gần đây, việc đầu tư phát triển nhiệt điện đã được chú trọng hơn. Tuy nhiên các dự án nhiệt điện lại luôn chậm tiến độ. Vì sao?

Một số công trình nhiệt điện chạy than vừa đi vào hoạt động đã bổ sung công suất đáng kể cho hệ thống điện quốc gia như nhiệt điện Sơn Động, Na Dương, Uông Bí… Tuy nhiên, có một vấn đề nổi lên, luôn làm cho hệ thống cung ứng điện quốc gia nằm trong tình trạng nguy hiểm. Đó là 100% các dự án nhà máy nhiệt điện chạy than từ trước đến nay luôn chậm tiến độ, có nhà máy chậm tiến độ 3 – 4 năm hoặc liên tục gặp sự cố khiến công suất dự kiến huy động nhiều khi không được như kế hoạch đề ra. Có rất nhiều lý do giải thích tình trạng đó nhưng một trong những nguyên nhân lớn nhất chính là nguyên liệu than cho các nhà máy này, do tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) cung ứng, đã không đảm bảo chất lượng.

Tại cuộc hội thảo đánh giá hiệu quả, sự an toàn các công trình nhiệt điện chạy than hôm qua tại Hà Nội, ông Nguyễn Tiến Vinh, trưởng ban Điện lực, tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) than phiền: “Tất cả các nhà máy nhiệt điện trước nay vẫn dùng than nội địa. PVN có hai nhà máy: nhiệt điện Vũng Áng 1 dùng than cám 5; nhiệt điện Thái Bình 2 dùng than cám 6b. Nhưng có thể khẳng định là than Việt Nam độ bốc rất thấp trong khi hàm lượng lưu huỳnh cao. Hàm lượng tro cao hơn 20 – 40% so với các nhà máy điện chạy than ở các nước khác. Do đó, chi phí vận hành các nhà máy điện trong nước cao hơn và nhất là làm cho công tác tư vấn, thiết kế khó khăn hơn rất nhiều”. Ông Vinh cho biết, có dự án nhiệt điện chạy than do PVN làm chủ đầu tư, TKV cung ứng than chất lượng không tốt nên phải thay đổi chủng loại than, thay đổi công nghệ nhà máy dẫn đến thời gian thi công công trình kéo dài. Ông Vinh đề nghị TKV ưu tiên dùng nguồn than chất lượng tốt phục vụ cho các nhà máy điện ở Việt Nam, hạn chế xuất khẩu, tránh không để xảy ra việc phải thay đổi chủng loại than cung ứng cho các nhà máy nhiệt điện than trong nước.

Đại diện tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ông Nguyễn Phú Gia cũng phàn nàn: “Chất lượng than cung ứng rất không đồng đều, do khâu sàng tuyển kém nên có những hạt than to như mũ cối thì làm sao có thể thiết kế được chi tiết, chính xác và đảm bảo an toàn cho nhà máy”. Theo ông, hợp đồng cung ứng than giữa TKV và các nhà máy nhiệt điện phải chi tiết hơn chứ không thể chỉ dừng lại ở mấy quy định về độ ẩm, độ bốc, hàm lượng lưu huỳnh như trong các hợp đồng vừa qua.

Ông Nguyễn Đức Thảo, trưởng ban Điện lực của TKV thì cho rằng ngoài nguyên nhân về than còn có rất nhiều vấn đề làm chậm quá trình triển khai một dự án nhiệt điện như: chậm trễ trong việc lập quy hoạch, mất rất nhiều thời gian trong việc xin phê duyệt, làm thủ tục giải phóng mặt bằng, thiết kế, lập tổng dự toán… Theo ông Thảo, sự yếu kém về năng lực của tổng thầu, các đơn vị thi công cũng là vấn đề. “Nếu tổng thầu có năng lực, kinh nghiệm, hiểu biết pháp luật Việt Nam thì nhanh nhưng nếu là làm lần đầu thì không tránh khỏi việc làm chậm”. Nhiều ý kiến trong hội thảo cho biết, gần đây, các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu thi công các công trình lớn nhưng năng lực yếu, sự hiếu biết pháp luật Việt Nam hạn chế nên họ thường làm chậm tiến độ thi công.

“Chất lượng than cung ứng rất không đồng đều, do khâu sàng tuyển kém nên có những hạt than to như mũ cối thì làm sao có thể thiết kế được chi tiết, chính xác và đảm bảo an toàn cho nhà máy”.

Nguyễn Phú Gia,
đại diện tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)

Một nguyên nhân đáng chú ý khác được nêu ra là trách nhiệm của EVN. Ông Nguyễn Đức Thảo, đại diện cho TKV nói rằng, EVN nhiều khi chậm cấp điện cho việc thi công, chạy thử các dự án và nhiều khi để xảy ra trục trặc, chậm trễ trong thi công đường dây truyền tải điện tới các nhà máy. Theo ông, nếu EVN cấp điện chậm thì phải chấp nhận gia hạn thi công cho các nhà thầu. Ông Lê Minh Tuấn, công ty cổ phần tư vấn xây dựng Điện lực 1 cho biết, từ trước đến nay, khi các nhà máy điện phát điện chạy thử lên lưới quốc gia thì EVN không trả một đồng nào trong khi nhiều nhà thầu rất tốn kém nhiên liệu trong quá trình chạy thử, phát lên lưới một sản lượng điện không nhỏ. Điều này dẫn đến hiện tượng, để tiết kiệm, các nhà thầu cứ phát điện lên lưới một lúc lại tắt, thời gian chạy thử ít, dẫn tới việc kiểm tra, thử nghiệm không tốt. “Để công bằng hơn, EVN cần chấp nhận mua điện chạy thử với một giá nào đấy”, ông Tuấn nói.

Đây là hội nghị lần đầu tiên được tổ chức để các nhà thầu, chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn, thiết kế công trình điện, đại diện các cơ quan quản lý công trình nhiệt điện ngồi lại với nhau, bàn thảo các vấn đề khúc mắc trong quá trình đầu tư. Còn rất nhiều nguyên nhân khác làm chậm tiến độ các công trình nhiệt điện chạy than được nêu ra như: việc thông quan các lô hàng nhập khẩu cho dự án rất mất thời gian; giá điện còn thấp, phi thị trường nên không thu hút được các nhà đầu tư có năng lực; việc xét duyệt các tiêu chuẩn xây dựng còn bị đẩy qua, đẩy lại giữa các bộ… Đây là những vấn đề rất thực tế mà cơ quan quản lý, các chủ đầu tư phải giải quyết để chấm dứt tình trạng các công trình nhiệt điện chạy than, thường có công suất lớn, thường xuyên chậm đưa vào vận hành.

March 7, 2010

Còn độc quyền, Nhà nước phải quyết giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:29 am
Tags: , ,

TT – Tiếp tục câu chuyện “giá xăng VN cao hơn giá thế giới và điều chỉnh dồn dập”, Tuổi Trẻ đã có cuộc trao đổi với ông Ngô Trí Long, nguyên viện phó Viện Nghiên cứu thị trường giá cả. Ông Long cho biết:

Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải thay đổi cơ chế điều hành xăng dầu hiện nay – Ảnh: T.Đạm

– Tôi có nghe khẳng định của đại diện Ủy ban Giám sát tài chính tiền tệ quốc gia về việc giá xăng VN cao hơn giá thế giới 5%. Tôi cũng đã xem kỹ khẳng định của cục phó Cục Quản lý giá Nguyễn Thanh Hương. Sau tết, ngay sau khi giá xăng tăng ngày 21-2, thói quen của người lâu năm nghiên cứu giá cả, tôi đã tính giá xăng của Mỹ.

Thời điểm đó, giá xăng của Mỹ là 3 USD/gallon (1 gallon bằng 3,8 lít). Sau khi quy đổi ra tiền VN, nếu theo tỉ giá của thị trường tự do là 19.500 đồng/USD, giá xăng của Mỹ cũng chỉ 15.300 đồng/lít. Giá của VN là 16.990 đồng/lít thì cao hơn giá xăng của Mỹ gần 2.000 đồng/lít. Đây là một thực tế. Số liệu giá xăng của Mỹ bây giờ công khai trên mạng, chỉ việc tải xuống và tính.

Tôi nghĩ Cục Quản lý giá có thể so với nhiều nước như Lào, Campuchia hay Thái Lan nhưng theo tôi, Mỹ là một nền kinh tế thị trường quan trọng, nên cần thiết phải so cả với Mỹ để dư luận được thông tin nhiều chiều, có thể đánh giá một cách khách quan hơn.

* Thưa ông, theo cuộc họp mới đây của các cơ quan có chức năng giám sát giá xăng dầu thì các doanh nghiệp đã tăng giá đúng?

– Nếu theo cơ chế hiện nay thì doanh nghiệp sẽ luôn đúng vì việc thay đổi giá theo quy định không có khó khăn gì cho họ cả. Về nguyên tắc quản lý giá, giá cả chỉ do doanh nghiệp định đoạt khi nó không phải là mặt hàng độc quyền vì đã có quy luật cạnh tranh chi phối. Nếu đã là mặt hàng độc quyền thì ở nền kinh tế thị trường nào nhà nước cũng phải định giá.

Hiện chúng ta muốn cho xăng dầu theo giá thị trường nhưng ngay nghị định 84/2009 do các cơ quan như Bộ Tài chính, Bộ Công thương soạn thảo nó đã thực thị trường đâu? Được tự tăng giá đến 7%, từ 7% trở lên đến 12% thì chỉ tăng một phần, phần còn lại lấy quỹ bình ổn giá. Như vậy đâu có thực là thị trường?

Sẽ rất nguy hiểm nếu để doanh nghiệp độc quyền được tự quyết giá bởi nếu vậy quyền lực của họ rất lớn. Bởi khi Petrolimex với gần 70% thị phần quyết tăng giá hay giảm giá, những đơn vị khác sẽ buộc phải theo. Nếu bán giá cao hơn thì mất khách, bán thấp quá thì lỗ. Điều này có thể khiến các doanh nghiệp nhỏ hơn lâm vào khó khăn và phá sản.

Thời gian qua, giá xăng dầu thế giới tăng không quá mạnh nhưng tại VN, trong năm tháng giá xăng đã tăng bốn lần. Vậy nếu tình trạng giá xăng dầu thế giới quay lại tình hình năm 2007-2008, lên đến 140 USD/thùng thì tình hình sẽ thế nào? Việc can thiệp của các cơ quan nhà nước có kịp thời nữa không? Nên theo tôi, đã là độc quyền phải do Nhà nước quyết giá, không thể nửa vời vừa doanh nghiệp quyết, rồi các cơ quan nhà nước bám theo như hiện nay.

* Với cơ chế độc quyền như hiện nay, theo ông, phải làm cách nào để người dân có được giá xăng dầu thật sự hợp lý?

– Có hai hướng. Thứ nhất, theo tôi, phải sửa lại nghị định 84/2009 theo hướng không giao quyền quyết giá xăng dầu cho doanh nghiệp. Vẫn còn độc quyền thì các cơ quan nhà nước phải là người quyết giá với nguyên tắc hài hòa lợi ích nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng. Nếu đã thị trường thì phải thị trường hẳn, chứ không nên nửa thị trường ở chỗ tăng quyền cho doanh nghiệp, nửa không thị trường ở chỗ giữ nguyên độc quyền doanh nghiệp.

Thứ hai, nếu muốn áp dụng việc cho doanh nghiệp tự định giá thì nên áp dụng cơ chế phá độc quyền mà các nước vẫn làm. Hoặc phải tạo đối thủ cạnh tranh đủ mạnh, hoặc chia nhỏ Petrolimex thành nhiều doanh nghiệp, sao cho mỗi doanh nghiệp này chiếm không quá 30% thị phần. Việc này thực chất không quá khó vì dù chia thì đó vẫn là doanh nghiệp nhà nước. Chỉ khi không còn vị thế độc quyền, thật sự phải cạnh tranh thì doanh nghiệp mới thực có động lực giảm chi phí, giảm giá thành.

Một chuyên gia cao cấp từng làm việc ở Cục Quản lý giá:

Nhà nước nắm thượng nguồn, thả tự do hạ nguồn

Chúng ta phải tách bạch giữa thượng nguồn với hạ nguồn như thế giới vẫn làm để quản lý hiệu quả. Xăng, dầu, khí là nguồn năng lượng Nhà nước phải nắm nhưng nắm ở thượng nguồn để điều tiết khi cần và để bảo đảm an ninh năng lượng cho đất nước. Chúng ta phải hình thành một cơ chế mới để quản lý và có đơn vị thay mặt Nhà nước quản lý và điều hành nguồn tài nguyên quốc gia này.

Tôi nghĩ chúng ta đủ nguồn lực để làm với vai trò chủ lực của hai đơn vị là Tập đoàn Dầu khí VN (Petro Vietnam) và Tổng công ty Xăng dầu VN (Petrolimex). Nói một cách nôm na như việc thành lập một ngân hàng năng lượng. Hai đơn vị này hiện sở hữu nguồn cơ sở vật chất, kho bãi hoạt động tương tự ngân hàng trung ương điều tiết thị trường tiền tệ, chỉ can thiệp khi cần thiết.

Chúng ta hiện đang lẫn lộn giữa thượng nguồn với hạ nguồn. Cổ phần hóa là tốt nhưng những ngành quan trọng, tài nguyên quốc gia thì Nhà nước phải nắm. Đừng ngộ nhận việc cổ phần hóa mà làm tràn lan. Các tập đoàn nhà nước lớn hiện nay mang tiếng của Nhà nước nhưng các công ty con thì đã và đang cổ phần hóa. Điều đó càng cho thấy phải tách bạch việc quản lý thượng nguồn và hạ nguồn, nếu không tài nguyên quốc gia sẽ thất thoát.

Còn phần hạ nguồn là các đơn vị kinh doanh bán lẻ, phân phối thì cổ phần hóa, cho tư nhân tham gia thoải mái. Với kiểu quản lý hiện nay, Petrolimex là đơn vị vừa đá bóng vừa thổi còi. Họ được sở hữu nguồn lực của Nhà nước quá lớn, hệ thống đại lý bao trùm thì làm sao có cạnh tranh thật sự. Tôi tin rằng một khi kênh phân phối được khơi thông, thị trường sẽ minh bạch hơn bởi có cạnh tranh.

February 28, 2010

EVN

cac ong nha điện chỉ bào chữa cho nhau, nào la điện tăng la đúng với nền kinh tế thị trường, khi mà demand > supply thi price increses, toàn nói phét khi mà chẳng hiêu dc cai definition Kinh te Thi Truong la cai j,  thang EVN la thang monopoly, no de xuat tang gia dien cho chinh phu the nao ma chang dc http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=187473&ChannelID=3

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_%C4%91o%C3%A0n_%C4%90i%E1%BB%87n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam

làm điện thì phải tập trung vào keep up giua san xuat voi cung cap du dien cho nguoi dan và giá cả ổn định, lai ko lo,lo nhay wa cac linh vuc khac  nhu dau tu vao tai chinh ngan hang. Nuoc minh fai co cai chinh sach quan ly may thang state-owned enterprise nay, nhu US ra quy dinh Glass-Steagall fan hoat dong giua ngan hang dau tu voi ngan hang truyen thong vay, chu ko tui no y la monopoly, lay tien profit voi subsidy ko reverse invest lai vao cong ty ma dem tien cua taxpayer ra bet on poker game the nay mai

Organisational Structure of EVN

Electricity of Vietnam (EVN) is a state-owned utility established in 1995. It is engaged in generation, transmission and distribution of electricity in the whole country.

The EVN oversees the various entities or business units engaged in generation, transmission, distribution, and associated service functions along commercial lines.  These business units are grouped as either dependent (generation and transmission entities attached to EVN accounts) or independent accounting units (distribution and supply entities detached from EVN accounts).  In spite of strong government regulation of power tariffs, the EVN is capable of raising profits out of its operations and to source external funds subject to approval of appropriate government agencies for infrastructure development, network expansion, and human resource management.

In the power industry, there are National Load Dispatch Center, fourteen main power plants, four transmission companies, and the Institute of Energy operating as dependent accounting units under EVN. The independent accounting units are seven distribution power companies, four design and engineering companies, two power equipment manufacturing companies, and one electric telecommunication company.

Generation Facilities

In 2001, the total installed capacity of Vietnam reached 8,478 MW, of which 7,878 MW are operated and owned by EVN and the remainder of 600 MW are owned by the IPPs.  Hydropower accounted for 48.6 percent, coal and oil 13.4 percent, gas turbine and diesel 30.8 percent, and the remainder of 7.2 percent came from IPPs with mixed use of fuels.

The total amount of electricity generated was 30,600 GWh, of which hydropower generation accounted for 59.5 percent, coal-fired 10.5 percent,  oil-fired 3.6 percent, gas turbine (gas) 14.4 percent, and 7 percent turbine+Diesel (DO), and  4.9 percent from IPPs. (Shown in figure of below). The growth rate power generated over the year 2000 is 14,3%.

The total new capacity added to the power system in 2001 was 2225 MW. They were: hydropower Yaly unit 3,4 (360 MW), hydropower Ham Thuan-Da Mi (475 MW), GTCC Phu My 1(1090 MW), and Coal-Fired Pha Lai (300 MW).
Averagely, the growth rate of power energy produced over the period from 1995 to 2001 is about 13,1%, reaching 30.6TWh in the year 2001: The peak load of the system has been increased from 2,774 MW in year 1995 to 5,600 MW in year 2001, the annual Load Factor (LF) of VN is about 62%.
Record of peak power demand and energy generation in period 1995-2001 shown in figure below.

In 2001, EVN’s turnover was about 18.800 billions VDN (about 1.25 Billions USD), with sales volume of 25.8 TWh. Compared to previous year, sales volume increased by 15% and number of customers by 13% (amounted to 3.8 million customers). Customer category and market segmentation construed of: industry (40.4%), residential (49.1%), Commercials and services (4.9%) and others (5.6%).
The energy sales through the figures of power sales

Since 1995, the two graphs below shown the situation of the load demand over the past seven years.

The average energy sales growth rate in period 1995 – 2001 was 15%.

Transmission and Distribution Facilities

Transmission voltages in Vietnam are 500 kV, 220 kV 110 kV. The total length and substation capacity at various voltage levels are the following:

Voltage Level,kV Length of line, km Transformer�s Capacity,MVA
500 1529 2580
220 3706 7170
110, 66 7900 9000
Medium voltage 79800 3016

The medium voltage network is planned for integration with 35 kV for the mountainous and rural areas and 22 kV for the urban areas.  In the next five years, the 6 kV network will be upgraded to 22 kV. The 10 kV and 15 kV transmission lines will be step-by-step replaced by 22 kV or 35 kV in the future

Rural electrification

As of December 2001, 97.6 percent of the total districts have been connected to the national grid, the remaining districts (2.4 percent) are provided with off-grid  local power supply. About 87 percent  of the communes, and 77.4 percent of rural households have been provided with grid electricity.

Presently, the ceiling price of 700 VND/kWh (4.67 US cents/kWh) mandated by the Government to rural households is strictly being applied to 81.4 percent of the communes.

EVN has made a great effort to support provinces in providing rural households with affordable electricity supply.

Mê Kông suy kiệt

<!–NGay gio Modified

Cập nhật lại cách đây 2 giờ 17 phút

–>

27/02/2010 23:57

Ảnh: AFP

Các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê Kông đang khiến ĐBSCL phì nhiêu, sông rạch chằng chịt đối mặt với khô hạn. Những tác hại đến sinh thái, môi trường, đời sống… của người dân ĐBSCL đang dần hiển hiện.

Mời nghe đọc bài

Mùa khô hạn tàn khốc

Trong tuần qua, mực nước đầu nguồn sông Cửu Long thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,1m, trong khi xâm nhập mặn sâu vào khoảng 30-40 km.

Tại thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), nước mặn đã xâm nhập sâu vào các xã Tân Tiến, Hỏa Tiến và Hỏa Lựu. Độ mặn đo được ngày 26.2 từ 3,1 – 5 phần ngàn, dự báo trong những ngày tới gặp triều cường nước mặn xâm nhập sâu hơn vào nội ô thị xã Vị Thanh và nồng độ có thể lên tới từ 6 – 8 phần ngàn.

Tại Tiền Giang, nước mặn đã xâm nhập vào đất liền trên 35 km buộc cơ quan chức năng phải đóng sớm cống Vàm Giồng ngăn mặn. Ngành nông nghiệp tỉnh này đang lo ngại nước mặn sẽ đe dọa trên 6.000 ha lúa đông xuân thuộc dự án ngọt hóa Gò Công. Tại Bến Tre, nước mặn đã xâm nhập sâu vào đất liền trên 23 km. Xâm mặn kéo theo tình trạng thiếu nước ngọt ở các xã ven biển như Thạnh Phước, Thừa Đức, Thới Thuận (huyện Bình Đại). Ông Ngô Văn Thử, Chủ tịch UBND xã Thạnh Phước cho biết, sau Tết hơn 10.400 nhân khẩu trong xã phải đi đổi hay mua nước ngọt với giá 2.000 đồng/40 lít về sử dụng. Dự báo từ nay đến tháng 5.2010, nước ngọt càng thiếu trầm trọng trong mùa hanh khô kéo dài.

Tại Cần Thơ, xâm mặn đã lấn sâu vào huyện Vĩnh Thạnh. Tại An Giang, nhiều kênh nội đồng gần như trơ đáy; người dân vùng núi Tri Tôn, Tịnh Biên phải đi mua nước sạch với giá 2.000 đồng/30 lít. Ông Trần Văn Mì, Trưởng phòng NN-PTNT H.Tri Tôn cho biết huyện đang triển khai dự án nạo vét 14 tuyến kênh nội đồng, 5 công trình cấp nước với tổng kinh phí trên 4,2 tỉ đồng nhằm cung cấp nước sạch, nước tưới tiêu ruộng đồng.

Mê Kông đang bị “sát thương”

Sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL với chiều dài khoảng 225 km, cung cấp nước và tôm cá dồi dào. Ước tính bình quân 1 ha đất trồng lúa phải tốn hơn 20.000m3 nước/vụ; bình quân mỗi

năm ĐBSCL xuống giống 3,8 triệu ha tức cần hơn 76 tỉ m3 nước. Riêng thủy sản, mỗi năm người dân hạ lưu sông Mê Kông khai thác khoảng 2,6 triệu tấn cá trị giá khoảng 2 tỉ USD. Đối với dân nghèo và nhà nông, sông Mê Kông là nguồn sống trời cho… Thế nhưng, nguồn sống ấy đang bị “sát thương” bởi hàng loạt đập thủy điện xây trên thượng nguồn sông.

Khô hạn đang đe dọa ĐBSCL – Ảnh: T.Dũng

Tại diễn đàn “Môi trường và nguồn sống trên sông Mê Kông” diễn ra ngày 3.2 ở TP Cần Thơ, các nhà khoa học đã tỏ ra lo ngại: Mê Kông là dòng sông lớn trên thế giới, tôm cá phong phú tạo sinh kế trực tiếp cho hơn 60 triệu người ở khu vực hạ lưu sông, thế nhưng dòng sông đang chết dần bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có các đập thủy điện.

Giới khoa học nhận định lưu lượng dòng chảy sông Mê Kông giảm chỉ còn 2/3 so với những thập kỷ trước do bị các đập thủy điện ở thượng nguồn ngăn lại. Lượng nước sông Mê Kông giảm sút kéo theo hàng loạt tác hại khôn lường như thiếu nước vào mùa khô và nguy cơ xâm mặn đe dọa từng ngày. Tiến sĩ Chu Thái Hoành, cán bộ Viện Nghiên cứu tài nguyên nước quốc tế (IWMI) nhận định các đập thủy điện sẽ giữ đến 16% trong tổng lưu lượng nước 475 tỉ m3/năm, ảnh hưởng 50% tổng lượng nước sông Mê Kông.

Bản đồ lưu vực sông Mê Kông (Nguồn: Ủy ban sông Mê Kông VN)

Theo thống kê của Liên minh bảo vệ sông Mê Kông, có 16 đập thủy điện đã và đang xây dựng cùng hàng trăm dự án chằng chịt trên các nhánh chính và rẽ làm thay đổi dòng chảy, ngăn chặn các loài cá di cư đẻ trứng, giảm lượng phù sa hằng năm. Chỉ tính riêng tại khu vực ĐBSCL, bình quân mỗi năm vào mùa lũ sông Mê Kông cung cấp 100 – 200 triệu tấn phù sa.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về đất ngập nước, cho rằng nguồn phù sa giảm sút nên người trồng lúa ở VN phải tăng chi phí cho phân bón và giá lúa sẽ tăng lên. Còn tiến sĩ Carl Middleton (Tổ chức Sông ngòi quốc tế Mỹ) ước tính việc xây dựng các đập trên sông Mê Kông sẽ làm mất đi 700.000 – 1,6 triệu tấn thủy sản/năm. Các nhà khoa học đúc kết tổng thiệt hại về thủy sản, nông sản có thể lớn hơn tổng lợi nhuận mà các nước thu được do việc xây đập thủy điện.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An – Đại học Cần Thơ, việc xây các đập thủy điện đã kéo theo nhiều tác động như lũ về muộn hơn nhưng kết thúc sớm hơn. Tiến sĩ Ni cho rằng ngày xưa lũ lên từ từ, tôm cá theo nước lũ đẻ trứng sinh sôi nhưng nay lũ rút nhanh phá vỡ quy luật khiến tôm cá sinh sản theo không kịp con nước, phù sa theo đó cũng bị thất thoát trôi ra biển, trôi vào kênh rạch không vào ruộng đồng. Tiến sĩ Ni cho rằng việc các đập thủy điện thượng nguồn trữ nước không cho biết lúc nào xả nước lúc nào không càng gây khó khăn trong mùa khô hạn.

Hạ lưu nguy khốn

Các nước vùng hạ lưu đang lo lắng về những tác động tiêu cực xảy ra khi dòng chảy dưới này hoàn toàn phụ thuộc vào quy trình vận hành của các đập thủy điện trên thượng lưu sông Mê Kông.

Với mục đích phát điện, các hồ chứa sẽ cố gắng tích nước sớm ngay từ đầu mùa mưa. Nếu gặp năm lũ lớn, khi đỉnh lũ về gặp hồ đã đầy nước, không còn khả năng cắt lũ, có thể gây lũ lớn hơn cho hạ lưu. Còn vào những năm lũ vừa và nhỏ, phía hạ lưu – đặc biệt là ĐBSCL – sẽ có những ảnh hưởng nhất định trong cả mùa lũ và mùa kiệt.

Hằng năm, lượng phù sa sông Mê Kông xuống hạ lưu khoảng 150-170 triệu tấn (trong đó từ Trung Quốc chiếm 50%). Các đập thủy điện sẽ làm giảm lượng phù sa xuống hạ lưu và vùng ĐBSCL. Sản lượng thủy sản hằng năm của sông Mê Kông khoảng 400.000 tấn sẽ sụt giảm mạnh.

Các đập thủy điện còn ảnh hưởng tới giao thông thủy, du lịch, sự di cư của một số loài cá cũng như hệ sinh thái rất đa dạng của lưu vực, chưa kể những tác động đến chất lượng nước, sự bồi lắng, xói lở…

Biển Hồ (Campuchia) đóng vai trò rất quan trọng đối với sự điều tiết dòng chảy xuống châu thổ sông Mê Kông. Nếu lũ xuống hạ lưu giảm, Biển Hồ không tích đầy nước vào mùa lũ, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự điều tiết dòng chảy kiệt xuống hạ lưu.

Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan – Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ – cho rằng, ĐBSCL rất cần đến những trận lũ trung bình, ở mức khoảng 4,2m tại Tân Châu (An Giang). Tuy nhiên, từ năm 2003 cho tới giờ, lũ ở ĐBSCL chỉ ở mức xấp xỉ và thấp hơn trung bình nhiều năm. Một nhà khoa học tại TP.HCM nhận định: ĐBSCL không mong muốn những trận lũ lớn như các năm 1961, 1978, 1991, 2000… cũng như không mong đợi những trận lũ nhỏ như những năm 1998, 2005, 2008 vừa qua.

Vì vậy, nếu như các đập thủy điện ở thượng lưu làm giảm đỉnh lũ lớn để có thể ít nhiều mang lại lợi ích cho ĐBSCL, thì việc biến những trận lũ trung bình thành lũ nhỏ, biến lũ nhỏ thành không có lũ sẽ gây hại còn nhiều hơn so với lũ lớn.

Trung Quốc đã làm gì sông Mê Kông?

Từ năm 1986 đến nay, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 8 đập thủy điện, thủy lợi lớn nhỏ trên sông Mê Kông.

Theo Michael Richardson – tác giả bài viết Đập thủy lợi của Trung Quốc biến sông Mê Kông thành dòng sông đầy tranh cãi (Dams in China Turn the Mekong Into a River of Discord) đăng trên tạp chí Yale Global ngày 16.7.2009, Trung Quốc xây dựng đập thủy lợi đầu tiên trên sông Mê Kông vào năm 1986. Lúc này các nước Đông Nam Á không có nhiều phản ứng.

Nhưng tới ngày nay, ảnh hưởng của hệ thống đập thủy lợi của Trung Quốc đối với khu vực ngày càng khiến nhiều nước phải lo lắng. Cũng theo tác giả này, Trung Quốc đã lợi dụng quy mô to lớn của công trình phát điện do họ xây dựng trên sông Mê Kông làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của con sông này. Đã có nhiều cảnh báo về điều đó, đặc biệt đối với bốn nước ở khu vực sông Mê Kông là Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Lào.

Một đập nước của Trung Quốc trên sông Mê Kông – Ảnh: Sina.com

Báo cáo tháng 5.2009 của Học viện Kỹ thuật châu Á (Asian Institute of Technology) cũng cảnh báo rằng việc Trung Quốc xây 8 đập thủy lợi, thủy điện tại sông Mê Kông có thể tạo nên những hiểm họa to lớn đối với dòng chảy của sông và tài nguyên tự nhiên. Cũng trong tháng 6.2009, một lá thư đòi Trung Quốc chấm dứt việc xây đập thủy lợi trên sông Mê Kông đã được gửi tới tay Thủ tướng Thái Lan. Lá thư có 11.000 chữ ký của phần lớn nông dân, ngư dân sinh sống ở thượng lưu và hạ lưu sông Mê Kông. Lào, Campuchia, Thái Lan đã bắt đầu đối phó bằng cách thúc đẩy các kế hoạch xây dựng đập thủy lợi thuộc phạm vi nước mình.

Theo hãng AP (Mỹ) ngày 12.12.2009, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 8 đập thủy điện ở khu vực sông Mê Kông. Mê Kông là một trong những con sông lớn trên thế giới, cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu của khu vực. Ở Trung Quốc, Mê Kông được gọi là sông Lan Thương. Con đập thủy lợi mà Trung Quốc vừa xây dựng tại đây cao 292m – cao nhất thế giới, có khả năng tích trữ nước bằng tất cả các khu thủy vực của Đông Nam Á hợp lại.

Ủy ban sông Mê Kông (MRC) được thành lập từ năm 1996 bởi Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Lào cùng phối hợp quản lý khu vực sông Mê Kông ở Đông Nam Á. MRC cho rằng các nước ở khu vực sông Mê Kông có lý do để lo ngại việc xây dựng đập thủy lợi của Trung Quốc. Chẳng hạn vào mùa mưa, đập thủy lợi của Trung Quốc sẽ tháo ra rất nhiều nước, có thể gây lũ lụt. Nhưng vào mùa khô hạn, các nước Đông Nam Á lại lo ngại thiếu nước. Tới nay, Trung Quốc vẫn chưa phải là thành viên của MRC.

Nguyễn Lệ Chi

Mực nước xuống thấp kỷ lục

Ủy ban sông Mê Kông (MRC) vừa cho hay mực nước ở thượng lưu sông Mê Kông đang xuống thấp kỷ lục và điều này đe dọa nguồn nước và sự sống của hàng chục triệu người.

Hãng tin AFP dẫn lời ông Jeremy Bird thuộc MRC nói miền bắc Thái Lan, bắc Lào và nam Trung Quốc đều bị ảnh hưởng. “Dòng chảy đang ở mức thấp hơn những gì chúng tôi ghi nhận được trong vòng 20 năm qua”, ông Bird nói. Vấn đề này tạo ra một mối đe dọa cho nguồn nước, giao thông đường thủy và tưới tiêu trên một khu vực rộng lớn dọc Mê Kông, con sông nuôi sống hàng chục triệu người. Ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông, 60 triệu người sống phụ thuộc vào con sông này với việc đánh bắt hải sản, trồng trọt, giao thông và các hoạt động kinh tế khác.

Dự báo mực nước tại Luang Prabang (Lào) sẽ xuống thấp hơn nữa trong tháng tới – Ảnh: MRC

Một thông cáo báo chí khác của MRC phát hôm 26.2 nói rằng mực nước của dòng chảy chính của sông Mê Kông đo được tại Chiang Saen, Chiang Khan, Luang Prabang, Vientiane, và Nong Khai (tất cả đều ở phía bắc Lào và Thái Lan) đều thấp hơn mực nước đo được trong mùa nước cạn hồi năm 1993, chỉ đứng sau mực nước thấp kỷ lục trong đợt hạn hán năm 1992. Thông cáo báo chí này nói thêm rằng mực nước của con sông này ở tây nam Trung Quốc cũng đang ở mức thấp nhất trong vòng 50 năm qua với dòng chảy chỉ bằng một nửa so với mức bình thường vào tháng 2.

Khoảng 21 tàu chở hàng đang bị mắc cạn trong khi các tour du lịch đường sông giữa Luang Prabang (Lào) và Huay Xai (gần biên giới với Thái Lan) bị hủy bỏ. Về việc mực nước sông Mê Kông tụt giảm, MRC nói khó có thể nói rằng nguyên nhân có phải là do khí hậu ấm lên hay không.

Trong khí đó, theo một bài báo của Bangkok Post, các tổ chức phi chính phủ, trong đó có Liên minh Hãy cứu sông Mê Kông, thì tin rằng mực nước thấp bất thường trên sông Mê Kông là do các đập của Trung Quốc. “Thật khó để chúng tôi khẳng định một cách tuyệt đối rằng không có sự liên quan giữa mực nước thấp và những con đập đó”, ông Bird nói. Theo ông, sẽ là không bình thường nếu như các con đập này chứa đầy nước trong suốt mùa khô.

Tờ The Nation thì cho hay Thái Lan sẽ gửi thư yêu cầu MRC đàm phán với Trung Quốc để xả thêm nước từ các con đập của họ trên sông Mê Kông. MRC nói họ chưa nhận được yêu cầu chính thức nào từ Thái Lan. Và nếu có, MRC sẽ tiến hành thảo luận với Trung Quốc. Hiện, Trung Quốc và Myanmar là các đối tác đối thoại với MRC, bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

Việt Phương (VP Bangkok)

Mai Vọng – Thanh Dũng

Giá điện mới được tính như thế nào?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:29 pm
Tags: ,

<!–NGay gio Modified

–>

26/02/2010 12:02

Ảnh: Lưu Quang Phổ
(TNO) Bộ Công thương vừa tổ chức cuộc họp báo thông báo việc điều chỉnh giá điện năm 2010 sẽ được áp dụng từ ngày 1.3. Giá điện mới sẽ được tính ra sao, tác động như thế nào đến các hộ gia đình, các đơn vị sản xuất, kinh doanh?

>> Tác động của giá điện
>> Vé máy bay nội địa tăng giá từ 1.3
>> Nguy cơ của tăng giá

Theo thông tư quy định giá điện vừa được Bộ Công thương ban hành, giá điện bình quân 2010 sẽ là 1.058 đ/kWh, tăng 6,8% so với giá điện bình quân thực hiện 2009. Giá than cho sản xuất điện 2010 sẽ tăng không quá 47% đối với than cám 4b, 28% đối với than cám 5 (so với giá than bán cho điện đã thực hiện năm 2009).

Ông Đỗ Hữu Hào, Thứ trưởng Bộ Công thương cho biết, việc tăng giá bán điện là bất khả kháng bởi các yếu tố đầu vào cho sản xuất điện (than, khí, dầu, giá nhân công…) đều tăng; thủy điện giá rẻ đã khai thác gần như hết tiềm năng, nếu không tăng giá điện sẽ không thể thu hút các nhà đầu tư, gây nguy hiểm về an ninh năng lượng trong tương lai.

Ông Trần Văn Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, giá điện của Việt Nam hiện ở mức thấp nhất trong khu vực, do đó, nếu không tăng giá điện sẽ không thu hút được đầu tư, ngân hàng sẽ không cho nhà đầu tư vay vốn thực hiện dự án điện, điều này rất nguy hiểm cho nền kinh tế trong tương lai.

Người thuê trọ cũng được tính tiền điện như chủ nhà, những trường hợp chủ nhà cố tình lấy tiền điện của người thuê gấp 3-4 lần giá nhà nước sẽ bị phạt, thậm chí cắt điện nếu người thuê trọ làm đơn trình báo, cung cấp chứng cứ cho cơ quan điện lực và chính quyền địa phương
Ông Đinh Quang Tri, Phó tổng giám đốc EVN khẳng định

“Giá điện mới không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế, giá điện cho sản xuất chỉ tăng 6,3% (thấp hơn mức tăng bình quân), các ngành sản xuất phải trả thêm khoảng 2.630 tỉ đồng tiền điện, bằng khoảng 0,36% giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp năm 2010. Một số ngành công nghiệp sản xuất ba ca chi phí tiền điện cao (chiếm 30-40% giá thành sản xuất) như cấp nước, điện phân giá thành sản phẩm sẽ tăng thêm khoảng 2,81-3,15%. Các ngành cán thép, xi măng, giá thành sẽ tăng thêm khoảng 0,2-0,69%. Chi phí tiền điện tăng thêm cho các ngành sản xuất phổ biến ở mức dưới 1% giá thành”, ông Hào cho biết.Theo thông tư mới, đối với các hộ sử dụng điện sinh hoạt, nếu hộ nào sử dụng dưới 50 kWh thì chi phí không đổi so với năm 2009, gia đình nào sử dụng từ 51-100kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm tối đa khoảng 7.000đ/tháng/hộ. Các hộ sử dụng tới 200kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm tối đa khoảng 16.000đ/tháng. Các hộ sử dụng 300kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm vào khoảng 26.000đ/tháng; trên 400kWh/tháng, trả thêm 36.500đ/tháng.

Không thể chốt công tơ ngay một lúc

Theo ông Đinh Quang Tri, Phó tổng giám đốc Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), việc chốt công tơ sẽ được thực hiện ngay từ ngày 1.3 đối với các hộ tiêu thụ lớn; còn đối với khoảng 15 triệu hộ gia đình, việc chốt công tơ sẽ được tiến hành dần, giá điện mới sẽ tính từ ngày 1.3 theo lượng điện tiêu thụ bình quân mà hộ đó sử dụng. Công thức tính tiền điện mới đã có tại tất cả các đơn vị phân phối bán lẻ điện.

Về áp lực tăng giá sau khi tăng giá điện, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính khẳng định, cơ quan này sẽ có những biện pháp quyết liệt để kiểm soát giá cả của các ngành mang tính độc quyền, độc quyền nhóm hoặc các doanh nghiệp chiếm thị phần chi phối như xăng dầu, than, phân bón…

“Giá cả sẽ tăng nhưng mức tăng chúng tôi sẽ kiểm soát giá cả tăng hợp lý chứ không phải doanh nghiệp muốn tăng bao nhiêu cũng được. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cố tình tát nước theo mưa, tăng giá quá mức sẽ bị xử lý nghiêm. Theo tôi, mục tiêu kiềm chế lạm phát ở dưới 7% vẫn thực hiện được, dù rất khó khăn”, ông Thỏa cho biết.

Giá bán lẻ cho các nhà sản xuất:
STT Đối tượng áp dụng giá Giá bán điện (đồng/kWh)
1 Cấp điện áp từ 110 kV trở lên
a) Giờ bình thường 898
b) Giờ thấp điểm 496
c) Giờ cao điểm 1.758
2 Cấp điện áp từ 22 kV đến dưới 110 kV
a) Giờ bình thường 935
b) Giờ thấp điểm 518
c) Giờ cao điểm 1.825
3 Cấp điện áp từ 6 kV đến dưới 22 kV
a) Giờ bình thường 986
b) Giờ thấp điểm 556
c) Giờ cao điểm 1.885
4 Cấp điện áp dưới 6 kV
a) Giờ bình thường 1.023
b) Giờ thấp điểm 589
c) Giờ cao điểm 1.938

Quy định về giờ cao điểm, giờ thấp điểm

1. Giờ bình thường:

a) Gồm các ngày từ thứ Hai đến thứ Bảy

– Từ 04 giờ 00 đến 9 giờ 30 (05 giờ và 30 phút);

– Từ 11 giờ 30 đến 17 giờ 00 (05 giờ và 30 phút);

– Từ 20 giờ 00 đến 22 giờ 00 (02 giờ).

b) Ngày Chủ nhật:

– Từ 04 giờ 00 đến 22 giờ 00 (18 giờ).

2. Giờ cao điểm:

a) Gồm các ngày từ thứ Hai đến thứ Bảy

– Từ 09 giờ 30 đến 11 giờ 30 (02 giờ);

– Từ 17 giờ 00 đến 20 giờ 00 (03 giờ).

b) Ngày Chủ nhật: không có giờ cao điểm.

3. Giờ thấp điểm

Tất cả các ngày trong tuần: từ 22 giờ 00 đến 04 giờ 00 sáng ngày hôm sau (06 giờ).

Giá bán lẻ điện sinh hoạt:

STT Mức sử dụng của
một hộ gia đình
trong tháng
Giá bán điện

(đồng/kWh)

1 Cho 50 kWh đầu tiên 600
2 Cho kWh từ 51 – 100 1.004
3 Cho kWh từ 101 – 150 1.214
4 Cho kWh từ 151 – 200 1.594
5 Cho kWh từ 201 – 300 1.722
6 Cho kWh từ 301 – 400 1.844
7 Cho kWh từ 401 trở lên 1.890

Káp Thành Long

Tăng giá điện, ai bị ảnh hưởng?

TPO – Tại cuộc họp sáng nay, Bộ Công Thương cho biết với mức tăng giá điện sinh hoạt bậc khoảng 6,8% từ 1-3 tới, các hộ sử dụng 400kWh điện mỗi tháng sẽ phải trả thêm 36.500 đồng/tháng. Việc tăng giá điện sẽ làm tăng CPI khoảng 0,16%.

Theo tính toán của Bộ Công Thương, những người có thu nhập thấp không bị ảnh hưởng bởi việc tăng giá điện. Nhưng thực ra, họ sẽ là một trong những nhóm người bị ảnh  hưởng gián tiếp nhiều nhất do chi phí hàng hóa dịch vụ tăng theo. Ảnh: Tuổi Trẻ

Người có thu nhập thấp không bị ảnh hưởng trực tiếp

Với sự điều chỉnh này, giá bán điện bình quân năm 2010 là 1.058 đồng/kWh.

Đối với tác động đến đời sống của người dân, giá bán lẻ điện bình quân cho sinh hoạt dự kiến tăng khoảng 6,8%, sẽ làm tăng tiêu dùng cuối cùng của cá nhân năm 2010 khoảng 0,19 – 0,27%.

Để thực hiện chính sách bù giá cho hộ thu nhập thấp, giá điện cho 50kWh đầu tiên vẫn được giữ nguyên, không tăng; vì vậy, tất cả các hộ thuộc diện nghèo và một số lượng lớn số hộ có thu nhập thấp, cán bộ, công nhân viên, người lao động cả ở thành phố và nông thôn sẽ không chịu ảnh hưởng của việc tăng giá điện (khi dùng điện ít hơn 50kWh/tháng).

Đối với các hộ sử dụng điện ở mức đến 100kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm tối đa của các hộ này là khoảng 7.000 đồng/tháng. Các hộ sử dụng tới 200 kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm tối đa khoảng 16.000 đồng/tháng, bằng 0,53% thu nhập hàng tháng của một hộ dân có thu nhập trung bình.

Các hộ sử dụng 300 kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm vào khoảng 26.000 đồng/tháng còn các hộ sử dụng 400kWh/tháng số tiền phải trả thêm sẽ là 36.500 đồng/tháng.

Đối với các hàng hoá thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày như thực phẩm, hàng may mặc, nhiên liệu xăng dầu v.v…, thực tế, tỷ trọng chi phí tiền điện trong giá thành các mặt hàng này là rất nhỏ do đó tỷ lệ tăng giá các mặt hàng này do điều chỉnh giá điện là không đáng kể.

Tại cuộc họp về việc điều chỉnh giá điện năm 2010 tổ chức sáng nay, Bộ Công Thương cho biết giá bán điện cho các nhóm đối tượng khách hàng sẽ tính theo nguyên tắc xoá bỏ dần bù chéo từ điện sản xuất cho điện sinh hoạt. Giá bán điện bình quân cho các ngành sản xuất tăng 6,3%, thấp hơn mức tăng giá điện bình quân chung.

Giá bán lẻ điện bình quân cho sinh hoạt bậc thang tăng 6,8%, bằng tỷ lệ tăng giá điện bình quân. Giá bán lẻ điện bình quân cho cơ quan hành chính sự nghiệp và kinh doanh có tỷ lệ tăng tương ứng là 6,1% và 6,3%.

Theo đánh giá, với tỷ lệ tăng giá điện năm 2010 ở mức 6,8%, số tiền chênh lệch do tăng giá điện trong năm 2010 bằng khoảng 0,30% GDP dự kiến cho năm 2010. Do tăng giá điện, ước tính sẽ làm giảm tốc độ tăng GDP năm 2010 khoảng 0,34%; trực tiếp làm tăng CPI khoảng 0,16%.

Các ngành sản xuất phải trả thêm khoảng 2.630 tỷ đồng tiền điện

Về tác động đến các ngành sản xuất, theo Bộ Công Thương, dự kiến với giá điện cho sản xuất tăng khoảng 6,3%, năm 2010 các ngành sản xuất phải trả thêm khoảng 2.630 tỷ đồng tiền điện, bằng khoảng 0,36% giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp năm 2010.

Một số ngành công nghiệp sản xuất 3 ca với chi phí tiền điện cao (chiếm 30-40% giá thành sản xuất) như cấp nước, điện phân… giá thành sản phẩm sẽ tăng thêm khoảng 2,83% – 3,15%%; các ngành cán thép, xi măng giá thành sẽ tăng thêm khoảng 0,20% – 0,69%. Chi phí tiền điện tăng thêm cho các ngành sản xuất phổ biến ở mức dưới 1% giá thành. Như vậy, mức ảnh hưởng của tăng giá điện đến sản xuất là không lớn.

Về ảnh hưởng đến chi tiêu của nhà nước, dự kiến giá bán điện cho khối hành chính sự nghiệp năm 2009 tăng khoảng 6,1%, tổng chi phí tiền điện tăng thêm do tăng giá điện của các cơ quan hành chính sự nghiệp trong năm 2009 khoảng 280 tỷ đồng, bằng khoảng 0,29% tiêu dùng cuối cùng của nhà nước năm 2010.

Cũng theo công bố của Bộ Công Thương, Việt Nam hiện vẫn là nước có giá điện thấp nhất ở khu vực Đông Nam Á. Năm 2009, giá điện đươc bán ở mức 5,3 cent/kWh, sau khi tăng giá điện 6,8%, giá bán điện vào khoảng 5,54 cent/kWh thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Indonesia hiện bán với giá 6,77 cent/kWh, Malaysia khoảng 7,6 cent, Philippines 17,52 cent, Singapore 13,07 cent/kWh, Thái Lan 8,5 cent/kWh.

Phạm Tuyên

January 27, 2010

thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng dầu sẽ được thay đổi tương ứng theo giá dầu thô trên thị trường Singapore.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:40 am
Tags: , , , , ,

Theo quy định mới, mức thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng dầu sẽ được thay đổi tương ứng theo giá dầu thô trên thị trường Singapore.

Bộ Tài chính vừa có công văn gửi Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu, công bố các mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng, dầu tương ứng với giá mặt hàng xăng, dầu trên thị trường thế giới.

Bộ Tài chính cho biết, quy định mới này được ban hành nhằm tăng tính chủ động trong công tác quản lý, điều hành chính sách thuế đối với mặt hàng xăng, dầu.

Các mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi nêu trên là một trong những căn cứ, cơ sở để Bộ Tài chính xem xét, ban hành các Thông tư hướng dẫn về mức thuế suất thuế nhập khẩu cụ thể đối với mặt hàng xăng dầu phù hợp với tình hình thực tế.

Đồng thời là một trong những căn cứ để các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu chủ động xây dựng kế hoạch, phương án kinh doanh.

STT
Giá platt’s dầu thô WTI
(USD/thùng)
Mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi (%)
Xăng, dầu hỏa, nhiên liệu bay Diezen, mazut
1 Từ 45 đến dưới 60 30 25
2 Từ 60 đến dưới 75 25 20
3 Từ 75 đến 95 20 15

(Giá platt’s dầu thô WTI là giá bình quân trên thị trường Singapore của 30 ngày trước ngày điều chỉnh thuế suất).

Trong trường hợp đặc biệt, giá thị trường trong nước và thế giới biến động bất thường (giá platt’s dầu thô WTI dưới mức 45 USD/thùng hoặc cao hơn 95 USD/thùng), thì các mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu sẽ được điều hành theo quy định cụ thể của Bộ Tài chính.

Trong mọi trường hợp, mức thuế nhập khẩu ưu đãi tối đa không vượt quá 40%.

January 16, 2010

Dự kiến tăng thuế tài nguyên

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:28 pm
Tags: ,

Saturday, 16. January 2010, 07:32:02

Đa số các các loại khoáng sản kim loại dự kiến sẽ tăng mức thuế suất tăng từ 7% hiện đang áp dụng lên 10%, riêng vàng và đất hiếm dự kiếm mức thuế suất là 12%.

Theo thông tin từ Cổng TTĐT Chính Phủ, triển khai thực hiện Luật Thuế Tài nguyên vừa được Quốc hội khóa XII thông qua, Bộ Tài chính đã dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Biểu thuế suất Thuế Tài nguyên và dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2010.

Dự thảo Nghị quyết nêu rõ, mức thuế suất thuế tài nguyên được xác định theo nguyên tắc tài nguyên không có khả năng tái tạo thì thuế suất cao (khoáng sản kim loại và một số loại tài nguyên quý hiếm khác như kim cương, rubi, dầu thô, khí thiên nhiên, khí than…); tài nguyên có khả năng tái tạo thì thuế suất thấp (nước, hải sản tự nhiên…).

Danh mục nhóm, loại tài nguyên chịu thuế được phân thành 9 nhóm theo quy định của Luật Thuế Tài nguyên. Trong mỗi nhóm sẽ quy định các loại tài nguyên với mức thuế suất cụ thể.

Trước tiên, trong nhóm khoáng sản kim loại, đây là loại tài nguyên không tái tạo, có giá trị kinh tế lớn. Để góp phần khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả nên dự kiến mức thuế suất cao. Đa số các kim loại thuộc nhóm này dự kiến mức thuế suất tăng từ 7% hiện đang áp dụng lên 10% (sắt, mangan, titan, bạch kim, bạc, thiếc, chì, kẽm, nhôm…), riêng vàng và đất hiếm dự kiếm mức thuế suất là 12% (vàng hiện đang áp mức 9%, đất hiếm 12%).

Trong nhóm khoáng sản không kim loại, đối với một số loại tài nguyên quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như kim cương, rubi, sapphire, ôpan quý… được đề nghị mức thuế suất cao (15% và 20%) để hạn chế khai thác. Một số loại tài nguyên có giá trị không lớn và là đầu vào của các ngành sản xuất như đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình, đất làm gạch, apatit, sỏi… mức thuế suất sự kiến thấp, khoảng từ 3 – 5%.
Gỗ rừng tự nhiên là sản phẩm có giá trị kinh tế cao, việc khai thác tác động lớn tới môi trường. Hiện nay, Nhà nước đang thực hiện chủ trương hạn chế khai thác rừng tự nhiên. Do đó, mức thuế suất đối với nhóm này cũng được dự kiến ở mức cao. Cụ thể, gỗ nhóm I mức thuế suất là 35%, gỗ nhóm II 30%, gỗ nhóm III, IV là 20%; gỗ nhóm V, VI, VII, VIII và các loại gỗ khác là 15%. Riêng trầm hương, kỳ nam là loại gỗ quý, có giá trị kinh tế cao nên áp mức thuế suất 25%.

Đối với hải sản tự nhiên, vẫn giữ nguyên mức thuế cũ là 10% đối với ngọc trai, bào ngư, hải sâm và 2% đối với các hải sản tự nhiên khác.

Nhóm nước thiên nhiên về cơ bản vẫn giữ các mức thuế suất như hiện hành. Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp mang lại giá trị kinh tế cao có mức thuế suất cao là 8%. Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện mức thuế suất là 2%.

Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than, thuế suất được xác định lũy tiến từng phần theo sản lượng dầu thô, khí thiên nhiên, khí than khai thác bình quân mỗi ngày và có phân biệt giữa “dự án khuyến khích đầu tư” và “dự án khác”. Các mức thuế suất đều được giữ nguyên như hiện hành (từ 6 – 27% đối với dầu thô và 1 – 10% đối với khí thiên nhiên, khí than), riêng khí thiên nhiên, khí than có sản lượng khai thác đến 5 triệu m3/ngày hiện hành đang áp dụng mức thuế suất 0%, nay khung thuế suất mới là 1-30% nên phải tăng mức thuế suất lên 1% để đảm bảo phù hợp với khung thuế suất của Luật.
Với mức thuế suất thuế tài nguyên như dự kiến thì số thu thuế tài nguyên mỗi năm khoảng 27.360 tỷ đồng (trong đó, thuế tài nguyên từ dầu khí khoảng 24.000 tỷ đồng, chiếm 87,7% tổng số thu thuế tài nguyên); khoáng sản không kim loại khoảng 1.852,4 tỷ đồng; nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện khoảng 620 tỷ đồng; khoáng sản kim loại khoảng 467,3 tỷ đồng.

January 5, 2010

‘Không thể chấp nhận giá độc quyền nhảy vọt cho ngành điện”- Ledangdoanh

Cho đến nay, câu chuyện đàm phán giá bán than cho điện vẫn còn chưa ngã ngũ”, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế đã trao đổi với VietNamNet xung quanh câu chuyện này.

PV:  Thưa ông, ông đánh giá thế nào về những lình xình xung quanh câu chuyện than tăng giá cho điện quá cao? Cái gốc vấn đề có phải là vì than muốn tối đa hóa lợi nhuận?

Than muốn nâng giá là muốn đảm bảo giá thành và lợi nhuận của mình. Đó là điều có thể hiểu và

Mô tả ảnh.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh. (Ảnh: Phan Hùng)

thông cảm được.

Tuy nhiên, điều chỉnh giá bao giờ cũng là một quá trình mà ở đó, sẽ dẫn tới có người được lợi, có người lại chịu thiệt. Thế thì ở đây, phải có sự tính toán có hệ thống.

Than là tài nguyên quốc gia, việc khai thác tài nguyên này lại giao cho một tập đoàn Nhà nước làm. Trong khi đó, ngành điện là ngành sử dụng nhiều than, nhưng lại bị kiểm soát về giá bán ra.

Khi chúng ta áp dụng cơ chế thị trường đối với một sản phẩm như vậy, bán cho một ngành bị kiểm soát giá thì chúng ta có thể thấy ngay là, chuỗi chị trường hóa đó đang bị chặn lại.

Muốn thế, phải xử lý khâu mà hiện nay, đang còn tắc nghẽn. Đó chính là khâu giá điện. Phải xem năm 2010, giá điện có thực sự được thị trường hóa như chỉ đạo ban đầu của Chính phủ hay không và thị trường hóa như thế nào?

– Tuy nhiên, cái lý mà TKV đưa ra là phải theo chỉ đạo của Chính phủ, năm 2010, giá than bán cho điện phải theo thị trường. Điểm nào cần lưu ý nhất khi thực hiện chính sách này?

Mô tả ảnh.
Giá điện có thể gây sốc nếu giá than cũng “gây sốc”. (Ảnh: EVN)

Bài toán thị trường hóa về giá cả của hai mặt hàng than – điện này là hết sức phức tạp. Trên thế giới, ở những nền kinh tế thị trường nhiều kinh nghiệm như Anh, Úc thì việc kiểm soát giá cả của các công ty độc quyền, dù là tư nhân hay Nhà nước thì đều là một việc làm hết sức khó khăn và kém hiệu quả.

Tôi đã có dịp gặp và thảo luận hai cơ quan phụ trách thị trường hóa ở Úc, Anh thì họ đều nói, họ đã đầu tư vào công việc đó hàng trăm nghìn USD, rồi tính toán, cãi cọ, gây sức ép, nhưng rồi vẫn không có cách gì cho kết quả khả quan hơn.

Khi mà, đó là những công ty có vị trí độc quyền, theo kiểu, nếu tôi “ngừng” cung cấp hàng thì anh “chết”. Đó là thế mạnh của ngành than đối với điện hiện nay.

Cho nên, tôi cho là, việc thị trường hóa giá điện cho than phải có lộ trình hợp lý hơn, và phù hợp hơn với nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Tôi đề nghị Chính phủ hãy lập một hội đồng độc lập, bao gồm hiệp hội năng lượng, hiệp hội khoa học kỹ thuật và các chuyên gia ngành để có thể xem xét đề nghị của ngành than, ngành điện và đưa ra một kiến nghị độc lập.

– Thưa ông, năm ngoái, người dân đã sốc khi mà giá điện tưởng tăng 15-20% và sau đó, đã được chỉ đạo là chỉ tăng dưới 10%. Nay, nếu như giá điện tăng 17% theo giá than, vượt 4 phuơng án của EVN, thì ông đánh giá hệ lụy thế nào?

Theo TKV, chủ trương thị trường hóa giá than bán cho các hộ tiêu dùng lớn gồm điện, giấy, xi  măng và phân bón bắt đầu thực hiện từ năm 2007.

Tuy nhiên, riêng giá than bán cho điện là thực hiện theo lộ trình điều chỉnh giá điện tới giá thị trường.

Từ năm 2007 đến nay, giá bán than hiện nay cho điện mới được điều chỉnh 1 lần duy nhất, tăng 27% vào cuối năm 2009, nhưng vẫn chỉ bằng 51-53% giá thành.

Để xử lý vấn đề này, không thể nào có một cách thức thị trường hóa về giá than mà lại theo kiểu nhảy vọt lên được, lên tận 149% so với giá cũ.

Một việc đã bị nén lại trong nhiều năm như giá than bán cho điện toàn thấp hơn giá thành, bây giờ qua một đêm, nâng lên 149%  đó là điều rất không lô-gíc. Sau đó, kéo theo là giá điện cũng tăng nhảy vọt!

Điều đó chắc chắc sẽ tác động rất tiêu cực đối với nền kinh tế Việt Nam.  Nguy cơ lạm phát cao quay trở lại vẫn còn đang rình rập và đó là một hiện thực.

Nếu nâng giá than và kéo theo là giá điện như thế, nó sẽ là một cú hích lớn để đẩy mặt bằng giá của năm 2010 lên cao hơn nữa.

Trong kinh tế học, có những công thức, mô hình cho phép tính toán, làm rõ được việc than tăng bao nhiêu thì điện tăng bao nhiêu, qua đó, nó tác động làm tăng giá thành từng ngành công nghiệp, du lịch… như thế nào?

Các cơ quan có thể dễ dàng tính toán khá chính xác về tác động của giá than, giá điện tới mặt bằng giá cả hàng hóa. Và khi đó, sẽ thấy rõ là không thể chấp nhận được việc tăng giá đột biến.

Trong nền kinh tế, mọi sự biến động dù là tăng, hay giảm như vậy đều là không bình thường, và đều phải trả giá cả.

Vấn đề là bây giờ, các tập đoàn, bộ ngành hãy nhìn từ lợi ích của nền kinh tế quốc dân hiện nay mà đặt ra một lộ trình cho giá than, giá điện phù hợp.

– Thưa ông, với lý do cần vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận của TKV lên tới 26% trong khi, điện có 5%. Ông nghĩ sao về con số này?

Tôi nghĩ rằng, than là tài nguyên đất nước và được Chính phủ  giao cho TKV khai thác, sử dụng. Thế thì, nó phải là đem lại lợi ích chung cho đất nước chứ không phải để mưu cầu lợi nhuận cho riêng mình. Nếu như, lợi nhuận mà là hai mươi mấy phần trăm, mà lại là lợi nhuận của ngành độc quyền thì cần xem xét nghiêm túc.

Nếu một tập đoàn mà khai thác tài nguyên ở vị thế độc quyền, nâng giá cao như vậy thì nói nôm na, khác nào đi bắt bí người ta.

Dù không phải là một chuyên gia về năng lượng, về giá cả thì với một người dân bình thường, cũng sẽ thấy nâng giá tới 147% là không thể nào chấp nhận được. Nếu ai cũng vì cái gọi là “thị trường hóa” mà nâng giá như thế thì nền kinh tế, đời sống xã hội sẽ thế nào?

Bài toán này phải được xử lý có tính hệ thống, có nhãn quan toàn cục, xuất phát từ tính trách nhiệm đối với xã hội, với bối cảnh kinh tế hiện nay.

Theo tôi, trong câu chuyện này, nếu các bộ cứ để hai bên tự đối thoại với nhau thì sẽ rất khó đi đến thống nhất vấn đề.

Trách nhiệm điều hòa lợi ích này là Nhà nước. Làm việc này tốt nhất là hãy minh bạch mọi thứ, có hội đồng giám định độc lập gồm các chuyên gia về năng lượng, giá cả, khoa học kỹ thuật. Hội đồng ấy sẽ xem là giá thành than có hợp lý không, tỷ suất lợi nhuận như vậy có hợp lý không?

Từ đó, có các hướng dẫn về thông số lợi nhuận, cân bằng giữa các ngành với nhau sao cho hợp lý. Một việc đã bị dồn nén nhiều năm thì không thể 1 lần giải quyết là xong, mà phải có lộ trình.

  • Phạm Huyền (thực hiện)

January 3, 2010

Tính kế ”tẩy chay” USD?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:34 am
Tags: , , ,

Các quốc gia Arab đã lặng lẽ bàn thảo với Trung Quốc, Nga và Pháp về việc sử dụng đồng USD cho giao dịch dầu lửa .

Tờ Independent của Anh vừa đưa tin, các quốc gia Arab đã lặng lẽ bàn thảo với Trung Quốc, Nga và Pháp về việc sử dụng đồng USD cho giao dịch dầu lửa.

Trong một động thái được xem là thay đổi tài chính sâu sắc nhất trong lịch sử Trung Đông gần đây, các nước Arab vùng Vịnh đang cùng với các quốc gia trên lên kế hoạch chấm dứt hoạt động giao dịch dầu lửa bằng USD.

Theo kế hoạch này, đồng tiền thay thế cho USD trong việc mua bán “vàng đen” sẽ là một rổ tiền tệ bao gồm Yên Nhật, Nhân dân tệ, đồng Euro, vàng, và một đồng tiền chung mới dự kiến sẽ được thiết lập dành cho các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (gồm có Saudi Arabia, Abu Dhabi, Kuwait và Qatar).

Những cuộc gặp bí mật giữa các bộ trưởng bộ tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương quốc gia tham gia vào kế hoạch này đã được tổ chức tại Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Brazil. Nếu được thực thi, kế hoạch đồng nghĩa với việc dầu lửa sẽ không còn được định giá bằng USD nữa.

Tờ The Independent cho hay, họ thu thập những thông tin này từ các nguồn tin thân cận trong ngành ngân hàng ở vùng Vịnh và ở Hồng Kông, nhưng từ chối tiết lộ danh tính của các nguồn tin.

Phóng viên Robert Fisk, tác giả bài báo, nhận xét, kế hoạch này của vùng Vịnh và các quốc gia đối tác trên có thể là một trong những lý do khiến giá vàng có sự gia tăng đột biến trong thời gian qua, đồng thời là “điềm báo” trước cho những thay đổi lớn lao sẽ diễn ra trên thị trường USD trong vòng 9 năm tới.

Dẫn nguồn tin từ ngành ngân hàng Trung Quốc, tờ Indendent cho biết, đồng tiền được sử dụng trong thời kỳ quá độ từ USD sang rổ tiền tệ theo kế hoạch trên rất có thể sẽ là vàng. Trong đó, lượng vàng khổng lồ cần cho quá trình này có thể được lấy từ kho của cải của Abu Dhabi, Saudi Arabia, Kuwait và Qatar – 3 nước với tổng dự trữ ngoại hối lên tới 2.100 tỷ USD.

Bài báo của Independent khẳng định, nước Mỹ chắc chắn đã ít nhiều biết được về những cuộc họp trên và chắc chắn sẽ tìm cách để chống lại kế hoạch này – một kế hoạch có sự tham gia của Nhật Bản và các nước Arab vùng Vịnh, những quốc gia vốn từ lâu được xem là đồng minh thân cận của Mỹ.

Kế hoạch này phần nào phản ánh sự suy yếu của USD cũng như địa vị kinh tế của Mỹ dưới ảnh hưởng của trận suy thoái toàn cầu này.

Chính Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) Robert Zoellick cũng đã đề cập tới vấn đề này trước thềm cuộc họp của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và WB tuần này tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. “Một trong những di sản của lần khủng hoảng này có thể sẽ là sự công nhận đối với những mối quan hệ đã thay đổi trong sức mạnh kinh tế”, ông Zoellick phát biểu.

Ngoài những quốc gia có tham gia vào bàn thảo kế hoạch trên, hiện Brazil và Ấn Độ cũng đã bày tỏ thái độ quan tâm tới việc hợp tác thôi dùng USD cho giao dịch dầu lửa.

Trên thực tế, Trung Quốc dường như là cường quốc kinh tế tích cực nhất trong vấn đề này, một phần do Trung Quốc đang cần hơn tới nguồn dầu lửa dồi dào ở Trung Đông để phục vụ cho nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng của mình. Mặt khác, Trung Quốc cũng có kim ngạch thương mại khổng lồ với Trung Đông.

Hiện tại, Trung Quốc đang phải nhập khẩu khoảng 60% lượng dầu tiêu thụ, chủ yếu từ Trung Đông và Nga. Trung Quốc có các hợp đồng khai thác dầu ở Iraq và vào năm 2008 đã đạt thỏa thuận trị giá 8 tỷ USD với Iran để phát triển hoạt động lọc hóa dầu cũng như tìm kiếm các mỏ khí đốt ở nước này. Ngoài ra, Trung Quốc còn có các thỏa thuận khai thác dầu với Sudan và đang đàm phán tiến tới thỏa thuận liên doanh trong lĩnh vực dầu khí với Libya.

Hàng xuất khẩu của Trung Quốc hiện chiếm không dưới 10% lượng hàng nhập khẩu của mọi quốc gia ở Trung Đông, với hàng loạt sản phẩm từ ôtô tới thực phẩm, quần áo, đồ chơi…

Trong một động thái được xem là bằng chứng rõ nét về sức mạnh tài chính đang lên của Trung Quốc, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Jean-Claude Trichet hôm qua đã kêu gọi Bắc Kinh để đồng Nhân dân tệ lên giá so với USD và nới lỏng sự phụ thuộc của Trung Quốc vào chính sách tiền tệ của Mỹ, qua đó giúp tái cân bằng lại nền kinh tế toàn cầu và giảm áp lực tăng giá đối với đồng Euro.

Kể từ khi hệ thống Bretton Woods được thiết lập sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 nhằm xác định cấu trúc của hệ thống tài chính quốc tế hiện đại tới nay, các đối tác thương mại của nước Mỹ luôn đứng trước sự kiểm soát đến từ các chính sách của nước Mỹ. Trong những năm gần đây hơn, đồng USD còn đã trở thành đồng tiền dự trữ số 1 của thế giới.

Thậm chí có ý kiến cho rằng, nước Mỹ đã thuyết phục nước Anh không tham gia sử dụng đồng Euro để tránh việc thế giới sớm dịch chuyển từ USD sang một đồng tiền dự trữ khác.

Tuy nhiên, tờ Indepdent dẫn nguồn tin từ ngành ngân hàng Trung Quốc cho biết, các cuộc đàm phán giữa các bên trong kế hoạch “tẩy chay” USD đã đi rất xa và nước Mỹ sẽ khó có thể chặn lại. Thời hạn chót cho sự chuyển giao từ USD sang giao dịch dầu lửa trong kế hoạch này là vào năm 2018.

“Nga rốt cục sẽ đưa đồng Rúp vào rổ tiền tệ này. Nước Anh bị kẹt ở giữa và sẽ dùng Euro. Họ không có lựa chọn nào khác vì họ không thể sử dụng đồng USD”, một nhà môi giới có tiếng ở Hồng Kông chia sẻ với tờ Independent.

Nguồn tin của tờ báo cho rằng, Tổng thống Barack Obama hiện đang quá bận rộn với việc đưa kinh tế Mỹ thoát khỏi suy thoái nên sẽ không thể tập trung đối phó với kế hoạch loại USD. Về phần mình, Trung Quốc từ lâu đã tỏ ra lo ngại về sự suy yếu của USD. Vấn đề của Trung Quốc là họ đang giữ quá nhiều tài sản bằng đồng tiền này.

Tháng trước, Iran tuyên bố dự trữ ngoại hối của nước này sẽ được giữ bằng Euro thay vì USD. Tuy nhiên, hẳn nhiều người còn nhớ, vào năm 2003, chỉ vài tháng sau khi Tổng thống Iraq khi đó là Saddam Hussein tuyên bố sẽ bán dầu lấy Euro thay vì lấy USD, Mỹ và Anh đã tiến hành chiến tranh nhằm vào nước này

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.