Ktetaichinh’s Blog

June 1, 2010

Thuế bảo vệ môi trường: Nhiều đối tượng “lọt lưới”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:51 pm
Tags: ,

Tại dự luật, 5 nhóm hàng hóa được Chính phủ đưa vào diện chịu thuế môi trường bao gồm: xăng dầu, than, môi chất làm lạnh chứa Hydro-clo-flo-cacrbon (dung dịch HCFC); túi nhựa xốp và thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng.

Nhiều vị đại biểu đã chỉ ra ngay không ít loại hàng hóa khác cũng gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng cần phải bổ sung vào đối tượng chịu thuế như: Máy tính, điện thoại, ắc quy, lốp xe, hóa chất tẩy rửa, sản xuất giấy, chế biến thực phẩm, phân bón hoá học…nhưng chưa có trong diện phải chịu thuế.

Theo phân tích của đại biểu Trần Văn thì từ năm 2012, thời điểm dự kiến luật sẽ có hiệu lực, mức thu thuế còn rất thấp. Nếu theo phương án trung bình, mức thu hàng năm chỉ vào khoảng 4 tỷ đồng đối với một số loại thuốc bảo vệ thực vật; 9 tỷ đồng đối với dung dịch tác nhân lạnh HCFC; 300 tỷ đồng đối với túi nhựa; 700 tỷ đồng đối với than và trên 34.766 tỷ đồng đối với xăng dầu.

Thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu sẽ thay thế phí bảo vệ môi trường hiện hành. Do đó, nó cũng sẽ không tác động nhiều tới giá xăng dầu, đại biểu Trần Văn nói.

Advertisements

April 18, 2010

Phá rừng “săn” sâm đất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:23 pm
Tags: ,

TTO – Vài tháng nay, mỗi ngày hàng trăm người vào rừng phòng hộ ven biển Sóc Trăng, Bạc Liêu để…”săn” sâm đất. 1kg sâm đất đổi được khoảng 1kg gạo nhưng những ngư dân nghèo sống ven rừng cũng biết rằng mỗi ký sâm đất mình săn được phải đào bới tứ tung hàng trăm gốc cây mắm.

Con sâm đất – Ảnh: Duy Khang

Tôi vào rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu vào một ngày giữa tháng tư. Mùa này sâm đất rất ít nhưng mới tờ mờ sáng trên con đê quốc phòng chạy dài từ biển Nhà Mát (thị xã Bạc Liêu) đến huyện Đông Hải đã xuất hiện nhiều tốp bà con quần áo lam lũ mang theo dao, dá, cuốc, thùng… đang lội thật nhanh vào rừng.

Đó là những lao động nghèo ở ven rừng phòng hộ thuộc thị xã Bạc Liêu, huyện Hòa Bình và Đông Hải. Vì miếng cơm manh áo nên ngày nào những con người nghèo khó này cũng vào rừng phòng hộ và khu vực bãi bồi ven biển để bắt ốc, mò cua và hiện nay là đào sâm đất đổi gạo.

Sau khi bị lực lượng kiểm lâm cơ động cùng chính quyền địa phương tìm mọi cách ngăn chặn, mỗi khi đi “săn” mọi người đều mang theo bên mình một ít cơm và nước uống để có thể trốn biệt trong rừng cho đến tối mịt mới về nếu lỡ bị phát hiện.

Bắt được con sâm bật gốc một cây rừng

Những năm trước chỉ có vài chục người đến từ các tỉnh lân cận như: Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau… vào rừng phòng hộ Bạc Liêu bắt sâm. Thấy sản lượng sâm khai thác khá nhiều và bán được giá cao nên hiện nay hàng trăm người ở các xã: Long Điền Đông, Long Điền Tây (huyện Đông Hải), Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A (Hòa Bình) và phường Nhà Mát, xã Hiệp Thành – thị xã Bạc Liêu đã nhanh chóng vào rừng.

Môi trường sống chủ yếu của sâm đất nằm dưới những gốc cây mắm tái sinh thuộc nơi gò cao, ẩm nên muốn bắt sâm “thợ săn” phải dùng dá, cuốc, xẻng… xắn mạnh vào gốc cây để đào lên một lớp đất sâu từ 1-2 tấc dính đầy rễ mắm.

Nơi nào rừng rậm rạp, “thợ săn” dùng dao… phát quang. Có những cây rừng nhiều năm tuổi cũng bị đào bật gốc để bắt sâm đất.  Mỗi gốc mắm chỉ tìm được một vài con sâm đất nhưng một “thợ săn” giỏi có thể bắt được 10-12kg/ngày; đào chậm 7-8kg/ngày.

Một người dân đang bới rừng tìm sâm đất ở dãy rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu – Ảnh: Duy Khang

Tương tự, bên phía rừng phòng hộ của tỉnh Sóc Trăng cũng có rất nhiều “thợ“săn” sâm đất.  Trong đó có hai anh em Thạch Hữu Cường và Thạch Hữu Tâm ở xã Vĩnh Hải của huyện Vĩnh Châu; khoảng 14-15 tuổi và đều  không biết chữ.

Trước đây, hai anh em mò cua bắt ốc ngoài bãi bồi ven biển cùng với gia đình. Mấy tháng nay trước “cơn lốc sâm đất”, Cường và Tâm cũng đã mua dá, cuốc, xẻng…ra rừng tìm sâm.

Cường cho biết: “Một ngày hai anh em tui vào rừng đào dưới gốc mấy cây mắm bắt được trên 15kg đồm độp (người dân ở đây gọi sâm đất (tên khoa học Sipunculus) là con đồm độp hay con chặt khoai – PV) bán với giá 9.000 – 10.000 đồng/kg. Nhờ có đồm độp mà tụi tui mỗi người kiếm được gần 100.000 đồng/ngày, sướng hơn trầm mình ngoài biển mò nghêu bắt ốc”.

Hàng chục hecta rừng bị đào bới mỗi ngày

Nhìn từ bên ngoài thấy những vạt rừng phòng hộ xung yếu ven biển Sóc Trăng và Bạc Liêu đang căng đầy sức sống với một màu xanh bạt ngàn. Tuy nhiên, khi lội sâu vào bên trong, trước mắt tôi là những cây mắm tái sinh đang xanh tốt trong phút chốc chỉ còn lại một tấc gốc to bằng cổ chân nằm sát mặt đất.

Một số nơi, rừng mắm đang thưa dần. Nếu bình quân 200m2 đất rừng đào được 1kg sâm đất (khoảng 200 con) thì với nửa tấn sâm mỗi ngày, khoảng hơn 10ha đất rừng bị đào bới tứ tung. Nhiều khoảnh rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu, Sóc Trăng bị cày xới mỗi ngày nhìn như những… thửa ruộng vừa bị xới tơi lớp đất mặt để chuẩn bị gieo mạ.

Một gia đình “thợ săn” sâm đất ở rừng phòng hộ Vĩnh Châu (Sóc Trăng) trên mảnh rừng vừa đào bới – Ảnh: Duy Khang

Ông Lê Ngọc Bội – hạt phó Hạt Kiểm lâm liên huyện rừng phòng hộ biển Đông – cho biết: “Chúng tôi cùng các trạm kiểm lâm phối hợp với bộ đội biên phòng và công an xã tuần tra ngày đêm và nổ lực tuyên truyền cho bà con biết được tác hại của việc bới rừng tìm sâm nhưng do lực lượng quá mỏng nên làm không xuể. Rễ cây mắm nhú trên mặt đất, nếu bị xắn đứt sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng của rừng phòng hộ xung yếu ven biển”.

Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Châu (Sóc Trăng), tình trạng vào rừng phòng hộ “săn” sâm đất đã xuất hiện nhiều tháng nay.

Ông Phạm Hoàng Bê – phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu – đã ký công văn gửi Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và UBND các huyện, thị xã đề nghị lực lượng kiểm lâm cơ động tăng cường công tác kiểm tra phòng chống phá rừng đồng thời tổ chức nghiên cứu, bảo tồn và phát triển con sâm đất ở vùng rừng ngập mặn ven biển để bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên lâu bền…

Tuy nhiên, nhiều người vẫn tỏ ra băn khoăn với những “biện pháp mạnh” vì nếu không tạo được công ăn việc làm cho những cư dân nghèo ở ven rừng thì khó có thể ngăn chặn được việc bới rừng tìm sâm vì hiện nay con sâm đất chính là “cần câu cơm” của nhiều bà con mình.

Một cán bộ kiểm lâm ở Sóc Trăng thở dài: “Những bà con khai thác sâm đất trái phép đều quá nghèo, nếu bắt được để thu giữ tang vật, ra quyết định xử phạt hành chính họ cũng không có tiền nộp phạt. Giao cho địa phương tuyên truyền, giáo dục nhưng khó khăn quá thì bà con lại vào rừng tìm sâm”.

March 18, 2010

Hiểm họa từ đảo rác lớn nhất hành tinh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:15 pm
Tags:

Với diện tích tối đa lên tới 15 triệu km2, bãi rác khổng lồ ở phía bắc Thái Bình Dương có thể to hơn cả Mỹ. Điều đáng sợ là diện tích bãi rác vẫn tiếp tục tăng.

Diện tích của đảo rác lớn nhất thế giới ngày càng tăng. Ảnh: oprah.com.
Diện tích của đảo rác lớn nhất thế giới trên Thái Bình Dương ngày càng tăng. Ảnh: oprah.com.

Eastern Garbage Patch là tên quốc tế của một đảo nổi khổng lồ được tạo nên bởi đồ nhựa phế thải ở phía bắc Thái Bình Dương. Telegraph cho biết, những dòng hải lưu trên đại dương đã “tập kết” rác từ khắp nơi để tạo nên đảo nổi này. Diện tích của nó dao động từ 700 nghìn tới 15 triệu km vuông. Giới khoa học ước tính bãi rác Thái Bình Dương có thể chứa tới hơn 100 triệu tấn rác. Một báo cáo mới đây của Liên Hợp Quốc khẳng định đảo rác đang phình to với tốc độ đáng báo động.

Nhựa – loại vật liệu có thể tồn tại suốt hàng nghìn năm – chiếm tới 90% đảo rác. Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc từng tiến hành khảo sát đảo rác Thái Bình Dương vào năm 2006. Kết quả cho thấy cứ mỗi km2 trên mặt nước có trung bình 28.750 mảnh nhựa. Do không bị phân hủy trên đất liền, rác ở dạng nhựa bị nước cuốn ra suối, sông rồi đổ ra biển. Khoảng 70% rác nhựa chìm xuống đáy đại dương. Những mảnh nhựa không chìm bị gió và các dòng hải lưu đẩy tới nhiều vị trí, trong đó đảo rác ở phía bắc Thái Bình Dương có diện tích lớn nhất.

Giới khoa học dự đoán đảo rác Thái Bình Dương hình thành từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Nhưng mãi tới năm 1997 nó mới được phát hiện. Người nhìn thấy nó đầu tiên là Charles Moore, một vận động viên đua thuyền người Mỹ. Ông nhìn thấy đảo rác khi trở về nhà từ một cuộc thi.

Hình minh họa
Hình minh họa các hướng đi của rác nhựa (màu vàng) sau khi bị cuốn trôi khỏi đất liền và ra đại dương. Trong quá trình trôi dạt gần bờ biển chúng gặp các dòng hải lưu và bị cuốn đi và tập trung tại các xoáy nước. Ảnh: typepad.com.

Chưa ai đánh giá chính xác mức độ nguy hiểm của hàng trăm triệu tấn nhựa phế thải trên Thái Bình Dương, bởi nhựa mới chỉ được sử dụng rộng rãi trong khoảng 50 năm. Nhưng nhiều nghiên cứu của Liên Hợp Quốc chứng minh rằng hơn một triệu chim và khoảng 100.000 động vật biển có vú chết vì nhựa. Nguyên nhân gây tử vong khá đa dạng: ngộ độc, vướng vào rác hoặc nghẹt thở vì nuốt đồ nhựa.

Tiến sĩ Simon Boxall, một chuyên gia về hải dương của Đại học Southampton tại Anh, tỏ ra bi quan về khả năng khắc phục hậu quả của đảo rác khổng lồ.

“Chúng ta chẳng thể làm gì vì nó quá lớn. Đảo rác này giống như chất thải hạt nhân vậy. Dù những sự cố tràn dầu trên biển có thể gây nên hậu quả thảm khốc tức thời, song theo thời gian dầu sẽ dần phân hủy. Nhựa không dễ phân hủy như thế. Có lẽ giải pháp duy nhất con người có thể làm là thay đổi cách vứt rác của chúng ta”, Telegraph dẫn lời Boxall.

March 17, 2010

Tái chế rác thải điện tử ở Việt Nam: Đường còn dài

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:56 am
Tags: ,

(TBVTSG) – Bản báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) về tình trạng rác thải điện tử trên thế giới công bố vào tháng trước dù không đề cập đến Việt Nam, nhưng theo các chuyên gia thì lượng rác thải này tại Việt Nam không hề nhỏ. Vấn đề tái chế cũng như xử lý an toàn lượng rác thải này vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các cơ quan chức năng, giới nghiên cứu lẫn cộng đồng mặc dù nhiều lời cảnh báo về sự độc hại từ những vật liệu có trong loại rác này như chì, thủy ngân và chrome đã được đưa ra từ lâu.

Cách đây hơn ba năm, trong một bản báo cáo dày 175 trang, một nhóm các chuyên gia của Công ty Môi trường Đô thị (URENCO) ở Hà Nội, qua nghiên cứu hơn 400 hộ gia đình, 400 văn phòng và 400 cơ sở sửa chữa, tái chế trên bảy tỉnh thành, đã ghi nhận một sự gia tăng đáng kể về số lượng rác công nghệ cao trong các năm từ 2002 đến 2006 (xem bảng).

Cũng trong năm 2007, Bộ Môi trường Nhật Bản phối hợp với Bộ Tài nguyên – Môi trường Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội thảo ở Hà Nội về vấn đề này, nhưng sau đó, câu chuyện rác thải điện tử đã trở nên im ắng và nhường chỗ cho những vấn đề môi trường cấp bách hơn, dù khối lượng rác thải là các sản phẩm điện tử hư cũ như ti-vi, máy tính, điện thoại di động, máy điều hòa không khí… ngày càng nhiều.

Theo số liệu của ngành thống kê, kim ngạch nhập khẩu máy tính và linh kiện điện tử vào năm 2000 đạt 892 triệu đô-la Mỹ, đến năm 2004 con số này tăng đến 1 tỷ 349,5 triệu đô-la và hai năm gần đây tăng vọt lên 3 tỷ 714,3 triệu đô-la vào năm 2008 và 3 tỷ 931 triệu đô-la vào năm 2009. Tương ứng với sự gia tăng của lượng máy nhập khẩu là sự gia tăng của lượng máy bị thải bỏ. Theo một ước tính của ngành môi trường, lượng rác thải điện thoại trong nước mỗi năm khoảng 400 tấn, ẩn chứa bên trong đó là các chất độc hại chưa qua xử lý như chì, thủy ngân…

Thực trạng tái chế

Một chủ cửa hàng thu mua hàng điện máy cũ ở khu chợ Nhật Tảo, quận 10 TP.HCM nói rằng ở Việt Nam không có chuyện vứt các loại điện thoại hay máy tính cũ, hư ra đường như rác mà thường người sử dụng bán lại cho các tiệm sửa chữa hay những người mua ve chai. Các sản phẩm thải ra này sau đó được người ta rã ra để thu gom linh kiện, hoặc lấy kim loại và vỏ máy đem bán lại cho các cơ sở tái chế.

Những linh kiện điện tử đó sẽ được các đầu mối mua lại, phân loại và chuyển cho các cửa hàng đồ điện tử tân trang rồi… bán lại cho người sử dụng. Đội quân thu gom và tái chế lượng rác thải này gồm hơn 1.000 cơ sở cùng hàng chục ngàn người mua ve chai này được các chuyên gia môi trường ví von là “cứu tinh” cho môi trường của thành phố.

Tuy nhiên, điều đáng nói là công nghệ tái chế tại các cơ sở này còn quá lạc hậu. Sau khi các kim loại và linh kiện điện tử còn dùng được được bóc tách và đem bán hoặc sửa chữa, phần còn lại chủ yếu được đốt hoặc nghiền rồi pha thêm hóa chất để tạo ra sản phẩm mới, vốn là các sản phẩm đơn giản như chai lọ, túi nylon với số lượng còn hạn chế.

Theo ông Lê Văn Khoa, Giám đốc Quỹ Tái chế chất thải TP.HCM, vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải rắn, chất thải nhựa gây ra đang được các ngành chức năng quan tâm, nhưng trên thực tế chưa có giải pháp nào hữu hiệu, dù tiềm năng là rất lớn, chẳng hạn như trong việc tái chế chất thải nhựa. Hiện nay Việt Nam có hơn 2.200 doanh nghiệp nhựa, khoảng 80-90% nguồn nguyên liệu đều phải nhập khẩu trong khi tốc độ phát triển của ngành này là từ 15% đến 20% mỗi năm.

Cần sự quan tâm đúng mức

Vị trí đặt quảng cáo

Tiến sĩ Chế Đình Lý, Phó viện trưởng Viện Môi trường – Tài nguyên thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết hiện vẫn chưa có chương trình nào nghiên cứu về vấn đề xử lý chất thải điện tử ở Việt Nam dù giới khoa học có ít nhiều quan tâm. Theo ông, các cuộc nghiên cứu hiện vẫn đang tập trung nhiều vào việc xử lý chất thải tập trung, chẳng hạn như chất dioxin, dầu biến thế, dầu nhớt, thuốc trừ sâu, thực phẩm…, hay nói nôm na là những cuộc nghiên cứu “có đầu ra”.

Ông Lý cho rằng sớm hay muộn thì cơ quan chức năng cũng phải chú trọng vào việc xử lý rác thải điện tử vì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của loại rác này rất lớn, trong khi tiềm năng tái sử dụng lại cao, vì thế vừa giải quyết được vấn đề môi trường lại vừa có hiệu quả về kinh tế.

Các cuộc nghiên cứu của giới khoa học trong nước cũng đã đưa ra các công nghệ để biến các loại rác này trở thành những nguyên liệu để sản xuất gạch xây, gạch lót đường, bao bì, tấm lợp, còn các hợp chất kim loại cần được thu hồi, kết hợp với việc tăng thêm đầu tư cho công nghệ tái chế thay cho chôn lấp, đốt bỏ, nhằm tránh gây hại cho môi trường.

Chuyên gia này nhấn mạnh rằng các cơ quan chức năng cần phải được đánh động về vấn đề rác thải điện tử và cần phải thay đổi tư duy quản lý môi trường của mình, đưa ra các chiến lược quản lý rác này ngay tại nguồn, khuyến cáo, ngăn ngừa thay vì xử lý tốn kém và chôn lấp rác.

Các con số ước tính cho thấy năm 2010 này trên cả nước sẽ có khoảng 45 triệu tấn rác thải rắn, trong đó rác điện tử chiếm một phần đáng kể. Một vấn đề đáng quan tâm hơn là dù chứa nhiều chất độc hại như thủy ngân, chì, chrome… nhưng loại rác này vẫn chưa được xem là chất thải nguy hại, nên chưa thu hút được sự quan tâm đúng mức của cơ quan chức năng, giới nghiên cứu lẫn xã hội.

Le lói những tín hiệu vui?

Cuối năm 2009, Chiến lược quản lý chất thải rắn đến năm 2025 được Chính phủ ban hành với các mục tiêu tái chế, phân loại tại hộ gia đình bên cạnh việc thành lập các quỹ tái chế chất thải rắn.

Tuy vậy, theo bà Huỳnh Thị Thu Hà, cán bộ môi trường Văn phòng UBND TP.HCM, quỹ tái chế chất thải rắn ở TPHCM dù được thành lập từ năm 2007 nhưng đến nay mọi hoạt động vẫn chỉ dừng lại ở hình thức tư vấn, tuyên truyền, hội thảo, nghiên cứu vì khoản ngân sách 50 tỷ đồng vẫn chưa đến được với quỹ, gây khó khăn cho các hoạt động hỗ trợ tái chế chất thải rắn.

Một tín hiệu lạc quan khác cho môi trường là nhà máy xử lý chất thải rắn do công ty Vietstar đầu tư với công nghệ được chuyển nhượng từ tập đoàn Lemna (Mỹ) cũng vừa mở cửa vào cuối năm 2009 tại Củ Chi, TP.HCM, mặc dù khối lượng rác xử lý ban đầu chưa nhiều, khoảng 1.200 tấn rác thải rắn mỗi ngày.

Trong khi đó, Cục Hạ tầng kỹ thuật – Bộ Xây dựng cho biết đang lập kế hoạch trình Chính phủ Chương trình xử lý chất thải rắn đến năm 2020, dự kiến sẽ huy động số vốn 44.000 tỷ đồng để đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý chất thải rắn với mục tiêu giải quyết được 85% chất thải vào năm 2015 và nâng lên 95% vào năm 2020.

Rác thải điện tử, dù được coi là chất thải nguy hại hay chất thải rắn thì theo tiến sĩ Chế Đình Lý cũng phải được giải quyết, vấn đề là ở chỗ nếu làm sớm thì hậu quả sẽ được giảm nhẹ, cũng như các chi phí phải chi ra cho việc xử lý sẽ không quá tốn kém.

Tháng 2-2010, hãng điện thoại Nokia đã trao tặng Công ty Môi trường Đô thị TP.HCM 290 thùng rác được sản xuất từ nguyên liệu từ việc tái chế 7.363 chiếc điện thoại và 9.222 món linh kiện hỏng trong chương trình “tái chế điện thoại, bảo vệ môi trường” trong năm 2009. Dù món quà nhỏ, nhưng theo lời một chuyên gia môi trường, đây cũng là một câu chuyện lớn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Đòi chất lượng lao động Nhật, trả lương ‘tối thiểu’ Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:39 am
Tags: ,

Bức xúc vì lương thấp, điều kiện làm việc tiếp xúc với nhiều hóa chất độc hại mà không được phụ cấp và hàng loạt lý do “bất công” khác khiến gần 100 công nhân của Công ty thép Endo Stainless Stell Việt Nam (gọi tắt là Công ty Endo) tại Khu công nghiệp Nội Bài đình công trong nhiều ngày liên tiếp.

Muốn đi vệ sinh phải xin 3 chữ kí

Công ty Endo thành lập từ năm 2007, trụ sở chính ở Nhật Bản và Thái Lan, sản phẩm chính của công ty là ống nhiệt làm từ thép không rỉ cho máy in.

Từ sáng 9/3 tại cổng công ty ở Khu công nghiệp Nội Bài, hàng loạt công nhân của Công ty Endo đã nghỉ việc và đứng truớc trụ sở công ty để đòi quyền lợi cho mình.

Lao động nữ Công ty Endo đình công đòi giảm giờ làm và yêu cầu hưởng phụ cấp độc hại.

Chị N., nhân viên trong dây chuyền kiểm tra chất lượng, bức xúc: “Tôi làm việc tại công ty được hơn 1,5 năm. Hiện nay nếu làm đầy đủ thời gian của ca làm việc tôi được hơn 1,2 triệu tiền lương, 80 nghìn phụ cấp đi lại. Trong thời gian làm việc của tháng nếu tôi không đi ra ngoài đi vệ sinh, không lên phòng y tế vì ốm hoặc làm việc riêng khác thì sẽ được điểm chuyên cần là 100 nghìn. Thu nhập đó khiến cuộc sống của gia đình tôi rất khó khăn”.

Anh V., nhân viên kĩ thuật, mang một bức xúc khác: “Chuyện chúng tôi muốn đi vệ sinh phải xin 3 chữ kí là hoàn toàn đúng. Chúng tôi phải khai thông tin vào một mẫu có sẵn của công ty, ghi rõ: Kính gửi ai, tên bộ phận, mã số thẻ, ngày tháng, giờ đi, giờ về, lý do của việc đi… sau đó xin chữ kí của tổ trưởng, trưởng bộ phận và Giám đốc. Nhưng dù đi vệ sinh xin được cả 3 chữ kí thì khi phải xin mẫu đơn này chúng tôi cũng mất 100 nghìn tiền phấn đấu chuyên cần”.

Một công nhân khác đề nghị giấu tên kể lại đầy bức xúc: “Từ một phôi thép tròn, qua các công đoạn kĩ thuật kéo dài sản phẩm sau đó kiểm tra sản phẩm kéo dài và đánh giá sản phẩm…, chúng tôi phải tiếp xúc với rất nhiều hóa chất (tên thương phẩm) phục vụ sản xuất như: HC250, E clean21N, SP Clean 100, CBA 924 – 4 SP, AB-3466HT… đồng thời là lượng hóa chất bay hơi trong nhà máy lớn, mùi dầu cháy từ máy Fress thải trực tiếp ra xưởng. Người yếu có thể thường xuyên bị nôn”.

Chị công nhân này càng bức xúc hơn khi nghĩ đến 2 công nhân nữ bị sảy thai, nhiều người dị ứng không rõ lý do cụ thể khi lao động trong môi trường này mà không hề nhận được phụ cấp độc hại.

Theo nhiều công nhân viên khác, kỉ luật lao động tại Công ty Endo rất nghiêm ngặt. Họ thường xuyên phải lao động 9 tiếng một ngày, trong một tháng chỉ được nghỉ vào 4 ngày chủ nhật và một ngày thứ 7. Vào thời điểm gối ca, thay ca thời gian phải làm việc nhiều hơn. Không chỉ thế, do thiếu người họ phải làm việc của 2, 3 người khác. Thế nhưng mức lương được nhận quá bèo bọt.

Đòi chất lượng lao động Nhật, trả lương “tối thiểu” của Việt Nam

Công nhân viên đình công từ 9/3 và đến chiều ngày 11/3, ban lãnh đạo Công ty Endo đã họp, bà Nguyễn Thanh Hoàn, Chủ tịch Công đoàn, đã “thay mặt” công ty trả lời công nhân: “Về cơ bản không đáp ứng bất kể yêu cầu gì của công nhân. Không thể tăng lương cho công nhân vì công ty còn đang lỗ 25 tỉ! Theo tính toán thì tháng 4 này công ty mới có lỗ”.

Không hiểu Công ty Endo khi kí hợp đồng lao động với công nhân có cam kết rằng, khi được lãi thì chia đều hay không? Nhưng tại sao khi lỗ lại bắt công nhân cùng chịu?

Về vấn đề làm việc trong môi trường hóa chất độc hại thải, bà Hoàn cho rằng các hóa chất đó không có trong danh mục hóa chất nguy hại mà công nhân lao động cần được nhận phụ cấp độc hại. Công nhân đặt câu hỏi: “Tại sao đó không phải là chất thải nguy hại mà công ty có “phòng xử lý chất thải nguy hại”?”, bà Hoàn nói lại: “Tất nhiên có thể mùi nó khó chịu, nó không uống được nhưng các hóa chất đó không nguy hại đến mức được nhận phụ cấp!?”

“Về cơ bản, công ty không đáp ứng yêu cầu gì của công nhân”, bà Nguyễn Thanh Hoàn, Chủ tịch Công đoàn Công ty Endo, giải thích.

Ban giám đốc bận họp, ông Vũ Nguyên Bình (Trưởng phòng Kinh doanh của Công ty Endo) được cử ra tiếp phóng viên. Ông cho biết về việc phải xin 3 chữ kí để đi vệ sinh: “Không riêng việc đi vệ sinh, tại Công ty Endo, mỗi công nhân rời bỏ vị trí làm việc để đi bất kì đâu đều phải xin chữ kí từ 3 nơi trong một tờ mẫu vì công việc phải làm theo dây chuyền và máy luôn cần sự giám sát. Và nếu rời khỏi vị trí dù 1 lần trong tháng thì cũng không nhận được tiền chuyên cần”.

Nói về việc xử lý các hóa chất tại công ty, ông Bình cho rằng các hóa chất sau khi được sử dụng đều được đóng vào thùng phi giao cho công ty môi trường đô thị (nơi có giấy phép xử lý chất thải nguy hại) để xử lý, không thải dù trực tiếp hay gián tiếp ra ngoài.

Theo lời bà Hoàn và ông Bình thì rõ ràng môi trường sản xuất của Công ty Endo chứa rất nhiều chất thải nguy hại. Ở Công ty Endo công nhân làm việc phải chịu kỉ luật rất nghiêm ngặt. Thế nhưng về phía công nhân họ phải làm việc trong môi trường độc hại, phải chịu kỉ luật “oái ăm”, phải đảm nhiệm một lúc nhiều vị trí vậy mà lương thì quá thấp lại không nhận được trợ cấp độc hại? Như vậy thì rõ ràng là đòi chất lượng lao động Nhật mà lại trả lương mức “tối thiểu” Việt Nam.

“Điều đó làm chúng tôi bức xúc, chúng tôi sẽ đình công đến khi Ban Giám đốc công ty chịu lắng nghe và giải quyết quyền lợi cho chúng tôi”, các công nhân bày tỏ quyết tâm.

March 16, 2010

Dự kiến áp thuế môi trường vào 5 loại hàng hóa

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:46 pm
Tags: ,


from Kế toán | Tài chính by tmtvietnam
Túi nilon sẽ là sản phẩm dự kiến chịu thuế môi trường.

Góp ý vào dự thảo Luật Thuế môi trường, các đại biểu thống nhất về việc cần thiết ban hành Luật, song có nhiều ý kiến khác nhau về một số vấn đề như thuế đánh vào người sản xuất hay người tiêu dùng, sự khác nhau giữa thuế môi trường và phí môi trường..

Chiều 15/3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Thuế môi trường. Quá trình phát triển nền kinh tế đã làm phát sinh những yếu tố tác động tiêu cực đến môi trường, dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng, sự phát triển bền vững đang bị đe dọa.

Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm khi sử dụng

Theo Tờ trình của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trình bày, việc ban hành và thực thi chính sách về bảo vệ môi trường ở nước ta còn nhiều bất cập, các quy định về phí môi trường hiện hành (phí đối với nước thải, chất thải rắn, khai thác khoáng sản, phí xăng dầu), mới chỉ dừng lại ở mục tiêu huy động đóng góp một phần của những đối tượng xả thải hỗ trợ làm sạch thêm môi trường.

Trong các sắc thuế có liên quan như Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Thuế Xuất nhập khẩu, mục tiêu bảo vệ môi trường chỉ là mục tiêu lồng ghép, không phải là yêu cầu chính.

Vẫn theo Bộ trưởng Vũ Văn Ninh, việc ban hành Luật này sẽ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền với giảm ô nhiễm môi trường; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, góp phần thay đổi nhận thức của nhân dân trong sản xuất và tiêu dùng; tăng cường quản lý Nhà nước và thực hiện cam kết của Chính phủ với cộng đồng quốc tế và động viên hợp lý đóng góp của xã hội với vấn đề môi trường hiện nay.

Việc thu thuế phải tính đến sự hài hòa với phát triển kinh tế, đảm bảo năng lực cạnh tranh và xuất khẩu của hàng hóa; đồng thời phân biệt rõ thuế môi trường đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm khi sử dụng và phí bảo vệ môi trường đánh vào nguồn gây ô nhiễm khi sản xuất.

Theo đó, dự kiến các sản phẩm và hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế môi trường gồm: xăng dầu các loại, than, môi chất làm sạch chứa dung dịch hydro-clo-flo-carbon (HCFC – một tác nhân chính làm thủng tầng ozon), túi nhựa xốp (túi nilon), thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng.

Dự thảo Luật cũng đưa ra một số hàng hóa, sản phẩm không chịu thuế môi trường như hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua biên giới Việt Nam; hàng tạm nhập tái xuất trong thời hạn theo quy định; hàng hóa do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu.

Rạch ròi giữa “thuế và phí”

Góp ý cho dự thảo Luật, GS. Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội phân tích: Cần làm rõ nội hàm khái niệm thuế đánh vào sản phẩm, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường hay thuế đánh vào quy trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường.

Cũng như vậy, theo Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, cần phân biệt rõ ràng, thuế đánh vào nhà sản xuất hay tiêu dùng. Cụ thể, như xăng dầu các loại là đánh vào người tiêu dùng chứ không phải người sản xuất, như vậy có làm tăng giá xăng dầu trong nước và thành gánh nặng cho người tiêu dùng hay không?

“Tôi cho rằng, nếu đã thu thuế môi trường rồi thì không thu phí nữa”, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền kiến nghị.

Báo cáo thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Tài chính Ngân sách nhận xét, có sự khác nhau về tính chất giữa thuế môi trường và phí môi trường. Nếu thuế được thu vào sản phẩm gây tác động xấu về môi trường khi sử dụng thì phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm khi sản xuất. Vì vậy, vẫn phải áp dụng cả phí môi trường và thuế môi trường ở những công đoạn khác nhau, đối tượng khác nhau.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang cũng cho rằng, dự thảo Luật đã quy định rõ ràng, phí đánh vào người sản xuất, thuế đánh vào người sử dụng.

Dự kiến, dự thảo Luật này sẽ được các đại biểu Quốc hội thảo luận lần đầu tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội Khóa XII tới đây.

Biểu khung thuế môi trường dự kiến

(Nguồn: Dự thảo Luật thuế môi trường)

STT Hàng hoá Đơn vị Mức thuế (đồng/1 đơn vị hàng hoá)
I Xăng dầu Lít
1 Xăng các loại Lít 1.000 – 4.000
2 Nhiên liệu bay Lít 1.000 – 3.000
3 Dầu diesel Lít 500 – 2.000
4 Dầu hoả Lít 300 – 2.000
5 Dầu mazut Lít 300 – 2.000
II Than Tấn 6.000 – 30.000
III Dung dịch HCFC Kg 1.000 – 5.000
IV Túi nhựa xốp Kg 20.000 – 30.000
V Thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng Kg
1 Thuốc sử dụng trong nông nghiệp Kg 500 – 5.000
2 Thuốc trừ mối Kg 1.000 – 5.000
3 Thuốc bảo quản lâm sản Kg 1.000 – 5.000
4 Thuốc khử trùng kho Kg 1.000 – 5.000

(Theo Chinhphu.vn)

March 13, 2010

Tiến sĩ Lê Đức Tuấn, giám đốc trung tâm Nghiên cứu rừng ngập mặn Cần Giờ- Hiểu thiên nhiên sẽ thân thiện với môi trường

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:45 am
Tags: , ,

SGTT – TS Lê Đức Tuấn, ngoài công tác quản lý, hiện đang là giảng viên khoa địa lý môi trường, đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM. Từ một cán bộ trồng rừng, ông trở thành tiến sĩ khoa học với giấc mơ biến Sài Gòn trở lại là một “đô thị trong rừng” như cái tên nguyên thuỷ của nó.

Ông là một trong những đội viên Thanh niên xung phong (TNXP) đầu tiên ở lại Cần Giờ và cùng với hàng ngàn con người nỗ lực khôi phục khu rừng ngập mặn này. Những năm tháng đó đã ghi dấu ấn trong ông như thế nào?

Trước tiên phải nói đến tầm nhìn sâu xa của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi đó là Bí thư Thành uỷ TP.HCM với tham vọng khôi phục hàng chục ngàn hécta rừng ngập mặn đang hoá bùn. Cũng nhờ ông Kiệt quyết mà TS Lê Văn Khôi, giám đốc lâm trường Duyên Hải, với cái nhìn của một nhà khoa học, ban đầu chỉ dám nhận 200ha/năm, khi ông Kiệt giao 4.000ha/năm cùng lời hứa sẽ huy động toàn lực lượng thì anh vẫn chần chừ không tin. Trước khi nhận dự án trồng lại rừng, TS Lê Văn Khôi đã đi khảo sát toàn miền Nam để tìm trái giống thì chỉ còn Cà Mau là nơi có thể cung cấp. Anh cho thành lập một tổ đi xuống tận Cà Mau thu mua. Mỗi ghe chở được cao nhất khoảng 30 tấn đi hết nửa tháng về đến Sài Gòn cũng chỉ dùng được 60%. Bên cạnh đó, anh Khôi cho thành lập các đội kỹ thuật xuống chỉ dẫn cho dân năm xã Thạnh An, Long Hoà, Cần Thạnh, Lý Nhơn và Tam Thôn Hiệp. Tổng cộng toàn bộ lực lượng là 3.000 người. Lúc đó, tôi mới 23 tuổi, là TNXP chuyển ngành nhưng từng học nông lâm nên được phân công vẽ sơ đồ cho việc gieo giống. Chúng tôi tiếp tục cho trồng thêm các loài cây.

Cây càng đa dạng thì rừng càng có tính bền vững. Sau khi rừng khép tán thì vài ba năm sau chúng tôi phát hiện cây dày quá do lúc gieo hạt không để ý. Thế là rủ nhau đi tỉa thưa. Có một kỷ niệm đáng nhớ, ấy là lúc chúng tôi bắt gặp một con mèo rừng to như con cọp làm ai cũng hồn vía bay lên. Khi nhìn lại biết chắc là mèo, ai nấy mới thở phào rồi cả bọn rú lên vì mừng: các loài thú đã quay về! Sau đó chúng tôi gặp cọp thiệt, thêm cả heo rừng, chồn, nhím… và các loại chim rừng cùng hằng hà sa số các loài cá. Còn bò sát cũng hàng trăm loài, kể cả những loài có tên trong Sách đỏ. Sau 22 năm, rừng Cần Giờ trở thành một khu rừng ngập mặn được phục hồi lớn nhất Việt Nam. Ngày 21.1.2000, uỷ ban MAB (Man and Biosphere programme) của UNESCO công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển của thế giới, cũng là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam.

Điều kỳ diệu là chính giới khoa học nước ngoài cũng đánh giá rất cao về tầm nhìn của các nhà lãnh đạo Việt Nam khi cho khôi phục lại cả một khu rừng bị tàn phá trong thời điểm mà các nước khác đang phá rừng. Còn nhớ lúc đó, TP.HCM còn có chính sách các nhà hàng, khách sạn phải phụ thu 8% để đưa vào quỹ xây dựng nguồn vốn cho việc trồng rừng ở Cần Giờ. Rồi không chỉ chính quyền tham gia mà ngay cả đến xã cũng thành lập ban chỉ đạo trồng rừng… tức huy động toàn nhân dân. Đó là sự gắn kết cộng đồng mà không phải nơi nào cũng làm được. Còn bây giờ, nói thật, chỉ chục năm gần đây, chúng tôi mới thực sự thấy gian khó vì muốn giữ được rừng, phải chống lại lòng tham của con người.

Có phải ông và những người đang làm công tác giữ rừng, phát động phong trào “đô thị xanh” đang phải đối mặt với rất nhiều dự án, quy hoạch xâm phạm đến “lá phổi” này và cả những mảng xanh khác của nội thành?

Ông bà mình ngày xưa biết con nào mùa nào đẻ trứng nên không cho đánh bắt, thậm chí còn dùng thần linh để giới hạn lòng tham của con người. Đất của mình, mình phải tính đến đời sau con cháu còn có ăn hay không

Đúng vậy, nói đến đây phải nhắc đến công lao rất lớn của giáo sư Phan Nguyên Hồng và Nguyễn Hoàng Trí. Nếu những người trí thức ấy không nỗ lực để UNESCO công nhận di sản thì có lẽ rừng Cần Giờ cũng đã bị nhiều dự án xây dựng xâm phạm. Mới đây tuyến đường mở rộng sáu làn xe cũng gây nhức nhối cho chúng tôi khi nhìn những mảng xanh bị chia cắt. Có đến 80ha rừng bị mất đi. Từ nước ngoài, có người gửi email hỏi: “Chúng tôi nhìn thấy trên vệ tinh con đường lớn cắt ngang qua rừng, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hệ sinh thái. Mục đích nhân văn nào khi chính quyền cho mở đường lớn như vậy xuyên qua rừng?” Chúng tôi trả lời với họ là đang tìm những nơi khác để trồng bù.

Con người luôn phải gắn với thiên nhiên, môi trường, không thể tách rời, vì giữa hệ thống thiên nhiên và con người luôn có sự trao đổi về chất. Ông bà mình ngày xưa biết con nào mùa nào đẻ trứng nên không cho đánh bắt, thậm chí còn dùng thần linh để giới hạn lòng tham của con người. Đất của mình, mình phải tính đến đời sau con cháu còn có ăn hay không.

Với xu hướng môi trường xanh toàn cầu hiện nay, ông có thể nói thêm về tầm quan trọng của việc giữ rừng Cần Giờ và hiện trạng ô nhiễm của TP.HCM?

TP.HCM có diện tích 209.000ha, tổng diện tích rừng hiện nay là 38.860ha, tức chỉ chiếm 18,5% diện tích tự nhiên. Rừng phân bố tập trung ở Cần Giờ, Bình Chánh và Củ Chi. Theo quy luật của tự nhiên thì độ che phủ cho một thành phố phải chiếm 40% mới cân bằng. Riêng rừng Cần Giờ chiếm 1/3 độ che phủ. Do yếu tố địa lý, khu rừng này lại nằm về phía đông nam của thành phố, ngay hướng gió biển thổi thẳng về đất liền, vì thế nó trở thành lá phổi sinh học khổng lồ, là món quà của mẹ thiên nhiên ban tặng cư dân thành phố. Nó còn là “nhà máy” điều hoà khí hậu cho Vũng Tàu, Đồng Nai. Vậy với 25% mảng xanh còn lại, TP.HCM phải có kế hoạch phủ lấp. Vì thế chúng tôi vừa làm xong dự thảo “Đề án bảo vệ, phát triển các loại rừng và cây xanh TP.HCM đến năm 2020 tầm nhìn 2025”. Trong đề án này, chúng tôi phân tích rất kỹ mức ô nhiễm của thành phố hiện nay từ môi trường đất, nước đến không khí. Đáng báo động là mức ô nhiễm do nhiệt và khói cùng với tốc độ đô thị hoá, bêtông hoá nhanh đã làm nhiệt độ bề mặt của đất gia tăng, cùng với bụi đã xuất hiện hiện tượng “đảo nhiệt” – làm cho nhiệt độ khu vực trung tâm thành phố gia tăng. Sài Gòn còn bị ô nhiễm mùi rất nặng. Tình trạng ô nhiễm môi trường quá mức đe doạ sự tồn vong của các khu rừng và mảng xanh đô thị. Nhà chức trách vẫn còn đánh giá thấp những đóng góp của ngành lâm nghiệp vào GDP của thành phố hiện nay. Chúng ta cần phải tính đúng và tính đủ các loại giá trị chức năng và giá trị đa dạng sinh học của rừng và mảng cây xanh vào GDP của TP.HCM.

Vậy theo ông, giải pháp tốt nhất cho tình hình không mấy khả quan này để tất cả chúng ta đều có thể thực hiện trước khi quá muộn là gì?

Ông Nguyễn Đình Quý, chi cục Lâm nghiệp TP.HCM

“Tôi làm việc với anh Tuấn đến nay đã hơn 20 năm. Chúng tôi cùng chia sẻ những ngày tháng trong rừng. Điều làm tôi ấn tượng về “người bạn rừng” này chính là tinh thần cầu tiến. Từ người đang đi học, bỏ dở rồi đi học lại, đến nay Tuấn đã có những công trình khoa học đáng nể. Hiếm có cán bộ lâm nghiệp nào đầy nhiệt huyết và xả thân như thế”

Đạo diễn Tường Phương:

“Tuấn với tôi là bạn học thời sinh viên, cùng học điện ảnh. Hai đứa chơi thân với nhau từ hồi đó. Sau khi đất nước giải phóng, Tuấn vào TNXP. Rồi bặt tin. Quả đất quay tròn, Tuấn lấy vợ cũng là bạn học của tôi, Thanh Bình – nghệ sĩ hoá trang nổi tiếng cho những bộ phim, trong đó có phim của tôi. Điều tôi bất ngờ là khi gặp lại anh toàn nói về rừng. Tôi càng nể khi thấy bạn mình tham gia những hội thảo khoa học với báo cáo viết bằng tiếng Anh, mới nhớ ra Tuấn có trình độ ngoại ngữ rất tốt. Anh còn viết sách bằng hai thứ tiếng Anh, Pháp. Một người như anh thật đáng tôn vinh trong xã hội mà giới trẻ đang chạy theo những giá trị ảo”

Nếu gọi việc trồng rừng, giữ rừng là một trong những giá trị để góp phần nâng cao chất lượng sống thì chúng ta đang dừng ở mức gây rừng để… thở thôi. Hiện nay dân số TP.HCM đang tăng nhanh, trong đó số hộ nông dân lại giảm dần, dự kiến đến năm 2020 là 9 triệu người nhưng chỉ có khoảng 450.000 nông dân. Sài Gòn trong tương lai tiếp tục phát triển công nghiệp, đô thị hoá, mở rộng các khu dân cư, môi trường xanh sẽ tăng cao. Do đó nhu cầu xây dựng các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, công viên, mảng cây xanh trong khu dân cư, mảng cây xanh đường phố phải là điều cấp thiết. Kinh phí cho việc nghiên cứu lâm nghiệp trước đây không được quan tâm nhiều. Có vẻ như năm 2010, trước sự thay đổi của khí hậu và trái đất nóng dần lên, người ta mới bắt đầu lo lắng và khởi xướng việc giữ rừng, trồng cây xanh.

Thành phố đã có chủ trương thành lập ban công tác chuyên ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Ngành nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất. Nếu nước biển dâng, rừng ngập mặn sẽ lấn sâu vào đất liền. Vì vậy phải có kế hoạch trồng cây chống sạt lở đê biển và các tuyến sông. Tuy muộn còn hơn không. Tóm lại kinh tế phát triển tới đâu phải nghĩ đến môi trường tới đó. Phát triển kinh tế thấy lợi nhuận trước mắt, nhưng muốn xây dựng môi trường bền vững cần vài chục năm. Tôi nghĩ, nếu hiểu thiên nhiên sẽ thân thiện với môi trường. Còn với chính cá nhân mỗi người, đem một cái cây về nhà chính là đã thêm khí thở cho mình và cả cho cộng đồng. Chúng tôi đang khuyến khích mọi người trồng cây ở khắp nơi có thể, từ sân thượng nhà mình đến phòng khách, phòng vệ sinh, nhà bếp… Làm sao cho ngôi nhà trọc của mình thành ngôi nhà xanh cũng là góp phần phủ xanh cho không gian thành phố. Thực tế hiện nay cho thấy chúng ta có nhân lực, có khoa học kỹ thuật nhưng tổ chức được hay không lại do trách nhiệm và lương tâm của con người. Cuối cùng thì mọi thứ cũng do con người cả thôi.

Ông nói những năm tháng ở rừng đã cho ông tình yêu và cả sự gắn bó với thiên nhiên như một “người bạn đời” thứ hai ngoài vợ. Tuy nhiên giấc mơ vào đời của ông lại là trở thành đạo diễn điện ảnh?

Năm đất nước giải phóng, tôi đang là sinh viên năm thứ hai trường Điện ảnh, khoa đạo diễn. Lúc đó, nhiều hoang mang và cả lo sợ, không biết sự thay đổi của lịch sử sẽ làm thay đổi cuộc đời mình thế nào. Thế là tôi đi TNXP, rồi gặp nhạc sĩ Lưu Hữu Phước cho tôi lời khuyên: “Em đi thi lại đi, học ngành nông nghiệp là hay nhất, nghề này cần cho đất nước thời bình”. Học xong, tôi về ty Lâm nghiệp TP.HCM làm việc. Năm đó, ty thành lập lâm trường Duyên Hải. Nơi đây từng là khu rừng ngập mặn hiếm hoi của đất nước. Quân đội Mỹ rải chất độc hoá học khiến không có loài sinh vật nào sống được. Tất cả tàn lụi dần, trông thật kinh khiếp. Tôi đã quyết định ở lại đây ban đầu vì lòng thương cảm vùng đất này.

Ông yêu rừng như thế, vậy còn thời gian nào cho gia đình hay không?

Tôi yêu gia đình mình và hài lòng với cuộc sống hiện nay. Tôi không tin vào số phận mà tin vào những gì mình tạo ra cho cuộc đời mình. Có lẽ do sống với thiên nhiên, hiểu rõ quy luật của tự nhiên cho nên tôi cũng áp dụng nó vào quy luật của đời mình. Cuộc đời tôi cũng đã có lúc rơi vào tuyệt vọng như chuyện mấy năm trời đi tù oan chỉ vì mình tin là mình đúng, người ta sai. Nhưng giờ ngẫm lại, là do mình không có cách ứng xử phù hợp. Rồi tôi cũng không giận ai lâu. Khi ai chửi tôi thậm chí hại tôi, tôi tự hỏi vì sao. Nếu trả lời được thì không giận họ nữa. Tôi tự cân bằng mình bằng cách sắp xếp công việc cho mình và gia đình sao cho hợp lý. Bản thân tôi phải đi rừng suốt, lại còn làm quản lý, đi dạy học và ngồi viết nghiên cứu. Cũng có khi tôi tự cho phép mình ra khỏi quy luật một chút bằng những ngày làm việc liên tục và ngủ bù hai ba ngày triền miên. Thi thoảng rơi vào trạng thái “ngoài quy luật” cũng khiến tôi thấy thú vị và tạo cảm hứng cho đời sống. Với tôi, biết hưởng thụ cuộc sống cũng là cách hoàn thiện bản thân.

Cám ơn ông về cuộc trao đổi thú vị này.

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỐI MẶT VỚI THÁCH THỨC KÉP CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:23 am
Tags: , ,

http://www.vncold.vn/modules/cms/upload/10/PhatTrienNuoc/100309/bckh_icold_2010_1.pdf

February 28, 2010

Tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo việc cho nước ngoài thuê rừng

Tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tiếng về việc một số địa phương cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn.

“Với Việt Nam đừng tưởng mạnh mà thắng được yếu”

Nghĩ về sức mạnh cộng hưởng của dân tộc

Trách nhiệm phải lên tiếng

– Được biết ông đã có thư gửi các cấp lãnh đạo có thẩm quyền cảnh báo nguy cơ từ việc cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn. Vì sao ông không đồng tình với việc này?

Ai làm gì tôi không biết nhưng tôi thấy đây là một trách nhiệm phải lên tiếng.

Đặc điểm nước ta nhỏ hơn một tỉnh của Trung Quốc, chiều ngang hẹp, chiều dài dài, độ dốc núi đổ ra biển rất gần, các cơn lũ quét nhanh ngang tiếng động, thiên tai xảy ra liên tục, môi trường ngày càng xấu đi, đặc biệt nước biển dâng mất thêm diện tích ruộng đồng bằng. Đây là một hiểm hoạ cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia.

Ngoài chuyện chặt rừng đầu nguồn gây lũ lụt tôi còn băn khoăn ở chỗ nhiều địa điểm cho thuê có vị trí chiến lược và địa chính trị trọng yếu. Nhớ lại các thời kháng chiến, tất cả các tỉnh đều có căn cứ là các vùng rừng núi, kháng chiến chống Pháp ta có Việt Bắc, kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường sơn và vùng Tây Nam Bộ. Những đất rừng đầu nguồn này đều nằm trong đất căn cứ hoặc ở vùng biên giới. Ví dụ. Nghệ An đang cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp đây là 3 địa bàn phên dậu quốc gia. Lạng Sơn cũng vậy.

Đảng, Nhà nước ta trong thời đổi mới cần sử dụng đất cho các mục tiêu là cần thiết nhưng phải cân nhắc kỹ quy mô, địa điểm, tính từng mét đất. Trong khi dân ta còn thiếu đất, thiếu nhà, thiếu việc làm, triệt để không bán, không cho nước ngoài thuê dài hạn để kinh doanh, trồng rừng nguyên liệu, địa ốc, sân gôn, sòng bạc…

Tuy đã muộn, nhưng ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.

Nhiều ý kiến phản đối, chính quyền tỉnh vẫn ký

– Có ý kiến cho rằng kiến nghị của ông bắt nguồn từ việc thiếu thông tin chính xác, do đó phản ứng như vậy là có phần cực đoan?

Tôi có thông tin chứ không phải chỉ nghe nói đâu đó. Sở dĩ tôi có thông tin là do anh em ở bộ chỉ huy quân sự tỉnh và công an báo lên. Ngay khi nhận được tin báo tôi đã gọi về các địa phương để hỏi, lãnh đạo tỉnh cũng công nhận với tôi là có chuyện đó.

Ở một số địa phương, công an và bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã lên tiếng ngăn cản nhưng chính quyền vẫn ký. Thậm chí, có nơi Chủ tịch tỉnh kí cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn.

Hồi anh Võ Văn Kiệt làm Phó Thủ tướng, anh Kiệt có giao cho tôi làm đặc phái viên hai việc: Một là làm sao chấm dứt được việc đốt rừng; Hai là tạm thời đình chỉ việc xuất khẩu gỗ. Anh Kiệt cho đến lúc cuối đời vẫn còn trăn trở với 2 phần việc này.

Trong một văn bản ủy quyền cho tôi, anh ghi rõ giao đồng chí Đồng Sỹ Nguyên có quyền xử lí tại trận không cần báo. Gay gắt đến thế trong việc giữ rừng giữ đất. Để đồng bào có sức trồng rừng, anh Kiệt còn cho chở gạo từ phía Nam ra tiếp trợ.

Trong bảy năm được Đảng, Chính phủ giao phụ trách chương trình 327, tôi đã cùng các bộ, các địa phương lặn lội khắp mọi nẻo rừng, ven biển, các đảo; đã từng leo nhiều ngọn núi cao hàng 1000m, từ bước chân, qua ống nhòm đã tận mắt thấy cảnh tàn phá rừng để làm nương rẫy, chặt phá gỗ quý để sử dụng và xuất khẩu.

Mối nguy hại của việc tàn phá rừng đầu nguồn thế nào mọi người đều đã rõ. Bởi vậy, trồng rừng đầu nguồn là vấn đề sống còn, là sinh mệnh của người dân, chúng ta không chỉ trồng rừng mà còn phải bảo vệ rừng.

Đã cho thuê hơn 300 ngàn ha rừng

– Đến nay ông đã nhận được phản hồi nào về kiến nghị của mình chưa?

Khi tôi gửi kiến nghị lên thì có nhận được điện thoại của Thủ tướng. Thủ tướng nói với tôi là đã nhận được thư và đang giao cho Bộ Nông nghiệp đi điều tra thực tế. Bộ Nông nghiệp cũng đã thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng điều tra xong và gửi lại bằng văn bản cho tôi.

– Kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp ra sao, thưa ông?

Bộ Nông nghiệp đồng ý với tôi việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê rừng đầu nguồn là sự thật. Bộ đã trực tiếp kiểm tra tại 2 tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh. Ngoài ra tổng hợp từ báo cáo của 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. 10 tỉnh này đã cho 10 DN nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 300 ngàn ha, trong đó DN từ Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 ngàn ha, 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đó là một tầm nhìn rất ngắn!

Giới chức địa phương khi được phỏng vấn đã bác bỏ quan ngại với lý do các dự án đều đã được cân nhắc kỹ lưỡng vì lợi ích của cộng đồng dân cư. Ông nghĩ sao về lập luận này?

Nói như thế là không thuyết phục.

Ngay trong báo cáo của Bộ Nông nghiệp cũng đã xác nhận một sự thật là một số nơi đã thu hồi đất của dân (đất lâm nghiệp thực tế đã có chủ) để giao cho nước ngoài thuê.

Theo tự nhiên, dân đồng bằng phải có ruộng, người miền núi phải có rừng. Nay cho thuê hết đất rừng thì người dân sẽ mưu sinh thế nào, điều đó cần phải làm rõ. Bao nhiêu cuộc kháng chiến của ta cũng chỉ vì mục tiêu người cày có ruộng, người dân miền núi có rừng. Cách mạng thành công cũng nhờ mục tiêu đó mà người dân hướng theo.

Việc lo cho dân phải là việc đặt lên hàng đầu, trước cả việc thu ngân sách. Cứ dựa vào những lập luận như tăng thu ngân sách để có những quyết định ví dụ như cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn là một tầm nhìn rất ngắn!

Sao không tự hỏi vì sao các DN nước ngoài lại chọn thuê đất chủ yếu ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, đặc biệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, đường đi lên Tây Nguyên? Rõ ràng đó là những tỉnh xung yếu biên giới, có những vị trí địa chiến lược mang tính cốt tử. Bản thân dân nước mình cũng đang thiếu việc làm.Và khi đã thuê được rồi thì liệu họ có sử dụng lao động là người Việt Nam hay là đưa người của họ sang?

Lấy ngay ví dụ việc cho nước ngoài thuê đất ở Đồ Sơn. Tôi đã trực tiếp đến kiểm tra, xung quanh khu vực đó, họ cho đóng những cột mốc to như cột mốc biên giới và không cho người Việt vào đó. Cận vệ của tôi tiếp cận xin vào họ cũng không cho, đến khi tôi trực tiếp xuống xe, làm căng quá mới vào được.

Việc một số địa phương nói rằng có những vị trí cho người nước ngoài thuê vì bao lâu nay vẫn để trống, nói như vậy là vô trách nhiệm, địa bàn anh quản lí mà để như thế tức là đã không làm tròn nhiệm vụ. Hồi tôi đi làm dự án 327, tôi rõ lắm, dân mình lúc nào cũng thiếu đất, muốn làm dự án còn không có mà làm, sao có đất để không được.

Kiến nghị đình chỉ ngay những dự án chưa ký

“Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc,
hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng”. Ảnh: Thu Hà

– Vậy theo ông, chúng ta cần phải làm gì trước hiện trạng này?

Một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, những tỉnh chưa kỷ đình chỉ ngay. Thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn chương trình 5 triệu ha rừng để thực hiện.

Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường lập ra bộ phận chuyên trách. Trong vòng một năm, chính thức giao khoán đất, khoán rừng cho từng hộ. Trong bản, trong xã cấp sổ đỏ quyền sở hữu sử dụng đất rừng vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.

Từ đây, tôi đề nghị mở rộng chương trình xoá đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp bố trí tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng.

Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng.

Chiến lược thuê đất của Trung Quốc

<!–NGay gio Modified

–>

23/02/2010 23:44

Trên một nông trường của người Trung Quốc ở Sudan – Ảnh: ChinaDaily
Trong nhiều năm qua, người Trung Quốc đã thuê đất đai ở khắp các châu lục trên thế giới.

Theo BBC, ngày 30.1.2010, một cuộc biểu tình với hàng trăm người dân đã diễn ra tại thành phố Almaty ngay sau khi giới lãnh đạo Kazakhstan thông báo Trung Quốc muốn thuê hàng triệu héc-ta đất nông nghiệp của nước này.

Sự kiện trên chỉ là một trong vô vàn vấn đề liên quan tới chiến lược thuê đất của nước ngoài mà chính quyền Bắc Kinh đang đẩy mạnh trong nhiều năm qua.

Không ngừng mở rộng

Tờ The Finacial Times (Anh) ngày 8.5.2008 cho biết, dưới áp lực về lương thực, Trung Quốc đã phải hướng ra ngoài để thuê đất nông nghiệp, khích lệ các doanh nghiệp nông nghiệp xuất ngoại. Thực tế cho thấy Chính phủ Trung Quốc đã cổ vũ cho các doanh nghiệp ra nước ngoài thuê mua đất nông nghiệp, đặc biệt là ở châu Phi và Nam Mỹ. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng đặc biệt khuyến khích các ngân hàng quốc doanh, doanh nghiệp sản xuất hoặc công ty dầu mỏ thuê đất đai ở nước ngoài.

Công ty Tân Thiên ở Tân Cương là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài. Từ năm 1996, Tân Thiên đã đầu tư 50.000 USD vào Cuba để trồng lúa nước. Hai năm sau, công ty này mua thêm 1.050 héc-ta đất ở Mexico. Tương tự, tháng 3.2004, chính quyền thành phố Trùng Khánh đã ký thỏa thuận hợp tác “Khu nông nghiệp tổng hợp Trung – Lào” với diện tích 5.000 héc-ta đất với nhiều hạng mục: lâm nghiệp, thủy lợi…

Mới đây, một quan chức Trung Quốc tiết lộ trên tờ The Finacial Times: “Bộ Nông nghiệp đang làm việc với Brazil để bàn việc mua đất trồng đậu”. Tờ báo cũng phân tích nếu Chính phủ Trung Quốc cổ vũ các doanh nghiệp mua hoặc thuê đất ở nước ngoài để kinh doanh và đưa lao động bản địa sang làm việc thì sẽ gây nên không ít vấn đề lớn cho các nước sở tại.

Thêm nữa, hoạt động nông nghiệp của Trung Quốc cũng có thể ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp của nước sở tại. Từ hơn 10 năm trước, người Trung Quốc đã tới Mông Cổ trồng rau, chủ yếu là rau cải, kinh doanh rất phát đạt. Vài năm trở lại đây, số người Trung Quốc sang trồng rau cải ngày càng nhiều, khiến chính quyền Mông Cổ lo ngại vì sản phẩm của Trung Quốc lấn át sản phẩm nội địa.

Người Trung Quốc nói gì?

Việc Trung Quốc thuê đất ở nước ngoài không còn là vấn đề mới mẻ. Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã có những bước đi tương tự. Nhưng Trung Quốc có vẻ như đang thực hiện một cách ráo riết hơn.

Một câu hỏi đặt ra là mục đích chính của Trung Quốc khi mua hoặc thuê đất đai ở nước ngoài phải chăng chỉ đơn thuần nhằm phát triển nông nghiệp? Ông Lý Vỹ Tường – Phó chủ tịch Phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô thuộc Trung tâm Nghiên cứu phát triển nông thôn, trực thuộc Bộ Khoa học công nghệ Trung Quốc – trả lời tờ The Finacial Times: Kế hoạch làm nông nghiệp ở nước ngoài của Bắc Kinh mang lại hiệu quả chưa được như ý. Thông thường các doanh nghiệp nước này tự đi ra ngoài hoạt động, chủ yếu là châu Phi do đất đai ở đây dễ mua hoặc thuê. Tuy nhiên, sau khi mua hoặc thuê đất, họ lại vấp phải nhiều khó khăn như vấn đề an toàn, thiên tai, vận chuyển sản phẩm về nước. Theo ông này, việc ra nước ngoài mua hoặc thuê đất nông nghiệp nhằm bảo đảm vấn đề lương thực chỉ là một cách thử nghiệm.

Trong bài viết trên tuần báo Phương Nam hồi tháng 7.2009, ông Khổng Quốc Hoa – tiến sĩ kinh tế tại Đại học Sơn Đông – cho rằng việc “mượn đất nông nghiệp” là một phương thức có nguồn gốc lịch sử và không chỉ đơn thuần là phục vụ mục đích nông nghiệp. Thời Tây Hán, Triệu Sung Quốc đã áp dụng phương sách này. Chính sách này sau khi được áp dụng đã có hiệu quả to lớn, lương thực không những dư thừa mà đất đai còn rộng mở. Triệu Sung Quốc được coi như một nhà chính trị tài ba nhìn xa trông rộng. Kế sách mượn đất của ông được người dân nước này truyền tụng từ đời này sang đời khác, trở thành “văn hóa mượn đất”, tác động mạnh mẽ tới tận thời nay.

Tiến sĩ Khổng cũng cho rằng việc thăm dò khai phá đất biên cương cũng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, kích thích mậu dịch biên cương và giao lưu dân tộc phát triển, ổn định biên giới. Như vậy thông qua việc thuê mượn đất, người Trung Quốc xưa đã thực hiện được rất nhiều mục đích chính trị, xã hội.

Cũng theo ông Khổng, ngoài “mượn đất”, nước này còn sử dụng sách lược “mượn biển” hỗ trợ cho lĩnh vực kinh tế và quân sự, đặc biệt tăng thêm tự tin và khích lệ phát triển vùng duyên hải. Tính tới năm 2008, tổng giá trị sản xuất ngành hải sản nước này đã chiếm 9,87% tổng sản phẩm quốc nội. Theo tiến sĩ Khổng Quốc Hoa, chính quyền Trung Quốc hiện tại đã sử dụng phương cách thời Tây Hán để tăng cường các hoạt động kinh tế trên biển.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên:

Cho nước ngoài thuê đất rừng là rất nguy hiểm

>> Lợi ích quốc gia

TP – “Đất rừng ở ta không phải là nhiều, trong khi có nơi còn lấy đất rừng của dân để cho nước ngoài thuê là rất nguy hiểm”, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên khẳng định, khi trả lời phỏng vấn Tiền Phong.

Ông Đồng Sỹ Nguyên – Ảnh: B.K

L.T.S: Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) vừa có thư gửi  Bộ Chính trị, Ban Bí thư T.Ư Đảng, Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cảnh báo về việc các tỉnh cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn. Tiền Phong có cuộc trò chuyện với ông, xung quanh câu chuyện này.

Ông Đồng Sỹ Nguyên nói: “Tôi có thư gửi vì một số anh em ở các tỉnh báo cáo với tôi. Các anh em ở Nghệ An không đồng ý việc cho nước ngoài thuê đất để trồng rừng ở các huyện miền núi, đầu nguồn.

Sau khi nhận được thông tin, tôi có hỏi lại Chủ tịch tỉnh và họ công nhận. Trong khi đó, tại tỉnh, Công an tỉnh và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh phản đối. Mà sự phản đối ấy là đúng.

Vì sao tôi đi sâu vấn đề này? Vì tôi có 7 năm làm chương trình 327. Từ những ngọn núi cao trên 1.000 m đến các đồi núi rừng khác, đâu tôi cũng lội hết”.

Dân thiếu đất sao lại cho thuê?

Bức thư đã được ông gửi từ bao giờ?

Tôi gửi từ trước Tết.

Từ khi gửi thư đến nay ông đã nhận được hồi âm?

Sau khi tôi gửi lên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có điện thoại cho tôi nói là đã nhận được thư và giao Bộ NN&PTNT kiểm tra.

Sau khi Bộ NN&PTNT kiểm tra đã có báo cáo gửi Thủ tướng và có gửi cả cho tôi. Báo cáo có thừa nhận cho 11 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng tại 10 tỉnh.

Việc các tỉnh cho thuê đất rừng được thực hiện theo Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đất đai. Điều gì khiến ông lo ngại và gửi thư?

Qua 7 năm làm công tác trồng, bảo vệ rừng phòng hộ, càng đi vào thực tế tôi thấy đất nước ta chiều dài rất dài trong khi chiều ngang rất hẹp. Núi với biển rất gần. Độ dốc lớn. Cho nên khi có lũ quét thì sẽ phá hủy rừng núi, đồng ruộng, nhà cửa nhanh như tiếng động.

Do đó, phải làm sao phát động đồng bào dân tộc miền núi tập trung trồng rừng. Cả ở đồng bằng và ven biển nữa. Chỉ có trồng rừng theo đặc điểm địa hình Việt Nam thì mới hạn chế được phần nào tác động của thiên tai.

Vậy mà nay mình cho nước ngoài vào thuê đất trồng rừng, liệu ta trông mong gì được ở họ? Nhà đầu tư nước ngoài họ chỉ quan tâm lợi nhuận mang về nước họ.

Kết quả kiểm tra của Bộ NN&PTNT ra sao, thưa ông?

Nội dung báo cáo của Bộ NN&PTNT cho biết, họ đã trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và tổng hợp báo cáo của 8 tỉnh về việc cho nước ngoài thuê đất rừng. Báo cáo có thừa nhận cho nước ngoài thuê, hoặc liên doanh để trồng rừng tại 10 tỉnh với diện tích trên 300.000 ha.

Các diện tích cho thuê đó cụ thể là thế nào, thưa ông?

Như tôi đã nói, đặc điểm của nước ta là dài, núi và biển cận kề, vì vậy việc trồng, bảo vệ rừng đầu nguồn ở miền núi là vấn đề cấp bách. Việc này ai làm. Phải để cho người dân Việt Nam làm.

Do đồng bào miền núi đất ruộng ít, đất rừng nhiều. Tại sao không chia đất rừng cho đồng bào miền núi làm, khắc phục cái đói cho họ để cho người cày có ruộng. Đây là yêu cầu bức bách. Cách mạng sở dĩ thành công cũng là nhờ khẩu hiệu “người cày có ruộng”.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ở ta bình quân chỉ 0,15 ha rừng trên đầu người, thấp hơn nhiều mức bình quân thế giới 0,6 ha/đầu người. Qua kiểm tra thực tế tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, nếu chia tổng diện tích đất quy hoạch làm rừng sản xuất cho các hộ dân thì cũng chỉ 4 – 5 ha/hộ.

Diện tích này không lớn đối với sản xuất lâm nghiệp. Như vậy sao lại phải cho nước ngoài thuê?

Tôi nghĩ, nếu mỗi hộ ở miền núi được giao 4 – 5 ha đất rừng sản xuất, thì người miền núi còn dễ làm giàu hơn đồng bằng, do có thể thực hiện đa cây, đa con.

Một cây trồng đất rừng giá trị lắm. Ví dụ nếu bán một cây xà cừ như ở trước cửa nhà tôi là phải 50 triệu đồng. Nên nếu một hộ dân trồng 10 cây xà cừ thì tha hồ thế chấp, vay ngân hàng. Rồi cấp sổ đỏ cho họ thay vì cho người nước ngoài thuê.

Người nước ngoài thuê vì họ trồng rừng nguyên liệu. Quan điểm trồng rừng của tôi khi tôi phụ trách chương trình 327 cũng có người phản đối do không hiểu đặc điểm rừng Việt Nam.

Quan điểm của tôi, đã là đất rừng, cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và cả rừng kinh tế là phải kết hợp. Rừng phòng hộ thì cứ 1ha đất chỉ cần dành trồng 500 cây lim, gụ, táu, lát… Còn 1.000 cây nguyên liệu là keo.

Cứ đan xen với nhau thì lúc nào cũng có rừng khai thác và phòng hộ cho các đời con cháu. Đây cũng là điều kiện để đồng bào xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu.

Lợi trước mắt, hại lâu dài

Có ý kiến cho rằng, việc các tỉnh cho nước ngoài thuê rừng cũng do  áp lực tăng trưởng, tăng thu cho ngân sách?

Tôi cũng băn khoăn nhiều nhưng nói không biết có ai nghe không. Tại sao dân mình, đất mình mà không giao làm. Sao không cho nông dân vay khá hơn thay vì cho nước ngoài vay để kinh doanh bất động sản, xây dựng cao ốc.

Cho nông dân vay để trồng rừng thì không sợ mất tí nào. Mỗi hộ chỉ cần trồng một ít cây xà cừ, một ít cây lát thì tha hồ trả tiền vay. Việc đó phải tập trung lo cho dân trước, thay vì tăng thu ngân sách.

Trên thế giới, qua từng thời kỳ, có nhiều nước, nước Mỹ cũng vấp phải bong bóng bất động sản làm cho nước Mỹ bao lần suy thoái kinh tế. Ngay Trung Quốc cũng phải thừa nhận các tỉnh thi nhau bán đất để tăng thu ngân sách, phô trương tăng GDP 13 đến 14%.

Để đạt mức tăng này nhanh nhất là bán đất. Điều đó chỉ có lợi trước mắt nhưng tương lai thì vô cùng nguy hiểm. Bán đất để tăng thu ngân sách, theo tôi là điều ngớ ngẩn, không hiểu kinh tế. Họ muốn phô trương thành tích thật nhanh mà không tính lâu dài.

Còn dưới góc nhìn về an ninh quốc phòng thì sao, thưa ông?

Kháng chiến chống Pháp ta có căn cứ Việt Bắc. Kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường Sơn, rừng đước ở miền Nam…Rừng đã che chở cho cách mạng. Khi chiến tranh là phải có căn cứ để sơ tán nhân dân, đối phó với địch…

Giờ những đất đầu nguồn, đất rừng này đều thuộc về đất căn cứ cả. Nghệ An cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp…, những vùng khi có chiến tranh thì phải lên đó.

Tại sao dân ta thiếu việc làm, phải đi làm thuê ở Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan…Ta sang họ thì làm thợ, còn họ sang ta làm thầy. Tại sao không giảm bớt phần tiền đầu tư vào bất động sản đưa sang trồng rừng, giảm lượng thất nghiệp, giúp người dân làm giàu.

Ngay như khu Ciputra ở Hà Nội, chúng ta cho thuê 50 năm rồi họ khoanh lại xây biệt thự, bán lại cho dân ta. Phần lợi nhuận hốt được thì họ mang về nước.

Không chỉ có vậy, họ còn dựng hàng rào, biến khu đất thuê này thành khu biệt lập, mà không phải ai muốn vào là vào được. Ở ngay Thủ đô còn vậy, huống chi ở miền núi xa xôi, hẻo lánh.

Nhưng thưa ông, lãnh đạo một số địa phương cho thuê đất rừng  khẳng định việc cho nước ngoài thuê đất rừng đã được cân nhắc rất kỹ về vấn đề an ninh quốc phòng rồi?

Từ báo cáo của Bộ NN&PTNT, tôi thấy có điều khá nhạy cảm là doanh nghiệp nước ngoài họ lại chọn thuê ở nhiều địa điểm trọng yếu về an ninh quốc phòng.

Cụ thể, họ thuê đất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng là các tỉnh biên giới. Tại Nghệ An, họ thuê ở các địa điểm gần với đường 7 và 8 sang Lào. Họ thuê ở Quảng Nam, có đường thuận tiện đi lên Tây Nguyên, qua Campuchia.

Như vậy là nắm những con đường trọng yếu của mình. Bây giờ nói như thế nhưng nay mai họ đưa người đến. Kinh nghiệm cho thấy khi làm các dự án, họ đều đưa người đến thành các làng mạc, thị trấn.

Thưa ông, trong báo cáo của Bộ NN&PTNT, quan điểm của họ về vấn đề này thế nào?

Bộ NN&PTNT kiến nghị với Chính phủ 5 vấn đề, thì trong đó có hai nội dung tôi hoàn toàn đồng ý: Một là do đất lâm nghiệp bình quân trên đầu người của ta quá ít (chỉ 0,15 ha/người), trong khi nhu cầu đất lâm nghiệp của dân rất lớn.

Vì vậy, nên hạn chế việc cho các doanh nghiệp nước ngoài thuê đất lâm nghiệp, chỉ nên khuyến khích thu hút đầu tư thông qua liên doanh, liên kết với dân và doanh nghiệp trong nước;

Hai là khẩn trương giao đất, giao rừng cho người dân, đồng thời nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho dân để họ có tư liệu sản xuất và có thể liên kết với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để trồng rừng…

Nếu làm được như trên là rất tốt. Trên cơ sở đó chỉ đạo, hướng dẫn cho dân vay vốn phát triển, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT vẫn chưa dứt khoát, họ cũng mới chỉ kiến nghị theo kiểu khuyến cáo, đề nghị hạn chế cho nước ngoài thuê.

Phải đình chỉ ngay

Ý ông là phải cấm hẳn?

Trong thư gửi Bộ Chính trị tôi đã nói rõ, với những tỉnh đã lỡ ký cho doanh nghiệp nước ngoài thuê, thì phải tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng, với những tỉnh thuộc vùng xung yếu mà chưa ký thì đình chỉ ngay.

Tôi cho rằng, phải giao đất rừng đến hộ. Sau đó, Nhà nước phải cho họ vay vốn để trồng rừng, đảm bảo kinh tế cho người dân. Điều đó là cần. Còn cho nước ngoài thuê thì họ đi theo lợi nhuận. Của mình thì lợi nhuận phải kết hợp với lợi ích lâu dài của đất nước.

Tốt nhất là để cho các doanh nghiệp trong nước làm. Điều này có thể làm được. Xóa đói giảm nghèo là phải tổ chức được sản xuất của nông dân. Nông dân phải tự đứng mà sản xuất, tự mình làm chủ thì mới xóa đói giảm nghèo bền vững được.

Thỉnh thoảng ti vi có các chương trình, các tổng công ty lên ủng hộ, tặng quà cho người nghèo 1 hay 2 tỷ đồng nhưng làm thế không ra đâu cả, vì nó như là bố thí. Như thế làm sao xoá đói giảm nghèo vững chãi được.

Tôi cũng đề nghị cấp sổ đỏ, giao đất khoán rừng cho dân, Nhà nước bớt đầu tư, cho vay không cần thiết để cho dân miền núi vay nhiều hơn, đạt một công đôi việc: Vừa làm kinh tế vừa làm rừng phòng hộ.

Quan niệm của tôi, tách rừng làm kinh tế và rừng phòng hộ riêng là một sai lầm nghiêm trọng. Phòng hộ phải kết hợp từ trên núi cho đến biển cả, làng mạc, đô thị.

Nhưng có ý kiến cho rằng, những nơi cho nước ngoài thuê lâu nay là đồi núi trọc, có giao dân cũng không mặn mà?

Lý đó không chấp nhận được. Đất mình, dân mình. Mình phải rất kiên trì giáo dục, thuyết phục. Khi tôi làm Chương trình 327, muốn mở rộng dự án nhưng không có đất. Đất không còn.

Bây giờ làm như thế này và trong báo cáo của Bộ NN&PTNT có nói, có nơi như ở Lạng Sơn giao cho nước ngoài chồng lấn lên cả đất của dân. Điều này rất nguy hiểm.

Còn họ nói các nơi đó không có ai làm thì phải hỏi họ: Anh lãnh đạo chính quyền làm gì? Đảng và chính quyền là phải lo cho dân làm. Thế tại sao anh đi xuất khẩu lao động được mà không đưa dân đến những vùng đó để làm được.

Giờ sông Mê Kông nước chặn đầu nguồn, đồng bằng sông Cửu Long ngày càng cạn kiệt trong khi nước mặn xâm lấn thì hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng là đã ở trước mắt. Không thể chủ quan. Phải thấy trước được điều đó.

Muốn giữ được an ninh lương thực thì phải giữ được đất đai. Đất đai là tài nguyên quý nhất của đất nước và là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân.

Cho thuê rừng phòng hộ: Phải bồi thường cũng nên dừng

GS TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường bàn cách giải quyết những bất cập từ việc cho nước ngoài thuê rừng, sau khi Thủ tướng có chỉ đạo rà soát và ngừng cấp phép mới cho các dự án FDI trong lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản.

Ngày 10.3, Thủ tướng chỉ thị Ủy ban nhân dân các tỉnh không được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, đợi Chính phủ rà soát.

Như vậy, Chính phủ đã có phản hồi nhanh chóng và sau lá thư của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo những nguy cơ từ việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ.

Đây là một tín hiệu tích cực từ cơ quan điều hành đất nước trước một vấn đề đang gây quan ngại sâu sắc trong dư luận.

Với tư cách một người có hiểu biết về tình hình quản lý và sử dụng đất ở nước ta, tôi cho rằng cần bàn thêm để đóng góp cho cách giải quyết tình trạng này.

Ảnh Duy Tuấn

Vi phạm cần được xử lý nghiêm

Tôi cho rằng câu chuyện xử lý này cần những biện pháp mang tính nguyên tắc hơn dựa trên cơ sở pháp luật và quy hoạch. Trước hết, 10 tỉnh đã ký hoặc đang làm thủ tục ký cho người nước thuê đất rừng phải báo cáo cụ thể các thủ tục đã thực hiện, hiện trạng vùng dự án gắn với bản đồ tỷ lệ 1/10.000.

Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ tài nguyên và Môi trường áp vào quy hoạch hiện tại, đề xuất điều chỉnh hợp lý quy hoạch lại rừng phòng hộ và rừng sản xuất (trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng).

Những diện tích đã ký cho thuê nếu thuộc vùng rừng sản xuất thì được tiếp tục triển khai, nếu thuộc vùng rừng phòng hộ thì phải rút ngay lại địa điểm thực hiện dự án và chuyển dự án sang vùng rừng sản xuất khác trên địa bàn tỉnh (nếu phải bồi thường cho nhà đầu tư thì cũng phải làm).

Những diện tích đang trong giai đoạn thực hiện thủ tục dự án (chưa ký cho thuê) hoặc đang trong kế hoạch cho thuê của lãnh đạo tỉnh thì đều phải dừng lại chờ điều chỉnh quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền quyết định.

Một điều nữa cần làm là xử lý những sai phạm của lãnh đạo tỉnh khi ký cho người nước ngoài thuê rừng phòng hộ, nhất là những trường hợp đã có ý kiến không đồng thuận của cơ quan công an, bộ chỉ huy quân sự tỉnh.

Theo pháp luật về đất đai nước ta, dự án đầu tư phát triển rừng chỉ được thực hiện trên vùng rừng sản xuất. Công việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là do các Ban quản lý rừng kết hợp với nhân dân địa phương thực hiện. Những vi phạm pháp luật cần được xử lý nghiêm, giữ kỷ cương cho hôm nay và cho mai sau.

4 giải pháp dài hơi

Khi những xử lý trước mắt đã tạm ổn thì cần thực hiện 4 giải pháp dài hơi bao gồm: một là quy hoạch lại đất rừng trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng; hai là xác lập các hàng rào kỹ thuật đối với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trên nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia song hành với bảo đảm bình đẳng về quyền và lợi ích của các nhà đầu tư; ba là tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của bộ máy hành chính, công tác giám sát của hệ thống cơ quan dân cử và khuyến khích người dân tham gia quản lý; bốn là sử dụng công nghệ cao (nhất là ảnh chụp từ vệ tinh) để giám sát chặt chẽ hiện trạng rừng và các hoạt động có liên quan đến rừng.

Nhà nước ta đã nỗ lực rất lớn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng. Chương trình 327 trước đây và Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng hiện nay là những minh chứng cho điều đó.

Chủ trương của Nhà nước thật rõ ràng về bảo vệ và phát triển rừng, không chỉ thể hiện trách nhiệm cao với dân mà đó còn là trách nhiệm đóng góp giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu.

Trong thực tế triển khai, vấn đề bảo vệ và phát triển rừng đang còn rất nhiều bức xúc. Ngay trong chính sách giao đất, giao rừng, chúng ta cũng vẫn chưa tìm ra cơ chế phù hợp để tạo động lực thực sự. Có địa phương đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, có địa phương chủ trương giao cho cộng đồng dân cư quản lý, có địa phương muốn giao cho doanh nghiệp lâm nghiệp, có địa phương lại muốn sử dụng đầu tư nước ngoài trực tiếp, có địa phương thực hiện giao cho các đơn vị quốc phòng.

Về mặt phân loại rừng, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đã đề xuất nên chuyển một phần diện tích rừng phòng hộ ở những nơi không xung yếu sang rừng sản xuất nhằm phát triển rừng bằng động lực thị trường.

Trên thực tế, công việc quản lý còn đầy bề bộn mà lâm tặc vẫn hàng ngày phá rừng đầu nguồn, tai biến lũ lụt do mất rừng đầu nguồn ngày càng thường xuyên hơn. Cơn lũ vừa qua ở Miền Trung cuốn trôi gỗ khai thác lậu từ đầu nguồn về cửa sông mới cho ta biết rừng đầu nguồn bị phá nhiều đến thế.

Mỗi người đều không thể không suy nghĩ về những cách thức làm sao cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn. Những kinh nghiệm của hơn 20 năm thực hiện kể từ khi bắt đầu Đổi Mới cũng đủ để đưa ra những kết luận xác đáng.

Quy hoạch lại cho đúng

Thứ nhất, vấn đề bảo vệ và phát triển rừng không thể chỉ nhìn dưới góc độ kinh tế và môi trường, mà cần phải nhìn trước hết dưới góc độ quốc phòng, an ninh. Các góc độ này phải được thể hiện đầy đủ trong khâu quy hoạch không gian đối với các loại rừng sau khi phân tích cụ thể các yếu tố địa chính trị, địa kinh tế.

Đối với rừng phòng hộ ở những vị trí quan trọng, cần giao cho các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang để bảo vệ và phát triển. Từ đây, có thể thấy cần xem xét lại đề xuất của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy hoạch lại rừng phòng hộ và rừng sản xuất, quy hoạch lại cho đúng hơn là cần thiết nhưng phải xem xét trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng (hộ gia đình, cá nhân hay cộng đồng dân cư hay doanh nghiệp hay lực lượng vũ trang).

Quy hoạch này cần được xây dựng chi tiết, thẩm định cẩn thận và được Quốc hội quyết định.

Lo an ninh để Việt Nam độc lập tồn tại

Thứ hai, trong thời kỳ triển khai mạnh hội nhập kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới, chúng ta phải tuân thủ “luật chơi” chung về sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Khi đã là rừng sản xuất thì nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước được quyền tiếp cận như nhau. Chúng ta không thể đặt rào cản pháp luật để hạn chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, nhưng ta có thể đặt rào cản kỹ thuật (khi cần thiết) như hàng rào về quy hoạch, về môi trường, v.v.

Cách thức này đòi hỏi những tư duy dài hạn và những dự báo có độ tin cậy cao, chất lượng quản lý cần được nâng cao hơn nhiều lần.

Chúng ta cần tăng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, cần hội nhập sâu hơn với kinh tế quốc tế để phát triển, nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là an ninh quốc gia để đất nước được độc lập tồn tại.

Đẩy mạnh giám sát

Thứ ba, trong quản lý hiện nay, công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan hành chính cấp trên đối với cấp dưới còn yếu, hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với các cơ quan hành chính đã được đẩy mạnh nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, việc khuyến khích người dân tham gia vào quản lý đã có nhưng chưa được nhiều.

Bằng mọi cách, các hoạt động này cần được đẩy mạnh để tạo nên hệ thống quản lý vững chắc, cấp trên luôn biết được cấp dưới làm gì và có quyết định điều chỉnh kịp thời. Phân cấp quản lý là cần thiết nhưng cũng cần có lộ trình phù hợp với tính hoàn chỉnh của hệ thống và năng lực thực hiện của từng cấp.

Thứ tư, số liệu thống kê hiện trạng rừng hiện nay vẫn được thực hiện theo quy trình dưới lên: xã báo cáo lên huyện, huyện báo cáo lên tỉnh, tỉnh báo cáo lên Trung ương. Độ tin cậy của cách làm này không cao, ngay kể cả trường hợp không xẩy ra gian dối số liệu.

Trên thực tế, ai cũng biết rằng rừng ở nước ta bị phá rất nhiều nhưng theo số liệu chính thức thì ta vẫn có trên 15 triệu ha rừng.

Ở các nước người ta thường sử dụng ảnh vệ tinh là một kênh kỹ thuật thứ hai để thống kê số liệu do các cơ quan kỹ thuật ở Trung ương thực hiện độc lập. Bằng kênh này có thể không chỉ kiểm tra được số liệu của các địa phương, mà còn phát hiện được những nơi rừng đang bị tàn phá, khai thác, cháy, v.v.

Năm 2008, nước ta đã hoàn thành dự án xây dựng trạm thu ảnh vệ tinh hiện đại (theo ODA của Chính phủ Pháp) đặt tại Bộ Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ tính năng kỹ thuật để giám sát hiện trạng tài nguyên và môi trường (trong đó có tài nguyên rừng). Rất tiếc, cho đến nay trạm đã vận hành được hơn 1 năm nhưng chưa thực hiện được việc kiểm kê bất kỳ loại tài nguyên nào.

Đầu tư xây dựng trạm là một việc, nhưng đầu tư để khai thác trạm vào mục đích quản lý là việc còn quan trọng hơn. Quản lý hiện trạng rừng bằng ảnh thu thường xuyên từ trạm này là một việc cần thiết cho đất nước hơn lúc nào hết.

Những suy nghĩ trên đây chỉ là những việc chúng ta có thể làm ngay, trong khả năng chúng ta làm được. Mọi cân nhắc quá phức tạp trong quản lý tài nguyên rừng đều luôn là muộn so với những lời kêu cứu của rừng.

“Greenhouse Effect, Sea Level Rise, and Land Use”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:02 pm
Tags: ,

“Việc xuất khẩu cát như vừa qua là rất nguy hiểm đối với nước ta, đặc biệt là khi nước biển dâng. Tới khoảng 20, 30 năm nữa, nhìn lại bức tranh xuất khẩu cát hiện nay con cháu sẽ lên án lãnh đạo tiền nhiệm. Do vậy chúng tôi đã kiến nghị và Chính phủ đã đi đến quyết định ngừng xuất, tức là tất cả những hợp đồng đã ký từ trước đến nay cũng ngừng không cho xuất cát nữa. Tôi cho đó là một việc làm rất tích cực trong thời gian qua”.  http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200944/20091029014110.aspx

oi, co ai nghe den viec nuoc minh xuat khau Cát chua, ko hieu ho nghi sao khi ma hieu ung nha kinh, Elnino which affects most Pacific Ocean countries depending on agriculture and fishing  cang` ngay cang nghiem trong, theo du bao thi neu temperature tang 1-2 do C thi sea level rises about 5 meteres, ma ca 2 delta song Hong va song Mekong minh chi above sea level 3 meters, lieu luc do co con dong bang song cuu long nua ko http://docs.google.com/viewer?a=v&q=cache:U30mkvvIolAJ:www.epa.gov/climate   http://en.wikipedia.org/wiki/Geography_of_Vietnam

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.