Ktetaichinh’s Blog

April 28, 2010

Nước Mỹ và cuộc chiến trường kỳ chống bạc giả

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:22 am
Tags: , ,
Điểm lại cuộc chiến kiểu “mèo vờn chuột” giữa Washington và những kẻ in bạc giả
Tờ 100 USD mới được giới thiệu của Mỹ được xem là nỗ lực lớn nhất từ trước tới nay của Chính phủ nước này nhằm chống lại nạn tiền giả. Mới đây, trên tờ Wall Street Journal, giáo sư sử học Stephen Mihm thuộc Đại học Georgia (Mỹ) đã điểm lại cuộc chiến kiểu “mèo vờn chuột” giữa Washington và những kẻ in bạc giả.

Vào năm 1690, chính quyền thuộc địa tại vùng Massachusetts của Mỹ lần đầu tiên thực hiện việc in tiền giấy. Chẳng bao lâu sau đó, những đồng bạc giả đầu tiên cũng ra đời. Để chống lại loại hình tội phạm này, các nhà chức trách đã áp dụng nhiều hình phạt đáng sợ như xẻo tai, treo cổ… đối với những kẻ dám cả gan in giả tiền. Về sau, nhiều tờ tiền của chính quyền thuộc địa đã được in dòng chữ cảnh báo: “Làm giả tiền đáng tội chết”.

Trở lại thời hiện tại, mới đây, Chính phủ Mỹ đã chính thức giới thiệu tờ 100 USD mới với công nghệ tối tân với hy vọng sẽ khiến giới tội phạm bạc giả “bó tay”. Giống như tờ 100 USD, cũ, đồng tiền mới này vẫn mang hình Benjamin Franklin – một trong những “khai quốc công thần” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, cũng được in bằng những màu sắc dịu mắt, và chứa hình ảnh của một cây bút và một lọ mực bên trong có quả chuông ẩn hiện tùy theo góc nhìn.

Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất của tờ 100 USD mới là một sợi đai an ninh màu tía chạy dọc tờ bạc, gồm hình ảnh xen kẽ của những cón số 100 và những quả chuông. Những con số và quả chuông này trông như có sự di chuyển khi đồng bạc được nghiêng từ góc này sang góc khác.

Với tổng mệnh giá trên 500 tỷ USD đang được lưu hành trên thế giới, tờ 100 USD cũ đã thu hút sự chú ý đặc biệt của các tổ chức in bạc giả mà phần lớn đều là những tổ chức tội phạm tinh vi có tổ chức cao. Thêm vào đó, có một số bằng chứng cho thấy có mối liên hệ giữa những tờ bạc giả “thật” nhất và nguy hiểm nhất với một số chính phủ nước ngoài. Chính những mối đe dọa này đã thúc đẩy Chính phủ Mỹ đi tới thiết kế một đồng 100 USD mới với công nghệ hiện đại.

Nhưng nếu lịch sử lặp lại, thì những nỗ lực này của Chính phủ Mỹ chắc cũng sẽ không vô hiệu hóa được giới tội phạm tiền giả quá lâu. Lĩnh vực tiền giấy của Mỹ từ lâu đã đi theo lối mòn: thiết kế mới, tiền mới, và rốt cục lại là tiền giả mới.

Việc sử dụng chân dung chính trị gia Benjamin Franklin trên tờ USD có mệnh giá lớn nhất đang được lưu hành là điều dễ hiểu. Franklin chính là người thiết kế đồng tiền đầu tiên của nước Mỹ – tờ Đô la Continental được phát hành thời Cách mạng Mỹ để trang trải cho các chi phí của cuộc chiến. Không đưa hình ảnh của mình hay bất kỳ ai vào tờ tiền này, Franklin đã sử dụng một cách thức chống bạc giả khá đặc biệt mà ông nghĩ ra từ nhiều năm trước đó.

Sử dụng hình của một hoặc vài chiếc lá, cách chống tiền giả này của Franklin mang hơi hướng thiên nhiên nhưng cũng rất hợp lý. Franklin đã phết thạch cao lên bề mặt của một chiếc lá để lấy hình in của chiếc lá đó, rồi đổ chì lỏng lên miếng thạch cao đó để đúc khuôn sử dụng cho việc in tiền. Vì mỗi chiếc lá đều có hình dạng khác nhau, tùy thuộc vào mạng lưới và độ dày gân lá, nên tờ bạc được in hình lá rất khó bị làm giả.

Những kẻ làm giả tờ 100 Đô la Continental do Franklin thiết kế không phải vì tiền, mà nhằm phá hoại cuộc chiến giành độc lập của nước Mỹ từ thực dân Anh. Vào năm 1776, sau khi quân Anh chiếm thành phố New York, giới kinh doanh bạc giả với các cửa hiệu sẵn có bắt đầu hoạt động dưới sự giảm sát của chính quyền thuộc địa. Một khối lượng khổng lồ bạc giả đã được in ra từ những cửa hiệu này. Khách hàng chỉ cần bỏ ra vài xu tiền thật là có thể mua được một lượng lớn tiền giả và dùng để trao đổi với những người cả tin thuộc “phe” cách mạng.

Thực ra, không phải người Anh đã phát minh ra ý tưởng dùng tiền giả như một một thứ vũ khí chiến tranh, mà đây là một chiến thuật có từ thời cổ đại. Tuy nhiên, những nhà cách mạng Mỹ khi đó đã xem đây là một chiến thuật tột cùng của sự “tiểu nhân”. Trao đổi trong thư từ bí mật, George Washington đã giận dữ khi nói rằng “kẻ thù chẳng từ một thủ đoạn nào để tấn công chúng ta”.

Một nhà cách mạng khác là Thomas Paine thậm chí còn giận dữ hơn khi viết một lá thư ngỏ gửi tới chỉ huy quân Anh, trong đó dùng những lời lẽ chỉ trích thậm tệ hành vi làm giả đồng Đô la Continential. “Ngài đã vinh hạnh bổ sung một trò ma quỷ nữa vào sách vở quân sự. Và có lẽ, phát minh này xứng đáng với ngài là bởi vì, không một vị tướng nào đủ ti tiện đến mức nghĩ đến nó”, Paine viết.

Chất lượng của những tờ bạc giả mà người Anh in ra đã bào mòn mức độ tin cậy vào đồng Đô la Continental, nhưng chính việc các nhà cách mạng Hoa Kỳ ồ ạt in tiền để trang trải chi phí chiến tranh mới là lý do thực sự khiến đồng tiền này suy yếu. Không được đảm bảo bằng bất kỳ thứ gì ngoài niềm tin mong manh vào chính quyền cách mạng, đồng tiền này mất giá mạnh tới mức trở nên gần như vô giá trị. Sự mất giá này đã khiến người Mỹ xem tiền giấy, gồm cả tiền thật lẫn tiền giả, là một nỗi sợ hãi.

Hiến pháp Mỹ đã ra đời để trấn áp những nỗi sợ như vậy. Các điều khoản về đồng tiền trong Hiến pháp không cho phép các tiểu bang phát hành tiền giấy hoặc tiền xu, mặc dù cho phép Chính phủ Liên bang đúc tiền. Bản Hiến pháp tuyệt nhiên không đề cập tới vấn đề liệu Chính phủ Liên bang có được in tiền giấy hay không, nhưng phần lớn mọi người đều cho rằng Chính phủ không có quyền này.

Tuy nhiên, nhờ các ngân hàng tư nhân chịu sự kiểm soát của pháp luật tiểu bang, tiền giấy đã phát triển như nấm mọc sau mưa ở Mỹ thời kỳ đó. Các ngân hàng này bắt đầu phát hành tiền giấy của riêng họ với mệnh giá và thiết kế do họ tự quyết định. Hàng ngàn loại “giấy tờ nhà băng” trôi nổi trong lưu thông, chẳng loại nào có thiết kế giống loại nào.

Benjamin Franklin và các nhà lập quốc khác của Mỹ xuất hiện trên một số tờ bạc, trong khi những tờ bạc khác có in đủ thứ hình, từ chân dung không rõ ràng của các chính trị gia, các vị thần Hy lạp và La Mã, hình phụ nữ, nô lệ người da đỏ, và những hình ảnh về cuộc sống thường nhật. Ngay cả những hình ảnh “lạ” hơn như hình ông già Noel, rắn biển, gấu Bắc Cực… cũng được in lên tiền.

Với thiết kế quá đa dạng như vậy của tiền giấy ở nước Mỹ thời đầu thế kỷ 19, việc ghi nhớ tiền thật trông hình thù ra sao gần như là điều không thể, lại càng bất khả thi hơn đối với tiền giả. Bởi vậy, thời đó đã đi vào lịch sử với tư cách “kỷ nguyên vàng của nạn in giả tiền”. Trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ, lượng tiền giả với mệnh giá nhiều triệu Đô la đã tung hoành trong nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, khác với thực dân Anh thời trước, các băng đảng làm tiền giả in tiền với mục đích đơn giản là… kiếm tiền, chứ chẳng phải để phá hoại đất nước.

Một vài trong số những tay tội phạm sừng sỏ này thậm chí đã trở thành “người hùng” trong dân gian. Với sự yếu kém của lực lượng cảnh sát, đội ngũ sản xuất tiền giả nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Chính phủ Liên bang Mỹ khi đó chẳng mấy quan tâm tới việc trừng trị những kẻ làm bạc giả, mà thậm chí cũng chẳng có nguồn lực để làm việc này. Vào năm 1818, một tờ báo đã lên tiếng phàn nàn: “Giới in tiền giả và tiền giả đã phổ biến tới mức, sự giả mạo dường như không còn được xem là phạm tội trong suy nghĩ của nhiều người”.

Nhưng các nhà băng đã không chịu khoanh tay đứng nhìn tiền họ của bị in giả. Họ thách thức các băng đảng làm giả tiền bằng những tờ bạc có thiết kế phức tạp hơn, với những đặc điểm chống làm giả đã được áp dụng cho tới tận ngày nay như mực in đặc biệt, hình in chìm, và công thức làm giấy in tiền riêng biệt. Thợ đúc khuôn in tiền còn nỗ lực tạo ra những thiết kế tinh vi hơn để đánh đố khả năng bắt chước của tội phạm tiền giả. Tuy nhiên, các băng nhóm tiền giả vẫn lần lượt đánh bật mọi rào cản công nghệ này.

Trên thực tế, công nghệ luôn có tác dụng hai mặt. Tương tự như công nghệ kỹ thuật số của thế kỷ 21, việc phát minh ra công nghệ ảnh đã mở ra một “chân trời mới” cho bọn tội phạm bạc giả. Trước thập niên 1950, hầu hết tiền giấy do các ngân hàng phát hành đều chỉ có màu đen trắng. Tuy nhiên, sự phổ biến của tiền giả in bằng công nghệ làm ảnh đã thúc đẩy người ta tạo ra những loại mực in màu mới, bao gồm loại mực in màu xanh bằng chất chrome trioxide ra đời vào năm 1857. Những kẻ làm giả tiền không thể dùng công nghệ ảnh đen trắng vào thời đó để bắt chước những đường nét mảnh in bằng loại mực xanh này.

Sau đó 4 năm, cuộc nội chiến ở Mỹ bùng nổ. Do “kẹt” tiền, phe miền Bắc trong cuộc nội chiến này đã bỏ qua quy định cấm in tiền giấy của Hiến pháp, khi phát hành một đồng tiền toàn quốc, sử dụng màu xanh nói trên. Đồng tiền mới được biết đến với cách gọi là đồng bạc xanh (greenback). Chẳng mấy chốc, đồng tiền này đã được lưu hành song song cùng một loại tiền toàn quốc khác cũng được in bằng màu xanh tương tự – “tiền ngân hàng quốc gia” do các ngân hàng được hưởng đặc quyền liên bang và có quyền phát hành tiền do Chính phủ Liên bang thiết kế và kiểm soát.

Phe miền Nam cũng không chịu kém cạnh và phát hành một đồng tiền giấy khác của riêng họ. Nhưng do thiếu thợ đúc khuôn giỏi và các đầu vào cần thiết khác, “đồng bạc xám” do phe miền Nam làm ra trông rất kém hấp dẫn và đã đi theo số phận của tờ Đô la Continental: mất dần giá trị trong tiến trình của cuộc nội chiến. Các tổ chức làm tiền giả bình thường nhận thấy “đồng bạc xám” chẳng đáng để làm giả, nhưng phe miền Bắc đã cho in một khối lượng khổng lồ tiền giả loại này để “chơi xấu” đối phương. Nhiều đồng bạc giả do phe miền Bắc in ra thậm chí trông còn đẹp hơn tiền thật của phe miền Nam.

Cuộc nội chiến Mỹ đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử tiền tệ của nước Mỹ, và cả lịch sử của lĩnh vực tiền giả. Những hệ thống trước đó của các đồng tiền tư nhân, địa phương đã không còn, thay vào đó là một hệ thống tiền giấy cấp quốc gia. Nội dung in trên đồng tiền cũng trở nên nghiêm túc hơn, trong đó hình ảnh của các quan chức chính phủ không còn được in theo lối biếm họa. Tới những năm cuối của cuộc nội chiến, một số tờ bạc mới đã được in những khối chữ mang nội dung về hình phạt của pháp luật đối với những kẻ làm giả tiền, như phạt tù 15 năm và lao động khổ sai, nộp 1.000 Đô la tiền phạt, hoặc cả hai hình phạt này.

Tuy nhiên, những lời răn đe này cũng chẳng có nghĩa lý gì nếu như không có một chiến dịch đồng bộ để truy quét các băng đảng tiền giả. Nhiệm vụ này được giao cho một lực lượng cảnh sát mới thành lập mang tên Mật vụ. Từ lâu trước khi được giao nhiệm vụ bảo vệ tổng thống Mỹ, Mật vụ đã ghi tên vào lịch sử nước này với chiến công trấn áp hoạt động sản xuất và lưu thông bạc giả. Bắt đầu sau cuộc nội chiến không lâu, chiến dịch chống tiền giả của nước Mỹ tới thập niên 1890 cơ bản đã hoàn thành.

Báo chí thời đó đã thi nhau tung hô lực lượng Mật vụ và chiến dịch này. Vào năm 1901, một tờ báo đã dùng hết mọi lời lẽ tốt đẹp nhất để mô tả “một đơn vị lặng lẽ và không ngủ của Chính phủ, một lực lượng chẳng bao giờ xuất hiện trước công chúng trừ phi người dân gặp nạn, và chẳng bao giờ bỏ qua một hành vi phạm tội hay một tên tội phạm nào”.

Tới đầu thế kỷ 20, đồng bạc xanh đã tương đối an toàn trước nạn làm giả. Thiết kế của đồng tiền này cũng đã trở nên nhất quán và đơn giản hơn, nhất là sau sự ra đời của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vào năm 1913. Hình của Benjamin Franklin bắt đầu được in lên tờ 100 USD và đồng tiền toàn quốc này ngày càng trở nên quan trọng, cuối cùng đã thay thế cho đồng Bảng Anh ở vị trí đồng tiền số 1 của thế giới. Tuy nhiên, sự nổi lên của USD đã kéo theo sự thèm muốn của các tổ chức in tiền giả, trong đó thậm chí có cả một số chính phủ nước ngoài thiếu ngoại tệ mạnh.

Trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới 2, nước Đức quốc xã đã tổ chức hẳn một đội thợ in đúc tiền ở trại tập trung Sachsenhausen để làm giả tiền Bảng Anh và USD. Tuy nhiên, tiền Bảng Anh giả không được lưu hành rộng rãi và cũng không gây nhiều thiệt hại cho nước Anh, còn dự án làm giả USD đã tan tành mây khói trong những tháng cuối của cuộc chiến.

Hầu như không có đồng tiền giả USD nào thành công đủ tới mức được lưu hành rộng rãi trong thời gian hậu Chiến tranh Thế giới, và trong suốt nhiều thập niên, hình thức của tờ 100 USD gần như không có gì thay đổi. Tuy nhiên, vào cuối những năm 1980, loại tiền USD siêu giả đã xuất hiện với các mệnh giá 100 USD và 50 USD, thúc đẩy các nhà chức trách Mỹ tiến hành cuộc đại cải tổ tiền giấy đầu tiên sau nhiều thập kỷ.

Thay đổi lớn đầu tiên là việc giới thiệu đồng 100 USD mới vào năm 1996, với thiết kế chân dung Benjamin Franklin cỡ lớn thành chuẩn, cùng với hình in chìm và mực chuyển màu. Tuy nhiên, tờ 100 USD mà Chính phủ Mỹ vừa giới thiệu mới tạo ra một sự khác biệt thực sự.

Ở chính giữa của tờ tiền mới này là một sợi đai an ninh màu tía chạy từ đầu tới cuối đồng bạc. Sợ đai này được bao phủ bởi hàng ngàn thấu kính siêu nhỏ mang hình các con số 100 và các quả chuông nhỏ xen kẽ nhau. Nhờ công nghệ quang học tinh vi, những thấu kính này kết hợp với nhau tạo thành hình những con số và quả chuông có kích thước lớn hơn. Khi tờ bạc được di chuyển theo các góc khác nhau, hình ảnh trên sợi đai an ninh này cũng như di chuyển theo.

Crane, công ty sở hữu quyền sáng chế công nghệ được gọi là công nghệ động này, cho biết, “đây là công nghệ đại diện cho thế hệ công nghệ chống tiền giả mới”. Không giống như những công nghệ chống làm giả tiền thế hệ đầu tiên như mực in đổi màu, công nghệ động cho phép nhận diện tiền thật hay giả ngay cả trong môi trường ánh sáng yếu.

Đồng 100 USD mới được nhận định là một tác phẩm công nghệ tuyệt vời. Tuy nhiên, nếu nhìn vào tất cả các công nghệ chống làm giả trên đồng tiền này – gồm sợi đai an ninh, hình in chìm, một sợi chỉ an ninh khác, công nghệ in siêu nhỏ, con số 100 có thể chuyển màu, và quả chuông bên trong lọ mực – có thể thấy tờ 100 USD mới cũng giống như cánh cửa một căn hộ được trang bị với vô số ổ khóa và then cài. Nghe qua thì có vẻ an toàn, nhưng mật độ dày đặc các thiết bị chống làm giả lại cho thấy, giới tội phạm tiền giả đã quá thành công trong việc phá vỡ những rào cản an ninh trước đó.

Công ty Crane hứa hẹn rằng, công nghệ động sẽ tạo ra “những chướng ngại vật vĩ đại đối với các đồng bạc giả chất lượng cao”. Có lẽ vậy, nhưng chắc chắn là ở một góc nào đó trên thế giới, những kẻ làm bạc giả đang nghiền ngẫm tờ 100 USD mới để tìm cách phá vỡ các hàng rào an ninh của đồng tiền mới.

Và có vẻ như một ngày nào đó, những tên tội phạm này sẽ lại thành công.

Advertisements

April 9, 2010

Vũ khí “mềm” có sức công phá “khủng”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:42 pm
Tags: ,

Vượt ra khỏi lĩnh vực giải trí, sức lôi cuốn khó cưỡng của Chủ nghĩa thực dân Coca-Cola” hay “sự thống trị của McDonald’s” còn được nâng tầm và được tiếp cận ở địa hạt của ngoại giao quốc tế và địa chính trị.

LTS: Cha đẻ của sức mạnh mềm, GS Nye từng viết: “Trước khi bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, nó đã bị  xuyên thủng bởi truyền hình và phim ảnh.

”Các thành tố của hệ thống truyền thông Mỹ từ phim Hollywood, nhạc pop cho tới các các thương hiệu như McDonald, Cocacola, Harvard… là một sức mạnh mềm mà chính quyền Mỹ không phải lúc nào cũng kiểm soát và có ý thức kiểm soát trọn vẹn, cho dù ảnh hưởng của nó là to lớn.

Tuần Việt Nam và Trung tâm sức mạnh mềm Joseph Nye trân trọng giới thiệu các nghiên cứu của hai tác giả Watanabe Yasushi và David McConnell về lĩnh vực này.

“Chủ nghĩa thực dân Coca-Cola”

Văn hóa đại chúng là toàn bộ các ý tưởng, nhận thức, thái độ, các tác phẩm, hình ảnh và các hiện tượng khác được yêu mến và tương thích với nền văn hóa chủ đạo trước đó, đặc biệt là văn hóa Tây Âu

Tập hợp các ý niệm này được truyền đi mỗi ngày trong xã hội do ảnh hưởng chủ yếu của truyền thông đại chúng.

“Văn hóa đại chúng và truyền thông đại chúng có một mối quan hệ cộng sinh: phụ thuộc lẫn nhau và cộng tác mật thiết”. – K. Turner (1984)

Dù chưa thể cân đo đong đếm được hết các ảnh hưởng của nền văn hóa đại chúng Mỹ (Popular Culture) nhưng sự xâm thực của nó trên thế giới là có thực.

Giờ đây, sức lôi cuốn của nền văn hóa này đã được tiếp cận ở bên ngoài địa hạt của giải trí, truyền thông và trở thành một loại công cụ vô cùng hữu hiệu trong việc phát tán sức mạnh mềm của Mỹ.

Sức hấp dẫn đó được truyền đi khắp nơi trên toàn cầu nhờ sự nổi tiếng của các biểu tượng trong ngành công nghiệp giải trí của Mỹ – từ Madona cho tới McDonald’s và chú chuột Mickey.

Sức lôi cuốn của văn hóa đại chúng mạnh mẽ tới mức đã có lúc người ta coi sự lan truyền của nó như một dạng “xâm lăng” hoặc “bành trướng” tại những bối cảnh khu vực nhất định.

Chẳng hạn, người ta gọi “Chủ nghĩa thực dân Coca-Cola” hay “sự thống trị của McDonald’s”. Vượt ra khỏi lĩnh vực giải trí, sức lôi cuốn khó cưỡng của họ còn được nâng tầm và được tiếp cận ở địa hạt của ngoại giao quốc tế và địa chính trị.

“Chính MTV đã kéo sập bức tường Berlin” (Ảnh nguồn: floridaholidays4unow.co.uk)

Tuy nhiên, vai trò của văn hóa đại chúng trong địa hạt này lại rất gây tranh cãi. Nhiều người cho rằng nếu chỉ tập trung vào văn hóa đại chúng thì sẽ làm tầm thường hóa các phân tích về tổ hợp phức tạp bao gồm rất nhiều dạng tác động quan trọng khác của sức mạnh mềm, chẳng hạn như ngoại giao nhà nước và các chương trình giáo dục.

Rõ ràng, sức mạnh mềm không đơn thuần chỉ là Chuột Mickey, Madonna, McDonald’s hay là MTV. Văn hóa đại chúng có thể làm cho việc thảo luận về chính sách đối ngoại của Mỹ nghe có vẻ rất tầm thường, nhưng sức công phá của nó cho thấy đây là một lực tác động có thật và không thể cưỡng nổi.

“Chính MTV đã kéo sập bức tường Berlin”

Quan trọng hơn, rất khó – nếu như không nói là không thể nào – lượng hóa được tầm ảnh hưởng của văn hóa đại chúng. Cho dù sức hấp dẫn của nó là gì, văn hóa đại chúng không hề tạo ra các tác động có thể đo lường được, và cũng không đem lại kết quả đơn lẻ như mong muốn ở những nơi mà nó được tiếp nhận.

Đặc biệt là, không có gì chứng minh được rằng sự phổ biến của văn hóa đại chúng – từ việc xuất cảng những bộ phim của Hollywood hay là các ca khúc nhạc pop bằng tiếng Anh nổi tiếng trên toàn cầu – đã thôi thúc cho việc hình thành nên các điều kiện của chủ nghĩa đa nguyên, tự do ngôn luận hay là dân chủ.

Sức hấp dẫn của văn hóa đại chúng không trực tiếp tạo nên các cuộc cách tân tại những nước còn thiếu thiện cảm với  “tự do” và “dân chủ”.

Ảnh nguồn: joystiq.com

Nhưng các thông điệp của nó một khi đã được tiếp nhận thì thường được coi như là các biểu tượng của các giá trị đi cùng với chủ nghĩa cá nhân và tự do ngôn luận.

Theo cách đó, có thể dẫn tới thay đổi về mặt xã hội và chính trị khi những khát vọng được tiếp thêm động lực để trở thành hành động của tập thể.

Trở lại với Bức tường Berlin chia cắt nước Đức, những thanh niên Đức đã đập tan bức tường này đều mặc những chiếc áo phông vẽ hình logo MTV. Thậm chí có người còn kết luận rằng: “Chính MTV đã kéo sập bức tường Berlin”.

Nhiều người nghĩ  rằng bất kể ảnh hưởng của văn hóa đại chúng là gì, thì chính quyền Mỹ cũng không nên liên can tới việc phổ biến các thông điệp của loại văn hóa này trong việc thực thi chính sách đối ngoại của Mỹ. Và, văn hóa nên nhường lại cho các nhân tố phi nhà nước.

Nhưng, trên thực tế thì văn hóa đại chúng của Mỹ lại được triển khai với rất nhiều cấp độ áp dụng khác nhau, đã trở thành một phần trong chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần nửa thế kỷ qua.

Bất kỳ tổng thống nào của Mỹ – từ thời Woodrow cho tới George W. Bush – đều hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của sức mạnh văn hóa Mỹ.

Xuất khẩu “phong cách sống kiểu Mỹ”

Ngành công nghiệp phim ảnh và truyền hình của Mỹ có vô vàn ví dụ minh chứng cho tầm quan trọng chiến lược này của văn hóa đại chúng trong việc phát triển có hệ thống chính sách đối ngoại của Mỹ. Nó cũng đưa ra các minh chứng rõ ràng về những phản ứng hết sức trái chiều mà nền văn hóa đại chúng Mỹ đã kích động như thế nào trên thế giới.

Về bản chất, sự lôi cuốn từ sức mạnh mềm của Mỹ trong lĩnh vực văn hóa đại chúng chủ yếu dựa trên các hệ thống giá trị ẩn sâu trong các khu vực mà nó được công chúng địa phương truyền tải và tiếp nhận.

Tại các quốc gia phương Tây, nơi mà công chúng có sự chia sẻ rộng rãi các giá trị tự do và lâu bền gắn liền với chủ nghĩa cá nhân và dân chủ, thì các bộ phim cũng như truyền hình của Mỹ đạt được những thành công rất lớn và nổi tiếng.

Ảnh nguồn: bostoncondoloft.com

Nhưng các nhóm tinh hoa của các quốc gia này cũng phản ứng lại bằng cách hạn chế tầm quan trọng của các sản phẩm văn hóa Mỹ, và cũng tìm cách tạo ra đối trọng từ chính văn hóa bản địa, song những động thái này lại có xu hướng xuất phát từ động cơ bảo hộ về mặt thương mại.

Từ góc  độ lý thuyết, các nhà phân tích về sức mạnh mềm của Mỹ thường bị giới hạn trong cách tiếp cận tự do mới, trong đó nhấn mạnh vai trò của các nhân tố phi nhà nước và tầm quan trọng của các ý tưởng và giá trị trong việc định hình nên chính sách đối ngoại.

Trên thực tế, việc xuất cảng các giá trị và phong cách sống kiểu Mỹ theo con đường Hollywood và truyền hình vệ tinh lại rất phù hợp với các mô hình tự do mới.

Tuy nhiên, việc xuất khẩu có tính chất thương mại hóa các sản phẩm văn hóa của Mỹ chưa bao giờ đơn thuần là một sứ mệnh đạo đức do các nhân tố  phi nhà nước đảm nhận, cho dù đó là các nhà sản xuất của Hollywood hay là các chương trình của CNN.

Chính phủ Mỹ chưa bao giờ tỏ ra thờ ơ với các lợi ích thương mại từ việc xuất khẩu văn hóa Mỹ. Tương tự, các đối tác thương mại của Mỹ từ lâu đã lo ngại về ảnh hưởng tiêu cực lên cán cân thanh toán quốc gia khi mà các thị trường của họ tràn ngập các sản phẩm văn hóa Mỹ.

Do đó, có  thể nói rằng, cách thức quảng bá cho sức mạnh mềm của chính phủ Mỹ không chỉ mang đặc tính của chủ nghĩa lý tưởng cao cả, mà còn bị ảnh hưởng từ cách tiếp cận đầy tính thực dụng trực thuộc tư duy thực tế trong ngoại giao quốc tế của Mỹ.

Dẫu vậy, trong chính sách đối ngoại của Mỹ thì chủ nghĩa lý tưởng giáo điều và chủ nghĩa thực tế trong hoạt động thương mại vẫn chỉ là “đồng sàng dị mộng” khi mà các sản phẩm văn hóa nội địa được xuất khẩu trên toàn cầu. Chúng cùng vận hành với nhau, mang tính cộng sinh và thậm chí là trái ngược nhau.

Phần 2: Hollywood: “Sứ thần” của Hoa Kỳ trên thế giới

March 17, 2010

Nexus Technologies of Phila. pleads guilty in Vietnam bribe case

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:06 am
Tags: ,

Export company Nexus Technologies Inc. pleaded guilty Tuesday to participating in a conspiracy to bribe Vietnamese government officials, federal prosecutors said.

The Philadelphia-based company found potential U.S. suppliers for goods the Vietnamese government wanted to purchase, including underwater mapping equipment, bomb-containment equipment, helicopter parts, chemical detectors, satellite communication parts and air-tracking systems.

The U.S. Attorney’s Office in Philadelphia said Nexus and three brothers who worked at the company have “admitted that from 1999 to 2008 they agreed to pay, and knowingly paid, bribes in excess of $250,000 to Vietnamese government officials in exchange for contracts.”

The brothers — Nam Nguyen, 54, of Houston and Vietnam; Kim Nguyen, 41, of Philadelphia; and An Nguyen, 34, of Philadelphia — have pleaded guilty to conspiracy, Foreign Corrupt Practices Act violations and other charges, the U.S. Attorney’s Office said. One of their partners, Joseph T. Lukas, has also pleaded guilty to conspiracy and Foreign Corrupt Practices Act violations. Nexus faces a fine of up to $27 million, the prosecutor’s office said. Nam and An Nguyen face up to 35 years in prison. Kim Nguyen faces up to 30 years and the maximum sentence for Lukas would be 10 years, according to the prosecutor’s office.

March 12, 2010

Vietnam’s Import from U.S. Increases Sharply in January

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:34 pm
Tags: , ,

Vietnam spent 273.52 million U.S. dollars on import from the United States in January this year, up 153.7 percent year-on-year, said the information center of Vietnamese Ministry of Industry and Trade on Tuesday.

Machines, components and spare parts topped the Vietnam’s import items from the U.S market in the first month of 2010. Vietnam’s import turnover of this commodity reached roughly 60 million U.S. dollars, a surge of 126.47 percent over the same period last year.

Animal feed ranked second with import value of 27 million U.S. dollars during this period, followed by animal fats and vegetable oils with turnover standing at 20.7 million U.S. dollars, said the center.

Vietnam saw a year-on-year increase in turnover of most import items from the United States last January including cotton, wood products, plastic materials, milk products, pharmaceuticals and steel.

However, Vietnamese importers reduced their spending on purchasing such U.S. products as automobiles, electronic wires and cables, seafood and wheat during this period, said the center.

Last year, Vietnam paid 2.8 billion U.S. dollars for buying goods from the United States, up 9.1 percent year-on-year, according to the General Statistics Office of Vietnam.

December 22, 2009

Vietnamese Species Embroiled in Identity Crisis- DECEMBER 22, 2009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:46 pm
Tags: , , ,

WASHINGTON — The federal government is a whisker away from declaring what is a catfish, and what isn’t.
American catfish farmers have demanded that tougher safety rules be imposed on certain fish from Vietnam —
which are hurting their business, the industry says. But U.S. catfish farmers must first get the U.S. Department of
Agriculture to say the Vietnamese fish is a catfish. That is a little awkward since just seven years ago the farmers
successfully urged Congress to ban the Vietnamese fish from ever being labeled a catfish.
In Washington and elsewhere, trade, sometimes as much as science, has a way of defining a species. Something
might look, taste and feed off the bottom like a catfish, but until an agency calls it a catfish, it might as well be a
duck.
American catfish farmers aren’t alone in trying to manipulate food names. Three years ago, the Maine lobster
industry fought restaurants that offered “langostino lobster,” saying that the Chilean crustacean isn’t a lobster at
all. They called it a crab.
The Food and Drug Administration weighed in, approving “langostino lobster” for three species to the
consternation of the Maine lobster industry. “Langostinos have scientifically been documented as ‘squat lobsters,’
” says agency spokeswoman Rita Chappelle, adding that “they are classified as a type of lobster by taxonomists.”
That includes the book, she adds, “Lobsters of the World” by Dr. Austin Williams.
A few years earlier, the European Union tried to rename sardines from Peru and elsewhere as “pilchards” or
“sprats.” Only a single species harvested in the Mediterranean Sea, the Black Sea and along the European Atlantic
coast was a sardine, the EU declared; any slender salty fish from anywhere else was a sardine poseur. The World
Trade Organization didn’t bite. In 2002, it ruled for Peru.
Scientists say there should be no dispute about catfish: The bewhiskered Vietnamese fish, known as pangasius,
tra, basa or swai, along with the channel catfish raised primarily in the American South, are two of more than
3,000 catfish species. John Friel, a catfish expert and curator of fishes at Cornell University’s Museum of
Vertebrates in Ithaca, N.Y., says calling the Vietnamese fish anything but “reeks of absurdity from a scientific
point of view.”
In 2002, when the industry successfully prevented the fish from being labeled a catfish, the measure failed to
dent imports, and the U.S. industry sought stiff tariffs a year later. That didn’t help much, either.
The catfish lobby says its latest campaign to call the Vietnamese fish a catfish isn’t a flip-flop from its earlier
stance not to designate it as such. “In a scientific sense, pangasius (basa, tra, swai) are in fact Asian catfish,
despite labeling and marketing laws” that banned calling them catfish, says Jeff McCord, trade adviser to the
Catfish Institute, which promotes U.S.-raised catfish.
U.S. catfish farmers say the mild, flaky fish, which turns up at supermarkets as frozen fillets and fish sticks,
threatens the $400 million U.S. catfish industry. Pangasius imports totaled $77 million last year, up from $10.7
million in 2000, according to Informa Economics Inc., a Memphis, Tenn., research firm.

Joey Lowery, president of trade group Catfish Farmers of America, says U.S. catfish production has shrunk by
25% in recent years, and an adverse USDA decision would “kill our industry.” He also says the Vietnamese fish
could harm more than U.S. catfish farmers. “There are unsafe products coming into this country,” Mr. Lowery
says, adding that the Vietnamese use illegal chemicals and unsafe production facilities.
Safety was the argument the U.S. industry used in muscling a measure into the 2008 Farm Bill that transferred
regulation of all catfish to the USDA, regulator of meat, poultry and eggs, from the FDA, which regulates seafood.
The FDA hasn’t found that catfish — foreign or domestic — poses any greater safety problem than other fish, but it
inspects only a small percentage of imports.
If the USDA determines the fish isn’t a catfish, it could open a boatload of taxonomic troubles if other farmers try
similar tactics.
In this dogfight, the U.S. industry has a number of adversaries. At Vietnam’s embassy in Washington, Thoan V.
Ngo, the commercial counselor, says USDA regulation would set up “a de facto trade barrier,” adding that
Vietnam doesn’t allow use of banned chemicals as the U.S. industry asserts. And U.S. importers and processors
say the catfish farmers’ campaign threatens to cut off their supplies just when some are betting pangasius could
be the industry’s next big star.
At Cornell, Dr. Friel says Washington shouldn’t mess with science, and when it comes to taste, “the majority of
people probably couldn’t tell” the difference.
Write to Jane Zhang at Jane.Zhang@wsj.com

December 17, 2009

Agent Orange Continues to Poison New Generations in Vietnam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:09 pm
Tags: ,

This lonely section of the abandoned Danang airbase was once crawling with U.S. airmen and machines. It was here where giant orange drums were stored and the herbicides they contained were mixed and loaded onto waiting planes. Whatever sloshed out soaked into the soil and eventually seeped into the water supply. Thirty years later, the rare visitor to the former U.S. airbase is provided with rubber boots and protective clothing. Residue from Agent Orange, which was sprayed to deny enemy troops jungle cover, remains so toxic that this patch of land is considered one of the most contaminated pieces of real estate in the country. A recent study indicates that even three decades after the war ended, the cancer-causing dioxins are at levels 300 to 400 times higher than what is deemed to be safe.

After years of meetings, signings and photo ops, the U.S. held another ceremony in Vietnam on Wednesday to sign yet another memorandum of understanding as part of the continuing effort to manage Agent Orange’s dark legacy. Yet there are grumblings that little — if anything — has actually been done to clean up the most contaminated sites. Congress has allocated a total of $6 million to help address Agent Orange issues in Vietnam since 2007, but not only does the amount not begin to scratch the surface of the problem or get rid of the tons of toxic soil around the nation, there are questions about how the money is being spent. Several parties have noted with growing frustration that what money there is is primarily going to study the issue and hire consultants rather implementing measures to prevent new generations from being exposed. (See the ongoing effects of an industrial disaster in India.)

“There is still risk to people living in those areas,” says Thomas Boivin, president of the Vancouver-based Hatfield Consultants, an environmental firm that has been identifying and measuring Agent Orange contamination in Vietnam since 1994. The good news is that Hatfield’s studies indicate that even though ten percent of southern Vietnam was sprayed with dioxins, only a handful of hotspots — all former U.S. military installations where the herbicide was mixed and stored — pose a danger to humans. The bad news? “If those were in Canada or in the U.S., they would require immediate clean up,” Boivin says.

Responding to complaints that America is dragging its feet, U.S. ambassador to Vietnam Michael Michalak said the $1.7 million most recently allocated to conduct an environmental assessment of the Danang airbase is being done to comply with both U.S. and Vietnamese law, and is a necessary step toward clean up. “We’re investigating many promising techniques,” Michalak said following Wednesday’s signing ceremony in Hanoi. Careful study is required if the job is to be done right, he said. “We know there is dioxin in the soil,” he added. “But what method do we use to remove it? Where do we tell the diggers to dig? It’s just another step on the road.”

But critics believe the U.S. is playing a grim waiting game: Waiting for people to die in order to avoid potentially costly lawsuits. For a country currently engaged in two wars, accepting comprehensive responsibility for wartime damages could set an expensive precedent. “They know what the problem is and where it is,” says Chuck Searcy, country representative of the Vietnam Veterans Memorial Fund. “Why do they now need an environmental impact assessment? They are studying this to death.”

Scientists have been raising the alarm about dioxins since the 1960s. After TCDD, the dioxin in Agent Orange, was found to cause cancer and birth defects, the U.S. Environmental Protection Agency slapped an emergency ban on the herbicide in 1979. Dow and Monsanto, the chemical’s largest manufacturers, eventually shelled out millions in damages to U.S. troops exposed to it while it was being used as a wartime defoliant from 1961 to 1971. The U.S. government still spends billions every year on disability payments to those who served in Vietnam — including their children, many of whom are suffering from dioxin-associated cancers and birth defects. In October, the Department of Veterans Affairs added leukemia, Parkinson’s and a rare heart disease to the list of health problems associated with Agent Orange. Yet U.S. official policy maintains there is no conclusive evidence that the defoliant caused any health problems among the millions of exposed Vietnamese or their children. (See pictures from ninety years of battlefield portraits.)

Meanwhile, private foundations and individuals have taken the lead. Early efforts to identify and measure dioxin levels at Agent Orange hotspots were undertaken by the U.S.-based Ford Foundation in the 1990s. Later, with technical assistance from the U.S. Environmental Protection Agency, Ford ‘capped’ the most contaminated section of what is now the Da Nang International Airport, installing a filtration system to stop dioxins flowing into the city’s water supply and building a wall to keep people from entering the area. At another abandoned U.S. airbase in the Aluoi Valley, a Vietnamese botanist raised $25,000 in donations to plant cactus-like bushes and thorn trees around contaminated areas to prevent villagers from entering to fish there. (Dioxins quickly accumulate in animal fat.) Though these are not long-term solutions, Hatfield found that after the simple barriers went up, dioxin levels in the blood and breast milk of nearby residents dropped dramatically.

Charities in Danang have also voiced concerns about how U.S. money is being spent when it comes to providing care to the disabled in the region. A portion of the $6 million allocated by Congress was awarded to humanitarian groups working with disabled residents around Danang. But it is difficult to find evidence of the money at work. Save the Children was given $400,000 to help people with disabilities find employment. The sole case the organization shared with a reporter was their work finding a job for a college graduate with a hair lip. Another chunk went to equip and refurbish a wing at Binh Dan hospital in Danang, which sits largely empty. Because the American Rehabilitation Center has virtually no medical equipment, it has a difficult time attracting patients. Meanwhile, the U.S. embassy in Hanoi is spending $500,000 for a health and remediation advisor.

Groups caring for children born with horrific deformities from Agent Orange — such as malformed limbs and no eyes — are wondering why they haven’t seen any of that money. Bedridden and unable to feed themselves, many patients need round-the-clock care. As they age, and parents die, who is going to look after them? asks Nguyen Thi Hien, director of the Danang Association of Victims of Agent Orange. She says donations to her group, which cares for 300 children, are down 50% because there is a belief that local charities are flush with cash since the U.S.’s latest allocation. “The one million [being spent by the Americans] is not for care, but mainly for conferences and training,” said Hien. “This money should go to caring for the victims.”

But determining who should benefit is a nightmare. Tests to establish dioxin levels in individuals run as high as $1,000 per person — a pricetag Vietnam says it can’t afford. U.S. negotiators and scientists are frustrated that Vietnam seems to blame all the population’s birth defects on the defoliants. Diplomats broke off talks several years ago complaining that Vietnam was unwilling to use accepted scientific methods because it may not support claims of widespread exposure and health damages. They have also complained that Vietnam itself could certainly do more to help its own. No one is stopping the Vietnamese from erecting fences around contaminated spots, points out one U.S. diplomat, suggesting the Vietnamese are simply milking the issue for more aid and sympathy.

Still, the Vietnamese people (and the government to a much quieter extent) think it’s the U.S. that should be doing more — much more. Some point out that the U.S. spends only a fraction on Agent Orange cleanup compared to the $50 million it spends every year on searching for the remains of American soldiers missing in action. Thao Griffiths, Country Director of the Vietnam Veterans of America, which works on lingering war issues, does not want to compare the budgets of the two efforts. But the legacy of each is equally painful. “The issue of MIAs for Americans holds the same importance that Agent Orange does for the Vietnamese,” she says. And until the issue is resolved the legacy of the war will continue to haunt both sides.

December 13, 2009

Thông Điệp từ chuyến công du Châu Á của Tổng thống Obama

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:46 am
Tags: , , ,

Sau giấc ngủ thật dài ở ASEAN qua hơn 4 thập niên, Rồng Trung Hoa trỗi dậy đủ để trở thành siêu cường kinh tế và quân sự đứng sau Hoa Kỳ. Trung Hoa đang muốn nuốt chửng Miến Điện, Việt Nam, Lào, Cambodia và đang chơi trò mèo vờn chuột ở Vương Quốc Thái Lan. Họ đang gây hốt hoảng cho cường quốc kinh tế số hai Nhựt Bản và các Hổ Phương Đông như Singapore, Nam Hàn và Đài Loan. Sức mạnh của Trung Hoa cũng đủ để Nga, Ấn Độ, Úc Châu, Cộng Đồng Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh phải xem xét lại cơ cấu chính trị, quân sự, kinh tế và ngoại giao của mình. Trước cường độ “rung chuyển thế giới” của Rồng Trung Hoa đang đổi màu từ đỏ qua xanh, Hoa Kỳ thấy cần trở lại Đông Nam Á để tạo “thế cân bằng quyền lực” vì quyền lợi lâu dài lẫn khu vực mà Hoa Kỳ đang hướng tới.

Thế trận ASEAN và APEC
Vị Tổng Thống da màu đầu tiên của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã trở thành biểu tượng cực thịnh của nền dân chủ sinh động và một xã hội đa chủng tộc được ổn định tuyệt đối bằng pháp trị. Ông đã tới Châu Á trong sự giao tiếp đầy hân hoan, hoàn toàn khác với tinh thần bài Mỹ cách đây hơn bốn thập niên. Cùng vào thời điểm nổ ra cuộc cách mạng Đông Âu khởi đầu cho tiến trình dân chủ hóa nước Nga và biến cố đẫm máu Thiên An Môn, việc hình thành Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967 và sự cho ra đời Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) không phải là việc làm ngẫu nhiên của những nhà hoạch định chiến lược của Hoa Kỳ.
Thế trận Châu Á Thái Bình Dương mà Hoa Kỳ dàn dựng bằng ASEAN và APEC đã chín mùi nhờ sự quẫy đuôi mạnh mẽ của Rồng đỏ Trung Hoa. Tổng thống Obama mang một thông điệp mới của Hoa Kỳ tới vùng này: ―Chúng tôi là một quốc gia Châu Á Thái Bình Dương và chúng tôi sẽ có mặt tại đây về lâu về dài,‖ như lời xác nhận của người phụ trách chính sách Á Châu trong Hội đồng An ninh quốc gia Hoa Kỳ Jeffrey Bader. Hướng về ―Thế Cân bằng Chiến Lược Đông Nam Á‖, chúng ta hãy chờ xem kết quả của cuộc vận động tế nhị của Tổng thống Obama cho tiến trình dân chủ ở Miến Điện qua cuộc bầu cử của quốc gia này vào năm 2010 để rút ra bài học dân chủ cho Việt Nam và Lào. Đây là yếu tố cần để các nước thành viên ASEAN tự xóa các khác biệt và tiến tới sự đồng thuận cho một cộng đồng phát triển Đông Nam Á vào năm 2015, như tầm nhìn chung mà tổ chức ASEAN đang hướng tới. Vì vậy Giáo sư Amitav Acharya rất hữu lý khi nhận xét rằng cuộc họp giữa Tổng thống Obama và ASEAN là ―quan trọng cả về thực chất và tính biểu tượng cao‖.
Hợp tác thực dụng của Hoa Kỳ và Bắc Kinh
Giới truyền thông soi rọi vào ba lãnh vực kinh tế, chính trị và quân sự tiềm ẩn phía sau đường lối ―hợp tác thực dụng‖ của Hoa Kỳ mà Tổng thống Obama đã đánh tiếng từ Tokyo trước khi đến Bắc Kinh.
Kinh Tế:
Về kinh tế, việc áp đặt thuế quan lên thép và lốp xe nhập từ Trung Quốc trước chuyến công du của Tổng thống Obama được xem là điều kiện trao đổi một cách ―thực dụng‖ cho việc TQ ghìm giá đồng yuan. Hành động ghìm giá thay vì thả nổi đồng yuan là con dao hai lưỡi vừa hạ giá hàng xuất khẩu, cạnh tranh với các quốc gia Á Châu vừa kiếm lời nhiều hơn và chiếm lĩnh lâu hơn thị trường Hoa Kỳ. Hiện tại Hoa Kỳ là bạn hàng lớn nhất cùa Trung Quốc; ngược lại, Trung Quốc là chủ nợ hàng đầu của Hoa Kỳ. Thật không ngoa khi nói rằng mối quan hệ kinh tế Hoa—Trung đang gắn liền thế ―môi hỡ răng lạnh‖. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tuy phớt lờ không nhắc đến vấn đề tiền tệ một cách công khai, nhưng khó tiếp tục tránh né ―hợp tác thực dụng‖ của Obama nếu muốn các bên cùng hưởng lợi.
Chính Trị:
Trong chuyến thăm Bình Nhưỡng vào đầu tháng 10 của Thủ tướng Ôn Gia Bảo, Kim Chính Nhất đã thông báo rằng Bắc Hàn sẵn sàng trở lại đàm phán sáu bên. Tuy nhiên, việc quay trở lại đàm phán phụ thuộc vào tiến bộ của hội đàm song phương giữa Bắc Hàn và Hoa Kỳ. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói rằng chắc chắn chính quyền Obama tán thành bang giao tốt đẹp hơn với Bắc Triều Tiên, nhưng sẽ giữ nguyên lập trường đối thoại với Bình Nhưỡng phải nằm trong khung sườn các cuộc đàm phán sáu bên. Và gần đây Tổng thống Obama tái xác nhận Bắc Kinh là yếu tố không thể thiếu để giải quyết vấn đề này. Lý luận kiểu ―kiến bò chén‖ này khiến nhiều người có quyền đặt ra câu hỏi: ―Phải chăng khi Hoa Kỳ và Trung Quốc đồng thuận giải quyết dứt điểm vấn đề Bắc Triều Tiên, họ sẽ chẳng còn gì để ngã giá với Nhựt Bản và Nam Hàn?‖ Tương tự, cách ứng xử trong vấn đề Iran, thỏa hiệp giữa Hoa Kỳ—Trung Quốc vẫn chưa đủ, mà lại cần ―hợp tác thực dụng‖ với Medve-dev từ Điện Kremlin và cần gắn liền với chiến trường Afghanistan.
Quân Sự:
Tuy không có tuyên bố chi tiết nào về quân sự giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, chúng ta có thể hiểu rằng mục tiêu quân sự mà hai bên đang quan tâm chính là vùng Thái Bình Dương. Điều này được thể hiện qua sự phô trương sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên biển Đông cùng cuộc diễn binh với quy mô lớn nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Và cách đây không lâu còn có thêm cuộc thảo luận về hợp tác quân sự với ông Tập Cận Bình ở Ngũ Giác Đài. Chúng ta cũng hiểu rằng, sức mạnh quân sự mà Trung Quốc hiện có chỉ đủ để tham gia vào công tác chống cướp biển và hù dọa láng giềng. Trung Quốc vẫn còn một chặn đường khá dài ở phía trước để theo đuổi Hoa Kỳ. Vì vậy Hoa Kỳ có lý do chính đáng để bảo vệ quyền lợi của mình qua sự ―hợp tác thực dụng‖ về quân sự đa phương trong vùng để ―cân bằng quyền lực‖ với Trung Quốc.
Dân chủ trong khu vực Đông Nam Á năm 2012
Nếu được sự đáp ứng từ mọi phía theo chiều hướng tích cực, chuyến công du của Tổng thống Obama có thể là viên gạch đầu tiên cho một cuộc cách mạng xanh tại Á Châu. Sự ảnh hưởng này có thể với tầm vóc rộng lớn hơn, tiến bộ hơn và đem lại nhiều phúc lợi hơn cho nhân loại so với cuộc cách mạng 1989 tại Đông Âu. Và cũng trong khuôn khổ này, chúng ta có thể kỳ vọng vào tiến trình dân chủ hóa ở Miến Điện, sau đó Việt Nam và Lào như là tiền đề cho sự trỗi dậy của khối ASEAN. Chúng ta nhìn thấy nước Nga hoàn tất lộ trình dân chủ còn dang dỡ vào cuối nhiệm kỳ của Gorbachev. Chúng ta cũng có thể thấy được một nước Trung Hoa sẽ lần bước theo đoạn đường dân chủ hóa nước Nga của Gorbachev cách nay 20 năm. Người thực hiện cuộc cách mạng này chắc chắn không phải Chủ tịch Hồ Cẩm Đào hoặc ai đó xuất thân từ Đoàn Phái (Đoàn Thanh Niên), vì nhóm này đã bị đốt cháy bởi biến cố Tân Cương. Có thể là Tập Cận Bình, người tiến thân từ các tỉnh trù phú vùng duyên hải, nhảy vọt lên Phó Chủ tịch nước sau khi nắm chức Bí thư Thượng Hải (2006), rồi Ủy viên Ban thường vụ Bộ Chính Trị (2007), và có nhiều khả năng được bình chọn vào Quân Ủy Trung Ương. Chúng ta mong được nhìn thấy CHND Triều Tiên sẽ thoát khỏi đói nghèo và tiến dần tới lộ trình thống nhứt với Nam Hàn trong hòa bình như Đông Đức đã làm cách nay hai thập niên. Chúng ta sẽ có nhiều hy vọng nhìn thấy nền kinh tế thế giới phục hồi nhờ có những điều chỉnh cần thiết giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển. Sau cùng, chúng ta hy vọng vấn nạn nóng ấm toàn cầu sẽ được quan tâm đúng mức tại Copenhagen vào năm tới. Nếu các giấc mơ trên đây trở thành hiện thực, chúng ta có thể chứng kiến một kỷ nguyên thịnh vượng cho Châu Á—Thái Bình Dương nhằm phục vụ cho toàn thể nhân loại.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không loại trừ trường hợp xấu nhứt có thể xảy ra vì sự tham lam và ích kỷ của con người. Hoặc vì nhu cầu tiêu thụ kho võ khí khổng lồ của các cường quốc, vì không còn con đường nào khác để giúp nền kinh tế thế giới phục hồi khi nó rơi vào chu kỳ thứ hai của hình W. Hoặc vì nhu cầu năng lượng của mỗi nước, vì chủ nghĩa chủng tộc tiếp tục dâng cao tại Trung Quốc, vì hòa bình vẫn là điều không tưởng cho thế giới Hồi giáo và vì mối đe dọa nóng ấm toàn cầu không được giải quyết. Trong trường hợp này, nhân loại sẽ khó tránh khỏi một cuộc Thế Chiến III để có một trật tự thế giới mới và để ổn định nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, đây là cơ hội để có ―làn ranh cố định cho thế giới Hồi Giáo‖ và quan trọng hơn cả là để đưa nhân loại ra khỏi họa ―Đại Hồng Thủy‖.
Năm 2012 được cho là mốc thời gian để đo lường giữa sáng và tối. Sự thay đổi dựa vào nhiều yếu tố tại các quốc gia ASEAN, thế giới Hồi giáo, sự phục hồi của nền kinh tế và các vấn đề liên quan thay đổi khí hậu. Tùy theo mức độ mà các giả thuyết trên trở thành hiện thực hay chỉ là những tuyên truyền nhằm tô điểm cho một giai đoạn hòa bình giả tạo, chúng ta sẽ thẩm định được sự sáng và sự tối vậy.
Huỳnh Công Luận
Tài Liệu Tham Khảo:
[1] Kim Ghattas, BBC News; Obama tìm cách trấn an đồng minh châu Á http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/11/091112_obama_asia_analysis.shtm
[2] Mai Vân, RFI; Mỹ-Nhật nỗ lực làm dịu tình hình trƣớc chuyến công du của Obama; Bài đăng ngày 12/11/2009 Cập nhật lần cuối ngày 12/11/2009 17:04 TU. http://www.rfi.fr/actuvi/articles/119/article_5672.asp
[3] VOA News; 13/11/2009; Kỳ tăng cường ‘cách tiếp cận mới với ASEAN‖ http://www.voanews.com/vietnamese/mobile/displaystory.cfm?id=375873&metadataid=1340
[4] Hồng Minh; Hoa Kỳ – Trung Quốc: Hợp tác thực dụng; BBC News; Cập nhật: 14:16 GMT – thứ ba, 17 tháng 11, 2009; http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2009/11/091117_china_us_opinion.shtml

December 10, 2009

Trung Quốc vẫn là “miền đất hứa” của doanh nghiệp Mỹ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:48 am
Tags: ,
VIT – Theo một nghiên cứu của Phòng thương mại Mỹ (AmCham), Trung Quốc vẫn sẽ là điểm hấp dẫn đầu tư hàng đầu với các doanh nghiệp Mỹ vào năm 2010 giữa lúc nền kinh tế toàn cầu vẫn đang suy giảm, vì các doanh nghiệp Mỹ trông mong vào sự tăng trưởng liên tục về doanh thu và lợi nhuận trên thị trường này.

Hơn 90% số doanh nghiệp tham gia vào cuộc điều tra do Phòng thương mại Mỹ tiến hành cho biết họ hoàn toàn lạc quan về triển vọng phát triển của nền kinh tế Trung Quốc. Cuộc điều tra được tiến hành trên 369 doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ.

Bản điều tra mới được AmCham công bố hôm 9/12 cho hay tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn Trung Quốc làm điểm đến đầu tư đã tăng từ con số 80,7% trong năm 2008.

Bản điều tra cũng cho thấy, có tới 64,5% số doanh nghiệp tham gia có kế hoạch nâng vốn đầu tư của họ tại Trung Quốc trong năm tới, con số này chỉ đạt 58,6% trong bản điều tra năm trước.

Chủ tịch phòng thương mại Mỹ tại Thượng Hải J. Norwell Coquillard cho biết “Các công ty Mỹ đang nhận ra rằng hoạt động tại Trung Quốc chính là điểm sáng trong bức tranh ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu.”

Trung Quốc có được mức tăng trưởng lớn năm nay giữa lúc nền kinh tế toàn cầu đang trong tình trạng suy giảm là nhờ gói kích thích kinh tế trị giá 4 triệu tỷ Nhân dân tệ (tương đương 586 tỷ Đô-la) của chính phủ Trung Quốc.

Chính nhờ gói kích thích kinh tế này, nền kinh tế Trung Quốc đã quay trở lại đà phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua.

Trong khi các doanh nghiệp Mỹ đang bị thua lỗ nặng nề tại thị trường quê nhà thì họ lại thấy rằng thị trưởng Trung Quốc chính là nơi giúp họ kinh doanh thu lời.

Có tới 59% doanh nghiệp tham gia điều tra đang có hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ nhắm tới thị trường Trung Quốc. Con số này đã tăng mạnh từ mức 39% vào năm trước, và là mức tăng mạnh nhất kể từ năm 2006.

Bản điều tra còn cho thấy các doanh nghiệp đang làm ăn trên thị trường Trung Quốc với hướng xuất khẩu ngược lại quê nhà giảm từ 21% năm 2008 xuống còn 16% năm 2009.

Tuy nhiên, số doanh nghiệp trông đợi khoản tăng trong doanh thu hàng năm đã giảm từ 77% năm 2008 xuống 27% năm 2009. Trong khi đó số doanh nghiệp hy vọng đạt mức lợi nhuận sàn đã tăng tới 36%, mức tăng mạnh nhất kể từ năm 2002.

August 20, 2009

Chuyện về Mobile Home ở Mỹ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:50 pm
Tags: ,

Người Việt định cư ở Mỹ, ai cũng như ai, trong quá trình hội nhập vào đời sống, đều có một mối quan tâm giống nhau đó là vấn đề nhà ở. Đi làm job (công việc, việc làm –  BT) này job nọ, lăn xả vào dòng xoáy mưu sinh… có chút ít tiền dành dụm, ai cũng nghĩ đến việc mua nhà để ở. Nhà Mobile Home hay nhà House…

Người Việt ngày nay ở Mỹ, có người mua nhà Mobile Home, có người mua nhà House… tuỳ theo khả năng và (thu nhập) của từng gia đình. Câu chuyện nơi đây, xin giới hạn trong phạm vi về nhà Mobile Home,  vì có lẽ nhiều người Việt đang “sống chết” cùng căn nhà này ở Mỹ..

Chỉ lợi trước mắt

Ngày nay, với thời buổi kinh tế xuống nhiều ở Mỹ, việc khủng hoảng địa ốc lan tràn, những dấu hiệu rõ ràng của một sự phục hồi gia cư gần như chưa thấy xuất hiện và nạn mất việc làm cùng những vụ xiết nhà (nhà House) tiếp tục gia tăng không ngừng đè nặng áp lực lên nhiều với thị trường địa ốc và người dân ở Mỹ (người bản xứ cũng như người di dân), vì thế nhà Mobile Home hơn bao giờ hết gần với mọi người hơn trong nhu cầu tìm nơi để ở phù hợp với mình.

Lúc này (khoảng tháng 6, tháng 7.2009), giá nhà Mobile Home cũng có nhiều thay đổi. Tuỳ theo vị trí, đời nhà, diện tích sử dụng, tiền đất phải trả… mà giá được ấn định. Nói chung một căn nhà Mobile Home đời 1991, ở khu vực như ở Westminster/ Magnolia, có 3PN/2PT (3 phòng ngủ / 2 phòng tắm,  diện tích ước chừng 1,344 Sqft giá bán dao động trong khoảng từ $55.000 tới $60.000. Nhà cũ hơn khoảng đời từ 1982 đến 1989, dạng 2 PN/2PT, giá cũng từ $42.000 đến $50.000.

Những Mobile Home khoảng đời 2007, còn mới, tiền đất khoảng từ $585/ tháng đến $700/ tháng hay hơn tí, giá bán trong khoảng chừng $60.000 đến $75.000. Nói chung nếu chú ý đến giá đất phải trả, thì những nhà Mobile Home có giá đất phải trả trong khoảng từ $600 đến $750, thì giá bán nhà được kha khá và dễ bán hơn hết.

Bỏ ra khoản tiền trên dưới $50.000 để mua nhà Mobile Home, đối với người Việt mình ở Mỹ, có lẽ không phải là một khoản tiền nhỏ vào thời buổi suy thoái này. Nhưng mua được rồi vẫn khó yên. Vấn đề là tiền đất của Mobile Home càng lúc càng bị đẩy lên cao bằng đủ mọi thủ thuật.

Bác P.T ở Mobile home hơn chục năm nay, tiền đất bác phải trả hàng tháng cho chủ đất đã lên tới hơn $1200/ tháng, Bác ngán ngẩm nói: “Căn nhà này từng là niềm hãnh diện của cả gia đình, được mua bằng income ít ỏi ky cóp của vợ chồng bác bao năm qua. Giờ sao mà thấy lo lắng quá!”.

Hỏi ra mới hiểu là bác có chung mối lo của không ít người ở nhà Mobile Home, tiền thuê đất bình quân tăng đều hàng năm (khoảng 5%/ năm). Khi tiền thuê đất tăng hơn $1200/ tháng… rồi lừng lững tiến dần đến mức hơn $1400/ tháng, thì giá trị căn nhà đột nhiên rẻ hơn và bán lại rất khó khăn vì người mua nhìn vào giá thuê đất sẽ rất sợ hãi.

Bác H.N đang muốn bán lại căn Mobile Home của mình  với giá rẻ vì muốn đổi nhà house theo nhu cầu của con cái, nhưng bán mãi không được do giá tiền thuê đất của nhà bác khá cao $1200/ tháng.

Thủ đoạn của giới chủ đất

Chị L.T sống ở khu Mobile Home gần gốc First/Eucild  thì nói: “Ở khu tôi ở, nhiều người Mễ bỏ đi bỏ hẳn nhà cho chủ đất lấy không, vì giá đất quá cao trả không nổi, mà bán thì chẳng ai mua. Tiền đất có nhà leo lên đến hơn $1400/tháng!”.

Thực tế cho thấy, khi  tiền thuê đất lên đến $1500/ tháng trở lên, rõ ràng căn nhà không bán được nữa, chủ nhà một là phải gồng mình trả giá thuê đất quá cao cho chính căn nhà của mình, hoặc giả chán nản bỏ nhà mà đi.

Khi đó chủ đất sẽ hưởng lợi lớn, sửa chữa chút ít và bán cho người khác với một giá thuê nhà mới hấp dẫn người mua vào vòng xoáy “ở nhà Mobile Home” với mức giá thuê đất hấp dẫn khởi đầu từ $650-$750/ tháng. Không ít người sống lâu năm ở Mỹ, đã gọi đó là thủ đoạn “lừa đảo tinh vi” của giới chủ đất (?).

Thử hình dung sâu hơn, chủ đất thường tăng tiền đất khoảng 10% cho mỗi lần bán hay chuyển nhượng quyền sở hữu. Với lối áp dụng thủ đoạn này, tiền thuê đất sẽ tăng có khi đến hơn 200% khi căn nhà được chuyển nhượng – mua bán đến lần thứ mười. Thật là một lợi nhuận khổng lồ cho chủ đất.

Ngoài việc tăng tiền thuê đất bình quân 10% khi có mua bán nhà Mobile Home, giới chủ đất thường áp dụng mức tăng chung 5% cho tiền thuê đất hàng năm, mà có người gọi đó là thủ đoạn cho mượn tiền mua nhà trả 5% mỗi năm trong vòng 30 năm.

Với thủ thuật tinh vi mà trong đó chủ đất không phải bỏ ra một đồng xu vốn cho vay nào cả (?). Trong vòng 30 năm sau đó, căn nhà theo thời gian tự động mất giá trị dần bởi giá thuê đất quá cao (một nghịch lý kỳ lạ), tạo ra cái “lưới chắn vô hình” làm căn nhà khó bán vô cùng, nếu không muốn nói là vô vọng để bán.

Hơn nữa luật của nhiều tiểu bang ở Mỹ, như California chẳng hạn, giới hạn gắt gao việc cho thuê lại các căn nhà tiền chế  kiểu như nhà Mobile Home. Điều luật này tước mất quyền cho thuê lại của chủ Mobile Home.

Có gì khác biệt giữa những người không có tài sản phải đi thuê một căn hộ với một chủ nhân Mobile Home đang phải trả tiền thuê đất ngày một cao?  Có ai thấy được chính những chủ đất nơi có các Mobile Home đang cư trú, lại chính là những người cố tình làm mất giá những căn nhà Mobile Home, có khi còn cướp trắng những Mobile Home mà chủ nhà phải bỏ đi mà không thể bán lại.

Cá biệt còn có những khu Mobile Home, chủ đất khi thấy mình thu lợi đã đủ, hay thấy lợi nhuận khác lớn hơn, đã đang tâm vội vã bán đất của mình và đòi hỏi tất cả chủ nhà phải di dời đi trong một thời gian nhất định, mà những điều này chủ đất với hệ thống quản lý tinh vi… hầu như đã dự phòng trước để làm không trái luật và làm trong cái quyền mà họ hoàn toàn chủ động, rất khó dùng pháp luật để phản biện hay chống lại họ.

Chủ đất làm giàu như vậy có được gọi là “bất chánh” không khi mà khoản lợi nhuận họ thu được mỗi tháng, năm này qua năm khác luôn tăng… còn nhiều hơn và lớn hơn cả tiền thuế tài sản và thuế mua bán trao đổi tài sản? Chủ đất có phải thật sự hưởng lợi trên giá trị khấu hao tài sản của người khác mà không cần phải chi trả chi phí, theo đà giá đất cư tăng mãi?

Sự chiếm hữu không công chính này, vô hình trung, đang bóp chết cách sống lưu động vì mưu sinh của người Mỹ có thu nhập thấp, trong đó có những người Mỹ gốc Việt như chúng ta. Có người còn nói hợp đồng thuê đất giữa chủ nhà và chủ đất ở các Mobile Home như là một cài bẫy, trong đó người chủ nhà hoàn toàn bị động, thậm chí không được quyền ý kiến gì, chịu thì vào ở, không thì thôi(!).

Có người còn nói thật là bất nhẫn khi người ở trong những căn nhà Mobile Home lại có cảm giác như chính mình bị cầm tù, mãi còng lưng lo trả tiền đất mà thấy giá trị nhà của mình bị người khác tước đoạt dần. Muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó người chủ nhà phải tự mình đi tìm khách hàng khác cho chủ đất, một nạn nhân khác để thay thế.

Việc cố tình thảo những hợp đồng ma mãnh bằng kỹ xảo dùng luật thuê nhà thay cho luật thuê đất… các chủ đất đã và đang gây nhiều bất bình cho người ở nhà Mobile Home.
ở nhà nào?

Luật pháp của Mỹ luôn có những ưu điểm nhất định thể hiện sự tôn trọng cao quyền tự do của con người. Vì lẽ đó, những gì chưa theo kịp với sự tiến triển của cuộc sống, luôn cần được thay đổi. Luật pháp cũng vì thế, luôn cần được điều chỉnh và bổ sung là vì vậy. Đã có không ít ý kiến về Luật Cư trú nhà lưu động ở các tiểu bang, như Luật cư trú nhà lưu động ở  tiểu bang California năm 2009 chẳng hạn.

Những nhà lập pháp, hành pháp, những cơ quan truyền thông ở Mỹ, nhìn thấy điều này tới đâu? Những sơ hở không phải không có liên quan đến vấn đề cư trú ở những căn nhà Mobile Home, như hợp đồng thuê mướn chưa thật sự hợp lý, giá thuê đất, sự cách biệt giữa các mức giá thuế đất, sự cho thuế lại căn nhà hay một phần nhà… có được pháp luật minh định bằng những luật rõ ràng, có thể bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho chủ nhà, chủ đất trong mối quan hệ bình đẳng công bằng hơn, tuỳ thuộc không ít vào sự tham gia vào quá trình dân chủ của chính những người dân sống trên nước Mỹ.

Có những người khác lại lý luận ở Mobile Home trả tiền thuê đất, cũng còn hơn ở căn hộ cũng trả tiền thuê nhà, là còn có cái nhà của chính mình. Giá  đất lên, giá thuê căn hộ cũng lên vậy, nhà Mobile Home mua để ở, mà bán buôn gì đâu mà tính hơn thiệt. Những ý kiến, suy nghĩ ở trên… và cả ở ý kiến ngược lại ở đây, có điểm tương đồng là nói lên thực trang những tâm tư, suy nghĩ của người đang sống trong những căn nhà Mobile Home.

Có lẽ câu chuyện về Mobile Home cũng không thể dừng lại được vì mọi cái vẫn còn ở phía trước. Ở  hay không ở nhà Mobile Home vẫn là quyền tự do lựa chọn của mọi người, tranh đấu hay không tranh đấu cho quyền của những người sống trong những căn nhà Mobile Home cũng do mọi người…

March 18, 2009

Tại sao USD tăng giá bất chấp kinh tế Mỹ đi xuống? 030309

Filed under: khủng hoảng,kinh tế,thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 12:55 am
Tags: , ,

Nhiều nhà đầu tư cho rằng kinh tế Mỹ sẽ thoát ra khỏi khủng hoảng sớm nhất so với các nền kinh tế khác vẫn còn ngập trong suy thoái.

UsdThông tin xấu về kinh tế Mỹ chưa đến hồi kết. Tuy nhiên bất chấp tất cả thông tin trên, USD vẫn tăng giá vì nhiều lý do.

TTCK Mỹ rơi xuống mức thấp nhất trong 12 năm. Kinh tế Mỹ quý 4/2008 suy giảm 6%. Các công ty sa thải nhân sự hàng loạt.

Chính phủ tăng cổ phần nắm giữ tại Citigroup và quốc hữu hóa tập đoàn bảo hiểm hàng đầu nước Mỹ AIG.

Không thể phủ nhận một điều là kinh tế Mỹ đang ngày càng xấu đi, tuy nhiên USD vẫn liên tục tăng giá bất chấp thông tin ngày một tiêu cực về nền kinh tế và thị trường tài chính của nước đã phát hành ra đồng tiền đó.

Năm 2009, USD tăng giá 9% so với euro và 7% so với đồng yên Nhật. USD cũng tăng giá nhẹ so với đồng bảng Anh. Lý do tại sao?

Thứ nhất, nhiều nhà đầu tư cho rằng kinh tế Mỹ sẽ thoát ra khỏi khủng hoảng sớm nhất so với các nền kinh tế khác vẫn còn ngập trong suy thoái.

Bà Kathy Lien, giám đốc bộ phận nghiên cứu tiền tệ tại GFT, nhận xét:”Mỹ là nước đầu tiên ứng phó với việc ngành tài chính và nền kinh tế đi xuống bằng những biện pháp quyết liệt. Vì thế kinh tế Mỹ có thể thoát ra khỏi khủng hoảng sớm hơn so với Nhật và châu Âu sẽ có thể ra khỏi khủng hoảng chậm nhất.”

Dù nhà đầu tư cho đến nay chưa mấy lạc quan với các kế hoạch tài chính và kích thích kinh tế tăng trưởng của các chính phủ, nhiều chuyên gia tiền tệ nhận xét Mỹ đã mạnh tay hơn trong việc giải quyết các vấn đề của ngành ngân hàng.

Ông Andrew Busch, chuyên gia chiến lược tiền tệ tại Chicago, nhận định thị trường tin rằng Mỹ đang tiến hành các biện pháp cứu thị trường hơn bất kỳ nước nào khác, minh chứng là FED và Bộ Tài Chính Mỹ đưa ra hàng loạt khoản đầu tư và gói giải cứu cho ngành tài chính.

Tuy nhiên các chuyên gia không cho rằng kinh tế Mỹ sẽ nhanh chóng hồi phục, họ tin rằng kinh tế Mỹ sẽ còn đi xuống sâu hơn rồi mới hồi phục dần dần.

Thứ hai, dù kinh tế Mỹ có đi xuống, những nền kinh tế còn lại của thế giới còn tệ hơn. Cho nên USD vẫn được coi là loại tiền tệ ổn định.

Tất nhiên USD có thể ngừng tăng giá nếu nước lớn như Trung Quốc, một nước mua khá nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ, đột ngột mất niềm tin vào Mỹ. Thế nhưng cho đến nay chưa có dấu hiệu nào cho điều này.

Năm 2009, chính phủ Đức cũng bán trái phiếu chính phủ, tuy nhiên việc bán này không thu hút được nhiều sự chú ý. Điều đó cho thấy không phải tất cả các nước đều cảm thấy dễ dàng trong việc có tiền cho các kế hoạch giải cứu kinh tế của họ.

Như vậy thế giới vẫn tin vào Mỹ, USD ngay trong khi nhiều người Mỹ lo lắng không hiểu khi nào suy thoái mới chấm dứt.

Một chuyên gia nhận xét:”Nhà đầu tư trên thế giới tin rằng nhất định Mỹ sẽ trả được nợ dù những vấn đề đối với kinh tế nước này hiện tại lớn đến thế nào.”

C.T.V
Theo CafeF/Bloomberg

Create a free website or blog at WordPress.com.