Ktetaichinh’s Blog

December 10, 2009

Đặc sản tết ăn là ghiền SGTT

Năm mặt hàng ưu tiên mua sắm dịp tết, xếp sau quần áo, giày dép, bia là trái cây, bánh kẹo, theo điều tra của công ty nghiên cứu thị trường FTA. Người dân miền Tây cũng đang chuẩn bị đưa về Sài Gòn những món “ăn là phát ghiền”.  Đặc sản về thành phố  Món ngon của Sóc Trăng sẵn sàng cung cấp cho TP.HCM. Ảnh: H.L  Thêm lựa chọn cho người dùng thành thị dịp tết là đặc sản của các vùng đưa về thành phố. Ông Ba Hoàng ở ấp Mỹ Khánh 1, xã Mỹ Hoà (Bình Minh, Vĩnh Long) có món tàu hủ ky tươi muối sả ớt chiên giòn. Theo ông, món này dân Sài Gòn “ăn một lần ghiền mấy năm”. Ghiền vì món ngon này chỉ bán ở loanh quanh Bình Minh. Siêu thị Sài Gòn Tiếp Thị muốn giúp ông đưa tàu hủ ky tươi lên Sài Gòn trong dịp tết này. Có ba loại tàu hủ ky: tàu hủ lá, tàu hủ se và tàu hủ bẹ. Mỗi ký giá khoảng 50.000 đồng.  Làng nghề bánh pía có món lạ. Cô Út Muội ở công ty Tân Huê Viên cho hay: “Món thịt heo ăn liền hiện đã có mặt ở Sài Gòn, đang bán tại sáu đại lý ở đường Hùng Vương, Nguyễn Thị Nhỏ và các điểm tuyến du lịch”. Tân Huê Viên lâu nay nổi tiếng ở Sóc Trăng với bánh pía, lạp xưởng và thèo lèo.  Chị Nguyễn Lê Thanh Trúc, điều hành công ty Duyên Hải (Bến Tre) cho biết có các dòng sản phẩm: nước mắm rươi, nước mắm cá cơm, nước mắm đồng làm từ cá linh và các loại cá nước ngọt. Chị Trúc cho biết: “Dịp tết năm ngoái, siêu thị Sài Gòn Tiếp Thị bán mỗi ngày 20 thùng. Do vậy, ngay bây giờ chị đã chuẩn bị mọi thứ để đưa hàng cho siêu thị này”.  Chị Tư Cúc ở ấp Long Trị (Long Đức, thị xã Trà Vinh) chuyên cung cấp bột bần tự nhiên cho siêu thị nói: “Dân Sài Gòn thích kẹo bần. Năm rồi khách hàng đặt có trên 60kg nên làm khoẻ re. Năm nay phải tính kỹ vì ngoài kẹo bần, vẫn phải giữ đúng hợp đồng cung cấp bột bần, mứt bần. Hàng tết làm bột bần, mứt và đặc biệt bán lẩu bột bần với cá ngát cho dân thành phố về quê thì ai cũng ăn căng bụng”.  Giá tăng, thu nhập không tăng  Kết quả điều tra của FTA về xu hướng tiêu dùng mùa tết Canh Dần 2010 này cũng cho thấy, mối quan tâm chung vẫn là áo quần, giày dép, bia, bánh kẹp, đồ đông lạnh, trong đó thay đổi nhiều so với năm trước là mặt hàng đông lạnh. Đáng chú ý là hầu hết người được hỏi cho rằng, thu nhập trong năm không tăng nhưng 37% người được hỏi ở TP.HCM tin chắc vào việc giá cả sẽ tăng lên.  Xoài châu nghệ sắp tới mùa. Anh Trần Văn Tánh (Nhị Long, huyện Càng Long, Trà Vinh) nói: “Vừa ký hợp đồng với siêu thị, 15 ngày nữa tới kỳ thu hoạch. Mỗi ngày có thể giao 3 – 5 tấn”. Ông Nguyễn Văn Thực, chủ nhiệm hợp tác xã xoài cát Hoà Lộc ở Tiền Giang đang chuẩn bị hàng đi Nhật và Sài Gòn. Hiện mỗi ngày hợp tác xã có thể cung cấp 5 – 7 tấn, giá tại vườn dù không được đẹp cũng 33.000 đồng/kg. Còn doanh nghiệp tư nhân Châu Hưng (Sóc Trăng) thì đã chuẩn bị 20 – 30 tấn gạo đặc sản Tài Nguyên bán trong dịp tết.  Vị mới của hàng chế biến  Dân Sài Gòn, thói quen ăn tết theo kiểu công nghiệp với các loại thực phẩm chế biến sẵn, tiện dụng, tiết kiệm thời gian đã trở thành xu hướng phổ biến. Đây là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao thị trường thực phẩm chế biến ở Việt Nam trong vài năm gần đây có tốc độ phát triển từ 20 – 40% mỗi năm.  Công ty thực phẩm Cầu Tre đã tung ra thị trường năm dòng sản phẩm chế biến mới, gồm hai loại thực phẩm mặn là chả giò gà mini, chả giò tôm da xốp và ba loại đồ chay: chả giò rế tam giác, bánh xếp chay và hoành thánh chay. Ông Trần Văn Lập, phó phòng kinh doanh công ty thực phẩm Cầu Tre cho biết, sản phẩm chả giò gà mini, lần đầu tiên người tiêu dùng ngoài ăn các món gà quen thuộc như luộc, xé phay, gỏi, xào sả ớt… sẽ được thưởng thức thêm món gà cuốn chả.  Câu lạc bộ Hỗ trợ nông gia thực hiện chương trình hỗ trợ cộng đồng: nối kết nhiều cơ sở làng nghề, tinh tuý gia truyền làm đặc sản và những cộng đồng cùng mục tiêu… tạo thành vùng nguyên liệu cung cấp cho hệ thống siêu thị ở TP.HCM.  Nông gia được tạo điều kiện gặp gỡ các siêu thị lớn ở TP.HCM, được hướng dẫn quy cách làm hàng cho siêu thị và thiết kế miễn phí nhãn hiệu hàng hóa cho cơ sở. Dịp tết, siêu thị Co.opmart và Sài Gòn Tiếp Thị là nơi tiêu thụ mạnh các đặc sản và sản phẩm làng nghề của khoảng 30 – 40 dòng sản phẩm có xuất xứ từ Trà Vinh, Đồng Tháp, Tiền Giang, Sóc Trăng…  Tung ra thị trường tới 40 chủng loại, sản lượng dự kiến khoảng 100 tấn, nhưng theo ông Phùng Khôi Phục, giám đốc nhà máy Thực phẩm Đồng Nai (D&F), điểm nhấn mà công ty hướng đến sẽ là dòng thực phẩm chế biến xông khói: gồm cánh, đùi gà, thăn heo, xúc xích. Để sản xuất ra những loại sản phẩm này, D&F phải nhập khẩu mạt cưa cây sồi từ Đức về để hun khói. “Đây là những món đặc thù của người phương Tây, nhưng gầy đây dân Việt Nam cũng đã sử dụng nhiều, chẳng hạn như thịt cừu nhập khẩu xông khói”, ông Phục nói thêm.  Tuy có nhiều sự lựa chọn về các mặt hàng sắm tết, người dùng vẫn khó tính toán do ảnh hưởng tăng giá. Trong nhóm quà biếu tặng thì bánh, mứt, kẹo, nước ngọt, bia… là những món được lựa chọn nhiều. Nhưng tăng mạnh nhất là các loại bánh, mứt, kẹo do ảnh hưởng từ giá đường và nguyên liệu nông sản, với mức khoảng 30 – 50% tuỳ loại. Giá nước ngọt đã tăng thêm 4.000 đồng/thùng, giá bia tăng thêm 10.000 – 15.000 đồng/thùng so với tháng trước. Dự báo đến sát tết, các loại bia sẽ còn tăng giá nữa.  Bà Ngọc Thuý, chủ cơ sở bánh mứt Thành Long, cho hay: “Giá đường tăng gấp đôi so với tết năm ngoái làm giá thành mứt tăng khoảng 10 – 20%. Cộng thêm vào đó, nguyên liệu tăng gấp 2 – 3 lần đã khiến không chỉ mứt mà nhiều mặt hàng tăng mạnh hơn”. Như hạt sen sống năm ngoái chỉ khoảng 55.000 – 60.000 đồng/kg, hiện nay đã trên 100.000 đồng/kg, hạt dưa từ 85.000 đồng/kg tăng lên 150.000 đồng/kg. Chưa kể chi phí mặt bằng, lương nhân viên ở các điểm bán lẻ… có thể kéo giá mứt tăng 60 – 70% so với tết năm ngoái.

Advertisements

February 8, 2009

Dấu lặng!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:36 pm
Tags: ,

02/08/09
(TBKTSG) – Khái niệm “mệnh giá” ngày càng co giãn trong mắt nhà đầu tư. Trước đây, giá cổ phiếu xuống dưới mệnh giá được coi là rẻ, nhưng bây giờ sự “đắt – rẻ” được nhận định thận trọng hơn, gắn chặt với các thông số EPS, P/E và tiềm năng tăng giá trở lại trong tương lai.

Công ty cổ phần thủy điện Cần Đơn (sàn TPHCM – SJD) chưa bao giờ thua lỗ từ khi đi vào hoạt động. Đầu ra là điện đã có hợp đồng tiêu thụ dài hạn, ổn định. Đầu vào là chi phí quản lý doanh nghiệp, lương nhân viên, khấu hao, bảo trì… cũng hầu như không thay đổi.

Mỗi năm công ty lãi ròng 50-60 tỉ đồng. Năm nào nước nhiều, điện sản xuất ra nhiều, lợi nhuận còn cao hơn. Ấy thế mà quí 4-2008 đùng một cái SJD lỗ 15,6 tỉ đồng, kéo lợi nhuận sau thuế cả năm chỉ còn 35,4 tỉ đồng, EPS giảm xuống còn 1.415 đồng/cổ phiếu.

Nguyên nhân lỗ là chi phí tài chính (trả lãi vay ngân hàng). Năm nào công ty cũng trả một khoản vốn và lãi vay xây dựng nhà máy, nhưng năm nay do lãi suất biến động, hợp đồng tín dụng ký dài hạn với lãi suất thả nổi, nên khoản lãi trả ngân hàng tăng vọt. Dường như chính sách thắt chặt tiền tệ lúc này mới ảnh hưởng đến công ty.
Ngấm thuốc

Cho dù còn tới hơn 40 công ty xin lùi thời hạn nộp báo cáo tài chính quí 4-2008, nhưng danh sách các doanh nghiệp niêm yết có kết quả kinh doanh lỗ trong quí cuối cùng của năm đang dài ra.

Trả lãi ngân hàng nhiều hơn mọi năm, hàng tồn kho không tiêu thụ được, chi phí nhân công tăng, sự biến động quá thất thường của giá nguyên liệu… tất cả đổ dồn lên đầu doanh nghiệp.

Công ty Công nghiệp Tungkuang (TKU – HASTC) quí 4 lỗ 27 tỉ đồng. Sữa Hà Nội (HNM – HASTC) cả năm lỗ 37,7 tỉ đồng; Petroshil (PVS – HASTC) quí 4 lỗ 58 tỉ đồng. Công ty Đường Biên Hòa (BHS – HOSE) quí 4 lỗ 24,7 tỉ đồng, cả năm lỗ 43,2 tỉ đồng. Đường Bourbon Tây Ninh (SBT – HOSE) quí 4 lỗ 34,4 tỉ đồng. Công ty Kim khí điện máy TPHCM (HMC – HOSE) quí 4 lỗ 22 tỉ đồng với hàng tồn kho 552,7 tỉ đồng, vay ngắn hạn hơn 300 tỉ đồng. Saigontel (SGT – HOSE) quí 4 lỗ 69,2 tỉ đồng. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón lỗ nặng trong quí 4 do hàng tồn

Có đơn vị chấp nhận bán lỗ để thu hồi vốn, nhưng vẫn không có đầu ra. Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cần Thơ (TSC – HOSE) quí 4 lỗ 53 tỉ đồng; Phân bón Hóa sinh (HSI – HOSE) quí 4 lỗ 11 tỉ đồng; Đạm Phú Mỹ (DPM – HOSE) quí 4 lỗ 86,7 tỉ đồng.

Các công ty xuất khẩu thủy sản đang gặp nhiều khó khăn. Những đơn vị quy mô nhỏ còn năng động cắt giảm nhân công, giảm chi phí quản lý, cố gắng có lời chút đỉnh trong quí 4, nhưng lợi nhuận cả năm vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp quy mô lớn xoay xở chậm hơn, kết quả là lỗ và hàng tồn nhiều. Năm 2007 lợi nhuận sau thuế của Công ty Xuất khẩu thủy sản An Giang Agifish (AGF – HOSE) đạt 41,7 tỉ đồng, năm nay chỉ còn 15,1 tỉ đồng, giảm 64%.

Bị tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu mạnh nhất trong các công ty xuất khẩu niêm yết là thủy sản Nam Việt (ANV – HOSE). Quí 4 ANV lỗ 131 tỉ đồng, hàng tồn kho lên tới 679 tỉ đồng, nợ phải thu của khách hàng và nội bộ hơn 900 tỉ đồng, khoản vay ngắn hạn ngân hàng 762 tỉ đồng. Đông Âu, thị trường xuất khẩu chủ lực của công ty, vẫn đang là câu hỏi chưa tìm ra lời giải, nhất là khi đồng rúp của Nga mất giá quá mạnh trong năm 2008.

Các doanh nghiệp có đầu tư tài chính đang thực sự trong những ngày gian khó. Nhiều doanh nghiệp lỗ vì phải trích dự phòng rủi ro giảm giá chứng khoán. Mức trích dự phòng cuối năm cao hơn nhiều so với mức trích của tháng 6-2008, khiến nhiều doanh nghiệp lao đao.

Tài chính dầu khí (PVF – Hose) có mức lỗ quí 4 cao nhất từ trước đến nay: 405 tỉ đồng; REE lỗ cả năm 152,4 tỉ đồng; Chứng khoán Kim Long (KLS – HASTC) lỗ 347 tỉ đồng cả năm; Chứng khoán Hải Phòng (HPS – HASTC) cả năm lỗ 120 tỉ đồng; Chứng khoán Bảo Việt lỗ 453 tỉ đồng.

Không ít doanh nghiệp vẫn còn lời, nhưng lợi nhuận quá thấp so với vốn điều lệ như Vinpearl lãi 40,6 tỉ đồng/vốn điều lệ 1.000 tỉ đồng. Có doanh nghiệp lợi nhuận cả năm vẫn cao, nhưng lợi nhuận quí 4 sút giảm nghiêm trọng, báo hiệu khó khăn của năm 2009 như Nhựa Tiền Phong (NTP – HASTC) cả năm lãi 151 tỉ đồng, nhưng lợi nhuận quí 4 chỉ có 10 tỉ đồng.

Những ưu thế như dự trữ được nguyên liệu nhập khẩu giá thấp năm 2007 không còn, trong khi nguyên liệu nhập sáu tháng đầu năm giá cao, những tháng cuối năm giá lại quá thấp và sức cầu sản phẩm nội địa gần như ngưng trệ đã khiến nhiều công ty sản xuất nhựa đang gần như thoi thóp.

Có đơn vị chấp nhận bán lỗ để thu hồi vốn, nhưng vẫn không có đầu ra. Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cần Thơ (TSC – HOSE) quí 4 lỗ 53 tỉ đồng; Phân bón Hóa sinh (HSI – HOSE) quí 4 lỗ 11 tỉ đồng; Đạm Phú Mỹ (DPM – HOSE) quí 4 lỗ 86,7 tỉ đồng.

Các công ty xuất khẩu thủy sản đang gặp nhiều khó khăn. Những đơn vị quy mô nhỏ còn năng động cắt giảm nhân công, giảm chi phí quản lý, cố gắng có lời chút đỉnh trong quí 4, nhưng lợi nhuận cả năm vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp quy mô lớn xoay xở chậm hơn, kết quả là lỗ và hàng tồn nhiều. Năm 2007 lợi nhuận sau thuế của Công ty Xuất khẩu thủy sản An Giang Agifish (AGF – HOSE) đạt 41,7 tỉ đồng, năm nay chỉ còn 15,1 tỉ đồng, giảm 64%.

Bị tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu mạnh nhất trong các công ty xuất khẩu niêm yết là thủy sản Nam Việt (ANV – HOSE). Quí 4 ANV lỗ 131 tỉ đồng, hàng tồn kho lên tới 679 tỉ đồng, nợ phải thu của khách hàng và nội bộ hơn 900 tỉ đồng, khoản vay ngắn hạn ngân hàng 762 tỉ đồng. Đông Âu, thị trường xuất khẩu chủ lực của công ty, vẫn đang là câu hỏi chưa tìm ra lời giải, nhất là khi đồng rúp của Nga mất giá quá mạnh trong năm 2008.

Các doanh nghiệp có đầu tư tài chính đang thực sự trong những ngày gian khó. Nhiều doanh nghiệp lỗ vì phải trích dự phòng rủi ro giảm giá chứng khoán. Mức trích dự phòng cuối năm cao hơn nhiều so với mức trích của tháng 6-2008, khiến nhiều doanh nghiệp lao đao.

Tài chính dầu khí (PVF – Hose) có mức lỗ quí 4 cao nhất từ trước đến nay: 405 tỉ đồng; REE lỗ cả năm 152,4 tỉ đồng; Chứng khoán Kim Long (KLS – HASTC) lỗ 347 tỉ đồng cả năm; Chứng khoán Hải Phòng (HPS – HASTC) cả năm lỗ 120 tỉ đồng; Chứng khoán Bảo Việt lỗ 453 tỉ đồng.

Không ít doanh nghiệp vẫn còn lời, nhưng lợi nhuận quá thấp so với vốn điều lệ như Vinpearl lãi 40,6 tỉ đồng/vốn điều lệ 1.000 tỉ đồng. Có doanh nghiệp lợi nhuận cả năm vẫn cao, nhưng lợi nhuận quí 4 sút giảm nghiêm trọng, báo hiệu khó khăn của năm 2009 như Nhựa Tiền Phong (NTP – HASTC) cả năm lãi 151 tỉ đồng, nhưng lợi nhuận quí 4 chỉ có 10 tỉ đồng.

Những ưu thế như dự trữ được nguyên liệu nhập khẩu giá thấp năm 2007 không còn, trong khi nguyên liệu nhập sáu tháng đầu năm giá cao, những tháng cuối năm giá lại quá thấp và sức cầu sản phẩm nội địa gần như ngưng trệ đã khiến nhiều công ty sản xuất nhựa đang gần như thoi thóp.

Vị đắng chưa dứt

Nhiều công ty niêm yết đã “nếm” vị đắng tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Các doanh nghiệp vận tải, dầu khí, xuất khẩu cao su, thủy sản, kinh doanh phân bón, sắt thép… chịu ảnh hưởng trực tiếp. Tuy nhiên, còn không ít đơn vị chịu ảnh hưởng gián tiếp với độ ngấm ngày càng gia tăng, đặc biệt trong quí 1-2009.

Tuy chưa tính được mức suy giảm lợi nhuận chung của tất cả các công ty niêm yết, (do chưa có đầy đủ số liệu báo cáo của mọi công ty), nhưng có thể thấy là sự đi xuống của chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) đang đẩy chỉ số P/E toàn thị trường lên cao. Trong khi chỉ số P/E của chứng khoán Việt Nam đang cao hơn một số nước khu vực châu Á, sự đẩy thêm lên này chắc chắn không có lợi cho việc thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.

Các công ty chứng khoán đưa ra dự báo tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết năm 2008 giảm từ 8-13% và có thể cao hơn trong năm 2009. Vấn đề là vì sao lợi nhuận giảm, mà phần lớn doanh nghiệp niêm yết vẫn tồn tại được?

Theo phân tích của Công ty Chứng khoán Bản Việt, nhiều công ty “trụ” được là nhờ nguồn vốn huy động từ phát hành thêm cổ phiếu trong nửa cuối năm 2007 và năm 2008. Chẳng hạn, ngành ngân hàng, lượng vốn huy động được từ các đợt tăng vốn năm 2007 cao gấp ba lần năm 2006, nhưng lượng huy động năm 2008 chỉ còn 10.000 tỉ đồng, bằng 50% năm 2007. Năm 2009 dự báo lượng vốn huy động qua thị trường chứng khoán sẽ vô cùng khó, cộng thêm lợi nhuận năm ngoái giảm, sẽ có những công ty phải thu hẹp hoạt động, đóng cửa nhà máy, thậm chí tạm ngưng kinh doanh.

Điều đáng quan tâm là dấu lặng lợi nhuận này chưa biết sẽ kéo dài trong bao lâu, liệu nó có sớm chấm dứt? Giới đầu tư buộc phải cân nhắc nhiều hơn các thông số tài chính trước khi đặt lệnh mua cổ phiếu. Trên sàn TPHCM, đã có 46/177 loại cổ phiếu đang giao dịch dưới mệnh giá và khoảng 20 loại cổ phiếu khác có giá giao dịch xung quanh mệnh giá.

Khái niệm “mệnh giá” ngày càng co giãn trong mắt nhà đầu tư. Trước đây, giá cổ phiếu xuống dưới mệnh giá được coi là rẻ, nhưng bây giờ sự “đắt – rẻ” được nhận định thận trọng hơn, gắn chặt với các thông số EPS, P/E và tiềm năng tăng giá trở lại trong tương lai. Ở giai đoạn mà những công ty tên tuổi hàng trăm năm của thế giới cũng có thể sụp đổ, nhà đầu tư trong nước đang nhìn chứng khoán với con mắt dè chừng hơn nhiều.

Blog at WordPress.com.