Ktetaichinh’s Blog

June 27, 2010

Vào lò lao động nhí

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:25 pm
Tags:

Vào lao động nhí

TP – Những đứa trẻ lam lũ, vất vả sớm bước vào cuộc mưu sinh là hình ảnh không hiếm bên hè phố, trên bãi rác… Những đứa trẻ không có tuổi thơ. Tuổi thơ đã bị đói nghèo quăng quật. Và cũng còn đó nhiều tuổi thơ bị đánh cắp bởi lòng tham và cả sự tàn nhẫn của người lớn.

Lao động nhí  tại cơ sở chế biến cá bò trong HTX Điện Phước II
Lao động nhí tại cơ sở chế biến cá bò trong HTX Điện Phước II . Ảnh:

Dưới cái nóng hầm hập, hàng chục đôi tay trần, gầy nhỏ miệt mài bóc tách, dán từng mớ cá bò sơ chế tại cơ sở chế biến Điện Phước (Điện Bàn, Quảng Nam). Lao động ở đây đa phần là trẻ nhỏ và phụ nữ.

Khu Hợp tác xã Dịch vụ sản xuất kinh doanh tổng hợp Điện Phước II nằm gần trụ sở UBND xã. Sau hai dãy nhà chuyên dệt vải, gia công quần áo, cơ sở chế biến cá nằm đoạn sân sau của khu hợp tác xã. Căn nhà dựng tạm, khá thấp nên cái nóng lúc nào cũng bủa vây. Hàng chục con người, chủ yếu phụ nữ, trẻ em miệt mài với công việc. Nhiều lao động nhí còn được bố trí ở ngoài hiên, dưới sân khu hợp tác xã.

– Em vào có việc gì thế?

– Em muốn tìm hiểu về nghề làm cá bò.

Chị quản lý cơ sở tên Phương tỏ ra nghi ngờ trước sự xuất hiện của những người lạ chúng tôi. Chị Phương ngồi ngay khu vực chính diện, trên bàn đặt cuốn sổ chấm công, cùng chiếc cân để tính khối lượng lao động làm theo sản phẩm. “Nhờ có nghề này mà người dân trên địa bàn có thêm thu nhập. Công việc nhẹ nhàng, mỗi cân thu được 3.500 đồng, tính ra mỗi lao động có thể kiếm được 6-7 chục bạc đó” – Chị Phương hồ hởi.

Em Nguyễn Thị  Phương mặc nguyên bộ đồng phục tranh thủ đến làm  tại xưởng chế biến cá  bò
Em Nguyễn Thị Phương mặc nguyên bộ đồng phục tranh thủ đến làm tại xưởng chế biến cá bò . Ảnh: Nguyễn Huy

Cả cơ sở duy nhất chỉ có chiếc quạt gần chỗ chị quản lý được sử dụng. Mái nhà thấp, nóng nực làm mùi tanh của mớ cá bò sơ chế càng thêm khó chịu. Lẫn trong những đôi tay chai sạn của các dì, các chị là không ít bàn tay nhỏ gầy của các em đang độ tuổi đến trường.

Nhọc nhằn lao động nhí

Vẫn bộ đồng phục học sinh trường THCS Trần Quý Cáp (Điện Phước), em Trương Thị Thùy Dung đến cơ sở làm khi nhiều em nhỏ còn đang ngái ngủ. Phương tỏ ra khá nhanh nhẹn với công việc bóc tách mớ cá bò, cho vào khuôn tròn bán kính chừng 5cm, rồi lật qua lật lại, dỡ bỏ tấm nylon trong khuôn.

“Công việc này tỉ mỉ lắm anh ạ, nếu không tập trung thì khó làm nhanh được. Ban đầu bọn em rất khó chịu với mùi tanh của cá nhưng làm miết cũng quen” – Dung tâm sự.

15 tuổi, Dung gánh trọng trách phụ giúp kinh tế cả gia đình. Nhà Dung có 3 chị em, các chị đều đi học cao đẳng ở TP Tam Kỳ (Quảng Nam). Gia đình thuần nông, Dung sớm bước vào cuộc mưu sinh. Hơn hai năm nay, Dung gắn bó với cơ sở chế biến cá bò. Trước đây cơ sở do một công ty ở Đà Nẵng vào mở, sau được một đơn vị thuê lại tiếp tục sản xuất, kinh doanh cá bò.

Dung bộc bạch: Ngày nào đi học, sáng tranh thủ đến sớm, làm được 1-2 kg, kiếm 5.000 đồng, sau đó mới tranh thủ đến trường. Hôm nào nghỉ học, em tranh thủ “tăng ca” tại đây. Mỗi ngày làm cật lực cũng kiếm được 30-40 nghìn đồng.

Không riêng Dung, ngay lớp 8 của em cũng có ba bạn khác đang cùng làm ở cơ sở chế biến cá bò tại HTX Điện Phước II. “Bọn em rủ nhau đi vì nhà nào cũng nghèo. Làm có bạn vui hơn, thấy đỡ mệt. Những lúc buồn nói chuyện với nhau, hoặc tranh thủ trao đổi về bài vở cho đỡ thua thiệt bạn bè”, giọng em Nguyễn Thị Lệ (lớp 8 – trường THCS Trần Quý Cáp) nhỏ nhẹ.

Chìa bàn tay ra trước mặt, em Nguyễn Thị Phượng, học sinh lớp 10 C7 trường THPT Hoàng Diệu (Điện Bàn) ái ngại: “Bọn em không dám đeo găng tay vì nó gây trơn và khó làm việc. Ai cũng để bàn tay trần làm cả. Nhìn tay bạn nào cũng nhợt nhạt vì luôn phải tiếp xúc với cá tươi hoặc cá xay nhuyễn. Lắm lúc cũng dị (ngại) với các bạn cùng lớp vì làm cá có rửa đến mấy vẫn còn mùi tanh. Nghỉ hè, tụi em làm nhiều hơn, vừa phụ gia đình, vừa dành dụm để kiếm tiền mua sách vở cho năm học mới”.

Đổ cho cái nghèo

Càng gần trưa, cái nóng càng khắc nghiệt. Khiêng lớp cá trên khuôn ra sân phơi nắng, hai em nhỏ cố chạy thật nhanh để tránh nóng. Bên trong, hàng chục lao động vẫn cứ miệt mài công việc. Từng giọt mồ hôi lăn dài trên khuôn mặt. Đếm qua cũng có đến hơn 20 lao động nhí tại cơ sở.

Em Trần Thị Kim Huệ (12 tuổi, thôn Nhị Dinh 1), được xem lao động đến sớm nhất trong ngày làm việc hôm nay. Đang là học sinh lớp 6, trường THCS Trần Quý Cáp (Điện Phước), Huệ tỏ ra khá chậm với việc bóc tách mớ cá được cắt nhỏ.

“Em học nghề chậm, làm không nhanh như các bạn nên phải đến sớm mới kiếm được nhiều tiền hơn. Tính ra làm liên tục từ sáng đến tối cũng chỉ được 2-3 chục bạc” – Huệ nói.

Em Trần Thị Kim  Huệ miệt mài với công việc dán cá bò
Em Trần Thị Kim Huệ miệt mài với công việc dán cá bò . Ảnh: Nguyễn Huy

Nhà Huệ có hai chị em, Huệ lớn nhất, gia cảnh khó khăn, bố mẹ chủ yếu làm nghề nông nên em sớm bước vào cuộc mưu sinh nhọc nhằn này. Đang độ tuổi cắp sách đến trường nhưng, khuôn mặt Huệ đen sạm và hằn nếp vất vả lo toan.

Cách vài khuôn đỡ, chị Nguyễn Thị Hà (38 tuổi) vừa làm việc, vừa liếc mắt nhìn để ý Huệ – con gái mình. Chị Hà xót lòng: “Bắt cháu đi làm sớm tôi cũng áy náy lắm. Nhưng vì cái nghèo biết làm sao? Nếu không phụ giúp làm thêm trong khi ruộng đồng ít ỏi, cằn cỗi, chắc chúng tôi không có điều kiện để lo cho các cháu ăn học”.

Đạp xe đi làm, chị Hà mang theo luôn cả đùm cơm để trưa được nghỉ là ăn cho đỡ mất thời gian. “Ở đây họ tính công theo sản phẩm nên phải tranh thủ. Cháu nó cũng nghỉ hè, không phải đi học nữa nên hai mẹ con cùng ráng sức” – Chị Hà bộc bạch.

Chị Phương, quản lý cơ sở phân trần: Ở đây phần lớn là các hộ khó khăn, không có công ăn việc làm ổn định, chúng tôi mở cơ sở tạo điều kiện cho bà con kiếm thêm thu nhập, chứ ai bắt các em nhỏ đi làm làm gì, nhưng chúng cứ xin vào làm vì muốn kiếm tiền mua sách vở.

Mới nhắc nhở, chưa xử lý

Trao đổi về vấn đề này, ông Tào Bạn – Chủ tịch UBND xã Điện Phước xác nhận: Nghề cá bò có mặt ở địa phương hơn ba năm nay. Cơ sở cá bò ở HTX Điện Phước II do ông Nguyễn Phú Phùng mới thuê lại và hoạt động cách đây hơn 1 tháng. Ngoài ra còn có ba cơ sở khác ở Nhị Dinh I và Nhị Dinh II thu hút khoảng 300 lao động địa phương, trong đó chủ yếu là phụ nữ, trẻ em.

Sớm triển khai dự án “Ngăn ngừa trẻ em lao động nặng nhọc”

Theo ông Nguyễn Thùy, tình trạng lao động nhí trên địa bàn chưa đến mức báo động nhưng đang ngày một gia tăng.

Ở huyện Duy Xuyên, trẻ em làm nghề khâu giầy, dán cá bò; ở Điện Bàn, số lao động nhí tham gia nghề dán cá bò và ở các huyện miền núi (Tây Giang, Nam Giang), tình trạng trẻ em tự phát đào đãi vàng xuất hiện nhiều.

Tỉnh cùng tổ chức lao động quốc tế đang đẩy mạnh việc khảo sát và sớm triển khai dự án “Ngăn ngừa trẻ em lao động nặng nhọc” từ nay đến năm 2012.

Theo đó, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các bậc phụ huynh, hạn chế không cho trẻ em đi làm thêm; tác động vào kinh tế gia đình tạo sự ổn định nhất định để ngăn chặn việc trẻ em phải lao động sớm.

Tuy nhiên, hỏi về vấn đề kiểm tra, xử lý, ông Bạn cho biết, xã cùng ngành chức năng tổ chức nhiều đợt họp với chủ các cơ sở chế biến cá bò, yêu cầu ký cam kết không được sử dụng lao động trẻ em dưới 16 tuổi…

Địa phương cũng tiến hành kiểm tra nhưng mới chỉ nhắc nhở là chính chứ chưa xử lý vì hầu hết các chủ cơ sở này đều lấy lí do rằng lao động nhí đi theo người nhà chứ không phải đến làm việc trực tiếp.

Ông Lê Hòa – Chánh văn phòng UBND xã Điện Phước cũng cho biết, các đơn vị kinh doanh sản xuất cá bò ký cam kết nhưng tình hình tái phạm khá phổ biến trong thời gian vừa qua. Xã sẽ tăng cường biện pháp để kiểm tra, xử lý.

Theo ông Nguyễn Thùy – Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Nam thì, cái khó dẫn đến việc lao động nhí xuất hiện chính là do tính chất công việc và ý thức của các gia đình.

Phần lớn những việc sơ chế, dán cá bò phù hợp với các em, phụ huynh chỉ nhìn lợi ích kinh tế trước mắt; hơn nữa do dịp hè nhiều học sinh không biết làm gì, gia đình sợ khó quản lý nên cho con em đi làm thêm.

Còn nữa

Advertisements

Lao động nước ngoài làm chui đang tăng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:14 pm
Tags:

Quy định người nước ngoài làm việc có thời hạn dưới 3 tháng không cần xin cấp giấy phép lao động đã tạo kẽ hở cho lao động nước ngoài nhập cảnh trái phép vào VN

Nhiều doanh nghiệp (DN) nước ngoài đưa lao động vào bằng đường du lịch, sau đó hợp thức hóa thủ tục xin cấp giấy phép lao động bằng chứng nhận nghề. Nhiều tỉnh, thành đang “đau đầu” vì việc trục xuất lao động nước ngoài trái phép vô cùng khó khăn.

Minh họa: nguyễn Tài   Khó quản lý   Theo báo cáo của Ban Quản lý các KCN tỉnh Tiền Giang tại hội nghị giao ban các ban quản lý KCN-KCX của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tổ chức ở Đồng Nai mới đây, Tiền Giang hiện có 15 dự án vốn đầu tư và một nhà thầu xây dựng nước ngoài.   Các dự án này thu hút 187 lao động nước ngoài của các nước và vùng lãnh thổ: Nhật, Anh, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Trung Quốc… Trong đó, số lao động Trung Quốc chiếm 147 người. Tiền Giang đã cấp giấy phép lao động cho 133 người, 54 lao động còn lại do các nhà thầu nước ngoài đưa đến để xây dựng nhà máy.   Điều đáng nói là lao động nước ngoài vào Tiền Giang đa số không có giấy phép lao động. Phương thức của họ là sử dụng hộ chiếu du lịch, đầu tư sang làm việc mang tính thời vụ, hết thời gian lại về nước đổi số lượng người khác qua.   Hầu hết các công nhân theo nhà thầu xây dựng đều là lao động phổ thông, không đủ điều kiện để cấp giấy phép lao động và việc kiểm tra, xử lý rất khó khăn vì hộ chiếu còn thời hạn ở VN; một số trường hợp làm giấy xác nhận kinh nghiệm ở các công ty nước ngoài nhằm hợp thức hóa thủ tục xin cấp giấy phép lao động để được làm việc ở VN.   Mặt khác, việc quản lý lưu trú lao động nước ngoài cũng bộc lộ rất nhiều phức tạp do các nhà thầu đến xây dựng nhà máy trong các KCN đã tự xây dựng lán trại tại công trường để cho công nhân ở, làm việc trái với quy định. Nhiều DN nước ngoài xin phép xây dựng nhà nghỉ trưa cho công nhân nhưng thực tế bố trí cho người nước ngoài ở, làm việc trong DN nên việc quản lý gặp khó khăn.   Còn tại tỉnh Bình Dương, tính đến tháng 4-2010, có 3.837 lao động nước ngoài nhưng chỉ 2.554 người được cấp giấy phép lao động. Hầu hết các DN do Đài Loan, Trung Quốc đầu tư đều sử dụng lao động nước ngoài không có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn mà chỉ sử dụng lao động phổ thông, sau đó hợp pháp hóa thủ tục xin cấp giấy phép lao động bằng chứng nhận nghề. Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng cho biết vừa thanh tra 11 DN có vốn đầu tư nước ngoài và đã phát hiện 381 lao động nước ngoài (trong khi đó, các DN báo cáo chỉ sử dụng 331 người).   Trong đó, 131 người có thời hạn làm việc từ 6 tháng đến 5 năm (đa số là lao động Trung Quốc) nhưng không có giấy phép lao động. Còn lại 125 lao động có giấy phép lao động nhưng không có bằng cấp chuyên môn.   Tháng 5-2010, Thanh tra Sở LĐ-TB-XH tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã trục xuất 40 lao động nước ngoài đang làm việc trái phép.   Chấp nhận phạt   Ông Nguyễn Minh Lành, Chánh Thanh tra Ban Quản lý các KCN tỉnh Bình Dương, cho biết việc thực hiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực lao động, tuyển dụng, sử dụng lao động và an toàn vệ sinh lao động còn rất lỏng lẻo. Theo ông Lành, đa số DN đều có vi phạm ít nhiều về các chính sách đối với người lao động nên xảy ra các cuộc đình công làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và phát triển kinh tế, xã hội.   Đại diện Ban Quản lý các KCN tỉnh Lâm Đồng cho rằng Nghị định 34/CP của Chính phủ quy định việc tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại VN có hiệu lực thi hành từ ngày 12-4-2008 và Bộ LĐ-TB-XH cũng đã có Thông tư 08 hướng dẫn thực hiện. Tuy nhiên, sau hơn một năm thực hiện, trong khi lao động nước ngoài vào VN ngày càng tăng thì công tác quản lý vẫn không theo kịp.   Theo vị này, quy định người nước ngoài làm việc có thời hạn dưới 3 tháng không cần xin cấp giấy phép lao động đã tạo kẽ hở cho lao động nước ngoài nhập cảnh trái phép vào VN. Nhiều DN đưa lao động vào làm việc rồi mới làm thủ tục cấp giấy phép lao động hoặc đưa lao động vào bằng đường du lịch, ở lại làm việc, sau đó hợp thức hóa thủ tục xin cấp giấy phép lao động bằng chứng nhận nghề. “Các biện pháp chế tài chưa đủ sức răn đe nên nhiều DN sẵn sàng nộp phạt và tiếp tục vi phạm”- vị này nói.

Vi phạm sẽ bị trục xuất

Bộ LĐ-TB-XH đang soạn thảo quy định về việc cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài. Theo đó, các trường hợp vi phạm sẽ bị trục xuất. Những người nước ngoài làm việc từ 3 tháng trở lên không có giấy phép lao động sẽ không được cấp visa nhập cảnh hoặc không được gia hạn giấy định cư tạm thời. Dự kiến tháng 7-2010 sẽ xem xét, thông qua. Sáu tháng sau ngày có hiệu lực, mọi lao động nước ngoài không tuân thủ quy định nói trên sẽ bị trục xuất.

March 17, 2010

Có nhiều cách giữ chân công nhân

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:41 pm
Tags: ,

Trả lương tương xứng, tăng ca hợp lý, quan tâm đến con em công nhân… là những việc mà nhiều doanh nghiệp đã làm được để người lao động gắn bó với mình.

Những số báo trước, Pháp Luật TP.HCM đã giới thiệu ý kiến phân tích của các chuyên gia về tình trạng công nhân quay lưng với doanh nghiệp hiện nay. Các ý kiến đều thống nhất rằng muốn doanh nghiệp phát triển ổn định thì người lao động phải được chăm lo cả về vật chất lẫn tinh thần. Quan điểm này đã được chứng minh bằng thực tế sống động tại một số doanh nghiệp.

Trao quyền chủ động, sáng tạo

Thật ra doanh nghiệp (DN) cũng muốn chăm lo chỗ ăn ở cho công nhân chứ nhưng TP.HCM là “đất vàng”, làm sao đầu tư nổi. Vì vậy, DN có chiến lược khác để chăm lo cho công nhân. Các chính sách này không chỉ đơn thuần giữ chân để tránh thiếu hụt lao động mà thực sự là muốn giữ lòng, chia sẻ đời sống với những người cùng xây dựng DN. Cụ thể, công ty có chính sách không tăng ca quá 6 giờ chiều, không làm ngày Chủ nhật để công nhân thực sự có ngày nghỉ trong tuần, có thời gian vui chơi giải trí, chăm sóc gia đình.

Để gắn kết người lao động với DN, công ty còn phát động chương trình “mỗi công nhân – một sáng kiến”, “mỗi công nhân – một người quản lý chất lượng”. Chương trình này nhằm thúc đẩy công nhân tìm tòi những cách làm mới cho hiệu quả công việc cao hơn. Nhờ đó công nhân cảm thấy mình là người chủ động, sáng tạo trong công việc và góp phần xây dựng DN chứ không chỉ đơn thuần là làm cho xong phần việc của mình.

Trong khi nhiều công ty đang tuyển lao động khó khăn thì Công ty Freetrend vẫn thu hút hàng trăm lao động đến nhận việc. Ảnh: P.ĐIỀN

Hiện chúng tôi cũng đang lập “Công viên May” đầu tiên trên toàn quốc, đặt tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Tổng kinh phí giai đoạn một để xây dựng là 50 tỉ đồng, trong đó đến 10 tỉ đồng để đầu tư xây khu nhà ở và các tiện ích cho công nhân.

Ông Nguyễn Ân, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần May Sài Gòn

Dồn lực xây nhà lưu trú

Trừ một vài DN cá biệt thì hầu hết DN dệt may tại Bình Dương có chính sách đãi ngộ công nhân khá tốt. Hiện đã có vài DN dệt may xây được nhà lưu trú cho công nhân. Nhiều DN khác cũng muốn xây nhà lưu trú nhưng còn vướng nhiều thứ, như không lo nổi quỹ đất, hoặc có đất nhưng đất lại nằm trong khu công nghiệp. Thêm vào đó, muốn xây nhà lưu trú thì phải vay ngân hàng mà hiện nay lãi suất vay cao, DN không kham nổi.

Năm 2009, Công ty Sản xuất May mặc Bình Dương đã xây dựng xong khu nhà lưu trú cho khoảng 1.000 công nhân, chi phí đầu tư 29 tỉ đồng. Công nhân được miễn phí ở, chỉ phải trả chi phí điện, nước. Khu nhà này có ban quản lý, có nội quy vừa đảm bảo đảm sinh hoạt tự do cho công nhân nhưng cũng không quá ràng buộc. Ví dụ, buổi tối khu nhà đóng cổng lúc 10 giờ đêm, thứ Bảy thì đến 12 giờ đêm. Nội quy chung là công nhân không được đưa bạn bè, người nhà vào phòng ở nhưng khu nhà cũng có khu riêng để công nhân tiếp bạn bè, gia đình. Nhờ vậy mà công nhân cảm thấy không quá gò bó nên vào ở khá đông.

Ông Lê Hồng Phoa, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Bình Dương, TGĐ Công ty Sản xuất May mặc Bình Dương

Hỗ trợ tiền gửi trẻ

Đặc thù của ngành gia công cần rất nhiều lao động, vì vậy chiến lược lao động phải được hoạch định lâu dài thì DN mới hoạt động tốt được. Để làm được điều đó, công ty tập trung xây dựng môi trường làm việc thân thiện với người lao động, thông qua lối hành xử có văn hóa theo khuôn khổ do công ty định ra. Đặc biệt, bộ phận quản lý người nước ngoài nếu có thái độ xử sự không đúng mức với công nhân sẽ bị kỷ luật rất nặng.

Để công nhân gắn bó lâu dài, công ty đã tập trung vào việc nâng cao đời sống tinh thần cho họ bằng cách mở các lớp học bổ túc, dạy tiếng Anh, vi tính, võ thuật, đàn guitar… Ngoài ra, công ty đã có chính sách hỗ trợ 300.000 đồng cho mỗi bà mẹ có con nhỏ để gửi trẻ từ hơn 10 năm nay. Năm 2010 này, công ty sẽ xây dựng nhà trẻ trong khuôn viên công ty đủ sức đón 1.200 trẻ là con em công nhân để giúp người lao động an tâm làm việc.

Ông Củ Phát Nghiệp, Chủ tịch Công đoàn Công ty Pou Yuen

Nhà lưu trú thành nhà kho

Công ty chúng tôi từng xây nhà lưu trú quy mô 500 người cho công nhân ở, giá nhà ở chỉ bằng một nửa giá thuê phòng trọ bên ngoài nhưng công nhân không chịu ở. Cuối cùng phải bỏ làm nhà kho! Lý do chính là công nhân thích tự do như ở nhà trọ. Trong khi đó, công ty xây nhà lưu trú thì phải đảm bảo quy củ, bởi lỡ xảy ra chuyện gì thì chúng tôi phải chịu trách nhiệm.

(Một doanh nghiệp giày da)

Tâm lý thời vụ

Công nhân “nhảy việc” một phần do họ chưa tập trung vào chuyên môn và chưa tâm huyết để gắn bó lâu dài với DN, trong đó phải kể đến tư tưởng chạy theo thời vụ. Tâm lý công nhân không ổn định trong việc lựa chọn ngành nghề khiến DN rất khó xây dựng được mô hình lao động có tâm huyết, gắn bó lâu dài và hài hòa trong quan hệ lao động.

Nguyễn Thị Việt Hòa, Giám đốc Công ty Rồng Á Châu

Đòi chất lượng lao động Nhật, trả lương ‘tối thiểu’ Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:39 am
Tags: ,

Bức xúc vì lương thấp, điều kiện làm việc tiếp xúc với nhiều hóa chất độc hại mà không được phụ cấp và hàng loạt lý do “bất công” khác khiến gần 100 công nhân của Công ty thép Endo Stainless Stell Việt Nam (gọi tắt là Công ty Endo) tại Khu công nghiệp Nội Bài đình công trong nhiều ngày liên tiếp.

Muốn đi vệ sinh phải xin 3 chữ kí

Công ty Endo thành lập từ năm 2007, trụ sở chính ở Nhật Bản và Thái Lan, sản phẩm chính của công ty là ống nhiệt làm từ thép không rỉ cho máy in.

Từ sáng 9/3 tại cổng công ty ở Khu công nghiệp Nội Bài, hàng loạt công nhân của Công ty Endo đã nghỉ việc và đứng truớc trụ sở công ty để đòi quyền lợi cho mình.

Lao động nữ Công ty Endo đình công đòi giảm giờ làm và yêu cầu hưởng phụ cấp độc hại.

Chị N., nhân viên trong dây chuyền kiểm tra chất lượng, bức xúc: “Tôi làm việc tại công ty được hơn 1,5 năm. Hiện nay nếu làm đầy đủ thời gian của ca làm việc tôi được hơn 1,2 triệu tiền lương, 80 nghìn phụ cấp đi lại. Trong thời gian làm việc của tháng nếu tôi không đi ra ngoài đi vệ sinh, không lên phòng y tế vì ốm hoặc làm việc riêng khác thì sẽ được điểm chuyên cần là 100 nghìn. Thu nhập đó khiến cuộc sống của gia đình tôi rất khó khăn”.

Anh V., nhân viên kĩ thuật, mang một bức xúc khác: “Chuyện chúng tôi muốn đi vệ sinh phải xin 3 chữ kí là hoàn toàn đúng. Chúng tôi phải khai thông tin vào một mẫu có sẵn của công ty, ghi rõ: Kính gửi ai, tên bộ phận, mã số thẻ, ngày tháng, giờ đi, giờ về, lý do của việc đi… sau đó xin chữ kí của tổ trưởng, trưởng bộ phận và Giám đốc. Nhưng dù đi vệ sinh xin được cả 3 chữ kí thì khi phải xin mẫu đơn này chúng tôi cũng mất 100 nghìn tiền phấn đấu chuyên cần”.

Một công nhân khác đề nghị giấu tên kể lại đầy bức xúc: “Từ một phôi thép tròn, qua các công đoạn kĩ thuật kéo dài sản phẩm sau đó kiểm tra sản phẩm kéo dài và đánh giá sản phẩm…, chúng tôi phải tiếp xúc với rất nhiều hóa chất (tên thương phẩm) phục vụ sản xuất như: HC250, E clean21N, SP Clean 100, CBA 924 – 4 SP, AB-3466HT… đồng thời là lượng hóa chất bay hơi trong nhà máy lớn, mùi dầu cháy từ máy Fress thải trực tiếp ra xưởng. Người yếu có thể thường xuyên bị nôn”.

Chị công nhân này càng bức xúc hơn khi nghĩ đến 2 công nhân nữ bị sảy thai, nhiều người dị ứng không rõ lý do cụ thể khi lao động trong môi trường này mà không hề nhận được phụ cấp độc hại.

Theo nhiều công nhân viên khác, kỉ luật lao động tại Công ty Endo rất nghiêm ngặt. Họ thường xuyên phải lao động 9 tiếng một ngày, trong một tháng chỉ được nghỉ vào 4 ngày chủ nhật và một ngày thứ 7. Vào thời điểm gối ca, thay ca thời gian phải làm việc nhiều hơn. Không chỉ thế, do thiếu người họ phải làm việc của 2, 3 người khác. Thế nhưng mức lương được nhận quá bèo bọt.

Đòi chất lượng lao động Nhật, trả lương “tối thiểu” của Việt Nam

Công nhân viên đình công từ 9/3 và đến chiều ngày 11/3, ban lãnh đạo Công ty Endo đã họp, bà Nguyễn Thanh Hoàn, Chủ tịch Công đoàn, đã “thay mặt” công ty trả lời công nhân: “Về cơ bản không đáp ứng bất kể yêu cầu gì của công nhân. Không thể tăng lương cho công nhân vì công ty còn đang lỗ 25 tỉ! Theo tính toán thì tháng 4 này công ty mới có lỗ”.

Không hiểu Công ty Endo khi kí hợp đồng lao động với công nhân có cam kết rằng, khi được lãi thì chia đều hay không? Nhưng tại sao khi lỗ lại bắt công nhân cùng chịu?

Về vấn đề làm việc trong môi trường hóa chất độc hại thải, bà Hoàn cho rằng các hóa chất đó không có trong danh mục hóa chất nguy hại mà công nhân lao động cần được nhận phụ cấp độc hại. Công nhân đặt câu hỏi: “Tại sao đó không phải là chất thải nguy hại mà công ty có “phòng xử lý chất thải nguy hại”?”, bà Hoàn nói lại: “Tất nhiên có thể mùi nó khó chịu, nó không uống được nhưng các hóa chất đó không nguy hại đến mức được nhận phụ cấp!?”

“Về cơ bản, công ty không đáp ứng yêu cầu gì của công nhân”, bà Nguyễn Thanh Hoàn, Chủ tịch Công đoàn Công ty Endo, giải thích.

Ban giám đốc bận họp, ông Vũ Nguyên Bình (Trưởng phòng Kinh doanh của Công ty Endo) được cử ra tiếp phóng viên. Ông cho biết về việc phải xin 3 chữ kí để đi vệ sinh: “Không riêng việc đi vệ sinh, tại Công ty Endo, mỗi công nhân rời bỏ vị trí làm việc để đi bất kì đâu đều phải xin chữ kí từ 3 nơi trong một tờ mẫu vì công việc phải làm theo dây chuyền và máy luôn cần sự giám sát. Và nếu rời khỏi vị trí dù 1 lần trong tháng thì cũng không nhận được tiền chuyên cần”.

Nói về việc xử lý các hóa chất tại công ty, ông Bình cho rằng các hóa chất sau khi được sử dụng đều được đóng vào thùng phi giao cho công ty môi trường đô thị (nơi có giấy phép xử lý chất thải nguy hại) để xử lý, không thải dù trực tiếp hay gián tiếp ra ngoài.

Theo lời bà Hoàn và ông Bình thì rõ ràng môi trường sản xuất của Công ty Endo chứa rất nhiều chất thải nguy hại. Ở Công ty Endo công nhân làm việc phải chịu kỉ luật rất nghiêm ngặt. Thế nhưng về phía công nhân họ phải làm việc trong môi trường độc hại, phải chịu kỉ luật “oái ăm”, phải đảm nhiệm một lúc nhiều vị trí vậy mà lương thì quá thấp lại không nhận được trợ cấp độc hại? Như vậy thì rõ ràng là đòi chất lượng lao động Nhật mà lại trả lương mức “tối thiểu” Việt Nam.

“Điều đó làm chúng tôi bức xúc, chúng tôi sẽ đình công đến khi Ban Giám đốc công ty chịu lắng nghe và giải quyết quyền lợi cho chúng tôi”, các công nhân bày tỏ quyết tâm.

March 14, 2010

Hàng ngàn phụ nữ và trẻ em VN bị bán như là “nô lệ tình dục”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:21 pm
Tags: , ,

AsiaNews: Từ 1998-2010 ít nhất 4.500 phụ nữ và trẻ em đã bị đưa ra khỏi biên giới của Việt Nam để cung cấp cho các đường dây mại dâm. Khoảng 65% đến Trung Quốc, số còn lại tới Campuchia, Lào, đến Europea, châu Phi và Mỹ. Nhiều trẻ em bị giao bán trực tuyến trên các trang Internet. Đây là  hình thức mới của chế độ nô lệ thế kỷ 21.


Trẻ em bị bán đấu giá trên mạng Internet cho người nào trả giá cao nhất, thông qua các trang web chuyên ngành với các thông tin cập nhật ít nhất “ba hay bốn lần mỗi ngày với người mới”. Những phụ nữ trong các đường dây mại dâm bị đối xử như nô lệ tình dục. Họ bị  kẻ buôn bán chuyển từ các quốc gia lân cận – Campuchia và Trung Quốc – sang tới các thị trường châu Âu, Mỹ và châu Phi. Ở Việt Nam, trong lúc cuộc sống còn nhiều khó khăn, số lượng phụ nữ bị buôn bán cho các đường dây mại dâm tăng lên hàng năm.

Một tài liệu của chính phủ được công bố gần đây, cho thấy rằng từ năm 1998 đến đầu năm 2010 khoảng 4.500 phụ nữ và trẻ em đã bị đưa ra khỏi biên giới của Việt Nam, để rời vào tay của kẻ buôn lậu vô đạo đức.

Hiện tượng đó đã bắt đầu vào năm 1987 khi Hà Nội mở cửa biên giới của mình cho một nền kinh tế thị trường, mọi việc trở nên nghiêm trọng bởi nhiều trường hợp tham nhũng liên quan đến chính quyền địa phương hoặc những người của “tầng lớp trung lưu.” Tình trạng buôn bán gia tăng khi các can thiệp của những tổ chức từ thiện phi chính phủ và sự phối hợp  giữa Việt Nam, Campuchia và Thái Lan trở nên yếu đi.

Trong năm 2009, hoạt động phối hợp của Chính phủ Việt Nam và Campuchia đã dẫn đến việc bắt giữ được 31 kể dẫn mối, cứu được 70 nạn nhân chuẩn bị vượt biên giới vào Campuchia. Một nhà hoạt động xã hội, báo cáo rằng, một lần nữa năm ngoái, 981 phụ nữ và trẻ em đã được bán tại Campuchia hoặc Trung Quốc.

Hoạt động buôn người diễn ra ’sôi động’ nhất ở biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam; ước tinh chiếm khoảng 65% toàn bộ số lượng phụ nữa và trẻ em gái bị buôn bán ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đó là những phụ nữ để cung cấp cho thị trường mại dâm, hoặc dưới hình thức cô dâu được bán cho người trả giá cao nhất. 10% khác được ghi nhận dọc theo biên giới giữa Việt Nam và Campuchia: những phụ nữ này được sử dụng làm gái mại dâm hoặc ở Campuchia hoặc chờ để quá cảnh sang các nước Châu Âu như Anh, Pháp và Đức. Ngoài ra còn có 6,3% băng qua biên giới Việt Nam tới Lào, từ vùng biên giới ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá và Quảng Trị.

Trong một số trường hợp, các nạn nhân bị lừa gạt bằng các chiêu bài (đi lao động – Danchimviet) và xuất cảnh qua cửa khẩu Tân Sân Nhất và Nội Bài sang các thị trường Malaysia, Hồng Kông, và Ma Cao hoặc các quốc gia Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ. Kể từ khi chính quyền Bangkok ra tay đàn áp với tệ nạn mại dâm, đặc biệt là mại dâm trẻ em, Việt Nam đã trở thành “vùng nóng mới” cho du lịch tình dục. Các quán bar, vũ trường, các khu du lịch của thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Hải Phòng và Đà Nẵng luôn là điểm thu hút khách du lịch.

P. Martino, thành viên của một chức phi chính phủ về các vấn đề xã hội, giải thích rằng, mục tiêu của tổ chức này là “giúp trẻ em Việt Nam, những người đang bị bán như ‘nô lệ tình dục’ ở Campuchia.” Trẻ em bị bán bằng hàng trăm cách, cả trên internet, trên các trang web mà họ luôn quảng cáo là có “sản phẩm mới” được cập nhật ít nhất “ba hay bốn lần một ngày.” Thị trường tình dục, ông kết luận, là “một hình thức mới của chế độ nô lệ đặc trưng của thế kỷ 21.”

Nguồn: AsiaNews

March 13, 2010

Sinh con thứ ba: Cho phép chứ không thả phanh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:19 am
Tags: , ,

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 20/2010 cho phép bảy nhóm đối tượng sẽ được sinh con thứ ba. Điều này có thể gây nên “làn sóng” sinh con thứ ba? Ai sẽ là cơ quan giám sát việc thực hiện những quy định này? Nếu vi phạm sẽ bị xử lý ra sao?…

Chiều 11-3, ông Nguyễn Huy Quang, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế, thành viên ban soạn thảo nghị định, đã trả lời Pháp Luật TP.HCM làm rõ những vấn đề trên.

Dân tộc ít nguời được “thoải mái”

. Một trong những đối tượng được phép sinh con thứ ba là “phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh”. Tại sao lại quy định như vậy, thưa ông?

+ Khi soạn thảo nghị định, chúng tôi có tính đến đối tượng là thanh niên xung phong, nhiều khi chỉ cần có đứa con là chỗ dựa tinh thần. Còn những đối tượng khác không kết hôn nhưng vẫn có con, thậm chí nhiều con thì ít thôi, không phải là nguyên nhân chính làm tăng dân số hiện nay.

. Người thuộc dân tộc thiểu số có nguy cơ giảm hẳn cũng được phép sinh con thứ ba, cụ thể là những dân tộc nào?

+ Đó là những dân tộc với quy mô dưới 10.000 người hoặc đang có nguy cơ tuyệt chủng như dân tộc Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu và Brâu chỉ có khoảng 500 người/dân tộc. Những dân tộc này sinh sống chủ yếu bằng nghề phát rẫy làm nương, quanh năm đói nghèo, y tế không đảm bảo, tỉ lệ chết cao, nhiều cặp vợ chồng không có con. Tất cả hướng tới tính bền vững của dân số.

Định kỳ năm năm, cơ quan chức năng sẽ công bố tên dân tộc có số dân dưới 10.000 người, tên dân tộc có tỉ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỉ lệ chết (dân tộc có nguy cơ giảm số dân). Tuy nhiên, ngay khi nghị định có hiệu lực thì sẽ chấp nhận số liệu thống kê cho Ủy ban Dân tộc miền núi gửi lên.

Tôi cũng xin nói thêm rằng nghị định chỉ cho phép bảy nhóm trên được sinh con thứ ba thôi. Nếu vượt quá là vi phạm pháp luật.

Dân tộc ít người được khuyến khích sinh con. (Ảnh chụp tại Sa Pa, nơi tập trung nhiều dân tộc ít người) Ảnh: TỐ NHƯ

Xử lý vi phạm tùy thuộc từng nơi

. Từng có ý kiến kiến nghị nên cho nhóm đối tượng là dân vùng chài, biển có thể sinh con thứ ba bởi tính chất ở đó rất cần có nhiều đàn ông. Nhưng đề xuất này đã không được tiếp thu vào nghị định, thưa ông?

+ Không thể quy định như vậy vì những vùng đó từ trước đến nay người dân vốn vẫn sinh đẻ nhiều. Ngoài ra, chài lưới cũng chỉ là một ngành nghề nhất thời, họ có thể chuyển sang đi bán hàng, xây dựng, buôn bán, sửa chữa tàu thuyền… nên vẫn phải tuân thủ quy định của pháp luật về dân số.

. Mới đây, một quan chức ở một tổng công ty đã bị khiển trách vì sinh con thứ ba. Dư luận cho rằng như vậy là quá nhẹ, trong khi có người lại quan điểm ngược lại. Ý kiến của ông thế nào?

+ Thật ra đây là cuộc vận động nên rất khó ép buộc tất cả phải làm theo. Vì lợi ích công cộng, nhà nước khuyến khích mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ một đến hai con. Tất cả chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào chính đơn vị mà đối tượng đó đang công tác.

. Xin cảm ơn ông.

Bảy nhóm đối tượng được sinh con thứ ba

– Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên;

– Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên;

– Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi;

– Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp trung ương xác nhận;

– Cặp vợ chồng mà một hoặc hai người đã có con riêng (con đẻ), chỉ sinh một hoặc hai con trong một lần sinh;

– Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh;

– Dân tộc dưới 10.000 dân hoặc có nguy cơ giảm hẳn.

Từ chức vì sinh con thứ ba

Chiều 24-1-2008, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh đã thông qua hình thức kỷ luật cảnh cáo về mặt Đảng và mặt chính quyền đối với ông Nguyễn Trường Sơn, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch UBND TP Hà Tĩnh và chấp thuận đơn từ chức của ông Sơn. Theo bản tự kiểm điểm, ông Sơn đã có hai con gái nhưng năm vừa rồi lại sinh thêm con gái.

Lo ngại tăng dân số

Nếu chỉ vì mục đích giảm tỉ lệ sinh, giảm tình trạng mất cân bằng giới tính thì nghị định không phải là liều thuốc chữa đúng bệnh. Thậm chí là ngược lại, sẽ càng khiến tăng dân số hơn vì cho phép sinh con thứ ba ở hai nhóm đối tượng “cặp vợ chồng ly hôn và có con riêng” và “phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh”.

Ông Nguyễn Trọng An, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ LĐ-TB&XH

March 12, 2010

Những góc tối của “cuộc di dân lịch sử”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:58 pm
Tags: , ,

Lao Động số 52 Ngày 09/03/2010 Cập nhật: 8:05 AM, 09/03/2010

Mười mấy nhân khẩu không thể sống trong căn nhà 81m2, anh Nguyễn Văn Đầy tình nguyện ra đường che tạm cái mui đò để ở (Ảnh tại khu tái định cư Lại Tân, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang).
(LĐ) – Trong năm 2008, tỉnh Thừa Thiên – Huế triển khai dự án đưa toàn bộ 1.069 hộ sống lênh đênh trên các con sông Đông Ba, An Cựu, Kẻ Vạn, Bạch Yến và sông Hương và 413 hộ dân thuỷ diện vùng đầm Phá Tam Giang – Cầu Hai lên bờ định cư. Đây được coi là “một cuộc di dân lịch sử”…

40m2 “chứa” 3-5 cặp vợ chồng

Ông Nguyễn Văn Ty, ở khu tái định cư Lại Tân, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang có 5 người con, trong số đó, 2 con lớn lập gia đình sinh hơn chục cháu. Do không được tách hộ nên khi lên bờ, chỉ mình ông được cấp đất dựng nhà.

Ngôi nhà cấp 4 không đủ chỗ sinh hoạt cho mười mấy con người nên ông đành phải thuyết phục người con đầu nhịn phần cho các em ở. Thế là ông Nguyễn Văn Đầy, con ông Ty đành dùng cái mui đò bỏ tạm bên đường để hai vợ chồng cùng 4 người con của mình có chỗ trú thân.

Đang nhóm lò dưới cái nắng đỏ lửa, bà Trần Thị Lan, vợ ông Đầy than thở: “Khổ mấy cũng phải chịu đựng chứ biết răng được. Chừ thì cứ ở tạm ri đã, khi mô Nhà nước đuổi thì đi. Mà nói thiệt chớ, Nhà nước có đuổi vợ chồng tui cũng không biết đi mô ngoài việc quay lại xuống sông”.

Được lên bờ, được sống trong những căn nhà khang trang, ước mơ bao đời của người dân vạn đò sông Hương đã thành hiện thực.

“Ở thôn Lại Tân, trường hợp đông con nhưng không được tách hộ như nhà ông Nguyễn Văn Đầy, dẫn đến việc không có chỗ ở, hoặc 3-4 thế hệ cùng chen chúc nhau trong một không gian rộng khoảng 40m2 không phải là cá biệt” – ông Võ Văn Kèn, Trưởng thôn Lại Tân – nói. “Hiện tại, thôn Lại Tân cần thêm 40 – 50 lô đất nữa để cấp cho những hộ có đông các cặp vợ chồng xây nhà ở mới giải quyết được tình trạng thiếu chỗ ở”.

Cái ở tại khu tái định cư phường Hương Sơ, TP.Huế còn bi đát hơn gấp bội phần. Ông Nguyễn Văn Tín – Tổ trưởng tổ 14 khu tái định cư Hương Sơ – cho biết: Tổ ông có 106 hộ, trong số đó nhiều căn hộ có đông cặp vợ chồng cùng sống trong 40m2 chật cứng như nêm. Những hộ gia đình có trên 15 nhân khẩu được mua thêm một căn hộ nữa vẫn không thấm tháp vào đâu. Không đủ chỗ, anh em ruột cũng giành giật để mua cho bằng được nhà, vậy là tranh mua, tranh ở, gây sự nhau đủ thứ trên đời.

Cảnh gia đình anh em Huỳnh Ngọc Thân, Huỳnh Ngọc Chung tại khu tái định cư Hương Sơ chửi bới nhau cả ngày là không ai không biết. Ban đầu, hai hộ gia đình với 15 nhân khẩu cùng sống trong một căn nhà không chịu nổi nhau, đành phải cưa đôi ngôi nhà mỗi người một nửa. Nhà đã phân đôi, vậy nhưng vẫn cứ mâu thuẫn, xích mích nhau, hết chuyện nước, đến chuyện tiền điện đóm, con cái ồn ào…

Chị Phạm Thị Tơ – vợ anh Huỳnh Ngọc Thân – than: “Dưới nước nhà mô đò nấy, lên đây ở chung ở chạ rồi xích mích đủ thứ chuyện mới ra rứa chứ có ưa chi cái chuyện gây gổ, chửi bới nhau mô”.

Thất nghiệp, gây rối, trộm cắp…

Đến thời điểm này, dự án tái định cư dân vạn đò đã thực hiện được hơn một nửa chặng đường (năm 2009 đã thực hiện định cư 555/1069 hộ tại các khu tái định cư Phú Hậu, Lại Ân và Hương Sơ) và 343/ 413 hộ dân thuỷ diện vùng đầm Phá Tam Giang – Cầu Hai). Tuy nhiên, do kế hoạch, phương án tổ chức khảo sát, thống kê ngay từ cơ sở để triển khai đào tạo nghề, giải quyết việc làm vẫn chưa được các cơ quan chức năng của thành phố Huế triển khai, nên hầu hết người dân đến nơi ở mới đều gặp khó khăn để kiếm lấy cái ăn.

Trước đây theo đuôi tôm cá, đạp xíchlô, xe thồ, rồi đến cả “thợ đụng”. Giờ ở xa không có phương tiện mất mối làm ăn. Có những gia đình thất nghiệp triền miên, cơm chạy ăn từng bữa. Nói chuyện kiếm ăn ở nơi ở mới, ông Võ Văn Kèn, Trưởng thôn Lại Tân kể thêm: “Xuống đây công việc có trở ngại hơn nhiều, người làm cát sạn, thuyền rồng trên sông Hương mỗi lần di chuyển xa xôi, tốn kém. Nhà mô làm nghề cá thì ở đây gần sông nên lang thang nay đây mai đó, về phía Tam Giang – Cầu Hai kiếm cơm, họ có cái nghề như vậy cũng đã là may mắn lắm đó chú”.

Có những hộ gia đình không cam tâm sống cảnh ăn không ngồi rồi xoay mượn tiền mua xe máy, tập chạy xe để trở lại thành phố tiếp tục cuộc mưu sinh. Phải di chuyển xa nên thu nhập vốn đã bèo bọt nay càng ít ỏi hơn vì chi phí đi lại.

“Từ đây đi lên TP.Huế phải có xe máy mới đi được, đa phần vợ con tụi tui ở đây hồi trước buôn bán hàng rong ở mấy chợ, lúc đầu về đây không có việc chi làm. Chừ kiếm cái xe lên thành phố buôn thúng bán bưng rứa đó” – ông Nguyễn Văn Sang, thôn Lại Tân – kể. Khu tái định cư Hương Sơ tình hình cũng chẳng khá hơn là bao, ban ngày vắng hoe, người dân đã trở vào TP.Huế đi làm bằng đủ thứ nghề. Ai không có nghề ngỗng thì ở nhà xây sòng… đánh bài giải trí. Khổ nhất là những người vốn quen sống bằng nghề đánh bắt cá, giờ họ bị “treo” hẳn trên khô, xa sông, không ghe, không đò đành phải chịu cảnh thất nghiệp.

Cũng do thất nghiệp, thiếu việc làm nên thời gian qua, các điểm tái định cư dân vạn đò phát sinh tình trạng mất ổn định trật tự nghiêm trọng. Ông Võ Văn Kèn – Trưởng thôn Lại Tân – nói: “Chừ thì đỡ hơn, chứ thời gian trước Tết Nguyên đán, trung bình ở đây 2 ngày xảy ra một vụ gây rối trật tự, mất cắp”. Ở các khu tái định cư Phú Mậu, Hương Sơ, tình hình cũng không khá hơn khi thường xuyên xảy ra nạn rượu chè, đánh nhau, mất cắp…

Ông T – một người dân ở thôn Lại Tân – nói: “Để xảy ra tình trạng mất cắp, đánh nhau, một phần lỗi do người dân chúng tôi, nhưng một phần trách nhiệm lại đến từ chính quyền khi lực lượng công an viên quá mỏng (cả xã Phú Mậu chỉ có 6 công an viên); cán bộ thôn, tổ lại hoạt động chưa hiệu quả, can thiệp không kịp thời”.

Lá thư kêu cứu và nỗi đau tê tái của cô dâu VN ở TQ 10/03/2010 06:02

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:32 pm
Tags: , , ,


(VTC News) – Những cô gái Việt Nam sang Trung Quốc theo đường không chính thức vào những năm 90 của thế kỉ trước giờ hầu hết đã sinh con. “Thế hệ thứ 2” của họ đã đến tuổi đi học, nhưng đều thuộc diện “3 không”: không có quốc tịch, không phải công dân, không có hộ khẩu. Những chuyện như xin học, xin việc, đều là những nỗi lo khôn xiết. Họ sống nhờ vào kẽ hở của pháp luật, tiền đề để con cái họ có được “danh phận” ở Trung Quốc là nhờ vào người chồng bản xứ. Đó chính là nỗi đau tê tái mà những cô dâu VN ở TQ đang phải gánh chịu.

» Trai TQ lấy vợ VN và lối “tự sướng” dối mình, dối người
» Tại sao đàn ông Trung Quốc “mê mẩn” vợ Việt Nam?
» Mạng Trung Quốc xôn xao chuyện “mua” vợ Việt Nam

Trừ thân phận là dân “3 không”, cô bé 14 tuổi Mạc Thủy Yến trông không có gì khác biệt so với bạn bè, thậm chí tiếng Bắc Kinh lưu loát của cô bé còn khiến hiệu trưởng ngạc nhiên và quý mến. Nhưng bản thân cô bé thì ngậm ngùi tự biết mình không giống với các bạn vì mẹ em, chị Trần Hồng Văn, là một người Việt Nam.

Hai người mẹ Việt Nam và những đứa con mang nửa dòng máu Trung Quốc


Mười mấy năm trước, vào khoảng giữa những năm 90, chị Trần Hồng Văn cũng như một số cô gái Việt Nam khác, vì cảnh nhà nghèo khó không đủ ăn đủ mặc nghe theo lời rủ rê, tìm đường sang Trung Quốc mưu sinh. Cắn răng bỏ ra số tiền tương đương 200 tệ, các chị được nhà thuyền đưa đến thành phố Đông Hưng ở phía nam Quảng Tây, rồi tự tản về các huyện thị ở khu vực Quảng Đông, Quảng Tây đi làm thuê, rồi hầu hết đều lấy chồng ở vùng núi phía tây tỉnh Quảng Đông.

Nhóm người này đến nay chưa có thống kê số lượng chính thức. Ở trấn Cao Lương, huyện Đức Khánh, thành phố Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông, chỉ riêng thôn Đại Đồng đã có đến mười mấy người; trong cả huyện có khoảng gần 100 người. Theo người dân cho biết, ở những huyện thị gần Quảng Tây như La Định, Úc Nam, Phong Khai… số lượng thậm chí còn nhiều hơn nữa.


Bức thư kêu cứu

Tháng 12 năm 2009, một bức thư nặc danh được gửi đến Nam phương nông thôn báo, kể lại thực trạng cuộc sống của những người này. Trong phần “kí tên” ghi là “Một người biết chuyện”; nét chữ ngay ngắn, ngôn từ khẩn thiết: “Chúng là những đứa trẻ đang hoặc sắp đến tuổi đi học, giờ đang hoặc sắp đến trường cùng bạn bè đồng trang lứa. Nhưng cha mẹ chúng thì vô cùng lo lắng, khổ tâm vì tương lai của chúng bởi lẽ đây là những đứa trẻ “bất hợp pháp” không được đăng kí hộ khẩu. Không có giấy tờ hợp pháp chứng minh thân phận, không biết sau này khi chuyển cấp, xin việc phải làm thế nào…”.


Những cô gái Việt Nam lấy chồng Trung Quốc sau khi có con đều biết đối mặt với thực tế, yên phận ở nhà chăm sóc con cái. Trong số họ, có những người mặc dù đã một vài lần về Việt Nam thăm người thân nhưng vẫn chưa lấy được đăng kí kết hôn hợp pháp. Đa phần họ cả năm làm lụng vất vả cũng chỉ tạm đủ duy trì cuộc sống hàng ngày. Có những người lấy chồng nhiều tuổi, thậm chí không còn khả năng lao động. Mười mấy năm trước, nhóm người này đã rời bỏ vùng quê nghèo khó để tìm đến một nơi mà họ nghĩ có thể ăn no mặc ấm, dù nơi đó cũng chỉ là những dãy núi cao trùng điệp.


Nguyễn Kim Hồng, năm nay 35 tuổi, năm 1999 theo một người chị họ đã lấy chồng Trung Quốc sang đây làm thuê, sau đó được giới thiệu lấy một nông dân ở thôn Đại Đồng là Từ Tiến Nguyên. Nói về cuộc nhân duyên của mình, người đàn ông râu tóc đã muối tiêu đến giờ không giấu nổi nụ cười: “Chỉ mất cho người mối 300 tệ. Năm đó 30 tuổi rồi, nhà thì nghèo, tìm không được vợ, lo muốn chết”. Khi phóng viên đến thăm, cả nhà họ Từ đang vui mừng hớn hở. Vườn quýt đường mà họ vất vả chăm sóc cả năm giờ đã cho trái lớn. Cha của Từ Tiến Nguyên vuốt râu kể lại: “Nếu không có con dâu, chắc tôi cũng không sống đến hôm nay. Con trai 30 tuổi còn lấy được người vợ như Kim Hồng, thật là phúc phận mà nhà họ Từ tu mấy kiếp mới có được”.


Khi phóng viên Nam phương nông thôn báo đến nhà họ Từ, chị Trần Hồng Văn, một người bạn Việt Nam của chị Nguyễn Kim Hồng, cũng đang ở đó. Tiếng cười của chị trong trẻo, vui vẻ. Chị kể bằng tiếng Quảng Đông lưu loát: “Hồi đó tôi vừa đen vừa gầy, gần 30 tuổi rồi ở Việt Nam khó lấy được chồng”. Năm 1995, sau 2 năm mổ gà thuê ở Trung Quốc, chị lấy anh Mạc Hồng Phân, 43 tuổi, ở thôn Giang Nam. Giờ đây, người chồng 58 tuổi ở nhà giữ mấy mẫu ruộng, còn chị thừa hưởng năng khiếu buôn bán của gia đình tại Hà Nội, dẫn theo con gái Mạc Thủy Yến đến trấn Cao Lương tiếp tục bán gà kiếm sống.


Chủ nhiệm thôn Giang Nam Lương Thụ Lâm cho biết, thôn này đã đón 10 cô gái Việt Nam. Ngoài hai cô vì nhà chồng quá nghèo nên đã bỏ đi nơi khác, những người còn lại đều ở lại thôn, sinh con đẻ cái, gánh vác với nhà chồng. Ông Đàm Vịnh, phó chủ nhiệm thôn Đại Đồngcho biết, có 15, 16 cô gái Việt lấy chồng ở đây, chừng hai chục đứa trẻ đến tuổi đi học trong diện “3 không”.


Những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung Quốc sớm đã được những tổ chức cơ sở ở thôn trấn mặc nhiên thừa nhận, nhưng để được hưởng chính sách hỗ trợ chính thức của chính phủ Trung Quốc lại gặp rất nhiều khó khăn. Nỗi lo lớn nhất của họ là vấn đề hộ khẩu của con cái và những vấn đề phát sinh theo đó: đi lại, chuyển cấp, xin việc… hầu như không có cách nào giải quyết.


Những đứa trẻ này có đủ cả cha lẫn mẹ, nhưng lại chưa được pháp luật công nhận


Trong nhà chị Nguyễn Kim Hồng, trên tường dán đầy giấy khen các loại. Mặc dù là trẻ diện “3 không” nhưng trong làng xóm vẫn cho phép 3 đứa con của chị Hồng được đi học. “Thôn cho một cái giấy chứng nhận còn các thầy cô trong trường đối xử với chúng không khác gì những đứa trẻ khác”, ông Đàm Vịnh cho biết.

Ông Lý Vĩ Cảnh, hiệu trưởng trường tiểu học La Dương, nói: “Các cháu cũng được hưởng giáo dục phổ cập miễn phí. Trừ việc không được nhận học bổng dành cho học sinh nghèo – vốn chiếu theo hộ khẩu hết sức chặt chẽ – thì ở giai đoạn giáo dục bắt buộc, các cháu diện “3 không” cũng không có gì khác biệt so với các cháu khác”.


Nhập hộ khẩu cho con cái: Bất khả thi!

Năm 1995, khi giải ngũ, anh Mạc Quốc Hoa ở thôn Giang Nam đã nhiều tuổi. và đã bỏ tiền tìm vợ Việt Nam. Giờ đây anh đã là cha của 2 đứa con. Năm 2007, anh đem giấy chứng sinh của con (có dấu xác nhận của thôn ủy) lên công an huyện để đăng kí hộ khẩu cho con là Mạc Chấn Hoàng nhưng “Công an nói không có chính sách này”. Lúc còn trẻ, bản thân anh đã từng muốn bỏ việc cày cuốc mà không được, giờ đây, có lẽ những đứa con không có hộ khẩu tương lai còn không bằng bố chúng! Cúi đầu rít một hơi thuốc thật sâu, anh buồn bã nói: “Lẽ nào con cháu họ Mạc từ nay đời đời là những đứa trẻ bất hợp pháp?”


Người cha Trung Quốc này cũng không có cách nào đưa tên con vào hộ khẩu


Những đứa con của Nguyễn Kim Hồng học hành giỏi giang là động lực để hai vợ chồng vượt khó vươn lên. Nhưng vấn đề hộ tịch ngày càng thắt chặt hơn khiến Từ Tiến Nguyên vô cùng khổ tâm: “Có đỗ đại học cũng không được học, liệu chúng có oán tôi cả đời không?”. Hiệu trưởng Lý Vĩ Cảnh phân tích hoàn cảnh của những đứa trẻ “3 không”: cha mẹ cho chúng cuộc sống, nhưng chính sách khó cho chúng danh phận. Theo luật Hôn nhân Trung Quốc, để được nhập hộ khẩu, phải theo trình tự thủ tục: cô dâu Việt về nước lấy chứng nhận tình trạng hôn nhân cùng hộ khẩu và các giấy tờ tùy thân chứng minh do cơ quan có thẩm quyền cấp, có hộ chiếu và Visa nhập cảnh Trung Quốc, con cái có giấy chứng sinh do bệnh viện ở Trung Quốc cấp”.

Tình hình thực tế là, đối với các gia đình ở vùng núi Quảng Đông, Quảng Tây, mỗi điều kể trên đối với họ đều vô cùng khó khăn. Chị Hoàng Hân, vợ anh Mạc Quốc Hoa ở đây đã 15 năm, chưa một lần về nước, đến liên lạc về nhà cũng không. “Về nước một chuyến cần rất nhiều tiền, nếu tôi đủ tiền để làm các giấy tờ đó thì đã không cần lấy vợ Việt Nam nữa rồi”, Mạc Quốc Hoa thổ lộ.


Ông Hà Quế Lai, chủ nhiệm ban xã hội thuộc Ủy ban huyện Đức Khánh cho biết: “Ở cơ quan đăng kí của huyện không có một cặp vợ chồng Việt – Trung nào đăng kí kết hôn”. Một người phụ trách ở công an huyện Đức Khánh nói, mấy năm trước họ từng đưa vấn đề này lên xin ý kiến của tỉnh. Khi đó, các cơ quan chức năng của tỉnh cho ý kiến chỉ đạo: Nếu có giấy chứng sinh có thể làm hộ khẩu, nhưng phải thỏa mãn 3 điều kiện: người cha thực sự mong muốn con ở lại trong nước, không vi phạm chính sách kế hoạch hóa gia đình; Người cha phải có xét nghiệm DNA để chứng minh quan hệ cha con với đứa trẻ được nhập hộ khẩu; Cuối cùng, về nguyên tắc, người vợ Việt Nam vẫn phải trở về nước.


Phó phòng tuyên truyền huyện ủy Đức Khánh Lý Xuân Vinh cũng cảm thấy đau đầu; ông biết rằng ở miền đất nghèo khó này những điều kể trên đều là bất khả thi – “Chính quyền địa phương cũng rất muốn giải quyết vấn đề này nhưng không thể đi ngược lại chính sách chung”.


Khi phóng viên Nam phương nông thôn báo hỏi Nguyễn Kim Hồng có lo bị bắt về nước không, chị quay đầu nhìn ra sân, lặng lẽ một lúc rồi khe khẽ đáp: “Tôi ở đây đã mười mấy năm rồi mà…”. Từ đó cho đến lúc phóng viên rời khỏi, chị Hồng lặng lẽ suy tư, không nói một lời nào nữa, kể cả một câu tạm biệt.


Nhưng những đứa con của chị thì vẫn đang chờ thoát khỏi số phận của trẻ “3 không”…


Đông Linh

Kiệt sức với bữa ăn 5.000 đồng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:23 am
Tags:

TT – Một cuộc khảo sát ở Bình Dương cho thấy bữa ăn của công nhân tại chỗ làm chỉ đáng giá 5000 đồng dù công ty chi cần gấp đôi. Bữa ăn thiếu cả rau, chất béo và đạm. Đã vậy. lúc ở nhà công nhân cũng chỉ đủ tiền nấu hoặc mua bữa ăn đạm bạc như ở công ty.

Suất ăn của công nhân được các công ty chi 8.000-10.000 đồng nhưng nhiều nơi khi qua nhà thầu và các chi phí trung gian nên công nhân chỉ được ăn 4.000-5.000 đồng. Chất lượng bữa ăn rất nghèo nàn, ngay cả rau xanh cũng không đủ, đó là kết quả khảo sát của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Bình Dương.

Công nhân mua một gói xôi đậu lót dạ trước khi vào làm  – Ảnh: Nguyễn Nam

Khảo sát cho thấy chất lượng dinh dưỡng của mỗi khẩu phần ăn không đủ tái tạo sức lao động, trong khi đó công nhân phải thường xuyên tăng ca.

Cơm công nhân ngày càng đạm bạc

Chiều 11-3, ông Nguyễn Ngọc Sơn, đại biểu HĐND tỉnh Bình Dương, cho rằng: “Hiện nay vấn đề chất lượng đối với khẩu phần ăn cho công nhân đang ở mức báo động. Qua nhiều năm theo đoàn giám sát của Ban văn hóa xã hội HĐND tỉnh tại các doanh nghiệp trên địa bàn, tôi thấy suất ăn của công nhân hiện nay rất nghèo nàn. Nhiều công ty có suất ăn 8.000 đồng nhưng khi nhà bếp chi tiền nhân công, tiền hoa hồng… thì suất ăn chỉ còn dưới 5.000 đồng. Trong khi đó, công nhân một ngày đâu chỉ làm việc tám giờ mà còn thường xuyên tăng ca. Suất ăn không đủ chất dẫn đến công nhân không đủ sức làm việc”.

Gần 59%

Là tỉ lệ cơ sở cung cấp khẩu phần ăn chưa hợp lý như khuyến nghị quốc gia về dinh dưỡng. Đây là kết quả khảo sát tại 58 cơ sở của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Bình Dương. Trong đó, thiếu năng lượng có 16 cơ sở, thiếu đạm có 9 cơ sở, thiếu béo có 9 cơ sở và 100% cơ sở thiếu rau xanh, củ quả trong khẩu phần ăn…

Theo ông Sơn, Bình Dương hiện có khoảng 500.000 công nhân, nếu vấn đề về sức khỏe của công nhân không được quan tâm, kiểm soát đúng mức sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ đáng lo ngại.

Giá tiền một suất ăn của công nhân phải chịu chi phối của các khoản như thuế VAT, nhân công, vận chuyển, bảo hiểm… Điều đáng nói là nhà ăn còn bớt xén do phải chi hoa hồng giao tiếp (chi phần trăm trên khẩu phần ăn của công nhân) cho người trong công ty để có hợp đồng cung cấp suất ăn.

Kết quả khảo sát của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Bình Dương cho thấy có tới 65,52% cơ sở phải chi hoa hồng kiểu này.

Giá nấu ăn vào thời điểm khảo sát trung bình là 9.400 đồng/suất, tuy nhiên có tới 91,38% cơ sở cho rằng có thể nhận nấu ăn với mức 7.000-8.000 đồng/suất trong thời điểm hiện tại nhưng không đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ. Cũng theo khảo sát này, trên thực tế một số cơ sở hiện nay chỉ nấu ăn với giá 4.000-6.000 đồng/suất, không đảm bảo dinh dưỡng cho công nhân.

Một bữa ăn của công nhân tại nhà trọ  – Ảnh: Ngân Hà

Có nơi chỉ còn ăn 4.000-5.000 đồng/bữa

Đợt khảo sát cho thấy với tình hình cung cấp suất ăn như hiện nay, số cơ sở cung cấp thức ăn thiếu đạm sẽ không dừng ở mức 15,52%. Vitamin và khoáng chất trong khẩu phần ăn cũng rất thấp nên nguy cơ thiếu chất này ở công nhân rất cao.

Theo Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Bình Dương, đa số cơ sở nấu ăn cho công nhân đều mua thịt có nguồn gốc thịt đông lạnh nhập khẩu. Trong khi đó, hơn một nửa số cơ sở thực hiện chế độ lưu mẫu thực phẩm chưa đúng quy định, chiếm 58,6%. Vấn đề này sẽ gây khó khăn cho việc tìm nguyên nhân phục vụ công tác điều tra và xử lý ngộ độc thực phẩm nếu xảy ra. Theo một cán bộ của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh, điều đáng chú ý là rất nhiều doanh nghiệp thiếu hẳn rau xanh.

Mới đây, Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dương vừa có buổi làm việc với Công ty TNHH Green River Wood and Lumber (xã An Phú, Thuận An) để giải quyết kiến nghị của hàng trăm công nhân liên quan đến chất lượng bữa ăn. Công nhân phản ảnh mỗi bữa ăn được chi 8.000 đồng/người. Tuy nhiên, công ty đã tổ chức cho người ở ngoài đấu thầu nấu ăn, do đó thực chất mỗi bữa ăn của công nhân chỉ còn 4.000-5.000 đồng/người. Theo Liên đoàn Lao động tỉnh, nhà thầu cho biết họ phải chi 10% tiền thuế, tiền công phục vụ, vận chuyển, tiền lãi…

Theo ông Nguyễn Văn Khương – phó chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh, hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn đang chi tiền ăn cho công nhân dưới 10.000 đồng/bữa, có doanh nghiệp chỉ chi 6.000 đồng/bữa. Điều đáng nói là từ sau tết, giá cả các mặt hàng nhu yếu phẩm có xu hướng tiếp tục tăng cao làm ảnh hưởng đến đời sống của công nhân.

ANH THOA

No bụng nhưng thiếu chất

Bữa ăn ở công ty thì đáng báo động về chất lượng, còn bữa cơm ở nhà trọ của công nhân cũng không khá hơn. Họ thường chọn mua các thực phẩm rẻ tiền ở các chợ tạm về chế biến.

Công nhân ở Khu công nghiệp Tân Tạo (TP.HCM) mua cá khô về ăn tối – Ảnh: MAI VINH

Nguyên nhân chính vì lương thấp, giá sinh hoạt tăng khiến công nhân tìm đủ mọi cách tính toán và cách chủ yếu là hạn chế chi tiêu trong ăn uống hằng ngày.

Ngán cơm công ty

Đang giờ ăn cơm giữa ca tại Công ty F (Khu chế xuất Linh Trung 1, Q.Thủ Đức, TP.HCM) thì một nữ công nhân ngất xỉu. Các công nhân bên cạnh vội vàng bế nữ công nhân này xuống phòng y tế. “Xỉu là bình thường. Có nhiều người sáng chưa ăn uống gì đã vào làm thì chịu sao nổi” – một công nhân tên Đông nói.

Nhiều công nhân suy nghĩ sáng chỉ cần ăn qua loa, vào làm việc đến giữa ca ăn cơm công ty cho “cứng bụng”, tiết kiệm được tiền. Nhưng trên thực tế, bữa cơm giữa ca của nhiều công ty tại các khu chế xuất, khu công nghiệp ở TP.HCM hiện nay không phải là dễ nuốt.

Bác sĩ Lê Thị Kim Quý, giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM, cho biết nếu không nạp đủ các chất cơ bản như tinh bột, đạm và béo thì người lao động sẽ không đủ sức làm việc. Cơ thể cũng không hấp thụ được các chất vitamin khác, gây nên tình trạng suy nhược sức khỏe về lâu dài.

Theo các khảo sát, công nhân còn có thói quen hay ăn mặn để tiết kiệm tiền mua thức ăn, ăn được nhiều cơm cho no bụng nhưng lại không đủ chất dinh dưỡng để tái tạo sức lao động.

Theo khảo sát của chúng tôi, khẩu phần ăn của công nhân hiện nay chỉ khoảng 7.000 đồng, công ty nào “chịu chơi” cũng chỉ 10.000 đồng là đụng trần. Đó là chưa kể những hao hụt từ quy trình mua thức ăn, chế biến… để ra một phần ăn. Một cán bộ thuộc

Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM cho biết qua các cuộc khảo sát, tuy khẩu phần ăn cho mỗi công nhân là 7.000-8.000 đồng nhưng thực tế khi đến với công nhân chỉ còn 3.000-4.000 đồng. Đó là chưa tính đến các yếu tố khác như điều kiện nấu nướng, vệ sinh… góp phần làm giảm chất lượng bữa ăn của công nhân.

Anh Nguyễn Công Hà, công nhân Công ty C (Khu công nghiệp Đồng An, Bình Dương), cho hay: “Mỗi bữa ăn công ty cho 8.000 đồng, do giá cả tăng nên đĩa cơm chỉ có mấy cọng rau, vài miếng thịt mỡ ăn cho qua bữa chứ nói gì đến chất lượng”. Anh N.T., một nhân viên bếp ăn làm việc lâu năm tại Công ty F, thừa nhận với 7.000 đồng trong thời buổi giá cả leo thang như hiện nay thì rất khó nấu được một bữa ăn đảm bảo chất dinh dưỡng cho công nhân.

Cơm nhà không khá hơn

Tại khu trọ gần khu chợ tạm, đối diện Khu chế xuất Linh Trung 1, mới hơn 5 giờ sáng công nhân đã lục tục thức dậy chuẩn bị bữa ăn. Người thì ăn mì gói với rau, người chiên cơm nguội ban tối còn lại, có phòng nấu một nồi cơm rồi chế hai gói mì làm canh cho bốn người ăn.

Trên khu vực vành đai cầu vượt Linh Xuân kéo dài đến cổng Khu chế xuất Linh Trung 1, mỗi buổi sáng đều tấp nập những người bán thức ăn nhanh cho công nhân. Công nhân nào chi mạnh tay hơn thì ăn xôi chả 5.000 đồng, ai muốn rẻ thì có ngay xôi đậu 2.000 đồng. Các món khác như bắp, bịch sữa đậu nành, bánh bột chiên… giá từ 1.500-2.000 đồng được nhiều công nhân chọn mua. Nhiều công nhân sợ trễ giờ làm vừa đi vừa cầm bắp, xôi ăn ngấu nghiến. Có người chỉ uống bịch sữa đậu nành cầm hơi để vào làm. Đó là chưa kể có nhiều công nhân vào xưởng với cái bụng rỗng không. “Làm đến trưa là ăn giữa ca nên buổi sáng ăn gì mà chẳng được. Mua như thế này vừa tiện mà rẻ nữa” – một công nhân mua xôi cho hay.

“Điện ba ngàn, nước vừa tăng thêm hai ngàn nữa thành mười ngàn, chưa tính đến phòng trọ vừa tăng giá thêm năm mươi ngàn nữa. Đồ ăn thức uống ngoài chợ sau tết lại tăng nên phải tính dữ lắm” – Phương Dung, công nhân thuộc Khu chế xuất Tân Thuận (Q.7), than thở. Buổi chiều Dung ra khu chợ gần Khu chế xuất Tân Thuận mua thức ăn về nấu cho cả phòng. Dung mua ba trái cà chua 6.000 đồng, con cá điêu hồng 17.000 đồng và 3.000 đồng rau muống thái sẵn. Vậy là xong thức ăn cho bốn người. Tính cả tiền mua gia vị, gạo và gas thì một bữa ăn tại phòng trọ của Dung, mỗi công nhân chi trung bình khoảng 8.000 đồng.

NGUYỄN NAM – ANH THOA

March 8, 2010

Chính sách nhập cư và thiếu hụt lao động

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:55 am
Tags:

SGTT – Nguyễn Văn Thành quê tại Lập Thạch, Vĩnh Phúc sau sáu năm làm công nhân tại tỉnh Bình Dương đã quyết định không trở lại đó mà đi tìm việc tại khu công nghiệp Thăng Long, Hà Nội, nơi chỉ cách nhà Thành vài chục kilomet thay vì hàng ngàn kilomet như trước đây. Thành nói, so mức lương 2,8 triệu/tháng tại Bình Dương với mức lương 2,5 triệu/tháng ở Hà Nội thì Thành quyết định làm ở Hà Nội bởi chi phí sẽ ít đi.

Nhiều lao động như Thành sau tết đã không quay trở về nơi làm việc cũ làm nên sự khan hiếm lao động tại hầu hết các khu công nghiệp sau tết, nhất là tại khu vực phía Nam. Đây là nỗi lo thường trực của hầu hết các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp bởi sau khi trả lương, thưởng tết không có ràng buộc gì để người lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã tìm cách nợ lương, nợ thưởng người lao động để sau tết mới trả nhưng vẫn không làm dịu đi sự căng thẳng về nguồn cung lao động đầu năm. Sự thiếu hụt lao động ngày càng trở nên nghiêm trọng khi nhiều khu công nghiệp thi nhau mọc lên trong khi chưa được chuẩn bị về nguồn lao động. Tại nhiều địa phương, nguồn lao động chủ yếu dựa vào những người nhập cư nhưng do không được đảm bảo về đời sống vật chất lẫn tinh thần, những lao động như Thành đã không mạo hiểm “di cư” đi xa nữa mà tìm kiếm cơ hội ở những nơi gần hơn.

Thực trạng này hiện nay đang diễn ra ở nhiều tỉnh, thành phố. Theo Báo cáo cung cầu lao động được bộ Lao động, thương binh và xã hội gửi Chính phủ cuối năm 2009, tỉnh Đồng Nai hàng năm thiếu hụt tới 20.000 lao động, trong đó 5.000 công nhân kỹ thuật và 15.000 lao động phổ thông; TP.HCM trong năm 2009 cần tuyển tới 62.000 người nhưng chỉ đáp ứng được tỷ lệ thấp; tỉnh Bình Dương cần tuyển tới 41.600 người… Trong năm 2009 các doanh nghiệp đăng ký tuyển dụng qua sàn giao dịch việc làm tại các tỉnh với số lượng hơn 100.000 lao động, trong đó 80% là lao động phổ thông nhưng số người đến đăng ký chỉ bằng 17% nhu cầu tuyển dụng và số lượng tuyển được thực tế chỉ bằng 6% nhu cầu.

Chính việc thiếu hụt các chính sách “giá đỡ” đối với lao động nhập cư nên nhiều năm qua đã không tạo nên được những dòng di cư lao động tích cực.

Nguyễn Hữu Dũng,
trợ lý bộ trưởng bộ Lao động,
thương binh và xã hội

Tại rất nhiều tỉnh, thành phố phía Nam sự thiếu hụt lao động ngày càng trầm trọng, trong khi tại nhiều tỉnh phía Bắc, miền Trung số lượng lao động dư thừa lại vẫn nhiều. Nhưng sức hút từ đồng tiền lương không đủ kéo những người lao động nông nghiệp rời bỏ ruộng vườn để góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như Nguyễn Văn Thành, mặc dù tìm việc ở khu công nghiệp Thăng Long khó khăn hơn so với trong các khu công nghiệp tại Bình Dương vì người nhiều việc ít nhưng Thành vẫn không trở lại Bình Dương nữa. Tiền lương 2,8 triệu đồng/tháng lại phải chi trả đủ các loại chi phí khiến sáu năm làm việc tại Bình Dương, Thành không tiết kiệm được nổi chục triệu đồng. Thêm nữa, Thành đã tính đến chuyện kết hôn nên phải tính đến chuyện sinh con và trường học, bệnh viện… cho con sau này.

Tính toán của những lao động nhập cư như Thành là có cơ sở. “Nếu vào Bình Dương làm việc và lấy vợ trong đó, với đồng lương 2,8 triệu/tháng em phải đi thuê nhà, nuôi vợ con và thậm chí trả tiền cho con đi học mẫu giáo cũng khó khăn. Trong khi đó nếu ở nhà thì đã có ruộng cấy lấy thóc ăn, trường mẫu giáo gần nhà và tiền thuê nhà cũng không mất”, Thành kể.

Ở góc nhìn của một công nhân như Thành thì điều đó có lợi. Nhưng nếu xét về tổng thể thì những tính toán như vậy có hại cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Nếu những chính sách điều tiết thị trường lao động không can thiệp được vào những tính toán như vậy thì câu chuyện thiếu hụt lao động tại các khu công nghiệp sẽ vẫn còn tiếp diễn trong nhiều năm nữa.

Ông Nguyễn Hữu Dũng, trợ lý bộ trưởng bộ Lao động, thương binh và xã hội, người đang tham gia vào xây dựng Chiến lược an sinh xã hội quốc gia tới năm 2020 cũng thừa nhận, chính việc thiếu hụt các chính sách “giá đỡ” đối với lao động nhập cư nên nhiều năm qua đã không tạo nên được những dòng di cư lao động tích cực. “Chỉ với đồng lương thấp, không được hỗ trợ về nhà ở, giáo dục và y tế, thậm chí cả chính sách hộ khẩu cũng khắt khe khiến cho người lao động không muốn dịch chuyển”, ông Dũng nói.

Bởi vậy trong Chiến lược an sinh xã hội quốc gia cho giai đoạn 2011 – 2020 đang được xây dựng, dự kiến sẽ có chương trình hỗ trợ cho lao động di cư. Theo ông Dũng, dự kiến ban đầu sẽ là việc hỗ trợ tiền di chuyển, tiền ăn ở trong những tháng đầu tiên cho những lao động này. Để thực hiện dự kiến này ngân sách sẽ phải chi ra khoản tiền không nhỏ. Nhưng ông Dũng cũng cho rằng để thu hút lao động nhập cư thực sự hiệu quả, chính các tỉnh, thành phố phải đưa ra các chính sách “trải thảm đỏ” như hỗ trợ họ nhập khẩu, chính sách về y tế, giáo dục đối với lao động nhập cư…thay vì trông chờ các chính sách từ Trung ương.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.