Ktetaichinh’s Blog

December 9, 2010

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:16 pm
Tags: , ,

Về ngoại thương, báo cáo nhận định, trong khi thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vẫn là các nước phát triển, nguồn nhập khẩu lại chủ yếu đến từ Trung Quốc và Đông Á. Điều này giải thích vì sao Việt Nam đang xuất siêu với các nước phát triển nhưng lại nhập siêu với các bạn hàng láng giềng

Ví dụ, sau khi kinh tế hồi phục vào cuối năm 2009, Chính phủ chủ trương thắt chặt tiền tệ; tháng 11-2009, lãi suất cơ bản được nâng 1 điểm phần trăm, tỷ giá được điều chỉnh 5,5%, việc bù lãi suất dần dần được chấm dứt. Nhưng đến quí 1-2010, khi tốc độ tăng GDP chỉ còn 5,8% và dưới áp lực của giới kinh doanh về lãi suất cao, chính sách lại được điều chỉnh vào giữa năm 2010 để hỗ trợ cho tăng trưởng, giới ngân hàng chịu áp lực phải giảm lãi suất. Đến nay, để chống lạm phát, lãi suất cơ bản được nâng lên 1 điểm phần trăm vào đầu tháng 11 nhưng khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt lên 18-20%, Ngân hàng Nhà nước lại can thiệp để giảm áp lực lên tính thanh khoản…

Vì thế, báo cáo cho rằng để chống lạm phát và ổn định tỷ giá, Chính phủ cần phát tín hiệu rõ ràng về cam kết tạo ra và duy trì sự ổn định vĩ mô trong ngắn hạn. Đi kèm theo đó là các chính sách cần thiết và thường xuyên cung cấp thông tin cho thị trường để tạo dựng niềm tin. Cũng cần bảo đảm sự nhất quán giữa các mục tiêu như lãi suất, hạn mức tín dụng, cung tiền… để tránh quán tính thay đổi chính sách liên tục.

Advertisements

May 12, 2010

Ngân hàng thương mại nhà nước: Lợi thế trong cạnh tranh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:31 am
Tags: , ,
Lao Động số 104 Ngày 10/05/2010 Cập nhật: 8:45 AM, 10/05/2010
Các NHTMNN có lợi thế về nguồn vốn giá rẻ. Ảnh: Giang Huy
(LĐ) – Có nguồn vốn giá rẻ, các ngân hàng thương mại nhà nước đang chiếm ưu thế trong việc thu hút khách hàng so với ngân hàng thương mại cổ phần.

Có nguồn vốn giá rẻ

Lý do khiến khối NHTM nhà nước luôn có mặt bằng LS cho vay thấp hơn các NHTM cổ phần vì họ có nguồn vốn giá rẻ từ các khách hàng lớn (mà NHTM nhà nước có được nhờ uy tín của Nhà nước), đó là: Tiền gửi thanh toán của các tập đoàn DN; tiền gửi của các tổ chức bảo hiểm và Kho bạc Nhà nước; giải ngân vốn ODA.

Lấy ví dụ việc thu hút vốn ODA và hoạt động giải ngân qua NH phục vụ: Căn cứ vào quy định trong hiệp định vay, thoả thuận tài trợ và các quy định của các cơ quan quản lý trong nước, việc rút vốn, thanh toán bằng nguồn vốn ODA được thực hiện qua NH phục vụ theo một hoặc một số hình thức: Thanh toán trực tiếp/hoặc chuyển tiền: Thanh toán theo phương thức hoàn trả; thanh toán theo phương thức tín dụng/nhờ thu; thanh toán qua tài khoản tạm ứng/tài khoản đặc biệt.

Hoạt động giải ngân vốn ODA các NH được chỉ định phục vụ thu được một số lợi ích trong kinh doanh ngoại tệ, hoạt động tín dụng và thanh toán, đặc biệt là trong huy động vốn vì thông qua việc rút vốn ODA ngân hàng phục vụ đã thu hút được lượng tiền ngoại tệ (vốn ODA) và nội tệ (các nhà thầu) khá lớn duy trì trên các tài khoản mở tại NH phục vụ với chi phí rất thấp.

Bên cạnh đó, các NHTM nhà nước luôn nhận được sự hỗ trợ từ NHNN. Gần đây, NHNN tuyên bố sẽ đáp ứng nhu cầu vay vốn thiếu hụt thanh khoản tạm thời của các NHTM nhà nước với LS thích hợp và thời gian phù hợp (chắc LS thấp hơn khá nhiều so mặt bằng LS huy động thị trường và thời gian dài hơn cho vay tái cấp vốn và chiết khấu với các NHTM cổ phần). Các NHTM cũng chủ định hướng khai thác tối đa kênh hỗ trợ của NHNN.

Một ưu thế khác của các NHTM nhà nước nữa là họ có thể thực hiện khá hiệu quả việc huy động vốn nước ngoài thông qua các kênh vay thương mại, LC, reifinancing… BIDV đã dự kiến phát hành 300-500 triệu USD trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế để bổ sung nguồn vốn trung – dài hạn. Các NHTM cổ phần khó đủ độ tín nhiệm để thu hút vốn nước ngoài.

Mạnh trong cạnh tranh tiền gửi dân cư

Vốn tiền gửi dân cư chiếm 43%/tổng nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM. Tỉ trọng này cao hơn ở các NHTM cổ phần (trên 50%-70%/) do LS huy động của các NH này cao hơn. Ở NHTM nhà nước thường chỉ chiếm trên 30%. Ý thức được sự ổn định của tiền gửi dân cư trong bối cảnh tiền gửi tổ chức liên tục sụt giảm, năm 2010, các NHTM nhà nước cũng cạnh tranh gay gắt với các NHTM cổ phần.

Điều đáng chú ý ở đây là thay vì công bố mức LS huy động cao, NHTM nhà nước thường lẩn bằng hình thức khuyến mãi. Cộng thêm giá trị khuyến mãi thì thực tế LS huy động của các NHTM nhà nước có phần còn cao hơn NHTM cổ phần.

Hiện theo sự đồng thuận thì các NHTM nhà nước huy động VND dưới trần 11,5% và chuyển các chi phí khuyến mãi trước đây vào LS huy động niêm yết, nhưng BIDV đang có chương trình “Tiết kiệm siêu khuyến mãi” kéo dài từ ngày 2.4.2010 đến 2.7.2010 đối với tiền gửi tiết kiệm VND và USD từ 12 tháng trở xuống. Ngoài mức LS cạnh tranh được cố định trong suốt thời gian gửi tối đa là 11,5%/năm đối với VND. Tham gia chương trình, khách hàng còn nhận ngay quà tương đương mức tặng LS lên tới 1,5%/năm đến 2,2%/năm. Như vậy, LS thực BIDV đang chào người gửi là 13%-13,7%/năm.

Với những chiêu thế này thì NHTM nhà nước cũng không kém cạnh gì các NHTM cổ phần trong cạnh tranh hút tiền gửi dân cư. Có lẽ rất khôn ngoan khi một NHTM nhà nước định hướng: Không đẩy LS cao mà vẫn huy động được vốn, bảo đảm thanh khoản và vẫn giữ vai trò “chủ nợ lớn” trên thị trường liên ngân hàng.

Hút khách hàng của NHTM cổ phần

Cho đến nay, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn là khách hàng chính của các NHTM nhà nước, nhưng cùng với tiến trình cổ phần hoá và những biểu hiện yếu kém, hạn chế của loại hình DN này trong kinh tế thị trường, các NHTM NN đã đẩy mạnh cơ cấu lại nền khách hàng theo hướng điều chỉnh nâng tỉ trọng khách hàng là DN nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân. Đối với DNNN chú trọng các DN được xếp hạng tín dụng từ A trở lên.

Một khi mặt bằng LS cho vay không chênh lệch lắm thì khách hàng khu vực tư nhân thường vay vốn NHTMCP, vì thủ tục đơn giản và được chăm sóc tốt hơn, nhưng khi LS có sự chênh lệch lớn thì đương nhiên họ chọn NHTM nhà nước.

Hiện các NHTMCP quy mô trung bình và nhỏ có khối lượng lớn vốn tiền gửi LS cao của dân cư và của các NH khác từ quý I đang rất lo lắng vì LS cho vay trên thị trường đang giảm dần. Những NH này không thể hạ LS cho vay được (lỗ), họ sẽ mất các khách hàng tốt sang tay các NHTM nhà nước và phải chấp nhận cho vay các khách hàng xấu với mức độ rủi ro cao hơn.

Không thể phủ nhận vai trò của các NHTM nhà nước trong việc bình ổn thị trường tiền tệ. Sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và NHNN cho các NH này cũng là để các NHTM nhà nước phát huy tốt được vai trò của mình.

Tuy nhiên, thông tin tốc độ tăng trưởng dư nợ của các NHTM nhà nước lớn hơn tốc độ tăng dư nợ và một số NHTM nhà nước trở thành con nợ của các NHTM cổ phần cũng là những cảnh báo về quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản và đảm bảo các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng của một số NHTM nhà nước đang có vấn đề.

Người ta cũng lo ngại về tỉ lệ các khoản nợ xấu của một số NHTM nhà nước cũng đang tăng mạnh. Lợi thế, nhưng không lạm dụng để biến thành nguy cơ rủi ro là điều các NHTM nhà nước nên chú ý.

April 28, 2010

Ngân hàng Nhà nước đang phạm luật?

Nếu cho rằng, với sự ra đời của Thông tư số 12 của Ngân hàng Nhà nước, pháp luật đã dỡ bỏ chế độ trần lãi suất và thiết lập hoàn toàn cơ chế lãi suất thoả thuận đối với các tổ chức tín dụng là không đúng.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư số 12/2010/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 14/4/2010 để hướng dẫn các tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay theo lãi suất thoả thuận. Theo đó, các TCTD thực hiện cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với “nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả“.

Những hệ lụy pháp lý

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết 23 ngày 06/11/2008 của Quốc hội thì những khoản cho vay ngoài cho vay sản xuất kinh doanh có hiệu quả và việc huy động vốn của TCTD vẫn phải tuân thủ chế độ trần lãi suất qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005.

Do vậy, việc NHNN chấm dứt hiệu lực thi hành của Quyết định số 16 và 33 năm 2008 của NHNN về cơ chế trần lãi suất không có nghĩa là qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 về trần lãi suất không còn hiệu lực thi hành đối với các TCTD.

Mặt khác, Thông tư số 12 qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh “có hiệu quả“. Nói cách khác, đối với các dự án, phương án không “có hiệu quả” hoặc không tính được hiệu quả thì vẫn phải thực hiện chế độ trần lãi suất cho vay.

Tuy nhiên, Thông tư số 12 chưa giải thích, hay nói cách khác, không hướng dẫn  tiêu chí cho việc đánh giá một dự án, phương án sản xuất-kinh doanh là có hay không có hiệu quả. Bởi vậy, dễ sinh ra tranh chấp hợp đồng tín dụng, dễ làm cho các TCTD phạm luật. Chẳng hạn, một dự án đầu tư  mang lại một tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 11,5 %/năm, lúc khác đã có thể được xem là “có hiệu quả“, nhưng lúc này thì chưa hẳn vì nếu không đầu tư mà đem tiền gửi vào ngân hàng cũng được một số lãi tương đương. Nên, nếu trừ chi phí cơ hội thì dự án  thành không có hiệu quả. Hoặc như khoản vay của các doanh nghiệp hiện tại đang làm ăn không có lợi nhuận, thua lỗ, …

Điều hết sức đáng lo ngại là Thông tư số 12 không tuân thủ Nghị quyết số 23 của Quốc hội khi Thông tư này qui định các TCTD được cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với cả các nhu cầu vốn phục vụ đời sống. Các Nghị quyết của Chính phủ có liên quan  như Nghị quyết số 30 ngày 11/12/2008, Nghị quyết số 12 phiên họp Chính phủ thường ký tháng 2 năm 2009, Nghị quyết số 18 ngày 6/4/2010 đều chỉ đạo NHNN hướng dẫn các TCTD thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với “dự án sản suất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“, mà không có nghị quyết nào qui định NHNN cho phép các TCTD cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với nhu cầu vốn phục vụ đời sống.

Và gần đây khi chủ trì buổi làm việc tại NHNN ngày 20/4/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “NHNN chú ý chỉ đạo, hướng dẫn các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thoả thuận đối với dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả theo Nghị quyết của Quốc hội“.

Giải pháp hợp thức để tranh chấp không phát sinh

Nhưng, điều nguy hiểm là TCTD phải đối mặt với rủi ro về hợp đồng tín dụng vô hiệu do vi phạm pháp luật về lãi suất cho vay một khi khách hàng khởi kiện. Và, khách  hàng có  thể  kiện  bất cứ lúc nào vì Bộ luật dân sự năm 2005 không hạn chế về thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vi phạm pháp luật.

Điều này làm tăng khả năng mất an toàn hoạt động cho hệ thống các TCTD. Bởi vì, theo Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật (khoản 2 Điều 83) thì hướng dẫn  hay qui định của NHNN mà trái Nghị quyết của Quốc hội sẽ không có giá trị áp dụng.

Nếu cho rằng, thời điểm hiện nay là phù hợp để thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, chỉ có một cách duy nhất cho NHNN thực hiện được điều này mà không vi phạm pháp luật là NHNN ấn định lãi suất cơ bản ở mức đủ lớn để khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 không phát sinh tác dụng đối với các TCTD.

Chẳng hạn, NHNN chỉ cần ấn định lãi suất cơ bản mức 9%/năm trở lên và thực hiện các biện pháp hạ lãi suất mà NHNN lựa chọn thì sẽ không có trần lãi suất  trên thực tế đối với các TCTD.

Luật NHNN không qui định một sự ràng buộc nào về lượng giữa lãi suất cho vay của các TCTD với lãi suất cơ bản, và vì điều mà các TCTD thực sự quan tâm đó là lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu cũng như các điều kiện và mức độ NHNN thoả mãn nhu cầu của các TCTD về tín dụng từ NHNN.

Muốn cho trần lãi suất trở thành trần hình thức hay muốn dỡ bỏ chế độ trần lãi suất đối với các TCTD mà lãi suất cho vay của các TCTD không vượt mức mong muốn của NHNN thì vấn đề cốt lõi là NHNN phải thực hiện được cân bằng quan hệ cung cầu tín dụng ngân hàng tại mức lãi suất mong muốn của NHNN.

Để cân bằng cung cầu tín dụng ngân hàng, có nhiều cách. Trong đó có những cách mà NHNN đã công bố như tăng mức độ đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho các TCTD, … nhưng một trong các cách mà NHNN cần hết sức quan tâm là kiểm soát tốt, có hiệu qủa đối với chất lượng tín dụng của các TCTD.

Khi những ràng buộc pháp lý còn hiệu lực thì NHNN cũng như các TCTD cần định lượng những tiêu chí trong quá trình thực hiện Thông tư số 12 của NHNN  để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

March 17, 2010

Gian nan tìm nguồn vốn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:06 pm
Tags: ,

Việc khan hiếm nguồn vốn huy động trong năm nay phần lớn là do trong năm ngoái, các ngân hàng đã tăng cường cho vay quá nhiều.

Hiện nay, ngân hàng đã được cho vay các khoản vay trung dài hạn với lãi suất thỏa thuận, tức có thể cao hơn lãi suất trần, nhưng đầu vào – tức lãi suất huy động thì vẫn bị chặn ở mức cao nhất là 10,5%/năm. Do vậy, các ngân hàng hiện chỉ còn cách chạy đua về mặt sản phẩm, khuyến mãi… để thu hút nguồn tiền từ trong dân.

Tung sản phẩm mới

Anh H., khách hàng gửi tiết kiệm tại Techcombank, cho biết còn gần một tuần nữa thì sổ tiết kiệm 270 triệu đồng của anh tại ngân hàng này mới đến hạn. Tuy nhiên, trong vòng mấy ngày mà anh đã phải liên tục nhận bốn cú điện thoại của nhân viên ngân hàng mời chào nếu tiếp tục gửi lại ngân hàng chỉ cần kỳ hạn 1 tháng thôi thì anh sẽ được tăng thêm 180.000 đồng bên cạnh lãi suất 10,49%/năm. “Chỉ cần đến là sẽ có người làm thủ tục thật nhanh cho tôi liền. Tôi rất ngạc nhiên, đây là lần đầu tiên tôi thấy mình được ngân hàng săn đón mặc dù đã gửi tiết kiệm nhiều năm rồi”, anh nói.

Trong năm nay, ngân hàng nào cũng đều đặt mục tiêu phải tăng trưởng nguồn vốn huy động cao ít nhất cũng là 30-40%. Tuy nhiên, lãi suất thì không thể cạnh tranh được với nhau vì ngân hàng nào cũng đã đưa lãi suất kỳ hạn từ 1-12 tháng ở mức 10,49%/năm. Vì thế, các ngân hàng gần đây liên tục tung ra những sản phẩm tiết kiệm với đủ loại tên để thu hút khách.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) từ đầu tháng 2 đến giờ đã đưa ra đến tám chương trình chăm sóc khách hàng, như tăng lãi suất, tung ra sản phẩm mới với nhiều ưu đãi… Mới đây, SCB đã cho ra mắt chương trình khuyến mãi “Rước lộc quà tặng” từ 15-3 đến 29-4 áp dụng đối với khách hàng cá nhân gửi tiết kiệm bằng tiền đồng hoặc đô la Mỹ kỳ hạn từ 1 đến 60 tháng. Tham gia chương trình, khách hàng có thể nhận đến ba ưu đãi tặng thêm tiền mặt, bao gồm: tặng ngay tiền mặt với tỷ lệ lên đến 0,6%/năm (trên số dư bằng tiền đồng) và 0,24%/năm (trên số dư bằng đô la), tặng tiền mặt cho khách hàng đã giao dịch ít nhất một lần ở SCB, và tặng tiền mặt khi khách hàng duy trì đúng hạn.

Ngoài các ưu đãi tặng tiền mặt nêu trên, khi gửi 2 tỉ đồng hoặc 120.000 đô la Mỹ với kỳ hạn từ ba tháng trở lên, khách hàng còn được tặng ngay một chỉ vàng SJC. Ngân hàng cũng mua vàng với giá cao hơn giá niêm yết cho các khách hàng muốn bán vàng lấy tiền đồng để gửi tiết kiệm.

Một lãnh đạo của ngân hàng này cho biết nhờ đưa nhiều loại sản phẩm mà vừa qua ngân hàng cũng huy động được kha khá, và đặc biệt trong ngày 16-3 huy động được tới 200 tỉ đồng.

Nhiều sản phẩm với các chương trình hấp dẫn như SCB mà huy động chỉ tăng “kha khá” theo vị lãnh đạo trên, vì thế những ngân hàng ít chương trình thì càng khó mà huy động vốn.

Ngân hàng Việt Á cũng từ đầu tuần này đưa ra sản phẩm tiết kiệm được lãnh lãi trước cho tất cả các kỳ hạn từ 1-12 tháng.

Còn Ngân hàng ACB, ngân hàng dẫn đầu khối ngân hàng cổ phần, cũng không thể đứng ngoài cuộc đua vì từ ngày 15-3, ACB đã triển khai chương trình khuyến mãi rút thăm may mắn đối với khách hàng gửi tiết kiệm. Tổng giá trị giải thưởng của chương này lên đến 2,5 tỉ đồng.

Tổng giám đốc ACB, ông Lý Xuân Hải “than” rằng huy động của ngân hàng từ sau Tết tăng không đều và tập trung vào các kỳ hạn ngắn, nhưng số cuối kỳ thì tương đối tốt. “Huy động so với tháng 10,11 năm ngoái thì tốt hơn hẳn nhưng so với giữa năm 2009 thì chỉ bằng khoảng 60%”, ông Hải nói.

Ông Cao Văn Đức, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Việt Nam Thương Tín (VietBank), thì cho biết so với đầu năm vốn huy động của ngân hàng chỉ tăng xấp xỉ 10%, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng của ngân hàng.

Đa dạng nguồn vốn huy động

Không dồn sức vào việc tung ra nhiều chương trình khuyến mãi, nhiều sản phẩm với lãi suất cao, một số ngân hàng như Sacombank thì tập trung vào việc đa dạng nguồn vốn huy động.

Ông Trần Xuân Huy, Tổng giám đốc Sacombank, phát biểu tại đại hội cổ đông đầu tuần rằng mục tiêu tăng 48% tổng huy động trong năm nay của ngân hàng không phải là dễ dàng trong bối cảnh cạnh tranh thu hút tiền gửi gay gắt như hiện nay nhưng Sacombank sẽ tìm cách để đa dạng nguồn vốn của mình.

Sacombank sẽ tiếp tục xúc tiến để vay vốn của các tổ chức nước ngoài cũng như phát hành trái phiếu nhằm đảm bảo nguồn vốn trung, dài hạn cho ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng này cho biết đang tập trung phát triển đội ngũ nhân viên bán hàng, túc trực tại các điểm giao dịch của Sacombank để tư vấn thật cặn kẽ cho khách hàng về tất cả các sản phẩm mà ngân hàng có. “Dần dần, số lượng các giao dịch viên sẽ giảm và đội ngũ nhân viên bán hàng của Sacombank sẽ tăng lên”, ông Huy nói.

Bên cạnh huy động tiền đồng, các ngân hàng còn chạy đua tăng lãi suất huy động đô la Mỹ lên để hút tiền gửi đô la Mỹ và khuyến khích doanh nghiệp chuyển sang vay đô la Mỹ với lãi suất thấp hơn, phần nào giảm bớt áp lực vay tiền đồng.

Việc khan hiếm nguồn vốn huy động trong năm nay phần lớn là do trong năm ngoái, các ngân hàng đã tăng cường cho vay quá nhiều, vượt hơn hẳn so với khả năng huy động vốn của mình. Trong năm 2009, tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn ngành là 38% trong khi huy động chỉ tăng 28,7%. Hai tháng đầu năm 2010, theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước, huy động vốn giảm 0,17% so với cuối năm 2009 trong khi tín dụng lại tăng 1,4%.

Lãi suất gỡ nửa vời làm thêm rối

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:57 pm
Tags: , ,

TT – Đang diễn ra nhiều hiện tượng không bình thường trên thị trường tiền tệ. Người gửi tiền tiết kiệm luôn có thói quen gửi ngắn hạn, một vài tháng, thậm chí một vài tuần, bỗng dưng nay lại gửi đến 24 tháng (2 năm), thậm chí 36 tháng (3 năm).

Sự không bình thường này dẫn đến không bình thường khác là vốn huy động trung – dài hạn của ngân hàng (NH) vốn luôn ì ạch thì nay lại có xu hướng tăng.

Chưa hết, nhiều doanh nghiệp lại dồn dập vay vốn trung – dài hạn để sản xuất kinh doanh. Sự gia tăng vay vốn để đầu tư cũng là bất thường vì thị trường tiêu thụ trong thời gian tới không có gì hứa hẹn sẽ tăng trưởng đột biến.

Một điểm không bình thường nữa là đột nhiên nhiều NH giảm cho vay ngắn hạn mà chỉ lo cho vay trung – dài hạn.

Những điều không bình thường nêu trên diễn ra kể từ khi NH Nhà nước cho NH được áp dụng lãi suất thỏa thuận khi cho vay vốn trung – dài hạn nhưng vẫn buộc NH phải thực hiện trần lãi suất khi cho vay ngắn hạn.

Thật ra chẳng có chuyện người dân gửi tiền dài hạn, họ vẫn gửi ngắn hạn. Cũng không hề có chuyện doanh nghiệp mạnh tay vay vốn trung – dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.

NH vẫn cho vay ngắn hạn bình thường. Chỉ có khác là tiền vay ngắn hạn ấy đã được chuyển sang núp dưới hình thức trung – dài hạn để được hưởng lãi suất thỏa thuận.

Có nhiều thuận lợi giúp NH lắt léo, biến ngắn thành dài. Điều đáng nói là những thuận lợi ấy được hình thành từ cơ chế trần lãi suất. Trần lãi suất huy động đã tạo ra mặt bằng lãi suất huy động xoay quanh 10,499%/năm cho tất cả các kỳ hạn, từ một tuần đến 36 tháng. Khách hàng gửi tiền 3 tháng nhưng NH động viên gửi kỳ hạn 24 hoặc 36 tháng với cam kết cho rút bất kỳ lúc nào, vì vậy gửi dài nhưng ngắn.

Vì sao NH phải biến tiền gửi ngắn hạn của khách hàng thành tiền gửi dài hạn? Đây cũng là cách NH lách để có vốn cho vay. Thực tế NH không thể huy động được nguồn vốn trung – dài hạn, mà phải chuyển 30% vốn ngắn hạn để cho vay trung – dài hạn. Nhiều NH đã dùng hết hạn mức này nên phải biến khoản gửi ngắn hạn của khách hàng thành trung – dài hạn để được cho vay theo lãi suất thỏa thuận.

Sự lắt léo, chuyển ngắn thành dài này là việc làm bất đắc dĩ của các NH nhưng là cần thiết để khơi thông dòng vốn.

Có nguyên nhân buộc các NH phải lách, đó là trần lãi suất cho vay. Nhiều NH nói họ thà để tiền trong kho còn hơn cho vay ngắn hạn theo trần lãi suất 12%/năm. Cho vay theo trần lãi suất 12%/năm chỉ ngang với mức lãi suất mà NH trả cho người gửi tiền (gồm 10,499% cộng với các khoản khuyến mãi, thưởng…), xem như NH lỗ phần chi phí khoảng 3%.

Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã đề nghị phải xóa bỏ trần lãi suất, cả huy động lẫn cho vay để khai thông dòng vốn. Nghị quyết của Chính phủ cũng mở đường để bỏ trần lãi suất vay ngắn hạn. Thế nhưng, thay vì gỡ tất cả thì NH Nhà nước lại chỉ bỏ trần lãi suất cho vay trung – dài hạn. Cơ chế cho dài buộc ngắn này tuy khai thông được vốn trung – dài hạn nhưng lại làm méo mó hoạt động huy động và cho vay vốn ngắn hạn.

Điểm khác giữa vốn ngắn hạn với trung – dài hạn là ngày tháng. Vay ngắn hạn thì 365 ngày trở lại. Còn vay trung – dài hạn phải trên 12 tháng, tức 366 ngày. Chỉ chênh nhau một ngày nhưng lãi suất vay lại chênh 3-5%/năm.

Các chuyên gia đã cảnh báo nếu cứ cho dài buộc ngắn, NH phải lách, dẫn đến những hệ quả xấu, đó là hạch toán của NH không phản ánh đúng thực chất các khoản vay/gửi; làm méo mó các con số thống kê, tưởng rằng doanh nghiệp gia tăng đầu tư, mở rộng sản xuất nhưng thực chất chỉ là những khoản vay ngắn hạn thông thường…

March 13, 2010

Có cơ chế mới – luồng vốn vẫn chưa thông

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:10 pm
Tags: , ,
(VOV) – Đã bắt đầu xuất hiện những “nút” thắt mới cần phải tiếp tục điều chỉnh chính sách từ phía Ngân hàng Nhà nước mới có thể khai thông luồng vốn và thực hiện mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát.

Đã hơn chục ngày sau khi Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay với lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn, thị trường vốn vẫn chưa được khai thông như kỳ vọng.

Trước hết phải khẳng định, cơ chế lãi suất thoả thuận áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn là một giải pháp tháo gỡ “nút thắt” cho doanh nghiệp và ngân hàng ở khâu cho vay và vay vốn. Một khi ngân hàng và khách hàng được tự do thỏa thuận lãi suất sẽ tránh được những bóp méo hay “lách luật” theo kiểu thu phí “ngầm” của các ngân hàng hiện nay – một tình trạng mà ngay cả Ngân hàng Nhà nước đã không thể kiểm soát được.

Tuy nhiên, cơ chế mới đã có hơn chục ngày, nhưng thị trường vốn vẫn ì ạch chưa khai thông vì nhiều lý do. Một mặt bằng lãi suất cho vay thỏa thuận mới sẽ được thiết lập đã không diễn ra nhanh như dự báo. Các ngân hàng thương mại vẫn đang trong trạng thái “nhìn nhau” và thận trọng thăm dò để đưa ra mức lãi suất hợp lý không quá cao hay quá thấp so với các ngân hàng khác…

Cũng dễ hiểu bởi trên thực tế, nếu một ngân hàng nào đó đưa ra lãi suất thỏa thuận cao quá, khách hàng có thể chuyển sang giao dịch với ngân hàng khác. Tất nhiên, theo qui luật thị trường sẽ có một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, mà phần thắng sẽ thuộc về ngân hàng nào mời chào lãi suất hợp lý, đi kèm chất lượng dịch vụ tốt trong việc lôi kéo và giữ chân khách hàng.

Tuy nhiên, cái khó của các ngân hàng hiện nay là khi thực hiện cơ chế mới, các ngân hàng không huy động được vốn vì vướng lãi suất trần 10,5%, mức lãi suất được xem là không hấp dẫn người gửi tiền. Nghịch lý đường cong lãi suất một lần nữa lại diễn ra trên thị trường tiền tệ hiện nay khi lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn đều không có sự khác biệt và thường không vượt quá 10,5%/năm.

Theo lẽ thường, kỳ hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao, nhưng hiện nay các kỳ hạn đều có mức lãi suất gần sát nhau với độ chênh lệch không đáng kể nên người gửi tiền không mấy mặn mà đem tiền gửi ở ngân hàng từ 12 tháng đến 36 tháng. Theo tính toán của một số chuyên gia kinh tế, giá trị quà tặng khuyến mãi hay tặng tiền mà một số ngân hàng đang áp dụng chiếm khoảng 30% lãi suất huy động. Vì thế, không ít ngân hàng cho rằng, trần lãi suất đang là “chiếc áo quá chật” đối với tình hình hoạt động của thị trường tín dụng.

Có thể hình dung đơn giản là dù cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng với các khoản vay trung dài hạn, tức là đầu ra đã mở nhưng đầu vào vẫn đóng. Một tâm lý chung là các ngân hàng gần như “án binh” trong tâm lý chờ tín hiệu của thị trường, tín hiệu bỏ trần lãi suất huy động 10,5% và mở rộng cơ chế thỏa thuận đối với cả vay ngắn hạn  từ phía ngân hàng Nhà nước.

Đã có không ít chuyên gia đang cảnh báo thị trường sẽ méo mó nếu cứ duy trì cơ chế lãi suất như hiện nay. Khi lãi suất đầu vào  bị chặn ở trần 10,5%,  các ngân hàng sẽ không huy động được tiền gửi, khi đó tiền sẽ trôi nổi bên ngoài lưu thông gây ra lạm phát, trong khi ngân hàng không có vốn để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Có lẽ bài toán khó nhất lúc này đối với Ngân hàng Nhà nước là nếu dỡ trần lãi suất huy động liệu có xảy ra tình trạng ngân hàng chạy đua đẩy lãi suất lên cao và kịch bản tồi tệ của năm 2008 có thể lặp lại hay không? (khi đó lãi suất cho vay bị đẩy lên cao kỷ lục 22%/năm khiến doanh nghiệp điêu đứng). Hay câu chuyện thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận có thể sẽ khiến cho chi phí sản xuất cho doanh nghiệp vay vốn trung, dài hạn chảy vào những lĩnh vực vốn được coi là nhạy cảm như bất động sản, chứng khoán…?

Tuy nhiên, đứng ở một góc độ khác, không ít chuyên gia lại cho rằng, có những tín hiệu và cơ sở để tin rằng, khi dỡ trần lãi suất, có thể thời gian đầu lãi suất sẽ tăng lên nhưng sau đó theo quy luật cung – cầu, lãi suất sẽ giảm theo tín hiệu thị trường. Cái được lớn nhất là dòng vốn sẽ thông thoáng khi người gửi được trả lãi suất như mong muốn và người đi vay có được vốn./.

March 12, 2010

Lãi suất cho vay đã quá sức chịu đựng doanh nghiệp?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:48 pm
Tags: ,


SGTT – Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.

Nếu lãi suất cao hơn nữa, doanh nghiệp sẽ… gửi tiết kiệm thay vì kinh doanh. Tốc độ huy động vốn của các ngân hàng từ đầu năm đến nay rất chậm. Ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng Á Châu (ACB) cho biết, dư nợ huy động hai tháng đầu năm ở ACB chỉ tăng nhẹ, nhưng không đều đặn và ổn định, tốc độ chỉ bằng khoảng 50% thời điểm giữa năm 2009.

Bao nhiêu là quá sức?

Đồng thời, như nhiều ngân hàng khác, tốc độ tăng trưởng tín dụng ở ACB cũng chậm chạp và hầu như đứng im. Ngoài việc tăng trưởng cho vay khó đạt cao vì ngân hàng đang gặp khó khăn thanh khoản, ông Lý Xuân Hải cho rằng, đối với nhiều doanh nghiệp, vốn cũng đang gặp nhiều khó khăn, thì lãi suất dần gia tăng đến ngưỡng doanh nghiệp khó thể gánh chịu, và cũng là lý do khiến tốc độ tín dụng chậm lại.

Ở mức lãi suất thoả thuận 17 – 18%/năm phổ biến trên thị trường hiện nay, doanh nghiệp có dự án khả thi và mức lợi nhuận cao thì mới tìm đến ngân hàng. “Mức lãi suất cho vay 17 – 18% hãy còn trong giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp, nhưng nếu vượt cao hơn, tôi cho rằng họ khó có thể chịu đựng hơn”, ông Hải nói.

Theo ông, qua theo dõi các năm 2002 – 2007, thời điểm nền kinh tế ổn định và các doanh nghiệp kinh doanh tương đối tốt, các doanh nghiệp Việt Nam thường có 1 đồng thì đi vay 2 đồng (tỷ lệ vay/vốn khoảng 2 lần). Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong khoảng 25 – 30%. Lãi suất vay tổ chức tín dụng vào thời kỳ đó từ 12 – 14%/năm. Như vậy, nếu lãi suất vay tăng 5 – 6% lên 18 – 19% sẽ làm ROE giảm xuống còn khoảng 15 – 18%, tương đương lãi suất huy động. Điều này làm tăng rủi ro hoạt động, ảnh hưởng đến lợi nhuận, các doanh nghiệp không còn hứng thú đầu tư mở rộng mới. Thay vào đó, họ có tiền sẽ đem gửi tiết kiệm, vì hiệu quả như nhau mà rủi ro thấp hơn nhiều.

Theo ThS Đào Trung Kiên, giảng viên khoa ngân hàng đại học Kinh tế TP.HCM, với mức lãi suất đi vay 18%/năm, nhìn chung các doanh nghiệp phải có tỷ suất lợi nhuận khoảng 25% mới bù đắp được chi phí sử dụng vốn. Giả sử lãi suất cao hơn mức trên, doanh nghiệp sẽ lại lao đao như hồi năm 2008, ông nói.

Lãi suất cho vay sẽ giảm

Theo báo cáo chiến lược đầu năm nay của công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), năm 2010 các doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí lãi vay cao hơn 63% so với chi phí lãi vay của 273,16 ngàn tỉ đồng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất mà các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân được hưởng trong năm 2009. Với mức hỗ trợ lãi suất bình quân là 4%, với số dư nợ này, các doanh nghiệp phải trả lãi khoảng 21,8 ngàn tỉ đồng/năm (lãi suất 8%). Trái lại, với mức lãi suất thị trường hiện tại là 13%/năm thì các doanh nghiệp sẽ phải trả lãi 35,5 ngàn tỉ đồng (ở mức lãi suất cho vay thương mại thông thường). Và nếu lãi suất cơ bản tăng lên 9% vào cuối quý 1 thì chi phí lãi vay sẽ là 38,2 ngàn tỉ đồng.

Điều đáng mừng là thanh khoản đã được cải thiện. Theo ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng vào tuần trước bình quân ở mức 7,44%/năm, giảm mạnh so với mức 10,69% ở tuần gần cuối tháng 12.2009, và so với mức 9,37% tuần đầu tháng 2. Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, lãi suất cho vay thoả thuận cách đây một tuần khoảng 12 – 14%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, khoảng 15 – 17%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần. Đây là tác động tích cực. Theo ông Lý Xuân Hải, chi phí vay vốn của doanh nghiệp hiện nay không tăng mà có xu hướng giảm đi so với ba – bốn tháng trước, lúc thị trường thiếu hụt thanh khoản hơn hiện nay. “Bây giờ, ACB có thể cho vay doanh nghiệp ở mức 15 – 16%/năm, chứ lúc trước khó có thể ở mức này”, ông nói.

Dù vậy, ngân hàng vẫn khó tăng cho vay ra nếu không huy động được như các số liệu công bố gần đây. Nhiều ý kiến cho rằng, nếu ngân hàng Nhà nước sắp tới dỡ bỏ quy định trần lãi suất huy động, thì lãi suất huy động sẽ tăng lên, nhưng lãi suất cho vay có thể sẽ giảm xuống, chênh lệch cho vay và huy động khoảng 3,5 – 4% là mức đảm bảo ngân hàng kinh doanh có lời. Nhiều người trông đợi vào cuộc họp mới đây giữa hiệp hội Ngân hàng Việt Nam với đại diện các ngân hàng, mà theo giới thạo tin, sau cuộc họp này, họ sẽ có kiến nghị bỏ lãi suất huy động trần hiện nay.

Lãi suất và rủi ro pháp lý

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:24 pm
Tags: , , ,

Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát.

Với chủ các ngân hàng và doanh nghiệp, đây là quyết định không thể không hợp thức hóa hoạt động thực tiễn lâu nay của họ, giúp khơi thông nguồn vốn đã có dấu hiệu tồn đọng và phát sinh những khoản chi phí khi giao dịch mà không thể đưa vào sổ sách kế toán. Với một số ý kiến chuyên gia nhìn bằng lăng kính pháp lý hiện hành và những doanh nghiệp đang họat động chủ yếu bằng nguồn vốn vay, mà không thể huy động vốn bằng các nguồn khác, thì mức lãi suất mà họ có thể thỏa thuận hiện nay chắc chắn sẽ phạm Luật dân sự vì đã phải chấp thuận mức lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản (8%/năm) mà Ngân hàng Nhà nước công bố.

Giữa những luồng ý  kiến băn khoăn ấy, những thông tin về các vụ giật hụi, chủ nợ cho vay nặng lãi, doanh nghiệp đút lót cả chục tỷ đồng cho quan chức Ngân hàng để nhận được khoăn vay theo lãi suất quy định của pháp luật vẫn rộn ràng khắp nơi.

Ngoài vụ bị bắt quả tang như ở BIDV, dường như các vụ tranh chấp vay nợ theo lãi suất thỏa thuận nặng lãi bên ngoài không có dấu hiệu sẽ được giải quyết bằng thủ tục pháp lý bởi các cơ quan công quyền với lý do con nợ và chủ nợ tự thỏa thuận cách giải quyết với lý do “hành vi thỏa thuận nợ không được chính quyền công nhận, bất hợp pháp ngay từ khi nó phát sinh”.

Hơn nữa, cần tách bạch hợp đồng tín dụng của các pháp nhân là ngân hàng thương mại với những thỏa thuận dân sự giữa các thể nhân là công dân có năng lực pháp lý và khả năng chịu trách nhiệm pháp luật về hành vi trong cuộc sống hàng ngày. Có như vậy, việc lãi suất ngân hàng vượt ngưỡng 150% lãi suất cơ bản có được coi là hoạt động vi phạm pháp pháp luật hay không hay cơ chế nào để giải quyết những vụ trốn nợ, giật hụi đang xảy ra ngày càng phổ biến.

Ảnh: chaongaymoi.com

Hoạt động ngân hàng là hợp đồng kinh tế, dược đỉều chỉnh bằng các văn bản pháp lý Luật kinh tế, được phán xử tại Tòa kinh tế. Hoặc hành vi bằng các thủ đọan không trung thực để lừa gạt, dụ dỗ, cưỡng bức để bắt một người phải nhận nợ với lãi suất cao; hoặc một người đưa ra cam kết trả lãi suất cao mà không có bằng chứng cho thấy họ có năng lực và khả năng nâng cao giá trị khỏan vay để lấy tiền của người cho vay, là những dấu hiệu vi phạm đạo đức và pháp luật ngay khi bắt đầu thực hiện hành vi bởi động cơ không trung thực. Hành vi đó không thuộc hình thức hợp đồng kinh tế mà phải được coi là dấu hiệu của tội lừa đảo và phải được điều chỉnh bởi luật Dân sự, Luật hình sự.

Ngân hàng như một Nhà máy mà “đầu vào” cũng như  “đầu ra” đều là giá trị tiền. Hoạt động ngân hàng không đơn thuần là nhận tiền gửi rồi lại mang số lượng tiền ấy cho vay để nghiễm nhiên hưởng chênh lệch lãi suất.

Thực tế, có hẳn một Học viện Ngân hàng, nhiều thạc sỹ và tiến sỹ về họat đông ngân hàng trong và ngòai nước đang làm việc trong các tổ chức tín dụng này. Vậy thì, giữa đồng tiền “vào” và đồng tiền “ra” qua cửa ngân hàng chắc hẳn nó phải được xử lý, nó phải được phân tích để ra kết quả về mức lãi suất “vào” và khả năng rủi ro khi cho nó “ra”. Nhân lực ngân hàng phải xử lý các đầu đề bài toán đó và cho ra kết quả tối ưu bảo đảm lãi suất đủ thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội và dòng tiền ra phát huy hiệu quả cho chủ đầu tư và có tỷ suất cao quay trở lại khi đến hạn. Một hoạt động có kết tinh chất xám như thế trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt với các đối thủ không chỉ trong nước mà trong tương lai gần cả với các ngân hàng nước ngoài thì không thể quan niệm và kết luận rằng hoạt động ấy đơn thuần chỉ mang tính cơ học.

Đặc biệt, việc đánh giá rủi ro khi quyết định cho vay của Ngân hàng thực sự là một khoa học đòi hỏi các nhân viên có đạo đức nghề nghiệm vững, trình độ học vấn cao, kinh nghiệm thực tiễn phong phú…

Mọi đánh giá sai đều dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho nguồn vốn của chủ ngân hàng và đánh đổi bằng hiệu quả của rất nhiều dự án khác mới bù đắp được. “Mười đấm có lãi không bằng một cú đạp nợ khó đòi” – đó là câu dằn lòng của các cán bộ tín dụng.

Ngân hàng không thể  tự ý áp đặt lãi suất cả đầu ra lẫn đầu vào vì còn các đối thủ cùng ngành trong và ngoài nước cạnh tranh. Người vay cũng không buộc phải chấp thuận bất cứ lãi suất nào nếu như chi phí vốn không bù đắp được sự sụt giảm doanh thu và không có lãi, họ còn có quyền chọn ngân hàng để vay và cả cơ chế thỏa thuận trực tiếp bằng uy tín thương hiệu và độ tín nhiệm với ngân hàng.

Khi hoạt động của nền kinh tế phải chịu mức chi phí vốn đầu vào cao hơn mặt bằng trước đó thì cũng là động lực buộc các chủ đầu tư và doanh nghiệp vay vốn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay bằng áp dụng công nghệ tiên tiến, bằng cải tiến quản lý nâng cao năng suất và bằng các biện pháp tổng hợp khác để tồn tại và phát triển.

Ngược lại, hoạt động cho vay nặng lãi hầu như là các hoạt động giữa các cá nhân, không được pháp luật công nhận và  bảo vệ khi có tranh chấp. Dó đó, cả hai phía: bên cho vay và bên nhận nợ đều vi phạm Luật dân sự và Luật hình sự ngay từ khi phát sinh giao dịch. Và hầu như, các thể nhân tham gia giao dịch trong hoạt động này không đủ kiến thức đánh giá, nghiên cứu nhu cầu và khả năng hòan trả vốn trong các giao dịch này – ít nhất là từ phía người nhận nợ.

Vì thế, nên coi hoạt động ngân hàng là việc thực hiện các hợp đồng kinh tế và được điều chỉnh bằng các văn bản pháp quy về Kinh tế. Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước không phải chỉ đóng vai trò là khống chế trần lãi vay như quan niệm phổ biến mà còn đóng vai trò trong việc bày tỏ thái độ của Nhà nước về cung tiền, xu hướng điều chỉnh chính sách vĩ mô, quy định lãi suất của các nghiệp vụ tài chính khác: lãi suất tái cấp vốn, vay qua đêm, trái phiếu…

Đừng vì cách hiểu cứng nhắc và không đầy đủ về lãi suẩt cơ bản để làm ách tắc luồng lưu chuyển của tiền tệ trong nền kinh tế. Cơ thể của nền kinh tế sẽ yếu và đột tử nếu như dòng huyết mạch của nó là luồng tiền bị nghẽn mạch.

March 6, 2010

Tự do hoá lãi suất từng bước

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:08 pm
Tags:
Saturday, 6. March 2010, 16:30:21

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, NHNN nên tiếp tục khống chế trần lãi suất ngắn hạn ở mức thấp để từ đó khuyến khích dân chúng gửi tiền ở các kỳ hạn trung và dài hạn.

Khi bị khống chế bởi lãi suất trần, các NHTM luôn tìm mọi cách để vượt trần lãi suất bằng rất nhiều cách khác nhau như đề ra các khoản phí (phí dàn xếp khoản vay, phí quản lý, phí thẩm định, phí tư vấn,…) để thu từ khách hàng.

Ngày 26/2 NHNN đã ban hành Thông tư 07/2010/TT-NHNN cho phép các NHTM được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn.

Điều đó có nghĩa là NHTM có thể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất trần cho các khoản vay trung dài hạn. Có thể nói lãi suất đang được tự do hoá từng bước.

Khi bị khống chế bởi lãi suất trần, các NHTM luôn tìm mọi cách để vượt trần lãi suất bằng rất nhiều cách khác nhau như đề ra các khoản phí (phí dàn xếp khoản vay, phí quản lý, phí thẩm định, phí tư vấn,…) để thu từ khách hàng.

Trần lãi suất còn cần?

Trong điều kiện thị trường có nhiều rủi ro hơn (tính bất định cao hơn,…) và khi NHTM đã thực hiện cắt giảm hết mức các chi phí có thể cắt giảm được thì yêu cầu về tăng lãi suất là hoàn toàn phù hợp vì đó là sự chia sẻ chi phí giữa những “người tham gia cuộc chơi”.

Các chuyên gia cho rằng, những trường hợp khác mà NHTM tìm mọi cách tăng lãi suất hay tăng phí để tận thu từ khách hàng hay nền kinh tế đều coi là không tốt cho nền kinh tế và có thể coi là trục lợi.

Nhất là trong các trường hợp NHTM ở vào vị thế độc quyền; hoặc những NHTM (hoặc đối tượng khác tương tự NHTM) do chi tiêu quá mức mà lại tìm mọi cách tăng lãi suất huy động, hoặc tăng lãi suất cho vay quá đáng (vượt xa mặt bằng lãi suất thị trường) thì đó lại là vấn đề đáng quan ngại.

Thậm chí khi NHTM huy động với lãi suất cao đó lại là hành vi trục lợi nguy hiểm như mô hình xây tháp ngược (Pyramid scheme), hay đó là tình trạng NHTM quá căng thẳng về thanh khoản mà phải huy động bằng mọi giá… Khi thị trường tài chính còn ở mức kém phát triển, thì người gửi tiền vẫn chạy theo lãi suất là điều bình thường.

Người ta vẫn rút tiền ở nơi thấp để gửi vào NHTM có lãi suất cao và không ngờ đó là cái “bẫy lãi cao”. Thực tế năm 2008 ở VN cho thấy hiện tượng này đã diễn ra đối với thị trường ngân hàng VN và đã tạo nên cuộc đua lãi suất rất đáng quan ngại.

Như vậy, các hình thức hạn chế (như lãi suất trần) sẽ là cần thiết khi thị trường chưa phát triển có chiều sâu (mức độ cạnh tranh thấp, khả năng quản lý rủi ro hạn chế,…) và khả năng giám sát khu vực ngân hàng của các cơ quan chức năng còn gặp nhiều trở ngại.

Thực tế ở VN thời gian qua cũng cho thấy việc áp dụng lãi suất trần và cứng nhắc quá lâu đã làm cho lãi suất thị trường tiền tệ rơi vào tình trạng mất cân bằng mà biểu hiện của nó là DN khó vay được vốn từ ngân hàng với lãi suất như quy định mà phải trả thêm các khoản phụ phí khó giải thích.

Và NHTM cũng khó huy động được vốn. Một số chuyên gia hàm ý rằng, việc duy trì lãi suất theo cơ chế quản lý quá mức sẽ làm mất một số chức năng của lãi suất là tín hiệu của thị trường tiền tệ… làm hỏng hệ thống báo cáo tài chính của các DN (vì các DN không biết hạch toán các khoản phụ phí vô lý phải chi vào đâu…).

Lợi ích từ chính sách

Việc ngày 26/2/2010, NHNN đã ban hành Thông tư 07/2010/TT-NHNN cho phép các NHTM được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn, có thể đánh giá như sau:

Về hiệu quả chính sách, chắc chắn các NHTM có thể cho vay trên cơ sở bù đắp được rủi ro dự tính của thị trường và rủi ro ở mỗi dự án, cân đối để có lãi (chênh lệch lãi suất đầu ra/đầu vào). Khi cho vay được, NHTM sẽ tăng cường huy động… và DN sẽ an tâm đầu tư vào sản suất kinh doanh (vì đây là các khoản vay trung và dài hạn)… Thị trường sẽ vận hành trôi chảy và lãi suất thị trường sẽ cân bằng.

Nếu cơ quan quản lý kiên trì mục tiêu này thì rất có thể sẽ thay đổi được cơ cấu nguồn vốn trung và dài hạn hiện nay – vấn đề cốt lõi và căn bệnh cố hữu đã lâu ở các NHTM. Hơn thế nữa, qua đó mới đảm bảo tăng trưởng tín dụng bền vững.

Theo cách thức nới rộng quản lý này, lãi suất các khoản trung và dài hạn (kể cả huy động và cho vay) sẽ cao hơn lãi suất ngắn hạn, phù hợp với nhu cầu vốn và mức độ rủi ro. Thực tế cho thấy, các NHTM hiện nay đang ở vào tình trạng mất cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn: 80% là vốn ngắn hạn, trong khi 60% là cho vay trung và dài hạn.

Người ta có thể hỏi rằng, còn lãi suất ngắn hạn thì sao? Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, NHNN nên tiếp tục khống chế trần lãi suất ngắn hạn (nhất là lãi suất huy động và lãi suất tiền gửi ngoại tệ) ở mức thấp để từ đó khuyến khích dân chúng gửi tiền ở các kỳ hạn trung và dài hạn.

Chính sách cho các NHTM

Quan sát thị trường cho thấy, thời gian qua có rất nhiều NHTM rất lười cho các DN vay (cho vay nền kinh tế) mà họ chỉ cho vay lại để kiểm lời. Có giám đốc NHTM nói: “Tôi không cần cho DN vay, mệt lắm vì tôi có nguồn từ kho bạc nhà nước rồi. Tôi chỉ luộc lại các NHTM CP nhỏ”. Trong khi các NHTM CP, do cơ chế thoáng nên họ đầu tư rất mạnh vào các khoản trung và dài hạn (nhất là bất động sản và chứng khoán,…).

Về chính sách đối với các NHTM, trong điều kiện hiện nay, người ta cũng cho rằng, Nhà nước cần hạn chế các NHTM đầu cơ mạo hiểm (cho vay mua nhà, mua chứng khoán hoặc đầu tư bất động sản, đầu tư cổ phiếu…); hoặc hạn chế cho vay bán buôn quá nhiều; hoặc hạn chế hơn nữa việc vay trên thị trường liên ngân hàng để cho vay nền kinh tế…

Cụ thể, người ta cũng cho rằng, Nhà nước không nên cho các NHTM mua quá nhiều bất động sản để làm trụ sở như hiện nay mà chỉ nên cho phép NHTM có không quá hai địa điểm đất đai để làm trụ sở chính (tại Hà Nội và Tp HCM).

Các khoản cho vay lẫn nhau giữa các NHTM hoặc cho vay/đầu tư phi sản xuất thì Nhà nước không cấm nhưng đánh thuế thật cao, hoặc yêu cầu về dự phòng rủi ro thật cao… Có như vậy sẽ hướng dòng vốn vào khu vực sản xuất vật chất (khu vực DN sản xuất).

Tự do hoá theo cách nào ?

Việc hướng lãi suất tới cơ chế thị trường rõ ràng là định hướng phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của VN. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, việc tự do hoá tài chính (trong đó có lãi suất) từng bước, tuần tự đi đôi với quản lý phù hợp rõ ràng là cách đi phù hợp với VN.

Khi nguyên tắc đó được thực hiện, các mục tiêu chính sách có thể đạt được tốt nhất mà không gây nên những hiệu ứng tiêu cực cho nền kinh tế và DN. Khi DN vay được vốn ngân hàng với mức lãi suất hợp lý thì ngân hàng mới có lãi bền vững, góp phần giúp tăng trưởng kinh tế ổn định.

Theo Ths Lê Văn Hinh
DĐDN

March 4, 2010

Thỏa thuận lãi suất: Ngân hàng “cười”, DN “mếu”!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:45 am
Tags: , , , , ,

Nhiều doanh nghiệp nhận định, trước đây, trường hợp khách hàng vay trung, dài hạn để đầu tư sản xuất kinh doanh, ngân hàng phải áp lãi suất không quá 150% so với lãi suất cơ bản 8% một năm (tức là 12%/năm). Tuy nhiên, trên thực tế do thiếu vốn và phải huy động với chi phí cao, các ngân hàng đều tìm cách lách luật, cộng thêm phí, đẩy lãi suất doanh nghiệp thực trả cao hơn nhiều so với trần 12% một năm. Nhiều doanh nghiệp bị ám ảnh bởi chuyện ngay cả khi được vay theo lãi suất trần vẫn phải bấm bụng chi thêm nhiều thứ phí không rõ ràng khác.

Giờ, với cơ chế “thỏa thuận” mới, nhiều doanh nghiệp lại càng lo lắng hơn khi chi phí vốn bị đẩy lên cao, cộng thêm việc giá điện, giá xăng tăng… cũng sẽ khiến giá thành sản xuất tiếp tục bị đội lên, khó khăn lại càng chồng chất!

Ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Công ty Hải Vân (chuyên kinh doanh ống nước) cho biết, với mức lãi suất cho vay 16-17%/năm, doanh nghiệp khó mà chịu đựng nổi, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Áp lực lãi suất vay cao đang đẩy về phía các doanh nghiệp.

Trước tình hình đó, thậm chí một số doanh nghiệp đang có kế hoạch chuyển sang vay USD với lãi suất khoảng 5%/năm, bởi theo tính toán vẫn có lợi hơn vay VND.

Thỏa thuận có thực theo thị trường?

Theo một số ngân hàng, việc áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận là phù hợp với quy luật thị trường. Nhờ đó, các ngân hàng sẽ có sự cạnh tranh về lãi suất cho vay, chất lượng phục vụ. Ngân hàng nào có giá vốn thấp sẽ cho vay với lãi suất thấp. Và khi đó, khách hàng nào càng có hệ số tín nhiệm cao (trả nợ đúng hạn, quan hệ lâu dài…) sẽ được hưởng mức lãi suất thấp hơn.

Mặt khác, cơ chế thỏa thuận cũng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp rộng đường tìm các ngân hàng giá rẻ nhất, ngân hàng cũng dễ tiếp cận được các doanh nghiệp, tạo sự cạnh tranh theo cơ chế thị trường trên thị trường vốn tín dụng.

Phó Tổng Giám đốc một ngân hàng cổ phần cho hay: Công ty con của ngân hàng vẫn thực hiện thu phí đối với các khoản vay nhưng vừa làm vừa “run” vì nếu bị “tố” thì thanh tra ngân hàng sẽ vào cuộc. Vì vậy, việc được thỏa thuận lãi suất cho vay sẽ giúp ngân hàng có thể thực hiện tất cả các việc trên một cách công khai!

Đứng ở góc độ khác, một chuyên gia kinh tế nhìn nhận, ngân hàng chỉ chờ quy chế thỏa thuận này để tăng lãi suất và họ không có lý do gì để không thực hiện ngay trong những ngày tới, khi ngân hàng đang nắm tiền còn doanh nghiệp thì đói vốn.

Nhiều ý kiến còn lo ngại một cuộc đua lãi suất mới sẽ nóng ngay trong những ngày tới đây và lần này có thể còn căng thẳng hơn năm 2008 vì được “thỏa thuận”. Ngân hàng sẽ mặc nhiên “mặc cả” với doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp thì phải “ngậm bồ hòn” vì nếu ngoảnh mặt với ngân hàng, đồng nghĩa với việc họ tự đặt dấu chấm hết cho công việc kinh doanh của mình!

Chính vì vậy, chuyên gia ngân hàng, tiến sĩ Nguyễn Đại Lai cho rằng ngân cần phải đề phòng tình trạng một số ngân hàng có thể liên kết độc quyền, nâng giá lên làm cho người đi vay bị thiệt hoặc dùng vốn trung và dài hạn biến tướng ra thành đầu cơ tài chính.

Đồng tình với quan điểm này, ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cho hay, các ngân hàng thương mại phải nâng cao một bước hiệu quả quản lý, kiểm soát dòng vốn. Bởi với cơ chế mới, chi phí vốn tăng làm giá thành hàng hóa, dịch vụ tăng, mặt bằng giá cả nâng lên, tạo thêm áp lực kiểm soát lạm phát. Càng đáng ngại hơn nếu dòng vốn lại đổ vào những dự án kém hiệu quả, cung tiền tăng lên nhưng hàng hóa không tăng tương ứng, ngân hàng cũng khó thu hồi nợ.

Ông Kiêm nhấn mạnh: “Mặc dù được thỏa thuân, nhưng mặt bằng lãi suất cho vay cũng chỉ nên tối đa là 16%/năm, nếu vọt lên tới 18%-20% mỗi năm thì sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế”./.

Theo Minh Thúy (Vietnam+)

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.