Ktetaichinh’s Blog

January 19, 2010

“Vòng kim cô” quanh lãi suất cơ bản

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:56 pm
Tags:
Quyết định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản VND của Ngân hàng Nhà nước có thể xem là cực chẳng đã!…

Ngày 16/5/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 16 xác định cơ chế điều hành lãi suất cơ bản VND, chặn đứng “phong trào” đua lãi suất khi đó.

Cũng từ đó đến nay, chiếc “vòng kim cô” này bị chỉ trích mạnh mẽ trong các hội thảo chuyên ngành, và ngày 15/1/2010 tại Tp.HCM, lãi suất cơ bản và điều 476 của Bộ luật Dân sự tiếp tục bị cày xới thêm một lần nữa.

Một quyết định cực chẳng đã!

Một đặc trưng nổi bật nhất trên thị trường tiền tệ 5 tháng đầu năm 2008 là khan hiếm VND, lãi suất tiền gửi VND liên ngân hàng tăng dữ dội, có thời điểm lên tới 30 – 40%/năm, đẩy các ngân hàng thương mại vào cuộc chạy đua lãi suất vô cùng khốc liệt.

Hầu hết các ngân hàng thương mại khi đó hoạt động rất khó khăn, một vài ngân hàng nhỏ bị tê liệt. Việc cho vay mới tại các ngân hàng gần như bị đình chỉ. Công việc chính của các ngân hàng lúc đó là bằng mọi cách để cân đối thanh khoản.

Chưa nói đến chuyện lời lãi ở các ngân hàng, mà khả năng vỡ nợ ở một số ngân hàng, khiến nhiều người liên tưởng đến hiệu ứng “domino” cho cả hệ thống là khó tránh khỏi. Cùng với ngân hàng, doanh nghiệp là lực lượng kinh tế hứng chịu hậu quả nặng nề nhất.

Lúc đó, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông Cao Sĩ Kiêm đã công bố con số khiến những nhà quản lý phải giật mình: “20% doanh nghiệp phá sản, 60% nằm im dưới dạng “chết lâm sàng” và chỉ có 20% tiếp tục hoạt động”.

Trước tình hình đó, ngày 16/5/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 16/QĐ – NHNN, áp dụng cơ chế lãi suất thị trường bao gồm lãi suất huy động – cho vay không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản, được Ngân hàng Nhà nước công bố từng thời kỳ. Về sau, cơ quan này cũng “nhốt” cả lãi suất trên thị trường liên ngân hàng vào cùng “rọ” này.

Sự ra đời của quyết định trên cũng chấm dứt cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VND tại Quyết định 546/2002/QĐ – NHNN ngày 30/5/2002 mà chính ngành ngân hàng đã dày công xây dựng hàng chục năm ròng.

Gần như lập tức, thị trường tiền tệ được thiết lập trật tự. Lãi suất huy động – cho vay được ổn định, chuyện rồng rắn xếp hàng rút vốn ngân hàng này gửi sang ngân hàng kia để lấy lãi cao hơn cũng giảm mạnh.

Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước tăng cường giao dịch đối với nghiệp vụ thị trường mở nên lãi suất trên thị trường dịch chuyển trở lại trạng thái mong muốn của cơ quan điều hành.

Mặc dù vậy, phía ngân hàng thương mại rất “hậm hực” khi phải chấp hành quyết định này. Hầu như tại các diễn đàn chuyên ngành, những buổi trao đổi thông tin với giới truyền thông, họ đều bộc lộ bức xúc nhưng bao giờ cũng chốt lại “đừng trích dẫn tên tôi nhé” vì e ngại.

Kết thúc chuyện: Buồn ngủ gặp chiếu manh?

Khi nhìn nhận về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản tại Quyết định 16 nói trên, dù Ngân hàng Nhà nước dẫn ra nhiều căn cứ tham chiếu nhưng nổi lên trong đó là dựa vào điều 476 của Bộ luật Dân sự: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố”.

Thực ra, Ngân hàng Nhà nước đã nhận thấy bất cập và vào tháng 3/2007, trên cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước đã có ý kiến phản ánh vướng mắc do tổ chức tín dụng cũng bị coi là “các bên” trong Luật Dân sự 2005; kéo theo là hàng loạt hợp đồng cho vay của tổ chức tín dụng bị phạm luật vì: lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, đáng lẽ tổ chức tín dụng chỉ được phép cho vay 12,375%/năm thì phổ biến là hợp đồng chốt với nhau trên mức này.

Mặc dù vậy, mức độ phản ứng của Ngân hàng Nhà nước với điều 476 cũng chỉ dừng ở đó. Tuy nhiên, đến tháng 5/2008, khi thị trường tiền tệ bất ổn, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng chiếc “gậy” này để bình ổn lãi suất.

Tại hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) do Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội và Dự án Star Việt Nam tổ chức ngày 15/1/2010, bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng bày tỏ: “Theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997, lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh, tôi thấy còn mập mờ và phiến diện”.

“Mập mờ là vì Ngân hàng Nhà nước dựa vào cơ sở nào để xây dựng và công bố lãi suất cơ bản? Hơn nữa, loại lãi suất này không được dùng để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng nên nó không phản ánh được mối quan hệ giữa cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ”, bà Hương nói.

Mặt khác, lãi suất cơ bản phiến diện ở chỗ chúng đóng vai trò “làm cơ sở” cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh và không thể hiện quan hệ vay mượn trên thị trường, trong khi Ngân hàng Nhà nước cũng chính là một chủ thể trên thị trường. Thực tế, “làm cơ sở” cũng đồng nghĩa với “áp đặt” và đó là điều không dễ chấp nhận khi Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào thế giới.

Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước đã và đang có các công cụ lãi suất khác như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. Và theo bà Hương, đó là loại lãi suất được hình thành trên cơ sở mục tiêu của chính sách tiền tệ và trên quan hệ có thực, xảy ra hàng ngày giữa Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng.

Ngay cả trong quá trình thảo luận dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) gần đây, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng nói: “…lãi suất cơ bản của chúng ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay mượn nào giữa ngân hàng trung ương với tổ chức tín dụng”.

Như vậy, trong khi chưa xác định được vai trò thực sự của lãi suất cơ bản mà lại dựa vào đó để ấn định một loại lãi suất cho thị trường thì sự viển vông sẽ đến mức nào?

Và phải chăng, mục tiêu của điều 476 Luật Dân sự là tránh cho vay nặng lãi, nhưng cơ quan quản lý trong tình thế bí bách đã biến chúng thành công cụ hành chính để bình ổn lãi suất, nhưng là bình ổn theo cái cách làm cho thị trường bị méo mó thêm?

Advertisements

January 16, 2010

Sẽ sửa quy định về lãi suất cơ bản

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:38 pm
Tags: ,

http://my.opera.com/smalldreams/blog/show.dml/6545221

Mới đây, ngày 14-1, một cuộc họp của Quốc hội thống nhất sẽ họp thông qua bỏ quy định về lãi suất cơ bản trong Bộ luật Dân sự. Vì thực tế, quy định lãi suất huy động không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố là không phù hợp. Theo ông Nghĩa, quy định này không có khả năng thực thi trong thời gian dài vì các ngân hàng đều vi phạm, cả “bên đơn” và “bên bị” đều vi phạm nhưng không ai kiện ai.

Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, trong những năm tới, mục tiêu là phải chuyển từ nền kinh tế dựa vào tài nguyên sang nền kinh tế dựa vào năng suất và nền kinh tế dựa vào sáng tạo. Trong năm 2010, các ưu đãi thuế chấm dứt, các ngân hàng quốc tế tiếp tục tham gia vào thị trường Việt Nam. Cam kết WTO và AFTA khiến cho cạnh tranh ngày càng gay gắt và sòng phẳng hơn. Các chỉ tiêu kinh tế đưa ra cho nền kinh tế Việt Nam 2010 sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của ngân hàng: GDP tăng 6,5%, dự kiến đạt 1.931 tỉ đồng, kim ngạch xuất khẩu tăng trên 6%, bội chi ngân sách 6,2% GDP, lạm phát dưới 7%…

January 15, 2010

Có nên bỏ lãi suất cơ bản?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:40 pm
Tags: ,

Trong những ngày gần đây, nhất là sau khi Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% đầu tháng 12 vừa qua, đã có những cuộc bàn cãi sôi nổi trong giới tài chính ngân hàng liên quan đến việc có nên bãi bỏ lãi suất cơ bản và thay vào đó một cơ chế lãi suất thích hợp hơn.

Về vấn đề này, Báo Lao Động đã có bài phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu – là Giáo sư môn tài chính ngân hàng (NH) cho các chương trình MBA tại Georgetown University, Polytechnic University Pomona và University of the West (Mỹ).
– Ông có nhận xét gì về việc thực hiện lãi suất cơ bản (LSCB) ở VN?

– Trước hết, chúng ta phải ghi nhận tác dụng thực tế của LSCB từ giữa năm 2008 đến nay là bất cứ khi nào NHNN VN thay đổi LSCB, thị trường tín dụng và những thị trường vốn như vốn huy động, CK đều tức thì và thường theo hướng mà NHNN mong muốn. Vấn đề đặt ra là liệu những tác dụng trên thị trường do phản ứng tức thời đó có tồn tại lâu và giữ sự ổn định của thị trường không và nếu không thì có nên hay không thay thế LSCB bằng mồt cơ chế lãi suất khác hữu hiệu hơn để thực hiện chính sách tiền tệ trong khung cảnh của một nền kinh tế thị trường?

Trong lần nâng LSCB vừa qua của NHNN từ 7% lên 8% và do đó lãi suất cho vay tăng từ 10,5% lên 12%, tác dụng tức thời và trực tiếp của biện pháp này là thị trường tín dụng bị thắt chặt tức thì. Chi phí lãi tăng làm các DN giảm thiểu vay mượn từ NH. Ngoài ra, các NH cũng đồng loạt tăng lãi suất huy động vốn và do đó tăng cao chi phí lãi đầu vào và vì thế lựa chọn kỹ càng hơn những đối tượng cho vay có khả năng trả lãi suất cho vay và khả năng trả nợ cao.

Mục đích của việc tăng LSCB là thắt chặt sự tăng trưởng cung tiền, kềm chế lạm phát và do đó ổn định vĩ mô. Kinh nghiệm trong những năm qua đã chứng tỏ việc điều chỉnh lãi suất là một trong những công cụ hữu hiệu trong việc thực thi chính sách tiền tệ (CSTT) của NHNN.

– Nhưng có ý kiến cho rằng, nếu cố giữ lại LSCB như hiện này là không phù hợp vì nó có những mặt tiêu cực?

– Đúng thế, ở đây tôi không nói là mặt tiêu cực mà chỉ đề cập đến tác dụng phụ của việc điều chỉnh LSCB trong kỳ vừa qua. Nhiều NH đã lách lãi suất trần 12% bằng cách thu phí dịch vụ từ các DN đi vay.

Đối với các NH đó việc thu phí phụ trội này là mức lãi suất trần 12%/năm quá thấp không đủ để bảo đảm mức lợi nhuận chênh lệch (interest rate spread) cần thiết cho khả năng sinh lời của ngân hàng, trung bình phải khoảng 2,5- 3%/năm (lãi suất đầu ra – lãi suất đầu vào, liên quan đến món vay), trong khi chi phí nguồn vốn huy động tăng nhanh vì lãi suất tiền gửi của khách hàng tăng cùng chiều với lãi suất cho vay trên thị trường NH.

Tất cả những phí phụ trội này cộng với lãi suất trên sổ sách đã làm cho mức lãi suất thực tăng cao hơn nhiều so với LSCB. Đấy là chưa kể việc rất nhiều những thành phần kinh tế không có khả năng vay vốn NH như nhiều DN nhỏ trong giới tiểu thương phải đi vào thị trường vay vốn chợ đen vay với lãi suất cắt cổ.

Cũng cùng một nhịp độ với lãi suất cho vay, lãi suất trả cho tiền gửi khách hàng tăng cao. Nhiều NH đã sẵn sàng trả cho khách hàng gửi tiền một mức lãi suất cao hơn nhiều mức trần 10,5%/năm do NHNN chỉ đạo. Nhiều NH khác tuy vẫn trả khách hàng gửi tiền với lãi suất trên sổ sách là 10,49%, nhưng trên thực tế lại có những chương trình khuyến mãi rất hấp dẫn, chẳng hạn trả trước tiền lãi, tặng tiền và tặng quà cho những món tiền gửi lớn. Trong những tuần lễ cuối năm 2009, ngay cả lãi suất qua đêm trên thì trường liên NH có lúc lên trên 20%/năm, vượt quá xa với mức 12% do NHNN quy định.

Những hiện tượng và tác dụng phụ liên quan đến việc điều chỉnh LSCB thể hiện một sự kiện rõ ràng là LSCB không phản ánh một mức lãi suất thực của thị trường, mà là một mức lãi suất được ấn định dựa vào chủ trương của NHNN vào một thời điểm nhất định khi thực hiện CSTT vào giai đoạn đó.

Việc áp đặt LSCB là một biện pháp hành chính không dựa vào cơ sở vận hành cung và cầu của kinh tế thị trường. Ở đây tôi không bàn đến khía cạnh luật pháp của việc những thành phần kinh tế (ngân hàng, người đi vay, người gửi tiền) chấp nhận/đòi hỏi những mức lãi suất vượt xa LSCB do NHTƯ áp đặt, tôi chỉ đưa ra sự kiện là LSCB không dựa trên cơ sở kinh tế thị trường mà là những quyết định đơn phương của NHNN và từ đó gây ra những sự tự điều chỉnh của các thành phần kinh tế sau những quyết định về LSCB của NHNN

– Vậy có nên bỏ LSCB và tìm cơ chế khác thích hợp hơn? Theo chúng tôi được biết thì NHTƯ Mỹ có cách điều hành lãi suất khá hiệu quả. Ông có thể cho bạn đọc biết rõ hơn về lãi suất (Federal Funds Rate) của NHTƯ Mỹ?

– Việc VN có nên bỏ LSCB hay không tôi xin dành câu trả lời cho các nhà làm chính sách. Ở đây, tôi xin bàn đến một loại lãi suất tương tự đươc NHTƯ Mỹ áp dụng, được gọi là “Federal Funds Rate” (tạm dịch là lãi suất vốn liên bang), hay gọi tắt là “Fed Fund Rate” (từ đây gọi là “FFR”). FFR có chức năng giống như LSCB, vì FFR là một công cụ của chính sách tiền tệ của NHTƯ Mỹ (Federal Reserve Bank, hay gọi tắt là “Fed”). Theo định nghĩa, FFR là lãi suất mà các định chế tài chính (chủ yếu là NHTM) trả cho nhau trên số dư cho nhau vay tại Fed.

Dĩ nhiên, hệ thống tài chính của Mỹ và cơ cấu tổ chức NHTƯ của Mỹ khác biệt với VN, nhưng chúng ta có thể đi tìm một mô hình trên cơ sở cơ chế thị trường để xây dựng LSCB, mà mô hình của Federeal Reserve Bank là một mô hình đáng nghiên cứu.

– Xin cảm ơn tiến sĩ!

Theo bà Dương Thu Hương – Tổng thư ký Hiệp hội NHVN – thì cụm từ LSCB được sử dụng khi xây dựng Luật NHNN năm 1997. Đây là một loại lãi suất do NHNN công bố để giúp các TCTD sử dụng làm cơ sở cho việc hình thành lãi suất kinh doanh, nhưng vai trò của LSCB cho đến năm 2008 rất mờ nhạt, thậm chí có những thời gian còn hơi bị lạc lõng, không có tác dụng gì đến thị trường, kể cả vai trò định hướng. Lãi suất này chỉ phát huy tác dụng khi NHNN sử dụng LSCB và quy định của Luật Dân sự để ổn định thị trường từ tháng 5.2008.

Trường Giang thực hiện

December 18, 2009

Chưa thống nhất bỏ lãi suất cơ bản

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:09 am
Tags: ,

<!–NGay gio Modified

–>

18/12/2009 1:43

Việc cấm tổ chức tín dụng cho vay đầu tư cổ phiếu sẽ tác động tiêu cực đến TTCK – Ảnh: D.Đ.M
Thảo luận tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về Dự luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày hôm qua 17.12, Ủy ban Kinh tế (UBKT) của Quốc hội không đồng ý với NHNN về đề nghị bỏ lãi suất cơ bản (LSCB).

Lãi suất cơ bản phải thực chất hơn

Chủ nhiệm UB Tài chính, ngân sách Phùng Quốc Hiển nói: “Tôi rất tâm đắc với LSCB, nó can thiệp trực tiếp vào thị trường, như là barie khống chế. LSCB không có hại gì cho nền kinh tế, mà còn có tác dụng. Vậy tại sao ta lại bỏ đi một công cụ hay như thế?”.

Ủy viên UBTVQH Trần Thế Vượng cho rằng, lâu nay ngân hàng làm sai khi cho vay với lãi suất quá cao so với quy định về LSCB, bây giờ sửa sai bằng cách đề nghị không quy định trong luật nội dung này. Phó chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên thì nhận xét, cách giải thích để bỏ LSCB chưa thuyết phục lắm: “LSCB phải thực chất hơn, là định hướng cho chính sách tiền tệ và quản lý được thị trường tiền tệ”.

Tổ chức tín dụng có được cho vay kinh doanh chứng khoán?

Quy định NH, chi nhánh NH nước ngoài không được cho vay kinh doanh CP là quá chặt chẽ. Nếu quy định này có hiệu lực sẽ tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền

Cùng ngày 17.12, UBTVQH đã cho ý kiến về một số vấn đề lớn của dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD). Các ủy viên TVQH đã tập trung làm rõ 6 nội dung còn có ý kiến khác nhau giữa Thường trực UB Kinh tế và cơ quan soạn thảo.

Giải thích về việc sửa lại khoản 6 điều 103 theo hướng không cho phép các ngân hàng thương mại (NHTM) được góp vốn, mua cổ phần của các TCTD khác, cơ quan soạn thảo luật giải thích: “Quy định không cho phép NHTM và các công ty con của NHTM góp vốn mua cổ phần của TCTD khác nhằm hạn chế sở hữu chéo giữa các TCTD”. Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh: “Sở hữu chéo cổ phần là cực kỳ nguy hiểm. Khi tình hình biến động sẽ rối loạn”.

Tuy nhiên, Thường trực UB Kinh tế lại có cách nhìn khác. Theo UB Kinh tế, trong điều kiện hiện nay, một số NH nhỏ rất cần thu hút kinh nghiệm quản lý, điều hành và công nghệ của các NH lớn bằng việc bán cổ phần cho các NH lớn. Nếu cấm NHTM, công ty con của NHTM mua nắm giữ cổ phần của các TCTD khác sẽ gây cản trở cho việc mua bán sáp nhập giữa các TCTD. Thêm vào đó, việc cấm NHTM Việt Nam nắm giữ cổ phần của các TCTD là sự bất bình đẳng giữa NHTM trong nước với các NH nước ngoài. Còn để đảm bảo an toàn, UB Kinh tế đề nghị: “Quy định một TCTD được đầu tư chéo là bao nhiêu thì hơn, không nên cấm hoàn toàn sở hữu chéo”.

Về việc không sửa khoản 7 điều 126 (không cho NHTM, chi nhánh NH nước ngoài cho vay đầu tư, kinh doanh cổ phiếu), Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu giải thích: “Thị trường chứng khoán là huy động vốn cho trung và dài hạn của nền kinh tế. Việc sử dụng vốn huy động ngắn hạn từ dân cư để cho vay kinh doanh, đầu tư cổ phiếu có mức độ rủi ro cao sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tính an toàn của hệ thống NH”. Tuy nhiên, Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền lên tiếng: “Quy định như vậy là quá chặt chẽ. Nếu quy định này có hiệu lực sẽ tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán Việt Nam”. Để đảm bảo an toàn của hệ thống NH, Chủ nhiệm Hà Văn Hiền hiến kế: “NHNN phải định ra các điều kiện, các giới hạn mà các NHTM được phép cho vay hoạt động kinh doanh cổ phiếu”. Chủ nhiệm UB Tài chính, ngân sách Phùng Quốc Hiển bày tỏ: “Tôi đồng tình với UB Kinh tế về quy định cho phép NHTM cho vay mua cổ phiếu nhưng nên khống chế để tránh hiện tượng cho vay quá đà”.

March 30, 2009

Lãi suất cơ bản VND là 7,0%/năm 032509

Tiếp tục những biện pháp bình ổn thị trường tiền tệ trong nước, thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp trong cơn bão khủng khoảng tài chính toàn cầu, từ ngày 1/4 một số lãi suất chủ chốt bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước tiếp tục được giữ nguyên

Theo thông báo sáng ngày 25/3, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục áp dụng mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam như hiện hành là 7,0%/năm

Theo đó lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng là 8,0%/năm, lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng là 6,0%/năm.

Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các Ngân hàng: 8,0%/năm

Create a free website or blog at WordPress.com.