Ktetaichinh’s Blog

March 17, 2010

Ngân hàng “chê” vàng – Nhiều ngân hàng không thiết tha đối với khách gửi vàng mà khuyến khích họ bán vàng chuyển sang gửi VNĐ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:56 pm
Tags: , , , ,

Hiện tại, các ngân hàng (NH) đang thực hiện giảm lãi suất huy động vàng với mức thấp nhất có thể. Đặc biệt một số NH từ chối nhận gửi vàng không kỳ hạn. Nguyên nhân chính là do nhu cầu vàng của nhà đầu tư hiện nay không còn nên các NH không dám huy động vào nhiều.
Lãi suất bèo
Nếu như vào thời điểm giữa năm 2009, các NH đã ào ạt huy động lãi suất tiền đồng, lẫn vàng với lãi suất huy động vàng cao hơn 10 lần so với hiện tại, có thời điểm lên đến 6%-7%/năm; thì nay các NH đang hạ dần mức lãi suất huy động vàng ở mức thấp nhất có thể.
Lãi suất huy động tại NH Phương Đông (OCB) kỳ hạn 1 tháng chỉ 0,3%/năm; kỳ hạn 3 tháng 0,35%… các kỳ hạn từ 6 tháng đến 1 năm là 0,5%. Đây cũng là mức lãi suất huy động bình quân mà các NH khác đang áp dụng. NH Sài Gòn (SCB) và một số NH khác còn khuyến khích khách bán vàng chuyển sang gửi VNĐ.

Tại các NH lớn, lãi suất huy động vàng kỳ hạn ngắn còn thấp hơn so các NH nhỏ. Tại Eximbank, kỳ hạn 1 tháng chỉ còn 0,25%…
Mặt khác, do lãi suất cho vay VNĐ cao, đầu ra của các NH thương mại chưa mấy thông suốt nên nhu cầu bán vàng lấy tiền mặt để cho vay cũng không còn, trong khi giá vàng lại có xu hướng giảm. Việc này khiến cho lãi suất huy động tiền gửi bằng vàng càng trở nên bèo bọt.
Sợ “ôm” vàng
Hiện tại, nhiều NH, đặc biệt là các NH nhỏ đã đóng cửa hoàn toàn với huy động vàng để tránh rủi ro. Theo ông Nguyễn Quốc Sỹ, Phó Tổng Giám đốc NH Miền Tây, trước đây, các NH đã tăng mạnh huy động vàng với hai mục đích chính là cho vay để kinh doanh, cho vay mua nhà nhưng thời điểm này cũng như vừa qua giá vàng biến động mạnh nên người vay đã bỏ cuộc.

Trong đó, không ít người đã quá sợ vì từng “ôm đắng nuốt cay” do lỡ vay vàng giá thấp và trả vào lúc giá vàng ngất ngưởng. Đối tượng thứ hai vay vàng của các NH là các nhà đầu tư vàng qua sàn, nhưng nay sàn vàng đã đến ngày chính thức đóng cửa. Khi nhu cầu không có thì các NH không còn tha thiết với vàng nữa.
Ngoài ra, trong thời điểm năm 2009, các NH huy động vàng với lãi suất cao nhằm bán ra lấy VNĐ phục vụ nhu cầu cho vay hoặc kiếm lợi nhuận. Hoặc họ có thể cân đối lại tài khoản bằng cách mua vàng trên tài khoản ở nước ngoài để tránh rủi ro.

Nay NH Nhà nước đã cấm hình thức kinh doanh vàng trên tài khoản, nên các NH cũng không dám huy động nhiều, vì rủi ro cao. Thậm chí sắp tới các NH thương mại có thể sẽ còn thu phí giữ hộ vàng cho khách hàng.

Thị trường vàng sẽ trầm lắng?

Theo ông Nguyễn Trung Anh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Vàng Vina, giá vàng thế giới trong 3 tháng tới sẽ vẫn ổn định trong biên độ hẹp, khi giới đầu tư thế giới ngày càng thận trọng hơn trước những diễn biến nợ công của một số nền kinh tế.

Các nhà đầu tư trung và dài hạn cũng sẽ không tham gia đầu tư lớn, nên khó có sóng lớn. Đây là giai đoạn trầm lắng của thị trường vàng thế giới hằng năm.
Tại VN, nhà đầu tư vẫn nên phân bổ một phần tài sản vào vàng để đề phòng lạm phát trở lại. Nhưng chỉ nên nắm giữ một phần, vì hiện tại đang có những kênh đầu tư khác với tỉ suất sinh lợi cũng khá hấp dẫn.

Thêm vào đó, do lãi suất huy động VNĐ cao và lãi suất cho vay vàng thấp có thể thúc đẩy một bộ phận nhà đầu tư mạo hiểm vay vàng mang bán (do giá vàng tại VN đang cao hơn giá thế giới), đổi lấy VNĐ gửi tiết kiệm để hưởng chênh lệch lãi suất và chênh lệch giá.

Đây cũng là hoạt động phổ biến của các tiệm vàng và nhà đầu tư vàng VN từ trước đến nay. Điều này sẽ tiếp tục tạo áp lực lên giá vàng trong nước thời gian tới.

Advertisements

December 20, 2009

Negative interest rate

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:32 pm
Tags:

Tôi đã đọc được ý tưởng bắt các ngân hàng trả lãi suất cho số tiền reserve họ gửi trong tài khoản ở Fed nhưng không hiểu lắm. Bây giờ đọc bài này của Robert Hall và Susan Woodward mới vỡ lẽ đó thực ra là một cách central banks có thể tạo ra tình trạng negative interest rate trong một sector đặc biệt.
Nhớ lại hồi tháng 10 năm ngoái Fed đã bắt đầu trả lãi suất cho các khoản tiền reserve của các ngân hàng gửi tại Fed. Đây là điều nhiều central banks khác (BoE, ECB, RBA) đã làm và Fed đã được QH Mỹ đồng ý về mặt nguyên tắc nhưng phải đợi đến năm 2011 mới được thực hiện. Khi TARP được thông qua, QH Mỹ cũng đồng thời cho phép Fed không phải đợi điều này đến năm 2011 nữa vì tình thế khẩn cấp.
Lúc đó tôi không hiểu lắm tại sao Fed lại cần điều này khi điều mà Fed muốn là các ngân hàng tăng cho vay, nghĩa là giảm reserve. Bây giờ đọc bài của Hall và Woodward mới hiểu rằng Fed sợ inflation. Việc Fed phát hành reserve ra rồi lại giữ lại trong tài khoản của mình bằng cách trả lãi suất cho các ngân hàng chỉ là biện pháp giúp các ngân hàng trấn an các đối tác rằng họ có đủ liquidity nếu xảy ra (wholesale) bankruns. Lúc đó Fed vẫn sợ quá nhiều liquidity trong nền kinh tế sẽ tạo ra inflation, do đó cần chính sách trả lãi suất trên reserve để kiểm soát rủi ro này.
Bây giờ khi nguy cơ lạm phát đã qua đi, Fed có thể sẽ giảm hoặc thậm chí công bố lãi suất âm trên số tiền reserve của các ngân hàng thương mại. Điều này sẽ buộc các ngân hàng phải giảm số reserve của mình bằng cách bơm liquidity ra nền kinh tế (cho vay). Do vậy cái sàn lãi suất zero và vấn đề liquidity trap sẽ được giải quyết. Đây là một vấn đề rất mới trong lý thuyết tiền tệ và là một vũ khí lợi hại của Fed và các central banks có trả lãi suất cho reserve (NHNN VN cũng trả lãi suất thông qua trái phiếu NHNN bắt buộc). Lý thuyết tiền tệ sẽ có một thay đổi căn bản khi central banks không còn chỉ control money base nữa mà còn có ảnh hưởng trực tiếp lên money multiplier.
Một hệ quả quan trọng, theo Robert Hall và Susan Woodward, là Fed có thể sẽ có exit strategy vừa tránh được inflation vừa không làm thị trường hoảng sợ khi phải thắt chặt chính sách tiền tệ theo cách thông thường (tăng Fed funds rate). Tôi đang rất trông đợi John Taylor respond bài viét này.
(Note: Xét trên khía cạnh Fed trả negative interest rate để giữ tiền cho các ngân hàng có lẽ có điểm giống vấn đề negative yield tôi đã đề cập ở đây.)
Update (23/04): Greg Mankiw lập luận rằng chính sách negative interest rate của Hall và Woodward (thông qua fee cho reserves gửi tại Fed) có thể không có tác dụng vì banks sẽ pass chi phí này cho deposit holders, nghĩa là sẽ làm giảm xu hướng gửi tiền mặt vào ngân hàng của người dân.

December 13, 2009

Dong deposits attract more interest with key rate hike

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:00 pm
Tags: ,

VNBusinessNews.com – Local banks have increased interest rates on dong deposits to attract funds following the central bank’s move to raise the base rate.

Soon after the benchmark rate was raised from 7 to 8 percent effective this month, commercial banks lifted up their dong deposit rates by 0.7-1.3 percentage points to more than 10.5 percent per year, the State Bank

of Vietnam said in a weekly review.

But the maximum rate was later adjusted down to 10.49 percent, the highest rate possible allowed by the central bank.

Vietnam became the first Asian economy to increase borrowing cost when it raised the benchmark rate. The new cap is 12 percent for lending and 10.5 percent for deposits.

Before the central bank’s move, lenders had said they were finding it difficult to attract funds despite offering up to 10.3 percent a year on deposits. They said they could hardly hike the rate further as the margin between lending and deposit rates was dangerously narrow.

In a positive sign, liquidity at lenders has improved after the key rate hike, the central bank said. One week after the move, total deposits in the banking system surged two percent from the figure at the end of November, extending this year’s growth to 27 percent.

Best option

Cao Sy Kiem, a member of the National Financial and Monetary Policy Advisory Council, told Tuoi Tre newspaper considering all movements in the monetary market, making dong deposits is the best investment option now.

Local banks used to offer higher rates on deposits with longer terms, but it is no longer the case. Viet A Bank and Eximbank, for instance, both set rates on three-month deposits higher than all other terms.

Pham Duy Hung, general director of Ho Chi Minh City-based Viet A Bank, said as most customers favor short term deposits between one and three months for their flexibility, banks have to raise rates on these terms.

Ho Huu Hanh, director of the central bank’s branch in Ho Chi Minh City, said deposit rates would not go up much from now as more expensive funds would create a cost pressure on banks.

With the maximum rate already applied to some term deposits, banks in fact have limited room to raise their rates.

The State Bank of Vietnam said in a statement on December 2 that it would inspect local lenders that offer dong deposit rates of 10.5 percent and higher. Commercial banks will have to cap their deposit rates at less than 10.5 percent to “create stability in the interest rate levels,” the bank said.

Le Xuan Nghia, vice chairman of the National Financial Supervision Commission, said interest rates in Vietnam would remain quite stable through at least the first quarter next year as the central bank would make strong interventions in both interest rates and foreign exchange rates.

Forex market

Liquidity in the foreign currency market has also “improved noticeably,” the central bank said in the weekly review.

It had said earlier this month it would sell US dollars to commercial lenders with foreign-currency deficits of more than 5 percent to help stabilize the market.

“Many companies have started selling foreign currency to the banking system,” it said.

Do Duy Thai, chairman of Viet Steel Group, said his company was able to buy dollars from banks at official rates now. It was unable to do so last month.

Vietnam’s central bank has been struggling to ease a dollar shortage that has extended the gap between official and black-market exchange rates. Policy makers have devalued the reference rate for trading and narrowed the daily trading band for the dong against the US dollar.

The dong traded at 19,600 a dollar on the black market as of Thursday morning, compared with the 19,890 on November 24.

The central bank last week requested the police to pay more attention to illegal activities on the currency market and impose strict penalties against violators.

March 30, 2009

New Auto Interest Rates 032309

Filed under: thị trường (market) — ktetaichinh @ 8:25 pm
Tags: ,

New auto interest rates are generally lower than used car interest rates especially if a loan is for an extended period of time. Today, car loans can be approved for up to 70 months with a few dealers offering even longer terms. The appetite for faster, sleeker luxury cars has caused many consumers to buy more car than they can actually afford on their current budget. Although a new car interest rate will be lower than a used model, it may not end up saving money for consumers who purchase blindly. In order to stay well within any household budget, many experts recommend that no more than 15% of a consumer’s monthly earnings after taxes be designated to car payments.

Although new auto interest rates are commonly low especially with long term loans, there are several things that will help any consumer in receiving the lowest possible rate for an automobile. One rule of thumb is that car dealerships generally require higher interest rates than do credit unions, banks and other lending sources. Check with several loan companies as well as with the car dealership so that a helpful comparison can be made. Be careful about ‘biting the bate’ when it comes to choosing an instant rebate over lower interest rates. Consumers can end up spending more money than they realize when paying high interest long term loans even when a substantial rebate is given.

Monthly payments during an extended loan period can accrue thousands of dollars through interest charges which may cause the original rebate to pale in comparison. Making a substantial down payment on a new auto can drive interest down and make it possible to manage lower monthly payments. At least 10% down is helpful in pushing rates lower, but anything upwards of 50% of the total value can save many thousands of dollars over the loan period. Most lending sources are much more apt to offer good rates if they know there is already significant collateral in the new purchase. Consumers who have good credit histories are more likely to receive low new auto interest rates.

Credit histories can be checked through free online credit agencies as mandated by law. Everyone is entitled to one free credit report from each agency within the year. This provides opportunities for any consumer to know exactly what lenders will see when a credit check is run for any loan. This also provides an opportunity for anyone to make needed adjustments in their finances before applying for an automobile loan in order to receive the best new car interest rate. Everyone enjoys a new car and many times the purchase is made out of emotion rather than logic which has plunged many people into further financial troubles. “Commit thy works unto the Lord, and thy thoughts shall be established.” (Proverbs 16:30)

In order to avoid this temptation, keep in mind a few tips when checking out the dealership showcase. Be prepared to lose approximately 40% equity in the new auto within the first couple of years even if a new car interest rate is low. Even though high end, luxury cars retain more equity for a longer amount of time, there is still some equity lost in just about every vehicle. Some consumers shy away from retail tag prices when they begin to see just how much they will loose in the first years of ownership. Subsequently, many owners prefer to let the first owner absorb the equity loss and they wait a year or two to purchase their dream machine.

This strategy can still provide for a relatively low rate on good credit for something just a little older than new auto interest rates allow. When negotiating any vehicle deal, try to limit payoff to no longer than 36 months. This strategy will keep any consumer’s feet on the floor when looking into any new car interest rate options. For those who purchase a vehicle for 60, 70 or more months on a loan term, many find that their household finances are crunched for years. Then, the buyer ends up with an older automobile that has lost its value but they are still paying on it. If possible, it is much more advantageous in all respects to apply for a short-term loan in order to maintain control of personal finances.

Low new auto interest rates can be found at many dealerships both local and online. This allows customers to shop around for the best deal and naturally promotes competitive pricing among businesses. For anyone who thoroughly shops around, there is usually a better deal than the last one out there somewhere. Compare among a minimum of three lending sources for the best loan terms. Many times lenders have a margin of flexibility to operate from and a patient consumer can usually find a great deal.

February 24, 2009

CPI continues surge despite crisis

Monday, February 23, 2009

VietBusinessNews – Ha Noi’s consumer price index in February increased by approximately 1 per cent against the previous month, according to statistics from the Statistics Department.

This month’s CPI, however, was up 14.85 per cent year-on-year, the department estimated.

Food prices rose at the highest level, at a rate of 1.58 per cent month-on-month and increased 17.52 per cent over the same period last year. Other consumer goods made only slight gains.

Some economic experts said that many enterprises began early production and searches for contracts, as well as concentrating on investing and improving the quality of their products. They believed the result should be a stabilisation in consumer prices soon.

The capital’s Statistics Department forecast that the total revenue of goods and services during the first two months of this year would surge to 20.2 per cent year-on-year with total retail revenue increasing by 18.5 per cent.

The domestic gold market also fluctuated in February when the local gold price climbed to its highest ever level on Thursday to VND19.75 million (US$1,129) per tael in Ha Noi.

In HCM City, the CPI in February was up 1.31 per cent against the previous month, said head of HCM City Statistics Department Du Quang Nam.

During the first two months of this year, the city’s CPI only rose a modest 1.35 per cent, against a year-on-year figure of 5.18 per cent.

Food, construction materials and household items rose between 1 and 2 per cent, while beverages, cigarettes, garments, textiles, footwear, transportation, telecommunications and education increased by less than 1 per cent in February.

Prices for other commodities and services surged 7.27 per cent, but as a group culture, sports, entertainment and tourism slipped by 1.2 per cent. Pharmaceuticals and healthcare services remained unchanged.

According to economic experts, food and beverages rose remarkably due to increasing demand for the Lunar New Year. However, rice items decreased slightly, by 0.78 per cent, because of a plentiful quantity of rice in the domestic market before and after Tet.

The speed of rising prices for essential New Year 2009 items was lower than the previous New Year thanks to a price stabilisation policy implemented by city authorities. The global economic crisis also contributed to weak domestic consumption and only slightly changed prices. (VNS)

February 9, 2009

Triển khai hỗ trợ lãi suất: Mạnh tay với các vi phạm

Nhằm kiểm soát chặt chẽ trường hợp phát sinh tình trạng lợi dụng ưu đãi để cho vay không đúng đối tượng và đồng vốn bị sử dụng sai mục đích, nhịp cầu “đường dây nóng” được coi là công cụ đắc lực để ngân hàng nắm được các thắc mắc của khách hàng và có những trả lời xác đáng

Đến ngày 9/2, hầu hết các ngân hàng đã nhanh chóng hoàn tất các quy trình hướng dẫn một cách cụ thể và chi tiết về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất, kinh doanh theo tinh thần của Chỉ thị 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 02/2009/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước. Vấn đề được quan tâm nhất hiện nay là việc làm thế nào để đảm bảo thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chủ trương kích cầu đúng hướng này của Chính phủ. Để đồng vốn đến đúng đối tượng, đúng lĩnh vực và phát huy hiệu quả một cách tối đa còn rất nhiều việc phải làm. Tạo mọi điều kiện cho khách hàng tiếp cận vốn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) đã sẵn sàng nguồn vốn cho vay với doanh số dự kiến khoảng 200 ngàn tỷ đồng. Như vậy, nguồn vốn được cấp bù lãi suất là 2.800 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng gói kích cầu 17.000 tỷ đồng của Chính phủ. Ngân hàng Á Châu (ACB) cũng công bố chương trình cho vay với tổng giá trị 35.000 tỷ đồng; mức lãi suất sau khi được hỗ trợ lãi suất đối với sản phẩm cho vay tài trợ xuất khẩu bằng VNĐ chỉ còn khoảng 2%/năm, còn đối với sản phẩm cho vay sản xuất kinh doanh trong nước thì dao động thấp nhất là 5%-5,5%/năm. Đặc biệt, khối ngân hàng cổ phần vừa và nhỏ cũng tích cực vào cuộc với những mức lãi suất ưu đãi bất ngờ. Ngân hàng Quốc Tế (VIB) có chương trình “Tài trợ xuất khẩu bằng VNĐ với lãi suất siêu ưu đãi” ở mức thấp nhất 1%/năm sau khi được bù lãi suất 4%. Theo chương trình này, VIB sẽ dành 25.000 tỷ đồng để cho vay hỗ trợ lãi suất. Đối với các khách hàng ưu đãi và doanh nghiệp xuất khẩu khác, mức lãi suất cho vay của VIB chỉ còn ở mức 4% năm. Lãi suất cho vay ngoại tệ ở mức thấp nhất là 3-3,5%/năm. Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cho biết sẽ dành khoảng 50.000 tỷ VNĐ cho chương trình “Hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp” trong gói cho vay kích cầu của Chính phủ từ ngày 9/2/2009. Mức lãi suất sau hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước sẽ dao động từ 5 – 6%/năm. Đối với một số doanh nghiệp xuất khẩu trong chương trình cho vay xuất khẩu ưu đãi của Techcombank có thể được hưởng mức lãi suất sau hỗ trợ từ 1 – 2%/năm. Bà Lưu Thị Ánh Xuân, Phó tổng giám đốc Techcombank cho biết, ngân hàng này sẽ thông báo và hướng dẫn trực tiếp đến tất cả các khách hàng về các điều kiện, thủ tục cần thiết để được hỗ trợ lãi suất. Khách hàng có nhu cầu cũng có thể đến bất kỳ điểm giao dịch nào của Techcombank để được hướng dẫn cụ thể. Mạnh tay với các vi phạm Nhằm kiểm soát chặt chẽ trường hợp phát sinh tình trạng lợi dụng ưu đãi để cho vay không đúng đối tượng và đồng vốn bị sử dụng sai mục đích, nhịp cầu “đường dây nóng” được coi là công cụ đắc lực để ngân hàng nắm được các thắc mắc của khách hàng và có những trả lời xác đáng. Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT BIDV, nhấn mạnh: “Tất cả khoản vay thuộc đối tượng được hỗ trợ lãi suất đều được hưởng chính sách này. Nếu có việc từ chối hay làm khó khách hàng thì cá nhân vi phạm sẽ bị cách chức, hạ chức và bồi thường thiệt hại. Ngân hàng cũng nghiêm cấm mọi hành vi cho vay đảo nợ, gian lận để được cấp bù lãi suất”. BIDV cũng khẳng định sẽ thường xuyên kiểm tra sau khi cho vay để phát hiện kịp thời những trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích. Đặc biệt, sắp tới BIDV sẽ thiết lập đường dây nóng, nếu người dân phát hiện ra có những sai phạm trong quy trình xét duyệt vay vốn có thể phản ánh qua số điện thoại này. BIDV sẽ lập tức lập tổ kiểm tra và có trả lời khách hàng một cách xác đáng. Ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietBank cũng yêu cầu các giám đốc sở giao dịch và các chi nhánh chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật đối với các trường hợp cho vay hỗ trợ lãi suất không đúng quy định. Cũng theo ông Trần Bắc Hà, việc quy định các khoản vay có thời hạn vay vượt quá năm 2009, thì được hỗ trợ lãi suất đối với khoảng thời gian vay của năm 2009, các khoản vay quá hạn trả nợ, được gia hạn nợ vay thì không được tính hỗ trợ lãi suất đối với khoảng thời gian quá hạn trả nợ và gia hạn nợ vay cũng là một quy định chặt, nhằm ngăn ngừa tình trạng nợ xấu.”Đây là khoản hỗ trợ từ ngân sách cho các doanh nghiệp và có rất nhiều doanh nghiệp mong muốn tiếp cận nguồn vốn giá rẻ này, nếu làm không tốt rất có thể sẽ xảy ra tiêu cực. Vốn hỗ trợ lãi suất là để doanh nghiệp vượt qua khó khăn, kinh doanh sản xuất tốt lên chứ không phải là để gia tăng thêm nợ xấu”- ông nói.

Lending rates up as deposit growth slows

Filed under: ngân hàng,Uncategorized — ktetaichinh @ 8:39 pm
Tags: ,

VNBusinessNews – Rates on loans of up to six months on Vietnam’s interbank markets rose in the past week as businesses resumed operation after the Lunar New Year holiday while the central bank said deposits in banks slowed last month.

On Monday, interbank rates rose by between 0.21 and 1.18 percentage point on loans of up to six months compared with a week ago, of which overnight rates saw the largest gain to 6.21% from 5.03% last Monday. The State Bank of Viet Nam, or the central bank, said deposits in banks last month grew only 0.18% from December, compared with 3.41% in December. Of January’s overall deposit growth, dong deposits fell 0.47% from December, the central bank said in a monthly report, while it said dong deposits in December grew 2.64% from the previous month. On Feb. 1, the central bank cut its benchmark interest rates for the sixth time in three months after inflation in January was the lowest in almost a year and as industrial production slumped. Lending rates stood at 8.5% to 10% last week, down from 10.82-11.52% in January, the central bank said. ‘Residents and companies are now trying to repay all their bank debt taken before Tet festival while they would not want to keep their idle funds in banks due to low deposit rates,’ a dealer at a foreign bank in Ho Chi Minh City. He was referring to the week-long Lunar New Year festival that ended on Jan. 30. ‘Banks’ lending and deposits therefore have been shrinking,’ the dealer said. Banks were offering dong deposits of between three months and 12 months at 6.82-7.5%, down from 6.99-7.84% last month, bankers said. With less funds pouring into banks, lending last month grew only 0.52% against December, from growth of 1.09% in December, the central bank said.

February 6, 2009

Cẩn trọng với báo cáo lợi nhuận ngân hàng

MẠC SAN 05/02/2009

Theo các phương tiện thông tin đại chúng, một số ngân hàng đã có kết quả lãi tạm tính (chưa kiểm toán) cho năm 2008 rất ấn tượng. Để xem được Video bạn cần phải cài Flash Player Video: Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế nói chung và ngành tài chính nói riêng, khi các ngân hàng quốc tế báo cáo các khoản thua lỗ nặng nề thì tại Việt Nam, các ngân hàng vẫn báo lãi với các con số lợi nhuận hết sức ấn tượng. Người viết xin đưa ra một cách nhìn đa chiều về báo cáo lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam, nhằm hướng người sử dụng thông tin tới một sự cẩn trọng cần thiết khi phân tích đầu tư. “Trứng vàng” từ kinh doanh trái phiếu Theo các phương tiện thông tin đại chúng, một số ngân hàng đã có kết quả lãi tạm tính (chưa kiểm toán) cho năm 2008 rất ấn tượng. Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) vượt lên dẫn đầu thị trường với số lợi nhuận trước thuế 3.352 tỷ đồng, tăng 300 tỷ so với 2007. Ngân hàng Đầu tư Phát triển (BIDV) 2.300 tỷ đồng, Ngân hàng Công Thương (VietinBank) 1.600 tỷ đồng, ACB 2.556 tỷ đồng, Techcombank 1.600 tỷ đồng, Ngân hàng Liên Việt mới thành lập lãi 444 tỷ đồng… Hầu hết các ngân hàng đều báo cáo các khoản lãi lớn từ kinh doanh trái phiếu năm 2008, một mảng kinh doanh được gọi là “gà đẻ trứng vàng”. Điều này hoàn toàn có thể nếu nhìn vào thực tế lợi suất trái phiếu trong năm lên tới trên 20%/năm do ảnh hưởng của lạm phát, tăng lãi suất cơ bản và làn sóng bán tháo của các nhà đầu tư nước ngoài. Lợi suất trái phiếu chính phủ có thời điểm lên cao hơn lãi suất huy động của ngân hàng là một điều bất hợp lý về khoa học rủi ro nhưng lại là cơ hội cho các ngân hàng. Các ngân hàng lớn với khả năng thanh khoản dồi dào là những ngân hàng tận dụng được cơ hội “ngàn vàng” này. Chỉ trong 2 tháng cuối năm, lãi suất cơ bản được cắt giảm liên tục từ 14%/năm về 8.5%/năm (hiện tại là 7%/năm), đã làm cho lợi suất trái phiếu trên thị trường giảm nhanh và mạnh. Đây chính là lúc các ngân hàng bán ra thu lợi nhuận để báo cáo cuối năm. “Đảo lợi suất” trái phiếu Trong thực tế, do xu thế lãi suất tiếp tục giảm trong những tháng đầu năm 2009 và nguồn thanh khoản khá dồi dào, việc bán trái phiếu của nhiều ngân hàng chỉ mang tính chất “hình thức”, nhằm hợp lý hóa các khoản lãi trái phiếu cho mục đích báo cáo tài chính. Sau khi thực hiện giao dịch bán, có khả năng các ngân hàng mua lại ngay trạng thái danh mục của mình nhằm đón đợi các quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản tiếp theo của Ngân hàng Nhà Nước trong 2009. Chỉ những ngân hàng nào khó khăn thanh khoản và không dự báo đúng xu hướng cắt giảm lãi suất tiếp theo mới bán trái phiếu mà không mua lại. Chính vì lý do này mà hoạt động mua bán trái phiếu cuối năm hết sức nhộn nhịp. Theo thống kê của HASTC và HOSE, khối lượng và giá trị giao dịch trái phiếu tăng đột biến trong tháng 12 (là tháng có giá trị giao dịch lớn nhất trong năm), trong khi giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài lại giảm. Về bản chất, các ngân hàng có thể đã thực hiện một việc đơn giản là “đảo lợi suất” (yield roll) trái phiếu để hợp lý hóa lợi nhuận. Có nhiều cách làm việc này, không ngoại trừ việc các ngân hàng có thể “hợp tác” với nhau để thực hiện việc đảo lợi suất trái phiếu này một cách dễ dàng thông qua các hợp đồng bán và hợp đồng mua lại. Trong trường hợp này, ngân hàng đối tác chỉ đóng vai trò “giúp bạn” hạch toán giao dịch. Hệ quả của màn ảo thuật “khắc xuất, khắc nhập” này là danh mục trái phiếu có lợi suất cao (15-24%/năm) mua trong năm được thay thế bằng danh mục trái phiếu có lợi suất thấp (8-10%/năm) mua cuối năm. Khoản lợi nhuận thu được là hoàn toàn “thật” xét về khía cạnh kinh tế cũng như kế toán. Nói một cách ví von thì đây là một ca ép gà đẻ non để lấy trứng vàng ra rồi cho ấp tiếp để hy vọng ra trứng bạc. Theo một bài báo trên tờ Đầu tư Chứng khoán, có ngân hàng chỉ cần thực hiện một lệnh bán trái phiếu cuối năm đã hạch toán 500 tỷ đồng vào lợi nhuận, bằng 1/3 lợi nhuận cả năm. Một số ngân hàng đã đạt đủ lợi nhuận để báo cáo sẽ không cần “đảo lợi suất” toàn bộ danh mục trái phiếu của mình mà có thể sẽ găm lại một phần làm của để dành cho 2009, một năm kinh doanh được dự báo cũng hết sức khó khăn. Như vậy, số lãi tiềm ẩn trong các danh mục trái phiếu của ngân hàng có thể vẫn chưa thể hiện hết. Với việc lãi suất cơ bản tiếp tục hạ xuống mức 7%/năm có hiệu lực từ ngày 1/2/2009 vừa qua, danh mục trái phiếu của các ngân hàng lại tiếp tục đẻ thêm “trứng bạc” cho những tháng đầu năm 2009. Hạn chế của các chuẩn mực kế toán? Câu hỏi đặt ra là tại sao ngân hàng phải thực hiện động tác “đảo lợi suất” trái phiếu này để báo cáo lãi? Điều này có thể giải thích do hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện chưa cho phép các ngân hàng “đánh giá lại” (mark to market) các tài sản tài chính. Do đó, động tác “đảo lợi suất” trái phiếu sẽ giúp ngân hàng biến lãi chưa thực hiện (unrealised gains) thành lãi thực hiện (realised gains) một cách hợp pháp. Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (Ghi nhận và đánh giá các công cụ tài chính) hay chuẩn mực kế toán FAS 157 (Ghi nhận theo giá trị hợp lý) của Mỹ đều có những quy định về kế toán theo giá trị hợp lý (fair value acccounting) đối với các loại tài sản và công nợ tài chính. Việc này nhằm tăng cường tính cập nhật của thông tin kế toán cho quản trị rủi ro cũng như việc đưa ra các quyết định kinh doanh. Trong khi đó hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) chưa có các chuẩn mực tương đương. Tại Việt Nam, đầu tư trái phiếu vẫn được hạch toán theo nguyên tắc giá phí lịch sử mà chưa được phép đánh giá lại theo giá trị thị trường. Sự thiếu hụt này buộc các ngân hàng phải sáng tạo ra biện pháp “đảo lợi suất” nhằm hợp lý hóa lợi nhuận. Hệ quả của việc này là ngân hàng có thể điều chỉnh được lợi nhuận của mình theo mục tiêu của ban điều hành cho từng giai đoạn. Điểm bất cập thứ nhất đó là việc ngân hàng có quyền lựa chọn trái phiếu cần đảo mà không tiến hành đảo toàn bộ danh mục một cách thống nhất. Việc chọn các trái phiếu có lợi suất cao hơn lợi suất thị trường để đảo sẽ tạo ra các khoản lãi. Ngược lại, việc chọn các trái phiếu có lợi suất thấp hơn lợi suất thị trường để đảo có thể tạo ra các khoản lỗ. Tùy theo mục đích báo cáo, các ngân hàng sẽ lựa chọn một chiến lược đảo phù hợp. Với áp lực báo cáo lãi như 2008 thì có lẽ các trái phiếu lợi suất thấp sẽ không được đảo mà sẽ ghi nhận theo giá lịch sử. Về nguyên tắc, ngân hàng cần lập dự phòng cho các khoản mục này theo quy định của chuẩn mực VAS 02 về hàng tồn kho. Việc lựa chọn các khoản mục để hợp lý hóa theo hướng có lợi được gọi là hiện tượng “hái cherry” (cherry picking) trong kế toán. Một vấn đề rất quan trọng không thể nhìn được từ những con số lợi nhuận đẹp là sự tương quan giữa tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Với xu hướng lãi suất huy động tăng rất cao trong 2008, chắc chắn nhiều ngân hàng vẫn còn “ngậm đắng” các nguồn vốn huy động với lãi suất cao 15-20%/năm với các kỳ hạn khác nhau. Trong khi các tài sản có lợi suất cao được định giá lại một cách khá “tinh tế”, thay thế bằng các tài sản lợi suất thấp thì các khoản nguồn vốn huy động trả lãi cao lại không được định giá lại một cách tương tự. Điều này sẽ tạo ra một bảng cân đối có cơ cấu lệch lạc trong năm 2009. Để hiểu rõ điều này, chúng ta lấy một ví dụ đơn giản: một ngân hàng phát hành kỳ phiếu trong năm 2008 với mức lãi suất 18%/năm cho kỳ hạn 3 năm. Ngân hàng dùng đúng số tiền này đầu tư trái phiếu chính phủ lợi suất 20%/năm cùng kỳ hạn 3 năm. Cơ cấu tài sản, nguồn vốn này cho phép ngân hàng khai thác chênh lệch lợi suất 2%/năm. Đến cuối năm cả kỳ phiếu (nguồn vốn) và trái phiếu (tài sản) đều còn thời hạn trên 2 năm. Với lợi suất thị trường đối với kỳ hạn 2 năm còn 8-10%/năm thì việc đảo lợi suất trái phiếu sẽ tạo ra khoản lãi lớn. Tuy nhiên, chỉ đảo tài sản mà không đảo nguồn vốn sẽ cho phép ngân hàng báo lãi trên tài sản mà tránh báo lỗ trên nguồn vốn. Trong khi nhà đầu tư mua kỳ phiếu ngân hàng có thể bán lại kỳ phiếu này với mức giá cao hơn mệnh giá nhiều trên thị trường thì ngân hàng chỉ ghi nhận phần công nợ bằng mệnh giá phát hành. Đây chính là điểm bất cập thứ 2. Việc đảo lợi suất của tài sản mà không thực hiện cho nguồn vốn sẽ tạo ra sự méo mó trong cơ cấu bảng cân đối của ngân hàng. Trong ví dụ trên cơ cấu “lợi suất đầu tư 20% – lợi suất huy động 18%” (lãi 2%) được chuyển thành một cơ cấu mới “lợi suất đầu tư 9% – lợi suất huy động 18%” (lỗ 9%). Việc rút lãi 2008 có thể tạo ra các khoản lỗ trong năm 2009 và các năm sau đến khi kỳ phiếu đáo hạn. Việc sử dụng các kỹ thuật kế toán để điều chỉnh kết quả kinh doanh là vấn đề không mới trên thế giới cũng như Việt Nam. Năm 2007, khi thị trường cổ phiếu thăng hoa thì các ngân hàng và công ty chứng khoán Việt Nam cũng đồng loạt báo lãi nhờ nghệ thuật định giá lại giá cổ phiếu thông qua việc bán cổ phiếu hoặc đảo giá cổ phiếu (bán thu lãi rồi mua lại với giá vốn cao hơn). Dự phòng nợ xấu Đến thời điểm này thì các số liệu về lập dự phòng nợ xấu của các ngân hàng đều chưa được kiểm toán. Trong năm 2008, cùng với khó khăn của nền kinh tế, lãi suất cho vay tăng cao thì rủi ro tín dụng đã tăng lên mức khá cao. Hơn nữa, với sự tăng trưởng tín dụng quá nóng trong thời gian ngắn cuối năm 2007, đặc biệt là đối với các loại hình cho vay mới như tín dụng tiêu dùng và tín dụng nhà ở thì các ngân hàng thương mại Việt Nam đều chưa có những số liệu lịch sử cũng như mô hình tin cậy trong việc xác định tổn thất nợ xấu. Việc đảo nợ, gia hạn nợ, giãn nợ, tái cơ cấu nợ, khoanh nợ có thể làm cho các số liệu dự phòng khó chính xác. Dự phòng tín dụng là một ước tính kế toán mang tính chủ quan cao và cũng là một “van” điều khiển lợi nhuận hiệu quả của các ngân hàng. Kinh nghiệm các ngân hàng quốc tế cho thấy các khoản lỗ lớn của họ trong năm qua chủ yếu do trích lập dự phòng một cách nghiêm túc như dự phòng rủi ro tín dụng, dự phòng liên quan đến vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff. Sự cẩn trọng hợp lý Việc các ngân hàng kinh doanh trái phiếu có lãi trong năm 2008 là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, việc sử dụng các kỹ thuật kế toán trong khi chuẩn mực kế toán của Việt Nam chưa hoàn chỉnh có thể giúp các ngân hàng đưa ra các con số lợi nhuận kế toán đẹp đẽ hơn cho năm 2008. Với việc nợ xấu tín dụng chưa thể xác định thì các con số dự phòng có thể cũng chưa phản ánh hoàn toàn đầy đủ. Các nhà đầu tư nên có sự cẩn trọng hợp lý khi phân tích đánh giá lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2008. Bài viết này chỉ mang tính chất phân tích chung mà không ám chỉ một ngân hàng cụ thể nào. Việc phân tích một ngân hàng cụ thể cần có các số liệu chi tiết về cơ cấu lợi suất của các danh mục tài sản và nguồn vốn cũng như tỷ trọng đầu tư trái phiếu trong tổng tài sản. Người viết cho rằng các ngân hàng mới thành lập với nguồn vốn cổ đông dồi dào sẽ có lợi thế lợi tận dụng cơ hội kinh doanh trái phiếu trong năm 2008 và việc đảo lợi suất không tạo ra những rủi ro của bảng cân đối trong 2009. Tác động đối với các ngân hàng khác có thể sẽ lớn hơn. Các nhà đầu tư cần chờ đợi thêm các xác nhận báo cáo kiểm toán trước khi có thể tin cậy các số liệu lợi nhuận công bố. Các nhà đầu tư cũng cần đọc các ý kiến không chấp thuận (qualification) đưa ra trong các báo cáo kiểm toán thay vì chỉ tập trung vào báo cáo tài chính. Các ngân hàng không nên tranh thủ các bất cập của hệ thống kế toán để điều chỉnh lợi nhuận theo các mục tiêu ngắn hạn. Một cơ chế quản trị doanh nghiệp (corporate governance) tốt sẽ có khả năng ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của mối quan hệ mâu thuẫn lợi ích truyền thống giữa ban điều hành – cổ đông, tạo ra lòng tin của công chúng và sự phát triển bền vững của ngân hàng. Bộ Tài chính và Hiệp hội Kế toán nên nghiên cứu hoàn chỉnh thêm hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) theo hướng phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS), đặc biệt đối với kế toán các công cụ tài chính.

Comments

Create a free website or blog at WordPress.com.