Ktetaichinh’s Blog

December 9, 2010

“Hô biến” lát sắn thành giọt xăng: Tốt nhưng..

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:22 pm
Tags: ,

.

“Hô biến” lát sắn thành giọt xăng: Tốt nhưng… (09/12/2010) – Tại sao Trung Quốc đất đồi núi, đất nông nghiệp nhiều hơn Việt Nam mà không phát triển trồng sắn? Trong khi, hiện tại, Trung Quốc là nhà nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam.Hội thảo Sử dụng và phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam tổ chức sáng nay 9/12 đăt câu hỏi, từ lát sắn biến thành xăng thân thiện môi trường đã thành hiện thực nhưng làm thế nào để ethanol là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế, xóa đói giảm nghèo?

Ông Nguyễn Phú Cường, Vụ Phó vụ KHCN Bộ Công thương cho rằng hiện nay chúng ta ¾ là đất đồi núi, diện tích trồng sắn chỉ 550.000ha, vậy nên không chỉ tập nên tập trung vào sắn mà phải đặt quy hoạch sắn với quy hoạch chiến lược của các vùng nguyên liệu cây khác. Bài học mía đường được đại diện bộ Công thương nhắc lại khi nhà máy mía đường có nhà máy nhưng lại thiếu nguồn nguyên liệu. Ông Cường nói tới hệ lụy trồng sắn ồ ạt có thể mất rừng: “Tây Nguyên có trường hợp người dân chui vào tận lõi rừng trồng sắn”
Ông Cường đặt câu hỏi, tại sao Trung Quốc đất đồi núi, đất nông nghiệp nhiều hơn Việt Nam mà không phát triển trồng sắn? Hiện tại, Trung Quốc là nhà nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam. Trong 10 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn sắn
“Trung Quốc nhập tinh bột sắn làm rượu Mao Đài rồi lại xuất sang chính Việt Nam”, ông Cường nói.
Ông Đỗ Tấn Bình, Chủ tịch HĐQT công ty TNHH BT, một doanh nghiệp lớn sản xuất ethanol từ sắn cũng lưu ý: “Tháng 9/2009 trong khi chúng ta đang tổ chức hội nghị ethanol thì Trung Quốc cũng làm hội nghị với tỉnh Tây Ninh (tỉnh có diện tích trồng sắn lớn nhất VN). Viện trưởng IpSard, TS Đặng Kim Sơn đánh giá việc phát triển trống sắn hiện nay tuy không ảnh hưởng tới an ninh lương thực nhưng trồng sắn không tác động lớn tới xóa đói giảm nghèo.
Nghiên cứu IpSard cho thấy, quy mô nhỏ và không có cơ chế hợp tác bền vững là những yếu tố tác động tiêu cực tới việc tạo ra giá trị gia tăng và sự liên kết giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị.
“Điều này khiến người trồng không đầu tư dài hạn, sẵn sàng bán sản phẩm kém chất lượng vì thương lái vẫn thu mua, dẫn tới thu nhập không ổn định.”
Còn theo ông Đỗ Thanh Hòa, Giám đốc Sở Công thương Tây Ninh, tỉnh có diện tích trồng sắn 50.000ha việc trồng sắn ồ ạt cũng dẫn tới các cơ sở chế biến sắn chưa chuẩn bị đầy đủ hạ tầng để bảo đảm môi trường. Hiện Tây Ninh có 82 cơ sở sản xuất tinh bột sắn.
“Việc ô nhiễm 82 cơ sở ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường và rất khó giải quyết”, ông Hòa thừa nhận.

Advertisements

January 3, 2010

Chất lượng tăng trưởng của hạt gạo?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:30 am
Tags: , ,

TBKTSG) – Năm 2009, lần đầu tiên sản lượng gạo xuất khẩu ước đạt hơn 6 triệu tấn, một con số kỷ lục. Chỉ có điều, đừng quá lạc quan với những con số, khi điều quan trọng là chất lượng của tăng trưởng vẫn chưa đạt như mong muốn.

Theo ông Nguyễn Thọ Trí, Phó chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), kể từ năm 1989, năm đầu tiên tham gia xuất khẩu gạo sau ngày thống nhất đất nước, năm 2009 là lần đầu tiên Việt Nam đạt mức xuất khẩu kỷ lục, có thể từ 6- 6,2 triệu tấn. Trước đó, năm 2008, dù giá xuất có cao hơn, nhưng sản lượng gạo xuất chỉ đạt gần 4,68 triệu tấn, tương đương gần 2,7 triệu đô la Mỹ. Như vậy, chỉ trong năm năm, từ 2005- 2009, xuất khẩu gạo đã chiếm 36% về lượng và 48,5% về tổng trị giá so với 21 năm xuất khẩu gạo.

Điều đáng nói ở đây là trong bối cảnh thiên tai xảy ra ở nhiều vùng miền, an ninh lương thực vẫn là yếu tố cần quan tâm, sản lượng sản xuất trong nước vẫn không tăng nhiều, nhưng sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng rất khả quan.

Chưa bền vững!

Điều kỳ lạ nào đã xảy ra? Theo giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu gạo, điều chưa lấy làm mừng là sự tăng trưởng sản lượng xuất khẩu ấy lại nhờ một yếu tố khách quan: thị trường thế giới. Sau cơn sốt gạo hồi năm 2008, nhiều quốc gia bắt đầu “giật mình” với bốn chữ an ninh lương thực, thế là các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan… cũng phải e dè và có những toan tính riêng. Do vậy trong năm nay, đã có lúc hầu như các doanh nghiệp Việt Nam chiếm tỷ lệ áp đảo, chi phối nguồn cung, trong lúc nhu cầu thế giới vẫn đang mạnh mẽ. Mặt khác, khủng hoảng khiến thu nhập của tầng lớp lao động trên thế giới tụt giảm, điều đương nhiên là để tiết kiệm, họ phải tăng khẩu phần gạo… để thay thế một phần thịt, cá…

Do đó, tăng sản lượng xuất không có điều gì lạ, nhất là hồi cuối năm 2008, lượng gạo tồn kho trong các doanh nghiệp lên khoảng 0,8 triệu tấn, làm giảm áp lực về an ninh lương thực.

Nhu cầu lương thực trong tương lai vẫn còn cao. Gia tăng dân số, đất nông nghiệp bị thu hẹp, ảnh hưởng biến đổi khí hậu, cộng thêm việc phát triển năng lượng sinh học… khiến nguồn cung gạo trên thế giới giảm dần. Theo Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (FAO), thế giới đã dành khoảng 1% đất canh tác cho việc sản xuất các cây trồng làm nhiên liệu sinh học, đứng đầu là Brazil, Mỹ, các nước châu Âu, trong đó riêng Brazil đã sản xuất khoảng 3 tỉ lít ethanol từ cây mía…

Nhưng liệu Việt Nam chiếm thế thượng phong trong xuất khẩu gạo được bao lâu? Không đâu xa, ngay chính các nước đang đứng trước áp lực thiếu gạo cũng đã có kế hoạch đối phó từ sau năm 2008. Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), chính phủ Philippines đã cam kết đầu tư một tỉ đô la Mỹ để tăng sản lượng lúa. Maylaysia cũng thông qua khoảng chi 2,4 tỉ ringgit để đảm bảo lương thực. Còn Trung Quốc, quốc gia có lợi thế về đất đai, cũng đã ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính, hạ thấp giá đầu vào nông nghiệp, tăng mức giá mua gạo… nhằm khuyến khích tăng sản lượng.

Thực tế là trong năm nay, chính sự “co vòi” của Ấn Độ và sự rụt rè khi tung gạo ra thị trường thế giới của Thái Lan, đã tạo lợi thế cho Việt Nam, chứ đó không phải là một quy luật tất yếu. Dấu ấn mà VFA tạo ra không nhiều, khi cơ chế điều hành xuất khẩu gạo vẫn chưa hứa hẹn cởi mở hơn, dù đã có nhiều ca thán trong những năm qua.Và tại nội địa, dù theo tính toán của các nhà khoa học, an ninh lương thực vẫn có thể đảm bảo trong những năm tới vẫn có thể dôi ra nhiều gạo để xuất khẩu, nhưng trước tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra, những dự đoán này hoàn toàn có thể sai lệch do diện tích lúa buộc phải giảm vì xâm ngập mặn, thay đổi cơ cấu cây trồng… Cộng thêm những quy hoạch khu công nghiệp, đô thị… nên từ nay đến năm 2015, đất lúa sẽ giảm thêm trên dưới 0,1 triệu héc ta, nên đừng quá kỳ vọng vào sản lượng xuất khẩu có thể tăng tiếp mạnh mẽ trong những năm tới.

Vị trí đặt quảng cáoChưa thể hài lòng!

Chưa thể đo lường chất lượng tăng trưởng dựa trên con số kim ngạch ngoại tệ thu về. Dù thực tế sản lượng xuất năm nay tăng hơn 1,3 triệu tấn nhưng kim ngạch có thể giảm khoảng 193 triệu đô la Mỹ bởi giá gạo thế giới giảm. Vấn đề cần quan tâm ở đây là đồng lời của nông dân, liệu có tăng?

Những tháng cuối năm, giá lúa tăng vọt, có lúc trên 6.000 đồng/ki lô gam. Nhưng như ông Nguyễn Văn Hài, nông dân huyện Thới Lai (Cần Thơ), cho biết: “Vừa qua, tôi bán lúa hè thu khi giá chỉ có 3.200 đồng/ki lô gam, tính ra lỗ vì chi phí quá nặng”. Như vậy, với những bất lợi về vốn, kho trữ… nên nông dân không hề thu lãi khi giá lúa tăng vọt vào cuối năm. Còn vụ đông xuân vừa rồi, nông dân thu lợi nhuận khá tốt, nhưng chi phí phân bón lại tăng cao.

Theo khảo sát của IPSARD, lợi nhuận của nông dân trong vụ đông xuân giảm từ 8,3-31,2% so với vụ năm 2008, chỉ vì giá lúa không tăng kịp giá phân bón, thuốc trừ sâu… Và thực tế giá lúa hồi vụ này cũng chỉ tăng mạnh sau khi nông dân đã sạch bồ.

Đừng cứ cho rằng đó chỉ là những lời than vãn muôn thuở của những người chân lấm tay bùn. Theo phân tích chuỗi giá trị về lúa gạo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ, trong phần giá trị tăng thêm của hạt gạo xuất khẩu, những người mua bán trung gian thường đã hưởng đến 67% giá trị tăng thêm. Nông dân chẳng được hưởng bao nhiêu. Nguyên nhân do nông dân là người xa nhất với người tiêu dùng cuối cùng, khó nắm bắt thông tin và sự thay đổi của thị trường, chịu tác động mạnh của đầu vào, thiếu vốn, thiếu tài sản và khó tiếp cận với tín dụng nên khó lòng giữ lúa chờ giá, lại phải chịu nhiều rủi ro về thời tiết. Quan trọng nhất là đầu vào trong sản xuất lại bị thả nổi, phân bón giả, giá tăng khó kiểm soát… vẫn là điều mà nông dân vẫn phải gánh chịu.

Những sự quan tâm đến nông nghiệp là có. Nhưng liệu có thỏa đáng chưa? Bởi trong khi đó, với nhiều nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo đã có sự thay đổi mạnh. Trong giai đoạn 1989-2000, điểm yếu của các doanh nghiệp là thiếu thông tin, luôn phải tìm cách ký hợp đồng sớm để mong giữ giá cao, trong lúc các nhà nhập khẩu dựa thế người mua để trả giá thấp. Và hai điểm yếu lớn nhất thời kỳ đó chính là thiếu kho chứa, thiếu hụt tín dụng nên rủi ro rất cao. Nhưng kể từ sau năm 2005, nhiều điểm yếu này đã dần được hạn chế, như năng lực kho chứa được cải thiện, đa dạng được thị trường, tín dụng cho doanh nghiệp tốt hơn, sự phối hợp cũng tốt hơn… nên hiệu quả của doanh nghiệp xuất khẩu gạo đã gia tăng. Mới đây, các doanh nghiệp quốc doanh còn được hỗ trợ vay vốn để xây dựng hệ thống kho chứa với tổng sức chứa 4 triệu tấn. Thông tin cho doanh nghiệp cũng được hỗ trợ, phối hợp tốt hơn…

Và liệu có ngẫu nhiên hay không, khi vào tháng 8-2009, thời điểm giá lúa chỉ trên dưới 4.000 đồng/ki lô gam, Tổng công ty Lương thực miền Nam và các doanh nghiệp hội viên VFA đã “mạnh dạn” mua dự trữ 0,4 triệu tấn gạo. Tiếp đó, tháng 9-2009, thêm 0,5 triệu tấn được mua thêm, nâng mức tồn kho lên gần 2 triệu tấn gạo, theo như số liệu công bố. Để rồi, từ tháng 11 đến nay, giá lúa tăng dần và ở mức trên dưới 6.000 đồng/ki lô gam, đương nhiên người hưởng lợi không phải nông dân, nhưng nông dân phải “mang ơn” doanh nghiệp vì đã mua trữ giúp nông dân!Nếu không cải thiện những điểm yếu của người nông dân, thì dù sản lượng xuất khẩu có tăng lên 7 hay 8 triệu tấn thì điều kỳ vọng nhất của chất lượng tăng trưởng là đồng lời của nông dân, vẫn không như mong muốn!

December 30, 2009

Seafood sector lacks quality breeds

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:23 pm
Tags: ,

VNBusinessNews.com – Despite being a large export industry with annual turnover of over US$4 billion, Vietnam’s seafood sector cannot ensure quality breeds to maintain sustainable production and boost competition on the world market.

Ninh Thuan Province has around 1,400 breed production farms that can turn out 12-15 billion breeds per year. However, only 40% of the farms can meet quality standards of seafood processors, said Nguyen Khac Lan, head of the provincial Aquaculture Bureau.

The remaining 60% are small, private farms that do not follow any technical processes, Lan told a seminar on sustainable development

of the seafood industry in HCMC on Friday.

Vinh Long Province needs around 1.3 billion tra and basa fish breeds per year but local farms provide only 62%. Many enterprises have to buy breeds on the market without origin and quality guarantees, said Nguyen Thi Thu Hong, deputy head of the provincial Aquaculture Bureau.

Meanwhile, nearly 95% of seafood breeds in Long An Province have been bought outside the locality. As a result, local enterprises cannot check the quality of the input materials.

Delegates at the seminar were concerned that Vietnam had yet to release national quality standards for tra, basa, tiger or white-legged shrimp to help relevant authorities check the products. “Despite being a large tra and basa fish exporter in the world, Vietnam only has industry criteria for breeds production, not national-level or technical ones. That is why seafood breeds quality has come down quickly and has been on red alert,” Hong told the Daily.

Ninh Thuan is the largest tiger and white-legged shrimp producing province in Vietnam but most breeds are caught in their natural habitats. The nation has yet to make any statistics on breeds caught from natural sources, Lan said.

Due to the shortage of breeds, many farm owners have used medicines to induce reproduction of breeds to meet the large demand. “Some farms in Vinh Long Province have been found to use the medicines for two-year-old breeds. Technically, just breeds above three years old can reproduce. We know it but cannot prohibit or suspend violating farms due to lack of punitive regulations,” Hong said.

The Ministry of Agriculture

and Rural Development issued regulations on the production and trading of seafood breeds but most localities have ignored them. Shortcomings have also arisen since animal health departments were assigned to inspect breed quality.

Aquaculture departments have to ask animal health workers to inspect farms suspected of having substandard breeds, giving farm owners time to sell the breeds before inspectors arrive, the delegates explained.

Dự báo giá đường tiếp tục giảm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:18 am
Tags: ,

29/12/2009 19:13

(HNMO)- Hiệp hội mía đường Việt Nam cho biết, thời gian qua giá đường liên tục giảm, hiện giá đường trắng loại 1 (đã có thuế) tại kho nhà máy là 14,3- 14,5 nghìn đồng/kg song vẫn khó bán.

Tính đến giữa tháng 12 này, cả nước đã có 36 nhà máy vào sản xuất, với tổng lượng mía ép là 2,5 triệu tấn, sản xuất được 202 nghìn tấn đường; lượng đường tồn kho các nhà máy đến ngày 15-12 là 84,5 nghìn tấn (thấp hơn 10 nghìn tấn so cùng kỳ năm 2008); lượng đường các nhà máy bán ra trong 1 tháng (từ 15-11 đến 15-12-2009) là 61 nghìn tấn (thấp hơn cùng kỳ năm ngoái 19 nghìn tấn), do có lượng đường nhập khẩu và lượng đường các đơn vị thương mại mua dự trữ tháng trước bù vào. Đây được coi là nguyên nhân chính dẫn đến giá đường thời gian qua liên tục giảm.

Theo phân tích của Hiệp hội mía đường Việt Nam, thời điểm này các nhà máy đường đang gặp khó khăn về vốn sản xuất do lượng đường tồn kho lớn, trong khi ngân hàng đang tăng cường thu hồ vốn về và hạn chế cho vay. Bởi vậy, dự báo, giá đường có khả năng tiếp tục giảm trong thời gian tới do tình trạng thiếu vốn.

Trước tình hình đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp chế biến tìm mọi biện pháp thu mua hết mía nguyên liệu cho nông dân: giá mua mía 10CCS tại ruộng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long 950 nghìn đồng/tấn; Đông Nam bộ từ 625-675 nghìn đồng/tấn; miền Bắc từ 550-650 nghìn đồng/tấn.

Những cửa hàng “nội trợ” của người tiêu dùng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:48 am
Tags: , ,

Chuỗi cửa hàng tiện ích Fooco Mart:
Thực hiện ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc chỉ đạo hai Tổng công ty lương thực miền nam và miền bắc mở rộng hệ thống bán buôn, bán lẻ để tham gia điều hòa cung cầu, bình ổn giá trong cả nước; ngay từ cuối năm 2008, Công ty TNHH Lương thực TP Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ thống cửa hàng tiện ích Fooco Mart với phong cách phục vụ văn minh, hiện đại (Fooco Mart là chuỗi cửa hàng do Công ty TNHH Lương thực TP Hồ Chí Minh trực tiếp đầu tư, quản lý và khai thác).
Tháng 12-2008, cửa hàng Fooco Mart tại số 27 – 33 Trần Hưng Ðạo, phường Bến Thành, quận 1 là cửa hàng đầu tiên đưa vào hoạt động. Ðến tháng 7-2009, công ty đã hoàn tất việc đầu tư, cải tạo và đưa vào hoạt động toàn bộ 40 cửa hàng thuộc hệ thống Fooco Mart trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.
Mục tiêu đầu tư chuỗi cửa hàng tiện ích Fooco Mart:
– Sử dụng có hiệu quả tài sản nhà đất nằm ở vị trí trung tâm TP Hồ Chí Minh, rất thuận lợi  cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực bán lẻ.
– Do tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, thu nhập dân cư tăng lên, việc đòi hỏi sự thuận tiện và an toàn thực phẩm trong sinh hoạt của người dân là điều tất yếu,  trong giai đoạn phát triển hiện nay và trong tương lai.
– Vào cuối tháng 4, đầu tháng 5-2008, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh xảy ra một cơn sốt gạo “ảo”. Nguyên nhân do người tiêu dùng thiếu thông tin, các đại lý, các điểm bán gạo tư nhân  đầu cơ găm hàng tăng giá. Trước tình hình đó, việc xây dựng hệ thống cửa hàng bán lẻ Fooco Mart của công ty nhằm mục đích bán sỉ và lẻ mặt hàng gạo và các loại lương thực, thực phẩm, công nghệ phẩm chủ yếu khác là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của công ty.
– Thông qua hệ thống cửa hàng bán Fooco Mart thành phố Hồ Chí Minh để tham gia bình ổn thị trường, ngăn ngừa tình trạng đầu cơ gây sốt ảo.
– Tăng cường tiêu thụ gạo sỉ và lẻ tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh vừa tạo nguồn cung ứng cho thị trường, tăng được hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Hiện, danh mục hàng hóa của chuỗi đã có hơn 2.400 mặt hàng và tại mỗi cửa hàng của công ty có khoảng 1.000 – 1.400 sản phẩm (tùy theo quy mô và vị trí địa lý của từng cửa hàng) nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu cho tiêu dùng của cộng đồng dân cư trong khu vực; trong đó hơn 60% là các mặt hàng lương thực và thực phẩm chế biến các loại. Do Tổng công ty lương thực miền nam sản xuất đang tiếp tục bổ sung thêm một số sản phẩm sẽ nâng số lượng mặt hàng tại mỗi cửa hàng tiện ích Fooco Mart lên mức 2.000 mặt hàng vào cuối quý IV  năm 2009.
Phục vụ cho hoạt động của chuỗi cửa hàng và cũng để tạo nguồn hàng phục vụ cho hệ thống cửa hàng của Công ty lương thực các tỉnh (thuộc Tổng công ty Lương thực miền nam từ Ðà Nẵng tới Cà Mau), công ty đang thi công xây dựng Trung tâm phân phối Fooco Mart tại 363 Bến Bình Ðông, phường 13, quận 8, TP Hồ Chí Minh làm đầu mối tiếp nhận hàng hóa từ các nhà sản xuất, nhà phân phối lớn tại TP Hồ Chí Minh cung cấp cho các tỉnh (và ngược lại đây sẽ là đầu mối tiếp nhận hàng hóa, nông sản từ các tỉnh phân phối lại cho các cửa hàng tại TP Hồ Chí Minh). Dự kiến trung tâm phân phối này sẽ đi vào hoạt động vào đầu tháng 1-2010.
Ðặc biệt, trong những ngày qua, do có biến động về cung cầu và giá của thị trường thế giới tăng nên giá gạo thị trường trong nước cũng có chiều hướng tăng. Lợi dụng tình hình trên, một số đầu mối tiêu thụ gạo trong nước đã tạo áp lực thiếu gạo và đầu cơ tăng giá,  nhằm hạn chế tình trạng bất ổn này, công ty chủ động đưa gạo về các cửa hàng tiện ích Fooco Mart để tham gia bình ổn thị trường hoạt động bảy ngày/tuần, từ 6 giờ sáng đến 22 giờ đêm; cam kết giá bán gạo ổn định và thấp hơn thị trường 10%. Mặt khác, Công ty cũng đã phân công người trực 24/24 giờ tại Văn phòng công ty và các kho khu vực; đội xe tải luôn sẵn sàng điều động hàng hóa đến 40 cửa hàng  Fooco Mart, chi viện gạo cho các siêu thị trên địa bàn TP Hồ Chí Minh. Chính vì thế thị trường gạo tại TP Hồ Chí Minh  không xảy ra những đột biến, giá cả ổn định, trong đó có sự đóng góp quan trọng của chuỗi cửa hàng Fooco Mart của công ty.

Vietnam’s presence alters pepper market

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:45 am
Tags: ,

VNBusinessNews.com – India’s Financial Times carried an article on Dec. 28, saying that the dynamics of the pepper trade have changed significantly over the last few years as Vietnam entered the global market as a key producer.

The emergence of Vietnam as a leading producer has resulted in buyers shifting to short-term contracts and India transforming itself into a net importer of pepper. This has changed the global pepper trade irreversibly, said economic analyst Rajesh Ravi who wrote the article.

India used to export 40,000- 50,000 tonnes of pepper annually to top up its yearly production of 80,000-100,000 tonnes, according to the analyst.

However, production in India has dropped to 50,000 tonnes, while it remains the largest consumer of pepper in the world, with its annual domestic consumption estimated at 40,000-45,000 tonnes.

Meanwhile, Vietnam leads the global pepper trade, growing between 110,000-125,000 tonnes annually. It also leads in productivity, producing 1,200 kg to 1,300 kg per hectare.

Ravi noted that in the last two years, the Vietnamese Pepper Association (VPA) has held back a lot of its reserves so it can avoid flooding the market, which lowers prices.

The VPA has also invested in building more warehouses to sell in a systemised manner to take more advantage of the market.

The analyst forecasts that the number of contracts for 2010 may be lower than normal as the economic slow down and less available credit has made buyers opt for quicker contracts as they are living from hand to mouth.

Big retailers are not only keeping lower stocks, they are storing for shorter periods. This will lead to a volatile market in 2010 due to a mismatch of buying and selling needs, he wrote.

December 29, 2009

Chuối xiêm U Minh có đầu ra

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:54 am
Tags: ,

<!–

–>

Hữu Đức-Mỹ Thanh  (28/12/2009 09:54)
Gửi cho bạn bè Lưu lại để đọc In trang này
Trao đổi với những nông dân trồng chuối, dù cho hy vọng mới đang mở ra cánh cửa tiêu thụ chuối không còn bấp bênh, trôi nổi với giá rẻ, nhưng khó khăn phía trước vẫn còn nhiều.

Chuối xiêm U Minh bạt ngàn tươi tốt. Những buồng chuối kết nải dày, trái no tròn chín vàng ngọt lịm. Đây là một đặc sản điển hình vùng U Minh, đất mũi Cà Mau – miền đất tốt tươi cây trái. Đất vừa vỡ, chuối hễ cắm cây nào là bông trái sai oằn. Ấy vậy mà hàng chục năm qua rồi thân phận chuối xiêm vẫn bấp bênh. Dân nghèo U Minh cứ loay hoay trên những bờ thửa tươi tốt như ngồi trên “đống vàng” mà không cách nào tìm được lối ra cho sản phẩm ngon xứ mình.

Thế nhưng mới đây, qua thăm dò mua bán mấy tháng cuối năm với Vinamit – một doanh nghiệp thành công vang dội trong lĩnh vực chế biến hàng nông sản xuất khẩu vừa mở hướng thu mua chuối xiêm U Minh. Những cuộc bàn thảo, dò tìm cải thiện giống chuối bản địa để nâng cao phẩm chất và giá trị cây chuối đang được bàn tính lâu bền. Với nông dân trồng chuối Cà Mau, bước ngoặt cho cuộc làm ăn mới xem như bắt đầu.

Trong những tháng cuối năm 2009, Cty Cổ phần Vinamit đã đặt trạm thu mua chuối tại xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời (Cà Mau). Mỗi ngày thu mua vận chuyển chuối về nhà máy tại Bình Dương gần 20 tấn trái. Tùy theo chất lượng, công ty mua với giá dao động từ 500.000 đồng đến 1,6 triệu đồng/tấn. Nông dân Trần Văn Tâm ở xã Khánh An (U Minh, Cà Mau) đi bán chuối, cho biết với giá chuối như hiện nay nông dân thu lãi khoảng 20-25 triệu đồng/ha/năm. Đến nay có hơn 800 tấn chuối xiêm được Vinamit thu mua. Tuy nhiên cùng với qui cách thu mua tính qua cân còn phải đáp ứng tiêu chuẩn chế biến thực phẩm. Phía DN thu mua cho biết lượng chuối vừa qua phần nhiều chỉ đạt loại 2, loại 3, phẩm chất kém, giá trị thương phẩm không cao. Đây là mặt thiệt thòi cho cả hai phía người bán lẫn người mua.

Bước đầu qua chuyện tiếp xúc làm ăn, bà con nông dân trồng chuối bán chợ đã nhận ra lâu nay việc trồng chuối trên bờ thửa, bên ao ruộng trong vườn nhà còn lơ là, kém quan tâm chăm sóc. Trồng chuối gần như phó mặc cho trời, không bón phân, tới khi cho trái thu hoạch bán cho ghe thương lái tới mua đếm nải, không cần để mắt tới qui cách trái lớn nhỏ mà thu mua tính bình quân. Tất nhiên giá cả do người mua là thương lái thu gom ấn định.

Vì vậy bước tiếp theo, phía Cty Vinamit đã mở rộng chương trình quảng bá với người trồng chuối bằng cách tổ chức hội thi tìm giống chuối ngon, cho nông dân trồng chuối tại Cà Mau với ba giải nhất, nhì, ba và có treo giải thưởng lần lượt theo thứ bậc 10 triệu đồng, 5 triệu đồng và 3 triệu đồng. Qua đó để nông dân tìm chọn giống chuối xiêm bản địa – là giống chuối xiêm đen, nếu chuối xiêm trắng sẽ bị loại. Song song đó, tìm chọn những buồng chuối cho trái đẹp, chuối vừa già, chưa chín, không có cạnh. Trái có đường kính 4 cm, dài 8 cm. Các trái trong nải đều nhau, không trầy xước, bầm giập. Mỗi nải chuối ít nhất 15 trái. Mỗi buồng chuối từ 10 nải trở lên và trái trên buồng đều nhau.

Cách đây 5 năm, tại Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao tại An Giang, khi các sản phẩm Vinamit chế biến từ nguồn nguyên liệu là các mặt hàng nông sản ngon của nước ta lần đầu tiên quảng bá sản phẩm tại vùng ĐBSCL đã mau chóng thu hút sự chú ý người tiêu dùng. Nhiều loại sản phẩm sấy vẫn giữ được mùi vị tự nhiên, đóng gói bao bì đẹp mắt như: mít, chuối, khóm (thơm), khoai môn, khoai lang. Bên cạnh đó còn có các loại sản phẩm sấy dẻo như: mít dẻo, xoài dẻo, thập cẩm dẻo và dòng sản phẩm sấy tẩm gia vị gồm khoai lang, khoai môn… Ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng Giám đốc Công ty Vinamit cho biết, cùng với mở rộng thị trường nội địa, thiết lập mạng lưới chi nhánh tại nhiều tỉnh thành, phần lớn sản phẩm của Vinamit đã được xuất khẩu mạnh sang nhiều nước: Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, châu Âu, Bắc Mỹ, các nước Hồi giáo.

Trao đổi với những nông dân trồng chuối, dù cho hy vọng mới đang mở ra cánh cửa tiêu thụ chuối không còn bấp bênh, trôi nổi với giá rẻ, nhưng khó khăn phía trước vẫn còn nhiều. Chỉ nhìn xem quy cách thu mua của phía doanh nghiệp, nông dân muốn trồng đạt chuẩn trái chuối tốt loại 1 quả là lời giải không dễ dàng. Rõ ràng trồng và bán chuối không còn là chuyện riêng giữa doanh nghiệp và nông dân mà để kết nối làm ăn còn cho thấy rất cần sự hỗ trợ giống, kỹ thuật từ các Trung tâm khuyến nông địa phương.

Rồi từ đó, ông Viên đã nhìn xa. Nhiều sản phẩm nông sản ngon của đồng bằng như chuối xiêm vùng U Minh là nguồn nguyên liệu dồi dào, hay khóm, khoai môn… là cơ sở để đầu tư xây dựng nhà máy chế biến. Và thực tế sau 5 năm, Vinamit đang xúc tiến phát triển vùng nguyên liệu chuối và xây dựng nhà máy chế biến tại Cà Mau. Theo đó, trước mắt tìm giống chuối tốt. Vinamit sẽ phối hợp với địa phương tổ chức nhân rộng và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản sản phẩm tới tiêu thụ, đặt mối quan hệ làm ăn liên kết theo hướng lâu dài.

Ông Trần Văn Thức – Phó giám đốc Sở NN&PTNT Cà Mau xác nhận: Vinamit đang có hướng thuê đất trồng chuối và mở rộng quy mô sản xuất nông sản ở Cà Mau. Theo tính toán của Sở NN&PTNT Cà Mau, tiềm lực sản xuất chuối xiêm riêng vùng U Minh có nhiều triển vọng. Từ những năm đầu sau ngày hòa bình, rừng U Minh có xây dựng thêm hệ thống kinh đào và bờ đê nhằm giữ nước phòng chống cháy rừng. Trong đó riêng diện tích bờ đê ngang dọc ước có 5.000 ha. Sản lượng chuối của vùng này có khoảng 40.000 tấn/năm. Cùng với đất mới ngoài bìa rừng U Minh, đất đai ở các huyện trong tỉnh đều có thể trồng chuối cho năng suất cao.

Doanh nghiệp sữa khẳng định giá không cao

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:44 am
Tags: , , ,

Chi phí quảng cáo, tiếp thị quá cao được coi là một trong những thủ phạm đẩy giá sữa VN xếp vào hàng cao nhất thế giới. Thế nhưng, các hãng sữa cho rằng các khoản phí trên đã được họ cắt gọt đến mức không thể hơn.
>Chi phí quảng cáo đẩy giá sữa lên cao / Lòng tin bị đánh cắp

Theo kết quả thanh tra, trong năm 2008, Công ty TNHH Nestlé Việt Nam đã dùng tới 20,5 tỷ trong tổng số 32 tỷ đồng chi phí bán hàng để quảng cáo tiếp thị. Trong 6 tháng đầu năm 2009, chi phí bán hàng của hãng là hơn 29,8 tỷ đồng chiếm 59,2% tổng chi phí. Trong đó, chi phí quảng cáo chiếm 27% tổng chi phí.

Trưởng phòng truyền thông đối ngoại – Công ty TNHH Nestlé Việt Nam – Vũ Quốc Tuấn cho rằng, quan điểm của đoàn thanh tra chưa phản ánh hết mọi mặt của vấn đề. Cụ thể, mặt hàng sữa Lactogen và Nan là loại sữa công thức cho trẻ dưới 12 tháng tuổi nên không được phép quảng cáo theo nghị định 21 của Chính phủ nên Nestlé không quảng cáo đối với hai loại sữa này. “Không quảng cáo thì không thể có chi phí quảng cáo quá lớn như quan điểm của thanh tra”, ông Tuấn nói.

Giá sữa VN bị cho là đắt nhất thế giới. Ảnh: Hoàng Hà.

Ông Tuấn cũng không tán thành khi thanh tra Bộ Tài chính cho rằng giá sữa của Nestle hiện nay quá cao. Vì theo ông Tuấn, hiện nay Nestle có dòng sữa phổ thông là Nestle Lactogen, Nestle gấu có giá bán tới người tiêu dùng rất hợp lý, thậm chí còn rẻ hơn một chút so với một số loại sữa nội cùng chủng loại. Chẳng hạn, sữa Nestle Gấu loại 360g có giá bán tới tay người tiêu dùng là 50.000 đồng, sữa Nestle Lactogen (hộp giấy) 350g có giá 52.000 đồng, rẻ hơn một số loại sữa nội khoảng 2-3%. Vì vậy quan điểm cho rằng sữa của Nestlé là sữa ngoại, quảng cáo nhiều nên đắt là không hoàn toàn chính xác.

Tại thị trường VN đang có 83 nhãn hiệu sữa khác nhau của hơn 50 nhà sản xuất, do vậy, cạnh tranh giữa các nhãn hiệu được coi là khá khốc liệt. Từ nhiều năm nay, đã có hiện tượng là dòng sữa phổ thông mặc dù giá hợp lý nhưng lại không được người tiêu dùng ưa chuộng bằng dòng sữa cao cấp có giá cao. Do vậy, ông Tuấn khẳng định giá cả là do giá cả là do thị trường quyết định chứ không phải do bản thân nhà sản xuất.

Đồng tình với quan điểm này, ông Enda Ryans – Tổng giám đốc Mead Johnson Việt Nam, khẳng định: “Những kết luận về giá sữa của Mead Johnson cao vì phải chi quá nhiều quảng cáo là thiếu căn cứ. Sữa bột là một thị trường cạnh tranh gay gắt, và Mead Johnson đã đầu tư cho quảng cáo ít hơn nhiều so với những công ty sữa khác”.

Theo ông, thị trường kinh doanh đã trở nên khó khăn hơn rất nhiều trong năm 2009. Giá sữa nguyên liệu tăng gấp đôi (từ 2.900 USD một tấn vào cuối năm 2008 lên 5.700 USD một tấn vào cuối năm 2009). Giá đường cũng tăng 100%, cộng thêm với chỉ số lạm phát tăng 7-10%, tỷ giá biến động mạnh, khiến cho tình hình kinh doanh gặp khó khăn. “Mead Johnson đã cố gắng gánh chịu tất cả các chi phí tăng cao và giữ giá bán ổn đinh trong hơn một năm rưỡi qua. Đó cũng là lý do Mead Johnson không đồng ý với đề nghị giảm giá của Thanh tra Bộ Tài chính”, ông Enda Ryans nói.

Tổng giám đốc Enda Ryans cũng không đồng tình với kết luận của đoàn thanh tra khi cho rằng giá sữa của Mead Johnson cao vì phải chi quá nhiều quảng cáo. Bởi lẽ, sữa bột là một thị trường cạnh tranh gay gắt, và Mead Johnson đã đầu tư cho quảng cáo ít hơn nhiều so với những công ty sữa khác. Trong khi đó, những khoản chi phí khác của công ty như chi phí văn phòng, lương nhân viên, bảo hiểm, đào tạo cán bộ, nâng cao kiến thức y bác sĩ, chi phí phân phối, đặc biệt là các loại thuế (nhập khẩu, VAT, thu nhập doanh nghiệp…), lại không được đề cập đến.

Từ những lý do trên phía Mead Johnson cho rằng, tại thời điểm này hãng không thể cam kết giảm giá. “Chúng tôi mong rằng chính phủ Việt Nam sẽ giúp bình ổn tỷ giá và hy vọng giá sữa nguyên liệu sẽ giảm trong tương lai gần nhất”, ông Enda Ryans

Trao đổi với VnExpress.net, một quan chức Bộ Tài chính khẳng định kết quả thanh tra được căn cứ vào rất nhiều yếu tố, sau gần 3 tháng “thâm nhập” vào nội tình doanh nghiệp. Theo quy định, chi phí quảng cáo, tiếp thị được khống chế ở mức 10%. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp trên mạnh tay chi hơn rất nhiều bởi họ chưa phải kê khai đăng ký giá bán. Chính vì vậy có chuyện lách luật khiến giá sữa ngoại tăng cao bất thường suốt trong thời gian qua.

Từ kết quả này, Bộ Tài chính đã kiến nghị các hãng sản xuất nếu tiết giảm được các chi phí, nhất là quảng cáo, tiếp thị thì nên thực hiện để tiến tới mục tiêu hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, cơ quan này đang nghiên cứu sửa đổi một số văn bản quản lý về giá nhằm chấn chỉnh lại thị trường, nhằm xóa bỏ cái tiếng xấu “giá sữa tại VN bán với giá trên trời”.

Sữa tăng giá kiểu ‘lách luật’

Cho rằng nhà sản xuất sữa “lách luật” để tăng giá, Bộ Tài chính đang cân nhắc một số biện pháp quyết liệt hơn với mong muốn xóa bỏ cái tiếng xấu – giá sữa của VN đang đắt nhất thế giới.
>Doanh nghiệp sữa khẳng định giá không cao

Từ đầu tháng 12 này, nhiều công ty kinh doanh sữa tuyên bố sẽ tăng giá 5-7% tùy theo sản phẩm sữa nước hay sữa bột. Các bà nội trợ lo lắng, nhà quản lý ngành hàng cũng “thở hắt ra” vì giá sữa tăng đã trở thành câu chuyện không còn mới. Mấy năm trở lại đây, người ta cũng chẳng buồn thống kê xem mặt hàng sữa đã bao nhiêu lần tăng giá.

Mỗi lần điều chỉnh giá bán chỉ khoảng 5-10%, tiếng là nhỏ giọt, nhưng cộng dồn lại vẫn đủ để sữa VN xếp vào hàng đắt nhất thế giới. Cái lý để các hãng sữa vin vào trong các đợt điều chỉnh giá bán là vì biến động tỷ giá, nguyên liệu đầu vào tăng cao…

Người tiêu dùng lo giá sữa sẽ tăng. Ảnh: Hoàng Hà.

Sau nhiều năm các hãng sữa “làm mưa làm gió” trên thị trường, các cơ quan chức năng thi nhau đề xuất các biện pháp quản lý. Báo chí cũng tốn không ít giấy mực, có ý kiến còn nghi ngờ các hãng cấu kết với nhau tăng giá. Thế nhưng, suốt nhiều năm trời, sữa vẫn nghiễm nhiên nằm ngoài vòng kiểm soát.

Mới đây, Vụ Chính sách thuế đã tính đến việc “trói giá” bằng khống chế giá trần. Thế nhưng ý kiến này đã không nhận được sự đồng tình của lãnh đạo Bộ Tài chính vì với số lượng các mẫu sữa lên tới hàng triệu việc khống chế giá trần bị coi là chuyện không tưởng.

Sau nhiều cuộc họp bàn, rà soát các loại văn bản giấy tờ, mới đây Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính mới phát hiện có sự “bất ổn” tại một số quy định trong pháp lệnh giá. Sữa vốn là một mặt hàng nằm trong diện bình ổn giá, theo đó, các doanh nghiệp phải đăng ký và kê khai các yếu tố hình thành giá. Nếu thấy bất hợp lý, Bộ trưởng tài chính có quyền căn cứ vào Pháp lệnh giá để yêu cầu doanh nghiệp giảm giá thành.

Thông tư số 104 hướng dẫn Nghị định 170 của Chính phủ liên quan đến giá sữa quy định: Trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động, cơ quan chức năng có quyền áp dụng các biện pháp bình ổn giá. Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi lần điều chỉnh, các hãng sữa chỉ tăng khoảng 5-7% giá bán và nghiễm nhiên, vẫn nằm dưới mức quy định 20%. Do vậy, chưa khi nào cơ quan quản lý thấy cái sự tăng giá là vô lý để có các biện pháp can thiệp.

Cục trưởng Cục Quản lý Giá Bộ Tài chính – Nguyễn Tiến Thỏa thừa nhận có hiện tượng các hãng sữa “lách” quy định để tăng giá bán. Do vậy, cơ quan này đang tổ chức lấy ý kiến các bộ ngành để sửa đổi các quy định trên theo hướng: Không phân biệt thời gian tối thiểu 15 ngày và quy định 20% mỗi lần tăng giá bán lẻ mà căn cứ vào chi phí đầu vào. Trong trường hợp các hãng sữa tăng giá bán một cách vô lý, cơ quan chức năng sẽ tiến hành kiểm tra và áp dụng các biện pháp yêu cầu giảm giá.

“Dự thảo thông tư sửa đổi Nghị định 170 đang được chúng tôi lấy ý kiến rộng rãi trên website của Bộ Tài chính tại địa chỉ mof.gov.vn”, ông Thỏa cho biết thêm

Milk market- Farmers sell cows as milk price declines, Feed import tariff sparks price concerns

Farmers sell cows as milk price declines

<- this is ridiculous, 1 nuoc ma gia sua thi truong mac gan nhu nhat the gioi, ma nguoi nuoi bo sua lai fai ban’ bo`.. vi ko du thu nhap, roi ong nao lai vua ra chinh sach tang tariff “According to the Vietnam Animal Feed Association, 70 percent of materials needed to make feed are those subject to import tariff increases. Fish paste, for example, will increase from zero to five percent, maize from zero to five percent, and wheat from 10 percent to 15 percent” http://www.vnbusinessnews.com/2009/12/farmers-sell-cows-as-milk-price.html

Feed import tariff sparks price concerns
16:42′ 21/12/2009 (GMT+7)
VietNamNet Bridge – The import tariff on feed materials will increase as of January 1, 2010, which will create higher feed prices and affect the local husbandry industry.

According to the Vietnam Animal Feed Association, 70 percent of materials needed to make feed are those subject to import tariff increases. Fish paste, for example, will increase from zero to five percent, maize from zero to five percent, and wheat from 10 percent to 15 percent.

In fact, the animal feed prices have risen two times by 300-400 dong per kilo in total since mid-November 2009 due to higher prices in the world and the dong/dollar rate increases. Feed prices are now selling at 7,200-7,400 dong per kilo.

Nguyen Quoc Trung, General Director of Japfa Vietnam, a livestock company, believes that the higher import tariff on feed materials in early 2010 will surely affect pricing.

According to Trung, maize is some $240 per tonne. As maize will be imposed a five percent tariff, the domestic maize price will be $12 or 222,000 dong per tonne, 110 dong per kilo more expensive. To produce one kilo of chicken, breeders need 1.7-1.9 kilo of feed.

As such, the maize import tariff increase alone will make production cost of every kilo of chicken increase by 374-418 dong. If counting other expenses, input costs will rise 500-1,000 dong.

In the first 11 months of 2009, import revenue for feed materials reached $1.7 billion, while the figure for all of 2009 is expected to reach two billion dollars.

Pork, chicken will see prices increase

Pork and chicken prices have been increasing sharply with chicken prices up by 7,000-8,000 dong per kilo.

Tran Quang Trung, the owner of a Dong Ngai pig farm, said that livestock relies on imported materials because maize and rice bran are gone. Trung has predicted meat price increases for the Tet holiday.

Meat imports have been decreasing over the last few months. Statistics showed that in September, Vietnam imported 2,500 tonnes of frozen chicken, while the figure dropped to 1,800 tonnes in October and then dropped to 1,000 tonnes in November. The 35 percent decrease in imports has pressured the market price.

Phung Khoi Phuc, Director of D&F Dong Nai, also thinks that food prices will escalate for Tet, explaining that the pork supply has decreased because farmers discouraged by losses have decreased the scale of their animal herds.

Big wholesale markets in HCM City have also reported sharp falls in supply. Binh Dien Market has reported decreases of 15 percent in their daily supply, while Tan Xuan and Hoc Mon have claimed 11 percent.

VietNamNet/SGTT

December 28, 2009

Mở đường cho nông sản ĐBSCL ra biển

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:22 am
Tags: ,

Dự án sẽ giảm tải cho giao thông đường bộ, đường thủy TP.HCM và tạo bước đột phá cho ĐBSCL xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài. Đầu tư hệ thống cảng biển Việt Nam hơn 360.000 tỉ đồng.

Ngày 27-12, tại xã Dân Thành, huyện Duyên Hải (Trà Vinh), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát lệnh khởi công dự án xây dựng luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu. Đây là dự án trọng điểm quốc gia với mục tiêu xây dựng luồng tàu biển ổn định hơn cho tàu có trọng tải 10.000 DWT đầy tải và tàu 20.000 DWT non tải ra vào các cảng trên sông Hậu…

Đây là luồng tàu biển mới, dựa trên việc nạo vét, cải tạo đoạn kênh Quan Chánh Bố (dài 19 km), luồng tàu biển (dài 6 km) hiện hữu và đào một đoạn kênh Tắt qua đất liền dài 9 km, nối hai đoạn luồng trên lại với nhau.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát lệnh khởi công. Ảnh: G.TUỆ

Giảm tải cho giao thông TP.HCM

Tại lễ khởi công, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Đây là một sự kiện rất quan trọng đối với sự phát triển của khu vực ĐBSCL nói chung và của ngành hàng hải nói riêng, đánh dấu bước quan trọng trong việc tìm đường ra biển cho hàng hóa xuất nhập khẩu. Việc khởi công dự án có ý nghĩa to lớn đối với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội và tiến trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa của ĐBSCL. Khi sông Hậu được mở thông ra biển cho tàu biển trọng tải lớn là giảm tải giao thông cho TP.HCM, hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy từ TP.HCM đến các tỉnh ĐBSCL cũng sẽ được giảm tải. Hàng hóa xuất nhập khẩu không phải trung chuyển lên TP.HCM sẽ tiết kiệm chi phí vận chuyển, tăng sức cạnh tranh, tạo điều kiện để ĐBSCL phát triển mạnh hơn và việc hợp tác phát triển giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ thuận lợi. Đồng thời dự án tạo nền tảng để ĐBSCL thực hiện tốt chiến lược biển do Trung ương Đảng đã đề ra, thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế”.

Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Trà Vinh tiếp tục chỉ đạo chính quyền địa phương bảo đảm tốt công tác giải phóng mặt bằng, an ninh trật tự để thực hiện dự án. Bộ GTVT, Cục Hàng hải Việt Nam và các đơn vị liên quan tập trung nguồn lực hỗ trợ, chỉ đạo nhà thầu thực hiện dự án đúng tiến độ, an toàn, hiệu quả, chất lượng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và hoàn thành dự án đúng tiến độ.

Các phương tiện sẵn sàng nạo vét, thông luồng cho dự án. Ảnh: G.TUỆ

Tạo đà cho phát triển khu vực

Dự án do liên danh Portcoast (Việt Nam) – Nippon Koei (Nhật Bản) và thầu phụ DHI Đan Mạch tư vấn thiết kế. Dự án gồm các hạng mục công trình chính gồm: luồng tài một chiều dài 40 km, khu tránh tàu, đê biển, kè bảo vệ bờ, bến phà, bến xà lan 500T, cầu đường bộ qua kênh Tắt, đường ven luống, hệ thống phao tiêu báo hiệu và thiết bị thông tin hàng hải.

Toàn bộ luồng tàu tính từ sông Hậu ra đến cửa biển dài khoảng 40 km, đi qua địa bàn các xã Long Toàn, Long Khánh, Dân Thành, Long Vĩnh, Ngũ Lạc (huyện Duyên Hải) và các xã Định An, Đại An, Đôn Xuân, Đôn Châu (huyện Trà Cú).

Dự án được đầu tư bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ với tổng mức đầu tư khoảng 5.000 tỉ đồng do Cục Hàng hải làm chủ đầu tư. Dự kiến cuối năm 2011 sẽ đi vào khai thác, năng lực thông qua khoảng 22 triệu tấn hàng hóa/năm, phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa của vùng ĐBSCL và thu hút đầu tư.

Theo Bộ GTVT, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của vùng ĐBSCL khoảng 15 triệu tấn/năm nhưng hệ thống cảng sông, cảng biển chưa phát triển. Cảng Cái Cui, cảng Cần Thơ chỉ tiếp nhận tàu 3.000-5.000 tấn qua cửa biển Định An nhưng thường xuyên bị bồi lắng. Hằng năm, Cục Hàng hải phải chi khoảng 15 tỉ đồng để nạo vét cửa Định An nhưng chỉ khoảng 2-3 tháng sau lại bị bồi lắng. Chính vì không chuyển bằng đường biển nên 70%-80% lượng hàng hóa xuất khẩu của vùng ĐBSCL phải chuyển tiếp qua các cảng ở TP.HCM, Vũng Tàu bằng đường bộ. Và theo tính toán của các chuyên gia, khi trung chuyển hàng hóa lên các cảng, chi phí tăng thêm 170-180 USD/container hoặc 7-8 USD/tấn cho chi phí vận chuyển, lưu kho. Chưa hết, việc vận chuyển bằng đường bộ làm gia tăng áp lực giao thông trên quốc lộ 1A.

Theo Bộ, dự án là bước “đột phá khẩu” để đưa hàng hóa trong vùng ra nước ngoài nhanh hơn, thúc đẩy kinh tế-xã hội ĐBSCL phát triển bền vững.

Đầu tư hệ thống cảng biển Việt Nam hơn 360.000 tỉ đồng

Chính phủ đã có tầm nhìn chiến lược cho hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2030.

Thủ tướng vừa phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Tổng kinh phí đầu tư của quy hoạch đến năm 2020 khoảng 360-440 ngàn tỉ đồng.

Dự kiến lượng hàng thông qua toàn bộ hệ thống cảng biển tại thời điểm 2015 vào khoảng 500-600 triệu tấn/năm; năm 2020 vào khoảng 900-1.100 triệu tấn/năm và tăng lên đến 2.100 triệu tấn/năm vào giai đoạn 2020.

Để đạt được con số này, trước mắt phải tập trung xây dựng một số cảng nước sâu cho tàu trọng tải lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt là cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong-Khánh Hòa để tiếp nhận được tàu container sức chở 9.000-15.000 TEU. Đồng thời, từ nay tới năm 2015 tập trung ưu tiên đầu tư các cảng: Khu bến Lạch Huyện cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng; khu bến của lọc hóa dầu Nghi Sơn…

Trong quy hoạch cảng biển có phân định rõ: việc phát triển cảng biển trên cơ sở những điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế của khu vực, có tính đến sự tương tác với các cảng biển lân cận. Điều này sẽ khắc phục được tình trạng địa phương nào cũng muốn phát triển cảng biển, tránh đầu tư lãng phí và sử dụng không đúng công năng của một số cảng biển. Với quy hoạch lần này sẽ hạn chế được bất cập kể trên.

Với 39 cảng biển phân bố tại các vùng miền khác nhau, dựa vào quy mô, chức năng, nhiệm vụ của từng cảng phân định thành ba loại: cảng tổng hợp quốc gia, cảng địa phương và cảng chuyên dùng.

Cảng tổng hợp quốc gia là các cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam, gồm cảng trung chuyển quốc tế (Vân Phong-Khánh Hòa), cảng cửa ngõ quốc tế (Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu) và cảng đầu mối khu vực (Hòn Gai-Quảng Ninh, Nghệ An…).

Cụ thể, cảng Hải Phòng được xác định là cảng tổng hợp quốc gia, cửa ngõ quốc tế với các khu chức năng khác nhau. Một số bến cảng chuyên dùng như Đình Vũ, Cái Lân… sẽ đảm nhận vai trò vệ tinh trong hệ thống cảng Hải Phòng.

Tại Bắc Trung Bộ, Nghệ An sẽ là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực, trong đó Cửa Lò, Sơn Dương, Vũng Áng sẽ là những bến chức năng. Lượng hàng hóa qua đây vào năm 2020 ước chừng 152 triệu tấn.

Đối với cảng Quy Nhơn (Bình Định) và Vân Phong (Khánh Hòa), chủ yếu phục vụ cho các khu công nghiệp và trung chuyển các sản phẩm dầu. Riêng cảng Nha Trang sẽ từng bước chuyển đổi công năng thành bến khách đầu mối du lịch biển, tiếp nhận tàu du lịch quốc tế.

Cảng Cần Thơ gồm các khu bến chức năng như Cái Cui, Trà Nóc-Ô Môn… chủ yếu làm hàng tổng hợp cho tàu từ 2 vạn DWT (tổng tải trọng của tàu) đến 10 vạn DWT.

Trong đề án quy hoạch có nêu rõ: nguồn vốn cho việc xây dựng các cảng biển rất lớn, cần huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để phát triển cảng biển. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực này, nhất là tham gia qua hình thức nhà nước-tư nhân đối với các cảng có quy mô lớn.

Quy hoạch này sẽ là cơ sở để phát triển hơn nữa lợi thế bờ biển dài, phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế của Việt Nam.

(Theo chinhphu.vn)

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.