Ktetaichinh’s Blog

May 31, 2010

The economics of natural disasters in a developing country: The case of Vietnam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:21 pm
Tags: , , ,

http://www.viet-studies.info/kinhte/Econ_Nat_disasters_VN.pdf

Advertisements

DOI MOI AND ITS DISCONTENTS: GENDER, LIBERALISATION, AND DECOLLECTIVISATION IN RURAL VIET NAM SUSIE JACOBS Manchester Metropolitan University, United Kingdom

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:20 pm
Tags: ,

http://www.viet-studies.info/kinhte/DoiMoi_Discontents.pdf

April 21, 2010

Thăng trầm câu chuyện Giá – Lương – Tiền

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:36 pm
Tags: , ,
Huỳnh Bửu Sơn

LTS: Nhiều người còn nhớ, khoảng giữa năm 1986, những hậu quả của cuộc cải cách giá – lương – tiền khiến đời sống kinh tế trở nên vô cùng khó khăn. Lưu thông hàng hoá bị đình trệ vì thiếu tiền mặt, đây đó quay lại phương thức hàng đổi hàng. Để tự cứu các địa phương càng tăng cường các biện pháp ngăn sông cấm chợ nhằm giữ chặt hàng hoá cho địa phương mình, điều này càng làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá lâm vào cảnh bế tắc.Nhóm Thứ Sáu” không những khẳng định những biện pháp cải cách tiền lương thời đó không phù hợp mà còn cho rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả. Họ kiến nghị chấm dứt tức khắc tình trạng ngăn sông cấm chợ mà trước tiên là bãi bỏ các trạm kiểm soát trên các truyến giao thông. Tuần Việt Nam xin giới thiệu câu chuyện 3 kỳ của chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn nhằm kể lại những kỷ niệm này.

I.  Chuyến đi Duyên Hải và ý tưởng ban đầu về hội nhập

Đã từng có một thời, ngăn sông cấm chợ rất phổ biến nước ta. Đó là thời kỳ nhiều người châm biếm: ta hiện có 400 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (ý nói các quận, huyện khác nhau). Bởi vậy, sau chuyến đi thực tế xuống Duyên Hải, chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn có ấn tượng khó quên về cuộc sống chật vật, thiếu thốn tiện nghi của người dân nơi đầu sóng ngọn gió. Cũng từ chuyến đi đó, đã hình thành trong ông ý nghĩ ban đầu về hội nhập kinh tế như một động lực cho phát triển.

Kỷ niệm đầu tiên đánh dấu việc tôi tham gia Nhóm chuyên viên Cholimex là chuyến đi công tác tại Duyên Hải cùng anh Trần Bá Tước và anh Võ Hùng.

Chúng tôi đi Duyên Hải lần đó với mục đích là làm một “survey” về tiềm năng xuất khẩu. Thời đó đường đi từ thành phố đến Duyên Hải rất khó khăn, phải vừa đi xe lẫn đi phà. Chúng tôi đến trụ sở huyện thì trời đã sụp tối. Một anh cán bộ trực tiếp chúng tôi, xem giấy giới thiệu và chỉ hướng về dãy nhà mà huyện bố trí cho chúng tôi ở. Lúc đó khoảng 7 giờ tối, toàn khu đều không có điện, trời lại mưa lâm râm. Chúng tôi người mang túi, người xách ba lô (anh Võ Hùng có một cái ba lô rất xịn) băng qua con đường đất mà mưa dầm đã làm lầy lội để đến dãy nhà chìm khuất trong bóng tối và cơn mưa.

Trời tối, đường ngập nước nên chúng tôi không phân biệt được con đường và đầm lầy, phải lội bì bõm trong bùn. Một lần tôi bước hụt chân vào một vũng bùn sâu, đến khi rút chân lên thì chiếc dép vẫn còn nằm bên dưới. Tôi phải nhờ anh Tước cầm hộ túi xách rồi dùng tay mò tận dưới bùn để lôi chiếc dép lên. Khi đến dãy nhà, chúng tôi ướt lóp ngóp, căn nhà thì tối thui. May nhờ anh Võ Hùng có mang theo quẹt lửa (tôi và anh Tước không hút thuốc) nên chúng tôi gom một mớ giấy vứt bừa bãi trong phòng làm đuốc.

Phòng này hình như là phòng học nên không có giường, chỉ có mấy cái bàn học kê lỏng chỏng. Muỗi rất nhiều. Chúng tôi mắc mùng vào các chân bàn kê ngược lên trên và trải giấy báo nằm ngủ dưới đất. Một giấc ngủ ngon ơi là ngon. Sáng ra, nhìn chung quanh mới thấy khu đất rất rộng rãi quang đãng. Phía sau dãy nhà chúng tôi ở đêm qua là khu vực hồ chứa nước của trụ sở huyện, có đến năm sáu cái hồ to xây lộ thiên. Còn dọc bờ tường của dãy nhà trụ sở là hàng chục cái mái đầm lớn tướng. Chúng tôi đánh răng, rửa mặt trong tinh thần hết sức tiết kiệm vì biết rằng nước uống, nước sinh hoạt ở đây quí giá vô ngần. Vào mùa nắng, phải chờ nước từ thành phố xuống.

Vào cái thời mà mỗi quận, huyện là một địa bàn công nông nghiệp hoàn chỉnh, Duyên Hải cũng phải gắng sức hoàn thành tốt vai trò của nó để thành phố Hồ Chí Minh có được cái gọi là tiềm năng hải sản xuất khẩu. Những ấn tượng về chuyến đi khiến tôi, trong khi trao đổi với các bạn về tiềm năng của Duyên Hải, cứ nói đi nói lại mãi về những vấn đề căn bản mà nó phải được giải quyết trước khi nói chuyện phát huy tiềm năng, đó là điện, nước, đường giao thông mà đường giao thông là quan trọng nhất. Không nối được mạch máu với quả tim là thành phố Hồ Chí Minh để tiếp nhận nhựa sống từ đó, Duyên Hải sẽ mãi mãi chỉ là tiềm năng.

Chuyến đi Duyên Hải, ngoài ấn tượng khó quên về cuộc sống chật vật, thiếu thốn tiện nghi của người dân nơi đầu sóng ngọn gió, đã hình thành trong tôi ý nghĩ ban đầu về hội nhập kinh tế như một động lực cho phát triển.

Trong những buổi mạn đàm, có lẽ tôi là người nặng lời nhất về tình trạng cấm chợ ngăn sông rất phổ biến vào thời kỳ đó, thời kỳ mà nhiều người châm biếm rằng ta hiện có đến 400 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (ý nói các quận huyện khác nhau).

Khoảng đầu năm 1986, tôi bắt đầu sinh hoạt thường xuyên với các anh em chuyên viên Cholimex vào thứ Sáu hàng tuần. Chọn chiều thứ Sáu vì đây là ngày anh em ít bận nhất, đó cũng là ngẫu nhiên lúc ban đầu. Sau này, khi sinh hoạt đã đều đặn rồi, anh em chủ động sắp xếp để không kẹt công việc vào chiều thứ Sáu, có nhiều anh phải dời ngày dạy tại các trường đại học để tránh trùng ngày. Ban đầu, các đề tài xoay quanh những dự án sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của công ty Cholimex. Anh Ba Hoà, Giám đốc công ty có dự họp một vài lần, sau đó uỷ nhiệm cho anh Phan Chánh Dưỡng là Phó giám đốc công ty chủ trì luôn.

Thật ra, sáng kiến mời các chuyên viên cộng tác là của anh Dưỡng và anh Tước, nhưng cũng cần phải thông qua anh Ba Hoà để hợp thức hoá vì anh là Giám đốc công ty. Lần đầu tiên gặp anh Dưỡng, tôi đã có ấn tượng ngay. Anh nói năng gãy gọn khúc chiết tuy là giọng Bạc Liêu – Cà Mau có pha chút giọng Hoa nhưng nghe rất rõ ràng. Anh có những lập luận đầy thuyết phục và có cách so sánh minh hoạ rất hình tượng và dễ hiểu để chứng minh cho lập luận của mình. Về điểm này, anh Dưỡng và anh Lâm Võ Hoàng rất giống nhau, tuy cách so sánh minh hoạ của anh Hoàng có phần chua chát và châm biếm hơn.

Anh Dưỡng là người rất thông minh. Anh học toán, không phải là dân kinh tế “nòi” nhưng những vấn đề kinh tế hóc búa nào đã qua một lần trao đổi là anh đều nắm vững và khi thảo luận lại anh trình bày quan điểm của mình về vấn đề đó một cách sâu sắc và đúng đắn. Anh còn hơn chúng tôi ở chỗ phối hợp được những lý luận toán học, quy luật vật lý để chứng minh những vấn đề kinh tế xã hội bằng những lập luận mang tính thuyết phục.

Tôi rất thích trao đổi với anh Dưỡng tuy rằng chúng tôi có rất ít thời gian để nói chuyện riêng. Chúng tôi tận dụng thời gian cùng ngồi trên xe đi về nhà để mỗi lần nói một chuyện. Thôi thì đủ thứ đề tài từ vũ trụ đến triết học, tôn giáo, binh pháp… quan hệ đối nhân xử thế xưa nay.

Anh Dưỡng là người siêng đọc, chịu khó nghiên cứu. Anh có một tập nghiên cứu về vũ trụ không thời gian với những ý tưởng rất mới lạ và không phải là không có cơ sở khoa học. Anh là một người đa tài, có năng lực nhưng tôi có cảm giác là anh không gặp thời… Đáng lẽ anh có thể có những đóng góp nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn cho đất nước nếu anh được sử dụng đúng tài năng của mình.

Có thể anh không chia xẻ với tôi cảm giác đó và cũng như tất cả anh em, chúng tôi hài lòng về cái mình đã được và đã đóng góp được, không phải ở kết quả của chúng mà là ở chỗ chúng đã được diễn đạt. Có khi ở một vị trí nào đó nghĩ là thuận lợi hơn nhưng lại không nói được hết ý mình thì sao!

Khoảng giữa năm 1986, những hậu quả của cuộc cải cách giá, lương, tiền đã được cảm nhận ở khắp nơi trên cả nước. Lưu thông hàng hoá bị đình trệ vì thiếu tiền mặt, ở các tỉnh, nhất là ở nông thôn người ta quay lại phương thức hàng đổi hàng.

Một người quen của tôi ở Vĩnh Long nói rằng để mua mấy mét vải cho con, anh phải mang mấy giạ lúa ra đổi. Tiền lẻ thiếu trầm trọng khiến cho mặt bằng giá bị nâng lên một cách bất đắc dĩ, càng làm cho hoạt động trao đổi hàng hoá trở nên đình trệ.

Trong bối cảnh đó, để tự cứu, các địa phương càng tăng cường các biện pháp ngăn sông cấm chợ với mục tiêu là giữ chặt hàng hoá cho địa phương mình, điều này càng làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nước lâm vào cảnh bế tắc. Việc cải cách tiền lương không cải thiện được thu nhập thực tế của cán bộ công nhân viên vì mặt bằng giá sau cải cách đã thay đổi.

Nền kinh tế đứng trước một nghịch lý: giá hàng tăng, sản xuất đình trệ, đồng tiền khan hiếm, đông đảo người dân ở nông thôn không có tiền, nhưng đồng thời lại phổ biến tâm lý e ngại giữ tiền đồng, ai có thừa một ít tiền đồng đều vội vã mua vàng hoặc đô la cất giữ. Những người thực hiện cuộc cải cách giá – lương – tiền nghĩ rằng đó là một giải pháp cho nền kinh tế nhưng không ngờ chính cái gọi là giải pháp đã tạo ra một bài toán khó, đòi hỏi một liệu pháp mới.

Vào thời điểm đó, không thiếu những nhận định đại loại như: “tiền mặt vừa thừa vừa thiếu, thừa trong dân cư và thiếu trong hệ thống ngân hàng và trong khu vực Nhà nước” hoặc “nền kinh tế đang lâm vào tình trạng lạm phát phi mã”. Từ những nhận định như vậy, nhiều giải pháp đã được đề xuất như “phải tăng cường giám sát chặt chẽ tiền mặt”, “hạn chế phát hành tiền ra lưu thông”, “kiểm soát chặt chẽ lưu thông hàng hoá, chống đầu cơ tích trữ, tăng cường quản lý thị trường”… Khỏi phải nói, những biện pháp như thế chẳng những không cải thiện được tình hình mà còn làm trầm trọng thêm.

Vào khoảng tháng 10 năm 1986 – tôi không nhớ rõ lắm – anh Hai Chí và anh Năm Nghị có đến trao đổi với anh em, chắc là do anh Hai Chí gợi ý và anh Dưỡng nhận lời. Nội dung cuộc trao đổi xoay quanh vấn đề giá – lương – tiền.

Anh Hai Chí nói qua về tình hình của thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị anh em góp ý về một giải pháp nhằm giúp thành phố khắc phục hậu quả khó khăn này. Cuộc thảo luận rất sôi nổi vì không những nó đặt ra một số vấn đề về thực tiễn mà còn liên quan đến các vấn đề về lý thuyết kinh tế. Tôi còn nhớ mình đã nói với anh Hai Chí rằng vấn đề này không thể chỉ giải quyết trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh và hơn nữa bản thân thành phố không thể tự giải quyết nổi. Cuối buổi họp, anh Dưỡng thay mặt anh em nhận lời thực hiện đề tài theo yêu cầu của anh Hai Chí.

Đây có thể nói là một đề tài đầu tiên có tính chất vĩ mô mà Nhóm nhận thực hiện và tất cả anh em đều mang một tinh thần hăng hái nhập cuộc. Tôi vinh dự được anh em tín nhiệm giao làm chủ đề tài và cùng thống nhất là đề tài không hạn chế trong phạm vi thành phố vì nó đụng chạm đến những biện pháp kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, vì không có điều kiện tiếp cận số liệu thống kê kinh tế cả nước nên tôi phải sử dụng số liệu có được tại thành phố trước năm 1975 để minh hoạ và chứng minh. Phải nói rằng việc thu thập số liệu thống kê vào thời kỳ đó là muôn vàn khó khăn vì số liệu nào cũng được xem là mật cả. Tuy thế, với một tinh thần hăng say, các anh em tham gia đề tài thích cực thảo luận trao đổi, góp nhặt số liệu, phân tích, đánh giá và đi đến thống nhất về nhận định tình hình và giải pháp đề xuất.

Phải nói rằng, quá trình đi đến thống nhất nhận định là một quá trình hết sức gay go và thú vị. Mỗi người đều nói hết những suy nghĩ, những đánh giá của riêng mình, vận dụng hết những kiến thức ở trường lớp, trong sách vở và cả những kinh nghiệm thực tế ngoài đời. Và không phải chỉ có những người tham gia đề tài mới thảo luận mà mọi anh em có mặt trong buổi họp đều được mời tham gia ý kiến.

Các cuộc thảo luận hăng say đến nỗi trước đây anh em chỉ họp mỗi tuần một lần, thời gian đó nâng lên mỗi tuần họp đến 3 lần vào các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu. Vậy mà buổi họp nào cũng đầy đủ anh em đến dự. Có hôm trời mưa như trút nước, anh Phan Tường Vân vẫn đạp chiếc xe đạp lọc cọc đến. Có lúc anh em cãi nhau căng thẳng, anh Tước và tôi phải dàn hoà. Vậy mà dần dần các vấn đề được mổ xẻ bộc lộ ra, sáng tỏ dần và điều đáng quí nhất là qua các cuộc tranh luận anh em ngày càng thống nhất với nhau hơn trong cách nhận thức vấn đề.

II.  Việc ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá

Trước hơn hai mươi quan chức, Nhóm Thứ Sáu quả quyết: “Việc ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong nền kinh tế; Việc cải cách tiền lương là đúng, nhưng những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của cuộc cải cách tiền lương. Cuộc cải cách giá – lương – tiền có thể đã thành công nếu Nhà nước không đổi tiền”.

Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định vào niềm tin mỏng manh của người dân vào đồng tiền Việt Nam và sự chạy trốn đồng bạc của người dân cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giá của đồng bạc.

Khi cả đoàn đã đến Hà Nội (tôi ra trước bằng máy bay, còn đoàn anh Dưỡng và anh Tước đi đường bộ), anh Dưỡng liên lạc với văn phòng ông Sáu Dân báo cho họ biết đoàn đã ra và hẹn ngày làm việc. Bên văn phòng nói là họ đã biết việc này và bảo cứ chờ, chừng nào thu xếp lịch xong sẽ thông báo cho biết.

Lần đầu diện kiến ông Sáu Dân

Chiều hôm đó, mọi người kéo nhau đi ăn tối, riêng tôi với vợ tôi vì có hẹn đến thăm nhà chị bạn mới quen nên không cùng đi. Khi chúng tôi quay về khách sạn, lúc đó khoảng 6 giờ 15 thì gặp anh Dưỡng, hối hả bảo tôi phải chuẩn bị tài liệu ngay vì ông Sáu hẹn làm việc lúc 7 giờ. Lúc đó, tôi và vợ tôi đều chưa ăn tối, nhưng không kịp nữa vì khoảng 6 giờ rưỡi là khởi hành.

Tôi chỉ kịp xem sơ lại tài liệu, nghĩ rằng buổi làm việc tối nay cũng chỉ là làm sơ bộ với các chuyên viên văn phòng của ông Sáu thôi. Cả anh Dưỡng và anh Tước cũng đều nghĩ như thế nên giục tôi đi sớm, không cần phải chuẩn bị nhiều. Thế là tôi ôm cái bụng đói cùng một mớ tài liệu lên đường. Còn nhớ ngoài ba anh em còn có cả anh Hai Đoàn và một anh Trần Ngọc, Phó giám đốc công ty Cholimex .

Chúng tôi đến khu Quảng Bá, nơi làm việc của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng lúc đó, trước 7 giờ một chút. Khi bước vào hội trường, tôi cảm thấy hơi choáng váng, không biết anh Dưỡng và anh Tước có cùng cảm giác ấy không. Tôi tưởng làm việc chỉ với năm ba người chuyên viên cùng với ông Sáu, hoá ra đêm đó ở hội trường có đến hơn hai mươi người, trongđó chỉ có một người mà tôi biết vì đã từng làm việc trước đây là anh Ba Châu, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một chức vụ tương đương với Bộ trưởng.

Chúng tôi được giới thiệu với ông Sáu Dân, đó là lần đầu tiên tôi diện kiến ông Sáu và ngay từ lần đầu trong tôi đã có một tình cảm mến mộ và kính trọng đối với ông.

Khi chủ khách an toạ, anh Vũ Quốc Tuấn – trợ lý của ông Sáu – đứng lên giới thiệu thành phần tham dự, tôi mới biết những người có mặt hôm đó gồm toàn Bộ trưởng, Thứ trưởng các Bộ có liên quan đến tài chính, kinh tế, các vị trong Ban Kinh tế Trung ương, Ban Công nghiệp Trung ương, Viện Nghiên cứu Kinh tế và các chuyên viên có tầm cỡ của Bắc Hà.

Sau đó, ông Sáu có nói vài lời ngắn gọn về nội dung buổi làm việc là nghe và trao đổi ý kiến về bản đề cương do các anh em chuyên viên ở thành phố soạn thảo như một ý kiến đề xuất về các giải pháp nhằm tháo gỡ tình hình khó khăn về kinh tế hiện nay. Ông đề nghị các anh em cứ mạnh dạn nói thẳng, nói hết ý đừng ngần ngại vì đây là một buổi trao đổi có tính chất khoa học.

Anh Dưỡng phát biểu trước, giới thiệu về đề cương và quá trình soạn thảo đề cương, nêu lên nỗi bức xúc của các anh em chuyên viên kinh tế ở thành phố về tình hình hiện nay và những khó khăn mà anh em gặp phải trong quá trình làm việc như vấn đề tư liệu, số liệu… Anh phát biểu khoảng 10 phút, giọng nói khá xúc động. Sau đó anh giới thiệu tôi trình bày đề cương.

Dùng thực tế đời sống để chứng minh thực tế Khi đứng lên để thuyết trình, tôi cảm thấy thật sự xúc động, nếu không nói là run. Nhưng sau khi nói vài câu thì tôi bình tĩnh lại, thấy đầu óc rất sáng suốt (có lẽ nhờ bụng đói chăng), trình bày vấn đề một cách rõ ràng, mạch lạc và càng nói càng hăng, giống như được trút ra những nỗi niềm tâm sự bị dồn nén bấy lâu nay.

Về giá, tôi muốn chứng minh rằng tình trạng tăng giá hàng mà chúng ta đang chứng kiến chỉ là một sự tăng giá ảo, nó không mang lại sự kích thích sản xuất hay giải quyết công ăn việc làm như tác động thường thấy của lạm phát trong một nền kinh tế đang tăng trưởng. Mỗi người nhìn hiện tượng giá cả từ góc độ của mình và đều thấy nó khác nhau, người tiêu dùng thấy giá hàng tăng nhưng nhà sản xuất lại thấy giá không bù đắp nổi chi phí, đặc biệt người nước ngoài xài đô la tại Việt Nam sẽ thấy giá cả hàng hoá tại đây ngày càng rẻ hơn. Hầu như giá cả mọi loại hàng hoá đều giảm so với vàng và đôla.

Mặc khác, bằng những con số thực tế, tôi chứng minh rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ mà chúng ta tạo ra đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong nền kinh tế như thế nào: trong khi giá 1 kg khoai mì lát tại thành phố Hồ Chí Minh là 2 đồng thì tại Ban Mê Thuật chỉ là 50 xu. Giá các mặt hàng khác cũng tương tự. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng mục tiêu không thay đổi của chính sách tiền tệ tại các nước kế hoạch hoá tập trung trong đó có Việt Nam là chống lạm phát bằng cách hạn chế lượng tiền đưa ra lưu thông nên nó không thể tạo ra lạm phát đúng nghĩa mà chỉ có thể tạo ra suy thoái và sự kiệt quệ sức sản xuất.

Và chính vì lượng hàng hoá cung ứng cho nền kinh tế luôn luôn thấp so với nhu cầu, tình trạng tăng giá suy thoái xảy ra triền miên và chúng ta không thể khắc phục tình trạng này bằng việc tiếp tục hạn chế khối tiền tệ. Nếu để tình trạng này tiếp tục diễn ra sẽ dẫn đến hiện tượng phi tiền tệ hoá nền kinh tế, người dân hoặc sẽ dùng vàng và đôla làm phương tiện thanh toá, cất giữ hoặc sẽ trở lại thời kỳ hàng đổi hàng.

Về lương, việc cải cách tiền lương là đúng, nhưng những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của cuộc cải cách tiền lương. Tôi có nói, cuộc cải cách giá – lương – tiền có thể không gây ra những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế nếu Nhà nước không đổi tiền.

Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định vào niềm tin mỏng manh của người dân vào đồng tiền Việt Nam và sự chạy trốn đồng bạc của người dân cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giá của đồng bạc.

Trong phần kiến nghị, tôi có đề nghị mấy điểm chính như chấm dứt tức khắc tình trạng cấm chợ ngăn sông bằng cách trước tiên bãi bỏ các trạm kiểm soát hàng hoá trên các trục lộ giao thông, áp dụng một chính sách tiền tệ tích cực nhằm hỗ trợ cho sản xuất phát triển, cải tổ hệ thống ngân hàng để tạo sự tín nhiệm cho người gửi tiền, chuẩn bị những  loại tiền có mệnh giá lớn như 100 ngàn đồng chẳng hạn và đặc biệt phải công bố cho người dân biết là Chính phủ sẽ không bao giờ đổi tiền nữa.

Khi tôi kết thúc phần trình bày, đã gần 8giờ30. Ông Sáu đề nghị nghỉ giải lao 10 phút, trong thời gian đó chúng tôi được chiêu đãi một chén chè đậu xanh hay hạt sen gì đó. Thôi thì cũng tạm đỡ đói. Sau đó trong phần thảo luận, có khá nhiều chuyên viên Bắc Hà tỏ ra đồng tình với đề cương của chúng tôi. Cũng có một vài câu hỏi, nhưng chủ yếu là để làm sáng tỏ vấn đề, không phải để cật vấn. Chính chúng tôi cũng không ngờ đạt được một sự nhất trí cao như vậy.

Sau này, anh Dưỡng kể lại có một vài người gặp anh và nói: “Các anh nói đúng những điều chúng tôi nghĩ mà không dám nói ra”. Ông Sáu Dân có vẻ rất thích thú, cuối buổi họp ông đến hỏi thăm từng anh em chúng tôi, khi được biết trong đoàn, anh Dưỡng và tôi có đưa bà xã ra thăm Hà Nội, ông liền dặn trước khi về Sài Gòn mời đoàn đến gặp ông và mời luôn cả hai phu nhân đi theo đoàn không chính thức. Lần đầu gặp ông Sáu, tôi gọi ông bằng bác. Thật ra lúc đó trông ông trẻ trung và khoẻ mạnh lắm. Ông bảo cứ gọi bằng anh cho thân mật nhưng tôi nói vì tôi là đồng nghiệp của con gái ông nên theo lễ phải gọi ông bằng bác. Sau này, không hiểu vì sao tôi lại đổi cách xưng hô và gọi ông là chú Sáu.

Trước khi ra về, anh Ba Châu có đến gặp và đề nghị chúng tôi đến Ngân hàng Nhà nước để trình bày thêm cho anh và các vị lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nghe về đề tài này. Chúng tôi vui vẻ nhận lời. Ông Nguyễn Văn Trân, lúc đó là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương cũng đến gặp chúng tôi và ngỏ lời mời tương tự. Chúng tôi cũng nhận lời và đề nghị ông bố trí ngày giờ thuận tiện.

Khoảng 10 giờ chúng tôi mới trở về khách sạn. Trong đoàn ai nấy đều vui vì đánh giá buổi trình bày là thành công. Về đến khách sạn, bà xã đưa cho ăn cái bánh gì đó, hình như là bánh giò với chả lụa, nhưng lúc đó bụng thấy hết đói rồi.

Những ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục làm việc cũng về đề tài nói trên tại Ngân hàng Nhà nước và Viện Kinh tế. Tôi không nhớ rõ về buổi làm việc tại Viện Kinh tế, chỉ còn giữ ấn tượng về ông Nguyễn Văn Trân là một người tầm thước, rất tinh tế và lịch sự.

Riêng buổi làm việc tại Ngân hàng Nhà nước, tôi có cảm tưởng các vị bên ngân hàng không đồng tình cho lắm về cách đánh giá và nhận định của đề tài. Họ không nêu ý kiến cụ thể nhưng có vẻ không hưởng ứng, một vài người tỏ vẻ nghi ngờ các số liệu trong đề cương, có anh cho rằng những con số lấy tại thành phố Hồ Chí Minh không đủ để chứng minh cho cả nền kinh tế. Riêng anh Ba Châu tỏ ra rất quan tâm, anh xin một bản copy của đề cương, cám ơn chúng tôi và hẹn khi vào thành phố sẽ đến gặp anh em và đặt hàng về một đề tài khác.

Cũng trong thời gian đó, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cho người mời chúng tôi đến trao đổi với ông một buổi tại Bộ Ngoại giao. Buổi sáng hôm ấy, ông Thạch cho xe đón ba người chúng tôi đến Bộ làm việc trực tiếp với ông và ông Vũ Khoan, lúc đó là Vụ trưởng. Ông Vũ Khoan không nói gì, chỉ ngồi ghi chép. Ông Thạch hỏi rất nhiều, chúng tôi thay phiên nhau trả lời và giải thích về cơ sở các nhận định của mình trong đề cương.

Tôi nhớ ông có hỏi một câu về phân phối lương thực: Nhà nước có nên tiếp tục quản lý chặt không? Tôi trả lời nếu Nhà nước cứ tiếp tục ép nông dân phải bán gạo cho Nhà nước với giá thấp thì sản xuất lương thực sẽ không tăng được và nước ta tiếp tục thiếu gạo. Cần phải cho phép người nông dân bán nông phẩm thặng dư cho bất cứ ai và đến bất cứ nơi nào. Trước nay ta vẫn có ác cảm với tư thương, nhưng tư thương là ai? Họ chính là nông dân hay gia đình của nông dân, hoặc ít ra cũng là người giúp đỡ nông dân tiêu thụ sản phẩm.

Ông Thạch có vẻ đồng tình với nhiều ý kiến của anh em chúng tôi, đặc biệt được chúng tôi thuyết phục là tình hình tiền mặt lưu thông lúc đó đang thiếu chứ không phải thừa. Ông tâm sự rất thích đọc quyển Kinh tế học của Samuelson và cũng nhận định là cần phải có một cuộc cải cách mạnh mẽ về kinh tế.

Những ngày tiếp theo thực sự là những ngày thảnh thơi. Tôi có cảm giác làm tròn được một công việc  có ý nghĩa. Những ngày sau đó, vợ chồng tôi la cà thăm viếng 36 phố phường của Hà Nội và được anh Hai Đoàn đưa đến gặp ông Vũ Kỳ, người giúp việc cho Bác Hồ trước đây, nay đã là một cụ già tráng kiện, quắc thước với mái tóc bạc phơ. Ông kể cho chúng tôi nghe những giai thoại thú vị về cuộc đời Bác, đưa chúng tôi đi xem căn nhà sàn nơi Bác làm việc với cách bài trí hết sức đơn giản, mộc mạc….

Buổi chiều hôm trước ngày về, đoàn có ghé thăm ông Sáu Dân. Ông tiếp chúng tôi vui vẻ, thân mật và cho biết đề nghị của chúng tôi về việc giải toả các trạm kiểm soát hàng hoá đã được thực hiện. Quả nhiên, khi chúng tôi xuôi về Nam bằng đường bộ, suốt dọc đường gần hai ngàn cây số không còn một trạm kiểm soát nào.

III.  Trí thức chế độ cũ góp sức cải tổ ngành Ngân hàng

Kết quả tốt đẹp của chuyến đi đã tạo nên một nguồn cảm hứng khiến chúng tôi làm việc hăng say hơn. Anh Ba Châu vào gặp anh em và đề nghị xây dựng đề cương về cải cách hệ thống Ngân hàng với mục tiêu là biến hệ thống ngân hàng từ một cấp thành hai cấp. Chúng tôi vui vẻ nhận lời.

Sau đề tài về ngân hàng, chúng tôi tập trung nghiên cứu về việc đổi mới ngân hàng ngoại thương và vấn đề hội nhập kinh tế từ bên trong (kinh tế vùng).

Vào tháng 10/1987, theo đề nghị của Ban Kinh tế Thành uỷ, tôi rời công ty Imexco để tham gia vào Sài Gòn Công thương Ngân hàng, ngân hàng cổ phần đầu tiên của Việt Nam. Đây là lần thứ hai tôi trở về ngành ngân hàng sau 5 năm công tác trong ngành ngoại thương.

Háo hức tham gia đề án cải tổ ngành ngân hàng

Đến năm 1989, vào khoảng tháng 8, tôi nhận được một giấy mời ra Hà Nội. Tôi đến Hà Nội vào buổi chiều, ngay tối hôm đó đã có buổi làm việc sơ bộ với nhóm chuyên viên được Văn phòng Chính phủ mời, trưởng nhóm là anh Phan Văn Tiệm, lúc đó là Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước. Phiên họp hôm đó có cả anh Nguyễn Thiệu tham dự. Đề tài là cải tổ ngành ngân hàng, vấn đề này được chính phủ giao cho hai nhóm chuyên viên phụ trách, một nhóm chuyên viên của Văn phòng Chính phủ và một nhóm chuyên viên do Ngân hàng Nhà nước chủ trì (lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm vừa thay thế anh Ba Châu làm Tổng giám đốc).

Tôi được biết lý do phải tổ chức hai nhóm là để công trình nghiên cứu mang tính khách quan và bao quát, phía Ngân hàng Nhà nước thì có chuyên môn trong lĩnh vực ngân hàng, phía nhóm chuyên viên Văn phòng Chính phủ (lúc đó gọi là Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng) thì có tầm nhìn kinh tế vĩ mô rộng hơn.

Sau buổi trao đổi đêm đó, anh Tiệm và chúng tôi thống nhất mỗi thành viên sẽ trình bày một đề cương và hẹn gặp nhau lại để thống nhất đề cương, trình ông Sáu Dân duyệt rồi sẽ phân công triển khai.

Hôm sau, tôi còn đang ở nhà khách thì có một cán bộ Ngân hàng Nhà nước đến gặp và gửi cho tôi giấy mời của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị tôi đến làm việc.

Tôi được ông Nguyễn Văn Đạm, Phó Tổng giám đốc thứ nhất của Ngân hàng Nhà nước tiếp (lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm đang công tác ở nước ngoài). Ông Đạm cho biết Ngân hàng Nhà nước có thành lập một tổ chuyên viên cải tổ ngân hàng và đề nghị tôi tham gia. Tôi trình bày với ông là tôi đã được bố trí tham gia nhóm anh Tiệm, nhưng ông Đạm nhấn mạnh rằng tôi vốn là người của ngành ngân hàng, vả lại hiện nay đang công tác trong ngành, không lý gì khi ngành đang cần tôi lại không tham gia.

Cuối cùng, tôi đành phải nhận lời tham gia cả hai tổ, trong thâm tâm tôi nghĩ rằng có khi điều này cũng có lợi vì tôi có thể làm gạch nối cho hai tổ và làm cho những khác biệt giữa hai nhóm có thể giảm đi.

Hôm trước khi về, tôi đến chào ông Sáu Dân và báo cáo về các buổi làm việc với anh Tiệm và anh Đạm. Ông đồng tình việc tôi tham gia vào hai tổ và  hỏi tôi có giới thiệu thêm ai có thể tham gia vào chương trình này không? Tôi nghĩ ngay đến anh Lâm Võ Hoàng hiện đang cộng tác với Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố và giới thiệu đôi nét về anh Hoàng với ông Sáu. Ông lập tức dặn anh Thiệu chuẩn bị giấy mời anh Hoàng tham gia tổ do anh Tiệm chủ trì. Thế là trong chuyến đi Hà Nội tiếp theo sau đó để thông qua đề cương, tôi đi cùng với anh Hoàng và hình như đó cũng là lần đầu tiên anh Hoàng ra Hà Nội. Khi diện kiến ông Sáu Dân lần đầu tiên, tôi thấy anh rất phấn khích.

Sau đó, cả anh Hoàng cũng được mời tham gia hai tổ công tác, một do anh Kiêm chủ trì, một do anh Tiệm. Đó cũng là một điều may vì bản dự thảo đề cương cải tổ do tôi soạn, cùng với bản dự thảo của anh Lê Xuân Nghĩa đều được cả hai tổ thảo luận và đi đến thống nhất. Kết quả là các sự khác nhau ban đầu giữa quan điểm cải tổ của hai nhóm đã thu hẹp đáng kể và cuối cùng đi đến nhất trí trình Hội đồng Bộ trưởng trong một đề cương chung vào cuối năm 1989, sau chưa đầy hai tháng làm việc với những cuộc tranh luận sôi nổi hào hứng, đôi khi rất kịch liệt và căng thẳng trong mỗi tổ và giữa hai tổ. Sau này, chúng tôi và các anh em chuyên viên Bắc Hà đều trở thành những người bạn thân thiết.

Đó là các anh Phan Văn Tiệm, Phan Quang Tuệ, Lê Xuân Nghĩa ở Tổ Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng,các anh Cao Sỹ Kiêm, Nguyễn Văn Chuẩn, Nguyễn Quang Liên, Ngô Tuấn Kiệt, Lê Văn Tư, Lê Trọng Khánh, Cao Cự Bội, Lê Hoàng, Trịnh Bá Tửu, Trang Sĩ Liêm… Ở Tổ chuyên viên Ngân hàng Nhà nước và đặc biệt là anh Nguyễn Thiệu (tổ VPHĐBT) sau này trở thành người bạn tâm giao của tôi dù anh lớn hơn tôi đến một con giáp .

Sau khi đề cương đã được hai tổ hoàn thành và trình trước cho ông Sáu, một hôm ông Sáu cho gọi anh Lâm Võ Hoàng và tôi đến làm việc với ông tại nhà, hôm đó có cả anh Nguyễn Thiệu, để hỏi thêm về một số vấn đề chưa rõ trong cả hai đề cương. Trong buổi gặp mặt đó, anh Hoàng và tôi báo cáo với ông những nhược điểm hiện có của hệ thống ngân hàng một cấp trong đó nổi cộm nhất là sự nhập nhằng giữa chức năng ngân hàng và ngân sách (cho vay và cấp phát), cũng như giữa vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước và vai trò kinh doanh của các ngân hàng thương mại (điều mà anh em chúng tôi hay gọi là vừa đá bóng vừa thổi còi).

Chúng tôi cũng đề nghị xác lập vị trí độc lập của Ngân hàng Nhà nước với chức năng của một Ngân hàng Trung ương đối với việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ. Nhưng ông Sáu cho rằng bước đi như thế là quá nhanh và chưa thích hợp với tình hình và điều kiện hiện nay. Riêng đối với đề xuất về việc thiết lập cơ chế Hội đồng Quản trị Ngân hàng Nhà nước thì ông ủng hộ. Việc thay đổi danh xưng của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cũng được ông nhất trí, thay vì gọi là Tổng giám đốc như trước đây (dễ gây lầm lẫn) thì gọi là Thống đốc cho thống nhất với cách gọi phổ biến của nhiều nước.

Sau này, khi trình bày đề án trước Hội đồng Bộ trưởng, phải nói là nếu không được sự đồng tình của ông Sáu Dân, cả hai tổ nghiên cứu khó mà thuyết phục được một số vị lãnh đạo trong Hội đồng Bộ trưởng vẫn quan niệm rằng cơ chế Hội đồng Quản trị chẳng khác nào một Chính phủ trong một Chính phủ, còn danh xưng Thống đốc sao mà nghe “sặc mùi đế quốc”.

Hôm đó, chúng tôi làm việc với ông Sáu từ 10 giờ sáng đến tận 2 giờ trưa, và dùng cơm trưa “dã chiến ” cùng ông, đây có thể là buổi làm việc lâu nhất với ông Sáu và ông đã chỉ đạo một việc mà tôi cho là rất quyết định đối với công cuộc cải cách hệ thống Ngân hàng Việt Nam: yêu cầu chúng tôi tập trung dự thảo Luật Ngân hàng.

Dấu ấn: Pháp lệnh Ngân hàng 1990

Trong suốt hai tuần lễ giữa tháng 10/1989 tôi đã tham khảo chủ yếu 2 Luật Ngân hàng trước năm 1975, đối chiếu với các quy định hiện hành về ngân hàng và điều kiện kinh tế vào lúc đó, có tham khảo thêm các luật của Pháp, Đức, Anh, Mỹ và đã hoàn tất sơ bộ hai dự thảo pháp lệnh, một cho Ngân hàng Thương mại, một cho Ngân hàng Trung ương, đồng thời nhờ dịch cả hai sang tiếng Anh và tiếng Pháp.

Vào tháng 3/1990, anh Nguyễn Thiệu, anh Lê Văn Tư và tôi, ba người được ông Sáu cử đi Pháp và Thái Lan với sự tài trợ của hai ngân hàng BFCE và IndoSuez để tham khảo ý kiến của các giới ngân hàng ở Pháp và Thái Lan về hai pháp lệnh (đặc biệt với Banque de France và Ngân hàng Trung ương Thái Lan). Cũng nhân chuyến đi đó, tôi đã gặp ông Berth, đại diện IMF tại Pháp và nhờ IMF cho ý kiến về dự thảo pháp lệnh ngân hàng. IMF đã đánh giá cao dự thảo hai pháp lệnh ngân hàng và đã có bản góp ý rất quan trọng. Chính trên cơ sở đó mà sau này khi đề cương cải tổ hệ thống ngân hàng được cả hai tổ thống nhất việc thảo luận dự thảo luật đã có thể tiến hành ngay và mặc dù có nhiều thay đổi, dự thảo cuối cùng đã được Chánh phủ thông qua vào tháng 5/1990 và trình Chủ tịch nước ban hành dưới hình thức Pháp lệnh Ngân hàng (tháng 10/1990). Phải thừa nhận rằng Pháp lệnh Ngân hàng đã được thông qua trong một thời gian ngắn có thể nói là kỷ lục vào lúc đó.

Thời gian làm việc cho đề án cải tổ ngân hàng và soạn thảo pháp lệnh dưới sự chỉ đạo của ông Sáu Dân là một thời gian có ý nghĩa nhất trong đời làm việc của tôi và cũng là thời gian mà Nhóm Thứ Sáu làm việc cật lực. Hầu như mọi vấn đề gút mắc đều được mang ra thảo luận trong các buổi sinh hoạt và những góp ý của các anh em trong Nhóm đã giúp làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề, cung cấp cho chúng tôi những lý luận mang tính thuyết phục để có thể nhanh chóng đi đến việc hoàn chỉnh đề án cải tổ.

Tuy nhiên, tôi cũng nhận thấy sẽ có những trở ngại chủ quan làm chậm tiến trình cải tổ và sẽ không dễ gì vượt qua những trở ngại ấy với các điều kiện về nhận thức vào thời điểm đó. Nhưng trong tinh thần thực tế và không cầu toàn, tôi đã cùng với các anh em chuyên viên Bắc Hà vượt qua được những cuộc tranh luận chuyên môn tưởng chừng như bế tắc (nhiều lúc phải đạp chân nhắc anh Hoàng không nên đi quá xa) và cuối cùng đã cùng nhau đạt đến một sự hoàn chỉnh nhất định cho cả đề án lẫn pháp lệnh.

April 4, 2010

Chênh lệch giữa các vùng ở Trung Quốc: “Một trăm năm nữa chưa chắc miền Tây đã bằng miền Đông”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:42 pm
Tags: , ,

Người ta chia Trung Quốc làm ba miền: Đông, Tây và Trung. Miền Đông là các tỉnh ven biển có nền kinh tế phát triển và đời sống người dân cao nhất Trung Quốc. Miền trung là các tỉnh ở giữa, kinh tế phát triển và đời sống trung bình. Miền Tây là vùng lạc hậu nhất.

Năm nay là 10 năm Trung Quốc thực thi chiến lược đại phát triển miền Tây. Số liệu chính thức cho biết, mười năm qua, 12 tỉnh, thành phố, khu tự trị [1] trước sau đã xây dựng 120 công trình trọng điểm, tổng đầu tư khoảng 2200 tỷ NDT (1NDT bằng khoảng 6,3 USD), những đường ống, đường dây vận chuyển khí, điện từ Tây sang Đông, đường sắt Thanh-Tạng v.v. đã nối nhau hoàn thành.

Tăng Bồi Viêm, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ Trung Quốc, hiện là Giám đôc Trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế của Trung Quốc nhận xét, 10 năm qua các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của miền Tây như; tổng lượng kinh tế, tốc độ tăng trưởng thu nhập tài chính, đầu tư tư sản cố định v.v. đều nâng cao rất nhiều cụ thể là tăng trưởng GDP của miền Tây đạt 12%, cao hơn miền Đông, tỷ trọng đã từ chỗ chiếm 17,1% của toàn quốc năm 2000 tăng lên 18,5% năm 2009, thu nhập có thể chi phối của dân cư thành thị và nông thôn đã từ 5648 NDT tăng lên đến 14213 NDT, thu nhập bình quân/năm của nông dân đã từ 1161 NDT tăng lên 3817 NDT.

Do được tăng nhanh đầu vào nên khoảng cách tốc độ tăng trưởng tương đối kinh tế của miền Tây với miền Đông đang thu nhỏ, nhưng khoảng cách tuyệt đối lại đang mở rộng. Đỗ Ưng, Phó chủ nhiệm Ủy ban cải cách phát triển quốc gia cho biết GDP bình quân đầu người của miền Tây và miền Đông năm 2000 chênh nhau 7000 NDT, nay khoảng cách đó đã là 21.000 NDT.

Lý Tử Bân nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Phát triển miền Tây của Quốc vụ viện nói thẳng: các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của miền Tây “dù có qua 100 năm nữa cũng chưa chắc đã bằng miền Đông”

Nên nhớ là miền Tây Trung Quốc chiếm 74% diện tích đất đai Trung Quốc, có hơn 400 triệu dân, tập trung 75% dân tộc thiểu số và khoảng 80% dân nghèo Trung Quốc.

Dương Danh Dy (Sưu tầm và giới thiệu)

Nguồn: theo “Trung Quốc tân văn võng” ngày 27/3/2010

[1] Tức các tỉnh,thành phố, khu tự trị: Trùng Khánh, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, Thanh Hải, Ninh Hạ, Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông Cổ

February 9, 2010

Kinh Tế VN xuyên suốt thời đại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:48 am
Tags: , , ,

Phá rào: “Đảng ở trong dân, từ dưới lên”

SGTT – Năm 1986, với Đại hội Đảng lần VI được coi là năm đánh dấu công cuộc đổi mới đất nước. Trước đó nhiều năm, đã có hàng loạt mũi đột phá gian nan và đầy mưu trí, vượt qua những hàng rào quy chế đã lỗi thời, góp phần mở đường cho công cuộc đổi mới. Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới (*) là cuốn sách của nhà nghiên cứu Đặng Phong đề cập đến những xoay xở của nền kinh tế trong giai đoạn này. Sài Gòn Tiếp Thị lược đăng phần nội dung nói về kinh tế ngoại thương, từ độc quyền ngoại thương, đến hàng loạt các hoạt động xuất nhập khẩu ra đời trong bóng tối…

Kỳ 1: Buôn bán tư nhân với nước ngoài

Việc xuất nhập khẩu của tư nhân vào thời kỳ cuối thập niên 70 và trong suốt thập niên 80 là điều không thể có về nguyên tắc. Kể từ năm 1959, sau khi cải tạo tư sản ở miền Bắc, Nhà nước đã thực hiện nguyên tắc độc quyền ngoại thương của trung ương. Địa phương không có quyền tự do xuất nhập khẩu, huống chi là tư nhân. Mãi đến năm 1987 – 1988, sau khi có chủ trương đổi mới và mở cửa hội nhập, xuất nhập khẩu tư nhân mới phục hồi.

Vậy mà ngay từ cuối thập niên 70 đã xuất hiện những kênh xuất nhập khẩu tư nhân rất sầm uất, với những luồng hàng khá lớn. Kênh xuất nhập khẩu này không phải là kênh chính thức, nhưng cũng không phải là kênh bất hợp pháp. Nó được thực hiện không phải bởi những thương nhân, cũng không phải bởi Chính phủ, mà bởi cá nhân người Việt Nam xuất nhập cảnh vì những lý do chính thức như đi học, đi công tác, xuất khẩu lao động, lái xe quá cảnh. Do chênh lệch cung cầu trong nước, những người đi thường tìm mọi cách đem hàng về để bán. Muốn mua được hàng thì phải đem hàng hoặc tiền đi. Như vậy, việc xuất nhập khẩu đã được thực hiện bởi bàn tay những con người không có chức năng chính thức làm nhiệm vụ xuất nhập khẩu. Đây là một hiện tượng đặc biệt và cũng là kẽ hở của mô hình quản lý cũ để kênh xuất nhập khẩu vượt qua được hệ thống quản lý của nhà nước.

Những kênh xuất nhập khẩu này rất đa dạng: buôn bán của những người đi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, buôn bán của những thuỷ thủ tàu Vosco, buôn bán của những lái xe quá cảnh đi Lào, đi Campuchia, về sau còn cả buôn bán qua biên giới Trung Quốc.

Giai đoạn “tiền sử”

Mô hình một cửa hàng bán hàng tết thời bao cấp. Hình ảnh này giờ chỉ còn trong triển lãm thời bao cấp. Ảnh: tư liệu

Cuộc buôn bán với Liên Xô và Đông Âu gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: những khó khăn của Việt Nam từ năm 1979, việc xuất khẩu lao động như một tất yếu để trả nợ cho những món tiền đã vay và giải quyết nạn thất nghiệp trong nước, sự nứt rạn trong bản thân cơ chế kinh tế của các nhà nước xã hội chủ nghĩa, những cơ chế thông thoáng trong nước từ đầu thập niên 80 cho phép có thể khai thác những nguồn hàng mang đi như một phương tiện thanh toán không thể thiếu để có hàng mang về.

Cuộc buôn bán này đã có nhiều tác dụng, cả tiêu cực lẫn tích cực, trong việc kích thích nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường, kích thích những yếu tố kinh tế tư nhân, thị trường ngầm, thị trường chợ đen phát triển sôi động, và qua đó hình thành những tích luỹ ở khu vực tư nhân. Nó vừa là tác nhân phá vỡ cơ chế quản lý tập trung của nền kinh tế kế hoạch hoá cổ truyền, đồng thời nó lại là nhân tố bổ sung rất quan trọng cho những thiếu sót mà cơ chế kế hoạch tập trung đó không “bao sân” nổi đối với những nhu cầu xã hội.

Việc mua sắm và vận chuyển những hàng hoá từ Liên Xô và các nước Đông Âu về nước thực ra cũng đã có lác đác từ rất lâu, nhưng không mang tính chất thương nghiệp. Từ năm 1955, sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, Nhà nước đã cử người đi các nước Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp, Cộng hoà dân chủ Đức, Hungary, Rumani, Ba Lan… Những người được cử đi thuộc mấy loại sau: học sinh, sinh viên, cán bộ được cử đi học đại học. Thời đó có câu:

Ăn nhanh, đi chậm, hay cười
Tìm mua đồ cũ là người Việt Nam

Ở giai đoạn này, sự hạn chế chủ yếu là sức mua của bản thân những người đi nước ngoài, tức là túi tiền của họ. Lúc này, chưa ai trong số những người này có thể kiếm ra nhiều tiền để mua sắm nhiều hàng hoá. Hàng mang đi gần như không có gì. Sức mua hoàn toàn chỉ lệ thuộc vào học bổng những người đi học, hay sinh hoạt phí của người đi công tác mà nước ngoài tài trợ theo định mức như trên đã nói.

Thời kỳ bão táp

Thời kỳ bão táp bắt đầu từ những năm 1979 – 1980 và lên đến đỉnh cao vào những năm từ 1983 – 1984 cho tới khi Liên Xô sụp đổ, thậm chí còn kéo dài thêm một số năm sau đó.

Đây là thời kỳ Việt Nam bắt đầu vào khối SEV. Bản tuyên bố Brejnev – Lê Duẩn vào năm 1980 đã khẳng định: Việt Nam “Hợp tác toàn diện và triệt để với Liên Xô”. Số chỉ tiêu cho sinh viên và người đi học tiếp tục tăng lên. Các bộ hàng năm đều cử cán bộ tham quan, học tập.

Cũng từ thời kỳ này, Việt Nam đã quyết định xuất khẩu lao động. Ngày 11.2.1980, Chính phủ đã ra quyết định đưa một bộ phận lao động kỹ thuật đi làm việc và bồi dưỡng tay nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa. Sau khi ký một loạt hiệp định về hợp tác lao động với các nước Cộng hoà dân chủ Đức, Bungary, Tiệp Khắc, Liên Xô. Trong vòng mười năm (1980 – 1990) đã có 277.183 người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài. Trong đó 257.882 người sang Liên Xô và các nước Đông Âu. Từ những năm 1983 – 1984, xuất khẩu lao động bắt đầu phát triển sang cả khu vực Iraq, Algeria, Congo… dưới hình thức nhận thầu xây dựng và làm chuyên gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, nông nghiệp… Số lao động và chuyên gia sang làm việc ở khu vực này, cho đến năm 1990 là 19.301 người. Riêng Iraq có 16.400 người.

Trừ các khoản phải đóng góp và chi phí cho sinh hoạt hàng ngày, trung bình mỗi năm một người lao động còn tiết kiệm được một khoản tiền mà quy ra USD là khoảng 1.000 USD, chưa kể các khoản thu khác ngoài lương. Phần lớn số tiền đó không được chuyển trực tiếp về nước, mà chuyển về dưới hình thức các hàng hoá. Như vậy, với trên 250.000 người lao động ở các nước xã hội chủ nghĩa, hàng năm có một lượng hàng tương đương với 250 triệu USD được gửi về nước, hầu hết là hàng tiêu dùng. Con số đó có ý nghĩa rất quan trọng, nếu so sánh với tổng mức nhập khẩu hàng năm của những năm nửa đầu thập niên 80 chỉ vào khoảng 1,4 – 1,5 tỉ USD. Đây chính là nhân tố quan trọng nhất làm cho lực lượng buôn bán tư nhân với các nước xã hội chủ nghĩa đột ngột tăng lên. Không những thế, những người lao động xuất khẩu này lại có khả năng rất mạnh trong việc khai phá thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩa. Vì họ làm việc trong các xí nghiệp, họ có thể mua được những thứ hàng hoá trong xí nghiệp đó. Họ lại có quan hệ trực tiếp với công nhân và các cơ sở ở nước bạn, nên họ có thể mở ra được thị trường để bán hàng. Mỗi dịp đi xuất khẩu lao động là một cuộc huy động vốn to lớn trong gia đình, họ hàng, bạn bè để thực hiện một cuộc buôn bán hai chiều. Chính họ là lực lượng cung cấp hàng hoá lớn nhất theo cả hai chiều đi và về.

Cũng từ đầu thập niên 80, Việt Nam bắt đầu nới lỏng một số thể chế kinh tế. Việc liên doanh liên kết, chế độ ba kế hoạch ra đời từ quyết định 25/CP của Chính phủ, cơ chế nhiều giá trong kinh doanh đã tạo điều kiện để huy động và khai thác hàng mang đi cũng như tiêu thụ những hàng nhập về.

(*) Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành năm 2009

Kỳ 2: Thị trường hàng xuất nhập khẩu

SGTT – Tư nhân muốn mua được hàng mang về nước thì phải có tiền rúp, mác, courrone, zloty, leva… Và, để có loại tiền này, chỉ có một con đường duy nhất là mang hàng sang bán. Như vậy, thị trường hàng xuất là tiền đề số một của thị trường hàng nhập.

Những vật dụng sinh hoạt gia đình thời bao cấp phần lớn được nhập về qua các đường dây mua bán bất hợp pháp. Ảnh: tư liệu SGTT

Tuỳ theo từng thời kỳ, mặt hàng xuất có khác nhau: quần bò Thái, áo phông Thái, đồng hồ Quartz của Hong Kong hoặc của Thái Lan; kính râm của Sài Gòn hoặc Thái Lan; son, phấn và bút chì kẻ mắt của Thái Lan; áo kimono bằng lụa tơ tằm Việt Nam…

Hành lý cá nhân qua cửa khẩu

Mức lãi suất có sức hấp dẫn ghê gớm của việc “đánh” hàng đi, có thể lấy vài ví dụ. Thử chọn thời điểm tháng 5.1990, khi đó tỷ giá là 16,5 rúp/USD và 6.100đ/USD. Một cassette mini mua ở Việt Nam giá 300.000đ, tương đương 49 USD. Sang tới Liên Xô bán được 1.700 rúp, tức trên 100 USD. Một bộ váy bò Thái Lan mua ở thị trường Hà Nội là 40.000đ tương đương 8 USD, sang Liên Xô bán buôn là 390 rúp, bán trực tiếp cho người tiêu dùng là 400 rúp, tức 31 – 32 USD. Một áo kimono mua lẻ tại Hàng Gai, Hà Nội là 22.000đ, tức khoảng 0,36 USD, sang Liên Xô được 25 rúp hay 1,5 USD…

Vào những năm đầu thập niên 80 thì Nhà nước chưa hề cho phép tư nhân được xuất khẩu hàng hoá. Do vậy, hàng hoá xuất khẩu đều phải núp dưới hình thức hành lý cá nhân: một số đồng hồ, một ít quần áo, một vài bộ trang sức để làm quà. Quy định của Nhà nước về khối lượng hàng xuất khẩu, là rất chặt chẽ. Nhưng trong thực tế thì những người đi lao động xuất khẩu thường có rất nhiều hình thức để vượt mức quy định này, tất nhiên không được vượt trội một mức quá đáng. Cụ thể người ta phải mặc 2 – 3 chiếc quần bò để làm thủ tục xuất cảnh, mặc tới 5 – 6 chiếc áo phông để làm thủ tục lên máy bay. Đồng hồ người ta có thể giấu trong túi áo, túi quần hoặc trong hành lý và đeo 4 – 5 chiếc đồng hồ trên tay, có khi đeo cả lên tận cánh tay.

Cũng có một số cá nhân đã thông đồng với một số nhân viên hải quan để đem được số lượng lớn hàng qua cửa khẩu. Đây là trường hợp những tay buôn chuyên nghiệp. Họ có thể mang đi hàng trăm chiếc quần bò, hàng trăm chiếc đồng hồ, hoặc nhãn hiệu quần bò. Còn phần lớn những người lao động xuất khẩu và cán bộ hay học sinh chỉ đem được những khối lượng như vừa kể trên, nói chung không quá 1.000 USD.

Từ giữa thập niên 80, đã dần dần hình thành những đường dây liên hệ có tổ chức ở cả hai phía. Đã có những đường dây để chuyển những lô hàng lớn từ trong nước ra nước ngoài bằng đường biển, theo những container lớn.

Mất cân đối cung cầu tại Đông Âu

Thị trường hàng nhập trái ngược với thị trường hàng xuất ở chỗ: khâu khó khăn nhất lại là khâu mua hàng. Đối với hàng xuất thì việc mua hàng như quần bò, áo phông, đồ trang sức ở Việt Nam không gặp một khó khăn nào, miễn là có tiền. Đối với hàng nhập, việc mua tại Nga, Đức, Tiệp thì không đơn giản.

Vào những năm đầu, khi số người mua không nhiều, số tiền tung ra để mua cũng không lớn, chưa đủ sức gây ra những mất cân đối giữa cung và cầu. Nhưng khi số người Việt Nam sang quá đông, họ mua vét hàng quá nhiều, thì sự mất cân đối đã phát sinh. Chẳng hạn, một cửa hàng bách hoá dù cỡ lớn như GUM hay TXUM, thì cũng được xây dựng và cung ứng hàng hoá theo kế hoạch nào có thể tính toán trước bắt đầu có phản ứng bằng cách đề ra những tấm biển ngay ở quầy hàng: không bán cho người Việt Nam. Biện pháp đó không bao lâu cũng bị huỷ bỏ.

Cuộc buôn bán này vừa góp phần bổ sung, lại vừa góp phần làm rạn nứt cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp cũ. Nó cũng là một trong những tác nhân kích thích thêm sự sống động của thị trường tự do, thúc đẩy nền kinh tế chuyển mạnh hơn nữa sang cơ chế thị trường.

Lý do rất đơn giản: người Việt Nam không cần đến đó mua, đã có những người Nga đi mua hộ. Chuyện đó không khó gì. Rốt cuộc, hàng hoá trên các quầy hàng bị vét hết, chỉ trừ những thứ mà người Việt Nam thấy không cần mua vì không được bán trên thị trường Việt Nam. Những mặt hàng phổ biến và hấp dẫn nhất mà người Việt Nam mua về là:

– Ở Liên Xô: bàn là, dây lò xo để đun bếp điện, ấm đun nước bằng điện, quạt điện, đồ nhôm các loại (xoong, chậu), phích nóng lạnh (vừa đựng được nước nóng, vừa đựng được nước lạnh), máy bơm nước các loại, biến thế và ổn áp, thuốc lá BT và NB (do Ấn Độ và Bungary sản xuất được bán rộng rãi trên thị trường Liên Xô), giấy cuốn thuốc lá, phim ảnh và thuốc làm ảnh, các loại thuốc chữa bệnh như Penicilline, Analgin, B12, kháng sinh, đồ điện các loại (dây điện, bóng đèn điện, công tắc điện, ổ cắm điện…) Các dụng cụ gia đình như máy xay sinh tố, cối xay càphê, cối xay thịt, cốc chén, bát đĩa…

– Ở Cộng hoà dân chủ Đức: áo jacket có lông ở trong, thường gọi là áo lông Đức, xe môtô Simson, xe đạp Mifa. Ngoài ra, có thuốc tây, súng hơi, một số hoá chất, thuốc nhuộm, một số phụ tùng cho máy móc như vòng bi, xích xe đạp và xích xe máy, phim ảnh và giấy ảnh hiệu Orwo, máy ảnh…

– Ở Tiệp Khắc: xe máy cỡ nhỏ hiệu Babetta, xe đạp Eska. Những đồ pha lê như cốc chén, đèn chùm. Một số hoá chất và thực phẩm như men bia, thuốc chữa bệnh…

Vào cuối thập niên 80, hàng về không còn được ưa chuộng lắm, vì giá bán tại gốc ở các nước sản xuất cũng đã nâng cao lên rồi, mang về không lãi nhiều, người bán không còn thu được lãi từ 3 – 5 lần, mà chỉ là 20 – 30% thôi.

Do đó, phát sinh một mâu thuẫn ngược lại với mâu thuẫn của thời kỳ trước. Trước đây, người dân khổ sở vì không có tiền mua hàng. Bây giờ, số tiền thu được do bán hàng từ Việt Nam sang lại lớn hơn nhiều lần so với khả năng nhập hàng về nước.

Để khắc phục sự mất cân đối này, những nhà buôn Việt Nam lại phải mở những “cửa” để chuyển tiền về nước dưới dạng đôla, vàng, bạc và bạch kim.

Công việc buôn bán này đã là động lực tập hợp vốn liếng trong nước đã bao năm nằm im dưới dạng của để dành. Có thể nói, đây là một trong những hình thức nguyên thuỷ của huy động vốn và tích luỹ vốn của kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Ngoài ra nó kích thích sự phát triển của một số lĩnh vực sản xuất trong nước, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người lao động, góp phần cải thiện nhanh chóng đời sống của các gia đình Việt Nam có con em đi nước ngoài.

Nền kinh tế ngoại thương ngoài vòng pháp luật này đã góp phần giải quyết đáng kể khó khăn về hàng hoá trong suốt thập niên 80. Một phần rất lớn những mặt hàng công nghiệp bán trên thị trường Việt Nam là những mặt hàng nhập khẩu theo con đường này: các nguyên liệu, hàng tiêu dùng từ tủ lạnh, bàn là, quần áo, xe cộ cho tới các dụng cụ gia đình thông thường. Cả thành thị lẫn nông thôn, trên các đường phố cũng như trên chợ búa trong cả nước, đâu đâu cũng thấy bày bán nhan nhản hàng hoá Liên Xô, Đức, Tiệp, v.v.

Kỳ cuối: Sứ mệnh của đội tàu viễn dương

SGTT – Vosco là tên viết tắt của đội tàu viễn dương Việt Nam (Vietnam Ocean shipping company). Ra đời từ năm 1970, ban đầu lực lượng còn rất nhỏ bé, Vosco vận tải hàng hoá chủ yếu chỉ trên các tuyến đường nối các nước xã hội chủ nghĩa phía bờ tây Thái Bình Dương với các nước thuộc thế giới thứ ba (Iraq, Indonesia, Algeria, Ai Cập…) để nhập gạo, dầu… về nước.

Tranh biếm hoạ những nguồn hàng của thị trường tự do trong thời bao cấp (báo Lao Động, 17.1.1991)

Từ cuối thập niên 70 và nhất là từ khi bước vào thập niên 80, Vosco cùng với nền kinh tế Việt Nam phải vươn ra thế giới tư bản chủ nghĩa. Ban đầu, Vosco chỉ có ở trung ương. Về sau, các tỉnh và thành phố cũng lập ra những đội tàu viễn dương của mình, mà tiên phong là Hải Phòng. Vosco từ đây là giải pháp “bung ra” về xuất nhập khẩu.

“Kế hoạch” của thị trường

Hàng xuất khẩu phần lớn là hàng của Nhà nước, hoặc Nhà nước trung ương, hoặc Nhà nước địa phương. Miền Nam và miền Trung có các nông sản như càphê, hạt điều, hạt tiêu, tôm đông lạnh, trầm hương, yến, đỗ, đậu phộng. Miền Bắc có than đá (của Quảng Ninh), thuỷ sản đông lạnh, đỗ, đậu phộng, gỗ, vừng và một số rau quả.

Từ năm 1983 – 1984, mặt hàng xuất khẩu phổ biến là sắt vụn. Khi đó, Nhật Bản bắt đầu nhập sắt vụn của Việt Nam để tái chế. Tỉnh nào cũng thu gom sắt vụn đủ các loại và xin phép Chính phủ xuất sang Nhật để nhập một số vật tư và hàng tiêu dùng cho địa phương.

Những mặt hàng xuất khẩu kể trên đều do cơ quan ngoại thương của trung ương hoặc địa phương mua theo hợp đồng kinh tế hoặc do các cơ sở kinh tế địa phương uỷ thác xuất khẩu. Ngoại tệ được Nhà nước trung ương hoặc địa phương quản lý theo kế hoạch. Tóm lại, trong hình thức xuất khẩu này, gần như không có kinh tế tư nhân. Tư nhân chỉ tham gia vào việc thu gom các nguồn hàng cho tới kho của Nhà nước. Còn từ kho đến tàu và đi ra nước ngoài thì tư thương hầu như không được nhúng tay vào.

Những tàu viễn dương sau khi chở hàng đi bán ở nước có nhiệm vụ nhập một số hàng về theo kế hoạch. Những hàng nhập khẩu chính thức về gồm có ôtô cũ, xe máy mới hoặc cũ, vải vóc, đường, thuốc men, sắt thép, ximăng, bông, sợi, chất dẻo, một số thiết bị xây dựng như kính cửa, thiết bị nội thất, phụ tùng ôtô, các phụ tùng thay thế cho máy móc như vòng bi, dây curoa…

Theo quy định của tàu viễn dương, mỗi thuỷ thủ đều được mang về một số đồ dùng cá nhân dưới hình thức hàng hoá: xe máy, tivi, tủ lạnh, máy may, máy hút bụi… Tuy nhiên, mỗi thuỷ thủ chỉ được đem một khối lượng hàng hạn chế, thường là mỗi thứ một chiếc và tổng giá trị không quá 500 USD. Nhưng trong thực tế, tất cả các thuỷ thủ và kể cả thuyền trưởng cũng thoả thuận với nhau để “vượt mức” gấp ba, bốn, năm lần hoặc nhiều hơn thế nữa. Trong dịp đi khảo sát tại Hải Phòng năm 1988, tác giả đã phỏng vấn trực tiếp một số thuỷ thủ Vosco và được xem cả những chứng từ lẫn sổ tay riêng của họ. Qua đó thấy rằng trung bình mỗi người một chuyến đi phải mang theo ít nhất là 5.000 đôla, và số hàng họ đem về bán lại có thể tăng giá trị gấp hai lần.

Khi tàu Việt Nam cập cảng Hong Kong, Nhật, Singapore…, trong thời hạn chờ đợi tại bến để bốc dỡ hàng, các thuỷ thủ được cấp giấy phép lên bờ, thường là một ngày. Nếu tàu phải ở lại cảng trong thời gian lâu hơn, thì các thuỷ thủ cũng được cấp giấy lên bờ tới lần thứ hai hoặc lần thứ ba. Khi được lên bờ, các thuỷ thủ thường đi vào các đường phố để nhặt nhạnh các đồ cũ mà các gia đình đã thải bỏ ra và đem về: tủ lạnh, máy giặt, máy may, tivi, máy cassette, máy hút bụi, máy lạnh, xe đạp cũ, quần áo và một số dụng cụ lặt vặt trong gia đình như nồi niêu, bát đĩa, bàn ủi, máy đánh chữ, máy xay sinh tố…

Hằng năm, có hàng trăm chuyến tàu viễn dương về nước, tức là có một lượng hàng hoá khoảng từ 100 – 200 triệu USD được nhập khẩu qua bàn tay thuỷ thủ và trên các tàu Vosco.

Từ những năm 1982 – 1983, tại một số cảng, do dân địa phương biết được rằng, các tàu của Việt Nam cập bến thường “ăn” những mặt hàng này, nên một số nhà kinh doanh nhỏ sở tại đã làm thay thuỷ thủ trong việc nhặt nhạnh các đồ cũ đó. Những người này thường đánh những chiếc xe tải đi các đường phố và nhặt nhạnh lên xe tất cả những gì mà họ thấy thuỷ thủ Việt Nam hay nhặt nhạnh. Sau đó, họ đưa về một bãi nào đó ở gần cảng hoặc tại một cửa hàng tự do lựa chọn. Những mặt hàng lặt vặt không có giá trị cao thì họ ghi giá đồng loạt mỗi thứ 5 USD. Còn những thứ có giá trị lớn hơn, thí dụ như xe gắn máy, thì họ cũng định giá đồng loạt là 100 USD/chiếc, thuỷ thủ lựa chọn mua theo sở thích tiêu dùng ở thị trường Việt Nam.

Đỡ khó khăn nhờ hàng lậu

Sau khi thu gom được hàng hoá và đưa xuống tàu, có hai vấn đề quan trọng là phải cất giấu hàng hoá trên tàu và phải tìm cách nào để đưa được hàng vào trong nước. Các thuỷ thủ thường cất giấu trong các hầm tàu, thùng nước ngọt, thùng dầu máy và các ngóc ngách của con tàu những mặt hàng vượt quá mức quy định. Khi tàu cập bến, cơ quan hải quan xuống tàu khám xét. Tập thể thuỷ thủ và cả thuyền trưởng cũng phải “làm luật” một cách “hợp lý”. Sau khi được hải quan kiểm tra rồi, các thuỷ thủ mới tìm cách chuyển nốt lên bờ những hàng không hợp lý còn cất giấu dưới tàu.

Vấn đề tiêu thụ hàng lậu không phải là điều khó khăn. Tại tất cả các cơ sở trong nước, nhất là ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Hòn Gai, Đà Nẵng, Cửa Lò, Nha Trang, Vũng Tàu, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu… đã hình thành những tổ chức của tư nhân, sẵn sàng tiêu thụ những mặt hàng này.

Nếu quan sát trên thị trường sẽ thấy hàng Vosco chiếm một tỷ lệ đáng kể. Có lẽ, ước chừng 50% tổng số xe máy ở Việt Nam nhập theo đường Vosco là xe đã sử dụng. Tủ lạnh cũ cũng chiếm tới khoảng 50% số tủ lạnh được bán trên thị trường. Còn những mặt hàng khác thì rất nhiều, như máy cassette, đầu CD, tivi, máy hút bụi, nồi cơm điện, lò vi ba, xe đạp…

Như vậy, xét về ý nghĩa đối với thị trường và nền kinh tế, hàng Vosco là một nguồn bổ sung rất quan trọng cho sự thiếu hụt của nhập khẩu chính thức.

Tóm lại, trong suốt những năm từ cuối thập niên 70 tới hết thập niên 80, Việt Nam có nhiều nguồn bổ sung hàng hoá khác nhau thông qua những con đường không chính thức: nguồn hàng của những người Việt Nam tại Liên Xô và Đông Âu chuyển về, nguồn hàng do Việt kiều gửi về cho thân nhân, nguồn hàng từ Thái Lan “quá cảnh” qua Lào và Campuchia, nguồn hàng Vosco… Đó là một trong những lý do giải thích tại sao Việt Nam khi lâm vào những khó khăn kinh tế, thâm hụt ngoại thương, giảm sút viện trợ, thiếu thốn ngoại tệ mà vẫn không quá khó khăn về hàng hoá như ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Ngược lại, ngay vào thời kỳ mà nền kinh tế cả nước gặp khủng hoảng về nhập khẩu và cân đối ngân sách, thị trường tự do vẫn có thể phát huy vai trò của nó và đáp ứng được những yêu cầu của xã hội về hàng tiêu dùng.

January 28, 2010

Đổi mới: Lòng thương dân mạnh hơn nỗi sợ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:51 pm
Tags: , , ,

Đổi mới thành công khi những lãnh đạo ở cơ sở theo sát nhịp sống và mạnh dạn hành động vì dân.

Bài 1: Đổi Mới: Lắng nghe, phản tỉnh và nhận thức lại
Bài 2: Đổi Mới: nhóm tư vấn và tinh thần dân chủ

Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam những năm 1986 có điểm đặc biệt cơ bản so với một số quốc gia chuyển đổi khác. Đó là cuộc đổi mới “từ dưới lên” thay vì “từ trên xuống”.

Nhà nghiên cứu Trần Việt Phương trao đổi với VietNamNet: “Nhiều quốc gia việc phát triển từ dưới lên bị trấn áp nhưng ở Việt Nam thì không. Dần dần những người lãnh đạo cao nhất cũng nhận thức lại, khi từ dưới lên và từ trên xuống gặp nhau, lãnh đạo đóng dấu đỏ cho phép những sáng kiến của cơ sở. Đó là sự hình thành của chính sách đổi mới.”

Những sáng kiến của cơ sở và sự hậu thuẫn của những người lãnh đạo cao nhất cho những sáng kiến đó đều là những quyết định “phá rào” dũng cảm, khi “hàng rào” chính là luật pháp của nhà nước, quy định của chính phủ và cả những húy kỵ thiêng liêng của CNXH.

Nhiều trường hợp, đa số các cấp đều nhận thấy sự bất hợp lý trong cơ chế quản lý kinh tế nhưng vì “sợ nguyên tắc” nên không ai dám khởi đầu. Tác giả Đặng Phong viết trong cuốn “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước Đổi Mới”: “Thực ra thì lòng vả cũng như lòng sung. Nhưng cả huyện lẫn thành phố đều….: Sợ cấp trên. Thế là cả nước ở trong tình trạng vừa đói vừa sợ: xã sợ huyện, huyện sợ tỉnh thành, tỉnh thành sợ TW, TW thì sợ nguyên tắc và cũng sợ lẫn nhau.”

Chờ đợi mua chất đốt ở phường 17, quận 5, TP.HCM (ảnh chụp tháng 10-1984). Ảnh tư liệu báo Tuổi Trẻ

Những người đã vượt qua nỗi sợ hãi ấy chính là những người “anh hùng” của công cuộc “Đổi mới”. Tác giả Đặng Phong đã kể lại nhiều anh hùng  như vậy trong cuốn sách của ông.

“Sợ thì mặc bà con nông dân chết đói à?”

Tấm gương tiêu biểu được biết tới nhiều nhất chính là “ông khoán hộ”, nguyên Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc. Sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo ở Vĩnh Phúc, đến năm 1958, quay trở lại làm Bí thư tỉnh ủy ở chính quê hương mình, vì thế, ông thấu hiểu hoàn cảnh nông thôn Vĩnh Phúc.

Càng thấu hiểu, Kim Ngọc càng thấy bức xúc trước năng suất lao động quá thấp của mô hình hợp tác hóa nông nghiệp. Chính trong một lần xuống ruộng gặt cùng bà con như thế, ông Kim Ngọc đã nghe Chủ nhiệm HTX của thôn Đại Phúc kiến nghị: “Phải khoán cho người lao động thì họ mới làm tốt được”

Kim Ngọc chợt nhận ra ánh sáng ở cuối đường hầm, ông hỏi dồn vị chủ nhiệm: “Ông có dám làm thế không?” Khi vị chủ nhiệm còn ngập ngừng thì ông đã nói: “Ông sợ là phải, nhưng nếu tôi sợ, ông sợ, mọi người đều sợ thì cứ để mặc cho bà con nông dân chết đói à?”

Quyết định 69 của Tỉnh Vĩnh Phúc cho phép Khoán nông nghiệp do Kim Ngọc khởi xướng năm 1966 đã khiến ông Bí thư bị mang tiếng là mất lập trường giai cấp, đi theo CNTB. Nhưng quyết định công khai thách thức “phép Vua” ấy của ông sau này đã được lịch sử ghi nhận là đột phá sáng tạo đầu tiên của quá trình đổi mới nông nghiệp.

Ông Kim Ngọc tháp tùng Bác Hồ đi thăm và trò chuyện với bà con nông dân. Ảnh: Tiền Phong

Một nhà lãnh đạo khác đã đi tiên phong trong mặt trận phá rào là Bí thư tỉnh ủy Long An Nguyễn Văn Chính. Thời bao cấp, việc ấn định giá nhà nước đã gây biết bao khó khăn cho các hoạt động kinh tế. An Giang không phải là ngoại lệ, giá cả không vận động theo quy luật cung cầu đã khiến cho tỉnh chìm sâu vào khủng hoảng cuối những năm 1970.

Ông Nguyễn Văn Chính đã làm chuyện tày trời khi năm 1977, phá bỏ cơ chế giá áp đặt của nhà nước và áp dụng giá thỏa thuận theo thị trường. Ngày đó, giá cả không chỉ là chuyện kinh tế mà còn là “lập trường”, là “tính Đảng”, vì thế, có người đã hỏi ông Chính rằng ông có biết sợ không khi làm những chuyện liều lĩnh như vậy.

Vị Bí thư tỉnh ủy ấy đã trả lời: “Có chứ, tôi không to gan như các anh tưởng đâu. Tôi sợ lắm chứ. Nhưng trong nhiều cái đáng sợ, tôi sợ nhất là nếu cứ để cho tiếp tục khủng hoảng như thế này thì dân chết, mà Đảng cũng chết. Tôi sợ cái đó nhất, nên tôi phải nghĩ ra cách tránh.”

Sau này, “lệ Làng” bãi bỏ giá bao cấp và tem phiếu ở Long An đã trở thành cơ sở thực tiễn để TW tổng kết và tiến tới việc bỏ hoàn toàn cơ chế quan liêu đó.

“…chị đi tù thì tôi sẽ mang cơm nuôi chị…”

Đổi mới đã thành công không chỉ nhờ bản lĩnh của những lãnh đạo cấp cơ sở mà còn bởi những người lãnh đạo cấp cao nhất cũng mạnh dạn “bật đèn xanh”, bảo lãnh cho những phát kiến hợp lý dù chưa hợp pháp ấy.

Người lãnh đạo tiêu biểu cho việc đỡ đầu mọi nỗ lực đổi mới là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Một câu chuyện điển hình là vào năm 1979, Thủ tướng Võ Văn Kiệt trăn trở làm sao có đủ gạo ăn cho người dân TP Hồ Chí Minh. Cơ chế khi ấy rất cứng nhắc: Bộ Lương thực có trách nhiệm cung cấp gạo cho thành phố nhưng chưa bao giờ cung cấp đủ và kịp thời. Sở Lương thực thì không được phép mua với giá thị trường. Dân đồng bằng sông Cửu Long thì không chịu bán với giá nghĩa vụ. Thành phố có tiền để mua với giá thỏa thuận thì không được mua.

Ông Võ Văn Kiệt khi ấy là Bí thư Thành ủy đã triệu tập cuộc họp tại nhà riêng để tìm cách tháo gỡ. Giải pháp được đưa ra là Thành phố xuất tiền cho cá nhân bà Ba Thi (khi ấy là phó Giám đốc Sở Lương thực), xuống các tỉnh mua gạo với giá thỏa thuận. Bà Ba Thi khác gì tư thương nên người ta gọi đùa Tổ mua gạo tư của bà là “Tổ buôn lậu gạo”.

Bà Ba Thi nói với Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt: “Làm cách này thì chúng tôi làm được nhưng nếu TW biết là đi tù đó.” Ông Sáu Dân vừa cười vừa nói: “Nếu do việc này mà anh chị đi tù thì tôi sẽ mang cơm nuôi chị…”

Chủ trương khoán nông nghiệp cũng là ý tưởng được nhiều lãnh đạo cao nhất hậu thuẫn. Cho dù việc khoán ở Vĩnh Phúc năm 1966 của Kim Ngọc bị phê phán nhưng sau đó, thí điểm khoán ở Hải Phòng từ năm 1977 lại được hậu thuẫn. Từ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng với lời khuyên: “Các đồng chí cứ mạnh dạn tìm tòi. Tìm tòi thì có thể sai. Có sai thì sửa…” tới lời thúc giục của cố Tổng bí thư Lê Duẩn: “Tôi đồng ý! Làm ngay! Làm ngay! Không phải hỏi ai nữa! Cứ làm ngay đi.”

Người ủng hộ khoán với những lời lẽ mạnh mẽ nhất chính là Ủy viên Bộ Chính Trị Võ Chí Công, ông khảng khái: “Khoán là đúng quá rồi! Các đồng chí đừng sợ chi hết. Nếu khoán có làm cho trời sập thì tôi cũng sẽ xin chịu trách nhiệm cùng các đồng chí…”

Không có những người lãnh đạo dám cùng chịu trách nhiệm và bảo vệ cho cấp dưới như thế, làm sao mô hình khoán ở xã Kiến An nhỏ bé có thể lan tới huyện Đồ Sơn, tới khắp thành phố Hải Phòng rồi tỏa ra nữa trên khắp đất nước Việt Nam.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ảnh: laodong.com.vn

Đổi mới và điều luyến tiếc

Lịch sử công bằng, đã trả lại đúng công lao và vinh danh những con người thực sự thương dân, đã dũng cảm và sẵn sàng trả giá để mang lại ấm no cho dân.

“Thương dân thì dân thương lại”, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói vậy và lịch sử đã diễn ra đúng như vậy. Tác giả Đặng Phong đã viết về những hình ảnh thật cảm động về tình thương của dân dành cho những người anh hùng đổi mới:

“Hôm tiễn Kim Ngọc từ văn phòng tỉnh ủy về nhà riêng (để nghỉ hưu), có rất đông nông dân trong tỉnh. Không ít người trong số họ vừa đi vừa kéo vạt áo lau nước mắt…”

“Có lần bà Ba Thi làm việc vất vả quá bị bệnh, phải vào nằm viện. Thật là kỳ lạ, nhân dân cả Thành phố đồn đại, họ biết tin bà nằm viện, họ tới thăm đông lắm. Đó chỉ là những người mua gạo, nhưng họ cảm tấm lòng của bà, họ đem quà bánh tới, săn sóc bà, có người đến ngồi bên giường bóp chân bóp tay cho bà…”

Quá trình Đổi mới và lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi dấu hình ảnh của họ, những người lãnh đạo ở cơ sở mạnh dạn “phá rào”, những người lãnh đạo cao nhất dám tự nhận thức lại để gỡ đi “hàng rào” cũ và cả đội ngũ những nhà tư vấn dám nói thẳng, nói thật.

Họ, những đảng viên ưu tú đại diện cho Đảng đã cùng với nhân dân Việt Nam làm nên cuộc Đổi mới hơn 25 năm trước. Họ đã chứng minh, khi Đảng biết lắng nghe dân, biết sửa chữa những sai lầm, Đảng sẽ giành được trọn vẹn sự tin yêu của dân. Khi đó Đảng thực sự trở thành Đảng của dân tộc.

Điều luyến tiếc đọng lại là: giá như có thêm nhiều hơn nữa những con người như họ thì cuộc Đổi mới đã có thể diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn và sớm hơn…

Đó cũng là tâm sự của nhà nghiên cứu Trần Việt Phương với VietNamNet: “Hóa ra cái mới bao giờ cũng có độ trễ, bao giờ cũng phải sau một thời gian mới phát huy được tác dụng. Ở đâu cũng có độ trễ thôi nhưng ở ta lâu quá, thời gian tranh tối tranh sáng lâu quá, cái mới ló dần dần ra rồi mãi mới hình thành.”

January 23, 2010

Chính sách thắt chặt tiền tệ bắt đầu tác động

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:36 am
Tags: ,

SGTT – Những dấu hiệu gần đây như lãi suất lên cao, tỷ giá căng thẳng, thâm hụt cán cân thanh toán… đặt ra thách thức gì cho nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam? Chuyên gia kinh tế trưởng của ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Martin Rama trao đổi với phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị chung quanh câu hỏi này.

Lãi suất đã bắt đầu tăng rất cao, lên đến 18 – 19% ở một số ngân hàng thương mại. Theo ông, vì sao?

Đó là dấu hiệu rõ của chính sách (tiền tệ) thắt chặt. Trong một thời gian dài từ cuối năm 2008 đến cuối 2009, các ưu tiên tập trung vào mở rộng đầu tư, mở rộng tín dụng, dẫn đến thâm hụt ngân sách, gây thêm căng thẳng lên cán cân thanh toán. Việt Nam đã thực hiện chính sách kích thích kinh tế tương tự như Trung Quốc, nhưng Việt Nam không có dự trữ ngoại hối lớn như Trung Quốc. Vì thế một số áp lực đang gia tăng như tỷ giá tăng, tiền đồng yếu đi. Vì thế mà Chính phủ cần cân bằng lại.

Có hai cách. Thứ nhất là thắt chặt tiền tệ, làm giảm tính thanh khoản và giảm tăng trưởng tín dụng trong năm 2010. Thanh khoản thiếu, vì thế lãi suất tăng lên. Nhưng điều đó là cần thiết để giảm áp lực lên tiền đồng, nếu không sẽ làm vàng, chứng khoán, bất động sản, đôla Mỹ, và nhiều thứ khác tăng giá cao hơn mức lạm phát. Vì thế mà phải thắt chặt tiền tệ.

Ngoài ra cần phải thắt chặt tài khoá. Thâm hụt tài khoá năm nay không thể lớn như năm 2009 nhưng nguồn cho nó là một thách thức rất lớn. Đó là lý do vì sao Việt Nam đang tìm cách bán trái phiếu trị giá một tỉ USD ra quốc tế. Chính phủ phải tìm nguồn bù đắp cho thâm hụt ngân sách…

Nhưng rõ ràng, mức lãi suất lên cao gần đỉnh điểm của giữa năm khủng hoảng 2008 còn gì?

Là do chính sách tiền tệ thắt chặt và chính phủ phải làm vậy để giúp tháo gỡ áp lực lên USD. Điểm quan trọng nữa mà Chính phủ cần làm là tháo gỡ áp lực lên vàng và ổn định kỳ vọng của người dân. Chính phủ cần phải làm vậy, nếu không cân bằng lại chính sách thì tâm lý lo lắng khủng hoảng sẽ gia tăng. Điều đó có thể xảy ra, và Chính phủ đang làm đúng hướng.

Ngân hàng thế giới cho rằng Việt Nam có cán cân tài khoản vốn thặng dư khoảng 10,2 tỉ USD, thừa sức để bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai 7,4 tỉ USD trong năm ngoái. Nhưng vì sao tỷ giá vẫn căng thẳng vậy?

Điều đó là do kỳ vọng và tâm lý của người dân và doanh nghiệp. Chính phủ phải giải toả được điều này. Việc thắt chặt tiền tệ là một trong những biện pháp có mục tiêu như vậy. Nếu giá USD giảm xuống đồng điệu với nhu cầu thương mại, thì người dân có thể sẽ cảm thấy họ không nên đánh cược vào USD thêm nữa. Như vậy, tình hình sẽ được cải thiện. Nếu không, thì không thể bù đắp được thâm hụt tài khoản vãng lai vì Việt Nam không có nhiều dự trữ ngoại hối như Trung Quốc.

Nhưng không dễ thuyết phục người dân về điểm này vì triển vọng lạm phát cao tác động mạnh đến tâm lý của họ?

Đúng, nhưng lạm phát hiện nay không gia tăng nhanh chóng. Lạm phát sẽ bị ảnh hưởng phần lớn bởi điều gì sẽ diễn ra trên thị trường quốc tế. Vấn đề chính hiện nay là Việt Nam cần giải quyết giá tài sản như vàng, chứng khoán và USD. Chính phủ cần ổn định các mặt hàng này.

Nếu chính phủ thành công trong kế hoạch bán trái phiếu quốc tế trị giá một tỉ USD, thì điều này có ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ của Việt Nam?

Trái phiếu loại này quan trọng với tài khoá hơn là thị trường tiền tệ. Nó sẽ là nguồn lực để giúp tài trợ cho thâm hụt ngân sách, mà theo Quốc hội, sẽ còn rất lớn trong năm nay (6,2% GDP). Chúng tôi cho rằng thâm hụt ngân sách của Việt Nam sẽ là 9% GDP trong năm 2010, căn cứ theo chuẩn mực quốc tế.

Nợ công trong nước và ODA sẽ không tài trợ đủ cho thâm hụt này.

Tóm lại, những yếu tố như giá tài sản tăng, tỷ giá căng thẳng, lãi suất lên cao, thâm hụt ngân sách,… có làm kinh tế vĩ mô của Việt Nam tại thời điểm này đáng lo hay không?

Chúng tôi sẽ cảm thấy lo lắng nếu không có một vài chính sách mà Chính phủ đã bắt đầu thực thi từ tháng 11.2009 liên quan đến thắt chặt tiền tệ. Đó là những biện pháp đúng đắn. Nếu Chính phủ không thực hiện các chính sách đó, thì chúng tôi sẽ lo lắng về tỷ giá, về giá vàng, cán cân thanh toán… Thật rõ ràng là các chính sách đó đang có tác động đến các hoạt động kinh tế. Các hoạt động này đang chậm lại nhưng khủng hoảng vẫn còn đó. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ có thể đánh giá lại các tác động của các chính sách này trước tết.

Ông bình luận như thế nào về dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện nay?

Rõ ràng ngân hàng Nhà nước đã cố gắng can thiệp để đảm bảo tính thanh khoản về ngoại tệ cho các ngân hàng, và dỡ bỏ áp lực về USD. Vì thế ngân hàng Nhà nước đã cung cấp USD ra thị trường, và như vậy dự trữ ngoại hối sẽ giảm xuống. Nhưng ngân hàng Nhà nước sẽ không thể làm việc này mãi. Vì thế họ buộc phải bắt đầu thắt chặt tiền tệ.

January 7, 2010

Vẫn cần phải thận trọng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:30 pm
Tags: , ,
(TBKTSG) – Phát biểu tại buổi họp mặt các doanh nghiệp ĐBSCL do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ tổ chức hồi tuần rồi, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng năm 2010 vẫn còn nhiều thách thức đối với nền kinh tế.

Chưa hy vọng nhiều từ ngoại lực!

Chỉ tiêu xuất khẩu tăng 6% vào năm 2010, nhìn tổng thể, là có cơ sở bởi nhu cầu nhập khẩu từ các nước sẽ khá hơn, khi kinh tế bắt đầu phục hồi. Tuy nhiên, theo ông Doanh, mọi chuyện sẽ khó như mong muốn vì chắc chắn các nước nhập khẩu sẽ tạo ra những rào cản để bảo hộ hàng sản xuất nội địa.

“Bằng chứng là Liên hiệp châu Âu (EU) đã tiếp tục gia hạn thuế chống phá giá đối với giày da của Việt Nam dù trước đó, chính đại diện một số nước nhập khẩu cũng phản đối quyết định này. Vì sao? Ý, Tây Ban Nha… cũng sản xuất giày”, ông nói và cho biết thêm việc tăng bảo hộ mậu dịch dù bất công nhưng là vấn đề sống còn của nhiều nước.

Vị trí đặt quảng cáo

Mới đây nhất, việc EU áp dụng luật IUU từ ngày 1-1-2010, buộc các lô hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam phải có giấy chứng nhận về nguồn gốc và tính hợp pháp của sản phẩm, xét về góc độ nào đó, cũng chính là một rào cản.

Cơ sở của nhận định này là, như tại Mỹ hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức 10%, thiếu việc làm là 10%. Kinh tế nước Anh vẫn tăng trưởng âm, còn kinh tế Đức sau khi tăng trưởng mạnh trong quí 2-2009 đã sụt giảm trở lại…

Dĩ nhiên, việc kích thích tiêu dùng nội địa, bảo vệ nền sản xuất trong nước để giảm tỷ lệ thất nghiệp là ưu tiên hàng đầu mà nhiều nước sẽ thực hiện.

Cũng theo ông Doanh, các nhà xuất khẩu của Việt Nam sẽ vất vả hơn và không loại trừ khả năng sẽ phải đối phó với một số vụ kiện phá giá mới. Do đó chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu cho năm 2010 không dễ thực hiện. Nhất là trong bối cảnh hiện nay Trung Quốc đang “gắn” tỷ giá đồng nhân dân tệ với đô la Mỹ!

Trong khi đó, đô la Mỹ mất giá, nhưng giá dầu thô và giá vàng còn tiếp tục biến động. Điều bắt buộc phải xảy ra là đồng nhân dân tệ cũng mất giá, khiến hàng xuất khẩu của Trung Quốc “ngẫu nhiên” được lợi thế cạnh tranh về giá, ảnh hưởng xấu đến nền sản xuất của nhiều nước trên thế giới. “Đây là dấu hỏi lớn cho chúng ta”, ông Doanh nói.

Còn về thu hút đầu tư nước ngoài, liệu có tăng sau khi đã tụt giảm trong năm 2009? Có khả năng tăng, nhưng ông Doanh cho rằng, trước tiên cần xem lại tiến trình cải cách. “Năm 2006, về chỉ số năng lực cạnh tranh, Trung Quốc đứng vị trí thứ 54, còn Việt Nam là 77. Nhưng đến giai đoạn 2008-2009, vị trí lần lượt lại là 30 và 70, còn hiện tại là 29 và 75”, ông Doanh dẫn chứng.

Vẫn phải thận trọng với mục tiêu tăng trưởng

Nhận định về chỉ tiêu lạm phát dưới 7% trong năm 2010, ông Doanh cho rằng, trước tiên phải lưu ý đến quy luật tăng tín dụng và tăng giá thường có độ trễ từ 3-5 tháng. Từ tháng 2-2009, doanh số cho vay theo chương trình hỗ trợ lãi suất liên tục tăng vọt và chỉ siết lại kể từ tháng 8-2009. “Chúng ta đã “bơm” tín dụng rất nhiều, và điều lo lắng là vào tháng 1 và tháng 2-2010, giá cả sẽ tăng lên, nhất là sau khi Ngân hàng Nhà nước vừa điều chỉnh tỷ giá”, ông lo lắng.

Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), giá dầu thô trong năm 2010 có thể tăng, đạt mức bình quân 73,3 đô la Mỹ/thùng. Nhiều mặt hàng công nghiệp, các mặt hàng phi dầu cũng sẽ tăng giá… Do đó theo ông Doanh, vẫn phải rất thận trọng với mục tiêu tăng trưởng bởi nhiệm vụ hàng đầu vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát. Ông đề xuất: “Chỉ đầu tư những gì thực sự cần thiết cho nền kinh tế”.

WB cũng đã thay đổi chính sách, từ năm 2009 các khoản cho vay đã có lãi suất gần tương đương lãi suất thương mại, thời gian ân hạn giảm, thời hạn trả cũng ngắn hơn trước đây. “Do đó, phải chú ý đến việc giải ngân và phải cân nhắc xem có nên nhận vốn hay không”, ông Doanh lưu ý thêm.

Để giúp ổn định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, ông Doanh cho rằng, phải đưa ra chính sách tỷ giá, lãi suất sao cho doanh nghiệp có thể dự báo được ít nhất trong sáu tháng. Ông kể, mới đây một doanh nghiệp cho biết đã thua lỗ khá nặng, chỉ vì tỷ giá thay đổi ngay sau khi doanh nghiệp nhập phôi thép về!

Điều đáng lo nữa chính là các chỉ tiêu như nhập siêu trong năm 2010 là 13,6 tỉ đô la Mỹ, tương đương 22,7% xuất khẩu, đồng thời cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt 9,4 tỉ đô la Mỹ. “Điều này sẽ tạo sức ép rất lớn lên sự ổn định của đồng tiền Việt Nam”, ông Doanh nói.

Năm 2009, cán cân thanh toán quốc tế chung đã âm khoảng 6,6 tỉ đô la Mỹ, trong đó cán cân tài khoản vãng lai âm khoảng 7,4 tỉ đô la Mỹ. “Đây là những con số không thể xem thường! Nó sẽ tác động đến tỷ giá trong năm 2010. Về dài hạn, phải thay đổi cơ cấu kinh tế, giữ nhập khẩu ở mức ổn định và không cho tăng. Bởi nếu cán cân thanh toán âm mạnh thì rất khó kiểm soát”, ông Doanh nói.

Kinh tế Việt Nam 2009 và một vài suy nghĩ về nhận thức luận chuyển đổi

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:58 am
Tags: ,

Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa thập niên thứ hai, thế kỷ XXI. Tuy vậy, mốc thời gian không quan trọng bằng những đổi thay chóng mặt của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, và những biến đổi sâu sắc nó sẽ mang lại. Quá trình ấy, ngay bây giờ, lại được phóng đại qua lăng kính của những biến động toàn cầu thời kỳ 2007-2009, điều có thể dẫn tới những biến đổi lớn về cấu trúc kinh tế nhân loại, cũng như diễn tiến địa – chính trị khắp nơi trên thế giới.

1- Kinh tế Việt Nam năm 2009

Dân số nước ta hiện nay xấp xỉ 85,9 triệu người, hiển nhiên là một quốc gia có dân số lớn của hành tinh khoảng 7 tỉ. Nếu như phần đông kinh tế gia quen với khái niệm bản chất của lạm phát là do quá nhiều tiền cạnh tranh nhau để giành về một số lượng quá ít hàng hóa, thì ở một nghĩa khác, nói như Min-tơn Frai-men (Milton Friedman), đó cũng có thể là quá nhiều người tìm kiếm một số lượng hàng hóa rất hữu hạn. Như vậy, dân số lớn, bên cạnh ưu điểm nguồn lao động dồi dào, chính là một câu hỏi lớn về khả năng cải thiện kinh tế.

Trong suốt hơn hai thập niên đổi mới, kinh tế Việt Nam liên tục duy trì đà tăng trưởng tương đối. Chất lượng mở rộng kinh tế thể hiện qua thống kê GDP bình quân đầu người từ mức 200 USD/người (năm 1986) đã tăng lên gấp 5 lần, đạt 1000 USD/người vào năm 2008, và ước tính sẽ vượt 1.200 USD/người sau năm 2010. Sức hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam cũng thể hiện ở quy mô vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng lên. Dù chịu ảnh hưởng từ các biến động kinh tế quốc tế, trở ngại của môi trường kinh doanh trong nước, sự gia tăng cạnh tranh thu hút nguồn lực từ các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới, liên tục trong hai thập niên, tỷ lệ FDI so với GDP chỉ hai lần thấp hơn tăng trưởng GDP thực tế, vào các năm 1991-1993 và 2003-2007 (xem hình 1). Lượng vốn FDI năm 2009 vẫn có được tín hiệu tốt, một cách so sánh so với bối cảnh khu vực, với mức cam kết mới 20
tỉ USD, và phần giải ngân lượng cam kết quá khứ để cấu thành nguồn lực thực tế 8 tỉ USD.

Hình 1 – Tỷ lệ FDI/GDP và tăng trưởng GDP thực tế

Ha1

Nguồn: GDP, FDI theo giá hiện tại, Tổng cục Thống kê

Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu ngắn và trung hạn để giải tỏa áp lực này. Trong một bối cảnh khó khăn của kinh tế toàn cầu như năm 2009, tăng trưởng theo quý của Việt Nam được xem như một nỗ lực có kết quả, với Quý I tăng 3,14%, Quý II tăng 4,46%, Quý III tăng 5,76% và ước Quý IV tăng 6,8%. Với mức tăng trưởng này, nền kinh tế đã tạo ra được hơn 1,5 triệu việc làm trong năm 2009, và đây là một con số rất nhiều ý nghĩa, nếu so sánh với con số gần 800 tỉ USD mà nước Mỹ phải chi ra để cứu vãn tình trạng thất nghiệp – một trong những vấn đề nghiêm trọng và  đáng sợ nhất của nền kinh tế thị trường – trong khi tình trạng thất nghiệp tại  Mỹ vẫn ở mức hai con số.

Một trong những chương trình kinh tế lớn của năm 2009 là triển khai gói kích thích kinh tế và an sinh xã hội trên quy mô toàn quốc, có giá trị tiền tệ ước tính 100.600 tỉ đồng, với vai trò rất quan trọng của: (i) Hệ thống ngân hàng thương mại là bơm hơn 418.000 tỉ vốn ngắn – trung hạn có hỗ trợ lãi suất tới hệ thống sản xuất – dịch vụ của nền kinh tế (xem hình 2); (ii) Hệ thống tài chính chính phủ tăng cầu qua 20.000 tỉ miễn giảm thuế; (iii) Hệ thống đầu tư nhà nước, với 60.800 tỉ; và, (iv) Chi thường xuyên cho an sinh, khoảng 9.800 tỉ.

Hình 2 – Tồn lượng tín dụng theo chương trình hỗ trợ lãi suất

Ha2

Về hiệu suất triển khai, chương trình có thể coi là thành công trước mắt từ thực tế ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, quá trình tạo việc làm mới, cũng như sự phục hồi niềm tin của dân cư và nhà đầu tư ở một số thị trường tài sản. Sản xuất công nghiệp và tiêu dùng xã hội được hồi sinh, ít ra là thoát khỏi sự yếu ớt ở quý IV-2008 và Quý I-2009. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi lạm phát ở mức ước tính cả năm 7%; và chỉ có một loại “lạm phát phấn khích” đã từng xuất hiện trong khoảng thời gian 4-5 tháng giữa năm 2009: tăng giá tài sản tài chính. Sau khi rớt đáy vào cuối tháng 2-2009 (VN Index: 235,5 và HNX Index: 78,6), các thị trường chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều đã tăng mạnh, lần lượt là 165% và 180%. Mặc dù xuất hiện sụt giảm từ cuối tháng 10, các chỉ số chứng khoán về cuối năm vẫn giữ mức tăng trưởng vài chục phần trăm (hình 3).


Hình 3 – Biến động các chỉ số chứng khoán Việt Nam năm 2009

Ha3

Nguồn: Dan Houtte, Vuong & Partners

Có thể nói, một phần sức khỏe của nền kinh tế được phục hồi nhờ những nguồn lực bổ sung nói trên, và cũng cần công nhận sự chèo lái bền bỉ của hơn 300.000 doanh nghiệp (theo số thống kê) cũng như hàng triệu hộ gia đình nỗ lực giải quyết sức ép của suy giảm thu nhập thực tế bằng vô số phương cách mà không chính sách vĩ mô nào soạn thảo ra được.

Tuy vậy, cũng có những con số khiến chúng ta không thể không lo ngại. Thâm hụt ngân sách tăng lên mức cao trong lịch sử, 6,8% GDP. Số người nghèo – theo chuẩn của chúng ta – vẫn ở mức 11%, mặc dù đã giảm. Sự ám ảnh của nhập siêu đã quay lại với mức 11,54 tỉ USD; như thế, kỳ vọng khống chế dưới 10 tỉ USD nay đã lại là con số quá khứ, và tới hơn 1 tỉ USD cho nhập hàng công nghệ xa xỉ như ô-tô. Trong khi đó, nỗi lo suy giảm xuất khẩu đã thành sự thật, đứng ở mức xấp xỉ 50 tỉ USD, giảm 15%.1

Sức khỏe nền kinh tế hiển nhiên không thể chỉ đo bằng vài con số thô sơ, khi mà ngay cả dấu hiệu sức cạnh tranh hàng hóa Việt ngay tại thị trường Việt Nam cũng đủ để xã hội lo lắng. Đó là chưa kể hệ thống an sinh vật chất lẫn tài chính còn ở trình độ rất thô sơ, và mỗi sự cải thiện đều cần can thiệp trực tiếp từ Chính phủ, từ số giường bệnh cho tới trợ cấp vùng nghèo hay bão lụt. Nói cách khác, nền kinh tế vẫn đang thiếu hụt những nền móng xã hội cho một công cuộc lấy sức chạy đua trên đường dài.

Bản thân quá trình phục hồi kinh tế, mà ít nhiều tới nay đã có phần dư luận tự ca ngợi, cũng chứa đựng những mối âu lo của năm 2010, và cả những năm sau. Lượng tín dụng biểu hiện trong hình 2 cho thấy, việc tiệm cận mức rủi ro mà nền kinh tế có thể chấp nhận, trước cân nhắc lạm phát và rủi ro nợ khó đòi trong tương lai của hệ thống ngân hàng. Trên thực tế, vẫn còn 7.000 tỉ hỗ trợ lãi suất, nhưng hiệu lực thực tế của hỗ trợ này đã suy giảm từ khoảng tháng 10-2009, do khuynh hướng lãi suất, tình hình sử dụng vốn và tính khó nắm bắt của hiệu quả tài sản kinh doanh hình thành từ nguồn vốn trợ cấp. Trí nhớ của thị trường chưa kịp xóa đi những ám ảnh về tín dụng và thanh khoản của hệ thống ngân hàng cuối năm 2007 – đầu năm 20082. Không có gì khó hiểu khi Quốc hội đặt câu hỏi về sự công bằng và tính hiệu quả vào kỳ họp cuối năm 2009. Sự phục hồi rất mong manh, và cần nhiều hơn chỉ một nguồn tín dụng mang tính trợ cấp, vốn cũng đi ra từ nguồn thu của chính nhân dân.

2. Nhận thức về vận động kinh tế

Sau 23 năm đổi mới, nước ta cũng chỉ mới bước đầu trên hành trình tìm kiếm phương tiện cho mục tiêu thịnh vượng. Xét cho cùng, hành trình ấy là của hàng triệu cư dân, và cũng bắt đầu từ lịch sử xa xôi. Vân Đồn, Phố Hiến, Kẻ Chợ hay Đà Nẵng, Hội An, từ thế kỷ XVII đã nằm trong ký ức lịch sử thương nhân khu vực và châu Âu như điểm đến của cơ hội kinh tế. Ở đó, các giao dịch không chỉ phản ánh lợi ích và hành vi giao thương, mà con người và hàng hóa Việt Nam đã từng là lực lượng khẳng định hành trình tìm kiếm sự thịnh vượng. Kể cả trước đó nữa, thì sự hồi sinh kinh tế của Thăng Long dưới triều Vua Lê Thánh Tông (1449 -1497) cũng phản ánh phần lớn qua cơ cấu kinh tế “36 phố phường” của sản xuất, dịch vụ và giao thương.

Điều chúng ta có thể nhìn thấy từ hành trình này là một quy luật chung về tự do kinh doanh, bao gồm cả quyền sở hữu tài sản cá nhân, và quyền được tôn trọng sự độc lập kinh tế của cá thể, nhóm. Các kết cục chung của những thời kỳ thịnh vượng – thường khiến chúng ta tiếc nuối – lại có nguyên nhân nói chung đơn giản. Đó là khi quyền sở hữu tài sản cá nhân bị tước đoạt, sự can thiệp khiến tự do và độc lập kinh tế cá nhân chỉ còn là hình thức, và sức ép chi tiêu trước mắt khiến cho các xã hội, bao gồm cả nhà nước, dồn hết nguồn lực cho tiêu dùng ngắn hạn. Nói như cách hiểu của giới kinh tế về ràng buộc ngân sách là sự sẵn sàng chiết khấu giá trị của tương lai để tiêu dùng hiện tại. Hiển nhiên, điều này không chỉ xảy ra với một quốc gia cụ thể như Việt Nam trong thời kỳ hơn 2000 năm phong kiến. Nước Pháp chỉ với đồng tiền Franc vàng, cũng đã có biến đổi từ Vua Charles V (1364-1390), khi ấn định một Franc vàng (Franc-à-cheval) là 3,83 gram vàng đã rút giá trị xuống 0,29 gram thời Louis XVI, một hình thức kiếm lợi từ việc giảm giá trị đồng tiền mà giới nghiên cứu gọi là seigniorage. Bản thân triều Nguyễn, trước khi Tự Đức đầu hàng chịu sự bảo hộ của Pháp, cũng đã xảy ra những quá trình kinh tế suy thoái, phần nào có nguồn gốc từ sự ra đi của những lực lượng thương mại trứ danh, vốn đã làm phồn thịnh các cảng biển giao thương của Việt Nam từ thế kỷ XVI3.

Cho tới lúc này, nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO. Hoặc ngẫu nhiên, hoặc cũng có thể là tác động nhân quả ngắn hạn, những năm đầu gia nhập WTO là thời kỳ nhiều sóng gió cho nền kinh tế thị trường non trẻ của chúng ta. Chỉ khi đứng trước những biến cố lớn – và nhận thức rõ sự hạn chế phương pháp tư duy, chiến lược phát triển kinh tế trong lúc đó – ta mới tự thấy hiểu biết hạn chế đến thế nào về chính những khái niệm kinh tế thị trường mà cả xã hội đã hào hứng “học từ vựng” trong hơn hai thập niên qua.

Điều khó của từ vựng không nằm ở bản thân nghĩa của từ, mà nằm ở hệ thống nhận thức luận về các quá trình đang diễn ra và chi phối chúng. Khi quá trình thay đổi, nghĩa của từ cũng thay đổi. Một hình ảnh mô phỏng có thể minh họa là khi các thị trường thế giới đang tìm cách đánh giá lại giá trị đồng đô-la Mỹ, thì cũng là lúc nhận thức về hành trình ưu việt của nền kinh tế Mỹ bị rung lắc mạnh.

Quá trình của Việt Nam, cho dù là nền kinh tế rất nhỏ bé so với thế giới, cũng không kém phần phức tạp, đó là vì chúng ta còn có thêm một yếu tố bổ sung mang tên “Quá trình chuyển đổi”. Quá trình này đã đem lại những lợi ích cụ thể cho đời sống kinh tế quốc gia, tuy nhiên bản báo cáo thành tích thường ít đem lại gợi ý cho một lý thuyết tương lai. Chúng ta cần một bức tranh mang tính phân tích sâu sắc hơn một báo cáo.

Bên cạnh những thành tựu – mà độc giả đều thường xuyên được cập nhật sớm – thì độc quyền có lẽ là phần bức tranh méo mó nhất của quá trình chuyển đổi, điều mà chính các nền kinh tế tư bản – xây trên móng vận hành thị trường nhiều thế kỷ, với những phép biến đổi lịch sử rất căn bản – luôn phải đối phó bằng cả luật pháp lẫn đạo đức. Tuy vậy, độc quyền ấy đang diễn ra vừa công khai vừa âm thầm trong nền kinh tế Việt Nam, và tác động ngày một mạnh hơn lên diễn biến kinh tế, thông qua các lợi ích nhóm – về cơ bản là “cận thị” và mang tính phá hủy – có thể dễ dàng quan sát thấy bởi các triệu chứng giá, điều tiết nguồn cung, từ bỏ các cam kết vốn là nguồn gốc để độc quyền được đặt vào tay họ (ví như Tập đoàn Điện lực Việt Nam  từ chối xây nhà máy điện), mà mục tiêu cuối cùng cũng chỉ là khái niệm rất gần gũi: Tô kinh tế độc quyền. Bản thân C. Mac đã dành rất nhiều công sức để chỉ rõ về mặt nhận thức tác hại của các loại tô, mà những kinh tế gia hiện đại nhất, cổ vũ thị trường tự do, bao gồm cả laissez-faire, cũng thừa nhận rằng đánh thuế 100% tô kinh tế cũng không tác động gì tới cấu trúc và hiệu suất nền kinh tế. Nhưng giờ đây, chúng tồn tại khắp nơi, hiển hiện và ở quy mô lớn tới mức gây ra sự đột biến về chênh lệch thu nhập, lợi tức mà các nhà tư bản kếch xù nhìn thấy ở Việt Nam cũng phải thèm thuồng. Đất đô thị, đất chuyển mục tiêu kinh doanh, dầu mỏ, khoáng sản, và cả bản thân tư bản… là mục tiêu khai thác tô kinh tế của các tập đoàn.

Các đại biểu Quốc hội vẫn tiếp tục chất vấn về hiệu quả đầu tư khi ICOR liên tục tăng và đạt 8 lần vào năm 2009 (xem bảng 1). Quan điểm của Ri-cac-đô về tăng đầu tư để hy vọng tăng sản lượng đã được thực tế chứng minh không hiệu quả. Trong bối cảnh thế giới cũng đang đứng trước thách thức tìm kiếm mô hình phát triển bền vững mới, hướng đi kinh tế tri thức, sáng tạo càng trở nên cần thiết và quan trọng theo nguyên lý khởi nghiệp với giả định nguồn lực không có sẵn từ trước.

Bảng 1: ICOR qua các giai đoạn

ha4

Nguồn: Tổng cục Thống kê, năm 2009

3- “Sự phá hủy mang tính kiến tạo

C.Mác là một thiên tài, với trí lực không chỉ kiệt xuất mà gần như có thể nói là toàn diện, đã đi trước thời đại của ông nửa thế kỷ khi đặt nền móng cho lý thuyết chu kỳ, với những tiên liệu về khủng hoảng. Điều mà chúng ta muốn mượn từ trí lực của C.Mác chính là quan điểm biện chứng lịch sử về quá trình cạnh tranh và phá bỏ chính những nền móng phôi thai một phần cơ thể của kinh tế thị trường, rồi tiếp tục xây dựng mới. Bản thân C.Mác, với trí tuệ thiên tài, đã nói rất rõ trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng hệ thống kinh tế thị trường đã mang lại những thành tựu công nghiệp, kinh tế, đô thị và sức sống mà hàng triệu năm lịch sử loài người không tiến tới được. Đó là quá trình mà nhà kinh tế lỗi lạc của thế kỷ XX, Schăm- pít-tơ (Schumpeter) gọi là “Sự phá hủy mang tính kiến tạo”. 4

Đối với ý nghĩa của “Sự phá hủy mang tính kiến tạo” chúng ta đều hiểu sự chuyển dịch gì xảy ra khi 4 chữ cuối bị cắt bỏ. Bản thân Schăm- pít-tơ, cha đẻ của thuật ngữ làm thay đổi cách nghĩ của thế giới về các quá trình thị trường, về cơ bản cũng đồng ý với C.Mác về cái đích đi đến của chủ nghĩa tư bản – là sự chấm dứt và thay thế nó – thông qua bản thân cái mà ông gọi là cơn bão dồn dập, không ngừng nghỉ của sự phá hủy và tái tạo; một quá trình tự nó cũng có cái bẫy của sự gián đoạn tái tạo, hoặc bản thân cán cân đó nghiêng về phá hơn là xây.

Quá trình này đang diễn ra trong nền kinh tế của Việt Nam, và mạnh mẽ hơn qua năm 2009, cho dù những kết quả sàng lọc có thể chưa được thống kê. Bản chất sự chuyển đổi kinh tế đã gắn liền với chuyển đổi sở hữu tài sản vốn và vật chất, gắn liền với chúng là lợi ích kinh tế. Như vậy, câu hỏi lớn về phúc lợi kinh tế toàn thể, trước sau cũng đặt ra câu hỏi về số phận tài sản sẽ nằm trong tay một số nhỏ những người rất giàu có của chính Việt Nam, và quá trình phân phối tài sản trong thu nhập quốc dân.

Tầng lớp tư sản thị thành đang tăng lên nhờ những tích lũy tài sản chủ yếu là tư bản và bất động sản, nhưng quá trình tiêu dùng kiểu “hiệu ứng Duesenberry” đang góp phần biến đô thị thành nơi tạo ra sự bất bình đẳng và nhập siêu cho lối sống xa hoa; với những thanh niên con nhà giàu một đêm đốt cả năm lương của một công chức lương thiện cho giải trí, hay những thú tiêu dùng sùng bái vật chất tới mức một chiếc xe hơi có thể là lượng tư bản đủ kiến tạo 3-4 nhà máy hạng vừa. Nếu hời hợt cho rằng đó là sự tất yếu của kinh tế thị trường và thừa nhận không cần suy xét thêm, thì cũng đồng nghĩa với việc sẵn sàng trượt vào vết xe tiêu dùng không tích lũy, mất cân bằng trong cả tăng trưởng lẫn tiến bộ trạng thái kinh tế; điều mà ít nhiều quá trình phá kỷ lục nhập siêu liên tục cả thập kỷ vừa rồi mách bảo mỗi người từ tiềm thức.

Rõ ràng nhập siêu không bắt buộc phải gắn liền và càng không phải là nguyên nhân tạo ra tăng trưởng, tiến bộ của nền kinh tế thị trường – qua trường hợp của Trung Quốc suốt vài thập niên qua, hay trước đó là Nhật Bản, Hàn Quốc. Hàng hóa tư bản nhập khẩu cũng không bảo đảm sự phát triển thành công của sáng tạo công nghệ và khai thác các cơ hội chiến lược, giống như lịch trình công nghệ ti-vi của Việt Nam vẫn chỉ đem lại sự độc lập ở chiếc hộp các-tông hay hơn nữa thì là lớp bọc xốp. Khái niệm giá trị lao động kết tinh vay mượn của C.Mác, nếu được bóc tách bằng lượng gia tăng nội địa, chỉ giúp chúng ta kết luận về sự thua kém thảm hại năng suất và chất lượng lao động giữa cái được kết tinh ở đây, với cái được thị trường thừa nhận trong nhà máy của Sony hay Toyota mà thôi.

Như vậy, trong hành trình kinh tế dù là đi đến thịnh vượng dài hạn, hay là đi qua thời kỳ chuyển đổi thành công – để trở thành một quốc gia công nghiệp năm 2020 – như các nhà hoạch định đã đặt ra, thì một công việc sống còn vẫn là hệ thống lý thuyết kinh tế dẫn đường cho không chỉ tăng trưởng, mà cả phát triển và tiến bộ.

Ở trong bối cảnh của Việt Nam, và dựa trên những nhận thức luận về tiến trình kinh tế lâu dài của lịch sử đương đại, có thể nhìn thấy được một cột trụ quan trọng bậc nhất của nó là hệ thống lý thuyết về khởi nghiệp, mà từ những năm cuối thập niên 90, bắt đầu nhận được sự quan tâm nhiều hơn thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (thường gọi tắt là SME). Tuy nhiên, nền kinh tế khởi nghiệp không chỉ giới hạn trong phạm vi SME mà thôi, mà những quốc gia rất phát triển như Ca-na-đa đã mở rộng biên giới của lý thuyết khởi nghiệp tới tận bộ máy chính phủ, theo những phương cách nghiên cứu kỹ lưỡng và đã rất thành công. Trên thực tế, không ở khu vực nào trong nền kinh tế mà tính sáng tạo, sự tiến bộ công nghệ và tích tụ lại có thể hiệu quả hơn khu vực ngự trị bởi tinh thần khởi nghiệp.

Thị trường thiếu vắng những cơ hội tạo giá trị mới – đầu ra của quá trình khởi nghiệp – là môi trường thuận lợi cho phát triển các hành động đầu cơ. Cảnh đông đúc tại các tiệm vàng, cửa hàng thu đổi ngoại tệ trong những ngày biến động giá vàng và USD của tháng 11 vừa qua thể hiện rõ ràng nỗ lực tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn, đồng thời với trú ẩn tài sản5. Liên thông chứng khoán, bất động sản, tín dụng đã mở rộng sang các thị trường thanh khoản linh hoạt hơn là vàng và ngoại tệ6. Hiện tượng bất thường này được Mises lý giải như hành động hợp lý của mỗi con người kinh tế. Trong đó, cá nhân giao dịch vội vã tới mức không kịp quan sát các điều kiện thị trường thay đổi cũng như dự báo kết cục thị trường trước hành vi đồng nhất của đám đông. Họ đặt dự tính kiếm lợi và tránh mất mát tài sản lên trên hết.

Khởi nghiệp, như một quá trình phức tạp và đồng bộ, có ảnh hưởng quan trọng tới sự thịnh vượng và ổn định của nền kinh tế trong dài hạn. Nhưng chính cộng đồng doanh nhân khởi nghiệp Việt Nam cũng có những vấn đề, tiềm ẩn hay rõ ràng, tác động tiêu cực tới hành trình kinh tế tương lai. Đó có thể là mô hình kinh doanh dựa trên tìm kiếm đặc lợi kinh tế (rent-seeking), quan hệ tín dụng với ngân hàng bằng quan hệ cá nhân, và những hệ quả từ hệ thống giáo dục kinh doanh coi trọng hình thức và bằng cấp. Trong trào lưu chứng khoán hóa, thâu tóm – sáp nhập (M&A) doanh nghiệp, một bộ phận doanh nhân khởi nghiệp đang dịch chuyển vai trò từ người chủ doanh nghiệp sang nhà quản lý hưởng lương – khởi nguồn của vấn đề xung đột lợi ích đại diện, và từ người khởi nghiệp thuần túy sang nhà tư bản. Các định chế thị trường thúc đẩy quá trình tách biệt sở hữu và kiểm soát phân định rạch ròi giữa nhà tư bản không khởi tạo kinh doanh và người khởi nghiệp không sở hữu tư bản. Khi kinh doanh thất bại, nhà tư bản mất tiền vốn đầu tư. Người khởi nghiệp chịu rủi ro với phần vốn chính họ bỏ ra, thường là khoản đầu tư (nhỏ tương đối so với nhà tư bản) từ tích lũy cá nhân để ươm mầm kinh doanh ban đầu. Bởi vậy, không nên kỳ vọng năng lực chấp nhận rủi ro đặc biệt ở những người khởi nghiệp. Kinh tế khởi nghiệp bác bỏ quan niệm “rủi ro cao, lợi nhuận cao”. Lợi nhuận là phần thưởng dành cho khả năng nhận thức nhanh nhạy của người khởi nghiệp trước các cơ hội tạo giá trị, chứ không phải các hành vi kinh tế mạo hiểm.

Một nghị sự cho khởi nghiệp có lẽ đáng được coi là cấp thiết và quan trọng bậc nhất cho 2010, thay vì con số GDP hay lượng vốn cần cấp cho các tập đoàn nhà nước. Cuối cùng thì sức mạnh kinh tế vẫn nằm trong tay của hàng triệu người lao động, và được thể hiện qua sức phát triển bền bỉ, quy mô và sự đa dạng của hệ thống khởi nghiệp trong nền kinh tế./.

TS. Vương Quân Hoàng – Tạp chí Cộng sản số 807 (1-2010)

———

* TS, Đại học Tổng hợp Brúc-xen (Bỉ)
(1) Số liệu ước tính cho tới hết tháng 11-2009
(2) Vương Quân Hoàng: Nhìn lại nền kinh tế Việt Nam 2008 phải trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế gi1i, Tạp chí Cộng sản điện tử số 2 (170), tháng 1- 2009
(3)Ở thế kỷ XVII, theo lời một số giáo sĩ Châu Âu, kinh thành Thăng Long là đô thị giao thương sầm uất không thua kém nhiều thành phố lớn Châu Âu, lúc đó đang trên đà phục hưng và chuẩn bị cho một cuộc cách mạng khoa học-công nghệ thời kỳ sau đó.
(4) Nguyên văn “The perennial gale of creative destruction,” ông viết trong cuốn sách kinh điển Capitalism, Socialism and Democracy, Harper & Brothers, 1942.
(5) Trong 3 giờ đồng hồ, từ 9h đến 12h sáng ngày 11-11-2009, giá vàng trên thị trường trong nước liên tục tăng lên với mức chênh lệch cao nhất 3 triệu đồng/lượng.
(6) Vương Quân Hoàng và Nguyễn Hồng Sơn: Về mối liên thông giữa thị trường bất động sản, vốn và tiền tệ, Tạp chí Cộng sản số 785, tháng 4- 2008

January 6, 2010

Trần Vinh Dự – Việt Nam: Một năm nhìn lại – Kinh tế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:40 pm
Tags: , ,

Việt Nam bước vào năm 2009 trong khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang trên đà tăng tốc. Là một nước tăng trưởng dựa nhiều vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, VN chịu ảnh hưởng lớn từ doanh số xuất khẩu giảm sút và đầu tư nước ngoài thu hẹp. Trong 11 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của VN giảm 11.4% so với cùng kỳ năm trước. Đầu tư nước ngoài trong 10 tháng đầu năm chỉ xấp xỉ 25% so với cùng kỳ năm trước. Đây là những thử thách to lớn đối với nền kinh tế và với chính phủ – với tư cách là người lèo lái con thuyền này.

Tin liên quan:

Lèo lái tốt trong khủng hoảng: Trong bối cảnh như vậy, tăng trưởng kinh tế ước tính của năm 2009 vẫn lên tới 5.2% (sau khi đã khấu trừ lạm phát). Việt Nam là nước duy nhất trong khối ASEAN luôn tăng trưởng trong tất cả 4 quý của năm 2009. Thành tích tăng trưởng này được Ngân hàng Thế giới tán dương với nhận định “kinh tế Việt Nam chèo chống tương đối tốt qua cuộc khủng hoảng,” còn IMF thì tuyên bố Việt Nam chắc sẽ làm tốt hơn các nước láng giềng trong giai đoạn hồi phục.”

Duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối tốt trong điều kiện thế giới chìm đắm trong cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy thoái rõ ràng là thành tích ấn tượng nhất trong lĩnh vực quản lý kinh tế của chính phủ trong năm 2009.


Hình 1: Chỉ số VN-Index từ cuối 2008 tới nay (Nguồn: Bloomberg)

Thị trường chứng khoán VN (TTCK) hồi phục: TTCK bắt đầu năm 2009 với VN-Index nằm ở mức 315 điểm, sau đó tụt xuống thấp nhất ở mức 235 điểm vào ngày 24 tháng 2 (giảm 25.4%). Từ đó tới nay, TTCK đã hồi phục mạnh mẽ, VN-Index đạt trần vào ngày 22 tháng 10 với mức 624 điểm, tức là tăng khoảng 100% so với hồi đầu năm và 165% so với thời điểm chỉ số này chạm đáy. Tuy nhiên, VN-Index đã liên tục giảm trở lại từ cuối tháng 10 và hiện nay chỉ còn ở mức 440 điểm (số liệu trong ngày 16 tháng 12). Đà giảm điểm này có lẽ còn kéo dài nữa do vấn đề thanh khoản (liquidity) trong hệ thống ngân hàng ở VN.

Thâm hụt mậu dịch và sức ép phá giá tiền tệ: Ngược lại với các điểm sáng kể trên, kinh tế Việt Nam vẫn còn đang gặp phải vô số khó khăn trong ngắn hạn. Thâm hụt mậu dịch quốc tế vẫn liên tục tăng từ hàng chục năm nay tạo nên sức ép thường trực lên giá trị của đồng VND. VN đã phải tuyên bố phá giá 5.4% giá trị đồng VND vào hồi cuối tháng 11 vừa rồi mặc dù chỉ vài ngày trước đó các chính trị gia hàng đầu của đất nước vẫn khẳng định như đinh đóng cột là không có chuyện phá giá.

Đầu tư nước ngoài ít thực chất: Do sức ép phải duy trì được thành tích kêu gọi vốn nước ngoài, Việt Nam đã phải chấp nhận cho FDI đi mạnh vào các khu vực “bong bóng” như bất động sản và du lịch thay vì vào các khu vực công nghệ, kỹ thuật, hạ tầng, hay giáo dục là các khu vực có tác dụng nâng cao năng suất của nền kinh tế về dài hạn. Tỉ lệ FDI đầu tư vào bất động sản trong năm 2008 là 36.8% và trong 10 tháng đầu năm 2009 là 30% ($5.67 tỉ trong tổng số khoảng $19 tỉ). Nếu tính cả số FDI đầu tư vào dịch vụ du lịch thì vốn FDI vào bất động sản và du lịch chiếm tới 76% trong tổng số vốn FDI đầu tư vào VN trong 10 tháng đầu năm 2009.

Khả năng trả nợ của quốc gia ngày càng bị đánh giá thấp: Xếp hạng tín dụng quốc gia đang ngày càng kém đi. Hiện nay các khoản nợ quốc gia của Việt Nam được Moody xếp hạng Ba3 và Standard & Poor’s xếp hạng BB. Hồi giữa năm 2008, Standard & Poor’s đã hạ thấp mức xếp hạng chỉ số tín dụng quốc gia của Việt Nam từ “ổn định” (stable) xuống “tiêu cực” (negative). Một báo cáo gần đây của Nomura còn khuyến cáo rằng Việt Nam đang đứng trước khả năng tiếp tục bị đánh tụt hạng tín dụng. Vì bị xếp hạng tín dụng thấp, khả năng huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài ngày càng khó khăn.

Cuộc đánh đổi giữa kiềm chế lạm phát và tăng trưởng tín dụng: Việt Nam hứng chịu sức ép lạm phát trong suốt cả năm 2009 do tăng trưởng tín dụng nhanh và giá nguyên vật liệu thô tăng. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tìm cách kiềm chế đà tăng này bằng cách yêu cầu các ngân hàng duy trì mức tăng tín dụng cả năm không quá 30%. Tuy nhiên, chỉ trong 11 tháng từ đầu năm, tăng trưởng tín dụng đã lên tới 36%. Vì thế, mức lạm phát cả năm hiện nay được dự tính sẽ vào khoảng 6.8%. Ngân hàng phát triển Châu Á hồi cuối tháng 9 vừa qua còn dự báo lạm phát của năm 2010 ở Việt Nam có thể lên tới 8.5% nếu chính phủ tiếp tục duy trì gói kích thích tài chính.

Để ngăn chặn khả năng lạm phát quá cao, hồi cuối tháng 11 này, NHNN đã phải tăng lãi suất cơ bản và yêu cầu các ngân hàng thương mại (NHTM) hạn chế cho vay vào các mục đích phi sản xuất. Hậu quả là nguồn tín dụng cho chứng khoán và nhà đất bị thu hẹp một cách bất ngờ. Chính vì vậy mà TTCK tiếp tục tụt dốc không phanh, còn thị trường bất động sản thì cũng được VNeconomy mô tả là “bong bóng đang xì hơi.”

Hiệu quả sử dụng vốn quá thấp: Một thước đo thường được sử dụng để xác định hiệu quả sử dụng vốn là Tỉ lệ vốn tăng thêm trên sản lượng (ICOR-Incremental Capital Output Ratio). Ti lệ này cho biết mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn trong sản xuất. ICOR càng cao có nghĩa là Việt Nam càng phải sử dụng nhiều vốn hơn chỉ để sản xuất ra một sản lượng như trước.

Nghiên cứu của Deutsche Bank cuối năm 2007 đã kết luận “không may là hiệu quả của vốn đầu tư của Việt Nam đã ngày càng kém đi trong nhiều năm trở lại đây. ICOR của Việt Nam [năm 2006] là 4.2, cao hơn nhiều so với Trung Quốc khi đó là 3.7 hay Ấn Độ là 3.3.” Theo một nghiên cứu được Intellasia trích đăng lại thì ICOR trong năm 2007 là 4.76.

Có vẻ như chỉ số này của năm 2009 còn kém hơn nữa. Khi được đề nghị dự báo về chỉ số cho năm 2009, ông Bùi Bá Cường của Tổng cục Thống kê đã trả lời: “Đầu tư của nhà nước tăng bất thường lên hơn gấp rưỡi – tính theo giá thực tế, mà tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 5,2% thì rõ ràng là ảnh hưởng đến ICOR rồi.”

Hiệu quả sử dụng vốn thấp đồng nghĩa với giá thành cao và khả năng cạnh tranh của hàng hóa ở Việt Nam sẽ phải kém đi tương đối. Điều này hoàn toàn bất lợi cho một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu. Các lãnh đạo của Việt Nam hiểu rõ vấn đề này, ngay đến như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng bình luận: “ICOR tăng cao thế là rất đáng lo ngại nhưng cần có đánh giá thêm của các nhà khoa học.”

Nền kinh tế “chạy” không nhanh nhưng luôn “quá nóng”: Điểm đau đầu nhất mà chính phủ của Thủ tướng Dũng đang gặp phải có lẽ là kinh tế Việt Nam đang bị coi là ở trong tình trạng “quá nóng” mặc cho tốc độ tăng trưởng không thực sự cao nếu so sánh với tốc độ phát triển kinh tế của các nước Đông Á hay Trung Quốc một vài thập niên trước. Mấu chốt của vấn đề này có lẽ ở chỗ cơ cấu kinh tế của Việt Nam đang bị mất cân đối nghiêm trọng và cần phải được điều chỉnh về cơ bản.

Hiện nay các chủ nợ như ADB đang kêu gọi Việt Nam nên tăng trưởng chậm lại và tập trung vào giải quyết các vấn đề đang tồn đọng, tái cấu trúc cơ cấu kinh tế nhằm duy trì được khả năng tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Đọc bài: Trần Vinh Dự – Việt Nam: Một năm nhìn lại – Kinh tế (VoA)

Next Page »

Blog at WordPress.com.