Ktetaichinh’s Blog

November 10, 2010

Việt Nam: Từ con hổ châu Á đến chú mèo ngủ đônế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:25 pm
Tags: ,

Trước kia, nhiều người cho rằng Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 – 20 năm tới, tiếp đến họ lại cho Việt Nam sẽ là con hổ Châu Á và bây giờ Việt Nam được xem lại là con mèo ngủ đông!

LTS: Ngày 07/11/2010 tại Hà Nội diễn ra buổi Hội thảo về Hội nhập WTO với chủ đề: “4 năm gia nhập WTO, Sự hội nhập của DN Việt Nam” với sự tham gia của hai diễn giả là Ông Lương Văn Tự – Nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng đoàn Đàm phán Việt Nam – WTO, Bà Phạm Chi Lan – Chuyên gia Kinh tế cao cấp. Tuần Việt Nam tổng lược nội dung cuộc trao đổi giữa các DN với hai chuyên gia trong hội thảo.

>> Hội nhập không phải là một cuộc “đánh quả”
>> Việt Nam vẫn làm ăn không giống ai

Thua trên sân nhà

Ông Lương Văn Tự: Sau 4 năm chúng ta gia nhập WTO, môi trường kinh doanh đã thay đổi từ đóng, mở ở mức độ thấp sang môi trường mở ở mức độ cao hơn, hội nhập sâu hơn. Môi trường pháp lý tốt hơn, xóa đi được quan niệm cũ “tân quan, tân chính sách”, tạo ra được DN giỏi.

Chính hội nhập mà tư duy của các DN có nhiều thay đổi, từ thụ động sang chủ động hơn, lấy hiệu quả kinh tế làm trọng tâm. Nhiều DN chuyển từ đơn ngành sang đa ngành; từ làm ăn gia đình sang đa sở hữu cổ phần, đại chúng; từ chụp giật sang lâu dài và bền vững hơn.

Những điều này thể hiện qua số lượng DN và chất lượng sản phẩm. Từ 100 ngàn DN năm 2006 lên khoảng 500 ngàn DN năm 2009. Nhiều lĩnh vực có sự tham gia của các DN nước ngoài, một phần tạo nên nhiều nhà quản lý trẻ giỏi, năng động.

Bốn năm trước, Việt Nam chính thức là thành viên WTO.

Tuy nhiên, sau 4 năm gia nhập WTO, nhiều DN của chúng ta vẫn thiếu nghiên cứu một cách khoa học về thị trường và phân khúc của nó. Nhiều DN làm ăn theo kiểu phong trào, bầy đàn, chụp giật; văn hóa kinh doanh chưa cao; thiếu doanh nhân, cán bộ quản lý có trình độ cao; công nghiệp phụ trợ chậm phát triển vì thiếu nguồn lực đầu tư… đặc biệt là vai trò của thể chế chậm cải tiến cho phù hợp với luật chơi chung của toàn cầu.

Bà Phạm Chi Lan: Sau khi gia nhập WTO, VN đã tham gia những quy định chung và tự nhận ra mình được gì và mất gì từ sân chơi ấy. Trước kia, nhiều nhà khoa học của các nước cho rằng Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 – 20 năm tới, tiếp đến họ lại cho Việt Nam sẽ là con hổ Châu Á và bây giờ Việt Nam được xem lại là con mèo ngủ đông!

Khi đã tham gia WTO, nhiều người đã nói rằng hàng hóa đến đâu thì biên giới quốc gia đến đó và rõ ràng Việt Nam đang thua hàng hóa trên sân nhà, trước nguy cơ cạnh tranh thị trường, đặc biệt là từ Trung Quốc.

Ví dụ, trong một số liệu điều tra tại Trà Vinh, 95% hàng hóa tiêu thụ là hàng Trung Quốc. Nếu chúng ta hội nhập sâu hơn nữa thì không biết hàng hóa Việt Nam sẽ đi đâu về đâu? Đây là một thách thức lớn cho đường lối phát triển hiện nay và sắp tới.

Nếu chúng ta không có những chính sách tốt thì trong thập kỷ tới, nền kinh tế, các ngành và DN Việt Nam khó mà cạnh tranh với các đối thủ “nặng ký” hơn. Đặc biệt, vai trò quản lý rủi ro, nhất là đối với các DNNN cần phải được coi trọng, để “nút thắt” thể chế không kìm hãm tăng trưởng.

Sau khi vào WTO, chúng ta đi theo một mô hình tăng trưởng sai lệch, quá chú trọng đến tăng trưởng theo tốc độ và số lượng, để rồi sung sướng khi mình luôn đứng thứ hai ở châu Á về mức độ tăng trưởng, chỉ sau Trung Quốc. Tuy nhiên, thực tế là 1% tăng trưởng của Việt Nam nhỏ hơn rất nhiều với 1% tăng trưởng của các nước.

Chưa theo được luật chơi

Nhiều người kì vọng, WTO cùng với hội nhập nói chung sẽ là động lực để tạo nên những thay đổi về luật chơi và cách chơi, nhất là về thể chế, chính sách trong nước. Sau 4 năm, việc này đã giúp gì trong việc xây dựng cách chơi của VN theo luật chơi thế giới?

Ông Lương Văn Tự: Hiệu quả hội nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó bản thân chính sách Nhà nước và năng lực của DN là hai yếu tố quan trọng. Các nước họ trở thành những con hổ, con rồng là do chính sách kinh tế vĩ mô và năng lực sản xuất kinh doanh của các DN. Thiếu cả hai điều này nên Việt Nam chưa theo được luật chơi của thế giới.

Bà Phạm Chi Lan: Những cải cách trước đây từ khi ta gia nhập WTO là vẫn chưa đủ để nền kinh tế Việt Nam cất cánh. Thể chế đang là nút thắt của sự tăng trưởng, nút thắt của sự hội nhập sân chơi toàn cầu. Chính vì vậy, chúng ta cần có chiến lược cải cách mới, triệt để và thực hiện nghiêm túc hơn.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.

Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta xây dựng hệ thống thể chế hiện đại, năng lực thể chế cao (luật pháp, chính sách, bộ máy, con người) mới tận dụng được lợi ích, vượt qua khó khăn. Không có năng lực thể chế sẽ không có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Trong thời gian tới, Nhà nước cần thúc đẩy sự sáng tạo và tăng cường quản lý rủi ro, đề cao vai trò của các DN và xã hội. Nhà nước phải biết lợi thế so sánh của nền kinh tế để phát triển các ngành công nghiệp trong từng giai đoạn, trong đó hai điều kiện tiên quyết phải là hệ thống thị trường cạnh tranh và một nhà nước tạo thuận lợi cho phát triển.

Việt Nam sẽ không dễ thay đổi vị trí trong khu vực nếu cứ tình trạnh chính sách tài chính và chính sách kinh tế có sự cách xa nhau như hiện nay. Cần cải thiện quản trị nhà nước để phát triển các khu kinh tế tự do, cải cách các tập đoàn kinh tế lớn, cải thiện cơ chế đối thoại nhằm tạo đồng thuận.

Thế giới dựa luật, Việt Nam vẫn dựa quan hệ

– Bà Virginia Foote, người gắn bó với quá trình hội nhập kinh tế VN từng chua chát nói: Việt Nam cứ chơi theo luật chơi riêng, thì chỉ có DN Việt Nam tự chơi với nhau thôi. Vậy điều gì cản trở Việt Nam mãi không chơi luật chơi chung của thế giới? Những gì cần điều chỉnh?

Ông Lương Văn Tự: Các DN thế giới sử dụng pháp luật để hợp tác kinh doanh trong khi DN Việt Nam nặng về quan hệ để làm ăn. Điều này có thể dễ trong việc làm ăn, nhưng rõ ràng để chơi được với thế giới là điều không dễ.

Ngoài ra, tính minh bạch và đầu tư cho bộ phận pháp chế để tuân thủ luật lệ thế giới cũng là điều còn rất hạn chế ở những DN Việt. Vì vậy mà các DN Việt Nam tự chơi với nhau cũng là điều dễ hiểu.

Để có thể tiến xa hơn các DN chúng ta nên khắc phục điểm bất lợi này. Đồng thời, chúng ta là nước đang còn nghèo nhưng lại được hưởng những ưu ái của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong khi các nước nghèo phải làm cả thứ bảy và chủ nhật thì ta chiều thứ sáu đã nghỉ rồi thì làm sao mà giàu được.

Chúng ta phải tham gia vào cuộc chơi toàn cầu và bắt buộc phải nâng tầm mình lên, DN càng khỏe, càng mạnh thì hội nhập càng tốt.

Ngoài ra, bản thân DN cũng phải thay đổi tư duy là đừng trông chờ vào Chính phủ.

Bà Phạm Chi Lan: DN Việt Nam vẫn xem nó là cuộc đánh quả, vẫn tư duy theo kiểu chộp giật, lo cái lợi trước mắt, thiếu tầm nhìn. Bản thân chính sách vẫn còn thay đổi xoành xoạch, thiếu tính tiên lượng. Năng lực cạnh tranh của các DN thấp, tinh liên kết nội bộ các DN trong nước khi ra sân chơi toàn cầu rất ít, vì vậy mà không tạo được sức mạnh cạnh tranh DN với thế giới, vẫn theo kiểu mạnh ai người ấy làm.

Cũng như nói ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến tính trạng các DN Việt như vậy là do vấn đề chính sách, thể chế, sự hạn chế trong năng lực đại diện cho các DN của các hiệp hội trong việc đối thoại, vận động chính sách, hỗ trợ và liên kết DN, xúc tiến thương mại và đầu tư…

Chính vì vậy, bản thân từng DN phải tự rà soát lại mình, điều chỉnh chiến lược, cách tổ chức kinh doanh, thực hiện những việc cần làm ngay. Coi trọng hơn thị trường trong nước, chuyển mạnh sang chiến lược kinh doanh hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, phát triển các cụm liên kết.

Ưu ái cũng là gây hại

– Sau 4 năm gia nhập WTO thế nhưng nhiều nước vẫn chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường và họ viện dẫn bằng chứng rõ nhất là cách chúng ta phân bổ nguồn lực, với những ưu ái dành cho DNNN. Góc nhìn của ông/ bà như thế nào về điều này?

Ông Lương Văn Tự: Kinh tế thị trường cũng như một thứ game mang màu sắc chính trị. Tiêu chuẩn kinh tế thị trường của Mỹ có một số tiêu chí như đồng tiền chuyển đổi, lao động tự nguyện, lương theo thỏa thuận… những vấn đề nhạy cảm mà Hoa Kỳ quan tâm.

Còn về việc phân bố nguồn lực, tôi nghĩ, nhà nước nên phân bố nguồn lực dựa vào luật đấu thầu, trên các tiêu chí cụ thể.

Bà Phạm Chi Lan: WTO không đưa ra các tiêu chuẩn để nói thế nào là một nước có nền kinh tế thị trường, tuy nhiên cần chú ý các tiêu chí về kinh tế thị trường của các nước hoặc nhóm nước đưa ra và quan trọng nhất là tiêu chí kinh tế thị trường của Mỹ, EU. Nhiều nước nói chúng ta chưa có nền kinh tế thị trường có liên quan đến bảo hộ cho DNNN với việc bán phá giá liên quan đến trợ cấp của Chính phủ.

Thế giới không quan tâm chúng ta có bao nhiêu DNNN, việc này là do chúng ta, tuy nhiên việc đối xử với nó như thế nào trong cuộc chơi toàn cầu lại là chuyện khác.

Nhiều lúc, ở Việt Nam bài toán phân bổ nguồn lực đã không tạo ra được những ưu ái cho số đông DN, thậm chí đã làm méo mó môi trường cạnh tranh. Việc phân bổ nguồn lực không bình đẳng đã làm hại cho cả hai phía.

Đối với bên kinh tế tư nhân bị phân biệt đối xử, thiệt thòi là dễ hiểu rồi, vì đất đai và các nguồn lực ngon lành đều nằm trong tay DNNN. Còn đối với bên DNNN được ưu ái đôi khi lại thành bị hại, như Vinashin là ví dụ sinh động cho vấn đề vay vốn và tiếp cận các nguồn lực một cách dễ dàng và thoải mái.

Đôi khi nhiều nguồn lực quá đối với DNNN lại là tai hại đang rình rập mà họ không hề biết, bởi vì họ đã mất đi khả năng cạnh tranh vốn là sự sống còn của bản thân mỗi DN muốn phát triển.

Đã đến lúc chúng ta phải cắt bỏ điều này đi, hãy để cho nó tự lập mới đủ sức đề kháng trong xu thế hội nhập khốc liệt.

Advertisements

June 10, 2010

Cần điều chỉnh lại các khái niệm “đầu tư”, “vốn đầu tư” Vũ Quang Việt

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:30 pm
Tags: , ,

(TBKTSG) – Bài “Đằng sau những con số” của ông Tô Văn Trường (TBKTSG, số ra ngày 20-5-2010) đã chỉ ra khái niệm “vốn đầu tư” không giống ai của Việt Nam. Sự không giống ai này phản ánh qua sự khác biệt quá lớn giữa hai con số vốn đầu tư và đầu tư, mới đây đã lên tới trên 50% (bảng 1). Nhân dịp này, tôi thấy cũng nên làm sáng tỏ thêm vấn đề.

Thế nào là đầu tư?

Đầu tiên cũng nên giải thích cho rõ hơn thế nào là “đầu tư” theo quan điểm của quốc tế. Từ ngữ quốc tế chính xác là gross capital formation, có thể dịch là “tích lũy tài sản cố định gộp”.

Thế nào là tích lũy tài sản cố định gộp? Đó là sự tăng/giảm về tài sản cố định (có thể là do đầu tư, có thể do người khác cho, có thể là giảm đi do đem bán) do kết quả của quá trình sản xuất. Việc giảm do tai nạn cháy nhà, phá hủy để xây mới không được tính vào đây vì đây là các hành động không nằm trong diện giao dịch trong sản xuất.

Gọi là “gộp” vì chưa tính phần mất mát vì tuổi thọ giảm và vì năng suất giảm của tài sản cố định theo thời gian cũng như sự lạc hậu của tài sản. Phần mất mát này có thể gọi tạm là khấu hao tài sản cố định, nhưng về mặt kinh tế nó hoàn toàn khác ý niệm dùng trong hạch toán doanh nghiệp vì nó phải phản ảnh sự mất mát liên quan đến tuổi thọ và năng suất, do đó phải được các nhà thống kê tính toán.

Ở kế toán doanh nghiệp, có nhiều cách tính, nhưng hầu hết các cách tính chỉ dựa chủ yếu vào giá lúc mua vào, thí dụ nếu giá một tài sản cố định lúc mua vào là 10 thì mỗi năm khấu hao là 2 nếu tuổi thọ là năm năm, bất chấp giá tài sản đó tăng giảm như thế nào trên thị trường.

Chữ đầu tư hoàn toàn không chính xác vì việc mua trái phiếu, cổ phiếu, bỏ tiền vào ngân hàng kiếm lãi cũng là đầu tư.

Đánh giá năng suất nền kinh tế và thông tin cần thiết

<!–/* * This tag has been generated for use on a non-SSL page. If this tag * is to be placed on an SSL page, change the * 'http://d1.openx.org/…&#039; * to * 'https://d1.openx.org/…&#039; * * The backup image section of this tag has been generated for use on a * non-SSL page. If this tag is to be placed on an SSL page, change the * 'http://d1.openx.org/…&#039; * to * 'https://d1.openx.org/…&#039; * * If iFrames are not supported by the viewer's browser, then this * tag only shows image banners. There is no width or height in these * banners, so if you want these tags to allocate space for the ad * before it shows, you will need to add this information to the * tag. */–> &amp;lt;a href=’http://d1.openx.org/ck.php?n=a7abac81&amp;amp;amp;cb=INSERT_RANDOM_NUMBER_HERE&#8217; target=’_blank’&amp;gt;&amp;lt;img src=’http://d1.openx.org/avw.php?zoneid=138489&amp;amp;amp;cb=INSERT_RANDOM_NUMBER_HERE&amp;amp;amp;n=a7abac81&#8242; border=’0′ alt=” /&amp;gt;&amp;lt;/a&amp;gt;

//

Muốn đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất thì các nhà kinh tế cần biết tổng giá trị tài sản cố định hiện có; nó không phải là tổng giá trị “gộp” mà là tổng giá trị “thuần” (net) của các tài sản cố định, tức là nó phải phản ánh giá trị của chúng trên thị trường, và tất nhiên giá trị trên thị trường phản ánh tuổi thọ, năng suất của tài sản. (Xem bảng đề nghị thông tin cần có bên dưới – bảng 2).

Các nhà thống kê có thể mở một cuộc điều tra về giá trị của từng loại xe cộ, từng loại máy móc, nhà xưởng, đường sá… đã được mua hoặc xây dựng từ trước đến nay và cộng lại để có giá trị thuần của chúng. Nhưng đây không phải là cách làm, vì vừa tốn kém, vừa không chính xác.

Cách tính được quốc tế thừa nhận đều dựa trên thuật toán kinh tế; thuật toán đòi hỏi thông tin về giá trị tích lũy tài sản cố định hàng năm về từng loại tài sản, chỉ số giá và tuổi thọ trung bình. Tất cả các thông tin này tôi đã đề nghị Tổng cục Thống kê (TCTK) thu thập nhưng cho đến nay vẫn chưa được làm. TCTK có thu thập thống kê giá trị tích lũy tài sản cố định hàng năm (hiện được gọi không chính xác là đầu tư).

Việc đánh giá năng suất cũng không thể nói chung chung mà là năng suất của ai, hoạt động trong ngành nào. Do đó ta cần biết tổng giá trị tài sản thuần của các loại doanh nghiệp như nhà nước, tư nhân, đầu tư nước ngoài vào các hoạt động sản xuất khác nhau như sản xuất ô tô, công nghiệp thực phẩm, may mặc, xây dựng… Để tính được tổng giá trị tài sản thuần của từng loại doanh nghiệp ở từng ngành, ta phải có tích lũy về từng loại tài sản của từng loại doanh nghiệp ở từng ngành. Điều này TCTK cũng chưa làm.

Cái gọi là vốn đầu tư có nghĩa gì?

Trước khi đi vào tìm hiểu thêm, ta hãy biết qua về vốn đầu tư thường được trình bày trong báo cáo của Nhà nước như thế nào. Thường là như thế này:

2009 Tỷ lệ %Vốn đầu tư thuộc ngân sách 25,4Vốn trái phiếu chính phủ 6,5Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 5,0Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước 7,6Vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhân 33,2Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 21,2Các nguồn khác 1,1TỔNG 100,0

Vốn đầu tư và đầu tư trong bảng của ông Tô Văn Trường ghi ra cho năm 2007 là 306,1 và 199 ngàn tỉ đồng. Vốn đầu tư lớn hơn đầu tư 54%. Vậy sự khác biệt đó là gì? Theo giải thích của TCTK thì đó là chi phí đền bù. Tại sao đền bù lớn thế thì khó lòng giải thích.

Theo nguyên tắc, “đầu tư” hay tích lũy tài sản cố định gộp phải bằng giá trị tài sản cố định trên thị trường (vào lúc tài sản được hoàn thành và chuyển giao cho sở hữu chủ), như vậy phải bao gồm tất cả các giá trị làm nên tài sản đó, từ chi phí sản xuất, chi phí giao dịch, thuế giao dịch, nhưng không thể gồm chi phí đền bù, vì chi phí đền bù chỉ biến loại tài sản kiểu này thành một loại tài sản kiểu khác, tức là không liên quan gì đến hành động sản xuất.

huyển mục đích sử dụng đất, làm tăng giá trị tài sản, thí dụ đất ruộng khoán chuyển sang sử dụng vào mục đích khác làm tăng giá trị đất, nhưng phần tăng giá này không phải từ sản xuất mà ra nên không được tính vào đầu tư hay tích lũy, mà phải tính vào mục do các thay đổi khác (cột 4, bảng 2).

Nhưng nếu ai sử dụng đất đó, sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng, để sản xuất thì đất đó phải tính theo giá mới của tài sản cố định. Do đó cần hiểu là giá trị tài sản cố định vừa là do tích lũy, vừa là do các yếu tố phi sản xuất khác tạo ra (thay đổi giá, thay đổi lượng do tai họa).

Nếu chỉ lấy chi phí đền bù ra để giải thích thì có lẽ không thể giải thích được. Quan trọng nhất là “của trời cho” mà người có quyền sử dụng được hưởng, từ việc lên giá đất khi chuyển đổi mục đích sử dụng. Làm giàu vì được hưởng cái quyền trời cho này là quá rõ ràng, chắc chắn là từ quan hệ thân hữu.

Tất nhiên nếu vốn đầu tư chỉ là con số dự báo, hoặc trong kế hoạch thì đó là con số vô nghĩa, và ta phải đặt vấn đề với cách làm thống kê hiện nay. Mục đích của việc làm thống kê là ghi số thực hiện; sự khác biệt giữa số thực hiện và số đã nhận được thì phải ghi là “trả/nhận trước” một hình thức nợ của người nhận. Với việc ghi đúng cách ta có thể biết được thực chi là bao nhiêu.

Nếu mà hiểu và dùng ý niệm vốn đầu tư để giải thích nguồn vốn thì cũng không phù hợp. Thí dụ vốn đầu tư thuộc ngân sách. Vốn này cơ bản là từ đâu? Nếu lấy từ ngân sách thì tại sao lại có mục vốn trái phiếu chính phủ? Vậy thì tiền thu từ trái phiếu chính phủ không vào ngân sách à? Rồi lại còn tín dụng phát triển đầu tư của Nhà nước? Đây là những ý niệm rối beng, lẫn lộn giữa hành động đầu tư và nguồn vốn.

Tất nhiên Nhà nước chi thường xuyên và chi cho đầu tư. Nếu thiếu hụt ngân sách thì phải có nguồn tài chính cho thiếu hụt trên. Nguồn đó có thể là phát hành trái phiếu ở trong nước và ở nước ngoài, vay mượn ngân hàng trong nước và ngoài nước, hoặc bán tài sản cố định của mình như đất đai (thu qua chuyển quyền sử dụng đất là một hình thức bán tài sản).

Vốn đầu tư của doanh nghiệp và của tư nhân cũng thế. Cũng với những ý niệm lộn tùng phèo. Có thể đơn giản hiểu vốn đầu tư doanh nghiệp là đầu tư của doanh nghiệp, nhưng vốn thì có thể là vốn tự có của họ hoặc do đi vay, vay ngân hàng hoặc bán trái phiếu có hoặc không có sự bảo trợ của Nhà nước.

Có lẽ đến lúc TCTK và Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư nên xem xét lại cách làm và sử dụng thống kê của mình, theo chuẩn mực quốc tế nhằm giúp các nhà kinh tế làm phân tích theo đúng chuẩn mực khoa học. Ý niệm ICOR không chính xác, và do đó các nhà kinh tế chỉ tạm dùng khi không có gì khác tốt hơn.

March 7, 2010

“Mổ xẻ” gói kích cầu để nhìn về tương lai – Phần 1: Kích cầu kiểu Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:56 pm
Tags: , ,
Nhìn lại và phân tích các gói kích thích kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc và Mỹ để thấy rõ hơn ta đã làm gì, nước khác làm khác ta ra sao và mục tiêu dài hạn của giải pháp này là gì. Liệu Việt Nam đã tính hết những rủi ro từ chính sách chưa và giải pháp tiếp theo ra sao? TBKTSG xin giới thiệu bài phân tích của GS.TS. Trần Ngọc Thơ và ông Hồ Quốc Tuấn (nghiên cứu sinh tiến sĩ) để giải đáp vấn đề đặt ra.

Trong năm 2009, nhiều “gói kích thích kinh tế” (economic stimulus package), hay như báo chí trong nước gọi là các gói kích cầu, được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới để giúp nền kinh tế khỏi rơi vào suy thoái nặng nề do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mỗi một nước, do đặc thù của mình và do mức độ ảnh hưởng, đã lựa chọn cách thức và đối tượng để “cứu giúp” khác nhau. Việt Nam, tất nhiên là không ngoại lệ.

Điểm qua những kiểu kích cầu của Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam

Đặc điểm của gói kích cầu của khối Anh-Mỹ là ra đời sau một gói cứu trợ ngành ngân hàng. Do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ khu vực các nước phát triển, tác động đặc biệt to lớn lên những thị trường tài chính Anh – Mỹ, nên các nước này phải lựa chọn giải pháp ứng cứu ngành kinh doanh bị tổn thất nặng nề trước và hy vọng giảm nhẹ tác động lây lan của nó. Sau khi tạm thời bình thường hóa được hoạt động của khối ngân hàng, các nước này mới đưa ra chương trình kích thích kinh tế của mình. Đặc điểm của gói kích thích này là nhắm vào kích thích nhu cầu tiêu dùng nội địa, chú trọng vào giảm các dòng thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, hoãn nộp thuế cho doanh nghiệp…).

Nhìn chung, các gói kích thích kinh tế kiểu Mỹ và châu Âu nhắm vào duy trì vào tái tạo việc làm – thị trường bị tác động nặng nề trong khủng hoảng và làm ảnh hưởng đến tổng cầu xã hội, cố gắng kích cầu cá nhân. Các khoản hỗ trợ thuế trực tiếp cho doanh nghiệp chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn trong gói kích thích kinh tế này. Có thể gọi, đây là trường phái kích cầu tiêu dùng cá nhân trực tiếp (trước gói kích cầu này Mỹ đã từng đưa ra một chương trình kích cầu là đập xe cũ mua xe mới – clash for clunkers).

Kích cầu kiểu Trung Quốc là một chương trình tái thiết hệ thống cơ sở hạ tầng khổng lồ. Phần lớn nhất chương trình kích cầu được Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính khoảng 586 tỉ đô la Mỹ (khoảng 12% GDP năm 2009 của Trung Quốc) nhắm vào xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông (trong đó các chương trình xây dựng các tuyến xe lửa rất gây ấn tượng với các nước phương Tây), xây dựng hạ tầng nông thôn, tái thiết sau động đất. Phần còn lại của gói kích cầu này nhắm vào cải thiện công nghệ, xây dựng nhà ở, cải thiện hệ thống y tế, năng lượng và môi trường. Gói kích cầu này không đi trực tiếp vào hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng cũng không đi trực tiếp vào nâng sức cầu nội địa, mà là nhắm vào chi tiêu cho các dự án hạ tầng lớn và lợi ích sẽ chuyển vào các doanh nghiệp nhanh hơn.

Đặc điểm nổi bật của gói kích cầu của Việt Nam nằm ở hai gói hỗ trợ lãi suất. Gói kích cầu của Việt Nam cũng có điểm tương đồng với gói kích cầu phương Tây là hỗ trợ thuế (theo ước tính của WB gói hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp trị giá 9.900 tỉ đồng, cao gấp đôi so với hỗ trợ cho thuế thu nhập cá nhân). Mặc dù không được chỉ ra rõ ràng, nhiều khoản mục hỗ trợ kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 cũng nhắm vào một số loại cơ sở hạ tầng, như tạm ứng ngân sách 2010 cho một số dự án, chuyển nguồn đầu tư từ kế hoạch 2008 sang 2009. Tuy nhiên nổi bật nhất và có tác động lớn nhất đến kinh tế Việt Nam vẫn là hai gói hỗ trợ lãi suất của Việt Nam, trong đó câu chuyện 17.000 tỉ đồng hỗ trợ 4% cho lãi suất ngắn hạn (mà theo ước tính khi ban hành là sẽ tạo ra một lượng tín dụng 600.000 tỉ đồng cho nền kinh tế) thu hút nhiều tranh luận của các chuyên gia kinh tế của Việt Nam, trong đó có ý kiến cho rằng đây là kích cung chứ không phải kích cầu. Đây là kích cầu qua hỗ trợ lãi suất hay trợ giá lãi suất (WB dùng từ “interest rate subsidy” để nói về chương trình này). Đặc điểm đáng chú ý của gói kích cầu này là kết hợp chi tiêu tài khóa (để trợ giá) với chính sách tiền tệ – vì xem như đã giảm lãi suất thực hiệu lực của các khoản vay từ doanh nghiệp đi một mức 4% nữa, một chính sách giảm lãi suất trong khu vực kinh doanh chứ không cho toàn nền kinh tế – đồng thời tiền hỗ trợ lãi suất lấy từ dự trữ ngoại hối chứ không phải ngân sách.

Mô hình kích cầu của Việt Nam còn có một đặc điểm đáng chú ý nữa là việc Chính phủ vay nợ thương mại 1 tỉ đô la Mỹ thông qua phát hành trái phiếu quốc tế và sau đó phân bổ lại cho khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Biện pháp này đã tạo ra hai hệ lụy là hỗ trợ lãi suất nhiều tầng cho DNNN (vừa dẫn đến kìm hãm hệ thống tài chính và vừa dẫn đến tâm lý ỷ lại của khu vực DNNN) và tạo ra hiệu ứng chèn lấn (crowding out) đối với khu vực tư nhân.

Kết quả của chính sách này là khu vực kinh tế tư nhân sẽ bị chèn lấn văng ra khỏi một số lĩnh vực đầu tư do họ phải nhận mức lãi suất cao hơn khu vực DNNN. Hơn nữa, kênh phát hành trái phiếu quốc tế lại là kênh hỗ trợ vốn và lãi suất dài hạn nên hiệu ứng chèn lấn này mới đáng lo ngại. Khi nền kinh tế phục hồi, khu vực tư nhân vẫn bị hiệu ứng chèn lấn này ảnh hưởng nên sẽ khiến chi tiêu và đầu tư tư nhân phục hồi chậm ở một số lĩnh vực.

Những khác biệt: chọn chiến thuật theo thực lực

Mô hình kích cầu của khối Anh – Mỹ diễn ra sau một gói cứu trợ hệ thống ngân hàng, trong đó gói cứu trợ ngành ngân hàng của Mỹ lên đến 700 tỉ đô la. Sau đó, hệ thống này mới tiến hành gói kích cầu kinh tế. Trong khi đó, mô hình của nhóm Việt Nam – Trung Quốc là không có gói hỗ trợ ngân hàng. Nguyên nhân là vì khủng hoảng tài chính không tác động trực tiếp đến nhóm ngân hàng ở Việt Nam và Trung Quốc, ngân hàng không bị thua lỗ do các khoản nợ thứ cấp và các khoản đầu tư tài chính. Khủng hoảng ở Mỹ tác động trước tiên là đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính, góp phần làm bất ổn kinh tế nên Mỹ phải giải quyết vấn đề này trước. Tiếp theo họ phải gia tăng tổng cầu nội địa và tạo ra việc làm mới vì tổng cầu sụt giảm là nguyên nhân khiến kinh tế Mỹ suy yếu.

Trung Quốc lựa chọn đầu tư vào cơ sở hạ tầng làm thế mạnh kích cầu vì nước này chọn dựa vào nguồn cầu nội địa để vượt khủng hoảng chứ không chọn dựa vào nguồn cầu nước ngoài quá nhiều để kích thích tăng trưởng trong bối cảnh thị trường xuất khẩu thế giới đang xấu đi. Theo số liệu của WB, nguồn cầu nội địa đã góp phần lớn nâng đỡ kinh tế Trung Quốc đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2009, trong đó đầu tư vào dự án hạ tầng của chính phủ đóng vai trò chính để thúc đẩy tăng trưởng. Số liệu của Trung Quốc cho thấy trong khi tình hình việc làm tiếp tục xấu đi trong khu vực xuất khẩu và cũng ảm đạm trong khu vực công nghiệp (do một số ngành công nghiệp như xi măng, sắt thép, nhôm có dấu hiệu dư thừa công suất và buộc chính phủ phải “can thiệp”), việc làm mới được tạo ra nhiều trong khu vực dịch vụ, xây dựng và khu vực nhà nước. Rõ ràng trong năm 2009, Trung Quốc dùng phương thức kích thích kinh tế hướng vào chi tiêu rất lớn cho các dự án hạ tầng để tạo ra việc làm và nâng đỡ tăng trưởng. Ở góc độ tạo ra việc làm mới một cách trực tiếp thông qua các chương trình chi tiêu của chính phủ, chúng ta tìm thấy sự tương đồng ở Trung Quốc và Mỹ.

Trong khi đó, mô hình tăng trưởng của Việt Nam lại bị ảnh hưởng nhiều bởi tổng cầu nước ngoài do phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, do đó bản thân Việt Nam không lựa chọn tăng tổng cầu nội địa mà chọn duy trì nhân tố được chính phủ đánh giá là quan trọng của nền kinh tế là các doanh nghiệp sản xuất trong nước (mà phần không nhỏ là các DNNN) và doanh nghiệp nhắm về xuất khẩu.

Việt Nam vì vậy đã thực hiện việc duy trì một thị trường việc làm ổn định thông qua hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp. Có kích cung hay không thì có thể cần bàn nhưng rõ ràng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giảm thiểu phá sản và thất nghiệp, giúp doanh nghiệp duy trì qua cơn nguy khó chờ sức cầu tăng lại là một quyết định tạm cho là thành công cho đến lúc này. Một cách nào đó, chúng ta đã đặt cược vào khả năng khôi phục của sức cầu từ bên ngoài hơn là tự tạo ra sức cầu mới bên trong nền kinh tế. Đây có thể nói là một lựa chọn phòng thủ thay vì tấn công như trong bóng đá. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế giống như kiểu một trận đấu đang bế tắc, Trung Quốc và Mỹ lựa chọn tìm kiếm giải pháp tấn công mới, mô hình hỗ trợ (tạo tăng trưởng GDP mới), khai thông thế trận mới, trong khi Việt Nam lựa chọn phòng thủ và duy trì lối chơi truyền thống (mô hình tăng trưởng vẫn dựa vào xuất khẩu), chờ đợi cơ hội. Khó có thể nói là lựa chọn nào là hoàn toàn đúng, vì vấn đề còn phụ thuộc vào thực lực của từng đội. Liệu rằng ngân sách của Việt Nam có thể bền vững nếu lựa chọn giải pháp như Mỹ và Trung Quốc? Trong bóng đá phải dựa vào thực lực của cầu thủ mình để lựa chọn chiến thuật. Thể lực không đủ thì sao có thể thực hiện bóng đá tổng lực? Nhưng thực lực đủ mà không dám đá tổng lực thì sẽ bỏ qua nhiều cơ hội đáng tiếc.

Trần Ngọc Thơ, ĐH Kinh tế TPHCM – Hồ Quốc Tuấn ĐH Manchester, Anh

TBKTSG Online

February 27, 2010

Tham nhũng đất đai: Do cơ chế giám sát chưa mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:38 pm
Tags: , , , ,

TT – Hàng loạt quan chức bị kỷ luật do vi phạm về đất đai, kèm theo đó là những vụ khiếu kiện kéo dài, theo TS Vương Quân Hoàng, Đại học Tổng hợp Brussels, Bỉ, phần lớn là do người ta vẫn bưng bít được thông tin và không nghĩ có thể bị phát hiện. Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Hoàng nói:

TS Vương Quân Hoàng – Ảnh: X.LONG

– Đất đai cần được nhận diện như một đối tượng của tham nhũng để có biện pháp phòng chống tương xứng. Ai được hỏi tính hợp lý của dự án? Ai được hỏi giá đất đền bù bao nhiêu là hợp lý, rồi việc thu hồi, mua bán có làm lợi cho quan chức nào? Khi từng thông tin trên phải được công bố, cơ chế giám sát rõ thì nguồn lực của nhà nước được bảo toàn và người dân cũng được lợi.

* Thưa ông, hiện quyền phân, giao, cho thuê đất đều nằm trong tay các chủ tịch UBND tỉnh, huyện… Phải chăng đó là điều khiến những người có quyền lực rất dễ tham nhũng đất đai?

Tiến sĩ Vương Quân Hoàng – nghiên cứu viên cấp cao của Trung tâm Emile Bernheim, Đại học Tổng hợp Brussels, Bỉ. Ông Hoàng nguyên là cán bộ Ngân hàng Thế giới tại VN từ 1996-2002; bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Brussels năm 2004 về đề tài thống kê kinh tế lượng về chuỗi thời gian tài chính. Hiện TS Hoàng đang tham gia nhiều chương trình, dự án nghiên cứu về kinh tế VN của Trung tâm Emile Bernheim.

– Có nhiều loại quyền lực khác nhau, các ông chủ tịch có quyền lực hành chính, đó chỉ là một trong 12 quyền lực được định nghĩa, trong đó có quyền lực thông tin, quyền lực cưỡng chế, quyền can thiệp, quyền lực chuyên gia, quyền lực tiền bạc, quyền lực do quan hệ…

Tất cả quyền lực trên đều có thể kiếm lợi bất chính từ đất đai. Ông chủ tịch có thể ký, một ông chuyên gia, với quyền góp ý, cũng có thể thu lợi lớn. Nguy hiểm nhất là các quyền lực trên cấu kết với nhau hòng trục lợi.

Vấn đề là khi có những người hưởng lợi thì sẽ có người bị hại. Khi một khu đất từ giá vài trăm ngàn đồng/m2, sau khi chuyển từ tay người nông dân sang người khác bỗng tăng lên vài chục triệu đồng/m2 thì rõ ràng người dân chịu thiệt.

* Sự không sòng phẳng với người dân đang là nguyên nhân chính khiến các quan chức dễ tham nhũng đất đai, như vậy quyền của người dân cần thay đổi?

– Nếu người ta cố tình trục lợi thì thực tế các quan chức có thể tạo bất công ở mọi khâu liên quan đến đất đai. Một mặt, việc thu hồi đất đang mang vóc dáng thị trường là sẽ trả bằng tiền, nhưng mặt khác nó hoàn toàn mang tính chất hành chính, qua quyết định hành chính.

Theo tôi, cần hiểu rõ và hiểu đúng hơn về quyền sở hữu của người dân. Đất đai là của Nhà nước nhưng khi đã trao quyền sử dụng cho một người, Nhà nước đã bắt đầu đấu giá đất theo giá thị trường thì khi thu hồi anh cũng phải có cơ chế thật sự thị trường. Nhưng thực tế hiện nay, chúng ta lại áp dụng hoàn toàn lối tư duy cũ, cách làm không thị trường khi thu hồi đất. Một người đến mua nhà của ông A, nếu cần quá thì phải tăng giá lên để mua được.

Nhưng một quyết định thu hồi đất thì không phải làm như vậy. Nếu chính quyền cần mảnh đất của ông A để cung cấp một dịch vụ công nào đó, thì phải hiểu hàng triệu người đóng thuế phải chấp nhận bù cho ông A một khoản tương xứng để được cung cấp một dịch vụ công đang cần đất kia. Khi công bằng, áp dụng cơ chế thị trường cho mọi loại hình giao dịch đất đai thì quan chức hay ai đó có mua, nhà nước cũng thu được nguồn lợi tương tự.

Đất do người dân khai phá ở An Nhơn, Châu Thành (Đồng Tháp) bị UBND huyện Châu Thành thu hồi giao cho cán bộ nuôi cá  – Ảnh: Đ.VỊNH

* Từ thực tế tham nhũng đất đai cho thấy cơ chế giám sát nguồn lực đất đai chưa đủ mạnh?

– Chính xác là như thế. Muốn giám sát, đầu tiên phải biết thông tin. Nhiều người đã có tài sản cực kỳ lớn nhờ tiếp cận được thông tin sớm. Thế thì mặt trái của nó là đã có người sử dụng quyền chặn luồng thông tin đó. Nếu chuyện lình xình nào được báo chí nhắc đến thì chuyện đó về cơ bản sẽ được giải quyết khá nhanh. Nhưng chỉ thi thoảng mới có những thông tin ra báo chí nên hệ quả là các thiết chế xử lý chỉ được lập để xử khoảng 30-40 vụ/năm. Nó cũng giống chuyện thiết chế để có cuộc ra quân làm đẹp thành phố trong ba ngày, trong khi để sạch trong 365 ngày nó phải rất khác. Nó không thể xuất phát từ việc ra một chỉ thị, hô một quyết tâm.

* Tham nhũng đất đai có xu hướng tăng một phần vì xử lý đôi khi rất khó?

– Đất đai bao giờ cũng tác động đến rất nhiều người nên cần được xử lý một cách nghiêm khắc. Gần đây ở bên Mỹ có một thị trưởng không ra quyết định nhưng bằng ảnh hưởng của mình, ra đề nghị tác động khiến một con đường vòng qua một khu casino. Chỉ cần chứng minh có quan hệ đủ gần để có thể nghi ngờ anh có động cơ mờ ám, ông thị trưởng đã ngay lập tức bị mất chức. Cơ chế giải quyết của họ khắt khe đến như vậy nhưng cũng chưa chắc đã đảm bảo 100% ngăn ngừa được tham nhũng liên quan đến đất đai. Nhưng ít nhất cơ chế giải quyết những bất minh về đất đai của những công chức VN, theo tôi, cũng cần được giải quyết mạnh mẽ như thế.

CẦM VĂN KÌNH – XUÂN LONG thực hiện

February 22, 2010

CPI tháng 3 sẽ quyết định xu thế cả năm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:24 pm
Tags: , ,

TBKTSG Online) – Từ ngày 21-2, các công ty xăng dầu đã quyết định tăng giá xăng thêm 590 đồng/lít, việc này sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 và cả năm 2010 như thế nào, liệu Việt Nam có thể kềm chế lạm phát ở mức một con số trong năm nay không? Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả của Bộ Tài chính, về vấn đề này.

TBKTSG Online: Thưa ông, việc điều chỉnh tăng giá xăng ngày 21-2 liệu ảnh hưởng như thế nào đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tháng 2 và tháng 3?

TS. Vũ Đình Ánh: Theo tôi, việc tăng giá xăng thời điểm này là khá bất ngờ vì trong một thời gian dài giá dầu giảm mà giá xăng chỉ giảm rất ít gọi là khuyến mãi cho năm mới, trong khi lại tăng mạnh đến gần 600 đồng/lít.

Chỉ số CPI tháng 2 sẽ không bị ảnh hưởng vì thông thường người ta đi lấy giá từ ngày 15-2, năm nay rơi vào ngày mùng 2 tết nên có thể dời đến ngày mùng 6 tết (19-2). Như vậy, CPI tháng 2 sẽ không bị ảnh hưởng nhưng chắc chắn việc tăng giá xăng sẽ có tác động đến CPI của tháng 3, vốn được xem là tháng quyết định xu hướng giá cả của cả năm. Đây là tháng rất nhạy cảm.

Vì sao, thưa ông?

Vì theo thông lệ các năm, chúng ta chấp nhận sự tăng giá trong tháng 1, tháng 2 như một điều bình thường vì nó rơi vào dịp Tết Nguyên đán, nhưng tháng 3 là điểm chốt để quyết định xu thế cho cả năm. Nếu bình thường chỉ số giá tháng 3 giảm hoặc tăng thấp dưới 0,5% thì cả năm lạm phát có thể duy trì ở mức một con số. Còn nếu CPI tháng 3 tăng hơn 0,5% đến xấp xỉ 1% thì có khả năng lạm phát của cả năm sẽ tăng ở mức hai con số.

Theo quy luật của các năm trước thì CPI tháng 3 luôn luôn quyết định xu thế của cả năm, và là người đi phân tích các chỉ số giá, tôi rất quan tâm đến chỉ số giá của tháng 3.

Thêm một điều đặc biệt trong năm nay là sự tác động của chính sách nới lỏng tiền tệ năm 2009 sẽ biểu hiện rõ vào tháng 4, tháng 5 theo đánh giá của nhiều chuyên gia. Cộng với việc chỉ số giá tháng 3 có khả năng tăng cao thì việc kiểm soát giá cả của cả năm 2010 sẽ là rất khó.

Như vậy, chính sách quản lý giá cần phải như thế nào?

Theo tôi, các chính sách quản lý giá của các mặt hàng mang tính chiến lược cần phải lưu ý đến tính chất nhạy cảm của chỉ số giá tháng 3 đối với xu hướng giá cả năm.

Thông thường, chỉ số giá tháng 3 sẽ âm do giá cả đã tăng cao vào tháng 2, nhưng việc tăng giá xăng vào cuối tháng 2 này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến giá cả các loại hàng hóa khác, đặc biệt là giá lương thực thực phẩm. Sự ảnh hưởng này cũng tương tự như ảnh hưởng của đề xuất xin tăng giá điện từ ngày 1-3. Chúng ta cần đặc biệt lưu ý về tính thời điểm của việc tăng giá trong tháng 3 cũng như việc tăng giá trong tháng này sẽ tạo ra tâm lý tăng giá trong cả năm.

Giá cả trong năm nay sẽ phụ thuộc rất nhiều vào chính sách điều hành và cần khẳng định một lần nữa về tính thời điểm để đưa ra các quyết sách là rất quan trọng. Và tháng 3 là một tháng rất nhạy cảm. Nếu CPI tháng 3 giảm hoặc tăng thấp thì chúng ta có thể an tâm về giá trong cả năm, nhưng với những động thái như hiện nay thì tình hình giá cả của tháng 3 sẽ khó đoán định được.

Lạm phát gia tăng liệu có ảnh hưởng gì đến tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ?

Hiện nay thì sức ép giảm giá đồng nội tệ của chúng ta vẫn có do thâm hụt của ta lớn. Việc mất giá của đồng Việt Nam thông qua lạm phát cộng hưởng với áp lực về việc cân đối cung cầu ngoại tệ chắc chắn sẽ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái và như vậy khả năng kềm giữ tỷ giá hối đoái sẽ rất khó khăn.

February 11, 2010

Tư vấn chứng khoán và góc nhìn của Quách Mạnh Hào

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:33 am
Tags: , ,
Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 11:16
picture

“Năm 2010, kinh tế tốt hơn 2009 nhưng thị trường chứng khoán sẽ không tốt bằng vì năm 2010 dòng tiền sẽ bị kiểm soát, nó không tốt ở tỷ lệ tăng trưởng”.

LAN HƯƠNG
03:13 (GMT+7) – Thứ Năm, 11/2/2010

Thời gian qua, cái tên Quách Mạnh Hào khá nổi trong giới đầu tư chứng khoán với những phân tích sắc sảo và một góc nhìn rất riêng

Thời gian qua, cái tên Quách Mạnh Hào khá nổi trong giới đầu tư chứng khoán với những phân tích sắc sảo và một góc nhìn rất riêng.

Đảm nhận chức danh Phó tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Thăng Long, phụ trách trực tiếp mảng phân tích, Quách Mạnh Hào càng có cơ hội phát huy hết những gì được cho là sở trường, sở đoản.

Với một thị trường còn nặng về tâm lý đám đông như thị trường chứng khoán Việt Nam thì những phân tích, nhận định và dự đoán có vẻ trái chiều và “lạc lõng” của Quách Mạnh Hào tưởng rằng sẽ bị nhấn chìm trong những sự phấn khích hoặc hoảng loạn thái quá của số đông nhà đầu tư khi thị trường lên cơn sốt nóng lạnh. Tuy nhiên, chính những nhận định đó đã giúp không ít người đầu tư cứu được bàn thua trông thấy hoặc trúng quả đậm.

Quách Mạnh Hào cho rằng, việc kết luận thị trường lên hay xuống trong từng thời điểm cụ thể cũng không khác việc tung đồng xu là mấy và nhiệm vụ của người phân tích là tính toán được xu hướng rơi của đồng xu để giúp cho mình có được một dự báo tốt. Tư vấn chứng khoán vốn được xem như một liều thuốc đắng, dùng để giúp nhà đầu tư cắt lỗ khi thị trường lao dốc và “bán non” khi thị trường đang lên. Vì vậy, chút hài hước, dí dỏm sẽ giống như một lớp đường bọc ngoài giúp nhà đầu tư cảm thấy dễ nuốt hơn.

Quách Mạnh Hào cũng cho rằng vấn đề của thị trường chứng khoán là tâm lý và dòng tiền. Chỉ số niềm tin nhà đầu tư theo tính toán của Thăng Long đã sụt giảm mạnh trong hai tháng 10, 11 và tháng 12 nằm ở mức thấp tương đương với đầu năm 2009 và tháng 7/2009. Nhưng điều quan trọng là chỉ số này đã dừng giảm, nghĩa là tâm lý nhà đầu tư đã ổn định trở lại. Còn về dòng tiền, nhà đầu tư quan tâm tới hai vấn đề: công thức tạo tiền từ các hoạt động đòn bẩy và vấn đề tăng trưởng tín dụng đã đạt 33% cao hơn mức mục tiêu.

Sau một năm lặng lẽ “ở ẩn” tại Mỹ, từ đầu năm 2009, Quách Mạnh Hào đã quay trở lại thị trường với mô hình và Tạp chí Nhà đầu tư (The Investor Journal), đi kèm với đó là bản tin hàng ngày My Technical View – MTV với cùng một phương pháp tiếp cận định lượng. Quách Mạnh Hào cho rằng, để giữ được uy tín và sự tin cậy của nhà đầu tư thì nhà tư vấn phải cung cấp thông tin một cách có lý chứ không phải là một sự nói bừa.

Những khách hàng khi nhận bản tin hàng ngày của ông, họ chờ đợi điều gì?

Thực ra những khách hàng và người bạn nhận bản tin của tôi, thông thường đều là những người có kiến thức và có thông tin. Nhưng điều họ mong muốn ở đây là nhận về những tiếp cận khác, nghĩa là cùng một sự kiện giúp họ có cái nhìn khác.

Nhiều khách hàng nói với tôi rằng, việc nhận định đúng hay sai không quan trọng bằng việc cùng một sự kiện có cái nhìn đa chiều. Và họ nói tôi có cách nhìn hơi lạ. Đó là điều thú vị nhất và cũng làm tôi vui nhất.

Trong số nhà đầu tư muốn xin tư vấn từ ông, có bao nhiêu người đã thành công? Bao nhiêu người thất bại?

Vì không có điều tra cụ thể, nên tôi không biết được chính xác, nhưng có thể có hai khía cạnh để đánh giá sự thành công hay thất bại này. Bản thân tôi khi nhận định thì cũng có cả đúng và sai. Những cái đúng, trong năm 2009, thường gắn liền với thị trường đi lên và những cái sai, gắn liền với thị trường đi xuống. Nói theo cách của nhà đầu tư thì là thường “ra đúng đỉnh nhưng vào sớm so với đáy”.

Và vì thế, các phản hồi của nhà đầu tư cũng xoay quanh như vậy. Nhiều nhà đầu tư viết e-mail cảm ơn tôi về những nhận định đã giúp họ kiếm được tiền, họ gọi điện thoại mời đi uống café, uống bia… Nhưng khi thị trường đi xuống thì những lời mời như vậy cũng ít hơn.

Các nhà đầu tư thường hỏi ông câu gì nhất?

Các bà các cô thường hay hỏi tôi về xu hướng thị trường: hôm nay lên hay xuống? Nhưng các anh các chú thường có những quan tâm cụ thể hơn như: mua gì bán gì, mức giá nào, vào ra ra sao?

Tôi cũng hiểu rằng, họ hỏi như vậy là để có thêm thông tin để tự quyết định, nên khi trả lời tôi luôn cố gắng đưa ra những nhận định ở một mức độ hợp lý và khách quan, không mang tính thuyết phục. Có những lúc tôi nhận được e-mail của nhà đầu tư có sự hiểu biết rất sâu về lĩnh vực bất động sản, mấy tuần liền, chị ấy phân tích và chia sẻ với tôi về vấn đề này và tôi đã học được rất nhiều từ chị ấy.

Ông nghĩ cái khó nhất của tư vấn chứng khoán là gì?

Theo tôi, đó là phải kết hợp được tính chính xác của dự báo và sự hiểu biết chuyên môn. Thường thị trường sẽ quan tâm tới việc đúng sai đầu tiên.

Nếu ngẫm lại thì ông đã đáp ứng được những yêu cầu của nghề tư vấn chưa?

Trong tất cả nghiên cứu và nhận định của mình, tôi đều dựa trên sự nghiên cứu sâu và nghiêm túc chứ không võ đoán, nên về khía cạnh chuyên môn, tôi nghĩ là tôi đang cố gắng để làm tốt. Tuy nhiên, do thời gian tập trung chưa nhiều, nên cá nhân tôi thấy chưa đạt được như kỳ vọng.

Về tính chính xác, bản thân tôi cũng không cảm thấy hài lòng nhiều, mức độ chính xác như mình mong muốn thì chưa đạt được, đó là lý do mà tôi luôn trăn trở với mô hình của mình và sẽ phải hoàn thiện nhiều hơn.

Chứng khoán là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam. Nghề tư vấn chứng khoán càng mới hơn. Ông đánh giá thế nào về đội ngũ tư vấn chứng khoán hiện nay?

Tiếp xúc nhiều với các bạn tư vấn chứng khoán, tôi thấy các bạn khá nhanh nhẹn, cảm nhận thị trường khá tốt. Tôi đánh giá cao về xác suất dự báo thị trường đúng của đội ngũ này. Nhưng ở khía cạnh chuyên môn, tôi nghĩ rằng cần có một sự cải thiện bởi những phân tích của các bạn đó dựa khá nhiều vào những tin tức nội gián, những phân tích kỹ thuật và thêm chút tự tin thái quá.

Đây cũng là đặc trưng của nhóm tư vấn trẻ về dự báo tính chính xác thị trường. Dưới góc độ của người làm chuyên môn, theo tôi những điều đó chưa đủ. Các nhà đầu tư kinh nghiệm và tổ chức thường cần nhiều hơn những lập luận cơ bản hợp lý, xuất phát từ thực trạng nền kinh tế, doanh nghiệp, khả năng xử lý về dòng tiền, giá trị, có khả năng đưa ra các kịch bản cho các xu hướng phát triển, mặc dù đúng là cuối cùng thì những điều này cũng chỉ phục vụ cho việc xác định xu thế thị trường.

Nhưng theo tôi, các nhà đầu tư tổ chức, đôi khi không quan tâm nhiều về sự lên xuống của thị trường mà là các nguyên nhân dẫn đến sự lên xuống đó.

Một người bạn của tôi làm cho một hãng truyền thông tài chính lớn nhất thế giới trong một buổi uống bia với tôi đã nói thế này: “Hào ạ, tôi thấy người Việt Nam quả thật là rất liều vì dám nhận định thị trường tăng giảm bao nhiêu điểm. Như bọn tôi cũng không bao giờ làm điều đó mà chỉ bình luận giúp nhà đầu tư nhìn thị trường sâu hơn”.

Theo ông thì tại sao nhà đầu tư lại bị ảnh hưởng nhiều bởi các khuyến nghị của các tổ chức tài chính nước ngoài, trong khi các công ty chứng khoán trong nước có nhiều lợi thế hơn?

Bởi họ thường tin rằng các tổ chức nước ngoài có kiến thức và kinh nghiệm tốt hơn. Nhưng theo tôi, các nhà đầu tư nên tập cho mình một thói quen nghi ngờ tất cả và tin vào chính mình. Tôi có thể khẳng định rằng, hầu hết những nhận định công khai thường không phản ánh chính xác quan điểm thật của những người đưa ra nhận định. Tuy nhiên, ngay cả những nhận định thật của họ cũng không hẳn là chính xác.

Do vậy, điều tôi có thể chia sẻ với bạn là bạn hãy xem kỹ các lập luận để xem lập luận nào là có lý, lập luận nào là không. Còn việc kết luận thị trường lên hay xuống trong từng thời điểm cụ thể tôi nghĩ cũng không khác việc tung đồng xu là mấy.

Cảm nhận của ông về thị trường chứng khoán 2009 và 2010 thế nào?

Điểm nổi bật nhất của năm 2009 là sự hồi phục mạnh mẽ của thị trường chứng khoán trong khi kinh tế khó khăn. Điều đó chứng minh rằng, thị trường chứng khoán trong ngắn hạn không phải dựa trên yếu tố cơ bản của nền kinh tế mà dựa trên niềm tin của nhà đầu tư và trong tay họ có dòng tiền. Đầu họ nghĩ và tay họ có tiền.

Năm 2010, kinh tế tốt hơn 2009 nhưng thị trường chứng khoán sẽ không tốt bằng vì năm 2010 dòng tiền sẽ bị kiểm soát, nó không tốt ở tỷ lệ tăng trưởng.

Đặc trưng chung của thị trường so với trước đây là chúng ta trải qua khủng hoảng. Theo quan điểm của tôi, khủng hoảng bao giờ cũng là cơ hội, song cơ hội kiếm tiền tốt nhất có lẽ đã xảy ra trong năm 2009, và năm 2010 quay về quỹ đạo tăng trưởng bình thường và quỹ đạo tăng trưởng bình thường đó chắc chắn sẽ không còn được hỗ trợ bởi tín dụng lỏng lẻo như giai đoạn 2004 – 2007.

Cũng chính vì điều này mà tôi kỳ vọng thị trường tăng trưởng bền vững, chứ không phải là tăng nhanh giảm nhanh và tăng cao giảm sâu như hiện nay.

Trong các bản tin hàng ngày trong tháng 11, ông nhắc nhiều đến công thức tạo tiền. Và bây giờ, công thức tạo tiền đó ra sao?

Công thức tạo tiền thay đổi theo thời gian với những biến số thay đổi, gồm: tỷ lệ cho vay, các vấn đề liên quan đến cho vay chứng khoán cầm cố, vấn đề T+ và các vấn đề vĩ mô liên quan đến cung tiền, tăng trưởng tín dụng…

Tất cả những điều đó, khi đưa vào cân nhắc, nó tạo ra cái gọi là công thức tạo tiền. Mặt trái của công thức tạo tiền, tôi gọi là công thức tạo tiền ngược, tức là khi các biến đó được thổi lên quá mức, các nút gỡ theo chiều ngược lại sẽ làm nó xẹp đi. Nói một cách ngắn gọn, công thức tạo tiền sẽ làm cho thị trường lên và công thức tạo tiền ngược sẽ làm thị trường xuống.

Khi công thức tạo tiền đã đưa quá nhiều tiền vào thị trường chứng khoán và trong khi tiền thực không có nhiều, điều đó có nghĩa là tiền đầu tư trên thị trường là quá nhiều so với lượng tiền tiết kiệm của nhà đầu tư, và tạo ra sự tăng trưởng của thị trường.

Khi công thức tạo tiền “ngược” xuất hiện, nói cách khác dòng tiền đầu tư trên thị trường chứng khoán sẽ được co hẹp lại thành dòng tiền tiết kiệm và ngược lại, làm thị trường sụt giảm và sau sự sụt giảm đó sẽ xuất hiện chu kỳ mới cho công thức tạo tiền.

Theo quan sát của tôi, hiện nay, thời điểm giữa tháng 12 dòng tiền đã trở về với dòng tiền tiết kiệm. Những công thức đưa ra cho thấy rằng, từ giữa tháng 10/2009, các công thức tạo tiền cho thấy dòng tiền đã giảm và đang giảm mạnh xuống mức gần với mức tương ứng với thời điểm giữa tháng 7/2009.

Riêng tôi, đã rất kỳ vọng rằng đến giữa tháng 12 dòng tiền sẽ giảm mạnh nhất, để bắt đầu một chu kỳ mới của công thức tạo tiền, lúc đó sẽ là tiền thực tế, các vấn đề giải chấp, bán tháo, sợ hãi sẽ hết. Khi dùng tiền thật, thị trường có thể chưa lên ngay, nhưng rục rịch đi lên. Nhiều người sẽ mua vào dần chứng khoán tốt bằng tiền tiết kiệm. Sau khi cảm thấy ổn thì họ sẽ vay dần, vay dần và lúc đó công thức tạo tiền bung dần ra và tạo sóng mới.

Sóng mới xong lại sụp đổ, đi xuống và lại quay về dòng tiền tiết kiệm, và cứ thế, một chu kỳ mới lại bắt đầu.

Theo Vneconomy

TTCK đang hấp dẫn?

Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: // <![CDATA[// http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/08/799780/

– Cả hai sàn chứng khoán đã đảo chiều trong phiên giao dịch sáng 20/8 sau một chuỗi ngày tăng điểm dài nhờ khá nhiều tin tốt. Đây là sự điều chỉnh nhất thời hay là sự mở đầu cho một đợt suy giảm mới?

VietNamNet đã có cuộc trao đổi nhanh với Tiến sỹ Quách Mạnh Hào, Giám đốc Khối Phân tích Đầu tư của CTCP Chứng khoán Thăng Long về vấn đề đáng quan tâm này.

TTCK đang hấp dẫn?
TTCK đang ở thời kỳ tích luỹ và tăng trưởng trở lại. (Ảnh: LAD)


PV: Sau khi đón nhận khá nhiều tin tốt như giảm giá xăng, nới biên độ, dầu thô thế giới đứng ở mức thấp dưới 115 USD/thùng và nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô khác ổn định… thị trường chứng khoán đã tăng điểm liên tục trong 10 phiên trên HOSE và 8 phiên trên HASTC. Tuy nhiên, thị trường đã đảo chiều giảm trên cả hai sàn trong phiên sáng 20/8. Theo ông, đây là sự điều chỉnh nhất thời hay là sự mở đầu cho một đợt suy giảm mới?

TS. Quách Mạnh Hào: Tôi cho rằng thị trường phản ứng tích cực thời gian vừa qua không đơn giản chỉ là do những thông tin tích cực trong hai tuần vừa rồi. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, TTCK thường đi trước các yếu tố cơ bản của nền kinh tế một khoảng thời gian nhất định. Nói nôm na, đó là sự kỳ vọng.

TIN LIÊN QUAN
  • VN-Index chấm dứt chuỗi ngày tăng điểm
  • Giá dầu sẽ xuống dưới 100 USD/thùng?
  • NHNN khẳng định không nâng “room” ngoại tại ngân hàng TMCP
  • Khối lượng giao dịch chứng khoán tăng vọt
  • TTCK tuần mới: Tin tốt ảnh hưởng bao lâu?
  • VN-Index sẽ vượt ngưỡng 550 điểm?

Với kết quả nghiên cứu đó, sự sụt giảm mạnh trong thời kỳ trước đó (tháng Tư, Năm) phản ánh các yếu tố tiêu cực như tăng lãi suất, cắt giảm chi tiêu, tăng giá xăng dầu (đỉnh điểm vào tháng Năm, Sáu). Sự hồi phục của thị trường từ nửa cuối tháng Sáu trở lại đây theo tôi là do những thông tin tốt của hai tuần gần đây và trong thời gian tới. Một cách nhìn đơn giản, những thông tin tốt của ngày hôm nay có thể tạo ra một sự thay đổi trong tâm lý nhà đầu tư, nhưng thực tế thì nó không có nhiều vai trò đối với diễn biến thị trường thời gian tới, mà là đã qua.

Sự điều chỉnh của thị trường là điều tất yếu sau một chu kỳ tăng trưởng do sự lạc quan được đẩy lên cao. Điều này đơn thuần phản ánh kết quả của các yếu tố kỹ thuật của thị trường.

Nhưng tôi tin rằng các nhà đầu tư đang có những kỳ vọng tốt về lạm phát – một yếu tố tôi cho là duy nhất ảnh hưởng tới hầu hết các chỉ số và chính sách vĩ mô khác – và bởi vậy tôi cho rằng các nhà đầu tư sẽ có những kỳ vọng tích cực. Điều này sẽ giúp thị trường bước vào giai đoạn tích lũy tốt và hồi phục. Trong một nghiên cứu của chúng tôi phát hành cuối tháng Sáu, chúng tôi cũng đã nhấn mạnh rằng, thị trường có thể tăng và giảm phản ánh tâm lý nhất thời, nhưng nhìn chung thị trường sẽ bước và thời kỳ tích lũy và hồi phục.

PV: Có ý kiến cho rằng, hiện tại các nhà đầu tư đang trông chờ số liệu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8. Đây là nguyên nhân khiến cho một lượng lớn cổ phiếu được tung ra bán với suy đoán CPI trong tháng 8 sẽ cao. Trong khi đó, cũng có một lượng cầu rất lớn do các nhà đầu tư tin tưởng vào trung và dài hạn của thị trường khi mà CPI được dự báo sẽ giảm mạnh cùng với những biện pháp bình ổn của Chính phủ. Ông có nhìn nhận thế nào về hiện trạng này?

TS. Quách Mạnh Hào: Cũng tương tự như câu trả lời trên, thông tin về CPI sẽ là một nhân tố quan trọng bởi nó sẽ ảnh hưởng tới hầu hết các chỉ số vĩ mô khác và sự kỳ vọng của nhà đầu tư. Tôi tin rằng Chính phủ đang làm tốt công việc của mình trong công cuộc chống lạm phát và chỉ số CPI chung đang trong xu thế giảm. Điều này sẽ là một nhân tố tích cực với thị trường chứng khoán.

PV: Hiện cũng có ý kiến cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang có một số dấu hiệu đình trệ như là một số nguyên vật liệu xây dựng… tiêu thụ rất chậm; việc cắt giảm chi tiêu của cả người dân, nhà nước và doanh nghiệp. Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới thị trưởng chứng khoán, thưa ông?

TS. Quách Mạnh Hào: Một cách khách quan, tôi cho rằng chúng ta đang trải qua giai đoạn đình trệ. Đây chính là sự đánh đổi trong cuộc chiến chống lại lạm phát. Giai đoạn này có thể sẽ kéo dài tới giữa năm 2009. Nhưng điều quan trọng tôi muốn nhấn mạnh là: chúng ta đang sẵn sàng để vượt qua giai đoạn khó khăn này và tôi hoàn toàn tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp.

PV: Trong bối cảnh thị trường bất động sản trầm lắng, vàng ở mức thấp nhưng vẫn cao hơn thế giới khoảng 1-1,2 triệu đồng/lượng và ít có dấu hiệu hồi phục; lãi suất tiền gửi ngân hàng không hấp dẫn (do lạm phát cao), theo ông đầu tư vào thị trường chứng khoán có là một kênh hấp dẫn?

TS. Quách Mạnh Hào: Tôi nghĩ các nhà đầu tư cũng đã có sự cân nhắc nhiều giữa các kênh đầu tư. Đầu tư vào cổ phiếu luôn là một kênh rủi ro so với các kênh đầu tư mang lại dòng tiền cố định khác. Tôi cho rằng thị trường trong giai đoạn hiện tại là hấp dẫn.

PV: Ông dự báo thế nào về tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam nửa cuối năm 2008 khi mà lãi suất ngân hàng vẫn được duy trì ở mức cao?

TS. Quách Mạnh Hào: Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng lãi suất kỳ vọng là biến số quan trọng ảnh hưởng tới chỉ số thị trường. Như tôi đã đề cập ở trên, lãi suất cao ở hiện tại đã giải thích cho sự sụt giảm ở thời kỳ trước. Hiện tại, người ta đang kỳ vọng vào những sự cắt giảm lãi suất trong tương lai và điều này gần như là hiện thực khi mà lạm phát đang có chuyển biến tích cực. Bởi vậy, tôi có lý do để tin rằng thị trường chứng khoán đang ở thời kỳ tích lũy và tăng trưởng trở lại.

PV: Ngành ngân hàng trong thời gian qua rơi vào tình trạng không thuận lợi và các ngân hàng sẽ phải tiếp tục giải quyết những khó khăn trong những tháng còn lại trong năm 2008. Nhưng việc đầu tư vào cổ phiếu  ngân hàng vẫn được nhiều người quan tâm và thực hiện, theo ông đó có phải là sự lựa chọn phù hợp?

TS. Quách Mạnh Hào: Tôi nhận thấy các cổ phiếu ngành tài chính thường có sự biến động mạnh hơn so với các ngành nghề khác trước diễn biến thị trường. Bởi vậy, trong giai đoạn thị trường tích lũy và hồi phục, cổ phiếu của ngành này sẽ dẫn dắt thị trường.

Điều cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh là những quan điểm của tôi không phải là để cho ngày mai, hay tuần sau. Thị trường có thể tăng hoặc giảm do những biến động của tâm lý xoay quanh xu thế chung. Và xu thế chung thì tôi đã nêu ở trên. Một điều nhỏ khác tôi cũng muốn nhắn gửi là: Ở những thời điểm như hiện tại, sử dụng phân tích kỹ thuật giản đơn (xu thế lượng – giá) sẽ là một lợi thế. Việc lạm dụng các chỉ số kỹ thuật phuc tạp hay những mô hình kỹ thuật sẽ mang lại sai lầm.

February 10, 2010

Phạm Chi Lan- Vấn nạn nhập siêu từ Trung Quốc 2010-02-08

Mặc Lâm, phóng viên RFA
Chỉ riêng trong năm 2009, nhập siêu vào Việt Nam đã lên tới con số gần 7 tỷ đô la, trong đó một số đáng kể đến từ Trung Quốc.
Mặc Lâm phỏng vần bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế, nguyên là thành viên của viện nghiên cứu IDS, nguyên cố vần kinh tế cho Văn Phòng Thủ Tướng để tìm hiều thêm chi tiết sau đây:Rẻ – Chất lượng thấp

Mặc Lâm: Thưa bà, Bộ Công Thương mặc dù cho biết là đã đưa ra nhiều giải pháp để đối phó với tình trạng nhập siêu, chẳng hạn như hạn chế cho vay ngoại tệ nhập khẩu ô tô, hoặc hạn chế nhập hàng tiêu dùng, thế nhưng nhập siêu từ các nước, đặc biệt là từ Trung Quốc, vẫn chưa thấy dấu hiệu ngưng lại. Bà có ý kiến gì về vấn đề này, thưa bà?

Bà Phạm Chi Lan: Nhập siêu từ Trung Quốc thì thật ra tôi cũng đã nêu ra từ cách đây mấy năm khi mà người ta chưa đưa ra những con số nhập siêu cụ thể từ nước nào, thì tôi theo dõi và tôi đã lên tiếng là nhập siêu từ Trung Quốc và từ mấy nước xung quanh Việt Nam là nhiều nhất, trong khi Việt Nam lại xuất siêu sang Hoa Kỳ, sang Liên Minh Châu Âu, thì đấy là một điều không thật đúng và tôi cũng đã nêu là những cái nhập siêu như thế này thì có một thời gian các quan chức của Bộ Công Thương còn cho là không đáng ngại bởi vì nó tạo nên đầu tư cho tương lai, nhập máy móc thiết bị về là để đầu tư cho tương lai.

Nhưng lúc ấy tôi đã nói lập luận của tôi là nếu như nhập siêu máy móc thiết bị mà lại là những máy móc thiết bị không đảm bảo chất lượng cao, không có công nghệ cao thì Việt Nam cũng sẽ có thể có những ngành công nghiệp trong tương lại nhưng mà lại tiếp tục là những ngành công nghiệp lạc hậu, thấp về trình độ công nghệ, tiêu hao nhiều nguyên liệu cũng như năng lượng, và như vậy là sản phẩm làm ra vẫn không thể cạnh tranh được với ai. Thế mà con đường rồi sẽ lại tiếp tục nhập siêu từ chính các quốc gia mà đang bán máy móc thiết bị cho mình.

Mặc Lâm: Nhìn một cách tổng quát, khi Việt Nam nhập hàng của Trung Quốc thì yếu tố nào kích thích doanh nghiệp tư nhân cũng như quốc doanh quyết định chọn Trung Quốc mà không phải là nước khác, thưa bà?

Bà Phạm Chi Lan: Trong cơ cấu thị trường của Việt Nam thì thường khi nhập khẩu về phía các nước bị nhập khẩu có liên quan nhiều tới điều kiện về giá cả hơn là chất lượng, đặc biệt là của máy móc thiết bị đến công nghệ, thì đây là điều không xứng đáng vì đối với máy móc thiết bị công nghệ thì ảnh hưởng của nó là lâu dài, nó phục vụ cho việc tạo nên một dây chuyền sản xuất chẳng hạn, hoặc là đề làm ra các sản phẩm khác, như vậy nó sẽ gây những hậu quả rất là tệ cho các ngành công nghiệp. Và như vậy thì Việt Nam sẽ không thể thoát khỏi tình trạng nhập siêu được, bởi vì luôn luôn sản phẩm của mình làm ra nếu  từ những sản phẩm nhập khẩu đó thấp kém hơn các nước khác. Riêng đối với Trung Quốc, một trong những gốc của tình trạng nhập siêu hiện nay, bởi vì giữa nguyên liệu thô đem xuất khẩu và máy móc thiết bị nhập khẩu về thì cái chênh lệch về giá cả rất là lớn và nó mang lại thuận lợi chi phía nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu máy móc thiết bị nhiều hơn.

Thứ hai nữa là so với các nước ASEAN khác như Thái Lan, Malaysia, Philippines thì họ cũng buôn bán với Trung Quốc rất nhiều, chừng nào họ cũng nhập siêu từ Trung Quốc nhưng họ xuất khẩu được nhiều hơn các sản phẩm trung gian, thành ra đây cũng là những chế phẩm công nghiệp của họ, và họ xuất sang Trung Quốc cũng lại trao đổi lại để rồi làm thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng nhiều hơn để bán ra nước ngoài hoặc là để sử dụng trong nước. Đây cũng là một cơ cấu thuận lợi hơn so với Việt Nam mà chẳng cần xuất khẩu các nguyên liệu thô và nông sản.

Mặc Lâm: Theo bà thì làm cách nào để thay đổi thói quen có điều kiện này trong tư duy của doanh nghiệp đối với vần đề nhập hàng hoá máy móc thứ phẩm của Trung Quốc?

Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi, cái cách để có thể thay đổi được là giảm dần sự phụ thuộc vào Trung Quốc qua nhập siêu như thế này thì trước hết một là Việt Nam phải tìm mở rộng hơn nữa thị trường của mình trong việc mua sắm máy móc thiết bị công nghệ, và điều này đặc biệt cần thiết cho Việt Nam đang muốn hướng tới một thời kỳ mới công nghiệp hoá thúc đẩy lên để có thể bật lên được, chấp nhận mua những sản phẩm có thể giá cao hơn những mà chất lượng tốt hơn và rốt cuộc cuối cùng nó sẽ rẻ hơn so với nhập khẩu với giá thấp bây giờ. Ở đây đặc biệt là những mua sắm trong các công trình đầu tư của nhà nước cũng cần phải tạo được một cơ chế mua sắm làm sao cho nó đảm bảo được hiệu quả cao hơn .

Không minh bạch?

Mặc Lâm: Thật ra thì các khoảng tiền nhập siêu lớn đều do nhà nước chủ động tạo nên khi mua lại các máy móc thiết bị từ Trung Quốc mà không có sự giám sát chặt chẽ. Theo bà thì làm sao nhà nuớc có thể rà soát lại một cách nghiêm túc tất cả các yếu tố tiêu cực này?

Bà Phạm Chi Lan: Lâu nay phần lớn các công trình của nhà nước thì do các cơ quan nhà nước đứng ra làm chủ đầu tư hoặc là các doanh nghiệp nhà nước, thông thường thì hiệu quả của họ trong hoạt động là không cao, mà tôi e là cả về nhập khẩu cũng vậy. Cái thứ hai nữa là phải tạo tính mình bạch tối đa trong việc mua sắm các sản phẩm này, bởi vì lâu nay thì thông thường khi việc mua đó là chủ động của những người đứng ra đi đàm phán chuyên môn nhiều hơn và nó thiếu cái minh bạch để giám sát được, xem xét được của các sản phẩm đó ra bao nhiêu, giá cả có hợp lý hay không.

Chúng tôi biết là cũng không thiếu trường hợp nhập thực tế là với giá rất cao mà thiết bị vẫn lạc hậu như thường, công nghệ vẫn tồi tệ, nên từ đây là vấn đề rất lớn. Cái chính là những công trình lớn hàng trăm triệu đôla hoặc là năm bảy chục triệu đôla nó mới tạo nên nhập siêu lớn, thế còn nhập hàng tiêu dùng cùng có những không phải là cái đóng góp chính cho cái nhập siêu.

Mặc Lâm: Nhưng nếu cứ để cho nhà nước tự kiểm soát lấy mình thì dư luận cho rằng kết quả sẽ rất hạn chế, theo bà thì vai trò của xã hội có thể góp được gì trong việc này?

Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi thì phải tạo nên cái tính minh bạch cao và có sự giám sát, đặc biệt là xã hội hoặc là các tổ chức khác hay là những người bỏ tiền thuế của mình để cho nhà nước hoặc là doanh nghiệp nhà nước đi nhập khẩu từ bên ngoài thì phải có quyền giám sát vào để xem cái nhập khẩu đó có mang lại lợi ích cho đất nước hay không.

Tôi nghĩ là làm sao cho cái cơ chế về kinh doanh cho có sự tham gia nhiều hơn của các doanh nghiệp khu vực tư nhân vào tất cả các hoạt động đầu tư phát triển lớn của đất nước. Khu vực tư nhân thì bao giờ họ cũng có động lực tự thân của họ là phải hiệu quả vì không hiệu quả thì họ không tồn tại được, cho nên để cho doanh nghiệp tư nhân tham gia nhiều hơn vào những đấu thầu trong các dự án lớn nhiều hơn thì họ sẽ có một tính toán khôn ngoan hơn, đầy đủ hơn để có thể đảm bảo lợi ích của Việt Nam.

Mặc Lâm: Riêng các sản phẩm thô xuất sang Trung Quốc của ta đã chiếm một tỷ trọng khá lớn và đã giữ được phần nào cán cân thương mại giữa hai nước. Bà thấy có điều gì cần phải cải thiện thêm ở lãnh vực này không ạ?

Bà Phạm Chi Lan: Về chuyện xuất khẩu của Việt Nam thì rất cần cải thiện cái chiều xuất khẩu sang Trung Quốc bằng cách chấm dứt tình trạng xuất khẩu những sản phẩm thô hoàn toàn mà không chế biến, kể cả về khai thác quặng mỏ, thì tôi nghĩ là những cái gì Việt Nam hiện đang chưa có khả năng chế biến được để tạo thêm giá trị gia tăng thì cũng không nên tiếp tục khai thác nữa.

Việt Nam không phải ở trong tình trạng cách đây hai chục năm mà cần thiết quá phải khai thác dầu thô để đem bán, mà bây giờ có thể có những sản phẩm khác và cũng có thể thu hút thêm đầu tư để tạo thêm những ngành chế biến tạo thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm này trước khi xuất khẩu đi. Vả lại xu hướng chung của thế giới hiện nay là như vậy và Việt Nam cũng đang trong tình trạng tương tự và tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt dần cho nên buộc phải tiết kiệm tài nguyên và phải xem xét lại việc khai thác tài nguyên của mình.

Cho nên trong xuất khẩu sang Trung Quốc thì tôi nghĩ là cần phải chấm dứt những sản phẩm xuất khẩu hoàn toàn màn tính chất nguyên liệu thô, không qua chế biến, mà không hợp lý thì rất cần phải chấm dứt đi; đối với các sản phẩm khác thì cố gắng tạo thêm các khả năng xuất khẩu sản phẩm tạo giá trị gia tăng nhiều hơn; nếu mà không thì Việt Nam có thể gồng lên để cố gắng xuất khẩu nhiều nhưng giá trị vẫn rất thấp và không thể nào cái thiện cái chiều xuất khẩu từ Việt Nam lên được.

Mặc Lâm: Xin cám ơn bà Phạm Chi Lan đã giúp cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

January 9, 2010

Đô la hóa và tỷ giá hối đoái của Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:33 am
Tags: , ,

Bài 1: Nhận diện “đô la hoá”

1. Ở nước ta, “đô la hóa” được nhận thức là việc sử dụng USD trong giao dịch thương mại và dịch vụ song song với VND. Trên thế giới, “đô la hóa” có khái niệm rộng hơn: khi dân cư một nước sử dụng rộng rãi ngoại tệ song song với đồng nội tệ hoặc thay thế đồng nội tệ. Tùy theo các trạng thái của việc sử dụng ngoại tệ, người ta chia làm 3 loại:

Thứ nhất, “đô la hóa” chính thức, còn được gọi là “đô la hóa” hoàn toàn khi một nước sử dụng ngoại tệ theo quy chế độc quyền, hay giữ vai trò khống chế ở nước đó. Một số vùng lãnh thổ như Virgin islands, Greenland và một số quốc gia độc lập như Panama sử dụng USD hoặc đồng tiền nước khác làm đồng tiền chính thức, trong đó có nước không còn đồng nội tệ, có nước vẫn duy trì đồng nội tệ, nhưng đóng vai trò phụ thuộc. Điển hình là ngày 9/1/2000, Tổng thống Ecuado công bố quyết định lấy USD làm đồng tiền chính thức của nước này.

Thứ hai, “đô la hóa” bán chính thức khi ở một nước, đồng ngoại tệ chiếm phần chi phối trong tiền gửi ngân hàng, nhưng chỉ đóng vai trò thứ yếu so với đồng nội tệ trong việc trả lương, nộp thuế, mua sắm hàng hóa và dịch vụ. Khác với các nước ” đô la hóa” chính thức, ngân hàng trung ương những nước đó phát hành đồng nội tệ và điều hành chính sách tiền tệ của đất nước. Trên thế giới, có khoảng 12 nước như Bahamas, Haiti, Liberia… áp dụng ” đô la hóa” bán chính thức.

Thứ ba, “đô la hóa” không chính thức khi ở một nước người dân giao dịch hàng hóa và dịch vụ, giữ ngoại tệ làm tài sản, mặc dù ngoại tệ không được coi là đồng tiền lưu chuyển hợp pháp trên thị trường trong nước. Một số nước cho phép người dân được gửi ngoại tệ vào tài khoản ở ngân hàng trong nước, nhưng lại coi là bất hợp pháp nếu gửi ngoại tệ vào tài khoản tại ngân hàng ở nước ngoài, trừ những trường hợp ngoại lệ.

“Đô là hóa” không chính thức lúc đầu là phương tiện cất trữ (kho chứa giá trị), tiếp theo là phương tiện thanh toán (thay thế đồng nội tệ), cuối cùng được đánh giá tương quan về giá cả giữa ngoại tệ và nội tệ, được chỉ số hóa bằng tỷ giá hối đoái. Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) xếp Việt Nam vào nhóm nước “đô la hóa” không chính thức.

“Đô la hóa” không giống như Liên minh Tiền tệ châu Âu (EMU), mà là quan hệ đối tác không bình đẳng, có tính thứ bậc. Khi chính phủ một nước áp dụng “đô la hóa” chính thức thì tự đánh mất quyền hoạch định chính sách tiền tệ, quyền in tiền, mà doanh thu in tiền được coi là “thuế lạm phát”, như Keynes đã viết từ năm 1924 rằng, “một chính phủ có thể kiếm sống bằng phương tiện này (in tiền) khi nó không còn có thể dựa vào phương tiện nào khác”.

Hơn nữa, vào thời điểm có xung đột lợi ích quốc gia, thì đồng ngoại tệ được sử dụng như vũ khí kinh tế, buộc chính phủ “đô la hóa’ phải khuất phục nước sở hữu đồng ngoại tệ đó. Panama là một ví dụ điển hình về một nước ” đô la hóa”; mặc dù về kinh tế do sử dụng chính thức USD đã tạo ra môi trường kinh tế ổn định, trở thành trung tâm tài chính quan trọng trong vùng, tương phản với các nước láng giềng, nhưng về chính trị, Panama là nước dễ bị tổn thương trong quan hệ với Mỹ. Điển hình là năm 1998, Mỹ đã buộc tội và bỏ tù nhà lãnh đạo của nước này, tướng Manuel Noriega, đồng thời chính phủ Mỹ ra lệnh đóng băng tài sản của Panama tại các ngân hàng Mỹ, ngừng tất cả việc chuyển nhượng, thanh toán bằng USD.

Tóm lại, không nên coi “đô la hóa” chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chủ quyền quốc gia, phân phối lợi ích dân tộc.

Việc biến động tỷ giá hối đoái trong những tháng gần đây có nhiều nguyên nhân gắn với tình trạng “đô la hóa” không chính thức ở nước ta. Mặc dù Chính phủ theo đuổi chính sách quản lý ngoại hối theo định hướng nhất quán “trên thị trường Việt Nam chỉ giao dịch bằng đồng Việt Nam”, nhưng thực tế, ngoại tệ và vàng được sử dụng khá phổ biến như các phương tiện thanh toán trong giao dịch mua bán bất động sản, hàng hóa đắt tiền, vay, trả nợ, cất trữ. Mỗi khi có biến động về tỷ giá thì các ngoại tệ, nhất là USD gia tăng vai trò trên thị trường.

Chúng tôi đồng tình với một số nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận định rằng, sự biến động tỷ giá hối đoái trong thời gian vừa qua do cung cầu về ngoại tệ, nhất là USD có lúc trở nên căng thẳng, do chính sách tỷ giá và việc điều hành tỷ giá thiếu linh hoạt, không kịp thời ứng phó với biến động của thị trường.

Tuy vậy, nguyên nhân chính của thực trạng đó là tình trạng lạm phát cao trong mấy năm liền đã làm cho giá trị thực của VND giảm sút, kéo theo độ tín nhiệm của người dân với VND giảm. Giá cả trên thị trường thế giới biến động, một số hàng hóa như xăng dầu, sắt thép… tăng cao đã tác động đến giá cả trong nước, làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng. Đó là nhân tố khách quan từ bên ngoài. Nhân tố chủ yếu là quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và lưu thông tiền tệ. Trong 2 năm 2005 và 2006, GDP của Việt Nam tăng 17%, tiền lưu thông trên thị trường và tiền gửi ngân hàng – M2 tăng 73%. Cũng trong hai năm đó, GDP của Trung Quốc tăng 22%, thì M2 chỉ tăng 36%. Quan hệ giữa tăng M2 và tăng GDP của nước ta là 4,3 lần, thì của Trung Quốc chỉ là 1,6 lần, điều đó giải thích vì sao CPI của Việt Nam cao gấp đôi Trung Quốc.

Do vậy, mặc dù kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng cao, nhưng cũng xuất hiện mối lo ngại của các doanh nghiệp và người dân về tình trạng lạm phát cao, VND sụt giá và không ổn định.

CPI liên tục tăng, năm 2004 là 7,71%, năm 2005 là 8,29%, năm 2006 là 7,48%, năm 2007 là 8,30%, năm 2008 là 22,97% và năm 2009 là 6,88%. Thực trạng đó có liên quan đến mức chi tiêu danh nghĩa trong nước đã tăng nhanh khi các khoản viện trợ chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI), kiều hối đổ vào nước ta ngày càng nhiều. Nếu như năm 2003, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ là 333.809 tỷ đồng, thì năm 2008 là 983.803 tỷ đồng, bằng 2,94 lần.

Trong thời gian đó, vốn đầu tư xã hội cũng gia tăng, năm 2003, vốn đầu tư xã hội theo giá thực tế là 239.246 tỷ đồng, thì năm 2008 là 610.876 tỷ đồng, bằng 2,55 lần. Cả hai chỉ tiêu này đã tăng bình quân trên 20%/năm, trong khi lượng cung ứng thực (được đo bằng sản lượng thực+thâm hụt thương mại thực) chỉ tăng bình quân dưới 10%/năm.

Tốc độ tăng cung ứng tiền khá cao, liên tục từ năm 2003 đến nay trên 25%/năm, tín dụng tăng trên 35%/năm. Tình trạng đó cũng phản ảnh trong quan hệ giữa mức huy động vốn và mức dư nợ tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Báo cáo gần đây của Ngân hàng Nhà nước cho biết, mức dư nợ tín dụng năm 2009 tăng 37,73%, trong khi mức huy động vốn chỉ tăng 28,7%. Vietinbank thông báo, năm 2009, mức dư nợ tín dụng tăng 35%, mức huy động vốn chỉ tăng 25%. Các ngân hàng thương mại đua nhau tăng lãi suất để hấp dẫn người gửi tiền; khi lãi suất tăng cũng có nghĩa là giá trị VND giảm.

Mặc dù Chính phủ quyết tâm theo đuổi chủ trương niêm yết giá hàng hóa và dịch vụ là VND, nhiều cuộc thanh tra đã được tiến hành và cũng đã xử lý một số vụ việc vi phạm pháp luật, nhưng trên thực tế, do lòng tin đối với VND giảm sút, nên người mua và người bán những hàng hóa có giá trị cao như ô tô, xe máy vẫn giao dịch bằng ngoại tệ, chủ yếu là USD, trong khi bất động sản lấy vàng làm phương tiện tính toán trong giao dịch.

Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)- Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:27 am
Tags: , , ,
Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)

Trước việc Chính phủ Indonesia, dưới sức ép mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, có thể sẽ quyết định hoãn việc thi hành một số điều khoản của hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), vì lo sợ những ngành như dệt may, da giày, sắt thép, của mình sẽ lâm vào cảnh khốn đốn dưới sức cạnh tranh của hàng giá rẻ của Trung Quốc tràn vào, khi thuế suất được đưa về mức 0% vào đầu năm nay, theo đúng lộ trình cam kết, Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi nhanh với các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp…

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, người đã có nhiều năm theo dõi, nghiên cứu về tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam và tác động của nó đối với doanh nghiệp, đánh giá về hành động của Indonesia:

Mối lo của Indonesia rất thực tế, và chính đáng nhằm bảo vệ cho các doanh nghiệp của họ. Từ góc độ nghiên cứu, tôi nghĩ chắc chắn nhà nước họ phải xem xét. Đối với những nước đang phát triển như Indonesia, Việt Nam, hay các thành viên ASEAN khác, hễ ngành nào còn tương đối có thị trường trong nước là y như rằng chịu sức ép cạnh tranh rất mạnh từ Trung Quốc.

Việt Nam có thêm năm năm để chuẩn bị cho ACFTA, nhưng tôi vẫn thấy không yên tâm. Do khủng hoảng kinh tế, xuất khẩu đã khó khăn hơn nhiều, nay miếng bánh ở thị trường nội địa lại có nguy cơ bị nhỏ lại bởi những hàng hoá giá rẻ từ Trung Quốc.

Với ACFTA, ngay từ khi thực hiện ở giai đoạn thu hoạch sớm, Việt Nam thiệt nhiều hơn lợi. Hàng Việt Nam bán sang Trung Quốc, vốn đã quá ít so với hàng Trung Quốc bán sang Việt Nam, lại vẫn chủ yếu là những mặt hàng nguyên liệu thô.

Bà có nghĩ rằng chính do khủng hoảng kinh tế, những thị trường lớn như Mỹ, hay EU, bị thu hẹp lại, và nền kinh tế được coi là công xưởng thế giới buộc phải quyết liệt tìm những thị trường khác, như ASEAN, để bù lại?

Đúng vậy. Và bản thân họ cũng phải tự kiềm chế xuất khẩu một số hàng sang Mỹ, hoặc EU, như sắt thép, da giày, dệt may, nhằm tránh sự cạnh tranh trực diện có thể xảy ra, bởi những mặt hàng đó quá nhạy cảm về mặt lao động trong bối cảnh suy thoái. Dư thừa công suất của Trung Quốc chắc chắn sẽ tràn sang các thị trường khác như ASEAN. Nguyên bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, khi khủng hoảng xảy ra, đã nêu rằng khoảng 50 –70 tỉ USD giá trị hàng hóa của Trung Quốc đã được chuyển sẵn xuống miền nam Trung Quốc để chuẩn bị xuất xuống ASEAN.

Tại sao các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ này lại không lên tiếng mạnh mẽ với Chính phủ, như trường hợp của Indonesia?

Có một điều rất đáng tiếc là quá trình đàm phán thương mại của Việt Nam với các đối tác liên quan, ví dụ như với Trung Quốc, hầu như giới doanh nghiệp, một trong những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất, đều không được biết, không được mời tham vấn là nên mở cửa đến đâu, và với những sản phẩm nào. Còn hoạ chăng nếu có mời tham vấn, Chính phủ chỉ mời các doanh nghiệp lớn của Nhà nước, và trong nhiều trường hợp lợi ích của họ không phản ánh lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp nói chung.

Chẳng hạn, với chương trình thu hoạch sớm, với vài trăm mặt hàng giảm thuế hàng năm theo lộ trình, doanh nghiệp chỉ được biết vào đầu mỗi năm mới, khi bộ Tài chính công bố. Nếu họ được quyền tham vấn, có thể những cam kết của chúng ta đã thận trọng hơn.

Việc đàm phán ký kết, Chính phủ coi đó đó là việc riêng của mình, nên không tham vấn cộng đồng doanh nghiệp. Thậm chí, những cam kết đó còn được coi là tài liệu mật. Tôi nhớ mãi chuyện cách đây khoảng chục năm, khi Việt Nam và Mỹ hai bên hoàn tất hiệp định thương mại song phương, phía Mỹ thì đã công bố hết những cam kết lên mạng, còn ở Việt Nam trong văn bản của các bộ liên quan vẫn còn đóng dấu mật.

Ngoài chuyện bao biện của Nhà nước, tiếng nói của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam phải chăng quá yếu ớt so với các đồng nghiệp ở các nước khác…

Nếu nói nhiều hiệp hội doanh nghiệp là cánh tay nối dài của Nhà nước cũng chẳng oan cho họ đâu. Tình trạng hành chính hoá hoạt động của các hiệp hội này quá nặng nề. Các hiệp hội vẫn do các doanh nghiệp lớn, đa phần là quốc doanh, đứng chủ trò, và tiếng nói lợi ích của họ át đi tiếng nói lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hơn nữa, một loạt các vị quan chức về hưu được bổ nhiệm là chủ tịch các hiệp hội, và, ít hay nhiều, họ cũng mang theo cái phong cách hành chính của mình vào hiệp hội. Mối quan hệ quen biết với những người đương nhiệm khiến họ cũng có khi khó ăn khó nói. Rồi những gì mà doanh nghiệp thuộc hiệp hội đang phải oằn lưng ra gánh chịu có khi lại do những cam kết thiếu thận trọng của ông chủ tịch hồi đang còn làm quan chức chính phủ. Bây giờ phản bác lại nhân danh các các hội viên hoá ra lại tự phản bác lại mình à?

Ngoài hàng giá rẻ đang tràn sang Việt Nam, ngay cả đến hoa quả không an toàn mà Chính phủ Trung Quốc đã khuyến cáo dân họ không được ăn, cũng có nguy cơ tràn sang Việt Nam. Vậy, Chính phủ Việt Nam phải làm gì, chẳng hạn dùng những rào cản kỹ thuật, để bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng?

Cái khác của các nước khác so với Việt Nam là sau khi ký kết các hiệp định thương mại, bên cạnh việc mở cửa thị trường, họ cũng dựng lên các hàng rào kỹ thuật. Tự do hàng hoá càng mạnh, hàng rào kỹ thuật càng nhiều, bởi chẳng ai dại gì mở toang cửa nhà mình cho hàng hoá thiên hạ tràn vào rồi bóp chết các doanh nghiệp của mình.

Còn Việt Nam ta, khi thực hiện các cam kết mở cửa thị trường, tỏ ra khá nghiêm túc khi cắt giảm thuế quan, nhưng lại rộng lượng tới mức không dựng lên các hàng rào kỹ thuật tương ứng để bảo vệ “gà nhà” khỏi những cạnh tranh bất hợp lý và không lành mạnh từ bên ngoài. Chúng ta có pháp lệnh về quyền tự vệ, pháp lệnh về chống bán phá giá, nhưng trên thực tế những pháp lệnh đó gần như là không thiêng, chẳng ai chịu sử dụng. Theo dõi của tôi, mãi gần đây mới có hiệp hội Gốm xây dựng đang đề nghị Chính phủ điều tra về hàng vật liệu xây dựng của Trung Quốc có dấu hiệu bán phá giá trên thị trường Việt Nam.

Còn về vệ sinh an toàn thực phẩm, do hàng rào của mình quá yếu, các cơ quan có liên quan thường liếc nhau để chuyền quả bóng trách nhiệm.

January 7, 2010

Vẫn cần phải thận trọng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:30 pm
Tags: , ,
(TBKTSG) – Phát biểu tại buổi họp mặt các doanh nghiệp ĐBSCL do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ tổ chức hồi tuần rồi, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng năm 2010 vẫn còn nhiều thách thức đối với nền kinh tế.

Chưa hy vọng nhiều từ ngoại lực!

Chỉ tiêu xuất khẩu tăng 6% vào năm 2010, nhìn tổng thể, là có cơ sở bởi nhu cầu nhập khẩu từ các nước sẽ khá hơn, khi kinh tế bắt đầu phục hồi. Tuy nhiên, theo ông Doanh, mọi chuyện sẽ khó như mong muốn vì chắc chắn các nước nhập khẩu sẽ tạo ra những rào cản để bảo hộ hàng sản xuất nội địa.

“Bằng chứng là Liên hiệp châu Âu (EU) đã tiếp tục gia hạn thuế chống phá giá đối với giày da của Việt Nam dù trước đó, chính đại diện một số nước nhập khẩu cũng phản đối quyết định này. Vì sao? Ý, Tây Ban Nha… cũng sản xuất giày”, ông nói và cho biết thêm việc tăng bảo hộ mậu dịch dù bất công nhưng là vấn đề sống còn của nhiều nước.

Vị trí đặt quảng cáo

Mới đây nhất, việc EU áp dụng luật IUU từ ngày 1-1-2010, buộc các lô hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam phải có giấy chứng nhận về nguồn gốc và tính hợp pháp của sản phẩm, xét về góc độ nào đó, cũng chính là một rào cản.

Cơ sở của nhận định này là, như tại Mỹ hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức 10%, thiếu việc làm là 10%. Kinh tế nước Anh vẫn tăng trưởng âm, còn kinh tế Đức sau khi tăng trưởng mạnh trong quí 2-2009 đã sụt giảm trở lại…

Dĩ nhiên, việc kích thích tiêu dùng nội địa, bảo vệ nền sản xuất trong nước để giảm tỷ lệ thất nghiệp là ưu tiên hàng đầu mà nhiều nước sẽ thực hiện.

Cũng theo ông Doanh, các nhà xuất khẩu của Việt Nam sẽ vất vả hơn và không loại trừ khả năng sẽ phải đối phó với một số vụ kiện phá giá mới. Do đó chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu cho năm 2010 không dễ thực hiện. Nhất là trong bối cảnh hiện nay Trung Quốc đang “gắn” tỷ giá đồng nhân dân tệ với đô la Mỹ!

Trong khi đó, đô la Mỹ mất giá, nhưng giá dầu thô và giá vàng còn tiếp tục biến động. Điều bắt buộc phải xảy ra là đồng nhân dân tệ cũng mất giá, khiến hàng xuất khẩu của Trung Quốc “ngẫu nhiên” được lợi thế cạnh tranh về giá, ảnh hưởng xấu đến nền sản xuất của nhiều nước trên thế giới. “Đây là dấu hỏi lớn cho chúng ta”, ông Doanh nói.

Còn về thu hút đầu tư nước ngoài, liệu có tăng sau khi đã tụt giảm trong năm 2009? Có khả năng tăng, nhưng ông Doanh cho rằng, trước tiên cần xem lại tiến trình cải cách. “Năm 2006, về chỉ số năng lực cạnh tranh, Trung Quốc đứng vị trí thứ 54, còn Việt Nam là 77. Nhưng đến giai đoạn 2008-2009, vị trí lần lượt lại là 30 và 70, còn hiện tại là 29 và 75”, ông Doanh dẫn chứng.

Vẫn phải thận trọng với mục tiêu tăng trưởng

Nhận định về chỉ tiêu lạm phát dưới 7% trong năm 2010, ông Doanh cho rằng, trước tiên phải lưu ý đến quy luật tăng tín dụng và tăng giá thường có độ trễ từ 3-5 tháng. Từ tháng 2-2009, doanh số cho vay theo chương trình hỗ trợ lãi suất liên tục tăng vọt và chỉ siết lại kể từ tháng 8-2009. “Chúng ta đã “bơm” tín dụng rất nhiều, và điều lo lắng là vào tháng 1 và tháng 2-2010, giá cả sẽ tăng lên, nhất là sau khi Ngân hàng Nhà nước vừa điều chỉnh tỷ giá”, ông lo lắng.

Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), giá dầu thô trong năm 2010 có thể tăng, đạt mức bình quân 73,3 đô la Mỹ/thùng. Nhiều mặt hàng công nghiệp, các mặt hàng phi dầu cũng sẽ tăng giá… Do đó theo ông Doanh, vẫn phải rất thận trọng với mục tiêu tăng trưởng bởi nhiệm vụ hàng đầu vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát. Ông đề xuất: “Chỉ đầu tư những gì thực sự cần thiết cho nền kinh tế”.

WB cũng đã thay đổi chính sách, từ năm 2009 các khoản cho vay đã có lãi suất gần tương đương lãi suất thương mại, thời gian ân hạn giảm, thời hạn trả cũng ngắn hơn trước đây. “Do đó, phải chú ý đến việc giải ngân và phải cân nhắc xem có nên nhận vốn hay không”, ông Doanh lưu ý thêm.

Để giúp ổn định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, ông Doanh cho rằng, phải đưa ra chính sách tỷ giá, lãi suất sao cho doanh nghiệp có thể dự báo được ít nhất trong sáu tháng. Ông kể, mới đây một doanh nghiệp cho biết đã thua lỗ khá nặng, chỉ vì tỷ giá thay đổi ngay sau khi doanh nghiệp nhập phôi thép về!

Điều đáng lo nữa chính là các chỉ tiêu như nhập siêu trong năm 2010 là 13,6 tỉ đô la Mỹ, tương đương 22,7% xuất khẩu, đồng thời cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt 9,4 tỉ đô la Mỹ. “Điều này sẽ tạo sức ép rất lớn lên sự ổn định của đồng tiền Việt Nam”, ông Doanh nói.

Năm 2009, cán cân thanh toán quốc tế chung đã âm khoảng 6,6 tỉ đô la Mỹ, trong đó cán cân tài khoản vãng lai âm khoảng 7,4 tỉ đô la Mỹ. “Đây là những con số không thể xem thường! Nó sẽ tác động đến tỷ giá trong năm 2010. Về dài hạn, phải thay đổi cơ cấu kinh tế, giữ nhập khẩu ở mức ổn định và không cho tăng. Bởi nếu cán cân thanh toán âm mạnh thì rất khó kiểm soát”, ông Doanh nói.

Next Page »

Blog at WordPress.com.