Ktetaichinh’s Blog

March 7, 2010

“Mổ xẻ” gói kích cầu để nhìn về tương lai – Phần 1: Kích cầu kiểu Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:56 pm
Tags: , ,
Nhìn lại và phân tích các gói kích thích kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc và Mỹ để thấy rõ hơn ta đã làm gì, nước khác làm khác ta ra sao và mục tiêu dài hạn của giải pháp này là gì. Liệu Việt Nam đã tính hết những rủi ro từ chính sách chưa và giải pháp tiếp theo ra sao? TBKTSG xin giới thiệu bài phân tích của GS.TS. Trần Ngọc Thơ và ông Hồ Quốc Tuấn (nghiên cứu sinh tiến sĩ) để giải đáp vấn đề đặt ra.

Trong năm 2009, nhiều “gói kích thích kinh tế” (economic stimulus package), hay như báo chí trong nước gọi là các gói kích cầu, được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới để giúp nền kinh tế khỏi rơi vào suy thoái nặng nề do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mỗi một nước, do đặc thù của mình và do mức độ ảnh hưởng, đã lựa chọn cách thức và đối tượng để “cứu giúp” khác nhau. Việt Nam, tất nhiên là không ngoại lệ.

Điểm qua những kiểu kích cầu của Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam

Đặc điểm của gói kích cầu của khối Anh-Mỹ là ra đời sau một gói cứu trợ ngành ngân hàng. Do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ khu vực các nước phát triển, tác động đặc biệt to lớn lên những thị trường tài chính Anh – Mỹ, nên các nước này phải lựa chọn giải pháp ứng cứu ngành kinh doanh bị tổn thất nặng nề trước và hy vọng giảm nhẹ tác động lây lan của nó. Sau khi tạm thời bình thường hóa được hoạt động của khối ngân hàng, các nước này mới đưa ra chương trình kích thích kinh tế của mình. Đặc điểm của gói kích thích này là nhắm vào kích thích nhu cầu tiêu dùng nội địa, chú trọng vào giảm các dòng thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, hoãn nộp thuế cho doanh nghiệp…).

Nhìn chung, các gói kích thích kinh tế kiểu Mỹ và châu Âu nhắm vào duy trì vào tái tạo việc làm – thị trường bị tác động nặng nề trong khủng hoảng và làm ảnh hưởng đến tổng cầu xã hội, cố gắng kích cầu cá nhân. Các khoản hỗ trợ thuế trực tiếp cho doanh nghiệp chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn trong gói kích thích kinh tế này. Có thể gọi, đây là trường phái kích cầu tiêu dùng cá nhân trực tiếp (trước gói kích cầu này Mỹ đã từng đưa ra một chương trình kích cầu là đập xe cũ mua xe mới – clash for clunkers).

Kích cầu kiểu Trung Quốc là một chương trình tái thiết hệ thống cơ sở hạ tầng khổng lồ. Phần lớn nhất chương trình kích cầu được Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính khoảng 586 tỉ đô la Mỹ (khoảng 12% GDP năm 2009 của Trung Quốc) nhắm vào xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông (trong đó các chương trình xây dựng các tuyến xe lửa rất gây ấn tượng với các nước phương Tây), xây dựng hạ tầng nông thôn, tái thiết sau động đất. Phần còn lại của gói kích cầu này nhắm vào cải thiện công nghệ, xây dựng nhà ở, cải thiện hệ thống y tế, năng lượng và môi trường. Gói kích cầu này không đi trực tiếp vào hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng cũng không đi trực tiếp vào nâng sức cầu nội địa, mà là nhắm vào chi tiêu cho các dự án hạ tầng lớn và lợi ích sẽ chuyển vào các doanh nghiệp nhanh hơn.

Đặc điểm nổi bật của gói kích cầu của Việt Nam nằm ở hai gói hỗ trợ lãi suất. Gói kích cầu của Việt Nam cũng có điểm tương đồng với gói kích cầu phương Tây là hỗ trợ thuế (theo ước tính của WB gói hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp trị giá 9.900 tỉ đồng, cao gấp đôi so với hỗ trợ cho thuế thu nhập cá nhân). Mặc dù không được chỉ ra rõ ràng, nhiều khoản mục hỗ trợ kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 cũng nhắm vào một số loại cơ sở hạ tầng, như tạm ứng ngân sách 2010 cho một số dự án, chuyển nguồn đầu tư từ kế hoạch 2008 sang 2009. Tuy nhiên nổi bật nhất và có tác động lớn nhất đến kinh tế Việt Nam vẫn là hai gói hỗ trợ lãi suất của Việt Nam, trong đó câu chuyện 17.000 tỉ đồng hỗ trợ 4% cho lãi suất ngắn hạn (mà theo ước tính khi ban hành là sẽ tạo ra một lượng tín dụng 600.000 tỉ đồng cho nền kinh tế) thu hút nhiều tranh luận của các chuyên gia kinh tế của Việt Nam, trong đó có ý kiến cho rằng đây là kích cung chứ không phải kích cầu. Đây là kích cầu qua hỗ trợ lãi suất hay trợ giá lãi suất (WB dùng từ “interest rate subsidy” để nói về chương trình này). Đặc điểm đáng chú ý của gói kích cầu này là kết hợp chi tiêu tài khóa (để trợ giá) với chính sách tiền tệ – vì xem như đã giảm lãi suất thực hiệu lực của các khoản vay từ doanh nghiệp đi một mức 4% nữa, một chính sách giảm lãi suất trong khu vực kinh doanh chứ không cho toàn nền kinh tế – đồng thời tiền hỗ trợ lãi suất lấy từ dự trữ ngoại hối chứ không phải ngân sách.

Mô hình kích cầu của Việt Nam còn có một đặc điểm đáng chú ý nữa là việc Chính phủ vay nợ thương mại 1 tỉ đô la Mỹ thông qua phát hành trái phiếu quốc tế và sau đó phân bổ lại cho khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Biện pháp này đã tạo ra hai hệ lụy là hỗ trợ lãi suất nhiều tầng cho DNNN (vừa dẫn đến kìm hãm hệ thống tài chính và vừa dẫn đến tâm lý ỷ lại của khu vực DNNN) và tạo ra hiệu ứng chèn lấn (crowding out) đối với khu vực tư nhân.

Kết quả của chính sách này là khu vực kinh tế tư nhân sẽ bị chèn lấn văng ra khỏi một số lĩnh vực đầu tư do họ phải nhận mức lãi suất cao hơn khu vực DNNN. Hơn nữa, kênh phát hành trái phiếu quốc tế lại là kênh hỗ trợ vốn và lãi suất dài hạn nên hiệu ứng chèn lấn này mới đáng lo ngại. Khi nền kinh tế phục hồi, khu vực tư nhân vẫn bị hiệu ứng chèn lấn này ảnh hưởng nên sẽ khiến chi tiêu và đầu tư tư nhân phục hồi chậm ở một số lĩnh vực.

Những khác biệt: chọn chiến thuật theo thực lực

Mô hình kích cầu của khối Anh – Mỹ diễn ra sau một gói cứu trợ hệ thống ngân hàng, trong đó gói cứu trợ ngành ngân hàng của Mỹ lên đến 700 tỉ đô la. Sau đó, hệ thống này mới tiến hành gói kích cầu kinh tế. Trong khi đó, mô hình của nhóm Việt Nam – Trung Quốc là không có gói hỗ trợ ngân hàng. Nguyên nhân là vì khủng hoảng tài chính không tác động trực tiếp đến nhóm ngân hàng ở Việt Nam và Trung Quốc, ngân hàng không bị thua lỗ do các khoản nợ thứ cấp và các khoản đầu tư tài chính. Khủng hoảng ở Mỹ tác động trước tiên là đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính, góp phần làm bất ổn kinh tế nên Mỹ phải giải quyết vấn đề này trước. Tiếp theo họ phải gia tăng tổng cầu nội địa và tạo ra việc làm mới vì tổng cầu sụt giảm là nguyên nhân khiến kinh tế Mỹ suy yếu.

Trung Quốc lựa chọn đầu tư vào cơ sở hạ tầng làm thế mạnh kích cầu vì nước này chọn dựa vào nguồn cầu nội địa để vượt khủng hoảng chứ không chọn dựa vào nguồn cầu nước ngoài quá nhiều để kích thích tăng trưởng trong bối cảnh thị trường xuất khẩu thế giới đang xấu đi. Theo số liệu của WB, nguồn cầu nội địa đã góp phần lớn nâng đỡ kinh tế Trung Quốc đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2009, trong đó đầu tư vào dự án hạ tầng của chính phủ đóng vai trò chính để thúc đẩy tăng trưởng. Số liệu của Trung Quốc cho thấy trong khi tình hình việc làm tiếp tục xấu đi trong khu vực xuất khẩu và cũng ảm đạm trong khu vực công nghiệp (do một số ngành công nghiệp như xi măng, sắt thép, nhôm có dấu hiệu dư thừa công suất và buộc chính phủ phải “can thiệp”), việc làm mới được tạo ra nhiều trong khu vực dịch vụ, xây dựng và khu vực nhà nước. Rõ ràng trong năm 2009, Trung Quốc dùng phương thức kích thích kinh tế hướng vào chi tiêu rất lớn cho các dự án hạ tầng để tạo ra việc làm và nâng đỡ tăng trưởng. Ở góc độ tạo ra việc làm mới một cách trực tiếp thông qua các chương trình chi tiêu của chính phủ, chúng ta tìm thấy sự tương đồng ở Trung Quốc và Mỹ.

Trong khi đó, mô hình tăng trưởng của Việt Nam lại bị ảnh hưởng nhiều bởi tổng cầu nước ngoài do phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, do đó bản thân Việt Nam không lựa chọn tăng tổng cầu nội địa mà chọn duy trì nhân tố được chính phủ đánh giá là quan trọng của nền kinh tế là các doanh nghiệp sản xuất trong nước (mà phần không nhỏ là các DNNN) và doanh nghiệp nhắm về xuất khẩu.

Việt Nam vì vậy đã thực hiện việc duy trì một thị trường việc làm ổn định thông qua hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp. Có kích cung hay không thì có thể cần bàn nhưng rõ ràng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giảm thiểu phá sản và thất nghiệp, giúp doanh nghiệp duy trì qua cơn nguy khó chờ sức cầu tăng lại là một quyết định tạm cho là thành công cho đến lúc này. Một cách nào đó, chúng ta đã đặt cược vào khả năng khôi phục của sức cầu từ bên ngoài hơn là tự tạo ra sức cầu mới bên trong nền kinh tế. Đây có thể nói là một lựa chọn phòng thủ thay vì tấn công như trong bóng đá. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế giống như kiểu một trận đấu đang bế tắc, Trung Quốc và Mỹ lựa chọn tìm kiếm giải pháp tấn công mới, mô hình hỗ trợ (tạo tăng trưởng GDP mới), khai thông thế trận mới, trong khi Việt Nam lựa chọn phòng thủ và duy trì lối chơi truyền thống (mô hình tăng trưởng vẫn dựa vào xuất khẩu), chờ đợi cơ hội. Khó có thể nói là lựa chọn nào là hoàn toàn đúng, vì vấn đề còn phụ thuộc vào thực lực của từng đội. Liệu rằng ngân sách của Việt Nam có thể bền vững nếu lựa chọn giải pháp như Mỹ và Trung Quốc? Trong bóng đá phải dựa vào thực lực của cầu thủ mình để lựa chọn chiến thuật. Thể lực không đủ thì sao có thể thực hiện bóng đá tổng lực? Nhưng thực lực đủ mà không dám đá tổng lực thì sẽ bỏ qua nhiều cơ hội đáng tiếc.

Trần Ngọc Thơ, ĐH Kinh tế TPHCM – Hồ Quốc Tuấn ĐH Manchester, Anh

TBKTSG Online

Advertisements

February 22, 2010

Thống đốc Ngân hàng và một năm kích cầu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:22 pm
Tags: ,

Tết Kỷ Sửu, ngành ngân hàng đón năm mới bằng một nhiệm vụ chưa ai làm để rồi cả năm quay cuồng với kích cầu và phòng chống tác dụng phụ của chính sách “bao cấp” bằng lãi suất này.

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhậm chức từ giữa năm 2007. Ảnh: PV
Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhậm chức từ giữa năm 2007, từ đó đến nay ngành ngân hàng đối mặt với nhiều khó khăn. Ảnh: PV

Kinh tế thế giới bước vào năm 2009 sau hàng chục vụ phá sản đình đám trong hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ Âu, hàng nghìn tỷ đôla bốc hơi khỏi các thị trường chứng khoán, tình trạng thất nghiệp gia tăng, người dân khắp nơi thắt chặt chi tiêu và hoang mang về tương lai. Cuộc khủng hoảng thế kỷ cũng đẩy Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn: xuất khẩu ngưng trệ, sản xuất đình đốn vì không có đầu ra và thiếu vốn, vốn đầu tư gián tiếp tháo chạy khỏi thị trường, một số nhà đầu tư nước ngoài cũng xem xét dừng dự án đang triển khai để gom vốn về công ty mẹ ở chính quốc.

Gói kích cầu đã ra đời trong bối cảnh đó, chẳng giống chính sách kích thích kinh tế của bất cứ nước nào và cũng chưa có tiền lệ tại Việt Nam. “Hai phương án được đưa ra, một là tập trung đầu tư một số công trình lớn làm động lực kích thích các ngành phụ trở phát triển – giống cách làm của Trung Quốc. Và hai là chỉ hỗ trợ một số khu vực chẳng hạn doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra những con số bi quan như 20% phá sản, 60% khó khăn và chỉ 20% còn lại có thể trụ vững”, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhớ lại.

Nhiệm vụ trọng tâm đặt vào vai ngành ngân hàng, cả 3 bộ trưởng (Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước) đều vào cuộc để xử lý. Tất cả đều xác định cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế trên thế giới đang diễn ra vô cùng phức tạp và tác động rất xấu đến Việt Nam.

Chiều thứ bảy, 17/1/2009, tức 22 tháng chạp âm lịch, Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước tính toán phương án cụ thể. Ngay tối hôm đó, Thống đốc Giàu triệu tập đủ bộ máy lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và họp tới 10h đêm. Có người gợi ý giảm lãi suất tái cấp vốn cho ngân hàng để nguồn tiền này hòa chung với vốn ngân hàng đã huy động và cho ra mặt bằng lãi suất phù hợp, giảm áp lực chi phí đầu vào cho khách vay vốn.

Nhưng thật khó khăn để lựa chọn phương án cụ thể vì nếu tính toán không cẩn thận và làm đề án chặt chẽ, có thể ảnh hưởng xấu tới toàn hệ thống và con người trong ngành ngân hàng. “Ở đâu cũng thế thôi, có bao cấp là có tiêu cực”, ngay lúc đó Thống đốc và nhiều chuyên gia trong ngành đã mường tượng tới nhưng hệ lụy phát sinh từ gói kích cầu.

Hai ngày sau, Vụ Chính sách Tiền tệ đã phác thảo xong “bộ khung” và trình lên phương án kích thích kinh tế bằng cách hỗ trợ lãi suất, giải ngân qua hệ thống ngân hàng. Gói giải pháp này được ngành ngân hàng đánh giá có nhiều ưu điểm, không chỉ hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp mà còn gắn với lợi ích và trách nhiệm của từng ngân hàng thương mại. Vốn được giải ngân theo cơ chế thông thường, phần hỗ trợ lãi suất 4% từ ngân sách được trả lại ngân hàng sau khi đã cấp bù cho doanh nghiệp.

Mặc nhiên, ngân hàng thương mại được lợi vì gói hỗ trợ lãi suất sẽ kích thích nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và ngân hàng bớt áp lực cân đối chi phí đầu vào với lãi suất đầu ra. Nếu làm tốt, cả vốn lẫn lãi của ngân hàng vẫn được bảo toàn, tín dụng được khơi thông, điều mà không một hệ thống ngân hàng của quốc gia nào tại thời điểm đó làm được.

Tính toán rất căng thẳng và lường trước các tác dụng phụ, Ngân hàng Nhà nước thống nhất lựa chọn phương án này để trình Chính phủ và được thông qua ngày 23/1, tức 28 Tết Kỷ Sửu. 18h20 chiều hôm đó, toàn bộ thông tin về chính sách hỗ trợ lãi suất được công bố trên website Ngân hàng Nhà nước.

“Tự đặt mình vào địa vị một ông chủ doanh nghiệp, nếu khó khăn như vậy thì các phương án làm ăn sẽ như thế nào? Mà bất kỳ phương án nào cũng liên quan đến việc làm của người lao động. Nếu xếp xó nhà xưởng, máy móc thì liệu người lao động có công ăn việc làm? Rồi tâm lý của người lao động khi biết mình ăn Tết xong sẽ thất nghiệp, thử hỏi, cái Tết đó có ấm cúng, có còn dư vị của ba ngày Tết?”, nghĩ như vậy, Thống đốc và các cán bộ Ngân hàng Nhà nước xác định làm việc quên Tết để có thể sớm đưa chính sách vào triển khai.

Với thông tư hướng dẫn vừa được ban hành, cả ngành ngân hàng lao vào thực hiện ngay khi đi làm trở lại sau Tết. Ngân hàng lớn thì đăng ký giải ngân cả trăm nghìn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất, ngân hàng bé cũng ngót nghét chục nghìn, nhà nhà đua nhau tổ chức chương trình tập huấn khách hàng, ai nấy đều hăm hở, náo nức như tham gia phong trào thời chiến. Kinh phí của cả chương trình – 17.000 tỷ đồng theo kế hoạch được trích từ dự trữ ngoại hối quốc gia và dự kiến cho ra khoảng 420.000 tỷ đồng vốn vay hỗ trợ lãi suất. Ngay tháng 2, tháng đầu tiên triển khai chương trình, hơn 93.000 tỷ đồng đã được giải ngân. Đến hết tháng 3, con số này tăng thêm gấp đôi.

Gói kích thích tổng trị giá 8 tỷ USD, trong đó hỗ trợ 4% lãi suất là một phần quan trọng, đã giúp vực dậy hoạt động sản xuất kinh doanh đang trong tình trạng suy giảm. Sản xuất công nghiệp ổn định trở lại và tăng 2,1% vào cuối quý I, sau khi giảm tới 4,4% trong tháng đầu năm 2009. GDP tăng trưởng 3,1% trong quý I và có khả năng tăng dần trong các tháng tiếp theo. Sức tiêu thụ trong nước dần phục hồi, thị trường chứng khoán và bất động sản cũng phát những tín hiệu tích cực. Hầu hết doanh nghiệp khó khăn đã khôi phục hoạt động sản xuất, thu hút lao động trở lại làm việc.

Tuy nhiên, khi những đồng vốn kích cầu bắt đầu ngấm vào nền kinh tế, cũng là lúc các tác dụng phụ của liều thuốc này xuất hiện. Dư luận bắt đầu lo ngại về chuyện vốn kích cầu đến không đúng địa chỉ, thậm chí làm thị trường chứng khoán và bất động sản sốt ảo.

Sức ép tăng trưởng tín dụng bắt đầu xuất hiện vào cuối tháng 6 đầu tháng 7. Theo kế hoạch đầu năm, nếu tăng trưởng kinh tế cả năm là 6,5% thì tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 21-23% là vừa. Nhưng chỉ trong 6 tháng đầu năm, lượng vốn cho vay ra đã tăng 17,01% so với cuối năm 2008 và tiếp tục tăng thêm 2,15% trong tháng 7. Các tháng tiếp theo, lượng vốn mà hệ thống ngân hàng cho vay với nền kinh tế luôn cao hơn vốn huy động được.

Tỷ giá cũng là vấn đề đau đầu. Chính sách hỗ trợ lãi suất chỉ áp dụng với vốn vay tiền đồng, vì thế đã nảy sinh tâm lý ngại vay đôla. Doanh nghiệp nếu có nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ thì quyết mua đôla để trả đối tác, chứ không vay ngân hàng. Thậm chí có tình trạng vay tiền đồng để gom đôla. Hệ thống ngân hàng lâm vào cảnh dư thừa đôla cho vay nhưng không có để bán. Tỷ giá chợ đen được dịp leo thang, ngay trong ngân hàng cũng xuất hiện tình trạng hai giá, niêm yết một đàng, bán một nẻo. Các cơn sốt giá vàng càng khiến thị trường ngoại tệ thêm căng thẳng, khi giới đầu cơ gom đôla nhập lậu vàng. Một quan chức cấp vụ của Ngân hàng Nhà nước tâm sự, cả năm 2009 không ngày nào không bạc mặt, bạc đầu vì tỷ giá.

“Khi mới triển khai gói kích cầu, tôi lo lắm, vì thế giới chưa ai làm, hơn nữa lại kéo cả hệ thống ngân hàng tham gia. Và nó còn liên quan nhiều đến yếu tố đạo đức nữa”, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu hồi tưởng những ngày đầu triển khai gói hỗ trợ lãi suất. Nhưng ông tâm niệm thuốc nào cũng có tác dụng phụ và nếu dùng quá liều sẽ không tốt, điều quan trọng là khi xây dựng chính sách phải lường trước được những điều đó để có phương án xử lý phù hợp.

Đầu tháng 11/2009, khi Chính phủ đánh giá lại toàn bộ gói kích thích để xem xét kết thúc đúng thời hạn, một số ý kiến cho rằng nên kéo dài thêm một thời gian để tránh sốc cho doanh nghiệp vì nền kinh tế chưa khỏe lắm, nếu cắt đột ngột thì sẽ có vấn đề; các phản ứng phụ như tăng trưởng dư nợ nhanh, sức ép tỷ giá và chuyện lợi dụng sẽ có cách xử lý khác.

Tuy nhiên, Chính phủ vừa họp xong thì giá vàng lên ào ào, đặc biệt là trong ngày 11/11, đẩy đôla chợ đen leo lên mốc 20.000 đồng. Tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ cuối tháng, Thống đốc Giàu đã nêu quan điểm, nếu kéo dài chính sách hỗ trợ lãi suất thì sẽ ảnh hưởng rất xấu đến chính sách vĩ mô và một trong những thách thức lớn là chính sách tỷ giá. Chủ trương ngừng hỗ trợ 4% lãi suất ngắn hạn đúng thời điểm cũng được Quốc hội chấp thuận.

Những ngày cuối cùng của năm Kỷ Sửu, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu lại phải đặt bút ký quyết định tăng tỷ giá liên ngân hàng lần thứ hai trong vòng 3 tháng, một biện pháp mạnh tay với mong muốn trị dứt điểm tác dụng phụ của kích cầu. Tết Canh Dần, ông được thảnh thơi hơn một chút, có điều kiện về quê thăm họ hàng nội ngoại và dành thời gian thư thái cho riêng mình.

Phu nhân của ông đã sắm sẵn vài chiếc áo mới sáng màu để ông diện trong ngày Tết, những mong một năm xán lạn và thuận lợi trong công việc. Nhưng ông hiểu thách thức với ngành ngân hàng vẫn còn nặng nề, năm 2010 chính sách tiền tệ được xem là trọng tâm trong điều hành kinh tế thời hậu khủng hoảng.

Mà ngẫm lại, gần ba năm điều hành Ngân hàng Nhà nước, với ông không ngày nào không có thách thức. Phu nhân của ông vẫn ở trong Nam, khi có người hỏi tại sao không đưa bà ra Hà Nội sống cùng, ông cười: “Bả mà ra, tôi thức khuya làm việc sao được”. Ngay cả những lúc bận bịu nhất, ông vẫn cố gắng duy trì thói quen tự nấu ăn bữa tối bằng thức ăn do bà nhà chuẩn bị sẵn và gửi ra, để đảm bảo sức khỏe làm việc.

December 5, 2009

Nhìn lại hiệu quả gói kích cầu đầu tiên

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:11 am
Tags:

TBKTSG) – Thật sự Việt Nam có cần một gói kích thích kinh tế cho năm 2010? Phân tích hiệu quả của gói kích thích kinh tế năm 2009 sẽ giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn về vấn đề này.

Hoàn cảnh ra đời gói kích thích kinh tế

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu xuất hiện từ đầu năm 2008 và chính thức bùng nổ vào cuối quí 3-2008 với sự kiện phá sản của Leman Brother ngày 15-9-2008. Ngày 11-12-2008, Chính phủ đã có Nghị quyết số 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, các mục tiêu kinh tế của Việt Nam đặt ra cho năm 2009 vẫn rất tham vọng với GDP tăng 6,5%, xuất khẩu tăng 13%, đầu tư toàn xã hội đạt 39,5% GDP, lạm phát dưới 15%, thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) 4,82% GDP.
Đến hết quí 1-2009, khi so với cùng kỳ, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 3,1%, xuất khẩu chỉ tăng 2,4% (nếu loại trừ 2,3 tỉ đô la tái xuất vàng thì kim ngạch xuất khẩu giảm tới 15%), vốn đầu tư tuy tăng 9%, song vốn FDI lại giảm tới 32% thì chúng ta mới đánh giá hết được tác động sâu sắc của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt là tới kim ngạch xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, thông qua đó làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy vậy, đến nửa cuối tháng 6-2009, chúng ta mới điều chỉnh các mục tiêu kinh tế cơ bản trong bối cảnh đã triển khai thực hiện gói kích cầu từ đầu tháng 2-2009.

Theo Nghị quyết Quốc hội ngày 19-6-2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế được điều chỉnh giảm xuống còn 5%, xuất khẩu chỉ tăng 3%, CPI tăng dưới 10%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại không điều chỉnh trong khi thâm hụt NSNN được điều chỉnh lên 7% GDP.

Hiệu quả

Về bản chất, tuy không hẳn là gói kích cầu như ở nhiều nước khác nhưng gói kích thích kinh tế năm 2009 (gói 1) vẫn dựa trên việc nới lỏng cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, bao gồm cả tăng tín dụng, giảm lãi suất, tăng chi tiêu NSNN và giảm thuế.

Liên quan đến việc nới lỏng chính sách tiền tệ

Tính đến 24-9-2009, vốn tín dụng theo Quyết định 131 ngày 23-1-2009 của Thủ tướng (gói hỗ trợ lãi suất 4%) đã giải ngân trên 405.000 tỉ đồng (95%), tín dụng theo Quyết định 443 (hỗ trợ lãi suất 4% cho vay trung và dài hạn) và Quyết định 497 (hỗ trợ lãi suất cho nông nghiệp nông thôn) trên 34.000 tỉ đồng, giải ngân tín dụng bảo lãnh qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên 10.000 tỉ đồng (59%). Tổng số tiền hỗ trợ lãi suất chuyển cho các tổ chức tín dụng ước thực hiện năm 2009 khoảng 10.000 tỉ đồng (59%). Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), gói hỗ trợ lãi suất đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận lãi suất thấp, thông qua đó, hạ giá thành sản phẩm, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động, tuy nhiên lại không có số liệu chứng minh cụ thể. Thực tế cho thấy đã có sự trùng lắp về đối tượng hỗ trợ lãi suất, việc triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với chính sách nới lỏng tiền tệ làm tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao, gây sức ép tăng lãi suất và lạm phát.

Theo các đánh giá khác nhau, có tới 80-92% số doanh nghiệp không được hưởng chính sách ưu đãi này và tổng tín dụng ưu đãi lãi suất cũng chỉ chiếm khoảng 80% tổng tín dụng. Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay 4% là quá lớn, nên kéo dài sẽ phát sinh tâm lý ỷ lại sự hỗ trợ của Nhà nước. Đến nay, hiệu quả thật sự của gói hỗ trợ lãi suất 4% chưa được chứng minh trong khi những hệ lụy tiêu cực của nó là rất lớn, làm “méo mó” thị trường tín dụng đang tăng trưởng quá nóng.

Tín dụng đối với nền kinh tế ước đến cuối tháng 10 đã tăng 33,29%, trong khi huy động vốn chỉ tăng 25,72%. Theo dự báo của IMF, từ đầu năm 2009, tín dụng chỉ cần tăng 12,9% đã đảm bảo cho Việt Nam tăng trưởng kinh tế khoảng 4%. Tăng trưởng tín dụng nhanh đã gây sức ép tăng lãi suất, dẫn đến hệ quả là tăng chi phí vốn, làm tăng giá thành sản xuất, khiến việc huy động vốn trái phiếu chính phủ gặp nhiều khó khăn.

Liên quan đến chính sách tài khóa

Tính đến đầu tháng 10-2009, tổng số vốn NSNN đã ứng trước kế hoạch năm 2009 được hoãn thu hồi là 3.400 tỉ đồng (100%). Vốn ứng trước kế hoạch 2010-2011 cho các chương trình dự án đến ngày 30-6-2009 là 15.492 tỉ đồng; vốn ứng trước năm 2010-2011 để bổ sung cho các dự án quan trọng cấp bách là 12.627 tỉ đồng (47%); tổng vốn ứng trước cho kiên cố hóa kênh mương, cấp bù chênh lệch lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì lao động… khoảng 37.100 tỉ đồng (99,7%).

Nguồn vốn NSNN kế hoạch năm 2008 được kéo dài giải ngân đến hết tháng 6-2009 thực hiện khoảng 22.000 tỉ đồng (97,8%). Vốn trái phiếu chính phủ chuyển nguồn sang năm 2009 giải ngân đến hết tháng 8-2009 đạt 4.500 tỉ đồng (60%). Vốn phát hành bổ sung trái phiếu chính phủ, ước đến hết tháng 9-2009 giải ngân được khoảng 10.000 tỉ đồng (50%). Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho biết có tới 36/40 đợt phát hành trái phiếu không thành công.

Vị trí đặt quảng cáoTổng thu ngân sách được miễn, giảm, giãn đến hết 7-2009 khoảng 14.700 tỉ đồng, ước cả năm khoảng 20.000 tỉ đồng (71%), trong đó giảm, giãn thuế thu nhập doanh nghiệp khoảng 9.900 tỉ đồng; giảm thuế giá trị gia tăng khoảng 4.470 tỉ đồng; miễn thuế thu nhập cá nhân khoảng 4.507 tỉ đồng; giảm thu lệ phí trước bạ khoảng 1.140 tỉ đồng. Ngoài ra, giảm, giãn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất nhập khẩu năm 2009 khoảng 7.000 tỉ đồng, trong đó giảm thu do giảm thuế 50% tại khâu nhập khẩu ước khoảng 5.000 tỉ đồng; giãn nộp thuế 180 ngày cho máy móc thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng ước khoảng 2.000 tỉ đồng. Mặc dù thực hiện miễn giảm thuế như vậy nhưng Ủy ban Tài chính ngân sách Quốc hội vẫn đánh giá thu NSNN năm 2009 vẫn vượt khoảng 2,9% so với dự toán.

Bộ KH&ĐT đánh giá, việc thực hiện các ưu đãi về thuế là khẩn trương, đúng đối tượng, góp phần giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, tạo chuyển biến tích cực cho nền kinh tế. Tuy vậy cũng không có số liệu cụ thể chứng minh cho nhận định này.

Ngoài ra, Chính phủ đã cho phép mua dự trữ gạo trị giá 1.300 tỉ đồng, xăng dầu trị giá 1.500 tỉ đồng; ứng chi hỗ trợ hộ nghèo ăn Tết Kỷ Sửu, hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn, hỗ trợ thay thế xe công nông, xe ba bánh, khắc phục thiên tai… tổng cộng khoảng 7.000 tỉ đồng.

Nới lỏng chính sách tài khóa đã dẫn tới hệ quả trực tiếp là bội chi ngân sách lên đến 6,9% GDP chưa tính đến các khoản chi từ nguồn trái phiếu chính phủ, các khoản Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại. Nợ chính phủ cũng tăng mạnh từ 36,5% GDP năm 2008 lên đến 40% GDP năm 2009 và năm 2010 dự kiến khoảng 44% GDP.Kết quả tổng hợp của gói 1 là góp phần tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, quí sau cao hơn trước, dự kiến quí 4 tăng 6,8% và cả năm đạt mục tiêu 5-5,2%. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu đến hết quí 3 vẫn giảm tới 14,3% so với cùng kỳ (cập nhật đến cuối tháng 11 chỉ còn giảm 11,4%) và tổng vốn đầu tư vẫn tăng 14,4%, trong đó vốn đầu tư nhà nước tăng tới 45,5%, vốn ngoài nhà nước tăng 12,6% nhưng vốn đầu tư nước ngoài lại giảm 11,2% so với cùng kỳ. Dự kiến tổng vốn đầu tư cả năm lên tới 42,2%GDP.

Có tiếp tục hay không?

Như vậy, gói kích thích kinh tế của năm 2009 đã góp phần giải quyết được một số vấn đề trước mắt về tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2009 nhưng những hệ quả tiêu cực mà nó để lại tương đối dài cả đối với khả năng tăng trưởng bền vững cũng như khả năng ổn định kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, cần hết sức thận trọng khi quyết định triển khai các biện pháp kích thích kinh tế cho năm 2010 và các năm tiếp theo.

Theo tính toán của Bộ KH&ĐT, tốc độ tăng trưởng năm 2010 tăng 6,5%, lạm phát khoảng 7-8%, GDP theo giá thực tế đạt khoảng 1.931 ngàn tỉ đồng, xấp xỉ 106 tỉ đô la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 1.200 đô la, nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2010 đạt khoảng 801.000 tỉ đồng, bằng khoảng 41,5% GDP… Các mục tiêu này tuy tương đối cao nhưng vẫn có thể đạt được thông qua các biện pháp khác, không mang tính cấp bách, tình thế như gói kích thích kinh tế vừa qua mà nên gắn bó chặt chẽ với chiến lược phát triển tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế đảm bảo tăng trưởng ổn định, bền vững và hiệu quả hơn.

Vũ Đình Ánh (Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả)

April 10, 2009

Gói kích cầu lần 2 nếu lạm dụng ắt nảy sinh tiêu cực 040909

Dù nhìn nhận gói kích thích lần hai hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn là phù hợp trong bối cảnh hiện tại, song giới chuyên gia cho rằng, chỉ nên coi đây là giải pháp tạm thời, nếu lạm dụng sẽ phát sinh tiêu cực, tạo cơ chế xin cho và tâm lý ỷ lại trong doanh nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong – Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế xã hội – Viện nghiên cứu kinh tế – xã hội Hà Nội nhìn nhận, xét về mặt toàn diện thì việc đưa ra gói kích cầu bổ sung đảm bảo duy trì sự ổn định và mục tiêu tập trung của Chính phủ trong các giải pháp kích cầu. Các khoản hỗ trợ lãi suất đầu tư trung và dài hạn này sẽ giúp cho doanh nghiệp tự tin và an toàn hơn trong việc đầu tư vay vốn, cải cách cơ cấu sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh…

Dù vậy, ông Phong cũng cho rằng, gói hỗ trợ không mang tính dài hạn, về lâu dài dễ gây ra lạm dụng, sử dụng không hiệu quả. Nhà nước phải có cơ chế rõ ràng để chống hiện tượng lạm dụng như ngân hàng và doanh nghiệp bắt tay nhau tạo ra khoản vay ảo với lãi suất hỗ trợ sau đó là chia chác kiếm lời, hay hiện tượng doanh nghiệp lạm dụng vay nhưng lại không đầu tư theo cam kết mà dùng để trả nợ, đáo hạn rồi gửi lại ngân hàng ăn lãi…

Doanh nghiệp được hưởng lợi từ gói kích cầu. Ảnh: Hoàng Hà.

Theo ông Phong, không nên quá nhấn mạnh vào chuyện hỗ trợ lãi suất mà cần bổ sung thêm một số công cụ hỗ trợ khác, như bảo lãnh tín dụng liên quan đến quỹ đầu tư mạo hiểm, cho vay thu mua tài chính hay các công cụ tuyên truyền sao cho có hiệu quả hơn.

Đồng tình với quan điểm này, ông Bùi Kiến Thành, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý tài sản quốc tế nói: “Gói kích cầu thứ hai chọn chính sách tiền tệ với lãi suất hỗ trợ, tức là Nhà nước dốc ngân sách ra để trả cho ngân hàng 4% lãi suất để doanh nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi. Đây là một cách làm theo tôi không mang tính lâu dài, gây lãng phí tiền của ngân sách Nhà nước. Lẽ ra hàng chục tỷ đồng ngân sách này phải được sử dụng vào nhiều việc khác”.

Theo ông, Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có thể “cào bằng” một mức lãi suất thấp có thể 5%, 6% hay 7% thay vì mức 10,5% hiện hành mà không cần dùng đến gói kích cầu cả chục tỷ đồng ngân sách. Còn nếu một thị trường mà có tới 2 loại lãi suất ưu đãi (4%) và không ưu đãi (10,5%) thì sẽ tạo ra một sân chơi không bình đẳng, doanh nghiệp rất khó cạnh tranh lành mạnh.

Ông Thành cho rằng, việc liên tiếp đưa ra gói kích cầu đã xuất hiện một tâm lý ỷ lại và kéo tụt nền kinh tế của VN quay trở lại thời kỳ bao cấp và bảo hộ. Tức là nhảy từ thời kỳ tiến bộ về thời kỳ bao cấp, quan liêu dễ dẫn đến cơ chế xin cho. Chưa kể, việc hỗ trợ lãi suất như vậy sẽ đẩy nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đứng trước nguy cơ có thể bị kiến phá giá khi hàng được xuất sang các nước khác. Doanh nghiệp được sử dụng khoản vốn này dù là đầu tư hạ tầng, máy móc thiết bị hay sản xuất trực tiếp hàng xuất khẩu cũng đều được coi là bằng chứng để các đối tác nước ngoài kiện lại.

“Theo tôi, gói hỗ trợ của Chính phủ chỉ nên coi là giải pháp nhất thời chứ không nên lạm dụng. Ngân sách không phải là vô tận để có thể tiếp tục chi tới 4% lãi suất… ngân sách còn phải được sử dụng vào rất nhiều việc khác nữa”, ông Thành nhấn mạnh.

Tiến sĩ Phạm Minh Trí, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật và Quản lý Kinh tế TP HCM cũng cho rằng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp VN giờ đây là cạnh tranh tồn vong, một mất một còn trong cơn bão táp ác liệt, chứ không như trong điều kiện phát triển bình thường trước đây. Trong bối cảnh này, kinh tế VN không thể chống suy giảm thành công nếu chỉ bằng những gói giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng đang được triển khai và bằng lòng với những giải pháp đó mà không quan tâm đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Ông Trí cho rằng những nhược điểm của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh yếu kém của VN vẫn còn nguyên và chưa được khắc phục. Do vậy, cần có những nhóm giải pháp tổng thể cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngay từ trong giai đoạn hiện nay. Trong đó việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, hoạch định chính sách ở cấp vĩ mô, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và sức cạnh tranh quốc gia của VN phải được cải tiến…

Một chuyên gia cao cấp khác thì nhấn mạnh sự minh bạch của gói kích cầu là vấn đề hết sức quan trọng, vì tất cả các gói kích cầu trên thế giới hiện nay đều có vai trò giám sát của Quốc hội. Đối với hoạt động tín dụng, giám sát bao giờ cũng là công việc khó khăn vì luôn bất đối xứng về thông tin, người vay thường “vẽ” ra các dự án rất đẹp, người cho vay không có nhiều cơ sở để biết người ta vay tiền cho mình để làm gì, hiệu quả ra sao. Kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn vay lưu động sẽ dễ dàng hơn so với cho vay dự án. Do đó, việc giám sát cho vay đối với gói kích cầu thứ hai cần phải hết sức lưu ý.

Gói kích thích kinh tế lần hai được Chính phủ công bố hôm 6/4 nhằm cung cấp bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp, song hướng vào các nguồn vốn trung và dài hạn trong khoảng thời gian tối đa 24 tháng. Việc hỗ trợ lãi suất này được thực hiện từ ngày 1/4/ 2009 đến hết ngày 31/12/2011.

Trước đó ngày 23/1, Chính phủ công bố gói kích thích kinh tế lần một với lãi suất hỗ trợ 4% đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng trong thời gian tối đa là 8 tháng, kết thúc vào ngày 31/12/2009. Vốn vay này nhằm giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh, và tạo công ăn việc làm trong điều kiện nền kinh tế bị tác động bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.

Tiến sĩ Phạm Minh Trí cũng đề xuất một số giải pháp nhằm vào các mục tiêu chủ yếu gồm:

– Có chính sách đầu tư đổi mới công nghệ, hổ trợ doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, cải tiến kỹ thuật, nhất là đối với các dự án công nghệ mới để tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong bối cảnh hiện nay đầu tư đổi mới công nghệ có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.

– Khẩn trương nâng cao chất lượng nguồn lao động thông qua việc đẩy mạnh đào tạo công nhân kỹ thuật, lao động có tay nghề, kỹ sư thực hành, nhân viên quản ly cao cấp, giám đốc điều hành, đáp ứng nhu cầu mới của doanh trong điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong nước và ngoài nước và nhu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh mới.

– Cải cách hành chính triệt để, nâng cao chất lượng dịch vụ công, cải tiến chính sách thuế nhằm góp phần giảm chi phí xã hội, giúp doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

– Về mặt quản lý vĩ mô, Nhà nước cần nâng cao chất lượng điều hành, quản lý, hoạch định chính sách, quyết sách, nâng cao chất lượng công tác dự báo kinh tế. Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, suy thoái, suy giảm kinh tế hiện nay có nhiều yếu tố khách quan khó dự đoán chính xác nên càng phải hết sức thận trọng trong dự báo, nhất là những dự báo lạc quan thái quá để tránh những quyết sách vội vàng, thiếu cân nhắc đầy đủ mọi yếu tố kinh tế, chính trị – xã hội. Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

– Xây dựng chiến lược phát triển công nghệ quốc gia, chiến lược sản phẩm, quản trị doanh nghiệp, chiến lược phát triển trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

– Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, tư vấn, phản biện xã hội đối với điều hành, quản lý vĩ mô, các dự án phát triển kinh tế – xã hội nhằm tránh những quyết sách, quyết định thiếu cân nhắc đầy đủ mọi yếu tố kinh tế, chính trị – xã hội không phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội.

April 6, 2009

Việt Nam đưa ra gói kích thích kinh tế thứ hai 060409

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:18 pm
Tags: , ,

Gói kích thích kinh tế này nhằm cung cấp bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp, song hướng vào các nguồn vốn trung và dài hạn trong khoảng thời gian tối đa 24 tháng.

Gói hỗ trợ thứ hai của Chính phủ sẽ tập trung cho phát triển hạ tầng. Ảnh: Hoàng Hà.

Việc hỗ trợ lãi suất này được thực hiện từ ngày 1/4/ 2009 đến hết ngày 31/12/2011. Đó là nội dung Quyết định 443 do Thủ tướng ban hành và có hiệu lực ngày 4/4/2009. Đối tượng áp dụng vẫn là các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển Việt Nam, công ty tài chính thực hiện hỗ trợ lãi suất theo quy định của Thủ tướng trước đây về việc cho vay hỗ trợ lãi suất từ đầu tháng 1/2/2009 tới hết ngày 31/12/2009.

Các khoản vay được hỗ trợ lãi suất là khoản vay trung, dài hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất kinh doanh, kết cấu hạ tầng ký kết trước và sau ngày 1/4/2009 mà thực tế giải ngân từ ngày 1/4/2009 được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về chế độ báo cáo thống kê thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế. Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay là 4% một năm, tính trên số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế. Khi thu lãi tiền vay, các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển Việt Nam, công ty tài chính giảm trừ số lãi tiền vay được hỗ trợ cho khách hàng vay.

Thủ tướng yêu cầu các ngân hàng thương mại, ngân hàng Phát triển Việt Nam, công ty tài chính không được từ chối hỗ trợ lãi suất nếu khoản vay thuộc đối tượng được hỗ trợ lãi suất, đồng thời có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng để đảm bảo việc vay được thực hiện thuận tiện, an toàn và đúng đối tượng.

Đối với khách hàng vay thuộc đối tượng hỗ trợ lãi suất phải sử dụng vốn vay đúng mục đích thuộc đối tượng hỗ trợ lãi suất đã ghi trong hợp đồng tín dụng, hạch toán chi trả lãi tiền vay và số lãi tiền vay được hỗ trợ theo đúng quy định của pháp luật.

Gói kích thích kinh tế thứ nhất được Chính phủ công bố hôm 23/1. Trong đó hỗ trợ lãi xuất 4% đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng trong thời gian tối đa là 8 tháng, kết thúc vào ngày 31/12/2009. Vốn vay này nhằm giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh, và tạo công ăn việc làm trong điều kiện nền kinh tế bị tác động bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.

Đầu tháng 3/2009 vừa qua, Thủ tướng đã quyết định bổ sung đối tượng được thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất là các công ty tài chính. Kết quả sau 2 tháng triển khai Chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ, hơn 202.130 tỷ đồng tiền vốn vay hỗ trợ lãi suất đã đến các đối tượng đang cần vay vốn

March 30, 2009

Gói kích cầu 18.000 tỉ đồng: Hà Nội chi vào đâu? 032509

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 9:16 pm
Tags: , , ,
Các ngân hàng thương mại tại Hà Nội được cho là đã tích cực tham gia vào các chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất của Chính phủ

UBND TP Hà Nội vừa báo cáo Văn phòng Chính phủ dự kiến tập trung gói kích cầu 18.000 tỉ đồng chủ yếu cho các dự án kỷ niệm Đại lễ nghìn năm Thăng Long, dự án xây dựng hạ tầng, nhà ở xã hội và xã hội hóa đầu tư trên địa bàn Thủ đô…

Theo đó, 2.000 tỉ đồng dự kiến phân bổ cho các dự án kỷ niệm nghìn năm Thăng Long; 800 tỉ đồng cho các dự án xây dựng hạ tầng xã hội (600 tỉ đồng xây dựng trường học, xóa phòng học tạm…; 200 tỉ đồng xây bệnh viện, trạm y tế…); 2.000 tỉ đồng xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân khu công nghiệp, nhà tái định cư, xóa nhà dột nát…

Bên cạnh đó, các dự án đầu tư theo hình thức BT, BOT và xã hội hóa đầu tư trên địa bàn Thủ đô sẽ được phân bổ 6.300 tỉ đồng từ gói kích cầu này; các dự án xây dựng hạ tầng đô thị (nhất là hạ tầng giao thông) được 1.800 tỉ và các dự án xây dựng hạ tầng nông nghiệp, nông thôn (đê, kè, hệ thống thủy lợi, giao thông nông thôn…) được 5.000 tỉ.

Ngoài ra, 250 tỉ đồng sẽ được tập trung cho các chính sách hỗ trợ kinh phí từ ngân sách.

Để thực hiện việc này, Thành phố Hà Nội cho biết đã kịp thời ban hành một số văn bản hướng dẫn hỗ trợ lãi suất, miễn thuế, giảm thuế, ân hạn nộp thuế… nhằm đẩy mạnh hợp tác kinh doanh trong tình hình suy thoái hiện nay.

Được biết, tổng số chi ngân sách địa phương năm 2009 giao đầu năm cho Hà Nội là 24.494 tỉ đồng, trong đó 11.847 tỉ đồng chi đầu tư phát triển.

Các ngân hàng thương mại tại Hà Nội được cho là đã tích cực tham gia vào các chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Dự kiến đến hết tháng 3/2009, những ngân hàng có hội sở chính tại Thủ đô sẽ giải ngân được khoảng 30.000 tỉ đồng.

March 16, 2009

TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS: Thận trọng khi bù lãi suất!

(SGGP 12G).031609 – Những chính sách kích cầu ngăn chặn suy giảm kinh tế của Chính phủ đã được triển khai đồng bộ từ cuối tháng 2. Hiện nay, Chính phủ cũng đã bước đầu nhận định, việc triển khai các giải pháp đã giúp nền kinh tế có những chuyển biến tích cực ban đầu. Tuy nhiên, hiện cũng đã có nhiều phản ánh cho thấy, giữa cơ chế và doanh nghiệp vẫn chưa gặp nhau trong vấn đề bù lãi suất 4%. TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS cho biết:
Theo tôi, nếu quá tập trung vào giải pháp này sẽ không hiệu quả. Tôi đồng ý giải pháp này sẽ giúp hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp (DN) đỡ phá sản, đỡ sa thải lao động. Nhưng theo tôi được biết, trong hơn 110.000 tỷ đồng đã cho vay bù lãi suất, số lượng đáo nợ chiếm nhiều.

Rõ ràng, hiệu quả mong đợi từ việc bù lãi suất (là tăng trưởng tín dụng) rất ít, không tăng được cầu, dẫn đến hiệu quả kích cầu là không như ý muốn. Đó là chưa kể việc bù lãi suất này nếu làm không chắc chắn sẽ rất dễ gây tiêu cực như chính Thủ tướng đã cảnh báo.Ngoài ra, theo tôi, nếu tập trung quá vào việc bù lãi suất cho DN thì sẽ “giúp” DN giấu sự yếu kém, kéo trễ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. DN có thể nhờ vào nguồn vốn lãi suất thấp này mà kéo dài sự “lay lắt” của mình, càng làm cho nền kinh tế yếu đi, mà lẽ ra phải tận dụng cơ hội này để cơ cấu lại nền kinh tế.
– PV: Vậy theo ông, nếu không nên quá tập trung vào việc bù lãi suất, thì giải pháp kích cầu của Chính phủ cần tập trung vào lĩnh vực nào?

– TS NGUYỄN QUANG A: Chính phủ cần đầu tư mạnh vào giáo dục đào tạo, hạ tầng nông thôn, duy trì việc làm cho người lao động. Theo tôi cần hỗ trợ trực tiếp cho người lao động. Tất nhiên, không thể hỗ trợ thông qua Bộ LĐ-TBXH vì chúng ta đều biết Bộ LĐ-TBXH vẫn chưa có cách để nắm chắc số lượng lao động bị mất việc. Thay vào đó, để hỗ trợ trực tiếp người lao động, Chính phủ có thể thông qua DN, qua Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi nắm số lao động bị mất việc. Điều đó có nghĩa là Chính phủ cần tiếp tục bổ sung các giải pháp kích cầu nền kinh tế.

– Thưa ông, trừ biện pháp hỗ trợ trực tiếp người lao động mất việc làm chưa triển khai do không thể nắm chắc số lượng lao động, còn tất cả những giải pháp mà ông vừa đề cập đều đang được Chính phủ triển khai?

– Tôi muốn nhấn mạnh là việc đầu tư của Chính phủ vào giáo dục – đào tạo, hạ tầng nông thôn phải làm thật ráo riết thì mới có hiệu quả. Đây là lúc Chính phủ cần đầu tư cho hệ thống đường sá, sửa cầu đường, duy tu cảng… những gì có thể làm ngay và hiệu quả thì cần ráo riết làm. Nếu chỉ làm chậm thôi thì hiệu quả đã rất khác. Đó là chưa kể có những việc chúng ta đã làm, nhưng hiệu quả không như ý muốn.

– Cụ thể là gì thưa ông?

– Tôi cho rằng, việc giãn thuế thu nhập cá nhân là không cần thiết. Bản thân tôi mỗi tháng cũng được hoãn 3-4 triệu đồng, nhưng như thế là đang kích cầu cho người giàu, trong khi đối tượng cần kích cầu nhất phải là người nghèo, người có thu nhập thấp. Tôi cũng cho rằng, Chính phủ chưa nên bàn tới việc tăng học phí trong năm nay, vì như vậy là đi ngược với mục tiêu kích cầu.

– Ông dự báo như thế nào về hiệu quả của đợt kích cầu này?

– Tôi cho rằng nếu chỉ chăm chăm vào việc bù lãi suất thì việc kích cầu sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn. Hiện nay cũng đã có động thái cho thấy, Chính phủ đã và đang chuẩn bị nguồn lực để thực hiện kích cầu đợt 2 (qua việc phát hành trái phiếu trong nước bằng ngoại tệ nhằm huy động 115.000 tỷ đồng). Khi kích cầu đợt 2, việc rót vốn vào đâu là điều mà Chính phủ phải hết sức cân nhắc.

Điều cần làm bây giờ là Chính phủ cần cập nhật thông tin giúp đánh giá sát hơn thực trạng nền kinh tế. Qua đó lường trước được những đối tượng nào dễ bị “ảnh hưởng” và đưa ra các giải pháp kịp thời. Chúng ta cần nhớ, cách đây 10 năm, Việt Nam đã thực hiện chính sách kích cầu. Việc kích cầu được kéo dài vì thế đã làm nền kinh tế tăng trưởng nóng, tạo nên những bất ổn của kinh tế vĩ mô. Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi dùng các biện pháp kích cầu.

March 12, 2009

GS.TS Hồ Đức Hùng: “Nên chú trọng gói kích cầu trực tiếp” Lao Động Cuối tuần số 10 Ngày 08/03/2009

LĐCT) – Là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế phát triển thuộc Đại học Kinh tế TPHCM, GS.TS Hồ Đức Hùng thường đưa ra những ý kiến phản biện cho những chính sách vĩ mô và vi mô.

Một số dự báo của ông khá chính xác, giúp điều chỉnh những lỗ hổng trong quản lý của doanh nghiệp (DN). Ngoài công việc giảng dạy, ông còn tham gia đào tạo đội ngũ CEO (GĐ điều hành) VN, cùng êkíp tham gia chương trình “Lãnh đạo doanh nghiệp” trên HTV4 (Đài truyền hình TPHCM) hàng tuần.

Nhiều chuyên gia cho rằng, đừng quá trông mong vào gói kích cầu, vì chính sách thì đúng, nhưng phản ứng của người tiêu dùng có thể rất khác so với tính toán của các nhà làm chính sách. Ông nghĩ sao về điều này?

– Kích cầu (đúng hơn là gói kích thích kinh tế) về nguyên lý có 2 loại: Kích cầu tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp (qua đầu tư và sản xuất). Trước hết, phải tính đến hiệu quả của nó về mặt trước mắt và lâu dài. Vậy phải biết phần nào mang tính chất trực tiếp để thúc đẩy sự lây lan những sản xuất gián tiếp về sau.

Trong giai đoạn này, Thái Lan và Trung Quốc cũng đưa ra những gói kích cầu, nhưng cách thức khác nhau. Thái Lan mạnh về gói trực tiếp, vì đây là quan điểm kích thích tiêu dùng. Trong điều kiện hiện nay kích về tiêu dùng của VN còn chưa đủ liều lượng, nhiều mặt hàng bị ứ đọng, những mặt hàng xuất khẩu trì trệ bắt đầu dồn lại thị trường trong nước. Việc kích cầu trực tiếp tiêu thụ là cần thiết để tiếp tục đẩy sản xuất lên.

Ví dụ, kích ngay những thành phần chịu sự giảm sút về thu nhập, đang gặp khó khăn trong cuộc sống như những người nghèo, công nhân, học sinh, sinh viên, viên chức… Thái Lan hỗ trợ cho người dân thu nhập thấp (dưới 15.000 baht/tháng- khoảng 420USD) mỗi người số tiền 2.000 baht. Thêm vào đó, các DN phải thực hiện các biện pháp khuyến mãi. Nhà nước khuyến khích DN một phần, như giảm thuế cho DN.

Nên nhớ là giảm thuế chứ không phải là giãn thuế, vì nếu chỉ giãn thuế thì người ta vẫn còn chịu sức ép tâm lý rồi đây sẽ phải trả nợ. Như vậy, có thể thấy gói kích cầu của ta không triệt để.

Vấn đề thứ hai, là kích cầu của ta có phần đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Đó cũng là điều cần thiết vì kích thích lây lan đến các ngành nghề, lĩnh vực khác. Nhưng cũng nên cân nhắc, vì đầu tư cơ sở hạ tầng của ta thời gian vừa qua cũng có nhiều vấn đề như lãng phí, tiêu cực cộng với tham nhũng. Đầu tư hơi tràn lan, đặc biệt là đầu tư công quá nhiều mà kém hiệu quả. Chúng ta không phải cắt đầu tư công, mà nên mạnh dạn giảm đầu tư công. Đặc biệt là những dự án không hiệu quả.

Trên thực tế, trong năm nhóm giải pháp, gói đảm bảo an sinh xã hội còn chưa thật sự được chú trọng. Và nhiều người lo ngại ít DN vừa và nhỏ được nhận hỗ trợ về vốn.

– Thì như đã nói, chính đó cũng là gói kích thích trực tiếp: Vấn đề an sinh xã hội, vấn đề giải quyết thất nghiệp, vấn đề thu nhập cho người nghèo. Còn kích thích sản xuất thì cần chú ý đến kinh tế tư nhân. Chúng tôi luôn nhấn mạnh điểm này. Nhưng ở đây nảy sinh nhiều vấn đề là DN nào được chọn. Thế nên phải có cơ chế để giảm tiêu cực trong việc chọn DN để hỗ trợ về lãi suất, vốn, tín dụng.

Thứ ba cực kỳ quan trọng là thị trường. Thị trường nông thôn hoàn toàn bỏ ngỏ. Trong khi danh chính ngôn thuận, thị trường này chiếm 70%.

Dường như vấn đề mấu chốt vẫn chưa được giải quyết, đó là tình trạng neo giữ đồng tiền Việt quá lâu, có đúng vậy không, thưa ông?

– Có khi phải có những đột phá về phá giá, dám chấp nhận rủi ro lớn. Thực ra, những tiềm ẩn về lạm phát xuất phát từ nền kinh tế của ta không được khoẻ: Nhập vẫn là nhập siêu.

Thứ hai, là thu chi ngân sách vẫn là chi quá lớn so với thu.

Thứ ba, năng suất cạnh tranh kém.

Thứ tư, đầu tư công chiếm tỉ trọng rất lớn nhưng hiệu quả thấp. Hệ số ICOR quá lớn so với các nước trong khu vực.

Thứ năm, FDI của ta trong thời gian qua có thể nói đạt kỷ lục về mức thu hút, nhưng hiệu quả chưa cao, đại bộ phận vẫn còn đầu tư ở những ngành nghề lĩnh vực thương mại dịch vụ, bất động sản, chứng khoán là chính, trong khi đầu tư vô sản xuất thì rất ít: Vô công nghiệp, chỉ 10%, vô nông nghiệp chỉ 0,1%. Chưa nói FDI vào những lĩnh vực mà mình phải trả giá sau này: FDI vô sân golf, vô lĩnh vực ô nhiễm môi trường nặng, trong khi việc giải quyết ô nhiễm môi trường hiện nay vẫn lúng túng.

Phải giải quyết bài toán này về mặt vĩ mô mới triệt để được. Cho nên, các giải pháp hiện nay là một mặt làm thế nào thúc đẩy gia tăng kích cầu, nhưng mặt khác, phải kiềm chế lạm phát nặng. Muốn thúc đẩy gia tăng kích cầu, kiềm chế lạm phát mạnh, thì kích cầu đúng để vừa mang tác dụng trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài. Vậy những gì là trước mắt thì tôi nghĩ phải nên kích cầu trực tiếp.

Phải chăng, yếu tố nhân sinh vẫn chưa được coi trọng trong chính sách này?

– Theo tôi nghĩ, vẫn còn quan niệm truyền thống dựa trên cơ sở phát triển sản xuất để cải thiện đời sống. Quan niệm đó không có gì sai cả, nhưng trong quá trình thực hiện chỉ đúng trong từng thời kỳ. Phải có những lúc trên cơ sở cải thiện đời sống mới thúc đẩy được sản xuất. Lúc này là lúc nên cải thiện đời sống. Dùng cầu để kích cung vì cung hiện nay ứ đọng, đầu tư không hiệu quả.

Vậy theo ông, bước tiếp cần thiết phải làm gì?

– Các giải pháp liên quan là nhìn lại cơ chế quản lý đầu tư công, xem lại biện pháp về thị trường, đặc biệt biện pháp thúc đẩy thị trường hàng tiêu dùng, thúc đẩy thị trường nông thôn. Cần xem lại các giải pháp về xuất khẩu để giúp hàng xuất khẩu quay trở lại thị trường nội địa trong thời điểm khó khăn này, chuyển đổi thị trường, chuyển đổi mặt hàng, đặc biệt, mấy thị trường hấp dẫn đang bị khủng hoảng, thì phải tìm đường ra.

Những DN mà ta cho vốn, vẫn thiếu điều cốt lõi là thị trường tiêu thụ, nên hỗ trợ cả mặt này. Như thế, họ mới mạnh dạn đầu tư, chứ ra hàng rồi mà không có thị trường thì làm sao đây. Đó là những giải pháp đồng bộ.

GS.TS Hồ Đức Hùng cùng các sinh viên cao học trường ĐH Kinh tế TPHCM.

Từ trong nguy cơ luôn có cơ hội tiềm ẩn. Lấy ví dụ từ sự sụp đổ của các chaebol ở Hàn Quốc vào năm 1999, nước này đã có cải tổ chính sách và vực dậy nền kinh tế. Còn ở ta là cơ hội gì, theo ông?

– Bài học của HQ và Thái Lan vẫn còn tiềm ẩn ở các tập đoàn. Việc hình thành các tập đoàn là một điều cần thiết để tạo ra quả đấm mạnh cho nền kinh tế. Nhưng mối nguy là cơ chế quản lý tập đoàn nếu không thể hiện qua luật pháp và hệ thống theo rõi đầy đủ thì sẽ là nơi phục vụ các nhóm lợi ích. Chính đó gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế vĩ mô.

Còn ngay trong thời suy thoái vẫn có cơ hội: Cơ hội về đầu tư, về chuyển hướng kinh doanh, cơ hội để tạo lập thị trường, phát triển sản phẩm mới cho hậu suy thoái. Và thậm chí có thể có cơ hội giải quyết ngay những vấn đề liên quan đến nhân sự, đặc biệt tổ chức đào tạo huấn luyện ngay trong thời kỳ này, thay vì thời kỳ trước bận rộn. Nghĩa là chúng ta vẫn có thể đầu tư về con người để chuẩn bị cho cơ hội tới.

Vậy chính sách thời hậu suy thoái sẽ phải như thế nào để vực dậy nền kinh tế, trên cơ sở thấy được những yếu kém nội tại?

– Những giải pháp đó tuỳ thuộc rất lớn vào các giải pháp hiện nay. Tôi nghĩ, nếu chúng ta thực hiện gói kích cầu một cách đầy đủ, đúng địa chỉ, có khả năng thực hiện và triệt để thì sẽ kích thích nền kinh tế vào cuối năm 2009 sẽ hồi phục. Và yếu kém nội tại vẫn chính là điều hành kinh tế vĩ mô.

Mà quản lý vĩ mô thì có mấy vấn đề lớn như sau: Một là cơ chế về quản lý đầu tư công. Thứ hai là chính sách về mặt tài chính và tài khoá (tức là những vấn đề có liên quan đến ngân sách). Thứ ba là chính sách về lãi suất và tỉ giá hối đoái. Lãi suất và tỉ giá hối đoái phải linh hoạt, chắc chắn không thể thắt chặt như trước đây và dần cũng phải có mở rộng, điều chỉnh phải linh hoạt kịp thời qua thời gian.

Trong cuộc hội thảo mới đây, ông có cho rằng trình độ của CEO VN rất đáng ngại, trong đó có 43% trình độ chỉ từ PTTH trở xuống. Hơn thế nữa, một trong những đặc điểm của DN VN là thiếu vốn, thiếu đoàn kết, hỗ trợ và thiếu tính cộng đồng. Vậy đó có phải là nguyên nhân vì sao ta chưa có được thương hiệu quốc gia được quốc tế công nhận?

– Phải có nhận thức, phải có sự hiểu biết về tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu. Và thường có suy nghĩ xây dựng thương hiệu phải có một chi phí lớn. Thật ra không phải chi phí lớn, vấn đề là anh phải chi phí hiệu quả để phát triển được thương hiệu. Nhưng giá trị thương hiệu cốt lõi vẫn là thực chất của sản phẩm phải tốt. Mình có xây dựng thương hiệu tốn kém mấy đi chăng nữa mà chất lượng sản phẩm thua sản phẩm của nước ngoài thì làm sao có được thương hiệu VN mạnh?

Việc xây dựng thương hiệu VN mạnh thì ít ra phải dựa trên cơ sở để khách hàng đánh giá chất lượng sản phẩm của anh tương đương nước ngoài. Và nếu tương đương thì mình mới hô khẩu hiệu Người Việt dùng hàng Việt được. Chất lượng kém mà phải yêu hàng nội thì coi bộ hơi khó, xét về mặt lâu dài.

Tính cộng đồng mình phải nói là thiếu hụt. Làm thế nào chúng ta có được văn hoá như người Hoa là phải biết hỗ trợ giúp đỡ nhau thực sự, cùng chia sẻ khó khăn với nhau. Hình như các thương hiệu mạnh chỉ lo cho họ, ít khi nào hỗ trợ cho DN nhỏ. Cho nên khó xây dựng được thương hiệu quốc gia. Khối cộng đồng, đoàn kết thực sự thì ít, hiệp hội chỉ có tính chất hình thức thì nhiều.

Cuộc đời ông theo đuổi điều gì?

– Có lẽ vẫn là hạnh phúc. Mà hạnh phúc là chấp nhận những gì mình có, hài lòng với những gì mình đạt được và với một ít tham vọng để đạt được hạnh phúc cao hơn.

– Xin cảm ơn ông.

GS.TS Hồ Đức Hùng từng tu nghiệp ở các nước Pháp, Canada và là giáo sư thỉnh giảng Đại học Toulouse 1 (Pháp).

Năm 2003, ông được phong tặng chức danh Giáo sư. Lĩnh vực giảng dạy của ông là marketing sản xuất và dịch vụ; chiến lược và chính sách kinh doanh.

Ông cũng là chuyên gia hàng đầu trong việc tư vấn, thiết kế chương trình, kế hoạch kinh doanh dài hạn và ngắn hạn; tư vấn quản lý và điều hành doanh nghiệp; thiết kế các chương trình đào tạo, huấn luyện đội ngũ giám đốc điều hành, trưởng bộ phận/đơn vị/chức năng.

February 21, 2009

Kích cầu cũng có nguyên tắc

Filed under: chính sách,Uncategorized — ktetaichinh @ 5:36 pm
Tags: ,

Thứ Sáu,  20/2/2009

(TBKTSG) –  Gói kích cầu mà Chính phủ đang triển khai là một con số không hề nhỏ trong hoàn cảnh ngân sách của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu một gói kích cầu được thiết kế không tốt, thì dù tốn kém cũng không vực dậy được nền kinh tế.

Nhiều nhà kinh tế cho rằng để một gói kích cầu có hiệu quả thì phải đảm bảo ít nhất ba tiêu chí: kịp thời, đúng đối tượng và ngắn hạn.

Kích cầu phải kịp thời

Kịp thời không chỉ là việc Chính phủ phải hành động nhanh chóng mà những biện pháp đưa ra còn phải có hiệu ứng ngay, tức là làm tăng chi tiêu của nền kinh tế. Các chính sách mất quá nhiều thời gian để thực hiện sẽ không có tác dụng và gói kích cầu lúc đó lại có thể gây tác dụng xấu. Các chương trình đầu tư, dự án đầu tư có tốc độ giải ngân chậm không phải là những công cụ kích cầu tốt. Điều này là bởi khi tổng cầu sụt giảm, các biện pháp này lại không có tác động gì trong khi lẽ ra phải tăng tổng cầu lên nhiều nhất.

Kích cầu phải đúng đối tượng

Gói kích cầu có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào xu hướng chi tiêu và đầu tư của các đối tượng mà gói kích cầu nhắm đến. Những biện pháp kích cầu đúng đối tượng là những biện pháp nhắm tới các đối tượng sẽ chi tiêu hầu như toàn bộ lượng kích cầu dành cho họ.

Mục tiêu của gói kích cầu là làm tăng cầu, nên chìa khóa để thực hiện điều này là cấp tiền cho những người sẽ sử dụng ngay những đồng tiền này, và qua đó đưa thêm tiền vào nền kinh tế. Tiền kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này tiến hành các khoản chi tiêu mới, hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm chi tiêu.

Để việc kích cầu có hiệu quả thì gói kích cầu phải nhắm vào những đối tượng sao cho một đồng tiền chi ra có hiệu ứng kích thích tiêu dùng và đầu tư cao nhất.

Theo một số nghiên cứu trên thế giới thì hiệu ứng cao nhất là dành cho bảo hiểm thất nghiệp. Các nhóm khác nhau trong xã hội sẽ có xu hướng tiêu dùng cận biên khác nhau. Những người có thu nhập cao, thì chỉ có một phần nhỏ khoản hoàn/miễn thuế (hoặc khoản tiền trợ cấp) mà họ nhận sẽ được chi tiêu, trong khi những người có thu nhập vừa và thấp sẽ có nhu cầu chi tiêu cao hơn tính trên khoản hoàn thuế.

Theo một báo cáo nghiên cứu của Zandi (2004) đối với gói kích cầu năm 2001 của Mỹ thì hiệu quả của gói kích cầu cao nhất chính là trợ cấp thất nghiệp (tức là hướng tới nhóm người dễ bị tổn thương nhất do suy thoái). Một đô la kích cầu tạo ra được 1,73 đô la cầu tiêu dùng. Tiếp đó là các biện pháp khác như miễn giảm thu ngân sách cho các địa phương, giảm thuế suất.

Mặc dù cũng là kích cầu, nhưng các loại thuế khác nhau có mức độ tác dụng khác nhau trong việc kích cầu. Nhìn chung, việc giảm thuế đối các người dân có tác dụng kích cầu tốt hơn giảm thuế cho doanh nghiệp. Và việc giảm thuế cho lĩnh vực bất động sản thì hoàn toàn không có tác dụng kích cầu (xem bảng).

Hiệu ứng số nhân chính là lý do tại sao không phải chính sách tài khóa (kích cầu) nào cũng có tác dụng như nhau. Một số chính sách sẽ có tác dụng/hiệu quả hơn các chính sách khác trong việc kích thích nền kinh tế.

Giả sử ông A nhận được khoản tiền mặt trợ cấp 100 đồng từ gói trợ cấp của Chính phủ. Với gia cảnh cũng như thói quen của mình, ông A sẽ sử dụng một phần số tiền trợ cấp nhận được. Đây được gọi là xu hướng tiêu dùng cận biên. Ví dụ nếu ông A tiêu hết 90 đồng thì xu hướng tiêu dùng cận biên sẽ là 90%. Nếu ông A mua sảm phẩm của ông B thì ông B sẽ có thu nhập là 90 đồng. Và cũng giống như ông A, ông B sẽ tiêu dùng khoảng 81 đồng (90% thu nhập), vào sản phẩm của ông C. Đến luợt mình, 81 đồng đó sẽ tạo ra thêm 72,9 đồng cho tổng cầu của nền kinh tế. Trong ví dụ này, 100 đồng kích cầu sẽ tạo ra thêm tổng cầu là 243 đồng.

Mặt khác, gói kích cầu chỉ thực sự hiệu quả nếu như chi tiêu gia tăng của người dân và Nhà nước hướng đến hàng hóa và dịch vụ nội địa. Đối với Việt Nam, nền kinh tế có tỷ trọng nhập khẩu chiếm gần 75% GDP, chúng ta phải hết sức thận trọng khi đưa ra các biện pháp kích cầu để tránh việc kích thích tiêu dùng hàng ngoại nhập. Các đề xuất giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng như linh kiện ô tô, không phải là những chính sách kích cầu đúng đối tượng.

Kích cầu chỉ trong ngắn hạn

Theo nguyên tắc này, gói kích cầu sẽ chấm dứt khi nền kinh tế đã được cải thiện. Thông thường, sau khi vượt qua suy thoái, nên thực hiện các biện pháp để giảm thâm hụt ngân sách. Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa: (1) gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu; (2) chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới ngân sách trong dài hạn.

Lý do là khi các biện pháp thực hiện trong ngắn hạn sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ đầu tư để tận dụng ưu đãi. Những biện pháp dài hạn như giảm thuế quá lâu sẽ không phải là một biện pháp kích cầu tốt, bởi vì các doanh nghiệp sẽ cảm thấy không cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ đầu tư trong giai đoạn nền kinh tế cần được kích thích nhất.

Thâm hụt ngân sách lớn trong tương lai cũng đồng nghĩa với suy giảm tiết kiệm trong dài hạn, dẫn tới giảm đầu tư và ảnh hưởng tới tăng trưởng. Đó là chưa kể tới việc thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai (mà Việt Nam hiện nay mức độ thâm hụt tài khoản vãng lai đã ở mức đáng báo động).

Tóm lại, khi cân nhắc các biện pháp kích cầu cụ thể, thì các nguyên tắc trên đều phải được tuân thủ và xem xét một cách đồng thời. Nếu một biện pháp kích cầu cụ thể mà vi phạm một trong những nguyên tắc đó thì về cơ bản đó chưa phải là một biện pháp kích cầu tốt.

NGUYỄN NGỌC ANH (1) – NGUYỄN THẮNG (2)

(1) Trung tâm Nghiên cứu chính sách và Phát triển – DEPOCEN

(2) Trung tâm Phân tích và Dự báo

Create a free website or blog at WordPress.com.