Ktetaichinh’s Blog

June 2, 2010

Ai sẽ “kiểm toán” các công ty kiểm toán?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:22 pm
Tags:

Doanh nghiệp kiểm toán thì được phép kiểm toán các công ty, nhưng ai sẽ “kiểm toán” các công ty kiểm toán?

Cũng như ở thị trường các nước phát triển, hoạt động của công ty kiểm toán phải tuân thủ các văn bản pháp quy cũng như điều hành của các cơ quan lý. Những cơ quan này trực thuộc Bộ Tài chính và hàng năm, họ đều kiểm tra hoạt động doanh nghiệp kiểm toán.

Nếu phát hiện những trường hợp không đảm bảo chất lượng dịch vụ hoặc không tuân thủ quy định, cơ quan quản lý sẽ đưa ra các cảnh báo, xử phạt hoặc rút giấy phép.

Ở các nước phát triển, luôn có các ủy ban quản lý các công ty kiểm toán, và giấy phép hành nghề được xem xét để cấp lại hàng năm, nếu vi phạm, có thể không được cấp.

Đối với những công ty kiểm toán lớn, họ luôn duy trì chế độ kiểm soát nội bộ. Cứ 2 đến 3 năm, họ đều cử các chuyên gia ở các nước khác sang Việt Nam soát xét lại các hoạt động cũng như hồ sơ kiểm toán.

Ngay cả với Deloitte cũng vậy. Nếu Deloitte Việt Nam không vượt qua được các cuộc soát xét thì Deloitte sẽ tăng tần suất soát xét lên hàng năm thay vì 2-3 năm/lần như trước nhằm đảm bảo khắc phục bằng được những lỗi trong hệ thống.

Nếu năm sau không khắc phục được lỗi của năm trước, chúng tôi sẽ tiếp tục gửi cảnh báo về những lỗi của công ty thành viên và đến năm thứ 3, những lỗi đó không được khắc phục thì chúng tôi sẽ đưa ra những biện pháp xử lý nghiêm khắc, chẳng hạn, không cho phép đơn vị thành viên sử dụng thương hiệu của Deloitte và loại họ ra khỏi hệ thống Deloitte toàn cầu.

Nhân lực kiểm toán đang là bài toán nan giải hiện nay ở thị trường Việt Nam, theo ông, làm thế nào để giải quyết khó khăn này?

Thiếu nhân lực kiểm toán đang xảy ra ở hầu hết các nước đang phát triển. Tôi cho rằng, ngành giáo dục của Việt Nam nên nhìn thấy xu hướng này để mở rộng quy mô đào tạo đủ lớn ở các trường đại học, đáp ứng đủ về số lượng, chất lượng cho nhu cầu thị trường.

Ngoài ra, còn rất nhiều sinh viên Việt Nam đi du học ở nước ngoài và được đào tạo trong một môi trường rất tốt. Deloitte đã phát triển một chương trình kết nối việc làm khá tốt cho những sinh viên này. Theo đó, trong một vài năm đầu tuyển dụng, chúng tôi cho họ làm việc ở nước ngoài, sau đó, chuyển về Việt Nam.

Ở Trung Quốc chúng tôi cũng làm như vậy. Hiện tại, ở Trung Quốc, Deloitte có tới 8.000 nhân lực và mỗi năm phải tuyển thêm 2.000 sinh viên. Khi trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu, chúng tôi tuyển sinh viên đang học ở nước ngoài, cho họ làm việc tại các nước một thời gian trước khi đưa về Trung Quốc.

Advertisements

May 19, 2010

Giải pháp giúp kiểm toán Việt Nam vững mạnh hơn và đồng bộ hoá với các chuẩn mực quốc tế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:38 am
Tags:

ØGiá trị của kiểm toán:

Kiểm toán đương nhiên phải có giá trị rồi. Nếu không có giá trị hoặc giá trị không đáng kể thì kiểm toán đã không tồn tại và phát triển rộng khắp như ngày nay.

Tôi chỉ xin có ý kiến về giá trị của kiểm toán độc lập.

Hiện nay Nhà nước đang soạn thảo Luật kiểm toán độc lập. Trong đó có Điều 06 quy định về giá trị của báo cáo kiểm toán. Đã có rất nhiều ý kiến bình luận về Điều này. Xét về văn bản pháp luật, người ta đặt ra câu hỏi: “Báo cáo kiểm toán (Kiểm toán độc lập) có giá trị pháp lý không?” Đã có nhiều người trả lời: “Báo cáo kiểm toán (Kiểm toán độc lập) không có giá trị pháp lý”. Giá trị pháp lý là giá trị bắt buộc phải thực hiện, tức là đơn vị được kiểm toán bắt buộc phải tuân thủ ý kiến nhận xét của KTV. Điều đó chắc chắn là không đúng rồi. Vì kiểm toán độc lập chỉ là dịch vụ tư vấn. Người được tư vấn không có trách nhiệm bắt buộc phải thực hiện ý kiến của người tư vấn.

Tuy nhiên nếu kiểm toán độc lập không có giá trị pháp lý thì có giá trị gì và có giá trị như thế nào thì nó mới tồn tại và Nhà nước mới phải ban hành Luật để chi phối, điều chỉnh, quản lý hoạt động kiểm toán độc lập.

Theo tôi nghĩ: Kiểm toán độc lập nói chung và báo cáo kiểm toán độc lập nói riêng có giá trị thực tế rất cao trong quản lý điều hành sản xuất, kinh doanh và đầu tư tài chính. Trong một chừng mực nào đó, kiểm toán độc lập cũng có giá trị pháp lý nhất định.

wGiá trị thực tế: Trước hết, thông qua kết quả kiểm toán độc lập, đơn vị được kiểm toán biết được thông tin trung thực và hợp lý về tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình tài sản, kết quả hoạt động và đặc biệt là các tồn tại trong quản lý kinh doanh để chấn chỉnh sai xót, điều hành hiệu quả hơn. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm và quyền lợi với đơn vị có cơ sở đưa ra các quyết định kinh tế, tài chính phù hợp với đơn vị. Cơ quan quản lý Nhà nước cũng có cơ sở đưa ra các quyết định thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.

Nếu không có kiểm toán độc lập, các tổ chức, cá nhân không đủ cơ sở hoặc thiếu tin tưởng khi đưa ra các quyết định nói trên. Do đó nhờ có kiểm toán độc lập, các quan hệ kinh tế, tài chính giữa doanh nghiệp với các tổ chức, cá nhân và cơ quan Nhà nước có căn cứ tin cậy để xử lý.

wGiá trị pháp lý: Giá trị pháp lý của kiểm toán độc lập thể hiện ở chỗ: Nếu KTV và DNKT đưa ra báo cáo kiểm toán sai gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân có liên quan thì KTV và DNKT phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra: Kiểm toán độc lập còn có giá trị ở chỗ, kiểm toán độc lập góp phần:

– Giúp các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là người nước ngoài hiểu được cơ chế Luật pháp của Việt Nam để tuân thủ, thực hiện trong quá trình kinh doanh tại Việt Nam; giúp tổ chức, cá nhân người Việt Nam hiểu được Luật pháp Quốc tế để mở rộng hợp tác, đầu tư ra nước ngoài hoặc kêu gọi nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

– Tạo ra môi trường đầu tư bình đẳng, thuận lợi…

– Giá trị của kiểm toán độc lập thể hiện giá trị của KTV. Mỗi KTV đều có giá trị thị trường thể hiện qua giá phí kiểm toán trả cho lao động kiểm toán độc lập. Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã và đang hoạt động theo phương châm “VACPA – Gia tăng giá trị Hội viên”. Mọi hoạt động, việc làm của VACPA đều nhằm gia tăng giá trị Hội viên, gia tăng giá trị của Kiểm toán độc lập.

Ø Giải pháp giúp kiểm toán Việt Nam vững mạnh hơn và đồng bộ hóa với các Chuẩn mực Quốc tế, có 2 giải pháp tổng thể là:

w Giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan

Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, cạnh tranh, mở cửa, hội nhập Quốc tế…Nếu không có một hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ và hoàn thiện thì sẽ bị quy luật cạnh tranh, tự do chủ nghĩa, quy luật thị trường chi phối. Trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, chúng ta đã hình thành một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ, đồng bộ đã phát huy tác dụng trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động kiểm toán độc lập trong gần 20 năm qua. Tuy nhiên hệ thống văn bản pháp luật về kiểm toán độc lập đã có đến nay đã bắt đầu không còn phù hợp. Chúng ta phải nhanh chóng tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống này, cụ thể:

– Ban hành Luật kiểm toán độc lập và các văn bản hướng dẫn;

– Cập nhật và ban hành các Chuẩn mực kiểm toán phù hợp Chuẩn mực quốc tế

– Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm toán độc lập…

Đồng thời, để có cơ sở thực hiện kiểm toán độc lập có hiệu quả, chúng ta cũng cần tiếp tục ban hành mới các chuẩn mực kế toán chưa ban hành và cập nhật các chuẩn mực kế toán đã ban hành phù hợp với thông lệ Quốc tế đã thay đổi; cần có những hướng dẫn kế toán phù hợp với thực tế giúp doanh nghiệp thực hiện đúng và KTV có cơ sở nhận xét chắc chắn…

w Nâng cao vai trò hoạt động của Hội nghề nghiệp để hỗ trợ cơ quan Nhà nước tăng cường quản lý hành nghề kiểm toán độc lập.

Hoạt động kiểm toán độc lập đòi hỏi trình độ chuyên môn rất cao, kinh nghiệm thực tế thành thạo và nghiêm ngặt về đạo đức nghề nghiệp. Tài sản, lực lượng sản xuất của kiểm toán độc lập là đội ngũ KTV, là con người. Do đó việc quản lý con người hành nghề kiểm toán không chỉ là cơ quan Nhà nước mà còn là Hội nghề nghiệp. Theo kinh nghiệm đã được tích lũy từ hơn 100 năm nay, bên cạnh sự quản lý bằng pháp luật của cơ quan Nhà nước, cần có (phải có, không thể thiếu được) là vai trò quản lý hành nghề của các tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán.

KTV, người hành nghề kiểm toán độc lập phải là Hội viên của một tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán. Hội nghề nghiệp trước hết thực hiện đào tạo, cập nhật kiến thức thường xuyên, liên tục, suốt đời cho Hội viên. Hội cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên môn thường xuyên và bất thường giúp Hội viên có kiến thức, kinh nghiệm xử lý kịp thời dịch vụ cung cấp. Hội thực hiện kiểm soát chất lượng Hội viên, chất lượng dịch vụ đảm bảo giảm thiếu các sai phạm về chuyên môn của Hội viên. Hội quản lý hành vi đạo đức nghề nghiệp của Hội viên, hạn chế tối đa các sai phạm và xử lý kịp thời sai phạm về đạo đức nếu xảy ra. Hội hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự quản, độc lập khách quan…nên rất kịp thời và hiệu quả.

Cơ chế hành chính Nhà nước, dù có đổi mới, cải cách thế nào thì vẫn bị chậm so với cơ chế tổ chức, hoạt động của Hội nghề nghiệp trong kinh tế thị trường. Do đó cần nâng cao vai trò hoạt động của Hội nghề nghiệp để hỗ trợ cơ quan Nhà nước tăng cường quản lý hành nghề kiểm toán là giải pháp hữu hiệu giúp kiểm toán Việt Nam vững mạnh hơn hiện nay cũng như sau này.

Các giải pháp cụ thể: Trong văn bản pháp luật cũng như chỉ đạo thực tiễn cần:

– Mở rộng thị trường dịch vụ kiểm toán, bằng cách tăng thêm đối tượng kiểm toán bắt buộc báo cáo tài chính và các dịch vụ kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính…

– Nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện KTV; nâng cao chất lượng đào tạo và tổ chức các kỳ thi cấp chứng chỉ KTV; tổ chức thêm các kỳ thi KTV trong 1 năm; tổ chức thi vào thời gian thích hợp và ổn định các kỳ thi trong năm…

– Tăng cường các biện pháp quản lý hành nghề kiểm toán; thực hiện kiểm soát chất lượng chặt chẽ, thường xuyên hơn; xử lý kịp thời; chặt chẽ các sai phạm nghề nghiệp và sai phạm về đạo đức nghề nghiệp…

– Luật hóa vai trò của tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán; Nhà nước hỗ trợ Hội phát triển và tăng cường quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa cơ quan Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp trong quản lý hành nghề kiểm toán độc lập.

– Mở rộng quan hệ hợp tác Quốc tế, trước hết đối với các tổ chức nghề nghiệp như Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC), tổ chức Quốc tế khu vực (CAPA, AFA), các tổ chức nghề nghiệp như ACCA, CPA Australia, ICPAS, MIA…); các tổ chức tài chính Quốc tế (WB, ADB, EU…) nhằm hỗ trợ việc duy trì và phát triển nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam phù hợp thông lệ kế toán Quốc tế, được khu vực và Quốc tế thừa nhận…

– Soạn thảo và ban hành các Chuẩn mực kế toán mới mà Việt Nam chưa ban hành (Như chuẩn mực 32, 39, 07…); cập nhật chuẩn mực kế toán Việt Nam đã ban hành phù hợp với chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS); ban hành các tài liệu hướng dẫn chuẩn mực kế toán.

– Soạn thảo và ban hành lại các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với chuẩn mực kiểm toán Quốc tế mới ban hành lại có hiệu lực từ 15/12/2009; ban hành chuẩn mực về đào tạo kế toán viên chuyên nghiệp, chuẩn mực kiểm soát chất lượng (ISQC 1)…

– Về phía Hội nghề nghiệp về kiểm toán cần xây dựng và phổ cập các tài liệu đào tạo và hướng dẫn thực hành kiểm toán (như Chương trình kiểm toán mẫu kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán dự án công trình…)

– Giải pháp cuối cùng và quan trọng hơn cả là có cơ chế tạo tập được đội ngũ cán bộ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước cũng như Hội nghề nghiệp phải say mê nghề nghiệp, tâm huyết, có năng lực và chuyên cầu, có lòng tự trọng dân tộc…để thực hiện có hiệu quả các giải pháp trên.

*****

Giá trị của kiểm toán độc lập không tự nhiên mà có, nó được gia tăng song hành cùng với việc thực hiện các giải pháp trên./.

(Theo VACPA)

May 14, 2010

Dịch vụ kiểm toán không thể nhanh, nhiều, tốt, rẻ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:55 pm
Tags:

Có sai sót trong hoạt động nhưng không điều chỉnh, một số DN kinh doanh bị lỗ, nhiều kiểm toán viên bị xử lý do vi phạm quy định hành nghề… là những vấn đề nổi cộm trong hoạt động của các công ty kiểm toán thời gian qua. ĐTCK đã phỏng vấn ông Bùi Văn Mai, Tổng thư ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) trước đợt kiểm tra hoạt động các DN kiểm toán năm 2010.

Qua kiểm tra các hội viên năm 2009, VACPA phát hiện thấy những vi phạm nào là phổ biến, thưa ông?

Từ năm 2006, VACPA đã phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức nhiều cuộc kiểm soát chất lượng DN kiểm toán hàng năm cũng như kiểm tra bất thường. Việc kiểm tra chỉ mới tập trung vào quy trình, thủ tục kiểm toán, hệ thống kiểm soát nội bộ để điều hành công ty như cơ cấu, bộ máy, quản lý, cơ cấu nhân viên, quy trình tuyển dụng, đào tạo nhân viên kiểm toán, kiểm tra các thủ tục khác xem họ có đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật và chuẩn mực kiểm toán hay không.

Qua quá trình kiểm tra, các vi phạm chủ yếu là DN kiểm toán không tuân thủ đầy đủ các quy định về thủ tục kiểm toán, tình trạng cho mượn, thuê nhân viên kiểm toán có chứng chỉ hành nghề còn xảy ra. Một vấn đề khá nhức nhối hiện nay là cạnh tranh bằng hạ phí kiểm toán làm ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) kiểm toán.

Thưa ông, mặc dù sau khi có kết quả kiểm tra, VACPA và Bộ Tài chính đã có yêu cầu chỉnh sửa khắc phục nhưng vẫn có những DN không làm. Phải chăng vẫn còn thiếu các chế tài để xử lý?

Kết thúc đợt kiểm tra năm 2009, chúng tôi đã lập biên bản và giao cho từng DN xử lý, đồng thời tổng hợp kết quả kiểm tra hàng năm đã phổ biến cho tất cả các công ty biết để rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, đến nay nhiều công ty chưa nghiêm túc sửa chữa.

Mục đích của các đợt kiểm tra định kỳ là để tư vấn cho các đơn vị có sai sót gì thì hướng dẫn họ hơn là xử lý kỷ luật. Đúng là hiện chưa có cơ chế hành chính bắt buộc các DN kiểm toán phải làm và còn thiếu các chế tài để xử lý. Tuy nhiên, tới đây chúng tôi cùng với Bộ Tài chính sẽ có các hình thức xử lý nghiêm khắc hơn. Đơn cử như năm 2009, VACPA và Bộ Tài chính đã phối hợp xử lý một số sai phạm liên quan đến đăng ký hành nghề (cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề) của kiểm toán viên, đến nay tình trạng này đã giảm đi rất đáng kể.

Năm 2010, chúng tôi chủ trương kiểm tra ít DN hơn (khoảng 20 DN), để dành thời gian kiểm tra chuyên sâu chất lượng BCTC kiểm toán. Khi kiểm tra một BCTC, chúng tôi phải kiểm tra cả số liệu của báo cáo. Sau đó, xem xét những vấn đề kiểm toán viên nêu ra trong quá trình kiểm toán và xử lý, đặc biệt là xem xét ý kiến của kiểm toán viên có đúng không trong điều kiện của DN đó.

Mục đích của đợt kiểm tra năm 2010 là nhằm tăng chất lượng của BCTC và báo cáo kiểm toán, nhất là báo cáo của công ty đại chúng, niêm yết.

Vừa qua một số DN kiểm toán công khai bị lỗ trong hoạt động. Điều này liệu có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC kiểm toán?

Thu nhập của DN kiểm toán chủ yếu là từ sức lao động chứ không phải là đầu tư. Một số công ty lỗ trong năm 2009 có nhiều lý do. Có thể do DN muốn gia tăng thị phần nên phải nâng cao chất lượng dịch vụ, đầu tư phần mềm kiểm toán…, hoặc tăng chi phí đào tạo, nâng lương, thậm chí có thể giảm phí một phần để tăng khách hàng.

Việc công ty kiểm toán lỗ có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC kiểm toán hay không thì phải xem xét cụ thể. Nếu công ty tuân thủ đầy đủ các quy trình, thủ tục kiểm toán thì việc lỗ, lãi không ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán. Nếu giảm phí đồng thời với giảm thủ tục sẽ dẫn đến lỗ và giảm chất lượng kiểm toán.

Tuy nhiên, tôi cũng muốn nói rằng, mức phí kiểm toán hiện nay nói chung còn thấp, chưa đủ để thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán. Trong hoạt động kiểm toán, không thể có khái niệm “nhiều, nhanh, tốt, rẻ” được.

Đã xuất hiện không ít DN có số liệu tại BCTC và báo cáo kiểm toán vênh nhau khá lớn. Ông giải thích thế nào về việc này?

Việc BCTC sau kiểm toán “loại ra” ngoài các khoản lợi nhuận hoặc doanh thu có thể do cách hiểu khác nhau về cùng vấn đề. Hoặc kiểm toán phát hiện các khoản chi phí tăng, doanh thu giảm dẫn đến lợi nhuận của DN giảm.

Đơn cử như về trích lập dự phòng mà không ít DN gặp phải khi TTCK suy giảm. Nếu DN không trích lập thì có thể lợi nhuận tăng, nhưng khi kiểm toán vào làm theo nguyên tắc thận trọng, yêu cầu trích lập thì lợi nhuận sẽ giảm xuống. Thông thường, nếu DN nhất trí với đề nghị điều chỉnh thì báo cáo kiểm toán thông qua. Nếu không thống nhất, trong báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên sẽ phải ngoại trừ điểm này. Do đó, khi đánh giá BCTC chưa kiểm toán, NĐT nên thận trọng.

May 2, 2010

Sẽ tăng tần suất kiểm toán tập đoàn, tổng công ty

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:04 am
Tags:

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 14:36:00
picture

GS.TS Vương Đình Huệ, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa có nghị quyết về việc ban hành Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước đến năm 2020. Theo đó, đến năm 2020, quy mô nguồn lực của Kiểm toán Nhà nước sẽ tăng gấp 2 lần, chất lượng kiểm toán sẽ được nâng cao, cơ sở pháp lý của Kiểm toán Nhà nước sẽ được hoàn thiện.

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.TS.Vương Đình Huệ, Tổng Kiểm toán Nhà nước xung quanh chiến lược này.

Thưa ông, với nguồn lực tăng gấp đôi so với hiện nay, quy mô và chất lượng kiểm toán trong những năm tới liệu có tăng tương ứng?

Nguyên lý chọn mẫu vẫn là nguyên lý tối đa, nghĩa là, trong một năm tài chính không bao giờ kiểm toán toàn bộ. Có những nước có diện kiểm toán “phủ sóng” đến tận huyện như Trung Quốc cũng không kiểm toán tất cả các đối tượng.

Vì vậy, trong chiến lược 10 năm với nguồn lực như vậy, chỉ hy vọng là kiểm toán được hàng năm các bộ ngành và ngân sách của các tỉnh trực thuộc trung ương. Trong từng cuộc kiểm toán sẽ tăng cường độ chọn mẫu, quy mô chọn mẫu. Ví dụ, trước đây một tỉnh chỉ kiểm tra ngân sách của 50% số huyện nhưng khi nhân lực tăng lên có thể tăng kiểm toán lên 2/3.

Khi nhân lực tăng lên, các cuộc kiểm toán có thể không thay đổi nhưng đối tượng kiểm toán sẽ tăng lên và có điều kiện làm sâu hơn. Đối với các tập đoàn, tổng công ty, tần suất kiểm toán sẽ ngắn lại, chu kỳ có thể rút ngắn từ 5 năm xuống 3 năm. Kiểm toán cũng có quy trình chọn mẫu rất rõ ràng, không nhất thiết vài ba năm, có những đối tượng phải kiểm toán hàng năm hoặc có đối tượng vừa kiểm toán xong lại phải kiểm toán lại khi có những vấn đề được xã hội quan tâm hoặc gây bức xúc dư luận.

Định hướng chiến lược này sẽ chú trọng phát triển hình thức kiểm toán nào, thưa ông?

Trọng điểm của Kiểm toán Nhà nước trong 10 năm nữa là tăng cường các cuộc kiểm toán chuyên đề. Kiểm toán chuyên đề chính là sự hòa quyện nhất giữa kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ pháp luật và đánh giá tính kinh tế trong việc sử dụng các nguồn lực công.

Tới đây, theo đề xuất hợp tác của Liên bang Nga và được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước sẽ phối hợp với Kiểm toán Liên bang Nga thực hiện một cuộc kiểm toán chuyên đề “Chi tiêu công trong việc đảm bảo kiểm soát chất lượng an toàn vệ sinh của hải sản” để tăng cường xuất khẩu giữa Việt Nam và Nga đối với mặt hàng hải sản, đồng thời, tăng cường đào tạo cán bộ trợ giúp cho Việt Nam xuất khẩu nhiều hải sản sang Nga.

Cuộc kiểm toán này sẽ được tiến hành trong mùa hè năm 2010. Nga đã cử chuyên gia sang và đã kết thúc giai đoạn khảo sát. Tôi tin rằng với kinh nghiệm đã có trong cuộc kiểm toán với Liên doanh dầu khí Việt Xô, cuộc kiểm toán này sẽ thành công.

Theo chiến lược Kiểm toán Nhà nước đến 2020, từ năm 2011 sẽ thí điểm và từ năm 2010 thực hiện ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện một số cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp kiểm toán và hành lang pháp lý của kiểm toán độc lập vẫn còn trong quá trình xây dựng, kế hoạch trên có khả thi không, thưa ông?

Luật Kiểm toán Nhà nước đã quy định việc ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán để thực hiện kiểm toán một số đối tượng theo kế hoạch kiểm toán hàng năm của Kiểm toán Nhà nước. Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan nên chưa thực hiện được.

Hiện tại, Kiểm toán Nhà nước đang xây dựng để ban hành quy chế cụ thể đối với vấn đề này để có thể triển khai thực hiện từ năm 2011. Việc ủy thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện một số cuộc kiểm toán theo nguyên tắc: các doanh nghiệp được lựa chọn ủy thác hoặc thuê phải là những doanh nghiệp có uy tín; thực hiện kiểm toán theo quy trình, chuẩn mực kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và kế hoạch kiểm toán được duyệt; chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Tổng Kiểm toán Nhà nước về kết quả kiểm toán.

Bên cạnh đó, như tất cả các cuộc kiểm toán do Kiểm toán Nhà nước thực hiện, kết quả kiểm toán đều phải được các đơn vị chuyên trách của Kiểm toán Nhà nước kiểm tra, kiểm soát chất lượng và lãnh đạo xét duyệt trước khi ký phát hành báo cáo kiểm toán. Vì vậy, chất lượng kiểm toán sẽ đựơc đảm bảo.

Có ý kiến cho rằng, việc khai thác, sử dụng kết quả kiểm toán và thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán còn hạn chế, việc thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán chưa đầy đủ và kịp thời, ông nhìn nhận như thế nào về vấn đề này?

Sau khi có Luật Kiểm toán Nhà nước, việc khai thác, sử dụng kết quả kiểm toán và thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán ngày càng có nền nếp và có nhiều tiến bộ, hiệu lực kiểm toán được nâng cao, nhất là khi Chính phủ có Nghị định số 91/2008/NĐ-CP về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/2008/CT-TTg về việc thực hiện nghiêm các chính sách tài khóa và thực hiện các kết luận, kiến nghị của cơ quan kiểm toán, thanh tra.

Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp cũng đã sử dụng ngày càng nhiều hơn báo cáo kiểm toán để Quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn ngân sách hàng năm và công tác giám sát.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn một số đơn vị chưa thực hiện đầy đủ, kịp thời các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước. Trong thời gian tới, Kiểm toán Nhà nước sẽ phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, ngành, địa phương tăng cường rà soát, kiểm tra tình hình thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán Nhà nước; phối hợp với các ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước.

Những trường hợp cố tình không thực hiện kiến nghị xác đáng về kết quả kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước sẽ báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ.

April 28, 2010

Cần nâng cao chất lượng kiểm toán

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:55 am
Tags:

– Thực tế, ngay cả trên thị trường chứng khoán, thì kết quả báo cáo tài chính có kiểm toán cũng còn hạn chế ?

Năm 2010 các DN mới công bố đầy đủ hơn bằng việc công bố báo cáo kiểm toán. Còn năm ngoái các DN chủ yếu công bố báo cáo tài chính tóm tắt, thậm chí còn không công bố ý kiến của kiểm toán viên.

– Tuy nhiên, nhiều người chưa thực sự tin tưởng vào các kết quả kiểm toán, mà vụ bê bối kiểm toán tại CTCP Bông Bạch Tuyết (BBT) là một điển hình ?

Tất nhiên, độ tin tưởng của xã hội, công chúng đối với bản báo cáo tài chính còn phụ thuộc rất nhiều vào độ uy tín, danh tiếng của các kiểm toán viên cũng như cty kiểm toán – phụ thuộc vào chuẩn mực nghề nghiệp, nguyên tắc hoạt động, quy chế ràng buộc của các kiểm toán viên – độc lập nhất, trung thực nhất, minh bạch nhất.

Nhưng phải hiểu kết quả kiểm toán có hai phần, một là công khai báo cáo kiểm toán, với các điểm lưu ý, ngoại trừ của kiểm toán viên. Còn phần chính là thư quản lý – là sản phẩm của kiểm toán chỉ phục vụ cho nội bộ của DN. kiểm toán viên đưa ra những vấn đề sai, cần xử lý, những đề xuất chi tiết cụ thể, dài ngắn hay không phụ thuộc vào tình hình tài chính của DN. Phần này chỉ dùng cho nội bội DN chứ ít khi công bố ra ngoài. Xã hội ít biết chuyện đó vì kiểm toán cũng là một phần yêu cầu của DN, kiểm toán để biết sai trong nội bộ mình, nên nhiều người chưa thấy hết được tác dụng của kiểm toán.

– Kiểm toán cũng là một yêu cầu của DN, tuy nhiên, không ai muốn “vạch áo cho người xem lưng”. ông có cho rằng đây là một trong những yếu tố gây nên hiện tượng “dàn xếp” kết quả kiểm toán, bưng bít thông tin ?

Về chất lượng dịch vụ Cty kiểm toán cung cấp nói chung ngày càng được nâng cao, do bản thân hệ thống văn bản pháp luật của chúng ta ngày càng được hoàn thiện đầy đủ và phổ cập đến người dân. Ngoài ra sự đòi hỏi của xã hội đã cao hơn hẳn so với trước, bên cạnh vai trò quản lý của cơ quan quản lý nhà nước. Nhờ sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát nên chất lượng các thông tin cũng được nâng lên rất nhiều. Tuy nhiên, sai sót, gian lận là điều không thể tránh dược, vì tất cả con số đều do con người. Tuỳ hoàn cảnh khác nhau người ta có thể gây ra những sai phạm. Nhưng theo tôi, nhìn chung so với trước đây mức độ trung thực của kiểm toán đã được nâng cao.

– Hiện 4 cty kiểm toán hàng đầu thế giới đều có mặt tại VN. Các Cty kiểm toán của VN liệu có đủ tự tin để cạnh tranh với 4 “ông lớn” này, thưa ông ?

4 Cty kiểm toán lớn chắc chắn uy tín rồi, nhưng 15 Cty lớn của VN có khoảng 100 – 150 người trở lên, thậm chí 300 người, có thể nói cũng rất chuyên nghiệp. Đặc biệt, trước sự cạnh tranh, các DN càng phải nâng tầm của mình. Đối với những Cty nhỏ hơn, nhiều Cty chưa đáp ứng yêu cầu. ngay trong cty cũng có những báo cáo chất lượng chưa tốt. Nhưng như tôi đã nói, chất lượng đều được nâng cao hơn rất nhiều so với trước.

– Vậy theo ông, số lượng DN kiểm toán phải nâng lên bao nhiêu mới đủ đáp ứng nhu cầu ?

Hội Kiểm toán viên hành nghề VN (Vacpa) thành lập theo Quyết định số 15/2005/QĐ-BNV ngày 19/1/2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Vacpa được xây dựng theo mô hình tổ chức của hội nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập theo kinh nghiệm từ các hội nghề nghiệp quốc tế có uy tín trên thế giới.

Dự kiến năm 2020 chúng ta cần 7.000 kiểm toán viên. như vậy, mỗi năm cần từ 7.000 – 8.000 kiểm toán viên. Đạt được con số này rất khó bởi vấn đề thi kiểm toán viên chưa hoàn thiện, tổ chức thi chưa được nhiều. Hiện nay chúng ta mới tổ chức thi được 1 – 2 đợt, mỗi đợt khoảng 200 – 300 người. Những người thi phải tốt nghiệp đại học và có kinh nghiệm 4 – 5 năm, được thi trong 3 năm, thường thì 2 năm mới đạt, còn thi một năm được luôn chỉ có trên dưới 10 người. Tôi phải nói thêm rằng, thi kiểm toán viên rất khó vì đòi hỏi trình độ, kinh nghiệm và kiến thức sâu rộng, đa ngành.

– Vậy Hội Kiểm toán viên hành nghề VN đã thể hiện vai trò và đóng góp như thế nào trong sự phát triển của kiểm toán VN nói chung, cũng như vớ các hội viên nói riêng ?

Hiện Vacpa đào tạo kiểm toán viên ngành nghề một năm 5 – 6 trăm người, chiếm từ 1/2 – 2/3 số lượng đào tạo kiểm toán viên cả nước. Hiện Vacpa cùng Bộ tài chính đang trong giai đoạn nước rút hoàn thiện Dự thảo Luật kiểm toán độc lập để trình Chính phủ. Theo kế hoạch, dự thảo luật này sẽ được trình Quốc hội thảo luận lần đầu, tháng 5/2011 thông qua và có hiệu lực vào 1/1/2012. Vacpa hiện cũng đã cung ứng các dịch vụ tư vấn đặc biệt có giá trị kinh tế cao cho các hội viên thông qua việc học tập kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của Hội kế toán công chứng Anh Quốc (ACCA), Hội Kế toán công chứng Australia (CPA Australia)… ngay từ khi thành lập, Vacpa đã xây dựng theo mô hình tổ chức tập trung từ trung ương trực tiếp đến hội viên theo tôn chỉ: độc lập, tự quản, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đảm bảo sự khách quan do chính các Cty kiểm toán và kế toán thành viên, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, kiểm soát chất lượng dịch vụ của hội viên. Bên cạnh đó, Vacpa cũng xử lý sai phạm về đạo đức nghề nghiệp, đồng thời xây dựng chuẩn mực kế toán kiểm toán để trình cơ quan quản lý nhà nước công bố.

10 CÔNG TY KIỂM TOÁN LỚN NHẤT VIỆT NAM?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:50 am
Tags:

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 16:45:00

Theo Báo cáo tổng hợp tình hình hoạt động KTĐL năm 2009, VACPA xin thông báo 10 công ty kiểm toán lớn nhất Việt Nam trên 4 chỉ tiêu sau đây:

4 chỉ tiêu là:

– 10 Công ty có số lượng nhân viên chuyên nghiệp lớn nhất;

– 10 Công ty có số lượng KTV lớn nhất;

– 10 Công ty có số lượng khách hàng lớn nhất;

– 10 Công ty có tổng doanh thu lớn nhất.

10 Công ty có số lượng

nhân viên chuyên nghiệp

lớn nhất

10 Công ty có số lượng

KTV lớn nhất

10 Công ty có số lượng

khách hàng lớn nhất

10 Công ty có tổng

doanh thu lớn nhất

(Theo VACPA)

April 22, 2010

Ngành kiểm toán: Hụt cả chất và lượng?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:47 pm
Tags:

Quỳnh Vũ

Tại Việt Nam, nghề kiểm toán chỉ được nhắc đến từ những đầu năm thập niên 1990, nhưng hiện nay nó được coi là một trong những nghề “nóng” nhất . Song song với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp kiểm toán và đội ngũ kiểm toán viên, hành lang pháp lý cũng dần được củng cố và phát triển. Bên cạnh đó, còn nhiều công ty kiểm toán nước ngoài đang quan tâm tới thị trường Việt Nam. Sinh viên các chuyên ngành kế toán và kiểm toán sau khi tốt nghiệp tìm kiếm được việc làm đúng chuyên ngành đào tạo rất nhanh.

Ngành kiểm toán độc lập nói chung và các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam nói riêng được đánh giá còn khá non trẻ cả về lượng và chất. Nói như thế vì xét về quy mô, với khoảng 165 doanh nghiệp kiểm toán, nguồn cung dịch vụ còn quá nhỏ so với nhu cầu kiểm toán của hàng vạn doanh nghiệp hiện nay.

Sự chênh lệch khá lớn về chất lượng dịch vụ giữa các công ty kiểm toán dẫn đến mặt bằng chung về dịch vụ này chưa cao. Gần 1.500 người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên chủ yếu tập trung ở các công ty kiểm toán lớn. Ngoài các công ty kiểm toán nước ngoài của các hãng kiểm toán lớn trên thế giới, được thừa hưởng kinh nghiệm và quy chuẩn chất lượng quốc tế , hiện nay mới chỉ có một số ít các doanh nghiệp Việt Nam (khoảng 20 doanh nghiệp) là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế.

TS Nguyễn Thành Trung

Tổng giám đốc Mazars Việt Nam

Do đó dịch vụ của một số doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam mới chỉ dừng lại ở phạm vi trong nước, chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng quốc tế. Theo TS Nguyễn Thành Trung – Tổng giám đốc Mazars Việt Nam, Phó chủ tịch Ủy ban Các Hội viên Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA) Việt Nam thì chỉ trong vài năm gần đây, giáo dục mới thực sự quan tâm đến ngành kiểm toán, tại các trường đại học đã có sự chú trọng phát triển đào tạo nhân lực kiểm toán với việc tách riêng chuyên ngành kiểm toán.

Bên cạnh đó, các hội nghề nghiệp cũng dần cải cách chương trình đào tạo và chương trình thi cấp chứng chỉ kiểm toán viên hành nghề hướng đến chuẩn quốc tế. Hành lang pháp lý cũng đang được sửa đổi và hoàn thiện, điều này được minh chứng rõ nét khi Luật Kiểm toán độc lập đã được soạn thảo và đang trong giai đoạn xin ý kiển rộng rãi. Gần đây nhất là sự hiện diện của các hội hành nghề kế toán kiểm toán tầm quốc tế như ACCA cũng đã góp một phần rất lớn đến việc nâng cao chất lượng của các kiểm toán viên cũng như cả ngành kiểm toán độc lập nói chung…

* Vậy nói nước ta đang thiếu kiểm toán viên chưa đủ trình độ chuyên môn là không quá?

– Số lượng kiểm toán viên được cấp chứng chỉ hành nghề hiện nay còn quá ít, đồng thời tuổi nghề của họ cũng chưa nhiều. Điều này đòi hỏi cần có những định hướng nghề nghiệp đúng đắn cho thế hệ trẻ hiện nay, đặc biệt đối với các sinh viên được đào tạo chuyên ngành kế toán – kiểm toán. Bởi đây chính là nguồn lực đông đảo và mạnh mẽ gĩp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề kiểm toán trong tương lai.

* Hiện nay, có rất nhiều ngành sinh viên học xong nhưng không thể tìm được việc làm. Liệu ngành kiểm toán có rơi vào mẫu số chung đó không, thưa ông?

– Như đã nói ở trên, sự chênh lệch giữa cung và cầu có thể đoán biết được về triển vọng phát triển của nghề kiểm toán . Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn kế toán và kiểm toán còn tăng cao hơn nữa và chắc chắn điều đó sẽ mở ra nhiều cơ hội thành lập các doanh nghiệp kiểm toán và đó cũng là cơ hội việc làm cho các sinh viên ngành này trong tưông lai không xa.

* Có thể nói ông đã thành công đối với nghề kiểm toán?

– Chưa nói đến chuyện tôi có thành công hay không, nhưng tôi khẳng định là tôi có sự “đam mê” nghề nghiệp. Tôi dùng hai chữ cho bản thân đó là chữ “Dũng” và “Tâm”. Chữ “Dũng” giúp kiểm toán viên vượt qua những khó khăn của một nghề đầy áp lực với những chuyến đi công tác, những thời hạn về báo cáo chồng chất, những yêu cầu khắt khe của khách hàng. Chữ “Tâm” để luôn giữ mình được trung thực, liêm khiết, giữ vững đạo đức nghề nghiệp . Tôi tin vào sự lựa chọn của chính mình.

* Ông có thể chia sẻ thêm về quá trình trang bị kiến thức và lộ trình để đi đến thành công của mình không?

– Kiểm toán độc lập là một môi trường làm việc căng thẳng và có tính cạnh tranh cao. Nhất là trong thời kỳ hội nhập với quốc tế càng đòi hỏi kiểm toán viên không những chỉ học hỏi và cập nhật kiến thức và quy định trong nước mà cịn phải cập nhật quy định và trình tự kiểm toán cũng như các quy định về kế toán của quốc tế. Cá nhân tôi đã may mắn khi được tham gia học và hoàn tất chứng chỉ ACCA trong thời kỳ đầu từ khi ACCA mới được đào tạo ở Việt Nam. Các môn học của ACCA thực sự đã giúp tôi bù đắp các kiến thức còn thiếu. Còn chứng chỉ ACCA đã giúp tôi tự tin và đóng góp một phần không nhỏ trong những thành công trong lĩnh vực kiểm toán độc lập mà tôi đạt được.

* Nhiều người suy nghĩ rằng, thi vào một công ty kiểm toán khó hơn hẳn các ngành khác. Quan điểm của ông thế nào?

– Có lẽ mỗi ngành sẽ có những chuẩn mực đánh giá khác nhau. Tuy nhiên, đối với ngành kiểm toán, chúng tôi có đưa ra những yêu cầu khá khắt khe và không phải ứng viên nào cũng có thể đáp ứng được. Nhưng khi đã vượt qua được những thách thức ban đầu này, chắc chắn người đó sẽ được hưởng những lợi ích xứng đáng. Đó là môi trường làm việc chuyên nghiệp. Trong môi trường đầy thách thức này, các cán bộ kiểm toán thường trưởng thành nhanh hơn cũng như có nhiều cơ hội hơn so với các bạn làm trong lĩnh vực khác.

* Với tư cách là một nhà tuyển dụng lao động, ông sẽ dùng người như thế nào?

– Tại Mazars Việt Nam, việc đào tạo đội ngũ nhân lực được đặc biệt chú trọng. Chúng tôi hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhân viên tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn mà ACCA là một bằng cấp quốc tế được lựa chọn và đánh giá cao vì giá trị của nó. Hiện nay, Mazars đang có khoảng 50 nhân viên theo học chương trình ACCA ở những cấp độ khác nhau. Kỹ năng ngoại ngữ cũng rất cần thiết. Ngoài ra, những con người có phẩm chất đạo đức tốt và có các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng thu thập và quản lý thông tin… là điều kiện cần.

* Được biết ông là Phó chủ tịch Ủy ban Các Hội viên của ACCA Việt Nam, vậy ông có thể nói thêm về vai trò của việc trở thành hội viên ACCA trong sự nghiệp của mình?

– Trước hết tôi phải nói rõ là hoàn thành các khóa học và đỗ các kỳ thi của ACCA là rất khó khăn. Khó khăn không chỉ là các kỳ thi của ACCA đều bằng tiếng Anh và được hoàn thành bởi một hội đồng thi rất nghiêm túc mà nội dung bài thi được chuẩn bị trên khối lượng kiến thức rất rộng và bao quát. Nhưng nếu vượt qua, có được chứng chỉ ACCA và tư cách hội viên chính thức của ACCA thì bạn sẽ tự tin làm việc với tất cả các kế toán trưởng, giám đốc tài chính, tổng giám đốc là người nước ngoài… tại mọi nơi trên thế giới.

* Câu nói “Làm kiểm toán là bán thời gian và chất xám” có làm ông phải suy nghĩ không?

– Có gì thú vị hơn khi có cơ hội được đi khắp mọi miền đất nước, thậm chí cả ở nước ngoài. Những chuyến đi cho ta cảm nhận mới mẻ về những vùng đất, những con người, những nét văn hóa khác nhau. Bạn sẽ được thử thách chính mình trong một môi trường đầy thách thức và tự hào rằng mình đã thành công vượt qua được tất cả. Mỗi ngày bạn sẽ nhận ra rằng mình đã và đang trưởng thành hơn rất nhiều, với những kiến thức tích lũy trong công việc, những kinh nghiệm làm việc với nhiều đối tượng khách hàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau… Ở đây thời gian và chất xám của bạn được trân trọng và sử dụng một cách hiệu quả.

* Ông có lời khuyên nào cho những bạn trẻ đã và đang mơ ước trở thành một kiểm toán viên độc lập?

– Hãy lập kế hoạch, đặt ra mục tiêu và luơn quyết tâm thực hiện theo kế hoạch và đạt được mục tiêu đã đề ra. Lộ trình được bắt đầu với vị trí trợ lý kiểm toán, sau đó là vị trí kiểm toán viên, rồi trưởng phòng kiểm toán hay chủ nhiệm kiểm toán. Các bằng cấp mà tôi muốn đề cập đến ở đây là các chứng chỉ về chuyên môn như chứng chỉ ACCA hoặc chứng chỉ CAT. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, nếu bạn đam mê nghề này, bạn không nhất thiết phải học đại học chuyên ngành, các chứng chỉ của ACCA, với những người trong nghề là “tấm hộ chiếu” được công nhận. Bạn cũng có thể trở thành đối tác kiểm toán – chủ phần hùn của một công ty kiểm toán.

Như tôi đã nói, nghề kiểm toán thực sự là khắc nghiệt và đòi hỏi cao. Vì thế tôi luôn nói với các nhân viên của tôi là nếu ai đó nghĩ mình đã thỏa mãn với kết quả đạt được tức là lúc đó đã đến điểm dừng của nghề, và điều đó cũng đồng nghĩa với việc người đó không còn phù hợp với nghề kiểm toán nữa. Do vậy, nếu ai đó nghĩ là khi mình đạt đến cấp bậc chuyên môn Partner kiểm toán thì khi đó là điểm dừng và thỏa mãn với những gì mình có thì là suy nghĩ hoàn toàn sai. Nghề kiểm toán đòi hỏi những người hành nghề phải học hỏi không ngừng. Hay chính bản thân tôi, tôi không dừng lại với cương vị Partner kiểm toán và là Tổng giám đốc Công ty Mazars Việt Nam. Tôi luôn mong muốn xây dựng và phát triển Mazars Việt Nam trở thành một trong những thương hiệu kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam.

Các công ty kiểm toán độc lập: “Sóng ngầm” đe dọa chất lượng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:52 am
Tags: ,
Ở Việt Nam đã xuất hiện “thị trường kiểm toán” bởi hàng loạt các công ty kiểm toán độc lập ra đời. Hiện tại, có 148 công ty kiểm toán đã đăng ký hành nghề với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam. Trong số này, có 7 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài (KPMG, Price water House…) hoặc có vốn đầu tư nước ngoài (E Jung, Mazars)… Theo đánh giá, “thị trường” kiểm toán đang có một cuộc cạnh tranh không lành mạnh, thậm chí bôi xấu lẫn nhau giữa các công ty kiểm toán.

Nhiều công ty “khó bảo đảm chất lượng”

Theo Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), đến nay có 148 công ty đã đăng ký hành nghề, bao gồm 137 công ty TNHH, 5 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài là Ernts and Young, Price Waterhouse coopers, KPMG, G. T, Logos, 2 công ty có vốn đầu tư nước ngoài là E Jung, Mazars và 4 công ty hợp danh. Ngoài ra, có 7 công ty chưa đăng ký hành nghề với VACPA, 3 công ty đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đăng ký. Trong năm 2009, cả nước chỉ có 33 công ty và 416 kiểm toán viên đủ điều kiện kiểm toán công ty niêm yết được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận (trong khi số lượng công ty niêm yết hoặc cổ phần đại chúng rất lớn). Đến thời điểm này, ngành kiểm toán có khoảng 8.000 người làm việc, trong đó hơn 1.100 người có chứng chỉ kiểm toán viên, 111 người vừa có chứng chỉ kiểm toán viên Việt Nam vừa có chứng chỉ kiểm toán viên nước ngoài. VACPA đánh giá, các công ty kiểm toán không chỉ thiếu trầm trọng nhân lực mà còn khó có thể “bảo đảm chất lượng dịch vụ theo yêu cầu”.

Thống kê từ 131 công ty kiểm toán (có báo cáo VACPA) cho thấy, số lượng khách hàng năm 2009 của toàn ngành là 25.875 khách hàng. Đối tượng rất đa dạng, từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến các công ty TNHH, cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã (HTX)… Doanh thu năm 2009 đạt 2.191 tỷ đồng, tăng 27,55% so với năm 2008. Trong đó, “gặt hái” từ dịch vụ kiểm toán chiếm tỷ trọng cao nhất – xấp xỉ 1.600 tỷ đồng (71%).

Áp lực đến từ đâu?

Hiện cả nước có khoảng 460 nghìn doanh nghiệp (thống kê của Bộ Kế hoạch – Đầu tư). Sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là thị trường chứng khoán đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tính minh bạch, công khai của các thông tin tài chính, tuy nhiên chất lượng dịch vụ kiểm toán có sự chênh lệch khá lớn giữa các công ty. Một cuộc cạnh tranh ngấm ngầm giữa các công ty hình thành. Nhiều công ty nhỏ, mới thành lập nên khá yếu, thậm chí chưa đủ kiểm toán viên. Nhiều công ty kiểm toán do đông khách hàng, bị “ép” tiến độ nên đã không bảo đảm chất lượng cho “đầu ra”. Theo nhiều doanh nghiệp, năng lực và đạo đức nghề nghiệp của nhiều kiểm toán viên cũng có vấn đề. Có trường hợp kiểm toán viên… chưa nắm vững các quy định chuẩn mực chế độ kế toán hiện hành. Nhiều công ty, đặc biệt là số mới thành lập hoặc chỉ có 3 – 4 kiểm toán viên, thường quá chú trọng phát triển khách hàng mà không quan tâm chất lượng hồ sơ và báo cáo kiểm toán.

Để công ty kiểm toán có lãi, mỗi một kiểm toán viên được cấp chứng chỉ hành nghề phải mang về nguồn thu khoảng 200 triệu đồng một năm. Doanh số khoán trên mỗi kiểm toán viên là áp lực lớn. Nếu như không “được nhờ” thương hiệu của công ty – khách hàng tự tìm về – thì nhiều nhân viên kiểm toán phải tận dụng mọi mối quan hệ để tìm khách hàng. Vì thế, không ít trường hợp công ty nọ nói xấu công ty kia, thậm chí “vác” cả thư nặc danh lên Bộ Tài chính, VACPA…

Dấu hỏi quanh các “ông lớn”
Không chỉ cạnh tranh lẫn nhau, các công ty kiểm toán trong nước còn phải chịu “sức ép” rất lớn từ nhóm “đại gia”. Chẳng hạn, năm 2009 chỉ các công ty Deloitte Việt Nam, Ernst & Young Việt Nam, Price Waterhouse Coopers, KPMG Việt Nam đã có doanh thu khoảng 1.196 tỷ đồng, chiếm 55% tổng doanh thu toàn ngành, với xấp xỉ 4.800 khách hàng. Nếu doanh thu của các công ty trong nhóm này đều trên 250 tỷ đồng, thì những công ty tốp 5… trở xuống chưa đạt 90 tỷ đồng, thậm chí không hiếm công ty có doanh thu vài tỷ đồng. Tuy nhiên, thật bất ngờ, tại hội nghị giám đốc các công ty kiểm toán được tổ chức mới đây, VACPA cho biết ba công ty kiểm toán lớn nhất… lỗ 96 tỷ đồng.

Thông tin này đã khiến nhiều người ngạc nhiên. Đây là những công ty đã và đang kiểm toán cho nhiều tập đoàn, công ty lớn. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra. Có phải những công ty này đã đưa ra mức phí quá thấp, không bù đắp nổi chi phí với mục đích cạnh tranh không lành mạnh nhằm bóp nghẹt các công ty kiểm toán trong nước? Phải chăng các công ty này phải nộp phí cho công ty mẹ lớn hoặc phải trả lương nhân viên quá cao nhằm thu hút “chất xám” từ đối thủ… Theo một chuyên gia tài chính, trong mọi trường hợp, doanh nghiệp lỗ thì lấy gì bảo đảm khả năng thanh toán nếu xảy ra rủi ro (đối với kết quả kiểm toán)?

Tình trạng nêu trên của các công ty kiểm toán độc lập đang có nguy cơ dẫn đến một mặt bằng kết quả kiểm toán làng nhàng mà hệ quả là các con số kiểm toán có thể làm sai lệch, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Bởi vậy, rất cần các cơ quan chức năng quan tâm có giải pháp để lành mạnh hóa “thị trường” kiểm toán hiện nay.

‘Làm xiếc’ báo cáo tài chính

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:45 am
Tags: ,

Gần đây, giới đầu tư xôn xao việc Tổng công ty CP Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (VCG) báo lãi năm 2009 lên tới 269,11 tỷ đồng, sau kiểm toán lợi nhuận thực tế chỉ còn… 5,8 tỷ đồng. Chị Mai Hương, nhà đầu tư trên sàn chứng khoán Bảo Việt phàn nàn: “Tin vào kết quả báo cáo tài chính của doanh nghiệp vốn là thương hiệu lớn trong ngành xây dựng, tôi mua 5.000 cổ phiếu VCG ngày 5/4 với giá 54.900 đồng một cổ phiếu. Ngay sau khi VCG phải giải trình về chuyện giảm lãi sau kiểm toán, tôi đã phải bán vội với giá 51.300 đồng, niềm tin mất mát mà túi tiền cũng hao hụt gần 20 triệu đồng chỉ sau một tuần lễ”.

Nhiều cổ phiếu được xếp hàng chủ chốt như KDC của Công ty CP Kinh Đô, HPG của Tập đoàn Hòa Phát… cũng từng khiến nhà đầu tư giật mình vì bỗng nhiên thành lãi giả, lỗ thật sau khi có báo cáo kiểm toán. Chẳng hạn, lợi nhuận trước thuế của KDC năm 2008 đã chuyển từ lãi 142,3 tỷ đồng sang lỗ 61,7 tỷ đồng (chênh lệch tới 203 tỷ đồng). HPG cũng vừa phải giải trình HoSE về việc lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán giảm 11 tỷ đồng xuống còn 1.270,7 tỷ đồng…

Theo giải trình của VCG, sở dĩ lợi nhuận giảm mạnh do kiểm toán loại trừ thêm các khoản doanh thu nội bộ liên quan giữa các đơn vị trong tổng công ty khi hợp nhất báo cáo tài chính. Còn theo KDC, nguyên nhân chủ yếu là do sự khác biệt về cách áp dụng thông tư số 13/2006/TT-BTC về phương pháp trích lập dự phòng giảm giá đối với các loại chứng khoán đầu tư dài hạn.

Nhà đầu tư có thể kiện?

Trước việc doanh nghiệp liên tiếp phải giải trình vì bất nhất trong báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán, ông Bùi Văn Mai, Phó chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), lý giải: “Có thể do doanh nghiệp chưa biết cách lập báo cáo tài chính, không hiểu nguyên tắc kiểm toán cho nên… hồn nhiên tính gộp cả phần lợi nhuận luân chuyển trong nội bộ (các công ty con mua đi – bán lại với nhau) vào tổng thu nhập. Còn trong kiểm toán, đương nhiên chỉ có thu nhập bên ngoài tổng công ty mới được coi là doanh thu thật”. Tuy nhiên, cũng theo ông Mai, “cũng không loại trừ khả năng doanh nghiệp có chủ ý” vì doanh nghiệp nào cũng muốn trình cổ đông một bản báo cáo đẹp, con số lợi nhuận khổng lồ. “Hơn nữa, việc lập báo cáo tài chính vốn là công việc thường xuyên, định kỳ, không phải việc làm lần đầu với doanh nghiệp. Vì vậy, những lỗi sai như thế này cũng thật khó hiểu”, ông Mai băn khoăn.

Trao đổi với Đất Việt, ông Nguyễn Sơn, Trưởng ban phát triển thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cho biết: “Thực tế, quy định công bố thông tin hiện nay chỉ bắt buộc doanh nghiệp phải nộp báo cáo tài chính đã kiểm toán lên hai sở GDCK. Còn việc doanh nghiệp chủ động cung cấp thông tin lợi nhuận, doanh thu… cho nhà đầu tư với số liệu chưa kiểm toán – vốn không bắt buộc lại… nằm ngoài sự quản lý của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước”.

Thực tế, việc doanh nghiệp “hô” lợi nhuận “con voi”, nhưng thực tế sau kiểm lại biến thành “con kiến” vốn không phải xảy ra lần đầu. Những năm trước, hàng loạt doanh nghiệp từng mắc phải như STB của Sacombank, BBT của Bông Bạch Tuyết… Theo ông Sơn, trong hạch toán có thể có nhầm lẫn nhưng cũng không loại trừ doanh nghiệp cố tình hạch toán sai để đưa ra số liệu đẹp. “Vì vậy, trong trường hợp này, nhà đầu tư có thể kiện đại diện công bố thông tin. Còn về mặt đạo đức nghề nghiệp, bản thân lãnh đạo doanh nghiệp cũng cần xem xét lại mình”, ông Sơn nói.

March 13, 2010

Những điều cần chú ý khi kiểm toán BCTC trong điều kiện kinh tế khủng hoảng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:45 pm
Tags:


from Kế toán | Tài chính by tmtvietnam
Mặc dù nền kinh tế thế giới và trong nước đã có những dấu hiệu phục hồi bước đầu nhưng tình hình kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự có những chuyển biến rõ rệt.

Mặc dù nền kinh tế thế giới và trong nước đã có những dấu hiệu phục hồi bước đầu nhưng tình hình kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Việt nam vẫn chưa thực sự có những chuyển biến rõ rệt. Những bất lợi của điều kiện kinh tế, những rủi ro từ thay đổi trong quy mô và hoạt động của các doanh nghiệp, những biến động lên xuống của thị trường đang đặt ra rất nhiều thách thức cho vấn đề tác nghiệp của các kiểm toán viên khi ngày kết thúc năm tài chính 2009, ngày 31/12 đang đến rất gần.

Tháng 4/2009 vừa qua, Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc đã ban hành thông cáo “Những vấn đề kiểm toán viên cần quan tâm trong điều kiện kinh tế khủng hoảng”. Trong đó đưa ra những rủi ro nổi trội mà kiểm toán viên sẽ phải chú ý hơn khi kiểm toán báo cáo tài chính năm 2009, từ khâu xem xét chấp nhận khách hàng, đến lập kế hoạch kiểm toán và kết thúc kiểm toán nhằm trợ giúp các kiểm toán viên trong điều kiện kinh tế khủng hoảng. Những vấn đề mà Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc đưa ra không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi quốc gia mà nó cũng là những vấn đề mà nhiều nước khác cũng đang đối mặt, trong đó có Việt nam. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu và phân tích những rủi ro để nhận diện đúng rủi ro và đưa ra những hướng giải quyết phù hợp cho kiểm toán cuối năm 2009. Những rủi ro có thể kể đến là:

1.Xem xét chấp nhận khách hàng

Rủi ro đầu tiên mà thông cáo đặt ra là rủi ro từ sự biến động về quy mô và hoạt động của doanh nghiệp. Năm 2009 là năm mà nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, kinh doanh hoặc cơ cấu lại tổ chức nhằm giảm thiểu lao động dư thừa. Nhiều công ty sát nhập hoặc nhượng bán lại một phần doanh nghiệp trong khi nhiều công ty có khả năng mất tính thanh khoản do hàng không bán được, nhưng chi phí vẫn luôn phát sinh. Do đó, trong quá trình xem xét chấp nhận khách hàng, kiểm toán viên cần phải tìm hiểu về tình hình kinh doanh, mô hình hoạt động và tính chính trực của bộ máy quản lý của đơn vị. Đây là việc mà kiểm toán viên ngay trong điều kiện bình thường cũng phải làm cẩn thận. Tuy nhiên trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng như hiện nay thì kiểm toán viên cần phải đánh giá kỹ hơn những áp lực, thách thức mà doanh nghiệp đang gặp phải có khả năng ảnh hưởng đến tính chính trực của ban lãnh đạo khả năng xảy ra gian lận và liệu rủi ro kiểm tóan có thể được giảm thiểu đến mức chấp nhận được. Từ đó kiểm toán viên cân nhắc có nên chấp nhận kiểm toán hay không, kể cả đối với những khách hàng đã ký hợp đồng kiểm toán nhiều năm.

2.Tính hoạt động liên tục và rủi ro thanh khoản

Ở Việt Nam, một số doanh nghiệp vẫn còn dư nợ từ năm trước với lãi suất cao trên dưới 20% trong khi nhu cầu thị trường vẫn chưa phục hồi. Do đó khi tìm hiểu đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên cần phải xem xét đến công tác quản trị rủi ro thanh khoản của công ty, xem xét dự đoán luồng tiền ra -tiền vào, khả năng thanh toán của công ty với các khoản nợ đến hạn trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán cũng như xem lại các kịch bản tình huống mà lãnh đạo doanh nghiệp đặt ra để thử độ giãn (stress test) của tính thanh khoản của công ty có hợp lý không. Đối với các doanh nghiệp trong năm 2009 được hưởng lợi từ hỗ trợ lãi suất và giảm, giãn thuế thì việc đưa những điều kiện thuận lợi như vậy làm đầu vào cho việc dự đoán tính thanh khoản cho các năm sau liệu có hợp lý? Động thái tăng lãi suất cơ bản của NHNN lên 8% từ ngày 01/12/2009 dẫn đến việc cho vay doanh nghiệp của các NHTM cũng sẽ tăng. Liệu điều đó đã được phản ánh trong kế hoạch hoạt động của DN? Tại Việt Nam, tín dụng tăng trưởng đã quá nóng, tính đến tháng 11/2009 đã là 33,29%, dẫn đến nhiều tổ chức tín dụng đang thắt chặt cho vay và đẩy lùi thời hạn giải ngân, do đó kiểm toán viên cần phải xem xét xem liệu việc này có ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp do thiếu hay chậm vốn hay không.

Ngoài ra đối với các doanh nghiệp cho phép khách hàng trả chậm thì kiểm toán viên cần phải xem xét đến rủi ro tín dụng mà doanh nghiệp có khả năng gặp phải từ những khoản phải thu thương mại này vì nó sẽ ảnh hưởng đến luồn tiền vào từ hoạt động bán hàng/dịch vụ. Đánh giá được rủi ro thanh khoản của doanh nghiệp là một việc làm rất quan trọng trong việc xác định xem doanh nghiệp có khả năng hoạt động liên tục hay không. Do đó, trong điều kiện khủng hoảng tài chính, kiểm toán viên cần phải đặc biệt chú ý đến các dấu hiệu như ngân hàng yêu cầu đối tượng được kiểm toán phải bổ sung tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng đã từng có quan hệ lâu dài nay đột nhiên chấm dứt quan hệ tín dụng, doanh nghiệp bị phạt do vi phạm các điều khoản của hợp đồng cho vay, khách hàng hoặc nhà cung cấp quan trọng chấm dứt quan hệ kinh doanh, hợp tác; thanh lý nhiều máy móc, nhà xưởng đang dùng trong hoạt động sản xuất… Khi có những dấu hiệu này, kiểm toán viên cần phải tìm hiểu rõ bằng cách trao đổi với khách hàng và độc lập kiểm tra với bên thứ ba (ngân hàng, tổ chức tín dụng, khách hàng/nhà cung cấp của doanh nghiệp…) để có thể đưa ra được nhận định khách quan nhất về tính hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán.

3. Lập kế hoạch kiểm toán

3.1. Hệ thống Kiểm soát nội bộ

Khi đã chấp nhận kiểm toán BCTC của một doanh nghiệp (DN) thì phần lập kế hoạch kiểm toán cần chú trọng vào tìm hiểu về khách hàng, đặc biệt là tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB). Việc cơ cấu lại hay giảm thiểu lao động nhằm cắt giảm chi phí cũng có thể dẫn đến việc đánh đổi chốt kiểm soát ở một số khâu sẽ bị nới lỏng, thậm chí mất hẳn chốt kiểm soát. Ví dụ trước đây, hồ sơ xin cấp tín dụng mua hàng của khách hàng sẽ được các chi nhánh nhận và sau đó sẽ scan và truyền qua mạng nội bộ về hội sở. Bộ hồ sơ gốc sẽ được chuyển phát qua đường thư tín bảo đảm và sẽ có nhân viên chịu trách nhiệm so sánh, kiểm tra bản scan với hồ sơ gốc. Tuy nhiên do công ty cắt giảm nhân sự mà việc kiểm tra so sánh đã bị xao nhãng, dẫn đến rủi ro bản scan và bản gốc có thể không trùng khớp nhau. Do đó, kiểm toán viên cần phải đánh giá lại tính hiệu quả của các chốt kiểm soát đã bị nới lỏng và tăng cường kiểm tra cơ bản đối với những khâu mất hẳn chốt kiểm soát.

3.2. Mức độ trọng yếu

Sau khi đã tìm hiểu về hoạt động của đơn vị được kiểm toán, hệ thống kế toán, hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro thì kiểm toán viên phải xác định được mức độ trọng yếu cho BCTC của đơn vị được kiểm toán. Trong tình hình hiện nay, cần phải xem xét đến sự thay đổi trong kỳ vọng của những người sử dụng thông tin tài chính của doanh nghiệp như nhà đầu tư, chủ nợ… Do sức ép từ thị trường tài chính, chứng khoán, từ sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nên việc cho rằng những nhà lãnh đạo doanh nghiệp có động lực để “phù phép” báo cáo tài chính là có cơ sở. Cũng chính vì tâm lý này mà mức độ trọng yếu trong thời điểm này sẽ thấp hơn tại những thời điểm kinh tế bình thường khác do rủi ro kiểm toán cao hơn. Thêm vào đó, có những doanh nghiệp các năm trước đều lãi lớn nhưng năm nay lại lỗ hoặc lãi không đáng kể, do vậy cần phải xem xét lại cách định lượng mức độ trọng yếu cho BCTC.

3.3. Chương trình kiểm toán

Khi lập chương trình kiểm toán cho các phần hành, kiểm toán viên cần phải tăng cường các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với những khoản mục được xác định là trọng yếu và liên quan nhiều đến sự đánh giá chủ quan của người lập BCTC. Một số khoản mục cần được chú ý do chịu rủi ro thị trường giá như nợ phải trả bằng ngoại tệ, dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư, lỗ lãi từ việc chuyển nhượng thoái vốn như trường hợp của Vinashin, SCIC và Bảo Việt. Đối với các khoản phải thu thương mại, cần xem xét đến khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp và tính hợp lý của dự phòng nợ xấu và dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu tham gia vào thị trường công cụ phái sinh thì cần phải xem xét đến giá trị hợp lý của các công cụ này tại ngày kết thúc năm tài chính. Đối với các tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tài chính thì xác định giá trị hợp lý cho các công cụ tài chính này sẽ do bên đối tác, thường là ngân hàng, cung cấp. Còn đối với các tổ chức tài chính thì kiểm toán viên cần xem xét lại giá trị đầu vào cho mô hình định giá giá trị hợp lý của các công cụ này, đặc biệt trong sự biến động tỷ giá như hiện nay.

Lý thuyết “Positive accounting” nên được vận dụng để phân tích các khoản mục có rủi ro sai sót cao, đặc biệt là hiện tượng “tát nước theo mưa”. Đây là hiện tượng mà kết quả năm nay không đạt được kế hoạch đặt ra do khủng hoảng tài chính, ban lãnh đạo quyết định sẽ ghi nhận thêm các chi phí như tăng dự phòng rủi ro hàng tồn kho, tăng dự phòng các khoản phải thu thương mại, tăng dự phòng bảo hành… Điều này dẫn đến các năm sau khi hoàn nhập sẽ tăng lợi nhuận của DN. Kiểm toán viên do đó cần đặc biệt chú ý đến những khoản mục mà có sự đánh giá chủ quan của người lập BCTC.

3.4. Nhân lực và vật lực

Nhân lực và vật lực của một cuộc kiểm toán trong điều kiện kinh tế biến động cũng khác với trong điều kiện bình thường. Khi các công ty đang gặp khó khăn để kinh doanh thì phí trả cho kiểm toán viên sẽ không tăng, thậm chí giảm đi so với năm trước. Trong khi đó do rủi ro kiểm toán tăng cao nên chất lượng kiểm toán viên cũng như thời gian của cuộc kiểm toán phải tăng lên. Rất nhiều kiểm toán viên ở nước ta với tuổi đời còn trẻ, chưa từng kiểm toán trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, do đó cần phải sử dụng thêm các kiểm toán viên dày dặn kinh nghiệm và tăng thời gian hướng dẫn, giám sát, kiểm tra chất lượng của một cuộc kiểm toán lên so với điều kiện bình thường. Không chỉ vậy, với những phần hành phức tạp, cần phải có kiến thức chuyên và sâu như định giá một công trình xây dựng quy mô lớn thì cần phải có sự tham gia của các chuyên gia hoặc bên thứ ba có khả năng tư vấn . Thủ tục kiểm toán cơ bản cũng sẽ tăng lên, độ tin cậy đạt được dựa vào thủ tục kiểm soát giảm xuống, dẫn đến lượng thời gian của một cuộc kiểm toán cũng tăng thêm. Do đó, các công ty kiểm toán nên có các khóa đào tạo cho các kiểm toán viên về các rủi ro cơ bản mà các doanh nghiệp gặp phải trong khủng hoảng kinh tế, cũng như cách tiếp cận kiểm toán trong thời kỳ kinh tế biến động khác biệt ra sao so với kiểm toán trong điều kiện bình thường. Đặc biệt cần phải nhấn mạnh với các kiểm toán viên là hơn bao giờ hết, thái độ hoài nghi nghề nghiệp là rất quan trọng.

4. Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toán với ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán

Khi lập kế hoạch kiểm toán và trong suốt quá trình kiểm toán, kiểm toán viên cần phải đánh giá rủi ro về những gian lận và sai sót có thể có, làm ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC và phải trao đổi với ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán về mọi gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiện được. Trong điều kiện bình thường thì đây là việc mà kiểm toán viên phải làm theo yêu cầu của chuẩn mực số 260 của Việt Nam. Tuy nhiên trong điều kiện khủng hoảng tài chính, thị trường có nhiều biến động thì việc trao đổi thông tin này càng quan trọng hơn nữa và càng phải kịp thời hơn nữa. Lý do là bởi trong điều kiện hoạt động kinh doanh không thuận lợi, ban lãnh đạo chịu áp lực từ nhiều phía có thể không thể bao quát hết hoặc không biết có sai phạm trong nội bộ doanh nghiệp. Ngoài ra do tâm lý của người lao động bi quan về cắt lương và giảm thưởng, dẫn đến rủi ro đạo đức như thông đồng với nhau để tham ô tài sản doanh nghiệp hay giảm năng suất lao động, bỏ bẵng trách nhiệm của mình. Do đó kiểm toán viên có thể tăng thêm giá trị cho DN thông qua giúp lãnh đạo DN nhận biết được những sai sót, yếu kém đó một cách kịp thời, không chỉ qua thư quản lý khi kết thúc kiểm toán mà có thể trực tiếp và liên tục trong quá trình kiểm toán.

5. Gian lận

Phát hiện được gian lận luôn là một thách thức với các kiểm toán viên trong điều kiện kinh tế bình thường và càng trở nên khó khăn hơn trong điều kiện kinh tế khủng hoảng, khi mà nhân lực thì cắt giảm và các nhà quản lý thì chịu nhiều áp lực từ thị trường và cổ đông. Một số vấn đề mà kiểm toán viên nên chú ý như tăng thẩm quyền phán quyết và thẩm quyền can thiệp của quản lý viên và kiểm soát viên trên hệ thống; thay đổi nhân sự ở các vị trí chủ chốt trong năm; cắt giảm nhân lực ở các phòng có chức năng quản lý rủi ro như kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ; hay chỉ tiêu đặt ra tại đại hội đồng cổ đông quá cao và không được sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế trong năm.

Một trong những gian lận khó phát hiện là gian lận xuất phát từ chính ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán viên cần phải thu thập thêm thông tin về tính chính trực của ban lãnh đạo trong quá trình kiểm toán thông qua việc quan sát và đánh giá văn hóa doanh nghiệp, văn hóa lãnh đạo, môi trường làm việc, cơ chế lương thưởng và tuyển dụng của DN. Ngoài ra nên thu thập thông tin từ nhân viên cấp dưới, phỏng vấn riêng rẽ từng người trong ban lãnh đạo DN và so sánh thông tin cung cấp bởi họ xem có sự sai lệch, mâu thuẫn gì không.

Đối mặt với rủi ro gian lận, kiểm toán viên cần phải giữ được thái độ hoài nghi nghề nghiệp, cho dù đó là khách hàng lâu năm và trong quá khứ không có dấu hiệu gian lận nào dù là nhỏ ở cấp quản lý. Thêm vào đó, cần tăng cường sự trao đổi thông tin trong nội bộ nhóm kiểm toán, đặc biệt là trong quá trình kiểm toán, nếu phát hiện ra các giao dịch khác thường thì kiểm toán viên cần phải tìm hiểu rõ bản chất cũng như điều kiện phát sinh các giao dịch này.

Kiểm toán trong thời kỳ kinh tế biến động đòi hỏi kiểm toán viên phải ngồi lại và nghiên cứu lại mô hình hoạt động của khách hàng, phân tích xem những khó khăn và thách thức nào mà doanh nghiệp được kiểm toán đang gặp phải. Từ đó xác định ra khả năng dẫn đến những sai lệch trọng yếu của BCTC. Thái độ hoài nghi nghề nghiệp cần phải được đặt lên hàng đầu, luôn đặt câu hỏi về những cơ hội gian lận và bản chất của giao dịch cho từng bộ phận. Một việc không kém quan trọng nữa là việc “biết người, biết ta”, kiểm toán viên phải nhận biết được khả năng của mình, để biết khi nào cần đến sự tư vấn và trợ giúp của chuyên gia nội bộ hoặc chuyên gia thuê ngoài, để có thể đưa ra ý kiến hợp lý nhất khi kiểm toán trong điều kiện khủng hoảng tài chính như hiện nay./.

Theo Kiemtoan.com.vn

Next Page »

Blog at WordPress.com.