Ktetaichinh’s Blog

December 22, 2009

Ngẫm về suy thoái kinh tế thế giới

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:33 am
Tags:

Monday, 21. December 2009, 10:43:30

Suy thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ.

Đó là nhận định được đưa ra trong bài viết “Great stabilisation” (tạm dịch: “Đại bình ổn hóa”), nhìn lại suy thoái kinh tế thế giới năm qua và triển vọng phục hồi sắp tới, đăng trên tờ Economist.

VnEconomy xin giới thiệu với độc giả bản lược dịch bài viết này.

Năm 2009 được nhiều người xem như một năm suy thoái nghiêm trọng của kinh tế toàn cầu, trong đó sản lượng của nền kinh tế thế giới trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2 tới nay. Nhưng có lẽ, sẽ là hợp lý hơn nêu coi 2009 là năm bình ổn trở lại của kinh tế thế giới, vì năm nay không chỉ đáng nhớ vì tốc độ sụt giảm chóng mặt của sản lượng, mà còn vì một thảm họa kinh tế đã được ngăn chặn một cách ngoạn mục.

Cách đây 12 tháng, cơn hoảng loạn sau vụ phá sản của Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers đã đẩy thị trường tài chính toàn cầu tới mép vực sụp đổ. Các hoạt động kinh tế khắp thế giới, từ sản xuất công nghiệp tới ngoại thương, lao dốc với tốc độ nhanh hơn ở thời kỳ Đại khủng hoảng đầu thập niên 1930.

Tuy nhiên, lần này, sự sụt giảm trên đã được ngăn chặn chỉ trong vòng vài tháng. Những nền kinh tế đang nổi lên đã tăng tốc đầu tiên và mạnh hơn cả. Sau một thời gian ngắn đình trệ, GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng 7,9% so với cùng kỳ năm trước trong quý 2 và tăng 8,9% trong quý 3 vừa qua. Đến giữa năm, những nền kinh tế lớn, giàu có của thế giới, ngoại trừ Anh và Tây Ban Nha, đã bắt đầu tăng trưởng trở lại. Tới thời điểm này, trên thế giới hiện chỉ còn một vài nền kinh tế như Latvia và Ireland là vẫn còn chưa thoát khỏi vòng vây của suy thoái.

Tuy nhiên, những thiệt hại mà suy thoái đã gây ra cho kinh tế thế giới là không hề nhỏ. Tỷ lệ thất nghiệp bình quân của các nền kinh tế trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là gần 9%. Tại Mỹ, nơi suy thoái bắt đầu sớm hơn các nơi khác, đội ngũ thất nghiệp đã tăng gấp đôi lên 10%. Tại một số quốc gia, kết quả của tiến trình giảm nghèo kéo dài nhiều năm đã trở về con số 0 khi mà tầng lớp nghèo nhất chịu tác động tiêu cực cùng lúc của sự suy giảm tăng trưởng kết hợp với giá thực phẩm cao.

Mặc dù vậy, nhờ sự vững vàng của những nền kinh tế lớn và đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, nhóm các nền kinh tế đang nổi lên đã chống chọi không tồi với lần suy thoái này nếu so sánh với những gì đã diễn ra trong lần suy thoái 1991. Đối với nhiều người trên thế giới, lần suy thoái này đã không quá khủng khiếp.

Nhưng điều này không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của những động thái phản ứng lớn nhất, rộng nhất và nhanh nhất từng có trong lịch sử của các chính phủ. Những nhà băng mấp mé bờ vực phá sản đã được bao bọc bằng hàng trăm tỷ USD tiền thuế của dân. Các ngân hàng trung ương đua nhau hạ lãi suất, các ngân hàng trung ương lớn tăng mạnh giá trị bảng cân đối kế toán. Các chính phủ trên toàn cầu tung ra những gói kích thích kinh tế lớn.

Những biện pháp này đã giúp ngăn chặn sự hoảng loạn, vực dậy hệ thống tài chính và bù đắp lại sự sa sút nhu cầu của khu vực tư nhân. Nếu không có những giải pháp như vậy, Đại suy thoái 1930 rất có thể đã lặp lại.

Nhưng mọi sự tốt đẹp mới chỉ dừng ở đó. Điều đáng ngại hiện nay là quá trình bình ổn trở lại của kinh tế thế giới vẫn còn rất mong manh, một mặt vì nhu cầu toàn cầu còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các chính phủ, mặt khác vì chính sách tài khóa mở rộng dù đã ngăn chặn được những rắc rối cũ, nhưng lại tạo nguồn cho những bất ổn mới.

Giá nhà đất vẫn suy giảm tại đa số các thị trường, việc nước Áo cách đây ít ngày quốc hữu hóa ngân hàng Hypo Group cho thấy, hệ thống tài chính thế giới chưa hết căng thẳng. Những bằng chứng rõ nét về sự thanh công, chẳng hạn việc các ngân hàng lớn của Mỹ sớm trả lại tiền cứu trợ của Chính phủ, có thể khiến người ta dễ dàng quên mất rằng, sự phục hồi kinh tế vẫn còn đang phải dựa trên hoạt động chi tiêu công.

Nếu bỏ qua những tác động tạm thời của hoạt động gia tăng sản xuất để tăng hàng tồn kho của các doanh nghiệp, thì phần nhiều của sự phục hồi nhu cầu toàn cầu là kết quả của chi tiêu công. Hoạt động gia tăng hàng tồn kho đã giúp thúc đẩy sự phục hồi tại các nền kinh tế mới nổi, trong khi chỉ có thể ngăn chặn sự trở lại của suy thoái tại nhiều nền kinh tế giàu có.

Sự khác biệt như vậy giữa các nền kinh tế phát triển và đang nổi lên trong tiến trình phục hồi sẽ còn tiếp diễn. Nhu cầu tại các nước giàu sẽ vẫn còn yếu ớt, đặc biệt là ở các quốc gia có mức vay nợ cao trong các hộ gia đình và hệ thống ngân hàng nhiều rạn nứt.

Tỷ lệ nợ so với thu nhập của các hộ gia đình ở Mỹ hiện chỉ thấp hơn mức đỉnh chút ít và cao hơn khoảng 30% so với thời điểm cách đây một thập kỷ. Các hộ gia đình ở Anh và Tây Ban Nha vẫn chưa giải quyết được gì đáng kể tình hình nợ nần, nên khả năng chi tiêu cá nhân còn bị kìm hãm trong thời gian tới là rất cao. Thêm vào đó, với gánh nặng nợ nần gia tăng, chính phủ các nước giàu sẽ gặp khó trong việc vay mượn thêm để bù đắp cho sự sa sút của nhu cầu tư nhân.

Do vậy, sự tương phản với các nền kinh tế đang nổi lên sẽ càng rõ nét hơn. Các nhà đầu tư gần đây đã lo lắng về nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp, và thậm chí là cả một số quốc gia khác trong khu vực sử dụng đồng Euro. Thậm chí cả Anh và Mỹ cũng có thể phải đối mặt với mức chi phí vay nợ gia tăng.

Trong khi đó, những nền kinh tế mới nổi lên lại đương đầu với thách thức hoàn toàn ngược lại: rủi ro bong bóng tài sản xuất hiện khi chính phủ lựa chọn, hoặc buộc phải lựa chọn, việc duy trì chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng trong một thời gian quá dài. Chính sách tiền tệ nới lỏng tại các nước giàu khiến các nền kinh tế mới nổi khó thực hiện thắt chặt, vì nếu làm vậy, họ sẽ càng thu hút các dòng vốn đầu cơ từ nước ngoài.

Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt nói trên giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.

Một số lời giải cho bài toán này không khó tìm. Chẳng hạn, nếu Trung Quốc tăng tỷ giá Nhân dân tệ, nền kinh tế của nước này sẽ cân bằng hơn, đồng thời giảm áp lực đối với các nền kinh tế mới nổi khác. Nếu chính phủ các nước giàu đưa ra được kế hoạch khả thi cho việc cắt giảm chi tiêu tài khóa trong trung hạn, thì rủi ro về việc tăng lãi suất trong dài hạn cũng sẽ giảm bớt.

Tuy nhiên, những đánh đổi tất yếu sẽ xảy ra. Thắt chặt tài khóa ở thời điểm này sẽ chặn đứng sự phục hồi kinh tế của các nước giàu. Chính sách tiền tệ thả lỏng ở Mỹ tốt cho kinh tế Mỹ, nhưng sẽ làm căng thẳng thêm những thách thức mà các nền kinh tế mới nổi đang đối mặt.

Đó là lý do tại sao các nhà hoạch định chính sách đang đứng trước những khó khăn lớn về mặt kỹ thuật trong việc rút lui khỏi các kế hoạch kích thích tăng trưởng.

Tệ hơn, những thách thức này xảy đến với các nhà hoạch định chính sách trên một bức màn chính trị u ám. Việc nước Anh mới đây tuyên bố đánh thuế vào tiền thưởng của ngành ngân hàng đã cho thấy, chính sách tài khóa tại các nước giàu có nguy cơ bị ảnh hưởng mạnh bởi sự bất bình gia tăng của dân chúng đối với các ông chủ nhà băng và các gói giải cứu.
Tại Mỹ, sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (FED) đang đối mặt áp lực phải giảm bớt từ phía Quốc hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao cũng đồng nghĩa với nguy cơ gia tăng xung đột thương mại giữa các quốc gia, khi mà các nước tìm cách bảo vệ thị trường việc làm của mình.

Có thể rút ra điều gì từ tất cả thực trạng trên? Những người có quan điểm bi quan thì đề phòng mọi loại cú sốc có thể xảy ra trong năm 2010, từ khủng hoảng nợ công (giả sử Hy Lạp vỡ nợ) tới sự lan tràn của chủ nghĩa bảo hộ. Dễ xảy ra hơn cả là những sự việc kiểu như lợi suất trái phiếu tăng mạnh, hay những quyết định tài khóa “thiển cận” (chẳng hạn như đánh thuế vào các giao dịch tài chính), hoặc đình công đòi tăng lương…

Rõ ràng, lúc này vẫn còn là thời điểm quá sớm để ăn mừng.
Theo Kiều Oanh – VnEnocomy

Advertisements

December 18, 2009

Cổ phiếu ngành ngân hàng 2009 – Một năm lặng lẽ và… tích lũy

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:03 am
Tags: , ,

Từ chỗ chỉ có hai cổ phiếu niêm yết là STB và ACB chia đều cho hai sàn HoSE và HNX, ngành ngân hàng đã bổ sung thêm 4 “đại gia” vào thị trường chứng khoán kể từ cuối tháng 4/2009, nâng khối lượng vốn hóa của các cổ phiếu nhóm ngành này lên 160.547 tỷ đồng, chiếm 27,2% toàn thị trường. Tuy nhiên, lượng cung càng tăng mạnh bao nhiêu, vai trò dẫn dắt thị trường của các cổ phiếu “vua” càng trở nên mờ nhạt bấy nhiêu.

Giá chào sàn Giá đóng cửa ngày 16/12/2009
ACB 39.200* 36.100
CTG 40.100 29.000
EIB 29.000 22.900
SHB 15.400 21.200
STB 22.000* 22.500
VCB 60.000 43.000
(*) Giá đóng cửa ngày 04/05/2009

Từ cuối năm 2006 đến cuối tháng 4/2009, chỉ có 2 cổ phiếu ngân hàng niêm yết là STB – Sacombank trên sàn Tp.HCM và ACB – Ngân hàng Á châu tại sàn Hà Nội. Hai cổ phiếu này đã đóng vai trò trụ cột thị trường và luôn thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức. Nhưng chỉ trong vòng 6 tháng trong năm 2009, thêm 4 cổ phiếu ngân hàng chào sàn với giá trị vốn hóa lớn, nhóm cổ phiếu này đã giữ vị thế “thống trị” trên thị trường chứng khoán, được kỳ vọng sẽ tác động mạnh mẽ và tích cực đến chỉ số trên hai sàn giao dịch.

Lợi nhuận 4 quý gần nhất Khối lượng lưu hành EPS P/E Book Value P/B
ACB 2.555.564.112.741 770.574.378 4.711 8 11.927 3.0
CTG 3.023.268.319.402 1.125.297.280 3.513 8 16.584 1.6
EIB 1.159.686.951.343 876.226.900 1.324 17 15.323 1.5
SHB 466.500.403.099 200.000.000 2.333 11 11.747 2.1
STB 1.623.629.000.000 511.583.100 3.174 8 13.073 1.8
VCB 3.634.821.832.914 1.210.086.026 3.004 15 12.293 3.6
P/E toàn ngành: 11                                                                                     Số liệu tổng hợp đến cuối tháng 11/2009

Tuy nhiên, diễn biến giá của nhóm cổ phiếu này gây không ít thất vọng cho nhà đầu tư khi hầu như chỉ đi ngang trong suốt thời kỳ thị trường bùng nổ vừa qua. Nếu so sánh mức đáy (cuối tháng 3) và đỉnh (giữa tháng 11) trong năm nay, thị trường chứng khoán VN đã tăng trưởng trên 165% và cổ phiếu của hàng loạt nhóm ngành đạt mức tăng gấp 5-6 lần thì mức tăng giá của cổ phiếu ngân hàng chỉ khiêm tốn ở con số 20-30%.

Tương quan VN-Index và cổ phiếu ngân hàng

Đơn cử trụ cột ACB của sàn HNX, sau khi giá cổ phiếu này chạm đáy 21.480 đồng/cổ phiếu vào ngày 24/2/2009, đến 11/6, ACB lập đỉnh trong năm ở mức 55.770 đồng/ cổ phiếu, tương đương tăng 159%. Tuy nhiên, trong những phiên tiếp theo, ACB giảm giá mạnh và liên tục dao động quanh ngưỡng hẹp 40.000 – 48.000 đồng/cổ phiếu từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 11, thời điểm cổ phiếu nhiều ngành nổi sóng.

Giá trị vốn hóa thị trường của nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng (tính tại thời điểm 16/12/2009)

Cùng với việc chào sàn của 4 “đại gia”, những hoạt động phát hành thêm hoặc chia cổ phiếu thưởng… đã tạo ra tình trạng pha loãng cổ phiếu diễn ra dồn dập trong thời gian ngắn, làm giảm tính hấp dẫn của các cổ phiếu ngân hàng. Ngoài 3,4 tỷ cổ phiếu niêm yết mới của VCB, CTG, EIB, SHB, trong năm qua STB cũng đã phát hành hơn 158 triệu cổ phiếu tăng vốn điều lệ thông qua việc trả cổ tức năm 2008 bằng cổ phiếu, tỷ lệ 15%, phát hành thêm cổ phiếu tỷ lệ 20:3; ACB niêm yết gần 135 triệu cổ phiếu chuyển đổi từ trái phiếu, và mới đây là phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 1,41%. Khối lượng lưu hành lớn cộng với phạm vi lựa chọn được mở rộng đã khiến diễn biến giá của nhóm cổ phiếu này khá trì trệ.

Từ vai trò dẫn dắt thị trường, cổ phiếu ngân hàng đã chuyển sang phòng vệ, và không được các nhà đầu tư lướt sóng ưa chuộng, ngay cả trong thời kỳ sôi động với dòng tiền khổng lồ đổ vào thị trường chứng khoán và liên tục luân chuyển qua các nhóm ngành có mức tăng giá “nóng bỏng”.

Ngoài ra, những biến động của kinh tế Việt Nam và thế giới, những thay đổi trong chính sách tiền tệ trong thời gian qua cũng gây sóng gió cho hoạt động của các ngân hàng.

Năm 2008, với chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát, những “sự cố” như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% vào đầu năm 2008; phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc cho các ngân hàng thương mại cùng với những khó khăn trong việc vay tái cấp vốn như: lãi suất cơ bản tăng từ 8,25% lên 14% trong nửa đầu năm 2008, sau đó giảm còn 7% vào năm 2009; xiết chặt tín dụng… khiến các ngân hàng thương mại trong giai đoạn này hầu như lâm vào tình trạng mất thanh khoản.

Tăng trưởng tín dụng 9 tháng 2009 đạt 28% trong khi tăng trưởng huy động là 22,4%

Bắt đầu từ cuối tháng 5/2009, cuộc chạy đua lãi suất huy động diễn ra căng thẳng nhằm tranh giành thị phần, mặc dù Hiệp hội Ngân hàng có sự thỏa thuận về mặt bằng lãi suất tiền gửi vào đầu tháng 9, đẩy lãi suất cho vay 9 tháng đầu năm lên mức 10,5% (150% lãi suất cơ bản). Trần lãi suất đã khống chế các ngân hàng cho vay tiêu dùng với lãi suất thỏa thuận. Các hợp đồng tín dụng trong chương trình kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất cũng bị kiểm soát chặt để ngăn chặn việc sử dụng sai mục đích như vay để SX-KD nhưng lại đầu tư vào các lĩnh vực phi sản xuất… Các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong huy động vốn. Giá cả đầu vào, tỷ giá, lãi suất đều tăng… khiến doanh nghiệp càng khó trả nợ cũ. Tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao. Những sự kiện này là nguyên nhân làm cho lợi nhuận lãi biên của các ngân hàng giảm sút.

Hạn mức tăng trưởng tín dụng 30% trong năm 2009 nhằm kiềm chế lạm phát đã bị vượt khi con số này trong toàn hệ thống ngân hàng đã lên tới 33,29% tính đến hết tháng 10, trong quý 4 sẽ phải hạn chế ở mức thấp 2% – 4%, hoạt động tín dụng của các ngân hàng chắc chắn bị ảnh hưởng. Do đó, ngoại trừ một số ngân hàng hoạt động hiệu quả và có khả năng thu lợi nhuận từ các thị trường vàng, ngoại tệ, chứng khoán, … thì kết quả kinh doanh của các ngân hàng khác vào cuối năm sẽ khó có đột biến.

Giao dịch ròng của nhà đầu tư nước ngoài từ 1/12 đến 16/12 (*) Room còn lại
Khối lượng Giá trị Sở hữu
CTG 1,805,030 52,493,613,000 10.1%*
EIB 4,965,680 119,961,060,000 46.95%
SHB -12,000 -225,430,000 25.04%
STB 1,860,860 46,921,903,000 30.19%
VCB 82,860 50,636,694,000 7,1%*
Trong khi nhà đầu tư nội thờ ơ thì khối ngoại đang dần thu hẹp phần room còn lại ở các cổ phiếu ngành ngân hàng

Những biến động trên thị trường tài chính kể trên phần nào đã phản ánh vào giá cổ phiếu nhóm ngành ngân hàng trong thời gian vừa qua. Sang năm 2010, khi nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng, các doanh nghiệp cùng đẩy mạnh kinh doanh và nếu như chính sách tín dụng được nới lỏng, các dịch vụ tài chính trở lại sôi động sẽ là động lực giúp cổ phiếu nhóm ngành ngân hàng bật dậy sau thời gian lặng lẽ khá dài vừa qua.

Ở thời điểm hiện tại, nhà đầu tư lướt sóng khó tìm được cơ hội ở cổ phiếu ngân hàng, nhưng với mức P/E trung bình của cổ phiếu ngân hàng vào khoảng 11, đầu tư dài hạn vào các mã thuộc nhóm ngành này là lựa chọn hợp lý.

Theo Phan Phương – Stocknews

December 15, 2009

Tránh được khủng hoảng, TQ còn gặp nhiều khó khăn

Connie Young
15/12/2009

Trong khi năm 2009 sắp hết, người ta nhận thấy có nhiều dấu hiệu là Trung Quốc đã khéo léo lèo lái để vượt qua được cơn khủng hoảng tài chánh toàn cầu và trên đường đạt tới mức tăng trưởng còn mạnh hơn trước. Tuy nhiên, các kinh tế gia cho rằng vẫn còn một số những khó khăn đè nặng lên những nỗ lực duy trì mức tăng trưởng của nước này. Thông tín viên Connie Young tường trình thêm chi tiết từ Bắc Kinh.

Customer pushes his cart in Shenyang supermarket, in northeast China's Liaoning province (Dec 2009 file photo)
Nhiều nhà nhập khẩu không biết hàng hóa bán ra trong dịp Lễ Giáng Sinh này sẽ ra sao

Các dữ liệu kinh tế mới cho thấy tổng sản phẩm nội địa của Trung Quốc dự kiến sẽ gia tăng trên 8% trong năm nay. Sản lượng công nghiệp cho tháng 11 chỉ tăng trên 19% so với cách đây 1 năm, ngay sau khi cuộc khủng hoảng tài chánh bắt đầu. Mức nhập khẩu tăng gần 27%, nhờ sự chi tiêu vào các mặt hàng thương phẩm của chính phủ.

Nhưng trong lúc khối lượng hàng xuất khẩu có những dấu hiệu hồi phục thì ngành công nghiệp vẫn còn yếu. Vào tháng 11, các ngành công nghiệp xuất khẩu đã hạ giảm 1% so với năm trước.

Ông Michael Pettis, cộng tác với tổ chức Carnegie vì Hòa bình Thế giới và là giáo sư tài chánh tại đại học Bắc Kinh, nói rằng những số liệu vừa nêu đã khơi lên những tranh cãi về sức mạnh kinh tế của nước này.

Ông nói: “Nếu quý vị là một người lạc quan thì số liệu đó cho thấy sự phục hồi đang được tiếp tục. Phần lớn các số liệu coi như khá tốt. Đầu tư vẫn ở mức thật cao, nhất là những khoản đầu tư về tài sản cố định. Nhưng những số liệu về sản xuất coi như tốt. Nhưng nếu quý vị là một người bi quan, quý vị sẽ nói, có gì đâu, đó đúng là điều người ta dự trù từ một chiến lược đầu tư ào ạt từ phía chính phủ.”

Một số chuyên gia doanh nghiệp lo ngại là các ngành xuất khẩu sẽ chiếm phần nhỏ hơn trong nền kinh tế Trung Quốc. Các cơ xưởng đối mặt với tình trạng giá nhân công tăng và chi phí sản xuất tăng, và có những dự đoán là đồng Nguyên, hay là đồng Nhân dân tệ sẽ lên giá, nên các lãnh tụ doanh nghiệp nói rằng, duy trì cho khu vực này sống còn cũng là một thách thức cho chính phủ.

Ông Stanley Lau, Phó Chủ tịch Liên hội Công nghiệp Hồng Kông, đại diện cho các doanh nghiệp Hồng Kông tại Trung Quốc, nói rằng các cơ xưởng đang phải đứng trước mức cầu yếu kém từ nước ngoài.

Ông Lau cho biết: “Trước hết, nói một cách tổng quát, nhiều nhà nhập khẩu không biết hàng hóa bán ra trong dịp Lễ Giáng Sinh này sẽ ra sao. Điều này có nghĩa là nhiều khách hàng vẫn còn đợi những con số sau cùng cho mùa bán hàng vào dịp Giáng Sinh. Vì vậy họ chưa đặt hàng với chúng tôi cho năm sau. Theo tôi nghĩ, họ muốn đợi cho tới kỳ Lễ Tân Niên và rồi họ sẽ lên kế hoạch đặt hàng cho năm tới.”

Vào lúc nhu cầu về hàng xuất khẩu bắt đầu hạ hồi năm ngoái, chính phủ Trung Quốc đã khởi sự những cố gắng nhằm kích hoạt nền kinh tế, như là hạ lãi suất, khuyến khích cho vay, và chi tiêu hàng tỉ đôla cho những dự án cơ sở hạ tầng.

Nhưng một số kinh tế gia cảnh báo rằng những cố gắng đó có thể khiến giá bất động sản, giá chứng khoán và nhiều loại tài sản khác gia tăng quá nhanh, như là một cái bong bóng có thể nổ tung. Các kinh tế gia nói rằng tín dụng lỏng lẻo của Trung Quốc, tình trạng đầu tư quá mức và tiêu thụ chưa tới mức có thể đưa tới một hiểm họa lớn, nhất là trong thị trường tài sản.

Tuy nhiên, chính phủ bắt đầu cố gắng hãm bớt. Những số liệu của Ủy ban Điều hành Ngân hàng cho thấy trong năm 2009 các khoản cho vay có thể lên tới hàng 300 tỉ đôla, nhưng năm tới sẽ hạ xuống chỉ còn 1 ngàn 100 tỉ. Nhưng như vậy vẫn còn gấp đôi năm 2008.

Chính phủ cố gắng làm nguội bớt thị trường địa ốc, bằng một sắc thuế mới về nhà đất mới đánh trên những tài sản được bán đi trong vòng 5 năm sau khi mua. Và cũng có những kế hoạch gia tăng việc cung cấp loại nhà có giá từ trung bình đến thấp nhằm ngăn chặn nạn đầu cơ.

Ông Andy Xie, một kinh tế gia độc lập tại Thượng Hải, cảnh báo rằng thị trường tài sản Trung Quốc có thể bị tổn hại, một khi Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ gia tăng lãi suất, sẽ ảnh hưởng đến tình trạng cho vay trên toàn thế giới nữa.

Ông nói: “Khi lạm phát xảy ra, Ngân hàng Dự trữ Liên bang sẽ phải tăng mức lãi suất lên khá cao, điều sẽ đưa tới sự nổ tung quả bóng nhà đất toàn cầu và sẽ xảy ra một cuộc khủng hoảng khác nữa. Và cuộc khủng hoảng đó sẽ không thua gì cuộc khủng hoảng mà chúng ta vừa chứng kiến.”

Các kinh tế gia như ông Xie và ông Pettis cảnh báo rằng các chính phủ cần phải hành động dè dặt khi họ chấm dứt các chương trình kích hoạt. Tăng lãi suất và cắt giảm chi tiêu của chính phủ quá sớm có thể dễ dàng gây chấn động cho các nền kinh tế và khiến trị giá tài sản sụp đổ.

December 14, 2009

khủng hỏang lương thực

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:24 am
Tags: ,

Thứ hai tuần rồi, sau khi Khazakstan tuyên bố sẽ hạn chế xuất khẩu lúa mì để bảo đảm nguồn
lương thực cho người dân trong nước, Nga tiếp đó cũng ra một tuyên bố tương tự (áp dụng
40% thuế xuất khẩu trên lúa mì), lập tức, giá lúa mì trên thị trường đã tăng vọt 25% chỉ trong
vòng một ngày (theo CBOT – Chicago Board of Trade).
Theo thống kê của CBOT thì giá cả cho một số nông sản tiêu biểu trong hai tháng mười hai
và tháng giêng vừa qua như sau:
– Lúa mì: 10 USD/ bushel (giạ)
– Bắp: 5 USD/ bushel (giạ)
– Đậu nành: 13 USD/ bushel (giạ)
So với vài năm trước đây giá cả đã tăng gấp đôi!
Hậu quả là các sản phẩm làm từ nông sản hay liên quan đến nông nghiệp đều tăng giá. Ở
Mexico, thực phẩm làm từ bắp tăng 60%; ở Pakistan, bột mì tăng giá gấp đôi. Thậm chí ở
một số nước, giá sữa và các sản phẩm làm từ sữa nhảy vọt lên 200%. Ngay cả những nước
kinh tế phát triển như Mỹ cũng không ngoại lệ: giá bánh mì tăng 12%, sữa tăng 29%, còn giá
trứng thì tăng 36% so với năm ngoái.
Nông sản tăng giá đã kéo
thêm hàng triệu người đứng
vào “đội quân” nhận cứu trợ
lương thực, những người mà
trước đây tuy thu nhập ít ỏi,
nhưng đủ để mua thực phẩm
nuôi sống gia đình. Theo
thống kê, mỗi ngày có
khoảng 18.000 trẻ em trên
thế giới bị chết đói, chết vì
bệnh tật. Với tình trạng
lương thực hiện nay, con số
trẻ em tử vong chắc chắn sẽ
không dừng lại ở mức này.
Với giá cả lương thực (lúa
mì, gạo, bắp,..) tăng 41%
trong vòng 6 tháng qua,
Washington cho biết là cứu
trợ nhân đạo và viện trợ khẩn
cấp từ Mỹ cho các quốc gia nghèo trên thế giới sẽ bị sụt giảm đáng kể, cả về số lượng thực
phẩm lẫn số quốc gia được nhận viện trợ. Hiện nay có khoảng 40 quốc gia nằm trong diện
được nhận cứu trợ khẩn cấp như Ethiopia, Iraq, Somalia, Honduras, Sudan… và các nước
nằm ở khu vực châu Phi, Trung Á, Mỹ Latin. Sự cắt giảm này sẽ gây ảnh hưởng lớn đến
“Chương trình lương thực thế giới” của Liên hiệp quốc (FAO – United Nations World Food Program) mà Mỹ là nước đang đóng góp 40% cho chương trình này. Theo ước tính của LHQ
thì thế giới có khoảng 854 triệu người – chiếm 1/6 dân số toàn cầu – đang bị thiếu ăn.
Từ sau chiến tranh thế giới lần II đến nay, giá nông sản toàn cầu đã có 3 lần tăng cao đột ngột
do mùa màng thất bát. Nhiều người cho rằng việc thiếu hụt nông sản trên thế giới là do hiện
tượng “trái đất nóng lên” (global warming), gây ra những biến đổi khí hậu khác thường cho
trái đất như: hạn hán ở Úc châu, lụt lội ở Tây Phi, lạnh giá ở Trung Quốc và Âu châu. Điều
này có phần đúng, nhưng số liệu thống kê cho thấy tình hình thiếu hụt lương thực không phải
chỉ mới đây mà đã kéo dài hơn 7, 8 năm rồi. Lượng thiếu hụt này được bù đắp bằng số nông
sản dự trữ, dẫn đến tình trạng quỹ dự trữ lương thực ngày càng giảm, ước tính là lượng lương
thưc dự trữ của thế giới hiện nay chỉ còn đủ dùng trong 54 ngày (trong mùa giáp hạt), một
con số thấp nhất từ 35 năm nay.
Tình trạng lương thực tăng giá hiện nay có thể tóm gọn lại là do “cung không đủ cầu”. Cách
đây 4 năm, hai giáo sư C. Ford Runge và Benjamin Senauer của đại học Minnesota đã tiên
đoán lạc quan: với đà phát triển sản xuất trong nông nghiệp cũng như các ngành khác, đến
năm 2025, số người thiếu ăn trên toàn cầu sẽ giảm xuống còn 625 triệu. Oái oăm thay, trong
bản cập nhật mới nhất, hai vị giáo sư này cho biết là con số đó không còn là 625 triệu mà là
1,2 tỉ vào năm 2025!.
Thật ra thì lương thực sản xuất ra trên toàn cầu không sụt giảm mà lại tăng. Vậy thì cớ gì giá
nông sản lại lên cao?
Có thể nêu ra đây vài nhân tố chính yếu đã tác động mạnh đến giá cả nông sản:
– Dầu hỏa: Với giá dầu hỏa tăng theo tốc độ tên lửa như hiện nay, kéo theo giá cả phân bón
cho nông nghiệp, cước phí chuyên chở nông sản, lương thực… cũng tăng theo, làm cho giá
nông sản, thực phẩm tăng một cách…chóng mặt.
– Nhu cầu: Với thu nhập khá hơn, người dân ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn
Độ tự cho phép mình hưởng những bữa ăn no đủ hơn, ngon hơn (nhiều thịt, cá và ít cơm,
sắn). Ăn nhiều thịt hơn cũng có nghĩa là tốn nhiều nông sản hơn, vì để sản xuất ra 450 gram
thịt phải cần đến gần 3kg thức ăn gia súc làm từ nông sản.
– Ethanol: Từ năm 1990 đến 2005, lượng nông sản mà thế giới tiêu thụ mỗi năm một tăng,
trung bình năm sau tăng hơn năm trước khoảng 21 triệu tấn. Từ năm 2005 trở lại đây, khi
xăng dầu lên giá, lại có thêm một nhu cầu mới là ethanol – sản phẩm thay thế cho xăng dầu
được tinh chế từ nông sản như bắp, mía, dầu cọ.,… Lượng nông sản dùng để chưng cất ra
ethanol tăng từ 54 triệu tấn (2005) lên 81 triệu tấn (2007), so với nhu cầu tăng thêm 21 triệu
tấn lương thực hàng năm của toàn thế giới thì đây là một số lượng đáng kể. Năm qua, ¼ sản
lượng bắp trên toàn nước Mỹ đã dùng để chế biến ethanol. Giả sử rằng 80% các nhà máy sản
xuất ethanol hiện đang được xây dựng sẽ đi vào hoạt động vào cuối năm 2008, thì số lượng
nông sản cần dùng là 114 triệu tấn, tương đương 28% toàn bộ nông sản thu hoạch hàng năm
của nước Mỹ.
Một nhóm nghiên cứu của đại học Illinois đã phân tích như sau: với giá dầu thô là 100USD/
thùng như hiện nay ($100/barrel), nếu giá bắp có lên 7USD/bushel (giạ) thì nhà sản xuất
ethanol vẫn có lợi nhuận (giá hiện nay là 5 USD/bushel (giạ). Nếu dầu thô lên giá 140
USD/thùng, thì các nhà máy chế biến ethanol có thể mua nguyên liệu (bắp) vào với giá 10
USD/bushel (giạ) (gấp đôi hiện nay) mà vẫn không lỗ.
Những lần trước đây thì tình hình giá cả leo thang được khắc phục mau chóng, lần này thì
khác hẳn, sự mất cân đối giữa cung – cầu sẽ còn kéo dài, hậu quả là giá nông sản, lương thực,
thưc phẩm sẽ còn ở mức cao trong một thời gian vô hạn định. Tình hình này sẽ còn tệ thêm vì các quốc gia xuất khẩu nông sản thay vì ngồi lại bàn bạc với nhau để tìm ra một phương thức
giải quyết có lợi cho toàn cầu, thì các chính khách lại có xu hướng bảo vệ lợi ích quôc gia
bằng những chính sách cục bộ.
Nhìn chung thì khủng hoảng lương thực sẽ đe dọa hòa bình trên toàn cầu, mà thực tế thì trên
thế giới đang có những bất ổn liên quan đến tình trạng thiếu hụt lương thực: Những cuộc biểu
tình gần đây chống tăng giá lương thực, thực phẩm và có cả bạo động ở Mexico, Ý,
Indonesia, Tây Phi, Ấn Độ,..là những bằng chứng rõ ràng nhất.
“Trông người lại nghĩ đến
ta”, trong tình hình giá cả
nông sản thế giới tăng cao
hiện nay, nhà nước VN nên
chăng có những biện pháp
đầu tư mạnh, cũng như có
những chiến lược dài hơi cho
nông nghiệp để có thể tận
dụng tình hình này mà sản
xuất nhiều nông sản xuất
khẩu, thu lại nhiều lợi nhuận
cho quốc gia?
VN hiện nay là một trong
những nước xuất khẩu gạo
lớn trên thế giới, vậy mà
trong những ngày giáp hạt,
vẫn có người còn thiếu ăn,
bao nhiêu năm nay người
nông dân vẫn là tầng lớp có
thu nhập thấp trong XH. Hy
vọng là với tình hình giá cả
nông sản này, tuy là xấu cho
thế giới, nhưng sẽ là nguồn lợi cho nông dân nói riêng và đất VN nói chung.
Tư liệu tham khảo:
1. Anthony Faiola, Soaring Food Prices Putting U.S. Emergency Aid in Peril Supplies
and Recipients Likely to Be Reduced, 1.3.2008.
2. Vivienne Walt/Paris, The World’s Growing Food-Price Crisis, 27.2.2008
3. Massie Santos Ballon, Why ethanol production will drive world food prices even
higher in 2008?, 25.1.2008.
4. Kathleen Kingsbury, After the Oil Crisis, a Food Crisis?, 16.11.2007

August 11, 2009

Monetizing debts

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:07 pm
Tags: , ,
To monetize or not to monetize, that’s a question! A billion dollar question.

Khi US Treasury phải phát hành một lượng lớn bonds để tài trợ cho thâm hụt ngân sách vì các chương trình giải cứu và kích cầu khổng lồ liên tục được đưa ra, rồi Fed thực hiện quantitative easing khi lãi suất đã xuống thấp đến mức không thể cắt giảm thêm được nữa, rất nhiều người đã nghi ngờ Fed đang monetizing nợ chính phủ. Nói một cách bình dân là Fed đang in tiền ra để chính phủ chi tiêu, hệt như những gì VN làm 20 năm trước và Zimbabwe làm năm ngoái. Hậu quả của việc in tiền thế nào thì người VN và người Zimbabwe thấm thía hơn ai hết. Tôi còn nhớ hồi những năm 80 nhiều người đã mất gần như sạch số tiền tiết kiệm cả đời vì siêu lạm phát. Hiện tại những ai đang có tiền tiết kiệm gửi tại Mỹ chắc rất hồi hộp, và hiển nhiên người có hơn US$800b tiết kiệm phải là người lo lắng nhất.

Là người VN và đã trải nghiệm giai đoạn 1980s với siêu lạm phát, tôi đã từng nghĩ US Treasury sẽ tăng cường phát hành TIPS, trái phiếu chính phủ được index theo lạm phát. Hóa ra không chỉ có tôi nghĩ vậy, có vẻ như trong cuộc họp Strategic and Economic dialogue vừa rồi giữa TQ và Mỹ, TQ đã yêu cầu Mỹ phát hành thêm TIPS. Vấn đề là ngay cả khi TQ có thể chuyển hết số US bonds của mình thành TIPS, số tài sản đó vẫn có nguy cơ mất giá trị nếu USD mất giá. Và giá trị của đồng USD đằng nào cũng phụ thuộc vào việc Fed có monetize số debt của chính phủ Mỹ hay không. Bởi vậy đây là “a billion dollar question”, ít nhất đối với TQ.

Đáng buồn cho TQ, dường như đây là điều tất yếu. Chính Ben Bernanke đã được đặt biệt danh “Helicopter Ben” vì ông đã đưa ra phương án Fed mua lại US bonds từ năm 2002 và chính thức thực hiện nó từ tháng 3 vừa rồi. Về bản chất đây là “in tiền”, chỉ khác với VN 1980s là Fed in tiền rồi chuyển qua Treasury thông qua thị trường bond chứ không credit trực tiếp vào tài khoản của Treasury. Nhưng nếu điều này “lộ ra” sẽ không còn ai mua bond của Treasury nữa và kế hoạch in tiền gián tiếp này sẽ phá sản qua hai kênh: bond yield tăng và lạm phát tăng. Vậy làm thế nào để nó không bị lộ?

Tuần trước Zero Hedge đăng lại một phát hiện của Chris Martenson về việc Fed đã mua lại 47% tổng số bond do US Treasury phát hành 7 ngày trước đó cho các primary dealers. Số bond này là 7-year bonds được phát hành ngày 30/07 trong một cuộc auction khá thành công. Điều đáng nói là một cuộc auction 5-year bonds trước đó không được giới đầu tư hưởng ứng (5-year bond yield tăng sau khi auction kết thúc). Thêm vào đó các primary dealer sau khi mua vào số 7-year bond này với giá 99.26 đã bán ra cho Fed với giá 99.07, chấp nhận lỗ chỉ sau một tuần. Zero Hedge, sau khi điều tra lại toàn bộ hoạt động OMO của Fed từ đầu năm tới giờ, cho rằng đây chính là cách Fed và Treasury đang tìm cách che dấu chính sách monetizing debt của mình. Fed âm thầm thỏa thuận với các primary dealers để họ tích cực mua bonds của Treasury trong các cuộc auction để giữ bond yield không tăng và các auction không thất bại. Sau đó Fed sẽ mua lại phần lớn số bond này và sẽ bù lỗ cho các primary dealers (Zero Hedge không giải thích được Fed sẽ bù lỗ bằng cách nào).

Conspiracy theory này của Zero Hedge bị John Jansen, một bond trader và là cựu nhân viên của Fed trading desk (chuyên mua bán bonds cho OMO), phản bác. Yves Smith của Naked Capitalism cũng phản đối Zero Hedge và Chris Martenson. Jansen cho rằng một conspiracy như vậy không thể giữ kín được và đợt mua bond vừa rồi hoàn toàn hợp lý vì on-the-run bonds thường được dealer giữ với số lượng lớn nên OMO của Fed sẽ dễ mua hơn. Smith cho rằng $300b kế hoạch bond buy back của Fed chỉ là hạt muối bỏ bể so với số outstanding debt và money base, do vậy Bernanke không thể monetize US debt bằng chương trình QE của mình. Tuy nhiên một số commenters chỉ ra rằng vấn đề boosting Treasury auction có lẽ mới là nguyên nhân chính đằng sau việc Fed vội vàng buy back như vậy.

Về mặt lý thuyết, nếu conspiracy theory của Zero Hedge có thật thì đây cũng là một giải pháp hợp lý. Hiện tại nguy cơ lạm phát rất thấp nhưng bond yield đang có xu hướng tăng vì lượng bond phát hành tăng trong khi foreign demand (TQ, Russia, Gulf states) có xu hướng giảm. Bond yield tăng có nguy cơ làm chậm lại quá trình phục hồi kinh tế, cho nên mục tiêu của Fed là phải giữ không cho bond yield tăng quá cao. Tất nhiên giữ cho các cuộc auction không thất bại cũng quan trọng vì sẽ tránh gây panic cho thị trường. Ngay khi lạm phát tăng lên, vấn đề monetizing debt sẽ không còn là Fed mua bao nhiêu bond mà sẽ là tốc độ lạm phát là bao nhiêu. Nếu lạm phát tăng cao hơn nominal yield, kèm theo kinh tế tăng trưởng trở lại, thì coi như Fed đã thành công một phần monetize số stock of debts dù Fed chỉ thực sự mua vào một phần số debt đó. Trong trường hợp này monetizing debt không phải là chính sách xấu.

Những nước như VN và Zimbabwe đã để lạm phát vượt khỏi tầm kiểm soát và monetizing debt đã tàn phá nền kinh tế. Liệu lần này Fed có kiểm soát được lạm phát hay không và quan trọng hơn là kinh tế Mỹ có phục hồi và tăng trưởng trở lại hay không, hi vọng câu trả lời là có. Nhưng với TQ ngay cả khi phương án tối ưu này xảy ra thì giá trị của số foreign reserve của mình cũng bị mất phần nào, không nhỏ so với GDP hiện tại của TQ nhưng sẽ không là gì nếu so với cashflow trong tương lai khi kinh tế Mỹ phục hồi và TQ tiếp tục có surplus.

Update (11/08): Fed vừa tuyên bố sẽ chấm dứt chương trình mua $300b US bonds vào giữa tháng 9.

August 4, 2009

Tài chính & Ngân hàng trong khủng hoảng: An update

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:20 pm
Tags: , ,

Tài chính & Ngân hàng trong khủng hoảng: An update

Nước giàu và nợ: bó tay?

http://cafef.vn/20090612012119223CA32/nuoc-giau-dau-dau-boi-nhung-khoan-no-lon-chua-tung-co-trong-lich-su.chn

Ngân hàng phương Tây nên học hỏi TQ? Oh My God

http://cafef.vn/20090617095816977CA32/nganh-ngan-hang-phuong-tay-nen-hoc-hoi-tu-trung-quoc.chn

Problem chính: chất lượng tài sản của NH TQ như thế nào? No-one answers.

Here is a note:

NH TQ tiến thoái lưỡng nan – Gánh nặng nợ xấu quá lớn

http://cafef.vn/20090510040413422CA32/ngan-hang-trung-quoc-tien-thoai-luong-nan.chn

NH Mỹ trả tiền nhưng không có tự do: Ai thực sự ok hơn ?

http://cafef.vn/20090618050940725CA32/ngan-hang-my-tra-tien-nhung-se-khong-co-tu-do.chn

Việt Nam: NH cho vay hỗ trợ trong 4 tháng, giảm doanh thu 10,000 tỷ đồng (tốt quá!)

http://cafef.vn/20090616034848690CA34/doanh-thu-cua-cac-ngan-hang-giam-10000-ty-dong.chn

July 13, 2009

Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên? – TS Vũ Minh Khương- 071309

Filed under: chính sách — ktetaichinh @ 12:26 pm
Tags: , , ,

(TuanVietNam) – Nghĩ về đất nước thấy trách nhiệm, nhìn ra thế giới thấy ước mơ. Bài viết của TS. Vũ Minh Khương nhằm thể hiện dũng khí của người Việt ta trong giai đoạn đầy thử thách hiện nay.


Chuyện xưa kể rằng: Trong một trận đánh quyết liệt có tính sống còn, nhưng quân sĩ cứ lui dần, lui dần đến bờ sông. Để thể hiện ý chí quyết tâm, các vị tướng đã quyết định chặt đi cây cầu duy nhất để không còn đường rút. Sau đó, khi giặc đến, tất cả đều hét vang xông lên can trường chiến đấu với ý chí vô song. Trận đánh thắng lợi và quyết định của các vị tướng khi đó đã trở thành một bài học lịch sử cho sự phát triển.

Dựa trên tích cổ này, trong một bài viết, TS. Vũ Minh Khương đã chọn tựa đề: Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên? nhằm thể hiện dũng khí của thế hệ người Việt Nam chúng ta hôm nay. Tuần Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài viết đầy tâm huyết này để mọi người cùng suy ngẫm.

I. Định lượng nỗi đau dân tộc:

Mỗi con người khi thấy dân tộc mình ở vào vị thế thấp kém so với tiềm năng đều mang trong mình một nỗi đau. Nỗi đau này dù không ai giống ai hoàn toàn và không thể đo đếm chính xác. Thế nhưng, nó cũng có thể ước định được ở một chừng mực nhất định. Dưới đây là một phương cách đơn giản.

Mỗi người hãy tự trả lời bốn câu hỏi sau:

  1. Chúng ta có thấy xót xa hổ thẹn về vị thế hiện nay của dân tộc mình không?

  2. Chúng ta có thấy lo lắng cho tương lai của đất nước mình không?

  3. Nếu có cơ hội, thế hệ chúng ta có đủ sức đưa dân tộc mình đến một vị thế vẻ vang (hơn mức hiện nay rất nhiều) không?

  4. Cơ chế hiện thời có cho bạn làm được điều mà bạn hết lòng khao khát làm cho đất nước mình không?

Với mỗi câu hỏi, câu trả lời “có” được điểm 1 và câu trả lời “không” được điểm 0. Theo cách này, nỗi đau dân tộc của mỗi con người được đo bằng tổng số điểm của ba câu hỏi đầu trừ đi điểm của câu hỏi 4. Ví dụ, người mà câu trả lời là “có” cho cả ba câu hỏi đầu và “không” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng 3 (1+1+1-0=3); đó là nỗi đau ở mức tột cùng. Trái lại, người mà câu trả lời là “không” cho cả ba câu hỏi đầu và “có” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng -1 (0+0+0-1= -1); trong trường hợp này, người trả lời không có nỗi đau gì và thấy rất hài lòng với hiện tại.

Trong tập thể hàng triệu người, mức đau này có thể khác nhau, nhưng có lẽ, nhiều người cùng chia sẻ một cảm nhận là mức đau trung bình của hàng triệu người Việt chúng ta cũng không thấp hơn quá xa so với mức tột cùng nói trên. Người viết bài này mong rằng Ban chấp hành trung ương Đảng và Quốc hội khi có dịp hội họp có tổng hợp và báo cáo với quốc dân đồng bào nỗi đau này của mình. Nếu mọi người thấy không đau mà lại tự hào vì thấy dân mình được “xếp hạng hạnh phúc hàng đầu thế giới”[1] thì cũng là điều đáng suy nghĩ lắm.

II. Định lượng nguy cơ mất nước:

Một thước đo khác có tính cấp bách hơn là về nguy cơ mất nước. Người xưa gợi ý ba thước đo về nguy cơ mất nước của một quốc gia:

  1. Thứ nhất, người trên sai mà quan chức dưới đều nín lặng.

  2. Thứ hai, người được giao trọng trách không thấy việc mình đảm nhận là thiêng liêng và gian khó mà lại coi đó là đặc quyền đặc lợi để vinh thân, phì gia, và kết bè kéo cánh hưởng lộc.

  3. Thứ ba, người người đua chen, từ quan đến dân, lao vào cách làm ăn chụp giật và vụ lợi cá nhân trong sự xem thường đạo lý và sự tê liệt lòng tin vào công lý.

Theo người xưa, nếu điều 1 là đúng thì nước này đang ở vào thế suy vi; nếu điều 2 là đúng thì nước này sẽ khốn khó trong sự chia rẽ lục đục; nếu điều 3 là đúng thì nước này sắp loạn. Nếu cả ba điều trên đều đúng thì nước mất đến nơi rồi.

Ảnh minh họa: businessweek.com

III. Tình thế nước ta và đôi điều trăn trở

Ai đã sống ở nước Nhật chắc đều ấn tượng về sự sâu sắc và cẩn trọng trong hành xử của dân tộc này. Họ đã làm nên những điều kỳ vĩ trong cải cách Minh Trị trong nửa cuối thế kỷ 19 và sự vươn lên kỳ diệu từ đống tro tàn sau thế chiến thứ Hai.

Điều đặc biệt đáng nói là Nhật Bản đã và đang là quốc gia có sự đồng cảm và giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất trong công cuộc phát triển vừa qua. Thế nhưng, dường như sự kỳ vọng cao của họ về một dân tộc Việt Nam có thể so sánh được với Hàn Quốc hay Nhật Bản có lẽ đang tắt dần. Quan sát động thái hợp tác của Nhật Bản với nước ta có thể giúp chúng ta thấy phần nào cảm nhận của bè bạn thế giới về tương lai của nước Việt chúng ta.

Năm 2006, tại Tokyo, Nhật Bản và Việt Nam có tuyên bố chung rất long trọng và ấn tượng khẳng định hai bên cam kết xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược[2]. Viện trợ của Nhật Bản cũng từ đó tăng lên.

Thế nhưng, Việt Nam, khác với những quốc gia và vùng lãnh thổ có công cuộc phát triển kỳ vĩ (như Hàn Quốc hay Đài Loan), viện trợ nhiều lên không làm chất lượng thể chế của chúng ta tốt lên, mà trái lại sa sút trong sự so sánh với thế giới (hình 1). Đáng buồn hơn nữa, tháng 12 năm 2008, Nhật Bản thông báo tạm ngừng viện trợ cho Việt Nam vì vấn đề tham nhũng và tin này công bố rộng rãi khắp thế giới.[3]

Hình 1. Việt Nam: Viện trợ Nhật Bản và chất lượng thể chế

Nguồn: số liệu về ODA Nhật bản (khoản cho vay) từ bộ ngoại giao Nhật bản; số liệu về hiệu lực chính phủ từ Ngân hàng Thế giới. (Click vào để xem hình lớn)

Ví dụ trên cho thấy sự sa sút của chúng ta không phải do ai chống phá, mà chính do sự yếu kém trong hệ thống trước công cuộc phát triển của dân tộc.

Trong thực tế hiện nay, chúng ta không thể đổ lỗi cho cá nhân cụ thể nào mà phải thấy đây là “lỗi hệ thống” như nhiều người đã từng nêu ra. Bản chất của lỗi hệ thống là sự khủng hoảng về hệ thức tư duy[4]. Nguyên nhân gốc rễ của sự khủng hoảng này là do những định đề và thiết kế tổ chức kiểu cũ đã trở thành lực cản cho quá trình nhận thức của tư duy và cải biến của xã hội sang khung thức vận hành mới.

Nếu hệ thống quản trị xã hội không chủ động tạo sự chuyển dịch có tính hồi sinh sang khung thức phát triển mới thì xã hội chắc chắn sẽ trải qua giai đoạn khủng hoảng trong sự suy tàn của hệ thống cai trị hiện thời. Trái lại, nếu hệ thống biết chủ động nắm bắt qui luật, mạnh dạn bước vào công cuộc hồi sinh thì nó có thể bước vào trạng thái khởi phát (xem Bảng 1 dưới đây).

Bảng 1. Đặc trưng Hệ thống trong Lựa chọn Chuyển đổi: Suy tàn hay Khởi phát

Tiêu chí Suy tàn Khởi phát

Tầm nhìn

Bị che mờ bởi hào quang quá khứ và sự lú lẫn của tư duy cũ được gia cường bởi lợi ích cá nhân và phe nhóm.

Hướng về khát vọng tương lai chia sẻ sâu sắc bởi mọi tầng lớp nhân dân. Đó là ước mơ đời đời thúc giục, người người khao khát.

Chiến lược

Mơ hồ; chủ yếu xoay xở để giữ ổn định bằng cách gia cường các chốt hãm tạo bởi những định đề có từ quá khứ.

Dựa trên sự trỗi dậy của nguyên khí dân tộc trong tầm nhìn thời đại và ý thức trách nhiệm với tương lai.

Phong cách lãnh đạo

Sự vụ, đối phó, né tránh sự thật.

Khơi dậy sự phấn khích của toàn dân bằng hoài bão lớn, phẩm chất hiến dâng, sự trân trọng từng con người, và khả năng qui tụ hiền tài.

Văn hóa tổ chức

Mọi người, dù là có chức vụ cao đều thấy không có quyền lực.

Trong đáy lòng, thực tế không còn những giá trị thiêng liêng để tôn thờ. Ngậm miệng ăn tiền.

Hệ thống không ghi nhận đóng góp hay qui trách nhiệm cho cá nhân về mỗi nỗ lực thực hiện.

Ai ai cũng thấy trách nhiệm và khả năng đóng góp của mình vào sự nghiệp chung.

Mọi người đều chia sẻ những giá trị thiêng liêng gắn với tiền đồ và danh dự dân tộc

Vai trò cá nhân được đặc biệt coi trọng. Mỗi mặt trận đều có vị tướng lĩnh xuất chúng.

Vận hành của hệ thống

Thụ động, thúc thủ, thậm chí tê liệt (trên bảo dưới không nghe)

Có định hướng mạnh mẽ vào các mục tiêu chiến lươc; sáng tạo, cộng hưởng, và hợp tác gắn bó.

Hệ thống thông tin

Mập mờ, sai lệch, thậm chí bị ém nhẹm, giấu giếm

Minh bạch, chính xác, có hệ thống với chất lượng và khả năng tiếp cận ngày một nâng cao với sự phản hồi và đóng góp chặt chẽ của công dân.

Sử dụng nguồn lực

Phung phí, dàn trải.

Luôn cảm thấy thiếu hụt tài chính và nguồn lực vật chất; trong khi coi thường giá trị con người.

Vô thức trong việc lãng phí tài nguyên và vay nợ nước ngoài.

Tiết kiệm, chiến lược, và tập trung trong sử dụng nguồn lực.

Trọng dụng người tài để nguồn lực luôn đến dồi dào, sinh sôi và phát huy mạnh mẽ.

Chỉ dùng đến tài nguyên và nợ nước ngoài cho những mục tiêu đặc biệt chiến lược và tính thấu đáo mọi hậu quả của nó.

IV. Làm gì để vượt lên

Không ít bè bạn đã có thời tin rằng, Việt Nam là một dân tộc có tinh thần quật khởi và là một ứng viên làm nên những kỳ tích phát triển ở nửa đầu thế kỷ 21. Trong thế kỷ 21 này, động lực cho sự phát triển thần kỳ chỉ có thể có được nếu ba điều kiện sau hội đủ:

1- Toàn dân tộc đồng tâm trong khát vọng vươn lên sánh vai các dân tộc vẻ vang của thời đại.

2- Hiểm họa an ninh quốc gia ngày càng gay gắt.

3- Hệ thống chính trị nhận thức được lòng dân là ánh sáng mặt trời và văn minh nhân loại là qui luật của trời đất. Trong nhận thức đó, lãnh đạo phải là người có thể ngẩng cao đầu đón ánh mặt trời của lòng dân và lái con thuyền dân tộc vượt qua biển cả trong sự thuận hòa của qui luật trời đất.

Kinh nghiệm của Indonesia với thắng lợi vang dội của Tổng thống Yudhoyono trong cuộc bầu cử toàn dân đầu tháng 7 vừa rồi là điều đáng suy nghĩ. Ông được đánh giá là đã làm xuất sắc cương vị tổng thống trong 7 năm qua (2002-2009) với nỗ lực ấn tượng trong củng cố nền móng phát triển của Indonesia và chương trình chống tham nhũng với lời nói và hành động nhất quán và mạnh mẽ.

Cũng nhờ vậy mà trong mấy năm qua, Indonesia đã vượt lên từ sự sa sút sau sụp đổ của chính quyền độc tài Suharto và trở thành quốc gia tăng trưởng nhanh nhất trong các nước Đông Nam Á trong những tháng đầu năm 2009. Cũng trong bối cảnh dân chủ sống động, ở Malaysia, Thủ tướng mới Najib nhận được sự đồng thuận cao của người dân (65% tín nhiệm) sau 100 ngày cầm quyền nhờ những cải cách đặc biệt ấn tượng.

Trong nỗ lực cải cách hệ thống ở Việt Nam, với xu thế tất yếu hướng tới một nền dân chủ do dân và vì dân, chúng ta trước hết cần đặc biệt chú ý áp dụng một số cải tiến kỹ thuật, tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa cực kỳ then chốt. Dưới đây là hai ví dụ nhỏ.

Ảnh minh họa: businessweek.com

1- Lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử

Trong bối cảnh không dễ dàng đổi thay một cơ chế hay một hệ tư duy, việc lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử có tác dụng quan trọng.

Bài học này có từ kinh nghiệm của Tổng thống Abraham Lincoln khi ông còn là một luật sư. Khi đó nước Mỹ có luật là người lớn không thể đòi khoản nợ mà người vị thành niên vay mình. Điều luật này lập tức bị nhiều nhiều thiếu niên lạm dụng: họ vay tiền rồi từ chối trả nợ. Nhiều chủ nợ cay đắng chấp nhận vì luật pháp không ủng hộ họ.

Trong tình thế này, luật sư Lincoln cũng không có cách nào khác để giúp thân chủ của mình đòi nợ ngoài việc đề nghị tòa án lưu giữ hồ sơ là cậu thiếu niên này đã quỵt nợ và ghi rõ cậu đó sẽ không bao giờ được coi là người lớn nếu không trả món nợ này. Lo sợ về đề xuất này được thực hiện, cậu thiếu niên này và gia đình đã vội vã xin trả món nợ và tình trạng quỵt nợ kiểu này từ đó không còn nữa.

Bài học này cho thấy, con người ta sẽ thường chỉ có hành vi lạm dụng khi trốn lủi được sự phán xét. Do đó, chúng ta đề nghị có đạo luật để Đảng, Quốc hội, Nhà nước, và Chính phủ phải lưu trữ thật tốt mọi luận bàn và quyết định quan trọng về chính sách phát triển và bổ nhiệm nhân sự để toàn xã hội được biết trong một thời hạn sớm nhất có thể. Khi đó, ai đề xuất hay quyết định những việc gì, dù tốt đẹp cho dân cho nước hay làm hại dân hại nước; dù đề bạt người hiền tài hay nâng đỡ kẻ tham nhũng sẽ đều được sự phán xét nghiêm minh của lịch sử.

2- Lựa chọn và đánh giá lãnh đạo dựa trên phân loại khoa học

Việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo và chủ chốt có ý nghĩa sống còn với công cuộc phát triển. Công việc hệ trọng này nên dựa trên một sự phân loại khoa học, có hệ thống. Tối thiểu cần dựa trên hai tiêu chí: Phẩm chất hiến dâng và Tư duy cải cách. Trên mỗi tiêu chí, cho điểm từ 1 đến 5 (1=rất thấp so với mức trung bình; 2=thấp hơn mức trung bình; 3=mức trung bình; 4=cao hơn mức trung bình; 5=vượt xa mức trung bình).

Để lựa chọn người cho một cuộc bầu cử chính thức, một tổ chức (dù là Đảng, Quốc hội, hay Chính phủ) nên có phân loại khoa học theo hai tiêu chí trên. Ví dụ: (i) Ban Chấp Hành Trung ương đánh giá về các ủy viên Bộ Chính trị hiện tại hoặc các ủy viên dự kiến cho khóa tới; (ii) Quốc hội đánh giá các bộ trưởng và các vị giữ trọng trách cao hơn.

Hình 2: Phân loại và đánh giá cán bộ chủ chốt

Click vào để xem hình lớn.

Tổng hợp đánh giá của cả tập thể về một cán bộ chủ chốt sẽ cho phép phân loại cán bộ theo hình vẽ 2 nêu trên.

Theo đó, chỉ người có mức điểm trung bình cao (nghĩa là trên 3,0) trên cả hai tiêu chí: “Phẩm chất hiến dâng” và “Tư duy cải cách” (ô I) mới được lựa chọn vào bầu cử cho các cương vị cao như ủy viên Bộ chính trị hay bộ trưởng và các vị trí cao hơn. Đảng và Quốc hội, nếu muốn có lòng tin của dân cần công khai các chỉ số này cho cán bộ chủ chốt ở cả Trung ương và địa phương.

Theo đánh giá của nhiều người, có nhiều cán bộ chủ chốt của ta ở ô III (có năng lực nhưng cơ hội, tham nhũng) và ở ô IV (vụ lợi cá nhân, bảo thủ). Điều đặc biệt đáng nói là cách đánh giá này không chỉ xác đáng còn tạo động lực để mỗi cán bộ đều tự rèn luyện và tốt hơn lên. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là, tất cả những ai được đứng trong hàng ngũ lãnh đạo, thậm chí chỉ là cán bộ trong bộ máy nhà nước, đều phải ở ô I với độ tin cậy cao của toàn dân về phẩm chất hiến dâng và tư duy cải cách.

V. Thay lời kết

Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.

Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quí giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày. Mỗi chúng ta, dù sao hãy cùng trả lời một câu hỏi day dứt: Dân tộc Việt Nam ta hôm nay có đủ lòng quả cảm “chặt cầu để tiến lên không?”

  • TS. Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore)

Bài cùng tác giả:
Nhà nước kiến tạo phát triển phải từ quyết tâm chiến lược
Bàn thêm về mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển
Nền móng phát triển và mệnh lệnh cải cách

[1] Tổ chức New Economic Foundation vừa đưa ra xếp hạng chỉ số hạnh phúc năm 2009, trong đó Việt Nam xếp hạng 5. Điểm tốt của cách xếp hạng này là khuyến khích các nước tiêu dùng ít vật chất hơn. Điểm hạn chế là phương pháp dễ gây ngộ nhận cho các nước nghèo. Thứ nhất, họ dùng khảo sát mức độ hài lòng với cuộc sống thực hiện năm 2005 (nghĩa là 5 năm trước đây) và khảo sát này chủ yếu dựa vào một nhóm nhỏ người sống ở thành phố. Thứ hai, họ chia chỉ số hài lòng cho lượng vật chất tiêu dùng; nói một cách nôm na, chỉ số hài lòng của người Mỹ là 8 nhưng vì họ đi ô tô nên chỉ số hạnh phúc của họ thấp hơn Việt Nam với chỉ số hài lòng là 6,5 nhưng đi xe máy.

[2] “Japan-Vietnam Joint Statement: Toward a Strategic Partnership for Peace and Prosperity in Asia”; October 19, 2006; Ministry of Foreign Affair, Japan; URL: http://www.mofa.go.jp/region/asia-paci/vietnam/joint0610.html, xem ngày 11/07/2009.

[3] “Japan Suspends Aid to Vietnam, Citing Corruption”; URL: http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601080&sid=aTIhAZGLZ2Ko&refer=asia, xem ngày 11/07/2009

[4] Xem thêm Elgin, D. (1977), “Limits to the management of large complex systems”, Assessment Of Future National and International Problem Areas, Stanford Research International, Palo Alto, CA.

13/07/2009 06:21 (GMT + 7)

May 27, 2009

Nhận định về năng lượng của chính phủ Hoa Kỳ.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:21 am
Tags: ,

Điểm chính

. Gia dầu thô năm ngoái trung bình khoảng $100 một barrel. Kinh tế thế giới suy thoái đã đẩy dầu xuống còn $53 trong năm nay. Thế giới tiên đoán là kinh tế phục hồi vào năm 2010 giá trung bình của dầu lên trở lại $63 một barrel.

. Giá xăng loại “regular” tăng từ đầu năm và hiện nay khoảng $2 một gallon. Mặc dầu nó gia tăng chậm chạp nhưng đều đặn cùng chiều với giá dầu và với giá “margin” lời của các công ty lọc dầu. Vào mùa hè năm nay, giá xăng dự đoán khoảng $2.23 một gallon, giảm xuống $1.60 so với năm ngoái.

. Năm nay tổng số dầu khí tiêu thụ được tiên đoán sẽ đi xuống 2% và đã đẩy giá dầu khí xuống thấp nhất trong một thời gian kỷ lục. Nhìn vào bên phía các kỹ nghê nặng thì số lượng tiêu thụ dầu khí đi xuống 7% vì kinh tế suy thoái nhưng bên các nhà máy điện thì số lượng tiêu thụ dầu khí tăng 1% vì giá dầu khí quá rẻ đủ để họ cắt giảm dùng than và thay thế bằng dầu khí để sản xuất điện.

Hiện thưc

Nhiều người hiểu biết trong kỹ nghệ năng lượng tự hỏi là tại sao chúng ta tiêu dùng dầu và dầu khí để nấu ăn, sưởi ấm, máy lạnh và cho mọi đồ dùng hằng ngày nhưng tại sao chính phủ Hoa Kỳ và Tây Phương không chú trọng đầu tư vào nó mà chỉ để tư nhân và các quốc gia cung cấp dầu mà đa số là các chính phủ độc tài, thiếu dân chủ quyết định giá dầu. Trong tất cả nguồn năng lượng thì dầu khí là được nghĩ tới nhiều hơn cả chỉ vì nó được liệt vào một nguồn năng lượng tốt nhất mà thải ra rất ít carbon-dioxide.. Gía dầu khí đã rơi xuống trước khi có cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, thấp tới một giá kỷ lục và chỉ mới được đứng lại cách đây hai tuần.

Không một ai có thể chối cãi là gió và năng lượng mặt trời là một nguồn năng lượng xanh và rất “sạch”. Nhưng nó không phải là nguồn năng lượng để con người có thể hoàn toàn lệ thuộc. Bởi vì gió không phải lúc nào cũng có và mặt trời không có vào ban đêm hay những ngày mưa bão để có thế sản xuất năng lượng cho chúng ta. Chúng ta vẫn phải tùy thuộc vào các nguồn năng lượng “dơ” hiện nay là chính.

Chính quyền Obama quyết tâm chú trọng vào năng lượng xanh và nó được đặt trọng tâm trong chính sách về năng lượng trong 4 năm tới. Do đó không lấy làm ngạc nhiên khi thấy trong cuộc hội thảo của EIA năm nay họ không nói đến dầu, dầu khí, than và nguyên tử. Cái đáng ngạc nhiên là lý luận đằng sau chính sách này. Theo bảng tường trình của bộ Năng Lượng Hoa Kỳ thì Hoa Kỳ vẫn còn lệ thuộc 93% vào bốn nguồn năng lượng “dơ” nêu trên và dẫu cho đến 2030 thì Hoa Kỳ vẫn còn lệ thuộc hơn 90% vào nguồn năng lượng “dơ.” Tại sao chúng ta vẫn phải tùy thuộc vào năng lượng “dơ” trong nhiều thập niên kế tiếp? Chỉ vì rất nhiều các quốc gia chưa phát triển sẽ có cơ hội tiến triển và nguồn cung cấp năng lượng chính cho họ vẫn là năng lượng “dơ” vì nó rẻ để tiêu dùng. Nhìn lại vào năng lượng xanh, Chúng ta vẫn chưa thấy có sự tiến triển vượt bực của năng lượng “xanh” nào để có thể thay thế nguồn năng lượng dơ hiện nay cho dù tham vọng của chính sách năng lượng của Hoa Kỳ hiện nay như thế nào.

Nếu vì bất kỳ một cuộc xung đột nào xẩy ra tại Trung Đông thì Hoa Kỳ vẫn sẽ tiếp tục trôi vào một thòi kỳ khủng hoảng năng lượng ngay lập tức. Hiện nay Hoa Kỳ đang trọng tình trạng khủng hoảng Kinh Tế. Chính sách tài trợ cho kỹ nghệ tài chánh và ngân hàng dựa thật lớn vào tiên đoán là giá dầu sẽ tiếp tục thật thấp. Nhưng gần đây mặc dầu thất nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng và chưa thấy sẽ được phục hồi trong năm 2009 và 2010 thìi giá xăng tiếp tục gia tăng chậm chạp nhưng có vẻ rất chắc chắn. Nó có thể đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào một điều kiện mà không một ai ở Washington có đủ khả năng và kinh nghiệm để chống đỡ, đó là lạm phát về nhiên liệu và giảm phát về lương bổng. chi tiêu.

Thực tế là trong bảng tường trình chính thức của Ủy Ban về Năng Lượng của chính phủ Hoa Kỳ, chúng ta được tiết lộ là:

. Mặc dầu nguồn dầu dự trữ của các quốc gia trong tổ chức Organization for Economic Cooperation and Development (OECD) cao hiện nay nhưng giá dầu vẫn tiếp tục đi lên.

. Tổ Chức của các quốc gia sản xuất dầu Organization of the Petroleum Exporting Countries (OPEC) đã thành công trong việc cắt giảm sản xuất nhiên liệu và rất thành công trong việc kiểm soát giá dầu.

. Viễn ảnh của các nhà đầu tư trong Thị Trường Chứng Khoán, những lời phát biểu của The FED và chi tiêu của chính quyền Obama đẩy cho mọi người có cảm giác là Kinh Tế đang phục hồi và làm cho Thị Trường Năng Lượng trở nên đắt đỏ hơn. Nhưng trên thực tế thì Kinh Tế thế giới vẫn còn cần nhiều thời gian và nhiều hỗ trợ tài chánh để tiếp tục hoạt động một cách cầm chừng. Điều mà làm mọi người sợ hãi hiện nay là giá cả năng lượng sẽ đi lên.

. Nguồn tiêu thụ: Thế giới tiêu thụ đi xuống 1.35 triệu barrels cho mỗi ngày trong năm 2009 so với năm 2008. Dựa vào con số này. bảng tường trình cho chính phủ Hoa Kỳ thấy là GDP đi xuống 0.8% trong năm nay. Cho năm 2010, thì con số tiêu thụ sẽ gia tăng 1.1 triệu barrels cho mỗi ngày và GDP tăng 2.6% theo dự tiính là kinh tế sẽ cải thiện hơn. (Xem hình phía dưới)

. Nguồn sản xuất từ các nước không nằm trong OPEC: Số lượng sản xuất của các quốc gia này sẽ khoảng bằng năm ngoái. Hoa Kỳ, Brazil, và Azerbaijan gia tăng sản suất nhưng ngược lại các quốc gia Mexico, the North Sea (Anh, Dutch, Norway), và Russia lại sản xuất ít đi. Nói chung, các nước không trong tổ chức OPEC tiên đoán là họ sẽ sản suất khoảng 260,000 bbl/d (*) trong năm 2010

. Nguồn sản xuất từ các nước OPEC: OPEC đã không thay đổi số lượng sản suất dầu trong tháng trước vì sợ rằng nó sẽ làm kinh tế thế giới đi xuống. Dự đoán là OPEC sản suất dầu thô xuống 1.1 triệu bbl/d trong Quý IV năm 2008 tức là khoảng 30.6 triệu bbl/d. Trong Quý I năm 2009 con số này xuống 2.1 triệu bbl/d tức là khoảng 28.5 triệu bbl/d. Trong Quý II năm 2009 con số này không thay đổi nhiều. Và dự đoán nó sẽ ra tăng lên và ước tính khoảng 28.5 triệu bbl/d trong quý IV năm 2009.

. Số lượng dự trữ: Năm 2008 là 2.68 tỉ barrels cho 56 ngày. Trong năm 2009 thì số lượng dự trữ đã gia tăng thêm nhưng con số chưa được nói ra.

Chính sách năng lượng của Hoa Kỳ nằm trong hoàn cảnh kinh tế khủng hoảng hiện nay.

Cho dù chính phủ Obama đặt trọng tâm vào năng lượng “xanh”. Hoa Kỳ vẫn chưa thay đổi sự lệ thuộc của mình vào các năng lượng “dơ”. Qua bảng tường trinh, chúng ta thấy mặc dù có sự giảm thiểu về dầu và dầu khí nhưng sự giảm thiểu này hoàn toàn bị ảnh hưởng của kinh tế chứ không phải chính sách năng lượng “xanh”:

. Tiêu thụ: Năm 2008 con số này giảm 1.3 triệu bbl/d hay 6.1% so với năm 2007. Cho năm 2009 được ước tính đi xuống thêm 430,000 bbl/d hay 2.2% vì kinh tế vẫn tiếp tục suy thoái. Năm 2010 thì được suy đoán là gia tăng thêm 2700,000 hay 1.4% vì kinh tế có thể phục hồi.

. Sản suất: Năm 2008 đi xuống 110,000 bbl/d vì nhiều con bão đánh vào Hoa Kỳ. Năm 2009 sản suất đi lên 440,000 bbl/d tức là 5.40 million bbl/d. Theo dự đoán thì con số này sẽ tăng thêm 150,000 bbl/d nhờ vào hai giàn khoan vĩ đại tai Vịnh Mexico là
Thunder Horse – làm chủ bởi BP (75%) và ExxonMobil (25%) – và giàn khoan Tahiti – làm chủ bởi Chevron.

. Giá dầu: trong tình trạng kinh tế hiện nay và số lượng sản suất dầu của thế giới, tổ chức EIA tiên đoán giá dầu là $53 một barrel cho năm 2009 và %63 cho năm 2010. Nếu tình trạng kinh tế hồi phục lẹ hơn, nếu các quốc gia không phải OPEC cắt giảm sản suất, hay OPEC kiểm soát chặt chẽ số lượng dầu sản suất thì giá dầu sẽ phải thay đổi nhanh chóng.

. Giá xăng: Loại regular giá là $3.26 một gallon trong năm 2008 đã đi xuống là $2.17 năm 2009 và dự đoán là sẽ tăng lên 11.5% là $2.42 cho năm 2010. Giá diesel là $2.3 một gallon trong năm 2009, dự đoán là đi lên $2.69 một gallon trong năm 2010. Có một điểm khác biệt là nhu cầu của diesel được tiên đoán là sẽ đi xuống do đó giá diesel có thể sẽ đi xuống dưới giá xăng vào mùa hè năm nay.

Dự đoán cho xăng dầu cho mùa hè năm nay.

Mùa hè năm nay, nhu cầu xăng dầu được tiên đoán là đi xuống so với năm ngoái. Dự đoán phía dưới cho thời gian 01 tháng 04 đến 30 tháng 9 năm 2009.

. Giá cả: Mùa hè năm ngoái giá xăng là $3.81 một gallon thì được đoán cho mùa hè năm nay là $2.23 một gallon. Diesel khoảng $4.37 một gallon mùa hè năm 2008, thì được ước tính là $2.27 cho năm 2009.

. Thành phần và Phẩm chất xăng dùng cho xe cộ: Thông thường nhu cầu cho xăng thường gia tăng thêm 1% hay khoảng 9.1 triệu bbl/d. Mùa hè năm ngoái số lượng xăng đi xuống vì bão và giá cao. Xăng được bán trên thị trường từ 4 nguồn: Từ nhà máy lọc dầu. Sản suất trong nước, Nhập cảng từ ngoại quốc, nhập cảng hay sản suất trong nước ethanol (10%) blending.

. Blending Ethanol: từ 437,000 bbl/d mùa hè năm 2007 được gia tăng lên 635,000 bbl/d mùa hè 2008, ầv dược tiên đoán là 670,000 bbl/d cho mùa hè năm nay.

Dầu khí

Nhu cầu của dầu khí dự đoán sẽ đi xuống 1.8% năm 2009 và sẽ không thay đổi cho năm 2010. Theo con số tường trình thì kinh tế trong tình trạng suy thoái, nhu cầu dầu khí được dùng trong kỹ nghệ sẽ đi xuống 7.4% trong ănm 2009. Nhưng nhu cầu của dầu khí trong các đơn vị gia cư thì lại tăng lên. Trong kỹ nghệ điện, thì giá dầu khí quá rẻ đủ để thay cho than, do đó nhu cầu về dầu khí trong kỹ nghệ nằy tăng 0.7%. Không có dự đoán cho năm 2010 vì không có data chính xác kinh tế sẽ phục hồi ra sao.

. Sản suất: Hoa Kỳ sản suất ít đi 0.3% trong năm 2009 và 1.0 năm 2010. Tổng số rigs khoan cho dầu khí trong nội địa Hoa Kỳ năm 2008 là ~1600 nhưng đi xuống là ~800 vào tháng 4 năm nay. Không cứ Hoa Kỳ và Mexico cắt giảm sản suất, các quốc gia sản suất dầu khí cũng có hành động tương tự. Mặc dù có những tiên đoán về kinh tế sẽ đổi chiều vào năm tới và giá dầu khí có thể lên cao, tổng số dầu khí được sản suất cho năm 2010 vẫn có chiều hướng đi xuống.

. Liquefied Natural Gas (LNG): Nhập cảng LNG đi xuống 480 billion cubic feet (Bcf) năm 2009, từ 352 Bcf năm 2008 chỉ vì kinh tế thế giới suy thoái và các nước Trung Đông căt giảm. Viễn ảnh nhu cầu nhập cảng LNG của Hoa Kỳ sẽ đi xuống khoảng 11% năm 2009.

. Dự trữ: Trong tháng 4, dầu khí được dự trữ là 1,674 Bcf (U.S. Working Natural Gas in Storage), như vậy có nghĩa là hiên nay Hoa Kỳ có trên 310 Bcf so với dự trữ trung bình tính từ năm 2004 đến năm 2008. Đây là con số kỷ lục đứng hàng thứ hai nếu được so sánh từ năm 1991.

. Giá cả: Thường thì giá dầu khí được bán trên Thị Trường là Henry Hub spot, vào tháng 3 nó được bán ra với giá $4.08 cho một Mcf thấp hơn tháng Hai nhưng trong tuần rồi thì đã lên cao. Hai lí do chính dầu khí đi xuống: Thứ nhất: Kinh tế suy thoái. Thư hai: sản suất quá nhiều. Gia sẽ được đi lên vào mùa thu khi nhu cầu gia tăng. Tiên đoán cho năm 2010 là sẽ đi lên vì nhiều lí do: Kinh tế phục hồi, khai thác dầu khí cắt giảm, tín dụng cho các dự án của các công ty sản suất bị cắt giảm hay không có sẽ đẩy giá dầu khí đi lên rất mạnh trong ngắn hạn. Nhưng mặt khác nhập cảng LNG có thể quân bình nhu cầu về dầu khí.

Chính sách về năng lượng của Hoa Kỳ hiện nay là một chính sách “không chính sách”. Nó tùy thuộc hoàn toàn vào tình trạng kinh tế. Nếu kinh tế phục hồi và lạm phát được kiểm soát, thì năng lượng không là một điều lo sợ, Nhưng nếu kinh tế vẫn tiếp tục đi vào suy thoái thêm và lạm phát gia tăng thì nó sẽ là điều mà không ai có thể hình dung được và chắc chắn là không một ai tại Wahington có kinh nghiêm để cứu chữa nó.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

* Chữ viết tắt BPD, bbl/d, bpd, bd or b/d đều có một nghĩa là Barrel per day (Một thùng một ngày).

May 19, 2009

Những ‘thủ phạm’ của suy thoái kinh tế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:07 pm
Tags: , ,

Trong số 25 cái tên được điểm, có cả những nhân vật như 2 vị cựu tổng thống của Mỹ là Bill Clinton, George Bush và CEO các tập đoàn tài chính có ảnh hưởng nhất nước Mỹ.

Khi suy thoái tài chính thế giới dường như đã chạm đến đáy, người ta có thời gian kiểm nghiệm lại nguyên nhân sâu xa dẫn đến thảm họa kinh tế lớn nhất kể từ những năm 1930. Báo cáo về 25 nhân vật có “công” lớn nhất đối với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay vừa được tạp chí Time công bố.

1. Angelo Mozilo

Angelo Mozilo là cái tên đứng đầu trong danh sách “thủ phạm”. Ảnh: CNN

Là con trai của một người bán thịt, Mozilo trở thành đồng sáng lập Công ty Countrywide vào 1969 và nhanh chóng biến nó trở thành nhà cho vay thế chấp lớn nhất nước Mỹ. Trong “phong trào” cho vay thế chấp dưới chuẩn, Countrywide đã giúp bất cứ người Mỹ nào cũng có thể vay tiền dù người đó chưa chắc có khả năng trả nợ. Sau khi bong bóng bất động sản tan vỡ, những món nợ khó đòi khiến Countrywide là một trong những công ty thua lỗ và sa thải nhân công sớm nhất. Mozilo bị dư luận và Quốc hội Mỹ chỉ trích mạnh mẽ khi vẫn điềm nhiên nhận khoản tiền thưởng hậu hĩnh khi kinh doanh thất bát. Đầu 2008, Mozilo ra đi sau khi bán Countrywide cho Bank of America lấy 4 tỷ USD.

2. Phil Gramm

Phil Gramm không thừa nhận vai trò của ông trong việc nhấn chìm thị trường chứng khoán. Ảnh: worldpress.

Phil Gramm ngồi ghế Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ cho đến năm 2000. Năm 1999, Thượng nghị sĩ Phil Gramm hô hào bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall Act lập từ sau Cơn Đại Suy thoái 1930. Đạo luật này tách bạch vai trò của ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại, xuất phát từ quan điểm ngăn ngừa các ngân hàng đem tiền gửi của người dân “nướng” vào các canh bạc chứng khoán. Tuy nhiên, nhờ “công lao” của Phil Gramm, nó đã bị bãi bỏ và thay bằng Đạo luật Hiện đại hóa Giao dịch Tương lai áp dụng từ năm 2000. Sản phẩm của Phil Gramm hủy bỏ sự kiểm soát của Ủy ban Giao dịch Tương lai Mỹ đối với các giao dịch phái sinh OTC như hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Phil Gramm nhanh chóng được các ngân hàng đầu tư tung hô. Tuy nhiên chỉ 8 năm sau, chính hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng đã hạ gục nhiều nạn nhân, trong số đó có nhà bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG. Tuy nhiên, hồi tháng 1/2009, Phil Gramm đã lên tiếng phản đối vai trò của ông trong suy thoái.

3. Alan Greenspan

“Thầy phù thủy” của nền kinh tế Mỹ đã mắc sai lầm. Ảnh: newsday.

Cựu Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan là một chuyên gia kinh tế dày dạn kinh nghiệm trên thương trường và là học trò cưng của nhà lý luận nổi tiếng người Mỹ Ayn Rand. Sau khi chèo chống vượt qua thời kỳ chứng khoán đen tối năm 1987 và đạt thành công vang dội suốt những năm 1990, ông được toàn nước Mỹ phong tặng danh hiệu Thầy phù thủy. Tuy nhiên, nguy cơ dần nảy nở từ đầu năm 2000, khi Greenspan áp dụng mức lãi suất siêu thấp và bãi bỏ sự kiểm soát đối với các định chế tài chính lớn. Hồi tháng 10 năm ngoái, ông phải cay đắng thừa nhận trước Quốc hội Mỹ rằng mình đã mắc phải sai lầm nghiêm trọng khi ngộ nhận các hãng tài chính có thể tự kiểm soát hoạt động của họ.

4. Chris Cox

Chân dung cựu Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ. Ảnh: worldpress

Cựu Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) Chris Cox có thể viện cớ quanh co để phủ nhận vai trò của ông trong vụ lừa đảo lịch sử Bernard Madoff. Tuy nhiên, giới đầu tư không chấp nhận bất cứ bào chữa nào về sự tắc trách khi ông còn đương chức. Cox biện hộ rằng SEC không đủ quyền hành để hạn chế sự lạm dụng đòn bẩy tài chính, vốn là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Tuy nhiên, sự thật là Ủy ban Chứng khoán Mỹ hoàn toàn có khả năng nắm thông tin hoạt động của những ngân hàng lớn như Lehman Brothers và Merrill Lynch.

5. Người tiêu dùng Mỹ

Trước khi suy thoái xảy ra, hàng triệu người dân Mỹ đã đặt niềm tin mãnh liệt vào sự giàu có. Ảnh: chicstores.

Chính người tiêu dùng Mỹ cũng bị liệt vào hàng “thủ phạm” trong suy thoái toàn cầu. Người Mỹ bắt đầu chính sách thắt lưng buộc bụng từ quý III/2008 do lo sợ kinh tế sẽ yếu đi. Trong khi suốt 40 năm trước đó, thị trường Mỹ đã quen với phong cách thoải mái chi tiêu của người dân. Họ vay mượn để mua sắm, vay mượn để tiêu dùng và đặt niềm tin mãnh liệt vào sự giàu có của nước Mỹ. Tuy nhiên, vào thời điểm bong bóng chứng khoán và bất động sản tan vỡ cuối năm 2007, nợ tiêu dùng của người dân đã lên đến 130% so với mức thu nhập trung bình. Hàng triệu người Mỹ vỡ nợ và nhận ra họ đã không giàu có như đã tưởng.

6. Hank Paulson

Cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Hank Paulson. Ảnh: telegraph

Khi Hank Paulson rời ghế Chủ tịch Goldman Sachs để trở thành Bộ trưởng Tài chính Mỹ năm 2006, mối bận tâm lớn nhất của ông là làm thế nào để gây ảnh hưởng càng lớn càng tốt. Cuối cùng ông đã thành công, tuy nhiên đó không phải là ảnh hưởng tích cực. Vào cuối thời tổng thống Bush – con, ông đã một tay thao túng toàn bộ nền kinh tế Mỹ bằng các chính sách kinh tế. Kết quả của chúng là 3 sai lầm đã được các nhà phân tích đúc kết lại. Sai lầm đầu tiên là ông đã chậm chân trong việc ngăn chặn khủng hoảng tài chính. Sai lầm nghiêm trọng tiếp theo của Hank Paulson là để Ngân hàng Lerman Brothers sụp đổ. Cuối cùng, người ta gọi gói cứu trợ tài chính trị giá 750 tỷ USD của vị cựu Bộ trưởng Tài chính chỉ là một đống hỗn độn tốn kém.

7. Joe Cassano

Chân dung Joe Cassano. Ảnh: worldpress.

Trước khi ngành tài chính Mỹ đóng băng, ít người biết đến khái niệm hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS). Đó là một loại hợp đồng bảo hiểm, trong đó một bên trả cho bên kia khoản phí để đổi lại được nhận bồi thường trong trường hợp vỡ nợ trái phiếu. Một trong số những người hiểu rất rõ bản chất của công cụ này là Joe Cassano, thành viên sáng lập bộ phận đầu tư tài chính của tập đoàn bảo hiểm AIG. Trong thời kỳ hoàng kim, việc kinh doanh bảo hiểm CDS đã đem lại cho AIG nhiều món lợi khổng lồ. Tuy nhiên, chúng trở thành rắc rối chính của người khổng lồ này khi thị trường bất động sản đi xuống và rủi ro tín dụng vùn vụt tăng cao. Cho đến nay, chính phủ Mỹ đã phải chi đến hơn 150 tỷ USD để duy trì sự sống cho AIG với quyết tâm không thể để tập đoàn này sụp đổ.

8. Ian McCarthy

Nhà kinh doanh bất động sản đầy mưu mẹo Ian McCarthy. Ảnh: rediff

Ian McCarthy được xem là thủ phạm lớn trong vụ sụp đổ thị trường nhà đất ở Mỹ. Là CEO của Công ty Bất động sản Beazer Homes, ông đã cho xây quá nhiều nhà, vượt ngoài khả năng tiêu hóa của người Mỹ. Để tiêu thụ hết số nhà đó, Ian McCarthy đã dùng đến vài mánh khóe. Một trong số đó là chiêu dối trá về khả năng trả nợ của khách hàng, khiến nhà băng sẵn sàng cho họ vay tiền mua bất động sản. Vụ việc của Ian McCarthy đang được FBI, Cơ quan phát triển Nhà của Mỹ và Cơ quan thuế IRS phối hợp điều tra.

9. Frank Raines

CEO gốc Phi đầu tiên trong danh sách Fortune 500. Ảnh: veja.abril.com.br

Khai sinh ra Ngân hàng Fannie Mae vào năm 1938 là Quốc hội Mỹ. Còn người đưa ngân hàng này đến với thành công là cựu Chủ tịch Jim Johnson. Nhưng thủ phạm chính khiến Fannie trở thành mối họa với kinh tế Mỹ là người kế nhiệm Jim Johnson, CEO Frank Raines. Frank Raines từng đứng trong bộ máy ngân khố thời Bill Blinton, và ông là CEO gốc Phi đầu tiên nằm trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới. Sau khi rời Ngân hàng vào 2004 sau một scandal, ông để lại sau lưng một mối họa tiềm ẩn với nền kinh tế Mỹ. Năm 2008, thua lỗ của Fannie cùng bạn đồng hành Freddie Mac đã lên đến 100 tỷ USD mỗi năm và bị buộc phải nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ Mỹ.

10. Kathleen Corbet

Kathleen Corbet những ngày hoàng kim. Ảnh: daylife

Corbet là người điều hành tổ chức đánh giá tín nhiệm lớn nhất và uy tín nhất nước Mỹ là Standard & Poor’s suốt một thập kỷ. Lợi dụng uy tín của mình, Kathleen Corbet đã dán nhãn “chất lượng cao” lên những khoản vay rủi ro nhất, khuyến khích nhà đầu tư lao đầu vào mua các giấy nợ đảm bảo bằng tài sản. Tuy nhiên khi khủng hoảng xảy ra, những tờ giấy nợ này biến thành giấy loại không hơn không kém. Tiền là lý do duy nhất khiến bà làm ăn thiếu trách nhiệm. Một số nhà phát hành chứng khoán trả tiền cho Kathleen Corbet để cổ phiếu yếu kém của họ được chính S&P đảm bảo.

11. Dick Fuld

Dick Fuld đi giữa sự phản đối của người dân Mỹ trong phiên điều trần trước Quốc hội. Ảnh: Reuters

Từng nổi tiếng với biệt danh Gorilla của Phố Wall, CEO Dick Fuld là người có công đầu trong việc nhấn chìm Ngân hàng Lehman Brothers trong những phi vụ kinh doanh thế chấp dưới chuẩn. Lehman rót vốn cho các ngân hàng. Sau đó, đến lượt những ngân hàng này cung cấp khoản vay cho những người không có khả năng trả nợ. Lehman biến tiền thành trái phiếu và chuyển cho nhà đầu tư hàng tỷ USD nợ xấu. Trước khi Lehman phá sản, Dick Fuld nhanh tay tự thưởng cho mình 500 triệu USD.

12. Bill Clinton

Bill Clinton trong vai trò mới là diễn giả. Ảnh: bet

Nước Mỹ ở trong thời kỳ kinh tế thịnh vượng những năm Tổng thống Bill Clinton “trị vì”. Tuy nhiên, ông là người có công bãi bỏ và lập ra nhiều đạo luật, vốn làm nền móng cho những rắc rối gần đây. Năm 1999, ông quyết định bỏ luật Glass-Steagall Act, bài học sau thời kỳ Đại Suy thoái những năm 1930. Một năm sau đó, ông ký duyệt Đạo luật Hiện đại hóa Giao dịch Tương lai. Hành động này đã cởi trói cho Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Năm 1995, Clinton nới lỏng quy định về nhà đất bằng cách sửa lại Luật Tái đầu tư Công cộng. Điều luật gia tăng sức ép lên các ngân hàng, buộc họ phải tạo điều kiện cho những người có thu nhập thấp vay tiền mua nhà. Các nhà phân tích vẫn đang không ngớt tranh cãi về vai trò của vị cựu tổng thống trong việc tạo ra một môi trường cho vay đầy rủi ro

13. Marion và Herb Sandler

Hai vợ chồng nhà Sandler. Ảnh: sfgate.

Vào đầu 1980, Ngân hàng Sandlers’ World Savings là nơi đầu tiên cung cấp những khoản vay mạo hiểm để mua bất động sản, với tên gọi vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh (ARM), một dạng của vay dưới chuẩn. Ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều lựa chọn để trả nợ và nhờ đó giảm bớt khoản tiền phải trả. Người đi vay sẽ phải chấp nhận rủi ro lãi suất tăng. Vào thời kỳ đầu khi vay, họ được hưởng lãi suất thấp hơn so với loại hình cho vay bình thường. Tỷ lệ vỡ nợ của loại hình cho vay này rất cao. Tuy vậy, Sandlers’ World Savings vẫn duy trì mô hình kinh doanh của họ thêm hai thập kỷ nữa bằng những quảng cáo gây nhầm lẫn. Cặp đôi Marion và Herb Sandler bỏ túi 2,3 tỷ USD khi họ bán Ngân hàng cho Wachovia. Năm 2008, đến lượt Ngân hàng Wells Fargo ôm gói thuốc nổ khi mua lại Wachovia.

14. George W. Bush

Cựu Tổng thống Mỹ George Bush. Ảnh: guardian

Các nhà đầu tư không biết phải nên cảm ơn hay oán trách cựu Tổng thống George Bush. Một mặt, ông đã ra nhiều quyết định cởi trói cho ngân hàng, các nhà môi giới thế chấp và sớm phát hiện, đề xuất các biện pháp kiểm soát chặt chẽ với hai đại gia cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac. Mặt khác, ông đã không thể thuyết phục Quốc hội đồng thuận với quan điểm của mình. Sau scandal của hãng năng lượng khổng lồ Enron, Bush đã ký duyệt đạo luật Sarbanes-Oxley nhằm bảo vệ nhà đầu tư và tạo những thay đổi quan trọng trong luật chứng khoán Mỹ kể từ sau Đại suy thoái 1930. Tuy nhiên, đạo luật này gần đây bị các nhà phân tích cho là đã cản trở tính cạnh tranh quốc tế cho các doanh nghiệp Mỹ. Và cuối cùng, chính Bush là người chứng kiến sự suy sụp của hệ thống tài chính Mỹ cũng như toàn thế giới trong cuộc khủng hoảng đang diễn ra.

15. Stan O’Neal

Cựu CEO của Ngân hàng Merrill Lynch, Stan O’Neal. Ảnh: Bloomberg

Stan O’Neal giữ chức CEO tại Ngân hàng Merrill Lynch trong vòng 6 năm, kết thúc nhiệm kỳ vào 2007. Từ một ngân hàng thân thiện, Merrill Lynch được O’Neal cải tạo thành một kẻ tham lam, lún ngày càng sâu vào canh bạc mua bán nợ thế chấp có bảo đảm, hầu hết trong số đó là trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Tính đến tháng 6/2006, trị giá trái phiếu dưới chuẩn và nợ thế chấp trong tay Merrill Lynch đã lên đến 41 tỷ USD. Khi thị trường dưới chuẩn suy sụp, Merrill Lynch rơi vào khủng hoảng và sau đó bị Bank of America thâu tóm là điều không làm ai ngạc nhiên.

16. Trung Quốc

Đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc ngày càng đóng vai trò quan trọng. Ảnh: zhaotongok

Việc Trung Quốc góp mặt trong danh sách “thủ phạm” chứng tỏ vai trò ngày càng lớn của nước này đối với kinh tế thế giới. Với nguồn tài sản dồi dào, Trung Quốc đã mua quá nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ trong suốt 8 năm trở lại đây. Nước này trở thành chủ nợ lớn nhất của nền kinh tế lớn nhất thế giới với giá trị tài sản nắm giữ lên đến 1,7 nghìn tỷ USD.

17. David Lereah

Chân dung David Lereah. Ảnh: idealista.

Nếu một chuyên gia nào đó nói vu vơ rằng thị trường bất động sản sẽ ngày càng phát triển, nhà đầu tư sẽ ít nhiều hoài nghi. Tuy nhiên, tuyên bố này được chính David Lereah, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà Kinh doanh Bất động sản Mỹ phát ngôn nên người ta tin ngay lập tức. Ông nhắc đi nhắc lại trong các buổi phỏng vấn truyền hình rằng nhà đất là một kênh đầu tư đúng đắn. Ông thúc giục mọi người vay tiền mua nhà trong cuốn sách “Có phải bạn đã bỏ lỡ cuộc bùng nổ Bất động sản” xuất bản năm 2005. Năm 2006, ông cũng tỏ chút thái độ hoài nghi nhưng chỉ sang đầu 2007, ông khiến nhà đầu tư tiếp tục vay tiền mua nhà sau tuyên bố: “Thị trường bất động sản đã vượt đáy”.

18. John Devaney

Ông chủ quỹ đầu cơ John Devaney. Ảnh: usatoday.

John Devaney là đại diện tiêu biểu nhất cho giới đầu cơ. Các quỹ này đóng vai trò to lớn trong lĩnh vực mua bán tài sản thế chấp. Bằng việc mua lại các khoản nợ có tài sản thế chấp, Devaney và nhiều ông chủ quỹ đầu cơ khác đã kích thích vòng quay ngày càng phát triển. Chủ nợ cho khách hàng vay dưới chuẩn, rồi bán những tờ giấy nợ đó kiếm lời. Về phần mình, quỹ đầu cơ háo hức mua lại đống giấy này với hy vọng sẽ thu lại khoản lợi nhuận béo bở khi người vay trả tiền. John Devaney có hẳn một quỹ trị giá 600 triệu USD, chuyên mua lại các khoản nợ nguy hiểm. Tệ hơn, Devaney biết rõ những khoản vay này tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Vào đầu năm 2007, khi nói về vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh (ARM), ông từng phát biểu: “Chỉ có người điên mới đi mua lại những khoản vay này. Thế nhưng đây lại là lĩnh vực kinh doanh béo bở nhất của chúng tôi”.

19. Bernard Madoff

Huyền thoại một thời của Phố Wall, hóa ra lại là tay lừa đảo lớn nhất từ trước đến nay. Ảnh: AP.

Vụ lừa đảo lịch sử trị giá 50 tỷ USD của Bernard Madoff đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều ngân hàng, quỹ đầu cơ, tổ chức tài chính lớn. Tổng cộng, số nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của Madoff lên đến 3 triệu người. Tuy nhiên, điều khiến nhiều người Mỹ cảm thấy cay đắng nhất là Bernard Madoff đã diễn trò suốt nhiều thập kỷ ngay trước mũi các nhà chức trách. Sự thật này đã dẫn đến lòng nghi ngờ về trình độ quản lý của các nhà lãnh đạo trong hệ thống tài chính Mỹ. Tâm lý lo ngại trong dân chúng khiến suy thoái trở nên càng tồi tệ hơn.

20. Lewis Ranieri

“Cha đẻ” của trái phiếu bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Ảnh: businessweek.

Lewis Ranieri được xem là “cha đẻ” của trái phiếu bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Vào cuối những năm 1970, Lew Ranieri là người đầu tiên dùng từ “chứng khoán hóa”, chỉ các khoản vay bất động sản được biến thành các giấy tờ có giá rồi bán cho nhà đầu tư tại Phố Wall. Đến năm 1984, Lew Ranieri khoác lác rằng việc kinh doanh tài sản thế chấp của ông tạo ra nhiều tiền hơn tất cả các giao dịch tại Phố Wall cộng lại. Quả thật thời kỳ hoàng kim của giao dịch trái phiếu bằng tài sản thế chấp bùng nổ vào đầu những năm 2000, vực Phố Wall khỏi thời kỳ làm ăn bết bát. Các hãng đầu tư được đà xông lên, đổ nhiều khoản tiền khổng lồ đặt cược vào chứng khoán loại hình này. Tuy nhiên, khi những người đi vay dưới chuẩn bắt đầu không trả được nợ, thị trường chững lại và giá trái phiếu xuống dốc không phanh. Vào thời điểm đó, các ngân hàng đầu tư đã nuốt quá nhiều món tài sản độc hại. Hệ quả tất yếu là ngân hàng lần lượt sụp đổ và các nhà đầu tư cùng nhau mất tiền.

21. Burton Jablin

Ông hoàng truyền hình cũng bị lôi vào vòng xoáy của suy thoái kinh tế. Ảnh: Time.

Không chỉ các nhà kinh tế mà cả ông hoàng truyền hình của kênh Scripps Networks, Burton Jablinw cũng bị đổ trách nhiệm trong suy thoái tài chính. Là ông chủ của kênh HGTV và nhiều kênh khác, ông đã tiếp khá nhiều sức lực trong việc việc thổi căng trái bóng bất động sản. Với uy tín của mình, Jablin khiến các chương trình truyền hình về bất động sản được đón nhận nhiệt liệt ở 97 triệu hộ gia đình trên khắp nước Mỹ. Ông sản xuất các chương trình ăn khách như “Trang trí nhà cửa trước khi bán” hay “Nhà tôi trị giá bao nhiêu” khiến khán giả phát cuồng và càng đam mê đổ tiền vào bất động sản.

22. Fred Goodwin

Fred Goodwin được Nữ hoàng Anh phong tước hiệu Sir vào năm 2004. Ảnh: Guardian.

Giới đầu tư và bình luận thế giới ưu ái dành cho ông chủ của Royal Bank of Scotland (RBS), nhiều biệt danh như “nhà ngân hàng tệ nhất thế giới”, hay “người hoang tưởng”, hay thậm chí là “kẻ tham lam”. Chủ trương của ông mua lại tất cả các ngân hàng và định chế tài chính có thể, bất chấp hiệu quả kinh tế. Kết quả tích cực là không lâu sau khi nắm quyền, ông đã biến RSB từ một ngân hàng tỉnh lẻ đột ngột ngoi lên trở thành một trong năm ngân hàng lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, khi kinh tế toàn cầu dần u ám vào năm 2007, ông vẫn quyết tâm mua lại đối thủ là Ngân hàng Hà Lan ABN Amro, dù cái giá 100 tỷ USD không hề rẻ. Vụ mua bán đã làm ngân khố của RSB cạn kiệt, trong khi Amro đã chứng tỏ là miếng mồi quá lớn, ngoài khả năng tiêu hóa của RBS. Kết quả là mùa thu năm ngoái, chính phủ Anh phải rót 30 tỷ USD cho ngân hàng này. Năm 2008, RSB là ngân hàng có thua lỗ lớn nhất nước trong lịch nước Anh.

23. Sandy Weill

Sandy Weill, người đem lại thành công lẫn thất bại cho Citigroup. Ảnh: charlierose.

Ban đầu chỉ là ngân hàng cho vay cấp thấp, Citigroup đã phát triển vượt bậc trở thành tập đoàn tài chính lớn nhất nhì của nước Mỹ dưới tay Sandy Weill. Tuy nhiên, cùng với cựu Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ Phil Gramm, ông là người đã đứng ra vận động hàng lang hủy bỏ luật Glass-Steagall. đạo luật hạn chế các ngân hàng tham gia những hoạt động kinh doanh rủi ro. Kết cục mà Citigroup nhận lấy ngày hôm nay là trở thành một trong những khối rắc rối lớn nhất của chính phủ Mỹ. Do đó, cho đến nay chính phủ Mỹ đã phải rót 45 tỷ USD để duy trì sự sống cho Citi, với quyết tâm không thể để tập đoàn này phá sản.

24. David Oddsson

Chân dung David Oddson. Ảnh: dailymail.

Trong hai thập kỷ nắm cương vị Thủ tướng Iceland và sau đó là Thống đốc Ngân hàng Trung ương, David Oddsson đã lấy đất nước nhỏ bé của ông ra làm vật thí nghiệm cho lý thuyết về kinh tế thị trường. Ông tư nhân hóa 3 ngân hàng lớn nhất, áp dụng chính sách thả nổi tiền tệ, và tạo ra thời kỳ vàng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, thí nghiệm của David Oddson đã thất bại và Iceland phá sản vào năm 2008. Giờ đây, quốc gia nhỏ bé này vinh dự được cho vào sách giáo khoa kinh tế, minh họa cho mục “đóng băng kinh tế vĩ mô”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã vào cuộc để giúp vực dậy tiền tệ nước này, vốn đã mất một nửa giá trị.

25. Jimmy Cayne

CEO “mơ ngủ” Jimmy Cayne. Ảnh: umbc

Trong khi nhiều CEO Phố Wall đang quay cuồng trong cơn bão tài chính, có một người dường như vẫn còn mơ ngủ là CEO Jimmy Cayne của Ngân hàng Bear Stearns. Ông vẫn ung dung dùng trực thăng đi đánh golf hơn 3 ngày trời hay đều đặn tham gia các cuộc thi đấu thể thao. Thậm chí người ta còn bắt gặp Cayne sử dụng chất kích thích. Hai quỹ đầu cơ lớn của Bear Stearns đã sụp đổ vào giữa năm 2007. Ngoài ra, tập đoàn này còn nắm giữ hơn 40 tỷ trái phiếu tài sản thế chấp hầu như đã vô giá trị. Vào đầu năm 2008, Ngân hàng Bear bị bán cho JPMorgan với cái giá còn bèo bọt hơn giá trị của tòa nhà dùng làm văn phòng công ty.

Thanh Bình (theo Time)

May 11, 2009

Dấu hiệu kinh tế phục hồi: Cần tránh “ông nói gà, bà nói vịt”- Le dang doanh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:50 am
Tags: , ,
Khi dấu hiệu hồi phục chưa rõ ràng thì những thông điệp và cách điều hành nền kinh tế cần thận trọng.

Khuyến nghị này được TS. Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, đưa ra trong cuộc trao đổi mới đây với VnEconomy.

Ông nói:

– Việc những chỉ số của nền kinh tế đã có bước cải thiện hơn so với hồi đầu năm là một điều tốt, nhưng đó cũng là bình thường. Chẳng hạn như GDP, trong quý 1 là quý có tết Nguyên đán thì sản xuất bị ngưng lại nên tăng trưởng chỉ đạt 3,1% là dễ hiểu. Nhưng đến quý 2, khi mà mọi hoạt động của nền kinh tế đã quay trở lại và nhu cầu về tiêu dùng, xây dựng…có chiều hướng tăng lên thì GDP tiếp tục tăng lên cũng là điều bình thường.

Một số chỉ số khác như: xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp… đang có dấu hiệu tăng trưởng tốt là đáng mừng. Song chúng ta cũng phải chú ý rằng, trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam 4 tháng đầu năm nay, biểu hàng xuất khẩu chỉ có 6 mặt hàng: vàng bạc, gạo, chè, hạt tiêu, sắn, hàng dệt may là tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2008, nhưng đến 50% số lượng mặt hàng xuất khẩu tăng trưởng không đáng kể.

Không nên lạc quan tếu

Liệu nền kinh tế đang chuyển biến tốt và có dấu hiệu hồi phục, như một số nhận xét thời gian gần đây, thưa ông?

Để nói rằng những chỉ số tăng trưởng tốt đó là dấu hiệu của hồi phục kinh tế hay chưa, là một vấn đề cần phải thận trọng và cần phải có tiêu chí rõ ràng. Chẳng hạn chúng ta phải nói rõ là GDP tăng trưởng như thế nào thì nền kinh tế mới thực sự hồi phục; mức độ tăng trưởng tín dụng là bao nhiêu, mức độ tạo công ăn việc làm là bao nhiêu; số người thất nghiệp đã giảm hay chưa…

Tất cả những tiêu chí đó đều phải được đưa ra thảo luận, nếu không thì rất dễ xảy ra tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”, tức là người thì cho là đã hồi phục, người thì bảo chưa, như vậy sẽ làm rối loạn thêm cho nền kinh tế cũng như là các doanh nghiệp.

Hơn nữa, đến thời điểm này, trên thế giới không có một tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nào dám khẳng định rằng họ đã vượt qua đáy khủng hoảng rồi. Tất cả các tuyên bố đều nói rằng, tình hình tiếp tục phức tạp và có thể là cuối năm nay thì kinh tế thế giới có cải thiện, mức tăng trưởng âm có thể giảm đi một tý, chứ không có nghĩa là đã tăng trưởng dương rồi.

Nền kinh tế Việt Nam xuất khẩu chiếm đến 72% GDP, còn nhập khẩu và dịch vụ thì chiếm trên 100% GDP, thì rõ ràng chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào kinh tế thế giới, trong khi các nền kinh tế lớn vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục.

Chính vì thế, nếu nói rằng chúng ta có khả năng hồi phục sớm thì cũng phải nói rõ là hồi phục như thế nào, hồi phục lĩnh vực gì… Theo tôi, điều kiêng kị nhất lúc này là tránh lạc quan tếu, tức là tránh đưa ra những thông điệp quá dễ dãi, như tháng mấy sẽ tăng trưởng trở lại, tháng mấy, tháng mấy sẽ hồi phục…

Tôi chỉ xin lấy ví dụ, Singapore họ nói thẳng là năm nay họ sẽ tăng trưởng âm 8% và mức độ trì trệ do khủng hoảng sẽ kéo dài khoảng 6 năm, để Chính phủ và người dân cùng chuẩn bị tinh thần. Thủ tướng của họ tự trừ vào lương 15% trong suốt thời gian đó.

Với đặc điểm của người dân Việt Nam là khá cầu thị và thực dụng, tôi nghĩ chúng ta cũng nên có một thông điệp theo hướng khuyến cáo tình hình vẫn còn khó khăn, để mọi người cùng nỗ lực thì mới mong nhanh chóng bước ra khỏi cuộc khủng hoảng này.

Còn nếu chúng ta tạo ra một mối lạc quan tếu, cho rằng mọi việc đã “phơi phới” rồi, trong khi tình hình chưa có chuyển biến nhiều thì sẽ rất nguy hại. Chúng ta cần phải nghiêm túc với khẩu hiệu: “nhìn thẳng vào sự thật, hiểu rõ sự thật và nói đúng sự thật”.

Vậy, theo ông thì nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới sẽ rơi vào mô hình nào trong 4 mô hình hồi phục kinh tế mà các chuyên gia đưa ra vừa qua?

Theo tôi, mô hình mà chúng ta nên tránh và có thể tránh được là mô hình chữ “L”, tức là nằm mãi dưới đáy mà không thoát lên được, giống như Singaore và Nhật Bản. Chúng ta có một nền nông nghiệp khá hiệu quả vì các sản phẩm này có thị trường khắp thế giới và phù hợp với diều kiện suy thoái kinh tế.

Do vậy, với điều kiện chúng ta có cải cách mạnh mẽ, đổi mới cấu trúc của nền kinh tế thì có thể kinh tế sẽ tăng trưởng theo hình chữ “V” và đây là kịch bản mơ ước.

Nhưng quan điểm của tôi thì khả năng dễ xảy ra nhất của kinh tế Việt Nam là tăng trưởng theo chữ “W”, tức là vẫn có lên, rồi lại xuống, lại lên… do cách điều hành, quản lý và triển khai thực hiện của chúng ta vẫn chưa ổn định và còn nhiều điều phải bàn.

Nhưng nhiều chuyên gia lo ngại rằng, khi mà các gói kích cầu liên tục được thực hiện thì khả năng quay trở lại lạm phát cũng rất lớn?

Đúng vậy, theo tôi thì những tín hiệu về chính sách tiền tệ là rất cần phải chú ý, bởi hiện nay tổng cung của phương tiện thanh toán đã tăng lên 11,4 %, cao hơn rất nhiều so với 5,3% của cùng kỳ năm ngoái. Như vậy có nghĩa là chúng ta đã bơm tiền tăng cung tín dụng rất nhiều.

Bên cạnh đó, nếu giá dầu tiếp tục tăng lên, kéo theo một số mặt hàng khác tăng theo thì khả năng quay trở lại của lạm phát là hoàn toàn có thể.

Cần xem lại điều hành giá

Hiện nay, chúng ta đang nỗ lực chống suy giảm kinh tế, nhưng đồng thời Nhà nước lại liên tiếp cho tăng giá xăng dầu. Theo ông điều này có hợp lý hay không?

Đây là một vấn đề cần phải được làm rõ. Trước đây, khi giá xăng thế giới là 147 USD/thùng thì giá xăng trong nước là 14.000 đồng/lít. Thế nhưng, hiện nay giá xăng thế giới là 55 USD/thùng thì chúng ta lại tiếp tục cho tăng giá xăng lên 12.500 đồng/lít.

Thử hỏi, nếu giá xăng thế giới chỉ cần tăng thêm 20 USD/thùng nữa thì chắc chắn giá xăng trong nước sẽ lại tiếp tục leo thang. Hơn nữa, so với giá xăng của Trung Quốc và các nước trong khu vực thì giá xăng của chúng ta đã cao hơn rất nhiều rồi.

Do vậy, trong bối cảnh kinh tế đang khó khăn như hiện nay, nếu cứ liên tục tăng giá đầu vào thì chỉ có “phép màu” mới giúp các doanh nghiệp của chúng ta có thể cạnh tranh được.

Ngoài ra, giá điện của chúng ta cũng có vấn đề, đặc biệt là cách tính giá điện cao điểm vào buổi sáng. Hiện nay, điện vẫn là sản phẩm độc quyền, họ muốn tăng giá để gây sức ép cho các doanh nghiệp tránh giờ cao điểm đó, nhưng họ lại không thể đưa ra cho doanh nghiệp một lối thoát khả thi.

Tức là ông cho rằng, việc tăng giá điện, giá xăng liên tục là đi ngược lại với mục tiêu chống suy giảm kinh tế?

Cái đó thì cũng đã có nhiều ý kiến rồi. Còn theo tôi, việc tăng giá này còn đi ngược lại với mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu giữ ổn định đời sống của nhân dân, bởi đơn giản, giá xăng lên thì chắc chắn giá các hàng hóa khác, giá vận tải cũng sẽ tăng theo.

Next Page »

Blog at WordPress.com.