Ktetaichinh’s Blog

June 1, 2010

Việt Nam luôn chịu đựng các cuộc chiến tranh triền miên, người dân đều mong muốn sự ổn định lâu dài. Hơn thế, chúng ta có Hà Nội là một trong số ít các thành phố thủ đô trên thế giới 1000 năm tuổi. Nên việc dịch chuyển thủ đô lại càng phải cẩn trọng.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:42 pm
Tags: , , ,

Việt Nam luôn chịu đựng các cuộc chiến tranh triền miên, người dân đều mong muốn sự ổn định lâu dài. Hơn thế, chúng ta có Hà Nội là một trong số ít các thành phố thủ đô trên thế giới 1000 năm tuổi. Nên việc dịch chuyển thủ đô lại càng phải cẩn trọng.

LTS: Tại kỳ họp Quốc hội này, đề án quy hoạch thủ đô Hà Nội với dự kiến Trung tâm hành chính quốc gia sẽ đặt ở chân núi Ba Vì sẽ được đặt lên bàn Nghị sự. Trước đó, đề án cũng đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân, giới kiến trúc sư, quy hoạch sư trong và ngoài nước cũng đã nhiều lần lên tiếng góp lời. Bài viết dưới đây là góc nhìn riêng của KTS Hà Thủy, sẽ có những phân tích được nhiều người đồng tình, song cũng sẽ còn một số quan điểm khác cần phải thảo luận thêm. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin đăng tải để mọi người cùng suy ngẫm.

Dịch chuyển trung tâm thủ đô (hoặc lập thủ đô mới) là một là một việc trọng đại, ảnh hưởng tới quốc gia. Song, cũng cần phải làm khi có đủ cơ sở về lý luận và thực tiễn mang lại sự thịnh vượng bền vững cho đất nước, dân tộc. Tuy nhiên, mỗi lần chuyển dịch (dù chỉ nằm trong chủ trương hay kế hoạch) trong chừng mực thường gây ra những xáo trộn nhất định về mặt chính trị, kinh tế và xã hội.

Ở nước ta, một quốc gia từng phải chịu đựng các cuộc chiến tranh triền miên, người dân đều mong muốn sự ổn định lâu dài. Hơn thế, chúng ta có Hà Nội là một trong số ít các thành phố thủ đô trên thế giới 1000 năm tuổi. Việc dịch chuyển (hoặc lập mới) thủ đô lại càng phải cẩn trọng hơn. Thế nhưng, trong đồ án Quy hoạch Thủ đô Hà Nội vừa rồi có phần thiếu luận cứ, nghiên cứu chưa thực chất nhất.

“Trung tâm Hành chính quốc gia: sẽ dành khu đất dự trữ ở Ba Vì. Tại đây sẽ xây dựng các cơ quan của Chính phủ, các Bộ ngành. Dự kiến sẽ sây dựng sau 2050…” hay “Đề xuất một quỹ đất dự phòng cho Trung tâm Hành chính quốc gia” đều là những nội dung mơ hồ. Quả thực, đây là những ý tưởng khó hiểu, nửa vời, đồng nghĩa với việc tạo tâm lý bất an, tạm bợ, gây bất ổn về lâu dài (hệ lụy nhãn tiền mà chúng ta có thể thấy ngay được tại khu vực Ba Vì hiện nay). Trước mắt, tạo nguy cơ tước đi (vĩnh viễn) cơ hội mở rộng, hoàn thiện một Trung tâm Chính trị xứng tầm và ổn định ngay tại khu vực Ba Đình và phụ cận.

Đề xuất cùng lúc 3 địa điểm dành cho Trung tâm Chính trị – Hành chính quốc gia là một ý tưởng phi lý, nửa vời.

Có rất nhiều phi lý dành cho những ý tưởng này; Nhưng có thể tóm lược vào 9 sự phi lý nổi bật:

Phi lý Thứ nhất:

Có vẻ như khi đề xuất tách rời Trung tâm Hành chính quốc gia với Trung tâm Chính trị quốc gia, những người thực hiện đồ án không hề biết rằng việc phân tách này không phù hợp với thể chế chính trị, mô hình nhà nước của Việt Nam. Ở nước ta, về nguyên tắc (đã xác định trong Hiến pháp) Hệ thống chính trị và Nhà nước là thống nhất. Chính phủ là một bộ phận không thể tách rời trong khái niệm cũng như thực thể.

Đây là sự phi lý về Khái niệm thể chế.

Chúng ta lại có thủ đô Hà Nội là một trong số ít các thành phố thủ đô trên thế giới 1000 năm tuổi. Việc dịch chuyển (hoặc lập mới) thủ đô lại càng phải cẩn trọng hơn. Ảnh cầu Thê Húc (Hồ Gươm, Hà Nội).

Phi lý Thứ hai:

Cũng có ý kiến cho rằng đây là mô hình nhà nước tiên tiến, theo hình mẫu Thủ đô Hành pháp (thủ đô thực tế) của Malaysia: Putrajaya là thành phố được quy hoạch hoàn toàn mới và được thành lập năm 1995 (cách Kuala Lumpur khoảng 30 km về phía Nam).

Song, không phải ai cũng biết rằng đây là một sản phẩm của thể chế chính trị hoàn toàn khác biệt. Xin lưu ý: Nhà nước Malaysia theo mô hình quân chủ lập hiến liên bang. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền lực được trao nhiều hơn cho nhánh hành pháp chứ không phải lập pháp và tư pháp (“đã bị suy yếu sau những mưu toan của chính phủ thời thủ tướng Mahathir” (Nguồn: Malaysia Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Vì vậy, việc lập Thủ đô Hành pháp (Putrajaya) độc lập với Thủ đô Chính thức Kuala Lumpur là điều dễ hiểu. Cũng như Thái Lan (là nước theo mô hình Quân chủ nghị viện, luôn có bất ổn chính trị, tranh giành quyền lực hoặc sắc tộc, tôn giáo), Malaysia cũng có giới hạn phát triển bị ngăn cản bởi “bẫy thu nhập trung bình”. Nước ta, chắc không ai muốn đi theo con đường này.

Có thể hình mẫu Putrajaya là thành phố thông minh. Nhưng với tư cách là một thành phố thủ đô Putrajaya (cùng với một số thành phố thủ đô khác) lại là thiểu số trên thế giới về sự lạc hậu: mô hình Thủ đô phân quyền. Hiện nay, (như đã nêu – Tồn tại 1) trên thế giới chỉ có 9/232 quốc gia và vùng lãnh thổ còn mô hình này (3,88%). Với các đặc điểm (xin được nhắc lại): (1) Chế độ quân chủ: 3/9; (2) Xung đột sắc tộc, tôn giáo: 7/9; (3) Tranh giành quyền lực: 7/9; (4) Các mưu toan chính trị: 8/9; (5) Nghèo đói, bạo loạn, bất ổn 6/9.

Như vậy, không có một lý do nào khả dĩ được lựa chọn để cho nước ta hình thành mô hình Thủ đô phân quyền. Xem tài liệu tại đây <Tổng hợp thông tin về thủ đô các quốc gia có Thủ đô phân quyền>

Chúng ta không thể không biết: 223/232 quốc gia và vùng lãnh thổ (96,12%) có Thủ đô tập quyền (tức các trung tâm quyền lực nhà nước được bố trí ở trong cùng một thành phố), trong đó có Việt Nam. Mô hình Thủ đô tập quyền là một trong những thành tựu lớn của văn minh nhân loại, mang đến sự ổn định và phồn vinh cho các quốc gia;. Không có lý do gì khiến chúng ta phải thay đổi một mô hình đang tốt và đã được lịch sử kiểm chứng.

Cùng với sai lệch trong khái niệm, việc quy hoạch tách rời (về không gian) các Trung tâm quyền lực Nhà nước có thể sẽ dẫn đến sự biến động, làm thay đổi về cấu trúc đô thị và tổ chức thể chế. Trong đồ án quy hoạch, dù vô tình hay hữu ý, sự sao chép máy móc mô hình của quốc gia khác trong khi chưa tìm hiểu thấu đáo sẽ gây ra hiệu ứng về hệ thống, sẽ ẩn chứa những vấn đề không chỉ giới hạn trong lĩnh vực chuyên môn.

Đây là sự phi lý về Mô hình nhà nước.

Phi lý Thứ ba:

Có thể có ý kiến bác bỏ việc cho rằng (việc di chuyển Trung tâm Hành chính quốc gia lên Chân núi Ba Vì) đó là “dời đô”, vì “nhiều cơ quan đầu não về chính trị và lập pháp (Quốc hội, Văn phòng Trung ương, Tòa án tối cao) sẽ vẫn ở Ba Đình” (nguồn http://hanoi.org.vn/planning/archives/date/2010/03). Nhưng thực chất (với khoảng cách đường chim bay 30 – 40 km, khoảng cách dịch chuyển thực tế 50 – 60km một chiều đi) nếu duy trì mối liên hệ trực tiếp (thống nhất) của các trung tâm này với nhau còn tệ hơn về mọi phương diện.

Cũng có thể sẽ có ý kiến sử dụng địa giới hành chính để biện minh (2 trung tâm này vẫn cùng trong 1 “thành phố Hà Nội”) thì e rằng chỉ là kỹ xảo ngôn từ mà thôi. Thành phố thủ đô (cũ) của Tây Đức là Bonn chỉ cách Cologne 6 -12 km nhưng vẫn là 2 thành phố hoàn toàn riêng biệt (có chính quyền đô thị khác nhau). Sẽ không thể bao biện, nếu không, các ý tưởng về đô thị vệ tinh hay hành lang xanh (của chính đồ án này) sẽ không còn ý nghĩa.

Nếu chấp thuận khái niệm Trung tâm Hành chính quốc gia (không phải là Thủ đô Hành pháp theo thông lệ quốc tế); Chấp thuận cho việc 2 trung tâm (nơi đặt Chính phủ và nơi đặt Quốc hội, Trung ương Đảng, Tòa án tối cao) cùng “trong một thành phố Hà Nội” và không có chuyện Thủ đô phân quyền. Thì ngay lập tức vẫn sẽ xuất hiện sự phi lý khác:

Những người thực hiện đồ án có thể không biết rằng: trong 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn G20 (Argentina, Australia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Italia, Nhật Bản, Mexico, Nga, Arab Saudi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Mỹ) đều có Thủ đô tập quyền, khoảng cách trung bình giữa các trung tâm quyền lực nhà nước (Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp) là từ 2 – 3km (tương ứng là 2,18; 1,89; 2,72km). 17/18 thủ đô có khoảng cách giữa các trung tâm quyền lực nhà nước lớn nhất <6km; Xem tài liệu tại đây < Một số tài liệu về khoảng cách giữa các Trung tâm quyền lực Nhà nước >

1/18 thành phố có khoảng cách giữa các trung tâm lớn nhất là Seoul (tương ứng là 8,24; 8,94; 10,7km) – Sự bất hợp lý này cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến Hàn Quốc quyết định phải di chuyển thủ đô; Mặc dù, các khoảng cách này so với khoảng cách 30 – 40km mà đồ án đề xuất là không đáng kể (chỉ bằng 1/3 – 1/4).

Các nước nói trên phần lớn theo chế độ Cộng hòa (Tam quyền phân lập); khi khoảng cách giữa các trung tâm quyền lực nhà nước đều được quy hoạch khống chế, phổ biến (gần) như vậy hẳn có lý do (về an ninh, quốc phòng, đối ngoại, giám sát, phối hợp hoạt động lãnh đạo điều hành đất nước, tiếp xúc với dân chúng và các yêu cầu khác).

Với khoảng cách (thực tế) 50 – 60km chúng tôi tin rằng những người đề xuất ý tưởng này chưa kịp nghĩ tới những hệ lụy mà nó mang lại cũng như cơ sở để tồn tại bền vững. Hay nói cách khác, để hợp lý, Hà Nội trong tương lai gần sẽ phải hình thành Thủ đô phân quyền (2 trong 1): tại Ba Vì – Thủ đô Hành pháp (thực tế) độc lập với Ba Đình – Thủ đô chính thức. Tức sao chép mô hình của 9 quốc gia (thiểu số) kể trên.

Nếu lý giải rằng trong tương lai sẽ có “Chính phủ điện tử” nên khoảng cách không còn quan trọng, thì cũng không nên quên Chính phủ là một thực thể của thể chế chính trị, rằng loài người có thể có được một “nền Hành chính điện tử”. Song, không bao giờ có được một “nền Chính trị điện tử”. Mặt khác, nếu có một Chính phủ điện tử thật sự thì nhu cầu về quy mô càng không cần lớn và ý đồ dịch chuyển ra khỏi trung tâm lại càng không cần thiết.

Đây là sự phi lý về Cấu trúc trung tâm.

Trong 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn G20 đều có Thủ đô tập quyền, khoảng cách trung bình giữa các trung tâm quyền lực nhà nước (Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp) là từ 2-3km.

Phi lý Thứ tư:

Có thể những người đề xuất ý tưởng của đồ án này nghĩ về một mô hình Thủ đô chức năng (Chính trị – Hành chính) riêng biệt (theo kiểu Washington, D.C – Mỹ; Canberra – Australia; Brasillia – Brazil), quả thực, đây là những hình mẫu mà bất cứ ai làm chính trị (hiện đại) đều mong ước, song, không phải quốc gia nào cũng thành công.

Washington, D.C (Thành lập 16/7/1790; Chính thức: 1800 – nay) là một thành phố được quy hoạch (mới), sau khi nước Mỹ giành được độc lập do đích thân Tổng thống đầu tiên G.Washington lựa chọn. Washington, D.C không chỉ là trung tâm chính trị (nơi đặt Nhà quốc hội; Chính phủ; Tòa án tối cao) mà còn là trung tâm văn hóa, với rất nhiều khu vực di sản, bảo tàng, nơi tưởng niệm, đã trở thành biểu tượng tinh thần của nước Mỹ hiện đại; Thủ đô trước đó: New York City; Philadelphia.

Canberra (chọn cho vị trí của thủ đô của quốc gia vào năm 1908; Chính thức lựa chọn và xây dựng bắt đầu vào năm 1913); Canberra vừa là trung tâm chính trị (nơi đặt Chính phủ; Nghị viện; Tòa án tối cao) vừa là trung tâm văn hóa quốc gia (nơi bố trí Đài tưởng niệm chiến tranh; Bảo tàng nghệ thuật, Bảo tàng quốc gia và Thư viện Quốc gia Australia; Thủ đô trước đó: Melbourne.

Brasília (Thành phố đã được quy hoạch và phát triển năm 1956; Năm 1960, chính thức trở thành thủ đô quốc gia Brazil); Cũng như Washington, D.C, Canberra, Brasilia vừa là trung tâm chính trị, vừa là trung tâm văn hóa và tinh thần quốc gia; Năm 1987 Brasillia được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa của nhân loại – Thành phố di sản duy nhất được xây dựng trong thế kỷ 20; Thủ đô trước đó: Rio de Janeiro.

Mặt khác, có hai quốc gia có kế hoạch (dự định) áp dụng mô hình này nhưng đã thất bại:

Argentina: Chính phủ Argentina cũng đã dự định chuyển thủ đô hành chính tới một vị trí khác. Dưới thời tổng thống Raúl Alfonsín (1983-1989), một Luật (Luật số 23 512) về chuyển thủ đô từ Buenos Aires đến Viedma, một thành phố của vùng Patagonia được thông qua nhưng do những khó khăn về kinh tế, dự án này đã không được thực hiện.

Hàn Quốc: Thực hiện theo kế hoạch đã được Quốc hội Hàn Quốc thông qua hồi tháng 12/2003; Ngày 11/8/2004, chính phủ Hàn Quốc loan báo chính thức chọn khu vực Yeongi-Gongju thuộc tỉnh South Chungcheong làm địa điểm xây dựng thủ đô mới của Hàn Quốc. Địa điểm này cách thủ đô Seoul hiện tại 150 km về phía nam. Thủ đô mới (tên là Sejong có vị trí và địa thế được coi là đắc địa trong một thung lũng, rất phù hợp với luật “feng shui” – phong thuỷ) sẽ là nơi đặt 85 cơ quan hành chính đầu não của chính phủ trung ương, bao gồm cơ quan lập pháp, tư pháp, văn phòng tổng thống, văn phòng Quốc hội, Toà án tối cao; Việc di dời thủ đô sẽ được bắt đầu từ năm 2012 và hoàn thành vào năm 2030.

Mặc dù đã tiến hành trưng cầu dân ý (việc lựa chọn 1/ 4 địa điểm đã được thực hiện với 1 quy trình rất nghiêm túc với uỷ ban đánh giá gồm 80 thành viên); Kế hoạch này vẫn không có được sự đồng thuận cao trong xã hội; Ngày 11/1/2010, Chính phủ Hàn Quốc đã công bố bản kế hoạch phát triển thành phố Sejong, thành một trung tâm khoa học và giáo dục, với tổng đầu tư 16,5 nghìn tỷ won (14,6 tỷ USD). Như vậy, Chính phủ Hàn Quốc đã từ bỏ kế hoạch được thông qua năm 2005 dưới chính quyền của cố Tổng thống Roh Moo-hyun. Theo đó, 9 bộ trong chính phủ cùng 4 cơ quan ngang bộ (chiếm 2/3 chính phủ) sẽ được chuyển đến Sejong từ năm 2012 nhằm thực hiện cam kết của chính phủ xóa bỏ sự chênh lệch về vùng miền và sự mất cân đối về phát triển giữa thành phố và nông thôn. Tuy nhiên, chính phủ đương nhiệm cho rằng kế hoạch này không hiệu quả và lãng phí tài nguyên quốc gia (nguồn: TTXVN/Vietnam+)

Như vậy, cho đến nay, trên thế giới mới chỉ có ba quốc gia thực hiện mô hình này thành công (như trên), mặc dù đây là mô hình lý tưởng; song, để biến ý tưởng thành hiện thực phải có tập hợp các điều kiện cần và đủ sau:

1. Việc từ bỏ thủ đô cũ bởi các lý do chính trị và an ninh; quy hoạch thủ đô mới mang lại sinh lực cho đất nước, gắn với hình ảnh thể chế mới, mang lại sự ổn định, thịnh vượng, đảm bảo an ninh quốc phòng (theo hình mẫu Washington, D.C);

2. Lựa chọn địa điểm được nghiên cứu rất kỹ, tạo được được sự đồng thuận của xã hội, chuẩn bị kỹ lưỡng cả về phương diện pháp lý (trưng cầu dân ý, đưa vào hiến pháp, các bộ luật), kỹ thuật và tài chính;

3. Là Thủ đô tập quyền, được quy hoạch tổng thể (mới) ngay từ đầu cho chức năng chủ đạo: phục vụ hoạt động chính trị, hành chính của các trung tâm quyền lực nhà nước (bao gồm Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp);

4. Tổ chức rành mạch các trung tâm quyền lực tập trung trong phạm vi bán kính hợp lý (có tính lý tưởng); Cụ thể các khoảng cách (Quốc hội – Chính phủ; Quốc hội – Tòa án tối cao; Chính phủ – Tòa án tối cao) tương ứng: Washington, D.C (2,54; 0,42; 2,90km); Canberra (4,32; 1,45; 5,23km); Brasillia (4,53; 0,36; 4,38km);

5. Với vai trò chủ đạo là trung tâm chính trị quốc gia, song các đô thị này cũng thành công trong việc tạo ra một hình ảnh trung tâm văn hóa, tinh thần của dân tộc;

6. Do các quy hoạch gia hàng đầu thế giới thiết kế (qua thi tuyển); Thời gian chuẩn bị đầu tư và xây dựng và đưa vào hoạt động không quá 10 năm;

Những đặc điểm nêu trên cho thấy việc đồ án quy hoạch Hà Nội đề xuất rời rạc 3 địa điểm (Ba Đình, Mỹ Đình và Ba Vì) cho Trung tâm quyền lực nhà nước cũng như cách thức tiến hành cho thấy một sự nghiên cứu thiếu thấu đáo, thiếu nghiêm cẩn (nghiêm túc, cẩn trọng). Trái ngược với những nỗ lực của các nước kể trên mong muốn có được một Thủ đô tập quyền hoàn chỉnh làm biểu tượng cho sức mạnh của quốc gia.

Đây là sự phi lý về Ý thức nghiêm cẩn.

Phi lý Thứ năm:

Những nước lập thủ đô mới thành công thì rất ít trong khi đó các nước lựa chọn những thủ đô truyền thống (có từ khi lập quốc) để phát triển thành công là rất phổ biến. Có thể dẫn ra đây các quốc gia Argentina, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Italia, Nhật Bản, Mexico, Nga, Arab Saudi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Mỹ; Tây Ban Nha, các nước thuộc cộng đồng châu Âu khác.

Biết cần phải dời đô, định đô làm xoay chuyển vận mệnh, cục diện của đất nước, đấy là sứ mệnh của lãnh tụ. Biết trân trọng giá trị lịch sử, hoàn thiện di sản của thế hệ đi trước, thể hiện đẳng cấp trí tuệ của lãnh đạo. Không thay đổi, dịch chuyển thủ đô cũng là một lựa chọn sáng suốt.

Trên thế giới, đến nay mới chỉ có 2 quốc gia thành công với việc lựa chọn phi truyền thống đó là Brazil và Australia, (với lịch sử hơn 220 năm; Washington, D.C đã trở thành thủ đô truyền thống, là biểu tượng văn hóa, tinh thần và quyền lực trí tuệ của nước Mỹ).

2/232 quốc gia và vùng lãnh thổ có thủ đô mới thành công; 9/232 quốc quốc gia và vùng lãnh thổ có thủ đô phân quyền, các con số này đã nói lên nhiều điều.

Vùng đất lịch sử của các thủ đô truyền thống luôn được coi là thiêng liêng và là biểu tượng của quốc gia. Trong quá khứ, Berlin đã nhiều lần là thủ đô của các nước Đức như Đế chế Phổ, Đế chế Đức hay nước Cộng hòa Dân chủ Đức; Bonn đã từng là thủ đô của nước Cộng hòa Liên bang Đức từ năm 1949 đến 1990; Sau khi nước Đức thống nhất (ngày 3 tháng 10 năm 1990); Berlin lại được chọn lại làm thủ đô của nước Đức thống nhất; Với đa số sít sao (338 phiếu thuận trên 320 phiếu chống) vào ngày 20 tháng 6 năm 1991 Quốc hội Liên bang quyết định dời chính phủ và quốc hội từ thủ đô tạm thời Bonn về Berlin. Tháng 9 năm 1999 công cuộc dời đô hoàn thành.

Cần phải nói thêm Bonn là một thành phố đã được thiết kế làm Thủ đô Chính trị – Hành chính (theo kiểu Washington, D.C) hoàn chỉnh, đã hoạt động tốt (tạo ra một CHLB Đức hùng cường) có thể là giấc mơ của nhiều quốc gia khác. Việc lựa chọn quay trở lại thủ đô truyền thống (với khu vực làm việc của Chính phủ, Quốc hội và Tòa án tối cao chật hẹp hơn) thể hiện ý chí đoàn kết, toàn vẹn lãnh thổ của một nước Đức thống nhất.

Vùng đất lịch sử rất quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền quốc gia, Jerusalem là một ví dụ (nơi tranh chấp triền miên giữa Israel và Palestine). Trên thế giới những thành phố lịch sử 1000 năm như Hà Nội cùng với Vienna (Áo); Rome (Italia); Paris (Pháp); Bắc kinh (Trung Quốc); Brussels (Bỉ); Athens (Hy lạp); Cairo (Ai Cập); Delhi (Ấn Độ); London (Anh); Madrid (Tây Ban Nha); và một số thành phố khác được coi là thủ đô vĩnh viễn của quốc gia; Xem tài liệu tại đây <Các thành phố thủ đô 1000 năm tuổi>

Tất cả các nước phát triển hàng đầu thế giới đều chọn được vị trí tốt nhất (của quốc gia) cho thành phố thủ đô; Khảo sát thủ đô của 18 quốc gia (G20) cho thấy sự lựa chọn vị thế của thành phố thủ đô như sau: Vùng đồng bằng: 14/18; Lưu vực sông, hồ: 17/18; Thung lũng: 11/18; Cao nguyên 3/18; Vùng núi, chân núi cao: không có. Hà Nội ở trong khu vực đồng bằng, lưu vực sông hồ, thuộc nhóm đa số.

Tất cả các quốc gia nói trên đều tập trung hoàn thiện các trung tâm quyền lực tại địa danh, địa điểm lịch sử với sự tự hào không giấu diếm. Ấn độ đã tạo ra New Delhi tại vùng đất thiêng liêng – một quận Hành chính dành cho các trung tâm quyền lực nhà nước. Đây cũng là một giải pháp đáng để tham khảo.

Tại thành phố thủ đô các nước (phát triển) đều giữ vị trí trang trọng nhất cho trung tâm chính trị như một biểu tượng của quốc gia và đặt tại trung tâm thành phố (luôn luôn là ở giữa trung tâm thành phố). Họ khai thác được lợi thế quy tụ của vùng đất thuận lợi về địa chính trị và địa kinh tế như một sức mạnh mang ý nghĩa quyết định cho việc chấn hưng đất nước (những Tokyo; Berlin và nhiều thành phố khác).

Các quốc gia có thủ đô ngàn năm tuổi vẫn đầy sức sống; bao gồm: Anh (London); Ấn độ (New Delhi); Italia (Roma); Pháp (Paris); Trung Quốc (Bắc Kinh); Các thành phố thủ đô này cũng giống như Hà Nội  về địa thế, các thành phố này đều nằm trong các khu vực giữa (trung tâm), khu vực cao của vùng đồng bằng rộng lớn, đất đai trù phú,  là nơi hợp lưu các dòng sông, hội tụ các con đường;

Việc lựa chọn các vùng đất rộng lớn đã thể hiện khát vọng phát triển, tầm nhìn của những người đứng đầu đất nước (ngược lại với xu thế thời Cổ đại và Trung đại – các lãnh chúa, các tiểu vương quốc thường chọn nơi có địa thế xung yếu, hiểm trở dễ phòng thủ làm nơi đóng đô); Các thành phố thủ đô này đều đã trở thành biểu tượng tinh thần của quốc gia, trung tâm văn minh thế giới.

Năm nước trên đây đều là những quốc gia hùng mạnh trong suốt quá trình lịch sử. Ngày nay, các quốc gia này vẫn duy trì các trung tâm quyền lực nhà nước tại vị trí truyền thống (ở giữa) các vùng đất mà tổ tiên họ đã chọn lựa và duy trì vị thế hàng đầu trên trường quốc tế. Xem tài liệu tại đây <Một số tài liệu về Vị thế các thành phố thủ đôNhóm các nền kinh tế lớn>

Việt Nam vinh dự nằm trong số ít các quốc gia có thủ đô ngàn năm tuổi. Thăng Long – Hà Nội có được vị thế của “các thủ đô vĩnh hằng” như đã nêu (khẳng định tầm nhìn thiên niên kỷ, nhãn quan quảng đại của Thái tổ Lý Công Uẩn và Chủ tịch Hồ Chí Minh). Lẽ ra, đồ án phải thấy được thế mạnh, sự tương đồng (về đẳng cấp) này, tiếp thu kinh nghiệm để khẳng định vị thế, nâng cao tính cạnh tranh, duy trì sự phát triển kế tiếp di sản chức năng một cách bền vững của đô thị thủ đô Hà Nội trong khu vực và trên thế giới. Ngược lại, việc lựa chọn giải pháp đưa Trung tâm quyền lực Nhà nước ra ngoài vùng đất lịch sử (chúng ta sẽ phải cạnh tranh bằng tài nguyên, đất đai, tài chính – điều này chúng ta luôn ở thế yếu) tức tư duy, hành động “lấy sở trường làm sở đoản”, “dời biển lớn, vào nơi rãnh, ngòi”.

Đây là sự phi lý về Nhận thức giá trị.

Việc lựa chọn các vùng đất rộng lớn đã thể hiện khát vọng phát triển, tầm nhìn của những người đứng đầu đất nước (ngược lại với xu thế thời Cổ đại và Trung đại – các lãnh chúa, các tiểu vương quốc thường chọn nơi có địa thế xung yếu, hiểm trở dễ phòng thủ làm nơi đóng đô). Các thành phố thủ đô này đều đã trở thành biểu tượng tinh thần của quốc gia, trung tâm văn minh thế giới.

Phi lý Thứ sáu:

Khi đề xuất địa điểm (dù cho 40 năm sau) đặt trung tâm Hành chính quốc gia (đồng nghĩa với Trung tâm Chính trị quốc gia) tại Ba Vì – tức kế hoạch dời đô. Những người đề xuất có thể không biết rằng trong số các thành phố thủ đô 1000 năm tuổi của thế giới (khoảng 29) chỉ duy nhất 2 quốc gia (có kế hoạch) từ bỏ vùng đất lịch sử để lập thủ đô mới. Đó là Hàn Quốc (với Seoul và Sejong); Myanma (với Yangon và Naypyidaw);

Myanma có kế hoạch dời đô là do ý chí của giới quân sự cầm quyền; Naypyidaw có một vị trí trung tâm hơn Yangon (mặt khác Yangon tuy là một thành phố lâu đời song cũng kém phát triển). Kế hoạch này hiện nay đang được thực hiện, chưa rõ có thành công hay không.

Như đã giới thiệu, với Hàn Quốc kế hoạch dời đô có lý do phức tạp hơn: Seoul là một thành phố cổ, từng là kinh đô của Bách Tế (18 TCN – 660) và Triều đại Triều Tiên (1392-1910); Thành phố đã trở thành thủ đô của Hàn Quốc sau khi thành lập chính phủ năm 1948; Sự đông đúc, sự phồn vinh của thành phố này thể hiện sức hút và sự thành công của đô thị. Tuy nhiên, với tư cách một trung tâm chính trị quốc gia, Seoul có nhiều bất lợi, xin được dẫn:

Bất lợi về an ninh, quốc phòng: Bán đảo Triều Tiên hiện vẫn đang ở trong tình trạng chiến tranh trong khi đó khoảng cách Seoul với biên giới Bắc Triều Tiên chỉ có 50km (trong tầm đạn pháo) – mặc dù không được (hoặc ít được) nói đến song có lẽ đây là lý do chính của chủ trương di chuyển.

Bất lợi về vị trí, dân số và phát triển thiên lệch: Hàn Quốc là một quốc gia không thuận lợi về tự nhiên; quốc gia này phần lớn diện tích là đồi núi, thành phố Seoul nằm trong lưu vực Sông Hàn (Han River) là một vùng thung lũng rộng lớn nhất (tuy diện tích cũng chỉ 605 km²). sự thiên lệch về vị trí; về dân số (thành phố trên 10.000.000 người; vùng đại đô thị khoảng 24.500.000 người) và phát triển (Seoul tạo ra 21% của GDP cả nước – 175/ 833 Tỷ USD (2009) –  mặc dù nhắc đến nhiều, tuy nhiên không phải lý do chính.

Bất lợi về cấu trúc đô thị quyền lực (thủ đô): Seoul là một thành phố lâu đời, trung tâm quyền lực của các triều đại phong kiến thường được đặt tại cung điện chính của nhà vua (Gyeongbokgung); Qua thời kỳ độc tài, nơi này vẫn là nơi ở và làm việc của Tổng thống Syngman Rhee; Sang thời kỳ dân chủ, Gyeongbokgung đã được đổi tên (Cheongwadae – ngày 30 tháng 12 năm 1960 được Tổng thống Yun sun – Po, người đã tuyên bố rằng tên cũ là một lời nhắc nhở của chế độ thực dân Nhật Bản và cai trị độc tài của Tổng thống Rhee) nhưng các trung tâm quyền lực khác của nhà nước (Quốc hội, Tòa án tối cao) do không có địa thế đã phải bố trí phân tán cách xa nhau 8 ~ 10km (như đã nêu ở phần “Sự phi lý Thứ ba”).

Bất lợi về vị thế của trung tâm quyền lực nhà nước: Với đặc điểm điển hình về lựa chọn vị thế của các trung tâm quyền lực thời Trung cổ, với địa thế tựa vào phía nam núi Bugaksan và vị trí ở vùng ngoại biên của đô thị (giáp núi) – Không biết có phải vì lý do này khiến cho bán đảo Triều Tiên luôn bị chia cắt, chiến tranh triền miên hay không? Nhưng có thể khẳng định rằng trong 18 quốc gia có nền kinh tế lớn thì Hàn Quốc là nước duy nhất có trụ sở chính phủ (phủ tổng thống) ở vào địa thế này; Sự bất lợi về phong thủy đã được nhắc tới khi Hàn Quốc tiến hành kế hoạch lựa chọn thủ đô mới (nguồn: http://www.koreaittimes.com và Korea Now).

Với các lý do dời đô (chính đáng) như vậy; quá trình chuẩn bị rất chu đáo, bài bản (đến nay đã 7 năm), hợp hiến, hợp luật; Hàn Quốc có thực lực kinh tế lớn hơn ta nhiều lần (832,5 so với 92, 4tỷ USD) vậy mà kế hoạch này vẫn thất bại. Cuối cùng, ở đâu cũng vậy, lịch sử và lòng dân vẫn mạnh hơn hết thảy.

Vậy, lý do gì để di chuyển Chính phủ (từ đây sẽ gọi là Trung tâm Chính trị) ra khỏi Hà Nội là gì?

Hà Nội, (chúng tôi nói về vùng đất lịch sử Ba Đình – Hoàn Kiếm – Hồ Tây) – Một “thành phố vì hòa bình” Hà nội của chúng ta  không (tại thời điểm dời chuyển thủ đô) là biểu tượng của thời kỳ chiếm hữu nô lệ như Philadelphia, không có bất ổn như Melbourne, không phải thủ phủ của chế độ độc tài, là một trong những thành phố bạo động nhất thế giới như Rio de Janeiro, cũng không phải thành lũy (cố thủ) của lãnh chúa trung cổ như Seoul, không có ý chí (duy ý chí) của giới quân sự cầm quyền như Myanma.

Hà nội, (hiện trạng) cũng có mật độ dân số (trong đô thị, các quận, thị xã: Hà nội khoảng 9.330/km2; so với Seoul 17.270/ km2; Tokyo 14.250/km2; Paris 20.780 /km2; London 8.980/km2; Bắc Kinh 7.400/km2; Delhi 28.440 / km2; Jakarta 12.740/km2 ; Buenos Aires 15.030; Moscow 9.720/ km2) thuộc nhóm trung bình (nguồn: http://en.wikipedia.org).

Đưa trung tâm ra ngoài Hà Nội với lý do đất chật người đông, vì thế,  không thuyết phục; Bởi lẽ, Trung tâm Chính trị không cần đất quá nhiều (chỉ cần >60ha là đủ); Có thể dẫn: London: khoảng 40ha (không bao gồm hoàng cung 80ha); Berlin: khoảng 60ha (không bao gồm công viên); Tokyo: khoảng 85ha (không bao gồm hoàng cung 190ha); Washington, D.C: khoảng 85ha (không bao gồm các không gian công cộng khác). Với bán kính <6km với Ba Đình hoàn toàn có thể lựa chọn các khu vực đắc địa để kết nối mở rộng. Tiếc thay, đồ án đã không nghiên cứu quy hoạch theo hướng này. Khu vực Ba Đình và phụ cận (Tây và Tây Nam Hồ Tây) vẫn còn có quỹ đất có thể mở rộng, hoàn chỉnh (khoảng 150 – 300ha); Trong khi đó, Hà Nội mở rộng đã tạo cơ hội cân bằng quỹ đất để bảo tồn và phát triển Trung tâm Chính trị Ba Đình.

Hà Nội, chưa giầu, càng không phải nguyên nhân làm mất cân đối vùng miền, ngược lại sức hút của “đất thánh Hà thành” là hạt nhân, làm động lực cho phát triển vùng và cả nước.

Hà Nội, cũng không có vấn đề về an ninh quốc phòng như Seoul (vùng chiến sự), Melbourne; Rio de Janeiro (thành phố cảng); Hà Nội luôn là nơi Việt Nam có những chiến thắng quyết định trong các cuộc chiến tranh vệ quốc.

Hà Nội, với Nhà Quốc hội đang được xây dựng mới (để xây dựng được, chúng ta đã phải dỡ bỏ Hội trường Ba Đình – nơi đã ghi nhận rất nhiều sự kiện lịch sử trong thế kỷ 20) là sự khẳng định khu vực Ba Đình là Trung tâm Chính trị, nơi thiêng liêng, biểu tượng cho sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của toàn dân tộc Việt Nam. Đất nước mới thống nhất được 35 năm, vận nước đang lên, không có lý gì chuyển đổi (để từ xấu thành tốt) mà ngược lại, việc chuyển đổi có thể chuyển tốt thành xấu.

Đồ án đã không chứng minh và không thể chứng minh được lý do phải chuyển dời Trung tâm Chính trị ra khỏi Ba Đình (vào năm 2050). Hà Nội không có luận cứ cho việc phân rã, chuyển dời thủ đô (dù chỉ là trong ý nghĩ). Chỉ có thể hoàn thiện và mở rộng.

Đây là sự phi lý  về Lý do dời đi.

Trong số các thành phố thủ đô 1000 năm tuổi của thế giới (khoảng 29) chỉ duy nhất 2 quốc gia (có kế hoạch) từ bỏ vùng đất lịch sử để lập thủ đô mới. Đó là Hàn Quốc (với Seoul và Sejong). Myanma (với Yangon và Naypyidaw). Một (Myanma) chưa rõ có thành công hay không. Một (Hàn Quốc) đã thất bại.

Phi lý Thứ bảy:

Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội với mong muốn có được một Trung tâm Chính trị – Hành chính quốc gia xứng tầm, tương xứng, là nguyện vọng chính đáng không riêng những người có trách nhiệm thực hiện mà là nguyện vọng chung của toàn dân; Tuy nhiên, giải quyết nhiệm vụ này như thế nào là một chuyện khác.

Việc đồ án đề xuất lựa chọn: “Trung tâm Hành chính quốc gia: sẽ dành khu đất dự trữ ở Ba Vì. Tại đây sẽ xây dựng các cơ quan của Chính phủ, các Bộ ngành. Dự kiến sẽ xây dựng sau 2050…”

Xét riêng về địa điểm, đây là lựa chọn sai lầm, vì:

1. Ba Vì cách quá xa trung tâm Chính trị Ba Đình (không thể hợp lý trong việc tổ chức không gian và thời gian với khoảng cách 30 ~ 40 km (50 ~ 60km thực tế) giữa các trung tâm quyền lực nhà nước sẽ không thể tổ chức hợp lý các quan hệ lãnh đạo, điều hành đất nước, đối nội và đối ngoại, thời chiến và thời bình). Lãng phí trên mọi phương diện. Trên thế giới, (ngoại trừ các nước có Thủ đô phân quyền) không quốc gia phát triển nào có cách bố trí này.

2. Vị trí lựa chọn ở khu vực đô thị ngoại biên thành phố (lệch tâm), việc giải quyết mối liên hệ (không truyền thống) sẽ gặp nhiều bất lợi về nhiều phương diện, không chỉ khi kết nối giao thông tối ưu cho các hoạt động cục bộ và toàn thể; (khảo sát 18 quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế lớn G20 cho thấy 17/18 có các trung tâm quyền lực nhà nước bố trí tại một khu vực trung tâm (giữa) thành phố; Riêng Hàn Quốc có phủ Tổng thống bố trí lệch tâm (cũng áp chân núi – xem Sự phi lý Thứ tư và Thứ sáu) – đây là một hạn chế, không phải ưu việt.

3. Về  an ninh quốc phòng: Núi Ba Vì là một khu vực linh thiêng (nhưng đơn độc), tiến thoái lưỡng nan (thế phòng thủ bị động – không phù hợp với chiến tranh hiện đại), dễ bị cô lập, chia cắt, không có khả năng ứng biến (với khoảng cách quá xa Trung tâm Chính trị Ba Đình sẽ rất hạn chế trong phối hợp lãnh đạo đất nước trong tình trạng khẩn cấp), vì vậy, hoàn toàn bất lợi khi đặt Chính phủ ở đây.

4. Sai lầm về địa thế: vùng chân Núi Ba Vì với địa hình bán sơn địa, địa thế “tiền án, hậu trẩm” chỉ có thể phù hợp với việc đặt đền đài, lăng tẩm, nơi thờ cúng (có thể tham khảo các bài viết “Hậu thế hiểu sai Chiếu dời đô nên định đô sai?” và “Đọc lại “Chiếu dời đô” để thấy tầm nhìn quy hoạch của ông cha“); Chọn nơi đặt Chính phủ và các cơ quan trung ương (tức thủ đô – dù chỉ là dự kiến) phải chọn nơi “chính”, “giữa”, “tụ hội quan yếu của bốn phương” (quy tụ với nghĩa đen và nghĩa bóng – về giao thông và lòng người), địa thế rộng lớn, có khả năng phát triển lâu dài. Khu vực đồ án đề xuất thuộc thế “cùng”, đường “cụt”. Vị thế này thường dùng chọn cho các đô thành thời trung cổ của các lãnh chúa phong kiến (ở nước ta có Nhà Hồ, Nhà Mạc cũng ở thời này) – Chúng ta cũng đều biết vì sao thời trung cổ còn được ví như “đêm dài” trong lịch sử loài người.

Đây là sự phi lý về Lý do chuyển đến.

Phi lý Thứ tám:

Về trung tâm hành chính mới, quy hoạch chỉ đặt vấn đề có quỹ đất dự phòng” Người đại diện cho Bộ Xây dựng phát biểu (nguồn: http://hanoi.org.vn/planning/archives/394 ). Trái ngược với các tuyên bố trước đó của đại diện khác cũng của Bộ Xây dựng: “Trung tâm hành chính quốc gia sẽ về chân núi Ba Vì” (nguồn: http://dantri.com.vn/c20/s20-382199/trung-tam-hanh-chinh-quoc-gia-se-ve-chan-nui-ba-vi.htm). đồng thời trái ngược với nội dung đồ án đã được trưng bày xin ký kiến nhân dân.

Và “Cần có trục Thăng Long trong quy hoạch Hà Nội” (nguồn: http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/04/3BA1B1FE/ – một sự khẳng định của đại diện Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo quy hoạch vùng thủ đô. Và “Chưa quyết địa điểm xây Trung tâm hành chính quốc gia”; “nhưng định hướng là theo vị trí kết thúc của trục Thăng Long, qua hồ Đồng Mô, dưới chân núi Ba Vì” (nguồn: http://vietnamnet.vn/chinhtri/201004/Chua-quyet-dia-diem-xay-Trung-tam-hanh-chinh-quoc-gia-905539/)

Đồ án  đã  gây lãng phí lớn, khi chỉ vì điều này (khu đất dự phòng) đã phải mở một trục “Thăng Long” – hệ quả của ý tưởng Trung tâm Hành chính quốc gia cách xa 30 – 40km với chi phí phải cần tới trên 10.000 tỷ đồng (trong khi phân bổ ngân sách trung ương năm 2010 chi cho Chương trình biển Đông, hải đảo, cảnh sát biển chỉ có 1.708 tỷ đồng – nguồn: Tủi cho kinh tế biển); Nếu việc lựa chọn vị trí này (Chính phủ – Trung tâm Hành chính quốc gia) sai lầm thì toàn bộ cấu trúc đô thị sẽ bị phá vỡ và con đường này sẽ không còn có ý nghĩa; Ai sẽ chịu trách nhiệm về sự lãng phí này?

Nam Phi có Thủ đô Lập pháp, Thủ đô Hành pháp, các cơ quan đầu não ở các đô thị khác nhau”;  Với lời giải thích này khiến chúng ta có thể hiểu đến năm 2050 Việt Nam cũng sẽ có Thủ đô Hành pháp  như họ; nguồn: http://www.vtc.vn/2-247249/xa-hoi/

Tổng hợp lại, thấy các ý tưởng đề xuất rất mơ hồ, thiếu luận cứ, trong khi đây là nội dung quan trọng nhất; Sự không nhất quán trong phương pháp luận thể hiện nội dung đồ án chưa được nghiên cứu đầy đủ và thực chất.

Cần phải thẳng thắn rằng đồ án quy hoạch Thủ đô Hà Nội dường như đã lấy Malaysia và Nam Phi làm hình mẫu; Khi  đưa ra lời giải thích  như trên chắc vị đại diện này quên Nam Phi có  chế độ (phân biệt chủng tộc) Apartheid đã “sáng tạo” nên 1 quốc gia có 3 thủ đô độc nhất vô nhị trên thế giới (Thủ đô Lập pháp: Cape Town; Thủ đô Tư pháp: Bloemfontein; Thủ đô Hành pháp: Pretoria); và Malaysia đã tạo ra một Thủ đô Hành pháp Putrajaya là sản phẩm “với những mưu toan của chính phủ thời thủ tướng Mahathir“; Có gì chung với Việt Nam không?

“Qui hoạch là ý chí của quyền lực” nhưng nên là ý chí của quyền lực trí tuệ, quyền lực cầu thị, của quyền lực quên mình, đưa lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.

Đây là sự phi lý về Năng lực quyền hạn.

Phi lý Thứ chín:

Sai lầm về khái niệm đã dẫn đến sai lầm về mô hình nhà nước; sai lầm về mô hình nhà nước đã dẫn đến sai lầm về cấu trúc đô thị; sai lầm về cấu trúc đô thị đã dẫn đến sai lầm trong giải pháp lựa chọn địa điểm và tổ chức không gian.

Sai lầm về tư duy (do trình độ) sẽ ảnh hưởng đến phương pháp và thái độ làm việc; Sự ngộ nhận về năng lực, quyền hạn sẽ biến việc lớn thành việc nhỏ, dẫn đến vai trò chính phụ bị đảo lộn.

Việc hệ trọng như kế hoạch dời đô (nếu Quốc hội đồng tình, đồng ý với đồ án Quy hoạch Hà Nội, tức chấp thuận với kế hoạch di chuyển Chính phủ – đồng nghĩa với dời đô vào năm 2050) song cách thức tiến hành rất xem nhẹ (Chưa nghiên cứu thấu đáo đã khẳng định ý đồ; Không qua trưng cầu dân ý; Không thông qua Quốc hội; Không có luận cứ về sự cần thiết phải dịch chuyển Trung tâm Chính trị – Hành chính quốc gia ra ngoài vùng đất lịch sử. Không có luận cứ cho thấy sự đúng dắn của địa điểm được lựa chọn).

“Trung tâm Hành chính quốc gia: sẽ dành khu đất dự trữ ở Ba Vì. Tại đây sẽ xây dựng các cơ quan của Chính phủ, các Bộ ngành. Dự kiến sẽ sây dựng sau 2050…” hay “Đề xuất một quỹ đất dự phòng cho Trung tâm Hành chính quốc gia” đều là những nội dung rất khó hiểu và nửa vời.

Khó hiểu – Vì sự phi lý về Khái niệm thể chế; về Mô hình nhà nước; về Cấu trúc trung tâm; về Ý thức nghiêm cẩn; về Nhận thức giá trị; về Lý do dời đi; về Lý do chuyển đến; về Năng lực quyền hạn. Khó hiểu hơn nữa: với các ý tưởng đề xuất tản mạn, manh mún, mờ nhạt và lửng lơ, không khẳng định được một Trung tâm Chính trị xứng tầm, ổn định và bền vững; Không trả lời được câu hỏi: Chúng ta đang quy hoạch một Đô thị thủ đô (lấy Trung tâm Chính trị – Hành chính quốc gia làm hạt nhân chủ đạo) hay chỉ tổ chức quy hoạch một Hệ thống quần cư đô thị và thêm vào đó các Trung tâm Hành chính (hoặc Chính trị) quốc gia?

Nửa vời – Vì theo nội dung của đồ án, từ 20 – 40 năm tới sẽ không có một khu vực nào được lựa chọn để quy hoạch tập trung, hoàn chỉnh, ổn định; Tất cả đều “ăn nhờ, ở đậu” ngóng về thời điểm (Năm 2050 – năm mà sự “Phi lý thứ hai” và “Phi lý thứ ba” xuất hiện) cùng lúc sẽ có 3 Trung tâm Chính trị – Hành chính quốc gia với “hiện tượng giao thông con lắc của thời đại chúng ta khi giải quyết các thủ tục hành chính”(Quy hoạch đô thị: Những khái niệm bị lật nhào) và đánh giấu một sự kiện còn khó hiểu hơn: chúng ta sẽ có Thủ đô phân quyền với một Chính phủ “ra ở riêng” ở Chân Núi Ba Vì.

Quả thực, đây là những ý tưởng khó hiểu, nửa vời, đồng nghĩa với việc tạo tâm lý bất an, tạm bợ, gây bất ổn về lâu dài (hệ lụy nhãn tiền mà chúng ta có thể thấy ngay được tại khu vực Ba Vì hiện nay). Trước mắt, tạo nguy cơ tước đi (vĩnh viễn) cơ hội mở rộng, hoàn thiện một Trung tâm Chính trị xứng tầm và ổn định ngay tại khu vực Ba Đình và phụ cận.

Trong khi, với điều kiện hiện nay, hoàn toàn có thể quy hoạch một Thủ đô Hà Nội (mới) – “một thủ đô vĩnh viễn” giữa vùng đất lịch sử, thiêng liêng mà không phải là phương án di dời, chắp vá như đề xuất của đồ án. Nếu có khó khăn, có lẽ, do năng lực hạn chế của những người tổ chức, tham gia thực hiện.

Đây là sự phi lý Không thể gọi tên; bởi, Nửa vời, bản thân đã là Phi lý.

“Đây là một ý tưởng nửa vời, đồng nghĩa với việc tạo tâm lý bất an, tạm bợ, gây mất ổn định về lâu dài. Trước mắt, tạo nguy cơ tước đi (vĩnh viễn) cơ hội mở rộng, hoàn thiện một trung tâm chính trị xứng tầm và ổn định ngay tại khu vực Ba Đình và phụ cận”.

Các câu hỏi đặt ra:

1. Chúng ta đã dỡ bỏ đi Hội trường Ba Đình – địa điểm lịch sử của thời đại Hồ Chí Minh để xây dựng Nhà Quốc hội (mới) – Thể hiện ý chí toàn Đảng, toàn dân coi Ba Đình là Trung tâm Chính trị vĩnh viễn; Vậy tại sao không quy hoạch hoàn chỉnh khu vực này và phụ cận trở thành Trung tâm Chính trị – Hành chính quốc gia đàng hoàng, tập trung, tương xứng với tầm vóc của một nước Việt Nam (mới) tại vùng đất lịch sử, ngay trong lòng thủ đô ngàn năm tuổi (thịnh vượng bền vững như Roma, London, Paris, Bắc Kinh và Delhi) “đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời“?

2. Các mô hình phát triển, cấu trúc đô thị của Thủ đô Hà Nội sẽ như thế nào để có thể phát triển bền vững và có khả năng cạnh tranh (thực sự) trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương? Yếu tố nào là chủ đạo?

3. Còn những tồn tại cốt lõi khác của đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 là gì? Nguyên nhân?

4. Quy hoạch tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng; Những đồ án quan trọng như Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, trong đó, với nội dung lựa chọn địa điểm cho Trung tâm Chính trị, có ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước; Diện tích đất phải chuyển đổi mục đích sử dụng hàng trăm, hàng chục ngàn ha; gây xáo trộn, tác động đời sống hàng triệu người; số tiền phải chi phí rất lớn (từ 1 ~ 3 lần GDP của quốc gia); Tại sao Quốc hội  (đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân) lại có vai trò cho ý kiến “chỉ để tham khảo“?

5. Có thể có một Nghị quyết của Quốc hội về các đồ án quy hoạch quan trọng quốc gia (dành cho quy hoạch vùng, quy hoạch thủ đô, quy hoạch sử dụng đất quốc gia v.v – tương tự như Nghị quyết 66/2006/QH11 Về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư) được không? Bởi vì, khi các đồ án quy hoạch đã được phê duyệt, các dự án thành phần (dù lớn đến mấy, đương nhiên là hệ quả của quy hoạch) nếu có trình (việc đã rồi), thì Quốc hội có lẽ chỉ còn có quyền góp ý, và đồng ý – không lẽ còn cách khác?

Advertisements

May 14, 2010

Hà Nội lên cơn sốt đất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:53 pm
Tags: ,

Hơn một tháng trở lại đây, đất tăng giá chóng mặt ở nhiều khu vực, tâm điểm là dọc đường Láng Hòa Lạc, huyện Gia Lâm và quận Tây Hồ với mức tăng nóng 35-40%.

Cùng với giá cả tăng chóng mặt, lượng giao dịch cũng lên 25-30% so với tháng trước. Tại dự án Geleximco khu C, D trên đường Lê Trọng Tấn, trong vòng hơn một tháng đã tăng từ 43 triệu lên 65 triệu mỗi m2 ở vị trí mặt đường to. Liền kề mặt đường nhỏ cũng tăng từ 4-6 triệu. Đất nền Kim Chung Di Trạch sau một thời gian đứng giá lại tăng từ 26 đến khoảng 30 triệu đồng mỗi m2. Giá đất nền biệt thự Dương Nội cũng lên tới 42 triệu, tăng 2-3 triệu mỗi m2 tùy vị trí.

Khu vực Gia Lâm ở phía Đông Hà Nội cũng tăng giá vù vù, tiêu biểu như khu Đặng Xá từ 18 triệu lên tới 25 triệu mỗi m2. Không chịu thua kém, khu đô thị Ciputra ở mạn Tây Hồ từ 80 triệu tăng giá lên 110 triệu đồng, biệt thự Vườn Đào từ 80-90 triệu đồng vọt lên 110-140 triệu đồng mỗi m2 tùy vị trí.

Ảnh
Thị trường địa ốc bị tác động mạnh nhất kể từ khi có triển lãm quy hoạch “Mô hình đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050”. Ảnh: Hoàng Hà.

Đất thổ cư, vốn được coi là khá bình ổn trước sự lên xuống thất thường của địa ốc giờ cũng tăng chóng mặt. Sức tăng tốc độ cao nhất phải kể đến khu vực quận Tây Hồ. Đầu năm nay, một mảnh đất thổ cư có diện tích 108 m2 trên mặt đường An Dương Vương, có giá 40 triệu đồng mỗi m2 thì hiện nay đã được chào tới 80 triệu, khu vực gần đường Thanh Niên cũng được rao bán giá 73 triệu mỗi m2, đất Tứ Liên dao động quanh mức 85-105 triệu đồng. Còn đất mặt phố Lạc Long Quân, gần chợ Bưởi đạt kỷ lục 215 triệu đồng.

Đất thổ cư thuộc các xã Kim Sơn, Phú Thị, Cổ Bi thuộc huyện Gia Lâm cũng lên từ 13-16 triệu đồng. Khu Bát Tràng, Đông Dư gần đô thị sinh thái Ecopark cũng lên tới 20 triệu. Trong khi trước đó, những khu đất được coi là “vùng sỏi đá” này chỉ này được chào bán với giá dưới 10 triệu đồng.

Theo ông Nguyễn Thế Cường, đại diện Văn phòng tư vấn nhà đất Long Biên, chính các dự án mới như khu đô thị sinh thái Ecopark cũng như thông tin về công viên Gia Lâm sắp được triển khai làm thay đổi diện mạo vùng đất này. “Thêm vào đó, các khu vực này lại có vị trí giao thông thuận lợi, cách cầu Thanh Trì khoảng 800 m, giáp đường lớn 5B nên giá lại càng tăng”, ông Cường nói.

Tại khu vực Ba Vì, Tiến Xuân, Đông Xuân, Yên Bình cũng tăng gấp 2, 3 lần. Anh Nguyễn Phong, một khách hàng mua đất ở khu vực Tiến Xuân (huyện Thạch Thất) hồi đầu Tết với giá 700.000 đồng một m2 đến nay đã có khách trả đến gần 2 triệu. “Hồi đầu năm tôi mua một sào mất hơn 200 triệu thế mà nay đã có người trả đến 720 triệu đồng. Giá đất sẽ còn lên nên tôi chưa có ý định bán”, anh Phong cho biết.

Theo anh Tuấn Anh, nhân viên thuộc Công ty cổ phần bất động sản Hà Nội mới, thị trường bị tác động mạnh nhất kể từ khi có triển lãm quy hoạch “Mô hình đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050”. Triển lãm công bố 5 đô thị vệ tinh của Hà Nội và trục Thăng Long bắt đầu từ đường Hoàng Quốc Việt tới chân núi Ba Vì thuộc địa phận Hà Tây khiến khu vực này tăng giá đến chóng mặt.

Giám đốc Công ty cổ phần Bất Động Sản B.D.S Lê Xuân Trường cho biết, cơ sở hạ tầng đang được gấp rút hoàn thiện, tiềm năng của các dự án này ngày một hiện rõ đã khiến cho khu vực phía Tây càng hút khách. Cụ thể như đường Lê Văn Lương kéo dài đã hoàn thành được khoảng 70%, đường Lê Trọng Tấn đang chờ ngày thông xe. Đặc biệt, lãi suất ngân hàng hiện nay đã bớt căng và có xu hướng giảm nữa trong thời gian tới khiến nguồn vốn cho thị trường bất động sản dồi dào hơn. Giá đất nền cùng lượng giao dịch ở nhiều khu vực tăng mạnh mẽ thu hút đông đảo nhà đầu tư tham gia “lướt sóng” khiến đất các khu vực này lại càng tăng chóng mặt.

Cũng theo ông Trường, đất nền dự án sốt kéo theo đó là đất thổ cư cũng tăng gia theo. “Đất tăng nhanh là do tâm lý đón đầu trong đầu tư. Hiện nay rất nhiều người tin rằng, giá đất sẽ còn tiếp tục tăng trong vòng khoảng một năm tới nên đua nhau đi mua dẫn đến người bán cũng đua nhau tăng giá”, ông Trường nhấn mạnh.

Các chuyên gia cho rằng, chính tình hình kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng mạnh đến thị trường địa ốc Hà Nội. Nghiên cứu của Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình dương của Liên Hợp Quốc chỉ ra rằng, một trong những khó khăn cấp bách nhất cho nền kinh tế Việt Nam là áp lực lạm phát ngày càng tăng, tổ chức này dự báo năm nay, lạm phát có thể lên tới 10,3%. Theo ông Phạm Thanh Hưng, Tổng Giám đốc Công ty Thẩm định giá Thế kỷ, lạm phát càng tăng, đồng tiền càng mất giá càng khiến nhà đầu tư đổ xô vào mua bất động sản.

Ông Hưng bổ sung, giá vàng trong nước lên khiến bất động sản lên theo. Khi buôn bán bất động sản, nhiều nhà đầu tư có tâm lý quy ra vàng. Giá trị quy ra vàng không thay đổi nhưng theo tâm lý vàng lên khiến đất cũng lên theo. Cũng theo ông Hưng dự đoán, giá đất Hà Nội sẽ còn tăng đến hết tháng 10 năm nay bởi mốc Hà Nội đón chào 1.000 năm Thăng Long. “Hàng loạt dự án đang được gấp rút hoàn thành càng tạo ra nhiều sự lựa chọn cho các khách hàng hơn. Theo tâm lý, người mua cũng muốn mua nhà vào thời điểm này khiến thị trường bất động sản càng sôi động”, ông Hưng nói.

Theo ông Đặng Hùng Võ, cố vấn cấp cao của Bộ Tài nguyên Môi trường, thị trường Hà Nội có chiều hướng sôi động trong tháng qua là do một bộ phận người dân Hà Nội có tiền nhàn rỗi đổ đi đầu tư bất động khi tình hình kinh tế vĩ mô dần ổn định. Tuy nhiên với sức tăng quá nóng như hiện nay, theo ông Võ, người mua cần phải hết sức thận trọng. Bởi thực tế, đất Hà Nội mới chỉ sốt cục bộ ở một số khu vực như Hà Tây, Tây Hồ, Gia Lâm và chưa thực sự ổn định.

Với sức tăng mạnh như hiện nay, theo ông Võ, cũng không tránh khỏi yếu tố tăng ảo do nhiều nhà kinh doanh thổi giá lên. Người dân không nắm được thông tin đổ xô đi mua lại càng làm giá đất tăng bất thường. “Ngoài một bộ phận khách hàng có nhu cầu thực, cũng không tránh khỏi hiện tượng làm giá do nhiều nhà đầu tư lướt sóng, tìm cách làm khan hàng thổi giá lên cao quá mức bình thường như hiện nay”, ông Võ nhận định.

April 9, 2010

Bất động sản Hà Nội: Rất khó dự đoán!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:13 pm
Tags: ,

Một vài phân khúc thị trường bất động sản Hà Nội hiện nay trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu, rất khó dự đoán

Văn phòng cho thuê trên đà giảm giá, dư cung trong ngắn hạn nhưng lại có thể thiếu về dài hạn do quy mô quá nhỏ so. Dự án căn hộ nhiều nhưng phần lớn đã “sang tay” hết dưới hình thức góp vốn trước khi được chào bán chính thức.

Chính vì lẽ đó mà ông Trần Như Trung, Giám đốc bộ phận nghiên cứu của Savills Việt Nam nhận xét rằng một vài phân khúc thị trường bất động sản Hà Nội hiện nay trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu, rất khó dự đoán.

Đánh giá thị trường bất động sản quý 1/2010, công ty nghiên cứu thị trường bất động sản Savills Việt Nam cũng nhận định thị trường bắt đầu có sự thay đổi, và trong tương lai sẽ hút thêm một lượng nhà đầu tư, những người phải tìm kiếm kênh đầu tư mới sau khi các sàn vàng đóng cửa trước thời hạn 31/3/2010 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Văn phòng cho thuê: Hạng C tốt nhất

Công ty nghiên cứu thị trường bất động sản Savills Việt Nam cho biết quý 1/2010 có khoảng 610.000 m2 diện tích văn phòng, tăng nhẹ 3,5% so với quý 4/2009, bao gồm 86 văn phòng các hạng A, B, C phân bố trên 10 quận của thành phố. Hai tòa nhà văn phòng mới là Hà Nội Tourism Tower (Quận Hoàn Kiếm) và Sky City Tower (Quận Đống Đa) đã bổ sung thêm khoảng 17.600m2 diện tích văn phòng vào tổng cung.

Công suất thuê trung bình của thị trường văn phòng trong quý này đạt mức 85%, tăng nhẹ khoảng 2% so với quý trước. Công suất thuê của văn phòng hạng B và C quý này cũng lạc quan hơn so với quý 4/2009. Trong khi đó, giá thuê văn phòng trên tất cả các hạng vẫn tiếp tục xu hướng giảm, thấp hơn 3,6% so với quý 4/2009, đạt khoảng 27 USD/m2/tháng.

Quy mô văn phòng hạng A được thuê trong quý này tăng hầu như không đáng kể. Văn phòng hạng C vẫn tiếp tục đạt kết quả tốt nhất. Trước những tác động ban đầu của quy định cấm sử dụng chung cư vào mục đích cho thuê văn phòng hoặc kinh doanh thương mại, văn phòng hạng C được dự đoán sẽ có nhiều chuyển biến tích cực hơn nữa trong các quý tiếp theo.

Trong 4 năm tới, khoảng 1,9 triệu mét vuông văn phòng từ 120 dự án dự kiến sẽ có mặt trên thị trường, dẫn đến tình trạng dư thừa nguồn cung. Ước tính khu vực quận trung tâm thành phố chỉ chiếm khoảng 5% lượng cung mới này.

Tuy nhiên, với tình trạng chậm tiến độ và trì hoãn vốn rất phổ biến ở Việt Nam, nhiều khả năng những dự án này sẽ đi vào thị trường muộn hơn dự kiến.

Giá thuê dự báo sẽ tiếp tục xu hướng giảm, tuy nhiên, sẽ có thể phục hồi trong vòng 12 đến 16 tháng. Vào thời điểm này, dự tính nhiều khách thuê sẽ linh hoạt tìm địa điểm thuê mới tại các khu vực ngoài trung tâm khi nguồn cung trong khu vực trung tâm thành phố được phủ kín. Do vậy, thị trường văn phòng kỳ vọng sẽ hồi phục và đạt mức tăng trưởng ổn định trong khoảng từ cuối 2010 cho đến nửa đầu 2011.

Căn hộ để bán: Giá thứ cấp tăng

Savills Việt Nam cũng cho biết, tại thị trường thứ cấp, Hoàng Mai là quận duy nhất có giá chào thứ cấp bình quân giảm nhẹ trong quý 1/2010. Giá chào thứ cấp ở 10 quận, huyện khác đều tăng từ 2% đến 12% so với quý trước.

Thị trường sơ cấp quý 1 có tổng cung là 1.816 căn hộ từ 15 dự án đang bán. Quận Cầu Giấy chiếm thị phần cao nhất (36%) trong nguồn cung sơ cấp, tiếp theo là quận Hoàng Mai với gần 22% và Từ Liêm 18%.

Toàn thị trường sơ cấp có số lượng giao dịch thành công thấp hơn so với quý trước. Khoảng 1.200 căn hộ đã được bán trong quý 1/2010, chiếm 2/3 nguồn cung sơ cấp. Trong quý trước, số lượng căn hộ đã bán được là khoảng 1.460 căn.

Thị trường tại các quận Gia Lâm, Thanh Xuân và Đống Đa hoạt động tốt với 100% nguồn cung đã được bán trong quý 1/2010. Phần lớn số căn hộ tại những dự án bắt đầu bán chính thức trong quý này ở các quận Gia Lâm và Thanh Xuân đã được bán theo hình thức hợp đồng góp vốn trước khi được chào bán chính thức.

Công ty Savills đánh giá, nhu cầu về nhà ở hiện vẫn cao. Hà Nội có diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp nhất cả nước (7 – 7,5 m2/người), so với diện tích nhà ở bình quân đầu người cả nước là 18,6 m2/người.

Hơn nữa, nhu cầu nhà ở còn được thúc đẩy bởi các yếu tố như phong cách sống đang thay đổi, dân số và tốc độ đô thị hóa cũng như thu thập bình quân đầu người tăng và cấu trúc gia đình thay đổi. Hà Nội đang mở rộng về phía tây có thể thu hút nguồn cầu căn hộ về khu vực này của thành phố.

Dự đoán, thị trường sơ cấp trong quý 2/2010 có thể nhận thêm một nguồn cung mới khoảng 1.990 căn hộ từ 7 dự án. Cuối 2010 có thể có nguồn cung mới gần 2.000 căn từ 9 dự án. Ngoài ra, ước tính sẽ có ít nhất khoảng 10.900 căn hộ sẽ được tung vào thị trường vào năm 2011. Bên cạnh đó, một lượng cung chưa xác định từ các khu đô thị mới cũng sẽ gia nhập thị trường trong tương lai.

Căn hộ dịch vụ: Giá thuê giảm

Tổng nguồn cung trên thị trường căn hộ dịch vụ trong quý 1/2010 không thay đổi so với quý trước. Hiện 41 tòa nhà căn hộ dịch vụ thuộc phạm vi nghiên cứu cung cấp cho thị trường khoảng 222.000m2, tương ứng với hơn 2.209 căn hộ. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái thì tổng cung của quý này đã tăng 7%, tương đương với hơn 100 căn hộ dịch vụ.

Thị trường căn hộ dịch vụ Hà Nội có diện tích dao động từ khoảng 40m2 tới 750m2, với các loại từ 2 tới 6 phòng ngủ và căn hộ áp mái. Hoạt động của thị trường căn hộ dịch vụ trong quý 1/2010 khá ổn định so với các phân khúc thị trường khác. Công suất thuê bình quân tăng nhẹ 1% so với quý trước. Tuy nhiên, giá thuê bình quân giảm 0,3 USD/m2/tháng so với giá thuê tại thời điểm quý 4/2009.

Tổng số căn hộ khách thuê trong quý này cao hơn khoảng 4 căn so với quý 4/2009. Do vậy, công suất thuê trong quý 1/2010 chỉ tăng nhẹ. Chủ của hầu hết các căn hộ dịch vụ đưa ra mức giá thuê thấp hơn.

Khách thuê căn hộ dịch vụ chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài. Do vậy, có thể thấy nguồn cầu của phân khúc thị trường căn hộ dịch vụ phần lớn đến từ các đại sứ quán, các tổ chức phi chính phủ và các công ty nước ngoài.

Năm 2010 được đánh dấu là mốc quan trọng trong lĩnh vực thương mại với một loạt các Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Úc-New Zealand ký kết và có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Những sự kiện này có thể làm gia tăng số lượng các công ty nước ngoài vào Việt Nam. Theo đó, cầu về căn hộ dịch vụ có thể sẽ tăng và tạo ra những chuyển biến tích cực đối với phân khúc thị trường căn hộ dịch vụ.

Nguồn cung mới ước tính khoảng 2.300 căn hộ trong 4 năm tới, trong đó 47% thuộc huyện Từ Liêm. Dự kiến nguồn cung mới đưa vào thị trường gồm khoảng 60 căn hộ từ một dự án ở quận Tây Hồ và 84 căn hộ từ dự án Crown Plaza thuộc huyện Từ Liêm trong quý 3/2010 và quý 4/2010.

April 4, 2010

Đất nền Hà Nội tăng giá, chung cư chững lại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:26 pm
Tags: ,

Trong khi các giao dịch chung cư tại Hà Nội tháng 3 chững lại, thậm chí một số nơi giá chênh trên thị trường giảm từ 500.000 đến một triệu đồng mỗi m2 thì đất nền các dự án phía Tây lại tăng giá chóng mặt.

Khảo sát của VnExpress.net tại một số sàn bất động sản cho thấy, đất nền dự án có lượng giao dịch tăng vọt gấp 2 đến 3 lần. Theo ông Ngô Thế Vinh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc sàn giao dịch Bất động sản Vinh Gia, trong tháng 3 vừa qua, giá một số lô đất nền tăng đột biến. Những lô có diện tích 60-100 m2 ở khu vực phía Tây được nhiều khách hàng quan tâm. Theo thống kê từ Công ty cổ phần Bất động sản B.D.S, lượng giao dịch các lô đất nền biệt thự, liền kề ở Hà Đông, An Khánh tăng tầm 30% – 50% tùy dự án.

Tiêu biểu phải kể đến đất liền kề Xa La cách đây một tuần, giá mới chỉ dừng lại ở mức 32 triệu đồng mỗi m2 đến nay đã lên tới 39 triệu. Đất nền dự án Gleximco từ 27 triệu lên tới trên 30 triệu đồng một m2. Dự án Bắc An Khánh vẫn tiếp tục làm mưa làm gió trên thị trường với giá 2,5-3 tỷ đồng một căn tùy diện tích, tăng 1,3 tỷ so với thời điểm trước Tết. Biệt thự Nam An Khánh trước Tết giao dịch chỉ dừng lại ở mức 21-22 triệu đồng một m2 đến nay cũng tăng thêm 3-4 triệu mỗi m2. Đất liền kề Dương Nội hồi cuối tháng 3 giá ở mức 28 triệu đồng chỉ trong vòng hơn một tuần đã lên tới 30 triệu đồng mỗi m2. Dự án Vân Canh cũng giao dịch trên thị trường với mức 26-38 triệu đồng mỗi m2 tùy vị trí.

Đáng lưu ý phải kể đến dự án Thanh Hà Cienco 5 gây sốc trên thị trường với mức tăng nóng. Mỗi m2 đất nền nơi đây đã lên tới 23 triệu đồng, tăng đến 5 triệu đồng trong vòng nửa tháng. Theo dân kinh doanh bất động sản, khu vực Thanh Hà Cienco 5 đang chịu sốt ảo với mức tăng chóng mặt do nhiều người mua đi bán lại đẩy giá tăng vọt.

Những lô đất nền có diện tích 60-100 m2 ở khu vức phía Tây được nhiều khách hàng quan tâm. Ảnh: Hoàng Hà.

Ngược lại so với đất nền dự án, lượng giao dịch chung cư đã giảm khoảng 25-30% so với thời điểm trước Tết. Theo chị Nguyễn Thanh Nga, chuyên viên tư vấn sàn bất động sản VNI, các chung cư “đại gia” với mức giá khoảng 2.000 USD mỗi m2 rất ít giao dịch. Chỉ những chung cư bình dân có giá dao động 10-12 triệu đồng vẫn túc tắc có người hỏi mua. Một số chung cư thuộc khu vực Hà Đông đều đứng giá, số khác chênh trên thị trường giảm 500.000 đồng đến một triệu đồng mỗi m2. Tiêu biểu như giá chung cư La Fontana mặc dù có vị trí khá đắc địa, cách BigC chỉ 3 km, nhưng giá chênh trên thị trường vẫn giữ nguyên, khoảng 70-80 triệu đồng mỗi căn từ hồi trước Tết. Chung cư Văn Khê và An Hưng mức chênh trên thị trường đều giảm khoảng 500.000 đồng đến một triệu đồng mỗi m2.

Trong khi phân khúc chung cư đang chững lại, động thái chuẩn bị tung khoảng 400 căn hộ CT7 – Lê Văn Lương Residential, với mức giá từ 14 triệu đồng mỗi m2 trở lên, vào ngày 10/4 tới của tập đoàn Nam Cường được coi là một hành động khá mạo hiểm. Tuy nhiên, phía Nam Cường cho rằng, 70% các căn hộ có diện tích trung bình 60-70 m2 với giá trên dưới một tỷ đồng sẽ lại hâm nóng thị trường trong thời gian tới.

Giới kinh doanh địa ốc nhận định, chung cư có chững lại nhưng mức tăng giá của đất nền có thể coi là bước khởi đầu tốt đẹp của thị trường bất động sản tại thời điểm đầu năm. Theo ông Lê Xuân Trường, Giám đốc Công ty cổ phần bất động sản B.D.S, sở dĩ có diễn biến trái chiều giữa hai phân khúc chung cư và đất nền dự án là do tâm lý của khách hàng. Trong khi chứng khoán đang lình xình, sàn vàng đóng cửa thì bất động sản đặc biệt là đất nền phân lô vẫn được nhiều nhà đầu tư lựa chọn. Bởi nhiều người tin rằng, trong khi quỹ đất thành phố có giới hạn thì khả năng sinh lời của đất nền dự án cao hơn rất nhiều so với phân khúc chung cư. Thêm vào đó, nhiều nhà đầu tư cũng như khách hàng kỳ vọng, trong tương lai gần còn có rất nhiều dự án chung cư có vị trí đẹp hơn, đặc biệt là quá trình xây dựng lại các chung cư cũ ngay trong nội thành.

Cũng theo ông Trường, hiện tượng sốt ảo là một yếu tố không thể tránh khỏi tại thị trường bất động sản. Tuy nhiên, phân khúc đất nền hiện nay chưa đến mức rơi vào hiện tượng quá sốt ảo, ngoài trường hợp nhà đầu tư đẩy giá, vẫn có không ít giao dịch đất nền thành công. Đất nền thu hút được sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt khu vực phía Tây, theo ông Trường, bởi quá trình đô thị hóa ở phía Tây đang diễn ra rất mạnh, nhất là trục đường Láng Hòa Lạc đang sắp được đưa vào sử dụng. “Trục đường Láng Hòa Lạc đang được thi công gấp rút và sớm đưa vào sử dụng trong năm nay. Đồng thời, quá trình đô thị hóa về phía này đang diễn ra rất mạnh và nhanh dẫn đến phân khúc đất nền ở khu vực phía Tây trở thành tâm điểm trong thời gian qua”, ông Trường nhận định.

Giới kinh doanh bất động sản cho rằng, giá nguyên vật liệu tăng cao trong suốt thời gian qua đã khiến nhiều chủ đầu tư giãn tiến độ càng làm cho phân khúc chung cư bị chững lại. Thêm vào đó, theo chị Nguyễn Thanh Nga, vụ cháy tòa nhà 18 tầng xảy ra hồi đầu tháng 3 khiến tâm lý người e dè hơn khi mua chung cư. “Các căn hộ rất ở tầng 20 trở đi rất hút khách thì nay rất ít người quan tâm, mà thay vào đó là những căn hộ tầng 10-15. Khách hàng lo ngại nếu xảy ra hỏa hoạn, thang cứu hỏa không kéo tới”, chị Nga chia sẻ.

Ông Trần Ngọc Quang, Tổng giám đốc Công ty Vinaconex ITC bổ sung, tâm lý người Việt thích được sở hữu đất nền hơn là căn hộ chung cư. Thêm vào đó, giá thành chung cư trong năm 2009 đã bị đẩy lên khá cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều người khiến nhiều giao dịch chung cư đã bị chững lại. Thông tin hàng loạt dự án nằm trong vành đai xanh dọc sông Nhuệ và trục Thăng Long chức năng không còn phù hợp với định hướng quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội bị dừng lại, chưa triển khai cũng khiến nhiều người hoang mang. “Nhiều khách hàng chờ nghe ngóng thông tin để biết chính xác các dự án được triển khai mới quyết định tiếp tục đầu tư cũng là nguyên nhân dẫn đến phân khúc chung cư tạm thời chững lại trong thời gian qua”, ông Quang nhận định.

February 27, 2010

Hà Nội năm 2010 Còn chút gì của nền văn hiến nghìn năm? Năm 2010 đánh dấu một mốc thời gian quan trọng: 1000 năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Hà Nội xưa nổi tiếng là đất kinh kỳ với những giá trị truyền thống quý báu: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Trải qua những năm tháng loạn lạc, chiến tranh, giờ đây Hà Nội lại đứng trước quá trình Toàn cầu hóa ồ ạt. Đâu là hình ảnh Hà Nội năm 2010 ?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:01 pm
Tags: , , ,

Nền tảng nghìn năm văn hiến
T ừ khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư tới thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long, đất nước ta bước vào một thời kỳ lịch sử mới, phồn vinh, vững mạnh. Sự kiện ấy bắt đầu cho một nền văn hiến Đại Việt. Trong “Thiên đô chiếu”, Thái Tổ cũng đã khẳng định: “Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.”
Trong lịch sử Việt Nam, chưa có thành nào có được chọn là thủ đô lâu năm như Hà Nội. Đinh – Tiền Lê chọn Hoa Lư (Ninh Bình), cha con Hồ Qúy Ly dời về Tây Đô (Thanh Hóa), Quang Trung xây dựng Phượng Hoàng trung đô (Nghệ An), triều Nguyễn di dời về Thừa Thiên Huế… nhưng tất cả những kinh đô ấy đều không kéo dài đến quá 200 năm. Trong khi ấy, thành Đại La được chọn làm thủ phủ từ trước năm 1010. Từ thời Thuc Phán An Dương Vương đã xây thành Cổ Loa chính ở Đông Anh, ngoại thành Hà Nội hiện nay. Cao Biền khi làm Tiết độ sứ ở An Nam đã cho xây thành Đại La và chọn nơi đây làm thủ phủ. Cho đến sau này, Lý Nam Đế, Ngô Quyền đều chọn mảnh đất này làm đô thành.
Trải qua ba triều đại Lý – Trần – Lê, Thăng Long đã tạo dựng được cho mình một nền tảng văn hiến khó có thành phố nào trên đất nước này có thể sánh nổi, thậm chí đã trở thành đại diện cho hình ảnh đất nước Việt Nam. Khi hình dung về người Hà Nội, người ta thường mường tượng chung một hình mẫu: thanh lịch, trang nhã và hiếu khách, không phân biệt đó là quan chức, học trò hay đơn giản chỉ là người buôn bán nhỏ lẻ nơi đầu đường xó chợ. Khắp chốn đô thành đều bao trùm một không khí học thức. Tinh thần hiếu học thể hiện rõ qua kiến trúc Hà Nội: Từ Văn Miếu – Quốc Tử Giám với những con rùa đội bia đá, đến đền Ngọc Sơn thờ Văn Vương, rồi Đài Nghiên-Tháp Bút… Những biểu hiện ấy ở các đô thành khác đều không hề thấy.
Chính vì hiếu học nên người Hà Nội dường như không đặt nặng chuyện làm giàu. Dân Hà Thành gốc không có gia đình nào là quá giàu, họ hiểu được giá trị cuộc sống nên với họ, cái thú ăn chơi chiếm một phần quan trọng. Thú ăn chơi ở chốn kinh đô này đã được nâng lên thành văn hóa. Mỗi tầng lớp người ở Hà Nội đều có một cách ăn chơi riêng nhưng đều có một điểm chung đó là tính trang nhã. Người Hà Nội ăn chơi không lấy sự xa xỉ, phô trương làm trọng mà trái lại, rất giản đơn và tinh tế.
Nếu thử so sánh giữa bát bún riêu Hà Nội và bún riêu Nam Bộ thì sẽ thấy rõ sự khác biệt. Bát bún riêu Nam Bộ có lượng lớn, bún nhiều, nước lèo nhiều, thực phẩm thì đủ loại: nào thì cua được viên tròn, nào thì giò tai, thịt bò rồi cả đậu phụ… nhưng bát bún riêu Hà Nội thì đơn giản lắm. Bát bún riêu nho nhỏ, chỉ đơn giản là riêu cua được chưng mỡ rưới đều trên ít bún, nước dùng chua chua đỏ màu cà chua và một ít hành, ăn kèm với rau sống, rau thơm thái chỉ. Không rõ là bún riêu Nam Bộ với bún riêu Hà Nội, món nào được ưa chuộng hơn nhưng rõ ràng người Hà Nội không thích lẫn lộn, tổng hợp.
Còn thú chơi tuy không phô trương nhưng lại rất cầu kỳ. Chỉ riêng chuyện uống trà của dân Hà Nội cũng đã có thể chép lại thành cả cuốn sách. Miền Bắc có nhiều loại trà nổi tiếng: trà Thái Nguyên, trà Suối Giàng, trà Phìn Hồ… và phải kể đến cả trà sen Hồ Tây. Để ướp được thứ trà này, thật kỳ công. Loại chè ngon được ướp cùng với nhụy sen hái ở Hồ Tây. Để có mùi thơm tươi mát, người ta để từng dúm chè vào những bông sen trên hồ rồi buộc lại. Thứ nước pha trà phải là thứ sương hứng ở trên lá sen vào buổi sáng tinh mơ. Đó thực sự là chơi trà chứ không đơn thuần là uống trà. Chính bởi tính cầu kỳ, kỹ tính ấy của dân Hà Thành, nghệ sĩ nào muốn hành nghề ở đất Kinh Kỳ không phải chỉ cần trau dồi cho mình tài năng xuất chúng mà còn phải tạo cho mình một phong thái lịch lãm và cao quý. Vì rõ ràng sự xa hoa mà thô lỗ không thể nào chinh phục được những khán giả Hà Nội tinh tế và khó tính.
Nét đẹp xƣa của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội… còn đâu?
Những người xa Hà Nội lâu năm quay trở về đều không thể nhận ra thành phố. Một nghìn năm văn hiến dù trải qua biết bao biến thiên lịch sử, thậm chí là cả qua thời kỳ Âu hóa, cho đến trước năm 1954, Hà Nội vẫn là Hà Nội. Nhưng từ đó đến giờ, Hà Nội dường như đã biến thành một nơi hỗn tạp, xô bồ.
Biểu hiện rõ nhất là ở kiến trúc. Không rõ trước thời kỳ Pháp thuộc Hà Nội như thế nào, nhưng qua những bức ảnh thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 thì ta thấy rõ chúng ta đã từng có một thành phố với những ngôi nhà trang nhã, lịch sự được quy hoạch hợp lý. Còn bây giờ thì sao? Nếu bị lạc vào khu 36 phố phường, ta sẽ không thể hình dung được đây là trung tâm của thành phố. Đó là những dãy phố nhỏ hẹp, đông đúc, vỉa hè bị lấn chiếm làm chỗ buôn bán, nhà cửa thì chen chúc; cái cao – cái thấp, cái thò ra – cái thụt vào. Ngôi nhà cổ ngày trước từng là căn nhà khang trang thì giờ trở nên xộc xệch: tầng 1 cho thuê làm cửa hàng buôn bán, các tầng trên để mặc lớp vôi cũ đã lên màu rêu phong, mấy hộ gia đình ở chung một căn nhà và sử dụng chung một nhà vệ sinh.
Dân cư Hà Nội ngày một đông đúc và hệ quả tất yếu là các ngôi nhà cứ thế đua nhau mọc lên như cỏ hoang chẳng ai quy hoạch. Nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử bị xâm phạm nghiêm trọng. Hồ Hoàn Kiếm ngày một nhỏ đi, giờ chỉ như một cái ao giữa trung tâm thủ đô. Ấy là còn chưa kể biết bao đình chùa, đền miếu, lăng tẩm… bị nhà dân xâm lấn. Lấy ví dụ là lăng mộ của Thần Siêu (Nguyễn Văn Siêu), người cho xây dựng Đài Nghiên – Tháp Bút, hiện đang nằm ở làng Kim Lũ. Lăng mộ của ông nằm trong sân một nhà máy quốc doanh đã cũ kỹ, cỏ hoang mọc xung quanh, chẳng có đường vào. Thảm thương hơn một Thần Siêu phải kể đến lăng mộ của nhà văn hóa Đặng Trần Côn – tác giả “Chinh phụ ngâm khúc”. Sau khi chiến tranh kết thúc, phần mộ của ông nằm trên phần đất được phân cho một thương binh có công với Cách mạng. Vị “anh hùng” này cần phải xây nhà và phần mộ ấy choán mất phần không gian xây nhà vệ sinh của gia đình, vậy là ông ta quyết định đào mộ lên, vứt hài cốt của Đặng Trần Côn bao gồm cả quan quách xuống sông Tô Lịch. Đến giờ, hài cốt của vị danh nhân văn hóa này vẫn chưa được tìm thấy.
Dòng sông Tô Lịch chảy xuyên suốt thành Thăng Long, nổi tiếng là một dòng sông đẹp:“Sông Tô nước chảy trong ngần- Có thuyền bướm trắng chạy gần chạy xa”. Vậy mà giờ đây, sông Tô Lịch chỉ còn là một cái cống thoát nước đen ngòm của cả thành phố với đủ các loại rác rưởi, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, rồi thì người ta giết người cũng đem vứt xuống sông. Sông Tô đã đổi màu, Hà Thành cũng đổi màu!
Những người sinh sống ở Hà Nội không có được cái vẻ lịch lãm đã từng được ca ngợi nữa mà trái lại, có đủ các tật xấu như: nói tục chửi bậy, xả rác bừa bãi, coi thường pháp luật… Bát bún riêu giờ cũng bắt đầu hổ lốn, có thêm đậu phụ, thịt bò, cũng chẳng ai đi hứng sương ở lá sen nữa vì giờ không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng do khói thải từ các nhà máy công nghiệp…
Bước vào thế kỷ XXI, nhiều nét đẹp của thành phố này cứ lần lượt biến mất. Các làng nghề truyền thống bị mai một, các món ăn ngon bị lai tạp và bị công nghiệp hóa làm mất đi hương vị nguyên bản. Các thú chơi như ca trù, thư pháp, sinh vật cảnh… bị lãng quên nhiều năm đến giờ mới bước đầu khôi phục. Nghiêm trọng hơn cả nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh bị quá trình đô thị hóa hủy hoại… Điển hình là các khu vườn đào. Hoa đào là loại hoa đặc trưng của chốn kinh kỳ mỗi khi năm hết Tết đến. Từ ngàn xưa, làng Nhật Tân đã nhận sứ mạng quan trọng là cung cấp đào cho cả Hà Nội. Giống bích đào Nhật Tân nổi tiếng đẹp với sắc hồng thắm, dáng dấp tao nhã không đâu sánh được. Quá trình đô thị hóa với các dự án khu đô thị mới đã cướp mất mảnh đất trồng đào của người dân nơi đây. Họ dạt ra phía lưu vực sông Hồng nhưng đất ở đây màu mỡ quá khiến đào không có được màu sắc tươi tắn và dáng cây trở nên mập mạp. Sau đó, những nông dân trồng đào phát hiện ra đặc tính của đất La Cả – Hà Đông giống với đất Nhật Tân khi xưa. Bà con bèn khăn gói, mang theo giống bích đào quý báu, kéo nhau chuyển về đất La Cả. Nhưng rồi mảnh đất này cũng Nhưng rồi mảnh đất này cũng bị thu hồi để xây dựng khu chung cư cao cấp. Năm 2010 này có ai ngờ là năm cuối cùng của làng đào La Cả. Bắt đầu từ năm sau nơi đây sẽ là công trường ngổn ngang gạch ngói.
“Xe Lexus” hay “cây olive”?
Vấn đề của Hà Nội hiện nay chính là vấn đề lựa chọn “xe Lexus” (Toàn cầu hóa) hay “cây olive” (văn hóa phương Tây) mà nhà báo Thomas Friedman đã đề cập đến khi viết về quá trình Toàn cầu hóa. Chiếc xe Lexus hiện đại có đủ tốc độ và sức mạnh để nghiền nát bất cứ cánh đồng olive nào. Vậy các giá trị truyền thống của Hà Nội liệu có đương đầu nổi với cuộc Toàn cầu hóa đang diễn ra trên khắp thế giới hay không?
Các nét đẹp của Hà Nội xưa vốn dĩ đã bị mai một nhiều từ sau năm 1954 do Nhà nước không nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hiến. Thêm vào đó, sự di dân bất hợp lý đã làm đảo lộn các giá trị. Nhiều người dân Hà Nội vì nhiều lý do (do bất đồng quan điểm chính trị, do bị bắt đi cải tạo hoặc do bị ép lên các vùng kinh tế mới…) đã phải nhường thành phố cho người dân tỉnh lẻ để lưu lạc ở nơi khác. Đó có lẽ là nguyên nhân chính khiến các nét đẹp của Hà Nội bị lai tạp và sự thanh lịch của người dân nơi đây không còn nữa.
Đúng lúc người ta bắt đầu ý thức được giá trị của một Hà Nội văn hiến thì Hà Nội lại phải đối mặt với “những chiếc xe olive”. Vào thế kỷ 19, khi làn sóng Âu hóa tác động tới thành phố này, “chất Hà Nội” vẫn giữ được ít nhiều vẹn nguyên. Ấy là bởi bề dày văn hóa vững chắc từ ngàn xưa. Nhưng sau năm 1954, bề dày ấy đã bị mài mòn đến mức lung lay, e rằng làn sóng mới của « những chiếc xe olive » này sẽ quật đổ tất cả các nền tảng cũ còn rơi rớt lại.
Lời kết
Không phải chờ đến năm 2010 chúng ta mới nhận thấy những mất mát văn hóa đang đe dọa nền tảng nghìn năm văn hiến của Hà Nội và trăn trở về nó. Nhưng tầm quan trọng của sự kiện 1000 năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội càng day dứt lòng trắc ẩn của những người con Đất việt, của những người yêu, tin và muốn Hà Nội thanh lịch như xưa kia. Còn những người lãnh đạo đang ra sức hô hào cho lễ kỉ niệm này thì nghĩ gì ? Họ có nhận ra được những mất mát ấy không ? Hay lễ kỉ niệm đối với họ chỉ để khoe thành tích, khoe với thế giới những giá trị truyền thống mà thực tế đang chết dần bởi sự vô trách nhiệm của chính họ ?
Khuê Đăng

Thăng Long hay Hà Hội?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:58 pm
Tags: , , ,

Gần đây ông Hoàng Tiến, tác giả ―Thư gửi Ban tổ chức lễ hội ngàn năm Thăng Long-Hà Nội‖, đã viết thư cho ban tổ chức lễ hội Ngàn năm Thăng Long-Hà Nội để đề nghị đổi tên Hà Nội thành Thăng Long. Ông cho rằng Thăng Long có nghĩa là rồng bay và tên gọi này đã giúp nước Đại Việt hưng thịnh. Trong khi đó, đất nước đã trải qua nhiều đau hương dưới tên gọi Hà Nội. Trước khi bàn về sự cần thiết của việc đổi tên thủ đô Hà Nội, thiết nghĩ cũng nên luận giải các chi tiết trong bức thư của ông Hoàng Tiến.
Lặp lại sai lầm
Thưa ông Hoàng Tiến, ở những nước văn minh người ta rất ít đổi tên, rất ít nhập vào, tách ra. Những cái tên Thành Đô, Tứ Xuyên là những địa danh có từ khoảng trên 2000 năm. Các thành phố khác trên thế giới như Moscơva, Paris, London, Oslo đều là các thành phố có tuổi rất cao với cùng tên một gọi. Mỗi một địa danh trong quá trình tồn tại và phát triển đã mang trên mình tất cả các dấu ấn lịch sử và văn hóa gắn với địa danh ấy. Hà Nội tuy mới tồn tại ngót hai trăm năm nhưng đã có biết bao sự kiện lịch sử bi hùng gắn liền. Những cái tên Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu chiến đấu đến chết để bảo vệ Hà nội chứ không chịu trao thành cho giặc, những chiến sĩ trong kháng chiến cống Pháp “Quyết tử cho Hà Nội quyết sinh”; những sự kiện đó gắn với Hà Nội chứ không phải với Thăng Long. Gỉa sử Hà Nội đổi thành Thăng Long thì câu nói trên sẽ điễn đạt như thế nào?
Trước đây, có bài hát “Đi tìm người hát câu hát lý thương nhau” của Vĩnh An trong đó có những câu:
Để lòng anh mong, để lòng anh nhớ ai thương em như thế… Hỡi cô gái Nghĩa Bình!
Bài hát rất hay đượm chất dân ca phù hợp với tình cảm và tâm sự của người dân Việt, khiến mỗi lần hát người nghe cảm thấy rung động lạ thường. Tiếc thay, thoắt một cái Nghĩa Bình không còn! Ấy là chưa kể một số tên đường bị đổi đã gây không ít phiền hà. Đơn cử đường Hàng Bột đổi thành đường Tôn Đức Thắng, đường Láng Hạ đổi thành đường Nguyễn Chí Thanh, đường Nam Bộ đổi thành đường Lê Duẩn, đường Tàu Bay thành đường Trường Chinh. Điều này khiến một người chỉ xa Hà Nội vài năm phải ngỡ ngàng, phải hỏi thăm đường khi về Hà Nội. Một bản đồ Hà Nội xuất bản trước sau một vài năm đã khác nhau mà không phải là do có những đường mới, phố mới, công trình mới xuất hiện mà chỉ do các phố, các đường đã bị đổi tên!
Năm xưa khi Vua Minh Mệnh đặt tên Hà Nội, nhà vua có lẽ cũng mắc sai lầm là không chú ý đến tính chất lịch sử của cái tên Thăng Long và truyền thống văn hóa lâu dài của nó. Tuy nhiên, điều này có thể cũng thông cảm được vì dưới triều Nguyễn, Hà Nội không phải là thủ đô. Hơn nữa, dấu ấn Thăng Long của các triều đại Lý, Trần, Lê không còn gì và đã bị tàn phá nặng nề bởi các cuộc chiến tranh xâm lược liên miên qua nhiều thế kỷ của phong kiến phương Bắc. Các cuộc chinh biến của Tống, Nguyên, Minh, Thanh và ngay cả Chiêm Thành cũng đã nhiều lần kéo quân đến Thăng Long đốt phá. Cung điện, đền đài, lăng tẩm, thành quách được xây dựng qua các triều đại Lý, Trần, Lê không còn nếu có cũng chỉ là các phế tích. Thăng Long chỉ còn là cái tên không, một cái vỏ mà phần ruột–phần quan trọng nhất đã mất. Chúng ta có thể nhận ra điều này khi đọc thơ của Bà Huyện Thanh Quan:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Chính vì thế, việc đổi tên Hà Nội thành Thăng Long có khác nào lập lại sai lầm thêm một sai lầm nữa.
Phúc và họa của đất Thăng Long – Hà Nội
Trong thư ông Hoàng Tiến đã liệt kê những sự kiện lịch sử, những tiến bộ về các mặt kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục. Những sự kiện này có thực nhưng đã gây cho người đọc cảm giác rằng cái tên Thăng Long đã mang lại nhiều may mắn hơn Hà Nội. Thực tế trong cả chiều dài lịch sử, điều này không hoàn toàn đúng. Hơn nữa, những sự cố xảy ra cho Hà Nội đều có sự tác động của con người thậm chí đều do con người gây ra và rất cần luận giải chi tiết thì dường như lại không được chú ý.
Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi xem xét các triều đại đến thế kỷ XVI đã rút ra lời kết như sau:
Muốn bình thì phải ở nhân
Muốn yên thì phải dạy dân cấy cày
Về các mặt kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa-giáo dục, Lý Thái Tổ và triều Lý đã có những cải cách lấy dân làm gốc, chẳng hạn như “Đại xá thiên hạ, miễn giảm sưu thuế trong ba năm”. Rõ ràng nhà Lý đã đem nhân nghĩa tưới khắp bá tánh nên xã hội dưới thời nhà Lý thịnh trị. Và vì vậy, triều đại Lý cũng kéo dài đến 215 năm.
Trong khi đó, Hà Nội lại không thịng vượng dưới triều Nguyễn. Mặc dù các vua chúa Nguyễn có rất nhiều công lao trong việc mở mang bờ cõi và thống nhất đất nước. Nhờ lẽ đó mà nước Việt ta mới trải dài từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau như ngày nay. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng nhà Nguyễn đã cai trị dân không phải bằng nhân nghĩa mà bằng bạo lực. Nhà Nguyễn đã thực hiện chính sách cấm đạo, sát Gia Tô một thời gian dài, đặc biệt trong hai đời vua Minh Mệnh và Tự Đức. Thêm vào đó, nhà Nguyễn lại dùng nhiều cực hình man rợ đối với cựu thù như Tây Sơn, và thậm chí với các công thần mà mới hôm nào còn vào sinh ra tử để có được chiến thắng.
Nhà Nguyễn vào đất Thuận Hóa, thành công trong việc mở mang bờ cõi và cuối cùng có được thiên hạ trong tay một phần là nhờ vào lời chỉ dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông từng nói “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Thế nhưng vua tôi nhà Nguyễn dường như bỏ ngoài tai lời giáo huấn ấy nên việc trị dân trị nước của nhà Nguyễn gặp nhiều trắc trở và không hanh thông. Cái phúc và cái họa của đất Thăng Long – Hà Nội là do vậy ông Hoàng Tiến ạ.
Thay đổi quan trọng hiện nay
Tôi thiết nghĩ cái thay đổi quan trọng nhất là ở chỗ thay đổi dân yếu nước hèn thành ra dân giàu nước mạnh và thực sự công bằng văn minh; làm sao cho đất nước không bị ngoại bang khinh nhờn lấn át. Theo đó, thay đổi làm sao cho đất nước không còn các “quốc nạn và quốc loạn” như tham nhũng, hối lộ, buôn lậu, mua quan bán tước; thay đổi để những người có tài năng đức độ được trọng dụng, những kẻ bất tài cơ hội bị loại bỏ. Đấy mới là thay đổi căn bản và cần thiết mới đáng gọi là thay đổi, thưa ông Hoàng Tiến.
Những thay đổi đại loại như: đổi tên, tách ra, nhập vào chỉ là những thay đổi dẫn đến lãng phí tốn kém. Thậm chí còn tạo cơ hội cho những bọn xấu xa ở các cấp chính quyền lợi dụng để trục lợi, mà chẳng mang lại điều lợi lộc gì cơ bản cho nhân dân và cho đất nước. Việc sát nhập Hà Tây vào Hà Nội chỉ tính riêng việc liên quan đến hoàn thiện con dấu cho các cấp ban ngành từ địa phương đến thành phố đã tốn kém hàng trăm tỷ đồng. Nay lại đổi Hà Nội thành Thăng Long thì vài trăm tỷ sẽ đội nón ra đi cho một việc vô bổ.
Những ai còn có tấm lòng yêu nước hẳn uất ức đến ứa nước mắt khi đọc những câu thơ:
Có nơi đâu trên thế giới này Như Viêt Nam hôm nay Yêu nước là tội ác Biểu tình chống ngoại xâm bị “Nhà Nước’’ bắt? Các anh hùng dân tộc ơi! Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo ơi! Nếu sống lại các ngài sẽ bị bắt! Ai cho phép các Ngài đánh giặc phương Bắc? (Trần Mạnh Hảo – Sài Gòn, 20-01-2008)
Đất nước này máu và nước mắt chảy triền miên. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 chẳng được bao lâu lại tiếp ngay đến tháng 2 năm 1979; rồi máu chảy ở biên giới phía Bắc, máu chảy ở Lão Sơn, máu chảy ở Trường Sa. Hãy so sánh với Angiê-ri, một nước Bắc Phi, cũng là thuộc địa của Pháp như Việt Nam nhưng họ chẳng hề có “Điện Biên chấn động địa cầu” hay chẳng có ngày “30 tháng 4 lịch sử”. Thế mà đất nước họ đã độc lập thống nhất lại chẳng bị kẻ ngoại xâm nào nhòm ngó, coi thường.
Thưa ông Hoàng Tiến, Việt Nam đang bị lân bang dòm ngó, thác Bản Giốc nay đã mất đi, dân chúng không được mưu sinh trên phần biển cha ông để lại. Vậy thì việc đổi tên như ông đề nghị phỏng có ích gì?!
Vũ Đình Tiêu Ngày 20/12/2009

Create a free website or blog at WordPress.com.