Ktetaichinh’s Blog

March 14, 2010

Doanh nghiệp xuất khẩu khốn đốn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:30 pm
Tags: , , ,

TP – “Cực kỳ khó khăn về vốn” – Tổng Giám đốc Cty CP Intimex, ông Đỗ Hà Nam thốt lên trên diễn đàn về xuất khẩu hôm 11-3.

Thứ trưởng Bộ Công Thương, ông Nguyễn Thành Biên cũng xác nhận: “Khó khăn lớn nhất hiện nay là các doanh nghiệp (DN) khó tiếp cận nguồn vốn để sản xuất hàng xuất khẩu”.

Các ngành chế biến xuất khẩu nông sản đặng gặp rất nhiều khó khăn về vốn  –  Ảnh: Phục Lễ

Nông thủy sản lao đao

Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên cảnh báo: Thị trường chứng khoán, bất động sản hút vốn rất mạnh, vì vậy, không khéo việc  lãi suất tăng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất xuất khẩu.

Tổng thư ký Hiệp hội Điều Việt Nam, ông Đặng Hoàng Giang cho biết, dự kiến tổng nhu cầu vốn cho thu mua, nhập khẩu và chế biến của toàn ngành Điều năm 2010 là 14.820 tỷ đồng để thu mua 400 nghìn tấn điều thô trong nước, nhập khẩu 250 nghìn tấn điều thô và phục vụ sản xuất 180 nghìn tấn nhân điều.

Tuy nhiên, hiện nay việc tiếp cận vốn của các ngân hàng thương mại là rất khó khăn, hạn mức cho vay thấp, lãi suất cao trong khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa giải ngân cho các khoản vay…

TGĐ Cty CP Intimex, ông Đỗ Hà Nam lo lắng: “Cà phê đang trong tình trạng báo động đỏ!”. Trong khi sản lượng cà phê giảm khoảng 30% so với năm trước vì mất mùa, mức độ tiêu thụ của thị trường thế giới cũng giảm nhưng giá bán ra của cà phê Việt Nam lại giảm mạnh, xấp xỉ 44% và hiện vẫn đang xuống dốc.

Hạt điều cũng không ngoại lệ. Trong khi giá bán thấp thì giá thu mua quá cao, từ 1.100 – 1.150 USD/tấn. Với giá nguyên liệu như hiện nay các DN hoàn toàn làm không công cho nước ngoài.

Thêm vào đó, chi phí đầu vào của ngành điều đã tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Hiện điện, nước, xăng dầu đều tăng nên DN đã khó lại càng thêm khó.

Ông Đỗ Hà Nam cũng nêu một thực tế không vui, khi các DN trong nước gặp khó khăn về vốn, các DN nước ngoài nhảy vào thu gom dự trữ và giành mất quyền nắm giữ các cơ hội kinh doanh.

Theo ông Nam, cũng do kẹt vốn nên các DN xuất khẩu Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị mất hợp đồng.

Khi DN Việt Nam thiếu vốn, một số đối tác chỉ dây dưa, chậm thanh toán là ngay lập tức DN Việt Nam hoảng hốt và phản ứng bằng cách siết chặt các yêu cầu thanh toán và đó là cớ để nhiều đối tác bỏ đi tìm đối tác khác.

Bao giờ hết khó?

Ông Nguyễn Thành Biên cũng cho biết Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ NN&PTNT xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông sản, thủy sản của một số ngành hàng có lượng hàng hóa lớn như gạo, thủy sản, cà phê và một số nông sản khác nhằm duy trì phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân và ổn định giá hàng hóa.

Theo đề nghị của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam,  Chính phủ giao các bộ ngành liên quan nghiên cứu ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất thu mua dự trữ 200.000 tấn để giữ giá cà phê đồng thời giúp nông dân không bị ảnh hưởng nặng nề.

Chính phủ tiếp tục kéo dài chương trình hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn đến hết năm 2010, đồng thời tiếp tục gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 3 tháng cho các nhóm đối tượng DN vừa và nhỏ; số thuế phải nộp từ hoạt động sản xuất, gia công dệt may, da giày của DN.

Theo các chuyên gia, việc giãn thời gian nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đã cho thấy quyết tâm hỗ trợ DN vượt qua khó khăn của Chính phủ.

Tuy nhiên, không phải khó khăn nào của DN cũng được “lắng nghe và thấu hiểu” và kịp thời giải quyết.

“Đề nghị Ngân hàng Phát triển Việt Nam sớm giải ngân và dành khoản tín dụng cho vay ngắn hạn 2.000 tỷ đồng để các DN ngành điều thu mua nguyên liệu từ tháng 3 đến tháng 7-2010”- Ông Đặng Hoàng Giang bức xúc.

Ông Giang cũng đề nghị ngân hàng này dành khoản tín dụng cho vay đầu tư trung hạn ưu đãi 1.500 tỷ đồng để giúp DN cải tạo nhà xưởng và đầu tư trang thiết bị phục vụ chế biến. Đồng thời đề nghị các ngân hàng giải quyết cho DN vay ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu phục vụ xuất khẩu.

Đồng bằng sông Cửu Long:

Nông dân và doanh nghiệp đều khát vốn

TP – Năm 2009, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được hơn 6 triệu tấn gạo, tương đương 3 tỷ USD. Trong đó, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp tới 95% lượng gạo hàng hóa xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối phó với khó khăn về vốn.

Ảnh minh họa

Theo thống kê, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn của cả nước đến nay vào khoảng 231 ngàn tỷ đồng; riêng khu vực ĐBSCL là 71 ngàn tỷ (chiếm 30,6%). Trong khi đó huy động vốn của cả khu vực chỉ đạt xấp xỉ 115 ngàn tỷ đồng, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn tại chỗ đang ngày một tăng.

Xuất phát từ thực tế trên, tại hội thảo tín dụng cho nông thôn tổ chức hôm 10-3, ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định: “Nhu cầu vốn của người nông dân và các doanh nghiệp khu vực ĐBSCL là rất lớn. Nhưng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của nông dân bị hạn chế do lãi suất và cơ chế vay vốn còn có nhiều điểm chưa phù hợp với đặc điểm nông thôn, nông dân”.

Hiện tại, các doanh nghiệp cũng đang đứng trước khó khăn lớn về vốn cho thu mua lúa gạo tạm trữ cho xuất khẩu. Do hầu hết doanh nghiệp chưa ký kết được hợp đồng với đối tác nước ngoài nên đều chưa thể vay vốn ngân hàng.

Trong khi đó, các doanh nghiệp mới chỉ tiến hành thu mua được 500 nghìn tấn trong tổng số 1 triệu tấn gạo theo kế hoạch; cùng với việc phát triển hệ thống kho chứa lên 4 triệu tấn vào cuối 2010 đầu 2011 sẽ đặt ra nhu cầu bức thiết về vốn cho các doanh nghiệp”.

Ông Nguyễn Danh Trọng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) phân tích: Tín dụng cho khu vực nông thôn nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng có những đặc trưng như nhu cầu vốn cho các hoạt động sản xuất thường cao hơn mức huy động được tại địa bàn; mạng lưới của các ngân hàng (ngoại trừ Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Agribank) chưa bao phủ rộng, khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân và doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng còn hạn chế…

Chẳng hạn, tại khu vực ĐBSCL, nguồn vốn huy động tại chỗ chỉ đạt 115 ngàn tỷ đồng (tương đương 6% tổng vốn huy động toàn hệ thống ngân hàng trong cả nước, khoảng 1.777 ngàn tỷ đồng) trong khi dư nợ cho vay lên tới 174 ngàn tỷ đồng.

Đó là còn chưa kể đến các nhu cầu chưa được ngân hàng đáp ứng mà vay từ nguồn tín dụng phi chính thống khác.

Dưới quan điểm của các doanh nghiệp đầu mối, ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, với dự kiến xuất khẩu tới 6 triệu tấn gạo trong năm 2010 (kim ngạch khoảng 3 tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khẩu gạo rất khó khăn trong việc xoay xở nguồn vốn.

Dù vừa qua, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã có chỉ đạo về việc đáp ứng nguồn vốn cho các doanh nghiệp thu mua gạo nhưng khi đầu ra vẫn còn khó khăn như hiện nay, các ngân hàng vẫn do dự khi cho vay.

Bên cạnh, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thể thực hiện việc đầu tư kho và hệ thống xay xát, chế biến cũng chỉ bởi một lý do: thiếu vốn.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Liên Việt cho biết, để giải quyết những khó khăn về vốn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL rất cần sự tham gia của ngân hàng trong liên kết 4 nhà (Nhà nước- Nhà nông- Nhà khoa học- Nhà doanh nghiệp).

Theo ông Hưởng, một trong những điểm bất cập của mô hình liên kết 4 nhà là việc doanh nghiệp thiếu vốn và phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân dẫn đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn lỏng lẻo.

Trong trường hợp xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng không trả được nợ, doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng vốn vay, giá thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính.

Hiện tại, để giải quyết bài toán vốn cho ĐBSCL, trước mắt, Liên Việt sẽ triển khai đề án “Đầu tư phát triển tín dụng nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL” với việc dành ra một khoản tín dụng từ 3 ngàn đến 5 ngàn tỷ đồng cho giai đoạn 2010 – 2013, trong đó riêng năm 2010, sẽ triển khai đề án với vốn lên đến 1,2 ngàn tỷ đồng.

January 6, 2010

Vay vốn trong năm 2010 được hỗ trợ 2% lãi suất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:35 pm
Tags: , , ,
Đây là hướng dẫn mới nhất của Ngân hàng Nhà nước về hướng dẫn hỗ trợ lãi suất (HTLS) đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn.

Theo đó, các khoản cho vay thuộc đối tượng HTLS là các khoản cho vay trung, dài hạn bằng đồng Việt Nam để thực hiện đầu tư phát triển sản xuất – kinh doanh theo các hợp đồng tín dụng ký kết trước và sau ngày 1/1/2010 mà được giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2010 đến 31/12/2010 đều thuộc diện hưởng hỗ trợ lãi suất mới.

Mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay là 2%/năm, tính trên tổng số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế, thời hạn cho vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng, kể từ ngày giải ngân. Trường hợp, các khoản vay thuộc đối tượng HTLS bị quá hạn trả nợ, được gia hạn nợ vay, thời hạn vay thực tế vượt quá 24 tháng, thì không được HTLS đối với khoảng thời gian quá hạn trả nợ, gia hạn nợ và vượt quá 24 tháng.

Ngân hàng Nhà nước cũng lưu ý, khách hàng vay vốn có số dư tài khoản tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (TCTD) thì khi ký kết hợp đồng tín dụng, các TCTD phải tính toàn bộ số dư tài khoản tiền gửi là vốn tự có của khách hàng vay và mức vốn cho vay phải loại trừ số dư tài khoản tiền gửi này. Khách hàng có trách nhiệm báo cáo về số dư tài khoản tiền gửi và giá trị giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ tại các TCTD khác.

Quy định về việc hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn

GiadinhNet – Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 27 quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngân hàng trong năm 2010.

Theo đó mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay là 2%/năm, tính trên tổng số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế. Thời hạn cho vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng, kể từ ngày giải ngân. Trường hợp, các khoản vay bị quá hạn trả nợ sẽ được gia hạn nợ vay, nhưng nếu thời hạn vay thực tế vượt quá 24 tháng, thì không được hỗ trợ lãi suất với khoảng thời gian vượt quá 24 tháng.

December 10, 2009

Subsidised loans total $21.8 billion

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:17 pm
Tags: , , , ,

VNBusinessNews.com – The nation’s banks have so far disbursed VND414.08 trillion (US$21.8 billion) worth of Government-subsidised preferential loans at a 4 per cent interest rate since the programme started in February.

By the end of last week, total capital injected into the economy through the programme was down VND1.81 trillion ($95 million), or 0.43 per cent, over previous week. Last week, money lent under the scheme was down 0.20 per cent on the week before.

According to the State Bank

of Viet Nam, State-owned banks and central credit unions have disbursed the lion’s share of money under the Government-sponsored scheme, lending VND276.87 trillion ($14.57 billion), down 0.88 per cent against the first week this month.

Private commercial banks disbursed VND108.47 trillion ($5.71 billion) worth of loans under the programme, up 0.58 per cent, while foreign-invested banks and joint-venture banks loaned another VND20.4 trillion ($1.07 billion), up 1.83 per cent. Finance companies handed out the remaining VND8.3 trillion ($436 million), down 4.03 per cent.

The largest recipients of subsidised loans, designed to spur production and consumer spending, were private enterprises (that were not household businesses), which accounted for 68.8 per cent of the total. A further 16 per cent was lent to family firms, while the remaining 15 per cent was lent to State-owned enterprises.

Subsidised short-term loans are to be paid off by the year-end, while medium-and long-term loans expire next year.

The fall in the amount of money being lent under the Government’s scheme is being seen as a cautious response by enterprises to the central bank’s decision to lift the prime rate to 8 per cent from 7 per cent, which boosted bank lending by 1.5-2 percentage points to 12 per cent per year.

Create a free website or blog at WordPress.com.