Ktetaichinh’s Blog

March 17, 2010

Đại học VN lạc hậu do đâu?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:49 am
Tags:

Dù chưa học qua chương trình đại học ở Việt Nam nhưng thông qua những lời “than thở” của bạn bè và đọc báo, tôi cũng có thể thấy những cái khác cơ bản giữa giáo dục đại học trong nước so với đại học ở Úc.

Có lẽ đó cũng là lý do không ít những gia đình chưa giàu có gì vẫn cố gắng chạy vạy thu xếp cho con đi học nước ngoài giống như gia đình tôi. Được học ở Úc, tôi thấy quả thực đáng đồng tiền bát gạo, chỉ cần nhìn vào giáo trình học ở đây và giáo trình học ở Việt Nam đã thấy khác hẳn. Giáo trình ở đây viết bằng tiếng Anh dĩ nhiên khó hiểu hơn tiếng Việt nhiều lắm đối với người Việt, nhưng cách trình bày vô cùng dễ hiểu: các khái niệm bao giò cũng được viết ngoài lề, rồi đưa ra những ví dụ rất thực tế của một công ty, vấn đề đặt ra và cách giải quyết, phần bài tập thì có bài tập lý thuyết nhưng ở dạng thảo luận chứ không phải là chép nguyên văn những gì có sẵn trong sách mà phải tự tìm hiểu thêm, có phần luyện tập riêng, và phần thực hành riêng v.v… rất nhiều bài tập và rất thực tế.

Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail:thaolam@dantri.com.vn

Mỗi trường đều có một trang web trong đó có 1 khu vực gọi là Blackboard (bảng đen), trong đó có các môn mà 1 sinh viên học ví dụ như kỳ này học 4 môn nào thì trên Blackboard sẽ có thông tin của 4 môn đó. Giáo viên chủ nhiệm môn sẽ là người trực tiếp soạn ra bài giảng powerpoint cho mỗi tuần và đưa lên Blackboard của tất cả các sinh viên học môn đó. Học trên giảng đường thì có máy chiếu, giáo viên chỉ viết khi nào cần phân tích vấn đề nào đó thôi, sinh viên trước khi lên giảng đường thì in slices từ Blackboard ra đọc trước rồi mang lên giảng đường, nên chỉ cần ghi chép thêm một chút vào chính các slices là đã có được kiến thức chính và rất tổng hợp của cả chương đó rồi.

Ghi chép ít đồng nghĩa với việc nghe giảng được nhiều nên cũng hiểu nhiều hơn, về nhà đọc thêm những cuốn giáo trình rất hay đó, làm bài tập và lên lớp tutorial (lớp học thường có khoảng 20 sinh viên). Ở lớp học này, sinh viên đã chuẩn bị sẵn bài tập và nếu có điều gì khó hiểu, thắc mắc có thể trao đổi cùng nhau dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Ngoài ra còn có lớp PASS là một lớp học phụ, không phải môn nào cũng có lớp PASS, chỉ những môn nào nhiều lý thuyết và khó đậu, lớp PASS giống như một lớp học nhóm thêm ngoài giờ nhưng không có giáo viên mà chỉ có 1 cựu học sinh đã học qua và đạt diểm số cao của môn đó làm người hướng dẫn, chia sẻ phương pháp học, kinh nghiệm làm bài, cấu trúc đề kiểm tra,v.v…các sinh viên đến lớp này cũng có thể tùy ý trao đổi ý kiến về vấn đề nào đó trong bộ môn đó.

Ngoài ra một số giáo viên chủ nhiệm môn còn đưa ra những giải thưởng nhỏ nhằm khuyến khích sinh viên tìm hiểu và vẫn dụng kiến thức ví dụ như môn kinh tế vĩ mô, đề bài là dựa trên những số liệu về lạm phát, thất nghiệp  v.v… hãy dự đoán mức tăng trưởng kinh tế của Úc vào quý II. Em nghĩ rằng đó là một câu hỏi rất thực tế, chỉ cần chờ đến khi các nhà phân tích thông báo đáp án là biết trong 1500 sinh viên ai là người đoạt giải. Tôi không rõ ở các trường đại học Việt Nam có được chọn ngày giờ học không, nhưng ở trường em thì có, chọn ngày chọn giờ để không tốn thời gian đi lại, có thời gian đi làm thêm, chọn được lớp có giáo viên dạy phù hợp với mình và quan trọng là quen thêm rất nhiều bạn mới, mở rộng được các mối quan hệ vì quen được cả những bạn học những ngành khác nữa.

Thêm một điều nữa, học đại học ở Úc chỉ có 3 năm, nhưng tòan bộ chương trình không có một cái gì là không giúp ích cho công việc sau này, có những môn không phải là môn chuyên ngành nhưng học xong mới thấy nó giúp mình hiểu hơn về các tổ chức cơ quan trong thực tế cấu trúc ra sao hoạt động thế nào v.v… Tuyệt nhiên không phải học những môn hoc không thiết thực làm mất đi thời gian vàng ngọc của tuổi trẻ. Trong khi đó học ở đây ngoài 16 đến 20 môn chuyên ngành bọn sinh viên có quyền chọn học thêm 4 đến 8 môn phụ. Thật tuyệt vời bởi mỗi sinh viên thường có chỉ hướng khác nhau, ví dụ như tôi và người bạn đều học chuyên ngành kế toán nhưng tôi còn ấp ủ được làm kinh doanh bởi vậy chọn bộ môn phụ là quản lý kinh doanh vừa và nhỏ, trong bộ môn này gồm 4 môn cơ bản về vấn đề này, còn người bạn lại thích học luật nên đã chọn bộ môn luật để học thêm. Cách chọn môn này cho thấy học đến năm thứ 2, đa số sinh viên đã có những định hướng tương lai của riêng mình rồi, cứ thế mà phấn đấu thôi.

Đó là những cái “được” từ việc du học tại Úc hay một số nước có nền giáo dục tiên tiến. Bây giờ cho phép tôi nêu thêm vài ý kiến. Nếu Việt Nam mình muốn cải cách phương pháp giảng dạy trong đại học nếu cần mua máy móc kỹ thuật như máy chiếu, và đào tạo giáo viên cách sử dụng thì chắc sẽ có người than là “tiền đâu đầu tiên”, tiền mà rót xuống thể nào cũng có tham nhũng, mà cần nhiều tiền lắm vì chưa thấy có nước nào nhỏ như nước ta mà lại nhiều trường đại học cao đẳng đến vậy.

Lại nói về “lãng phí chất xám” và “chảy máu chất xám”. Lãng phí chất xám vì một sinh viên thi được 22-23 điểm đỗ vào một trường đại học cũng tương đối đấy mà sao lại bắt họ học kiểu nhồi nhét đến mức thui chột cả đầu óc đi thế, không lãng phí sao được. Phải thông mình, tiếp thu nhanh nhạy và chăm chỉ lắm mới có thể đỗ đại học với mức điểm như vậy, đến lúc vào học lại biến những người như vậy, thành cỗ máy ghi chép và học thuộc lòng, thật lãng phí quá chừng. Còn chảy máu chất xám thì xin mọi người đừng trách sao lớp trẻ ngày nay đi du học mà không trở về, đất lành chim đậu thôi, thử hỏi nhà nào có chút điều kiện lại không muốn cho con mình đi học nước ngoài và có thể ở lại luôn vừa có điều kiện hành nghề tốt để tiến bộ nhanh vừa được  sống đầy đủ trong môi trường làm việc có nền nếp, có cơ sở hạ tầng tốt. Tất nhiên cha mẹ nào chẳng muốn cho con trở về nước để được gần gũi nhưng không nỡ để con họ phải làm việc trong điều kiện thiếu thốn phương tiện hành nghề chuyên môn, lại chật vật trong cuộc sống hằng ngày vì đồng lương thấp, không đủ trang trải những nhu cầu tối thiểu.

Tôi thấy rất thông cảm với những bạn sinh viên trong nước, học đại học mà phải dồn sức vào việc ghi chép bài giảng rồi học thuộc lòng thì còn tìm đâu ra sự hứng thú. Phải học qua bốn, năm năm, nhồi nhét vào đầu óc nhiều thứ vô bổ để nhận được tấm bằng, rồi lại phải chạy vạy, đút lót hàng năm trời mới xin được việc làm làng nhàng lương trên dưới 2 triệu đồng chẳng đủ ăn.

Hệ thống giáo dục đại học như vậy sẽ sản sinh ra những cử nhân kiểu “chép, thuộc” không có kiến thức thực tế, không kinh nghiệm làm việc lại cộng thêm với việc lương không đủ cho những chi phí sinh hoạt thường ngày trong khi giá cả ngày một leo thang. Bởi vậy các ông bố bà mẹ dù nghèo dù biết sẽ vất vả cũng cố gắng “đầu tư” cho tương lai con mình chỉ cốt mong cho nó sau này đủ ăn là được.

Thêm một điều nhỏ nữa thôi, bạn bè tôi Tết vừa qua về thăm nhà đứa nào cũng vui, vui chứ vì được thăm gia đình và được hưởng không khí Tết đặc trưng của quê nhà khác xa với không khí Tết ở nơi đất khách quê người.

Nhưng bên cạnh niềm vui cũng có nỗi buồn vì thấy cuộc sông nước mình còn chậm chạp, lãng phí thời gian vào những công việc không đáng có.

Chúng tôi đã quen với cuộc sông bên này thật khẩn trương, hối hả, hầu như mọi người đều thấy quý thời gian. Sáng ra đố tìm được chỗ nào có tới 2 người đứng túm tụm buôn chuyên đấy, họ chỉ mất 30 giây dừng lại chào hỏi rồi lại mải miết đi. Nhưng mà đừng tưởng họ chỉ biết làm mà chẳng biết chơi, lương của họ trừ đi các chi phí sinh hoạt bao giờ cũng dư ra một khoản để ăn chơi đấy, cho nên họ phải chơi chứ, nhưng làm ra làm, chơi ra chơi, vô cùng đúng giwof và vô cùng nghiêm túc.

Cái gì cũng có cái giá của nó, học ở nước ngoài rất khó, một người có ý thức thì sẽ luôn phấn đấu để được điểm cao, mà như thế thì bài vở ngập đầu, 3 năm trời thì lúc nào cũng như là mỗi năm đều thi vào đại học ở Việt Nam 1 lần vậy. Thức khuya dậy sớm, tranh thủ đi làm thêm cực nhọc với đồng lương rẻ mạt,v.v… để đổi lấy cuộc sống ấm no sau này chứ ai lại mong muôn mình tiếp tục vất vả đâu.

Có giải pháp nào không cho những vấn đề nêu trên? Nếu như bài viết này của tôi một ngày nào đó được Diễn đàn Dân trí đưa lên mạng để cho độc giả đọc tham gia ý kiến  thì tôi rất phấn khởi vì việc làm của mình đã không vô ích. Tôi xin bỏ ngỏ phần giải pháp để các độc giả điền thêm vào. Độc giả là dân chúng, có những em học sinh cấp 3 đang đứng trước ngã rẽ cuộc đời không biết nên chọn trường đại học nào, nên đi du học hay không, có những bạn sinh viên đang lo lắng vì sắp tốt nghiệp mà con đường sự nghiệp thì mù mờ quá, còn những sinh viên du học đang băn khoăn có nên về nước để làm việc không và những phụ huynh làm việc quần quật tiết kiệm từng đồng cho con đi du học v.v… Họ đều là “người trong cuộc” nên ít nhiều sẽ có ý kiến, giá như có một tổ chức nào đó đứng ra trưng cầu dân ý, nghe những phương pháp cải cách mà nhân dân mong muốn thì tốt biết bao.

Thai Ha Hoang
hoangthaiha90@gmail.com

LTS Dân trí – Toàn cầu hóa ngày nay đã trở thành một xu thế tất yếu, cho nên giáo dục nói chung, nhất là giáo dục đại học nếu không muốn trở thành lạc lõng và lạc hậu thì không thể “đứng một mình một chợ”.

Bài viết trên đây của một sinh viên đang du học tại Úc cho thấy sự so sánh khá rõ nét giữa đại học VN với ĐH Úc cũng như ĐH các nước tiên tiến nói chung. Họ đào tạo ĐH chỉ có 3 năm, VN dào tạo 4-5 năm, nhưng chất lượng sinh viên tốt nghiệp lại thua xa họ. Nguyên nhân chính là do chương trình học lạc hậu, không đáp ứng đúng nhu cầu thực tế; cách thức đào tạo theo lối “học vẹt” và thiếu những phương tiện dạy và học. Cách đào tạo này dẫn tới tình trạng lãng phí thời gian đào tạo, nhất là lãng phí chất xám ngay trong quá trình ngồi trên ghế nhà trường và khó tìm được việc làm sau khi ra trường.

Những mặt yếu kém đó của nền giáo dục ĐH VN cần được khắc phục kịp thời nếu chúng ta không muốn chậm chân bước lên chuyến tầu siêu tốc đưa lòai người tiến nhanh vào kỷ nguyên văn minh trí tuệ.

//

Advertisements

March 16, 2010

Đại học VN lạc hậu do đâu?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:36 am
Tags:

Dù chưa học qua chương trình đại học ở Việt Nam nhưng thông qua những lời “than thở” của bạn bè và đọc báo, tôi cũng có thể thấy những cái khác cơ bản giữa giáo dục đại học trong nước so với đại học ở Úc.

Có lẽ đó cũng là lý do không ít những gia đình chưa giàu có gì vẫn cố gắng chạy vạy thu xếp cho con đi học nước ngoài giống như gia đình tôi. Được học ở Úc, tôi thấy quả thực đáng đồng tiền bát gạo, chỉ cần nhìn vào giáo trình học ở đây và giáo trình học ở Việt Nam đã thấy khác hẳn. Giáo trình ở đây viết bằng tiếng Anh dĩ nhiên khó hiểu hơn tiếng Việt nhiều lắm đối với người Việt, nhưng cách trình bày vô cùng dễ hiểu: các khái niệm bao giò cũng được viết ngoài lề, rồi đưa ra những ví dụ rất thực tế của một công ty, vấn đề đặt ra và cách giải quyết, phần bài tập thì có bài tập lý thuyết nhưng ở dạng thảo luận chứ không phải là chép nguyên văn những gì có sẵn trong sách mà phải tự tìm hiểu thêm, có phần luyện tập riêng, và phần thực hành riêng v.v… rất nhiều bài tập và rất thực tế.

Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail:thaolam@dantri.com.vn

Mỗi trường đều có một trang web trong đó có 1 khu vực gọi là Blackboard (bảng đen), trong đó có các môn mà 1 sinh viên học ví dụ như kỳ này học 4 môn nào thì trên Blackboard sẽ có thông tin của 4 môn đó. Giáo viên chủ nhiệm môn sẽ là người trực tiếp soạn ra bài giảng powerpoint cho mỗi tuần và đưa lên Blackboard của tất cả các sinh viên học môn đó. Học trên giảng đường thì có máy chiếu, giáo viên chỉ viết khi nào cần phân tích vấn đề nào đó thôi, sinh viên trước khi lên giảng đường thì in slices từ Blackboard ra đọc trước rồi mang lên giảng đường, nên chỉ cần ghi chép thêm một chút vào chính các slices là đã có được kiến thức chính và rất tổng hợp của cả chương đó rồi.

Ghi chép ít đồng nghĩa với việc nghe giảng được nhiều nên cũng hiểu nhiều hơn, về nhà đọc thêm những cuốn giáo trình rất hay đó, làm bài tập và lên lớp tutorial (lớp học thường có khoảng 20 sinh viên). Ở lớp học này, sinh viên đã chuẩn bị sẵn bài tập và nếu có điều gì khó hiểu, thắc mắc có thể trao đổi cùng nhau dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Ngoài ra còn có lớp PASS là một lớp học phụ, không phải môn nào cũng có lớp PASS, chỉ những môn nào nhiều lý thuyết và khó đậu, lớp PASS giống như một lớp học nhóm thêm ngoài giờ nhưng không có giáo viên mà chỉ có 1 cựu học sinh đã học qua và đạt diểm số cao của môn đó làm người hướng dẫn, chia sẻ phương pháp học, kinh nghiệm làm bài, cấu trúc đề kiểm tra,v.v…các sinh viên đến lớp này cũng có thể tùy ý trao đổi ý kiến về vấn đề nào đó trong bộ môn đó.

Ngoài ra một số giáo viên chủ nhiệm môn còn đưa ra những giải thưởng nhỏ nhằm khuyến khích sinh viên tìm hiểu và vẫn dụng kiến thức ví dụ như môn kinh tế vĩ mô, đề bài là dựa trên những số liệu về lạm phát, thất nghiệp  v.v… hãy dự đoán mức tăng trưởng kinh tế của Úc vào quý II. Em nghĩ rằng đó là một câu hỏi rất thực tế, chỉ cần chờ đến khi các nhà phân tích thông báo đáp án là biết trong 1500 sinh viên ai là người đoạt giải. Tôi không rõ ở các trường đại học Việt Nam có được chọn ngày giờ học không, nhưng ở trường em thì có, chọn ngày chọn giờ để không tốn thời gian đi lại, có thời gian đi làm thêm, chọn được lớp có giáo viên dạy phù hợp với mình và quan trọng là quen thêm rất nhiều bạn mới, mở rộng được các mối quan hệ vì quen được cả những bạn học những ngành khác nữa.

Thêm một điều nữa, học đại học ở Úc chỉ có 3 năm, nhưng tòan bộ chương trình không có một cái gì là không giúp ích cho công việc sau này, có những môn không phải là môn chuyên ngành nhưng học xong mới thấy nó giúp mình hiểu hơn về các tổ chức cơ quan trong thực tế cấu trúc ra sao hoạt động thế nào v.v… Tuyệt nhiên không phải học những môn hoc không thiết thực làm mất đi thời gian vàng ngọc của tuổi trẻ. Trong khi đó học ở đây ngoài 16 đến 20 môn chuyên ngành bọn sinh viên có quyền chọn học thêm 4 đến 8 môn phụ. Thật tuyệt vời bởi mỗi sinh viên thường có chỉ hướng khác nhau, ví dụ như tôi và người bạn đều học chuyên ngành kế toán nhưng tôi còn ấp ủ được làm kinh doanh bởi vậy chọn bộ môn phụ là quản lý kinh doanh vừa và nhỏ, trong bộ môn này gồm 4 môn cơ bản về vấn đề này, còn người bạn lại thích học luật nên đã chọn bộ môn luật để học thêm. Cách chọn môn này cho thấy học đến năm thứ 2, đa số sinh viên đã có những định hướng tương lai của riêng mình rồi, cứ thế mà phấn đấu thôi.

Đó là những cái “được” từ việc du học tại Úc hay một số nước có nền giáo dục tiên tiến. Bây giờ cho phép tôi nêu thêm vài ý kiến. Nếu Việt Nam mình muốn cải cách phương pháp giảng dạy trong đại học nếu cần mua máy móc kỹ thuật như máy chiếu, và đào tạo giáo viên cách sử dụng thì chắc sẽ có người than là “tiền đâu đầu tiên”, tiền mà rót xuống thể nào cũng có tham nhũng, mà cần nhiều tiền lắm vì chưa thấy có nước nào nhỏ như nước ta mà lại nhiều trường đại học cao đẳng đến vậy.

Lại nói về “lãng phí chất xám” và “chảy máu chất xám”. Lãng phí chất xám vì một sinh viên thi được 22-23 điểm đỗ vào một trường đại học cũng tương đối đấy mà sao lại bắt họ học kiểu nhồi nhét đến mức thui chột cả đầu óc đi thế, không lãng phí sao được. Phải thông mình, tiếp thu nhanh nhạy và chăm chỉ lắm mới có thể đỗ đại học với mức điểm như vậy, đến lúc vào học lại biến những người như vậy, thành cỗ máy ghi chép và học thuộc lòng, thật lãng phí quá chừng. Còn chảy máu chất xám thì xin mọi người đừng trách sao lớp trẻ ngày nay đi du học mà không trở về, đất lành chim đậu thôi, thử hỏi nhà nào có chút điều kiện lại không muốn cho con mình đi học nước ngoài và có thể ở lại luôn vừa có điều kiện hành nghề tốt để tiến bộ nhanh vừa được  sống đầy đủ trong môi trường làm việc có nền nếp, có cơ sở hạ tầng tốt. Tất nhiên cha mẹ nào chẳng muốn cho con trở về nước để được gần gũi nhưng không nỡ để con họ phải làm việc trong điều kiện thiếu thốn phương tiện hành nghề chuyên môn, lại chật vật trong cuộc sống hằng ngày vì đồng lương thấp, không đủ trang trải những nhu cầu tối thiểu.

Tôi thấy rất thông cảm với những bạn sinh viên trong nước, học đại học mà phải dồn sức vào việc ghi chép bài giảng rồi học thuộc lòng thì còn tìm đâu ra sự hứng thú. Phải học qua bốn, năm năm, nhồi nhét vào đầu óc nhiều thứ vô bổ để nhận được tấm bằng, rồi lại phải chạy vạy, đút lót hàng năm trời mới xin được việc làm làng nhàng lương trên dưới 2 triệu đồng chẳng đủ ăn.

Hệ thống giáo dục đại học như vậy sẽ sản sinh ra những cử nhân kiểu “chép, thuộc” không có kiến thức thực tế, không kinh nghiệm làm việc lại cộng thêm với việc lương không đủ cho những chi phí sinh hoạt thường ngày trong khi giá cả ngày một leo thang. Bởi vậy các ông bố bà mẹ dù nghèo dù biết sẽ vất vả cũng cố gắng “đầu tư” cho tương lai con mình chỉ cốt mong cho nó sau này đủ ăn là được.

Thêm một điều nhỏ nữa thôi, bạn bè tôi Tết vừa qua về thăm nhà đứa nào cũng vui, vui chứ vì được thăm gia đình và được hưởng không khí Tết đặc trưng của quê nhà khác xa với không khí Tết ở nơi đất khách quê người.

Nhưng bên cạnh niềm vui cũng có nỗi buồn vì thấy cuộc sông nước mình còn chậm chạp, lãng phí thời gian vào những công việc không đáng có.

Chúng tôi đã quen với cuộc sông bên này thật khẩn trương, hối hả, hầu như mọi người đều thấy quý thời gian. Sáng ra đố tìm được chỗ nào có tới 2 người đứng túm tụm buôn chuyên đấy, họ chỉ mất 30 giây dừng lại chào hỏi rồi lại mải miết đi. Nhưng mà đừng tưởng họ chỉ biết làm mà chẳng biết chơi, lương của họ trừ đi các chi phí sinh hoạt bao giờ cũng dư ra một khoản để ăn chơi đấy, cho nên họ phải chơi chứ, nhưng làm ra làm, chơi ra chơi, vô cùng đúng giwof và vô cùng nghiêm túc.

Cái gì cũng có cái giá của nó, học ở nước ngoài rất khó, một người có ý thức thì sẽ luôn phấn đấu để được điểm cao, mà như thế thì bài vở ngập đầu, 3 năm trời thì lúc nào cũng như là mỗi năm đều thi vào đại học ở Việt Nam 1 lần vậy. Thức khuya dậy sớm, tranh thủ đi làm thêm cực nhọc với đồng lương rẻ mạt,v.v… để đổi lấy cuộc sống ấm no sau này chứ ai lại mong muôn mình tiếp tục vất vả đâu.

Có giải pháp nào không cho những vấn đề nêu trên? Nếu như bài viết này của tôi một ngày nào đó được Diễn đàn Dân trí đưa lên mạng để cho độc giả đọc tham gia ý kiến  thì tôi rất phấn khởi vì việc làm của mình đã không vô ích. Tôi xin bỏ ngỏ phần giải pháp để các độc giả điền thêm vào. Độc giả là dân chúng, có những em học sinh cấp 3 đang đứng trước ngã rẽ cuộc đời không biết nên chọn trường đại học nào, nên đi du học hay không, có những bạn sinh viên đang lo lắng vì sắp tốt nghiệp mà con đường sự nghiệp thì mù mờ quá, còn những sinh viên du học đang băn khoăn có nên về nước để làm việc không và những phụ huynh làm việc quần quật tiết kiệm từng đồng cho con đi du học v.v… Họ đều là “người trong cuộc” nên ít nhiều sẽ có ý kiến, giá như có một tổ chức nào đó đứng ra trưng cầu dân ý, nghe những phương pháp cải cách mà nhân dân mong muốn thì tốt biết bao.

Thai Ha Hoang
hoangthaiha90@gmail.com

LTS Dân trí – Toàn cầu hóa ngày nay đã trở thành một xu thế tất yếu, cho nên giáo dục nói chung, nhất là giáo dục đại học nếu không muốn trở thành lạc lõng và lạc hậu thì không thể “đứng một mình một chợ”.

Bài viết trên đây của một sinh viên đang du học tại Úc cho thấy sự so sánh khá rõ nét giữa đại học VN với ĐH Úc cũng như ĐH các nước tiên tiến nói chung. Họ đào tạo ĐH chỉ có 3 năm, VN dào tạo 4-5 năm, nhưng chất lượng sinh viên tốt nghiệp lại thua xa họ. Nguyên nhân chính là do chương trình học lạc hậu, không đáp ứng đúng nhu cầu thực tế; cách thức đào tạo theo lối “học vẹt” và thiếu những phương tiện dạy và học. Cách đào tạo này dẫn tới tình trạng lãng phí thời gian đào tạo, nhất là lãng phí chất xám ngay trong quá trình ngồi trên ghế nhà trường và khó tìm được việc làm sau khi ra trường.

Những mặt yếu kém đó của nền giáo dục ĐH VN cần được khắc phục kịp thời nếu chúng ta không muốn chậm chân bước lên chuyến tầu siêu tốc đưa lòai người tiến nhanh vào kỷ nguyên văn minh trí tuệ.

//

March 13, 2010

Vài phân tích về nghiên cứu khoa học ở Việt Nam- NVT

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:59 am
Tags:

Thursday, March 11, 2010


Trong bài này tôi phân tích số lượng và chất lượng của các ấn phẩm khoa học VN đăng trên các tập san khoa học quốc tế. Tôi soạn này này cũng khá lâu (hơn 1 năm), rồi bẵng đi một thời gian do bận bịu công việc nên tôi … quên. Nay tôi đăng ở đây để những ai quan tâm có thể tham khảo.

===

Trên bình diện quốc gia, hai chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng suất khoa học của một nước là số lượng bài báo khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journals), và số lần trích dẫn (citations) của những bài báo khoa học. Số lượng bài báo phản ảnh “sản lượng” nghiên cứu khoa học và mức độ đóng góp vào tri thức toàn cầu của một nước. Đánh giá chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học rất khó, vì cộng đồng khoa học vẫn chưa nhất trí một chuẩn mực thống nhất cho tất cả các lĩnh vực nghiên cứu. Tuy nhiên, hai chỉ số thường được sử dụng để ước định chất lượng của một công trình nghiên cứu khoa học là hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor), và số lần trích dẫn (citation index). Theo định nghĩa được công nhận, hệ số ảnh hưởng là số lần trích dẫn hay tham khảo trung bình các bài báo mà tạp chí đã công bố hai năm trước [1]. Do đó, những công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao cũng có thể đồng nghĩa với chất lượng cao của công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tạp chí cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số tác dụng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học).

Nhưng hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tạp chí chứ không hẳn phản ảnh chất lượng của một bài báo cụ thể. Vì thế, một cách đánh giá chất lượng khác công bằng hơn là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo mà nhà khoa học đã công bố. Có thể nói ví von rằng số lần trích dẫn là âm vang của một công trình nghiên cứu. Một công trình nghiên cứu có chất lượng có khả năng gây ảnh hưởng trong chuyên ngành, và được nhiều đồng nghiệp trên thế giới trích dẫn. Do đó, chỉ số trích dẫn phản ảnh khá chính xác chất lượng một công trình nghiên cứu khoa học.

Chỉ số ảnh hưởng và chỉ số trích dẫn có thật sự phản ảnh chất lượng khoa học? Câu trả lời ngắn là “có”. Một nghiên cứu trong thập niên 1970s về tần số trích dẫn các nghiên cứu công bố trước khi các nhà khoa học được trao giải Nobel cho thấy tính trung bình, số lần trích dẫn là 62 (so với tần số trung bình của tất cả các nhà khoa học là 6 lần). Do đó, dù có vài biệt lệ và khiếm khuyết, số lần trích dẫn và hệ số ảnh hưởng của tạp chí phản ảnh chất lượng nghiên cứu.

Liên quan đến Việt Nam, theo chúng tôi biết vẫn chưa có một phân tích về chất lượng nghiên cứu khoa học qua số lần trích dẫn một cách chi tiết và so sánh với các nước khác trong vùng. Vì thế, chúng tôi tiến hành một phân tích về chất lượng các báo cáo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế. Hai câu hỏi mà chúng tôi muốn tìm câu trả lời là: thứ nhất, chất lượng nghiên cứu khoa học đang ở vị trí nào; và thứ hai, có sự khác biệt gì giữa chất lượng nghiên cứu khoa học giữa các bộ môn và giữa các công trình “nội lực” và hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Hi vọng qua kết quả trả lời hai câu hỏi trên, các nhà chức trách có thể tìm cách để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta.

Trong bài viết ngắn này, chúng tôi sử dụng hệ thống “Web of Science” của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information) để thu thập tần số trích dẫn cho từng bài báo từ Việt Nam được công bố trong thời gian 2000-2001. Chúng tôi chọn thời gian này vì hai lí do chính : (a) một bài báo khi đã công bố đòi hỏi thời gian để cộng đồng khoa học thẩm định và tham khảo, và qua kinh nghiệm, chúng tôi chọn thời gian 5 năm sau công bố để tính số lần trích dẫn vì thời gian 5 năm có thể nói là “đủ” để một công trình nghiên cứu có khả năng gây tác động ; và (b) số lượng bài báo hàng năm từ Việt Nam còn thấp (dao động khoảng 330 đến 350 bài), cho nên nếu làm phân tích số bài báo trong vòng một năm e rằng không đủ số liệu để phân tích theo chuyên ngành, và vì thế chúng tôi quyết định chọn thời gian 2 năm để tăng số lượng bài báo và qua đó tăng độ tin cậy thống kê của các ước số [2].

“Sản lượng” nghiên cứu khoa học

Trước khi trả lời hai câu hỏi trên, chúng tôi điểm qua sản lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và so sánh với các nước trong vùng. Để làm việc này, chúng tôi mở rộng thời gian tham khảo đến 10 năm, tính từ 1996 đến 2005. Trong thời gian 10 năm (1996–2005), có 3.456 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế xuất phát từ Việt Nam. Tính trung bình, con số sản lượng khoa học của chúng tôi cũng phù hợp với một phân tích trước đây của giáo sư Phạm Duy Hiển [3].

Con số sản lượng khoa học từ Việt Nam, khi so sánh với các nước trong vùng, cho thấy công suất khoa học ở nước ta thuộc vào hàng thấp nhất: chỉ bằng khoảng 1/5 số bài báo từ Thái Lan (n = 14.594), 1/3 Mã Lai (n = 9742), 1/14 Singapore (n = 45.633), và thấp hơn Nam Dương (n = 4.389) và Phi Luật Tân (n = 3901).


Về lĩnh vực nghiên cứu, Bảng 1 cho thấy một số xu hướng đáng chú ý giữa các nước. Chẳng hạn như Thái Lan khá mạnh về lĩnh vực y sinh học (số bài báo trong lĩnh vực này chiếm gần 43% tổng số bài báo khoa học từ Thái Lan), trong khi đó Singapore thì mạnh về các lĩnh vực kĩ thuật (chiếm 40% tổng số bài báo khoa học). Phi Luật Tân là nước có nhiều bài báo về nông nghiệp (chiếm gần 29% tổng số bài báo khoa học), tức gần gấp hai hay ba lần Việt Nam, Nam Dương, Mã Lai hay Thái Lan.

Số lượng bài báo khoa học liên quan đến ngành toán và vật lí từ Việt Nam chiếm gần một phần tư tổng số bài báo khoa học, nhưng ở các nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân con số này chỉ dao động từ 0,5% đến 4%. Ngay cả ở Singapore, các bài báo toán học và vật lí học cộng lại chỉ khoảng 11%, chưa bằng tỉ lệ của một ngành toán ở Việt Nam. Các kết quả này cho thấy ngành toán và vật lí là hai ngành “mạnh” ở nước ta. Tuy nhiên, khi so sánh với các lĩnh vực khác trong nước thì số lượng bài báo từ ngành y sinh học chiếm đến 24% (tức gấp hai lần số bài về toán hay vật lí) tổng số bài báo khoa học.

Mã Lai tuy rất khiêm tốn về toán, nhưng tỉ lệ bài báo liên quan đến ngành kĩ thuật và hóa học thì cao gần gấp hai tỉ lệ của Việt Nam và các nước trong vùng. Điều đáng ngạc nhiên là công nghệ sinh học thuần túy còn rất khiêm tốn ở trong vùng, với số lượng bài báo khoa học chỉ dao động trong khoảng 1-4%.

Nội lực và hợp tác. Một điều đáng quan tâm hơn là phần lớn các nghiên cứu khoa học từ Việt Nam còn phụ thuộc vào các “ngoại lực” quá nhiều. Theo một phân tích trước đây của giáo sư Phạm Duy Hiển [2], có đến 75% các công trình khoa học từ Việt Nam do đứng tên chung hoặc hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài.

Biểu đồ 1. Phần trăm bài báo hoàn toàn do nội lực. Ghi chú: YS=y sinh học, KT=kĩ thuật, NN=nông nghiệp, VL=vật liệu, MT=môi trường, KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã hội.

Trong phân tích này, chúng tôi ghi nhận khoảng 20% các bài báo công bố trong thời gian 2000-2001 là do nội lực (tức không hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài). Tuy nhiên tỉ lệ nội lực dao động rất lớn giữa các ngành (Biểu đồ 1). Chẳng hạn như trong ngành y sinh học, một ngành tương đối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo được công bố trên các tập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng các ngành có tỉ lệ nội lực cao là toán (66%), kĩ thuật (~40%) và kinh tế học (41%). Riêng 11 bài báo liên quan đến ngành công nghệ sinh học, 100% là do hợp tác với nước ngoài. Chúng tôi chưa có dữ liệu về các công trình nội lực và hợp tác cho các nước trong vùng, nên chưa thể so sánh với nước ta.

Chất lượng nghiên cứu khoa học

So sánh chỉ số trích dẫn với các nước trong vùng. Trong thời gian 2000-2001, có 675 bài báo khoa học từ Việt Nam được công bố trên các tập san quốc tế. Tổng số lần trích dẫn trong thời gian 2001 đến 2006 là 6576 lần ; do đó, chỉ số trích dẫn trung bình là 9,74 lần cho mỗi bài báo. So sánh với các nước trong vùng cho thấy chỉ số trích dẫn các bài báo Việt Nam cao nhất so với Thái Lan (9,09), Singapore (9,26), Nam Dương (9,47) và Phi Luật Tân (9,33) (Bảng 2).

Số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này, nhưng theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn hay tham khảo sau 5 năm công bố [4]. Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là “có ảnh hưởng”. Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.

Nếu tính theo số lần trích dẫn trên 5 lần trong vòng 5 năm thì có thể nói rằng chất lượng các nghiên cứu từ Việt Nam cũng có phần khả quan. Tính trung bình, khoảng 42% các bài báo từ Việt Nam được trích dẫn trên 5 lần, tức là cao hơn số trung bình trên thế giới. Các ngành khoa học Việt Nam có trích dẫn cao thường là các ngành khoa học thực nghiệm như y sinh học, hóa học, nông nghiệp, môi trường và công nghệ sinh học. Riêng hai ngành toán và kĩ thuật số lần trích dẫn không cao và có thể chẳng có ảnh hưởng gì lớn trên thế giới. Điều đáng quan tâm là 41% các bài báo về kĩ thuật từ Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố.

Một cách khác để gián tiếp đánh giá chất lượng là xem xét tỉ lệ các bài báo chưa bao giờ được trích dẫn. Có khoảng 1/5 các bài báo khoa học từ Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố. Đây cũng là tình trạng chung ở các nước trong vùng, với tỉ lệ chưa bao giờ trích dẫn (trong vòng 5 năm) được ghi nhận tại Thái Lan (15%), Mã Lai (19%), Nam Dương (19%), Phi Luật Tân (13%), và Singapore (17%).

Ở nước ta, tỉ lệ bài báo chưa bao giờ trích dẫn dao động giữa các ngành khoa học. Chẳng hạn như ngành y sinh học có tỉ lệ không trích dẫn thấp nhất (8,5%). Ngược lại khoảng 41% các bài báo về kĩ thuật (kể cả cơ học) từ Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố. Các ngành khác có tỉ lệ không trích dẫn khá cao là vật lí (28%), khoa học xã hội (27%), công nghệ sinh học (27%), vật liệu (23%) và toán học (20%).

Một cách so sánh có ý nghĩa hơn là ước tính chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index hay RCI) [5], vì chỉ số này phản ảnh một phần chất lượng nghiên cứu khoa học của một nước và mức độ ảnh hưởng trên thế giới. Tính theo chỉ số này, chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học Việt Nam thuộc vào hàng cao nhất trong vùng, với RCI = 0,59. Mã Lai là nước tuy có nhiều bài báo khoa học hơn nước ta, nhưng số lần trích dẫn không cao và cũng chẳng gây ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế, do đó chỉ số RCI chỉ 0,39. Ngay cả các nước khác có sản lượng khoa học cao như Singapore và Thái Lan cũng có hệ số RCI thấp hơn Việt Nam. Sở dĩ có kết quả này là vì trong năm 2000-2001, có hai công trình y sinh học từ Việt Nam với hơn 200 lần trích dẫn, và làm tăng số lần trích dẫn trung bình cho nước ta. Tuy nhiên, nếu chúng tôi loại bỏ hai bài báo này ra khỏi phương trình tính toán thì hệ số RCI của Việt Nam vẫn thuộc vào hạng cao nhất trong vùng.

Một chỉ số khác có người cho rằng khách quan hơn là chỉ số h [6]. Chỉ số h, nói một cách ngắn gọn, phản ảnh số bài báo có số lần trích dẫn cao. Trong số các bài báo khoa học từ Việt Nam công bố trong thời gian 2000-2001, có 33 bài được trích dẫn ít nhất là 33 lần trong 5 năm sau đó (h = 33). Vì số lượng bài báo của Việt Nam thấp, cho nên chỉ số h cũng thấp so với các nước trong vùng : Singapore (h = 75), Thái Lan (h = 50), Mã Lai (h = 37), Nam Dương (h = 36), và Phi Luật Tân (h = 32). Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chỉ số này chưa phản ảnh khách quan tình trạng khoa học của một nước hay một cá nhân (nhất là các nhà khoa học trẻ) bởi vì nó phụ thuộc vào con số bài báo khoa học.

Chất lượng của công trình hợp tác và nội lực. Tính trung bình, các công trình nội lực có chất lượng thấp hơn các công trình hợp tác với nước ngoài. Mỗi công trình nội lực được trích dẫn trung bình là 3,2 lần, trong khi đó công trình hợp tác có chỉ số trích dẫn trung bình là 11,6 lần. Xu hướng này thể hiện gần như trong tất cả các ngành khoa học (Biểu đồ 2).

Biểu đồ 2. Số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo công bố trong thời gian 2000-2001 phân tích theo hợp tác (ô đặc) và nội lực (ô chéo). Ghi chú: YS=y sinh học, KT=kĩ thuật, NN=nông nghiệp, VL=vật liệu, MT=môi trường, KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã hội.

Ngành y sinh học có số lần trích dẫn cao nhất, kế đến là ngành vật lí, hóa học và môi trường học. Nhưng phân tích theo nội lực và hợp tác cho chúng ta một “bức tranh” hoàn toàn khác: các công trình y học được trích dẫn nhiều là những công trình hợp tác với nước ngoài (chỉ số trích dẫn trung bình là 16) chứ không phải công trình nội lực (chỉ số trích dẫn chỉ 3,6 lần). Sự chênh lệch thiên về các công trình hợp tác như thế cũng thấy trong các ngành như vật lí (12 so với 4,5), hóa học (10,8 so với 3,4), và kĩ thuật (9,3 so với 1,5).

Bảng 3 dưới đây trình bày tỉ lệ bài báo chưa bao giờ được trích dẫn phân chia theo các công trình nội lực và hợp tác. Nói chung, như có thể suy luận được qua Biểu đồ 2, các công trình nội lực thường có tỉ lệ chưa trích dẫn cao hơn các công trình hợp tác. Trong số 38 bài báo từ Việt Nam được trích dẫn trên 30 lần trong thời gian 2001-2006, không một công trình bào là do nội lực. Bài báo nội lực có số lần trích dẫn cao nhất (26 lần) là công trình của tiến sĩ Phạm Đức Chính (Viện cơ học) đăng trên Physical Review B năm 2000). Công trình hợp tác có số lần trích dẫn cao nhất (348 lần) là công trình giải mã gien Salmonella enteria serova (nhóm Đại học Oxford thực hiện) đăng trên tập san Nature năm 2001. Trong các ngành như nông nghiệp, vật liệu, kĩ thuật, khoảng 40-61% các bài báo chưa được trích dẫn lần nào (so với 16-28% các công trình hợp tác) (Bảng 3). Chỉ số RCI của 145 công trình hoàn toàn do nội lực của Việt Nam là 0,45.

Vài nhận xét

Có thể rút ra những nhận xét gì qua các phân tích và so sánh trên đây ? Sản lượng khoa học của nước ta vẫn còn rất khiêm tốn so với các nước trong vùng (chứ chưa nói đến thế giới). Hiện nay, số lượng bài báo khoa học từ Việt Nam vẫn cón thấp nhất so với các nước trong vùng. Nếu (xin nhấn mạnh “nếu”) mức độ tăng trưởng số bài báo khoa học của Việt Nam là 41 bài / năm (như ước tính từ phân tích này) và theo hàm số đường thẳng, và chúng ta bắt đầu với 202 bài năm 1996, thì phải cần đến 60 năm sau chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo của Thái Lan vào năm 2005!

Tuy nhiên, so với các nước trong vùng, chất lượng nghiên cứu khoa học từ nước ta không thấp, nếu không muốn nói là cao hơn. Nếu dựa vào chỉ số RCI để đánh giá chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học, Việt Nam có chỉ số RCI (0,59) cao nhất trong vùng. Ngay cả Trung Quốc hàng năm “sản xuất” trên 20.000 bài báo khoa học trên các tập san trong danh bạ ISI, nhưng chỉ số RCI chỉ 0,27 [7].

Tuy chỉ số RCI của Việt Nam cao hơn các nước trong vùng, nhưng vẫn còn quá thấp so với trung bình trên thế giới. Thật vậy, chỉ số RCI = 0,59 của Việt Nam cho biết chất lượng và tầm ảnh hưởng của các nghiên cứu khoa học Việt Nam thấp hơn mức độ trung bình trên thế giới khoảng 40%. Ở các nước có nền khoa học tiên tiến như Mĩ và Tây phương, chỉ số RCI thường cao hơn 1 (cao hơn trung bình thế giới) (Bảng 4 [7]).

Khi tính bằng số lần trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo và mỗi năm, chỉ số trích dẫn các bài báo từ Việt Nam vẫn khá cao so với ngay cả các nước tiên tiến trên thế giới (Biểu đồ 3). Thật vậy, chỉ số trích dẫn trung bình các công trình khoa học từ Việt Nam cao gấp 2 lần so với Trung Quốc, Đài Loan, và các nước tiên tiến, và tương đương với các công trình từ Hà Lan, Thụy Sĩ.

Biểu đồ 3. Số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo và mỗi năm của một số nước trên thế giới.

Tại sao số lượng bài báo khoa học từ nước ta thấp hơn, nhưng chỉ số RCI cao hơn, các nước trong vùng Đông Nam Á và vài nơi trên thế giới? Chúng tôi nghĩ đến hai giả thuyết để giải thích cho tình trạng vừa nêu. Thứ nhất, các nước như Singapore và Thái Lan có một số tập san nội địa xuất bản bằng tiếng Anh được công nhận và nằm trong danh bạ của ISI, nhưng các tập san này thường công bố những công trình nghiên cứu có chất lượng thấp (hiểu theo nghĩa ít người quan tâm và ít trích dẫn). Có khả năng là các nhà khoa học địa phương không thành công đăng bài ở các tập san quốc tế họ đăng ở các tập san địa phương, và do đó chỉ số trích dẫn cũng như RCI của họ không cao. Trong khi đó, các nhà khoa học Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là công bố nghiên cứu của họ trên các tập san bên Mĩ hay Âu châu, thường có hệ số ảnh hưởng (impact factor) cao hơn các tập san Singapore hay Thái Lan, nên hệ quả là chỉ số RCI của Việt Nam khá cao. Thứ hai, các nghiên cứu từ Việt Nam phần lớn dựa vào hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài (như chúng tôi vừa trình bày) và các tác giả này có xu hướng công bố trên các tập san quốc tế có uy tín cao, và do đó chỉ số trích dẫn các bài báo từ Việt Nam cũng có thể tăng cao. Điều này có thể đúng vì những nghiên cứu về các bệnh nhiệt đới từ Việt Nam (và chỉ có thể thực hiện ở các nước như Việt Nam) rất được đồng nghiệp thế giới chú ý, và qua đó gai tăng hệ số ảnh hưởng trung bình của các công trình nghiên cứu từ Việt Nam.

Chúng tôi nghĩ cả hai giả thuyết trên đây đều có cơ sở. Gần 80% các bài báo khoa học từ Việt Nam trong thời gian 2000-2001 là do hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài. (Con số này, tỉ lệ hợp tác với nước ngoài, ở Anh và Úc là khoảng 25%). Nhìn chung, các công trình hợp tác với nước ngoài có chất lượng tương đối cao hơn các công trình do nội lực. Có đến gần 1/3 (46 / 145) các công trình do nội lực chưa bao giờ được trích dẫn trong vòng 5 năm, trong khi đó con số này là 16% (83 / 530) cho các công trình hợp tác. Điều này cho thấy hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài có thể nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học.

Trong điều kiện thiếu thốn thiết bị nghiên cứu và thiếu các chuyên gia có trình độ cao, việc hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài cần được khuyến khích để qua đó có thể từng bước nâng cao trình độ và khả năng chuyên môn của các chuyên gia trong nước. Tuy nhiên, hợp tác thế nào để các đồng nghiệp trong nước không thiệt thòi, để tri thức vẫn thuộc về Việt Nam là vấn đề cần đặt ra. Kinh nghiệm từ các nước đang phát triển cho thấy tình trạng “khoa học nhảy dù” [8] mà trong đó các đồng nghiệp từ nước ngoài thường có xu hướng “dành công” cho mình dù công trình nghiên cứu được thực hiện ở nội địa và sử dụng chất liệu từ nước đang phát triển. Theo một nghiên cứu chưa đầy đủ cho thấy tính từ 1993 đến 1998, tập san British Medical Journal công bố 59 bài báo với sự hợp tác giữa các nhà khoa học các nước Tây phương và các nước đang phát triển; trong số này, 58% bài báo mà tác giả đứng đầu là các nhà khoa học Tây phương. Tỉ lệ khoa học nhảy dù ở tập san Lancet là 57% (trong số 82 bài báo). Trong thời gian trên, tập san Science công bố 6 bài báo hợp tác, và tất cả đều do các nhà khoa học Tây phương đứng tên tác giả đầu. Tập san có ảnh hưởng càng cao, tỉ lệ khoa học nhảy dù hay khoa học thuộc địa càng cao. Nói cách khác, các nhà khoa học Tây phương chỉ “tử tế” với các nhà khoa học địa phương chỉ khi nào các bài báo đăng trên các tập san có ảnh hưởng thấp, nhưng với các bài báo trên các tập san ảnh hưởng lớn thì họ dành quyền đứng tên tác giả đầu. Trong phân tích này, chúng tôi thấy trong số 17 công trình từ Việt Nam có số lần trích dẫn cao hơn 50 lần, tất cả đều do các tác giả nước ngoài đứng tên hay chủ trì.

Tại sao các công trình nghiên cứu do nội lực có chất lượng thấp (hiểu theo nghĩa chỉ số trích dẫn thấp) hơn các công trình nghiên cứu do hợp tác ? Những công trình nghiên cứu có chỉ số trích dẫn thấp thường do một trong (hay tổng hợp) hai yếu tố : thiếu cái mới trong ý tưởng, phương pháp nghiên cứu hạn chế, và thiếu kĩ năng trong hoạt động khoa học. Chúng tôi sẽ giải thích các ý kiến đó như sau :

Ý tưởng thiếu cái mới dẫn đến những công trình nghiên cứu lặp lại những gì người khác đã làm, và do đó không có cơ hội được công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng cao. Nguyên nhân chính của thiếu cái mới trong ý tưởng là do thiếu thông tin và trình độ của nhà khoa học. Ở Việt Nam, tình trạng thiếu thông tin cực kì trầm trọng. Nhiều thư viện trường đại học chẳng khác gì một thư viện trung học ở nước ngoài ; chẳng những thế, không có đủ sách, và ngay cả có sách thì phần lớn đều lạc hậu. Thư viện trường cũng thiếu các tập san khoa học nghiêm trọng, dẫn đến vấn đề thiếu cập nhật hóa thông tin, và nhà khoa học chẳng khác gì người mù đi trong đêm tối, vì không biết được những gì đã, đang hay sắp xảy ra trong lĩnh vực chuyên môn. Một giảng viên trẻ bức xúc nói: “Những người muốn làm nghiên cứu như tôi phải bỏ tiền ra mua. Tôi chi một số tiền tương đối lớn để làm thành viên của các tổ chức cung cấp tài liệu, để được đọc các tài liệu. Đáng lẽ những việc như vậy trường có thể hỗ trợ bằng cách mua.” Trong bối cảnh thiếu thốn thông tin như mô tả trên đây, thật là không công bằng nếu ta đòi hỏi các nhà khoa học trong nước phải có những công trình nghiên cứu chất lượng cao, nghiên cứu tiền phong. Với tình trạng thiếu thông tin như thế, làm sao chúng ta có thể kì vọng các nhà khoa học nước ta sánh vai cùng các đồng nghiệp ở các trường lớn trên thế giới. Ngoài ra, nước ta thiếu các chuyên gia đầu ngành có tầm cỡ quốc tế, cho nên thiếu những công trình nghiên cứu mang tầm vóc quốc tế, mà chỉ loay hoay giải quyết các vấn đề đơn giản, địa phương.

Phương pháp nghiên cứu, kể cả thiết bị, còn hạn chế và lạc hậu. Tình trạng này bắt buộc các nhà khoa học ta chỉ làm những nghiên cứu đơn giản, không thể đột phá, và cũng không có giá trị khoa học cao. Thật vậy, khi chúng tôi xem qua các công trình nghiên cứu y sinh học, một lĩnh vực mà chúng tôi quen thuộc, phần lớn các nghiên cứu y học nước ta chỉ tập trung vào các vấn đề y tế công cộng, bệnh truyền nhiễm và y học nhiệt đới; chỉ có 7% là các công trình liên quan đến sinh học phân tử. Trong 10 lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu không có các nghiên cứu về gien và di truyền học hay nghiên cứu về nội khoa và y học lâm sàng. Tuy nhiên, tình trạng này cũng là tình trạng chung ở các nước như Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Riêng Singapore thì gần như ở một “đẳng cấp” khác, vì phần lớn nghiên cứu ở đây tập trung vào các công trình mang tính “công nghệ cao” như sinh học phân tử, sinh hóa, công nghệ sinh học, di truyền học, thần kinh học, ung thư học và y học lâm sàng.

Một công trình nghiên cứu khi đã xuất bản hay công bố cũng cần phải được “vận động” để quảng bá và qua đó tăng chỉ số trích dẫn. Trong hoạt động khoa học, không thể kì vọng rằng khi đã công bố thì có người trích dẫn theo suy nghĩ “hữu xạ tự nhiên hương”, mà phải có những kĩ năng “bếp núc” để giới thiệu công trình của mình trong các diễn đàn khoa học quốc tế. Cách giới thiệu có thể là qua việc viết các bài tổng quan, xã luận, bình duyệt, thậm chí qua thảo luận trong các hội nghị. Tuy nhiên, đây là một kĩ năng mà chúng tôi thấy các đồng nghiệp trong nước chưa quen thuộc hay chưa quan tâm đúng mức.

Nếu các phân tích trên đây gợi lên một số ý cho chính sách khoa học, chúng tôi nghĩ đến một số ý sau đây:

Thứ nhất, cần phải hướng đến việc công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế (sẽ gọi tắt là “công bố quốc tế”) hay đăng kí bằng sáng chế (patent) như là một tiêu chuẩn để đề bạt vào các chức danh khoa học. Ở các đại học Tây phương và ngay cả đại học của các nước trong vùng, số lượng và chất lượng bài báo khoa học là tiêu chuẩn số một trong việc xét đề bạt lên chức giảng sư hay giáo sư [9]. Đối với cá nhân nhà khoa học, báo cáo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế là một “đơn vị tiền tệ”, là viên gạch xây dựng sự nghiệp khoa bảng. Chính vì thế mà trong các đại học tồn tại một văn hóa gọi là “publish or perish” (xuất bản hay là biến mất). Ngay tại viện của chúng tôi đang công tác, nếu trong vòng 1 hay 2 năm mà nhà khoa học hay nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ không có một bài báo nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế, thì sự nghiệp của họ xem như “có vấn đề”.

Còn ở nước ta, trong thời gian nhiều năm qua, tiêu chuẩn công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế vẫn chưa được công nhận đúng mức. Hệ quả là đến nay chúng ta có một lực lượng giáo sư, kể cả một số “giáo sư hàng đầu”, chưa có công trình nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế. Như một giáo sư nhận xét gần đây : “Chín vị giáo sư tiến sĩ khoa học là thành viên của Hội đồng ngành Cơ học VN không có công bố quốc tế ISI trong 10 năm vừa qua.” [10].

Một điều đáng buồn ở nước ta là những nhà khoa học có công trình đăng trên các tập san quốc tế nhiều khi phải bị thiệt thòi so với các đồng nghiệp chưa bao giờ có bài báo đăng trên các tập san khoa học. Chẳng hạn như trường hợp một tiến sĩ ở Qui Nhơn với hơn 10 công trình đăng trên các tập san uy tín ở Âu châu và Mĩ, với thành tích như thế anh ấy đáng lẽ là một phó giáo sư ở nước ngoài, nhưng khi xét đề bạt giảng viên ở trong nước thì anh ta lại bị đánh giá là chưa đủ điểm !

Thứ hai, cần phải xem công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế là một chỉ tiêu để đánh giá (hay “nghiệm thu”?) các công trình nghiên cứu do Nhà nước tài trợ. Ở các nước tiên tiến, công bố các bài báo trên các tập san quốc tế chính là tiêu chuẩn số 1 để các cơ quan tài trợ xem xét để cung cấp kinh phí nghiên cứu. Nhưng hiện nay, ở nước ta, các công trình nghiên cứu sau khi hoàn tất thường được nghiệm thu một cách khá hình thức. Có rất nhiều nghiên cứu với ngân sách hàng tỉ đồng được nghiệm thu và đánh giá là “đạt” hay “tốt”, nhưng trong thực tế thì chưa có một bài báo nào trên trường quốc tế, và do đó không xứng với số tiền đầu tư do người dân đóng góp. Có nhiều người nhầm lẫn (một cách khá khôi hài) rằng các bài “abstract” (bản tóm lược khoảng 250 đến 500 chữ) mà họ trình bày trong các hội nghị quốc tế là “bài báo quốc tế” ! Đó là một sự lãng phí khó chấp nhận được.

Có người viện dẫn lí do rằng chỉ có khoa học cơ bản mới công bố quốc tế, còn họ làm nghiên cứu ứng dụng nên không cần. Thật mà khó chấp nhận cách giải trình này. Ngoài lí do mang liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia, không có lí do gì để biện minh rằng công bố quốc tế chỉ áp dụng cho nghiên cứu khoa học cơ bản hay cho các nước đã phát triển. Thật ra, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu rất xứng đáng được chia sẻ với cộng đồng khoa học thế giới, nhưng rất tiếc, cho đến nay các công trình đó vẫn loanh quanh trong các báo cáo nghiệm thu, và hệ quả là làm thiệt thòi cho khoa học nước nhà.

Thứ ba, cần phải khuyến khích các nghiên cứu sinh tiến sĩ công bố ít nhất một bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án. Đây cũng chẳng phải là một đòi hỏi gì cao siêu hay khắt khe, mà chỉ là một tiêu chuẩn, một yêu cầu phổ biến ở các đại học trong vùng và phương Tây. Dự thảo về đào tạo tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đây cũng có qui định một nghiên cứu sinh tiến sĩ nên có công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên các tập san quốc tế (có bình duyệt nghiêm chỉnh) trước khi bảo về luận án. Nếu tiêu chuẩn hay qui định này được thực hiện tốt, có thể kì vọng rằng sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế sẽ được nâng cao trong vài năm tới.

Một vấn đề khác tuy nhỏ, nhưng có ý nghĩa quốc gia, cần phải đề cập đến ở đây là một số (nếu không muốn nói là nhiều) nghiên cứu sinh từ Việt Nam sang nghiên cứu hay làm luận án ở nước ngoài và khi công bố ấn phẩm khoa học thường không ghi địa chỉ từ Việt Nam, mà chỉ ghi địa chỉ nơi họ đang theo học. Tình trạng này chẳng những không hợp lí (vì cá nhân nghiên cứu sinh xuất phát từ Việt Nam) mà còn làm ảnh hưởng đến năng suất khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế. Vấn đề này thoạt đầu mới nghe qua như là chuyện nhỏ, nhưng các đại học Tây phương xem là chuyện quan trọng đến nổi lãnh đạo trường có hẳn những văn bản và điều lệ chính thức yêu cầu các nhà nghiên cứu phải ghi rõ địa chỉ đại học hay viện nghiên cứu mà họ đang công tác hay đang giữ những chức vụ kiêm nhiệm. Do đó, các đại học Việt Nam cần phải khuyến khích, hay nói đúng hơn là yêu cầu, các nghiên cứu sinh của trường ở nước ngoài khi công bố bài báo trên các tập san quốc tế, ngoài địa chỉ của trường họ đang theo học, cần phải đề tên trường Việt Nam vào phần địa chỉ tác giả của bài báo.

Thứ tư, cần có chính sách đãi ngộ và tưởng thưởng các nhà khoa học trẻ có công trình công bố quốc tế. Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nghiên cứu y sinh học tầm quốc tế, các đại học và trung tâm nghiên cứu cần phải tuyển dụng các chuyên gia, giáo sư, hay giảng viên trẻ có tài năng thật sự, và tạo điều kiện cho họ (như thời gian và phương tiện nghiên cứu) và trao cho họ quyền tự do theo đuổi những ý tưởng nghiên cứu mà họ thích và có khả năng thực hiện. Cần phải có những hình thức khuyến khích tài chính cho các nhà khoa học có công trình trên các tập san quốc tế. Ở một số đại học tại các nước như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, v.v… người ta thưởng khá nhiều tiền (lên đến hàng ngàn USD) cho các tác giả có công trình công bố trên các tập san quốc tế có uy tín cao. Ngay cả tại Úc, một số trường sẵn sàng tặng hàng ngàn đô-la cho các nhà nghiên cứu có công trình đăng trên các tập san với hệ số ảnh hưởng trên 10.

Thứ năm, cần phải khuyến khích các tập san khoa học Việt Nam vươn đến tầm quốc tế. Một trong những lí do mà Thái Lan và Singapore có nhiều bài báo khoa học hơn Việt Nam là hai nước này có các tập san khoa học, kể cả tập san y sinh học địa phương, được viết bằng tiếng Anh, có hệ thống bình duyệt và được ISI công nhận. Chẳng hạn như Thái Lan có tập san Journal of the Medical Association of Thailand (tập san y học của hội y học Thái Lan), tập san ScienceAsia, và Singapore có tập san Annals Academy of Medicine Singapore là diễn đàn của các bác sĩ và nhà khoa học địa phương. Vì các tập san này được ISI công nhận, cho nên các bài báo ở đây được tính trong hệ thống của PubMed. Ngược lại, ở nước ta, con số các tập san được quốc tế công nhận chỉ “đếm đầu ngón tay”, và hệ quả là con số bài báo công bố trên các tập san Việt Nam không hề được công nhận. Ở đây, chúng tôi chưa nói đến vấn đề chất lượng, nhưng chỉ bàn đến vấn đề chấn chỉnh các tập san sao cho phù hợp với qui trình làm việc của các tập san quốc tế.

Trong thời gian gần đây, kinh tế nước ta đã và đang phát triển nhanh chóng, nhưng hoạt động khoa học vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế. Thật ra, hoạt động khoa học Việt Nam cần một cuộc cải cách lớn. Nếu không, chúng ta sẽ tiếp tục tụt hậu và thua kém các nước trong vòng. Xin nhắc lại: nếu tốc độ hiện hành, chúng ta đã đi sau Thái Lan đến hơn nửa thế kỉ. Với Singapore, chúng tôi không dám so sánh trực tiếp vì e rằng sẽ mất ý nghĩa của thống kê. Trong khi chúng ta đang loay hoay bàn về những vấn đề to tát (như triết lí giáo dục) và đặt ra những chuẩn mực cứng nhắc và có phần không phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, thì các nước trong vùng đang phát triển nhanh. Đã đến lúc chúng ta cần phải mạnh dạn nhìn thật kĩ những thiếu sót, những bất cập, những hủ tục và “văn hóa khoa học” đang tồn tại trong hoạt động khoa học để xóa bỏ chúng trước khi đi tiến đến một cuộc cải cách lớn.

Chúng tôi muốn nhắc lại một phát biểu trước đây như là lời kết của bài viết ngắn này : Cần phải khẳng định một thực tế rằng, Việt Nam không thể cạnh tranh với các cường quốc khoa học như Mĩ, Nhật hay một cường quốc khoa học đang trên đường hình thành như Trung Quốc, nhưng điều mà chúng ta có thể làm được là đảm bảo chất lượng nghiên cứu khoa học ở những lĩnh vực thuộc vào thế mạnh để nâng cao vị thế khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Thiết nghĩ Nhà nước ngoài việc nâng cao hiệu suất đầu tư cho khoa học và công nghệ và cải cách hệ thống hoạt động nghiên cứu khoa học, cần phải bắt đầu phát triển các chuẩn mực cho các nhà khoa học, kể cả tiêu chuẩn giáo sư, sao cho phù phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và không quá xa rời thực tế ở nước ta.

NVT

Chú thích và tài liệu tham khảo:

[1] Garfield E. The impact factor [internet] Current Contents 1994 20;3-7 (cited 16 August 2002). Cách tính hệ số ảnh hưởng của ISI rất đơn giản, và có thể minh họa bằng một ví dụ cụ thể như sau: Chẳng hạn như trong 2 năm 1981 và 1982, Tập san Lancet công bố 470 bài báo khoa học gốc (original papers); trong năm 1983 có 10.011 bài báo khác trên các tất cả các tập san (kể cả Lancet) có tham khảo hay trích dẫn đến 470 bài báo đó; và hệ số ảnh hưởng là: 10.011 / 470 = 21,3. Nói cách khác, tính trung bình mỗi bài báo gốc trên tạp chí Lancet có khoảng 21 lần được tham khảo đến hay trích dẫn. Hệ số ảnh hưởng cũng không phải là một chỉ số hoàn hảo phản ảnh chất lượng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có chỉ số nào tốt hơn, cho nên giới khoa học vẫn phải sử dụng hệ số ảnh hưởng cho việc đề bạt giáo sư, tài trợ nghiên cứu, và đánh giá uy tín của một nhà khoa học. Ở Úc, khi ứng viên xin được đề bạt, ngoài danh sách bài báo khoa học, ứng viên còn phải cung cấp hệ số ảnh hưởng của tạp và số lần trích dẫn cho mỗi bài báo.

[2] Chúng tôi sử dụng cơ sở dữ liệu (database) của công ti Thomson Scientific Information (trước đây có tên là Institute of Scientific Information hay ISI). Cơ sở dữ liệu của ISI bao gồm SCI-Expanded, SSCI, và A&HCI. Công cụ để thu thập thông tin là phần mềm Web of Science thuộc hệ thống ISI Web of Knowledge v3.0, với từ khoá mã nước là “Vietnam” OR “Viet Nam”, “Indonesia”, “Malaysia”, “Philippines”, “Singapore”. “Thailand”. Trong phân tích này chúng tôi chỉ giới hạn các bài báo nguyên thủy (original contribution), không tính các bài tổng quan (review) và các bản tóm tắt (abstracts) hay bài báo trong hội nghị (conference papers). Ngôn ngữ là tiếng Anh. Thông tin từ tất cả các bài báo khoa học được thu thập từ 2000 đến 2001. Chúng tôi phân nhóm các bài báo khoa học vào 12 lĩnh vực nghiên cứu như sau: y sinh học (kể cả thú y, tâm lí học lâm sàng, dinh dưỡng học, di truyền, sinh hóa), toán học, vật lí học, kĩ thuật, nông nghiệp (kể cả thủy sản, thực phẩm, thực vật học), hóa học, khoa học vật liệu, khoa học môi trường, kinh tế học (kể cả quản lí kinh doanh, kế hoạch và phát triển), công nghệ sinh học, khoa học xã hội, và khoa học đa ngành. Sau khi thu thập thông tin liên quan đến bài báo (như tên tác giả, thể loại, tập san, năm xuất bản, số lần trích dẫn, v.v…) chúng tôi lưu trữ dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu và sử dụng ngôn ngữ thống kê (phần mềm) R để phân tích dữ liệu.

[3] Xem bài “Nhìn lại 10 năm công bố ấn phẩm khoa học Việt Nam: các nhà khoa học nghĩ gì qua những bài báo đăng trên tạp chí quốc tế?” của Phạm Duy Hiển, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 1 năm 2006, web: http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2033.

[4] Phelan TJ. A compendium of issues for citation analysis. Scientometrics 1999; 45:117-36. Theo một nghiên cứu khác, có đến 90% các bài báo khoa học công bố không bao giờ được trích dẫn hay tham khảo (xem L. I. Meho, The rise and rise of citation analysis, Physics World). Tuy nhiên, tôi nghĩ con số 90% này được tính cả những bản tóm tắt (abstract) trong các hội nghị và các conference papers. Do đó, con số 55% chính xác hơn.

[5] Chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index – RCI) phản ảnh mức độ ảnh hưởng trung bình của một nước. Gọi n_i là số bài báo xuất phát từ nước i, và c_i là số lần trích dẫn (citations) từ những bài báo đó. Gọi N là tổng số bài báo của tất cả các nước trên thế giới, C là tổng số trích dẫn của tất cả các bài báo trên thế giới. Chúng ta có thể ước tính tỉ số bài báo cho từng nước p_i (so với tổng số trên thế giới): p_i = n_i / N, và tỉ số lần trích dẫn cho từng nước q_i như sau: q_i / c_i / C. Chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index hay RCI) được ước tính như sau: RCI_i = p_i / q_i. Như có thể thấy qua công thức này, chỉ số RCI_i = 1 có nghĩa là chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học của nước đó tương đương với chất lượng trung bình trên thế giới ; nếu RCI_i cao hơn 1 hay RCI_i thấp hơn 1 có nghĩa là chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học nước đo cao hơn hay thấp hơn trung bình thế giới. Một nước có thể công bố nhiều bài báo khoa học (như Trung Quốc chẳng hạn), nhưng ít ai trích dẫn hay quan tâm, và do đó chỉ số RCI rất thấp (0,27).

[6] Chỉ số h do một nhà vật lí học đề nghị, và tài liệu tham khảo là: Hirsch, Jorge E., (2005), “An index to quantify an individual’s scientific research output,” Proc Natl Acad Sci USA 2005;102(46):16569-16572. Bài báo này có thể download hoàn toàn miễn phí từ địa chỉ sau đây: http://www.pnas.org/cgi/content/abstract/102/46/16569.

[7] May RM. The scientific wealth of nations. Science 1997; 275:793-796.

[8] Xem bài “Làm khoa học kiểu nhảy dù” của Nguyễn Văn Tuấn, Tia Sáng, số tháng 6 năm 2007.

[9] Trong ngành y khoa, để xét đề bạt giáo sư trong các đại học Tây phương, ngoài các tiêu chuẩn về giảng dạy, tài trợ nghiên cứu và phục vụ xã hội, một tiêu chuẩn quan trọng số 1 là số lượng và chất lượng bài báo khoa học của ứng viên. Theo một qui định gần như “bất thành văn”, muốn được đề bạt lên “assistant professor” (giáo sư dự khuyết) ứng viên phải có từ 3-5 bài báo khoa học; một associate professor (phó giáo sư) phải có từ 15 bài báo khoa học trở lên (trong số này 5 bài phải là tác giả đầu); và một professor (giáo sư) phải có từ 50 bài báo trở lên (và trong số này phải là tác giả đầu của 20 bài). Đây chỉ là những tiêu chuẩn rất chung chung và có thể nói là tối thiểu. Cố nhiên, các tiêu chuẩn này còn tùy thuộc vào trường đại học và chuyên môn, cho nên không ai có thể đưa ra một qui định chính xác được.

[10] Xem bài “Nhân và Quả” của giáo sư Phạm Lợi Vũ, Tia Sáng : http://www.tiasang.com.vn/news?id=2076

March 11, 2010

Phải xóa bỏ tâm lý chuộng bằng cấp

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:22 am
Tags:

(Thanh tra)- Năm nào cũng vậy, cứ đến mùa tuyển sinh, công tác phân luồng học sinh (HS) phổ thông lại được nhắc đến như là một trong những lý do chính dẫn đến hiện trạng “đìu hiu” của các trường nghề và trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) khi phần lớn HS đều đổ vào đăng ký thi đại học, cao đẳng (ĐH,CĐ). Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho thấy, mỗi năm cả nước có khoảng trên 700 ngàn HS tốt nghiệp THCS không vào được THPT và rớt tốt nghiệp THPT, nhưng chỉ có gần 10 ngàn HS trong tổng số này vào học TCCN. Vì sao dẫn đến hiện trạng trên và vì sao trường nghề vẫn chưa thu hút được HS?

Phân luồng không hiệu quả
Công bằng mà nói, hình thức và phương tiện hướng nghiệp hiện nay đã được cải tiến. Một số trường THPT trên địa bàn TP HCM không chỉ tổ chức cho HS gặp gỡ, giao lưu, tìm hiểu nghề nghiệp ở các lĩnh vực lao động khác nhau, mà còn tổ chức những buổi tham quan các xí nghiệp sản xuất, các Cty… Tuy nhiên, vẫn chưa hiệu quả. Những chuyến tham quan trong ngày, thậm chí chỉ giới hạn trong một buổi ở các trường ĐH,CĐ và TCCN, dạy nghề theo kiểu “đến hẹn lại lên”, thiếu tính sáng tạo, chưa thấm vào đâu so với nhu cầu tìm hiểu thông tin nghề nghiệp của HS. Rồi công tác tư vấn hướng nghiệp tại chỗ, trực tuyến… giúp HS ngày càng có nhiều cơ hội để tìm hiểu thông tin ngành nghề, nhưng không ít HS vẫn không thể chọn cho mình một ngành, nghề phù hợp. Bên cạnh đó, các yếu tố như: Cơ sở vật chất yếu kém; các cơ sở giáo dục không mấy mặn mà khi tuyển đối tượng tốt nghiệp THCS; chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục còn thấp, đầu ra cho HS ít… đã ảnh hưởng đến sự lựa chọn của HS và phụ huynh.
Hơn nữa, nhiều năm qua, công tác định hướng nghề, phân luồng HS vào các trường nghề, trường TCCN vẫn loay hoay với bài toán kết nối doanh nghiệp với nhà trường, nhà trường với HS và đào tạo theo nhu cầu xã hội. Chính bởi sự yếu kém trong định hướng nghề nghiệp cho HS của các trường, sự lúng túng của các cấp quản lý trong việc tìm một hướng ra cụ thể, hiệu quả cho công tác hướng nghiệp đã dẫn đến sự bế tắc trong công tác phân luồng.
Mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 của Bộ GD-ĐT là đến năm 2010, hệ thống các trường TCCN và dạy nghề phải thu hút được 15% HS trong độ tuổi, đồng thời ngành Giáo dục phải tổ chức phân luồng hiệu quả HS sau THCS và THPT. Tuy nhiên, tỷ lệ HS tốt nghiệp THCS vào trường nghề và TCCN hiện còn quá thấp, khoảng 2,5 – 3% đối với trường nghề và từ 1,4 – 1,8% đối với hệ TCCN. Với bậc THPT, năm học 2006 – 2007, cả nước có khoảng 129.000 HS tốt nghiệp nhưng không vào học tại bất cứ cơ sở đào tạo nghề nào. Con số này của năm học 2007 – 2008 là 156.000. Đặc biệt, số HS bỏ học và rớt tốt nghiệp THPT trong hai năm này xấp xỉ 250.000 em.
Thống kê của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cho thấy, cả nước hiện có 300 trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp, có khả năng đáp ứng 80 vạn HS học nghề. Tuy nhiên, số HS cần học nghề hàng năm lên tới 1,6 triệu. Chính những bất cập trên, cộng thêm đội ngũ giáo viên hướng nghiệp và dạy nghề đang và yếu kém dẫn đến công tác phân luồng không hiệu quả. Bên cạnh đó, khả năng liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và các bậc học khác gặp nhiều khó khăn; nội dung các môn văn hoá dạy trong các trường trung cấp nghề, TCCN không thích hợp với trình độ dẫn đến tình trạng HS hệ trung cấp nghề bỏ học chỉ sau vài tháng…
TS Trương Hoàng Nam, chuyên gia phân tích thị trường lao động Cty Chánh Nam cho biết: “Tôi thấy nhà trường phải kịp thời giúp đỡ, định hướng cho mỗi em con đường đúng đắn để bước vào cuộc sống. Cần xây dựng những bài trắc nghiệm tâm lý kết hợp qua các ngành nghề cho HS thì công tác hướng nghiệp, phân luồng HS sẽ đạt hiệu quả cao”. Còn ông Hoàng Ngọc Vinh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD-ĐT thừa nhận: “Công tác phân luồng HS ở nước ta hiện nay đang gặp nhiều khó khăn và không mấy hiệu quả, mỗi năm chỉ có khoảng dưới 10% HS tốt nghiệp THCS vào học trong các cơ sở dạy nghề và TCCN”.
Cần nâng cấp trường nghề
Một khảo sát của viện Khoa học giáo dục Việt Nam năm 2008 cho thấy, trên 70% HS tốt nghiệp THPT chưa hình thành được ý thức sẵn sàng lao động nghề nghiệp; chỉ có 8,1% HS dự định thi vào TCCN hay học nghề, còn lại đến 85,2% muốn vào ĐH và 56% sẵn sàng chờ năm sau thi lại ĐH nếu rớt. Chính vì thế, theo ý kiến nhiều chuyên gia, muốn làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng cho HS, trước hết cần xoá bỏ tâm lý chuộng bằng cấp. Về việc này, TS Nguyễn Văn Tuấn, Trưởng khoa Sư phạm kỹ thuật, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP HCM đề xuất: Chỉ nên tập trung giáo dục nghề nghiệp sau trình độ THPT, cơ cấu lại hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng bổ sung luồng giáo dục nghề sau trung học, có thể gọi là CĐ chuyên nghiệp dành cho HS tốt nghiệp THPT có nhu cầu học nghề.
Theo TS Huỳnh Công Minh, Giám đốc Sở GD-ĐT TP HCM, muốn chuyển được nhận thức xã hội trước hết phải xây dựng hệ thống giáo dục chuyên nghiệp tốt: Trường ra trường, nghề ra nghề, học ra học và tốt nghiệp phải có việc làm.

Ông Huỳnh Công Minh trăn trở: Công tác hướng nghiệp, định hướng nghề và phân luồng cho HS ngay từ cấp học phổ thông là một việc hết sức quan trọng. Chính vì thế, không cách nào khác các trường nghề, TCCN cần phải nâng cao chất lượng đào tạo và thu hút HS bằng “chất lượng” ở đầu ra – tức công việc. Ông cho biết, mỗi năm TP HCM có 67.000 HS tốt nghiệp THCS và 55.000 HS thi tốt nghiệp THPT. Dự kiến tỷ lệ phân luồng từ nay đến năm 2015 của TP HCM: Sau THCS, có 70% HS vào học trường THPT và 30% (khoảng 20.000 HS/năm) vào giáo dục chuyên nghiệp. Sau THPT, có 40% vào ĐH,CĐ và 60% (khoảng 33.000 HS/năm) vào giáo dục chuyên nghiệp.

Bên cạnh công tác phân luồng một cách chi tiết, cụ thể như trên, TS Huỳnh Công Minh cũng góp ý rằng, chúng ta nên nâng cấp, chuyển đổi hệ TCCN thành hệ CĐ 2 năm để tuyển người có bằng tốt nghiệp THPT hoặc tương đương thực hiện các chương trình đào tạo theo hướng nghề nghiệp – ứng dụng, thuộc hệ thống giáo dục Nhà nước, liên thông với ĐH. Đầu tư vào những khâu then chốt, trường trọng điểm để làm hình mẫu cho hệ thống TCCN phát triển theo. Nếu làm được những việc trên, công tác phân luồng chắc chắn sẽ có hiệu quả. Bởi theo ông nếu chỉ dựa vào học phí thì không thể thay đổi được chất lượng.
Còn TS Hoàng Ngọc Vinh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD-ĐT) nhận định, không phân luồng được HS sau mỗi bậc học trung học là sự lãng phí và sẽ gia tăng gánh nặng lao động không được đào tạo cho xã hội. Nhưng việc phân luồng sau THCS và THPT hiện nay lại chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Bởi, hiện nay phần rối nhất của hệ thống giáo dục là không thống nhất trình độ trong mỗi lĩnh vực đào tạo. Chính vì thế, việc nâng cấp các trường nghề, thay đổi ý thức xã hội với bậc trung cấp nghề, trường nghề là việc cần phải làm, nhằm đẩy mạnh và làm tốt hơn nữa công tác định hướng, phân luồng cho HS.

January 3, 2010

Ministry to revise study abroad guidelines

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:10 am
Tags: ,

The regulations drafted by the ministry’s International Cooperation Department would implement different policies for students studying overseas under state sponsorship and those who study abroad at their own expense, said Deputy Minister Pham Vu Luan at the meeting on Monday.

Both self-funded and state-funded students would have to periodically report their academic progress to the government and would not be allowed to work in their host countries for more than three years under the draft released in December. But the revisions will free self-funded students from such requirements, according to the ministry.

The revision will also free state-funded students from having to pay income tax during their time abroad and would allow them to work abroad for more than three years in certain cases.

The ministry said the revision would also better define the responsibilities of each agency involved in regulating overseas study, especially the Ministry of Foreign Affairs and Vietnam’s diplomatic agencies in foreign countries, in order to enforce the decree appropriately after gaining government approval.

Introduced for feedback from the public in mid-December, the draft drew opposition from overseas students and educational experts who said it was impractical to ask students to report on their academic progress and unreasonable to regulate their time aboard.

Nguyen Duc Long, national coordinator of Vietnam Foundation, which represents Vietnam Education Fund’s Overseas Students Association, said it was illogical to impose an income tax on overseas students working in host countries where they already have to pay taxes.

January 1, 2010

Gifted high schools to teach more English

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:19 am
Tags: ,

The target is expected to be hit by 2015, according to a new plan by the Ministry of Education and Training.

The plan is based on the Common European Framework of Reference, developed by the European Council, which has established six levels of language skills.

The rate is expected to increase to 70 percent by 2020, the ministry representatives told a gifted high school conference in the northern province of Nam Dinh on Saturday.

The plan to be submitted to the government for approval also aims to send 750 teachers abroad for training and equip 1,850 instructors with theskills necessary to teach high-level English classes.

By 2015, the ministry also aims to have all gifted high schools meeting national standards, with 15 of them receiving investment equal to that of international schools, according to the project set for launch next year.

Gifted students would then account for at least 3 percent of total student body in each province and city.

Vu Dinh Chuan, head of the ministry’s High School Education Department, said gifted students would receive all-around training, including independent thinking and teamworkskills. He said the standard now was to simply train them for competitions, rather than for useable skills.

The new framework aims to develop students’ intelligence quotient (IQ), creativity quotient (CQ), passion quotient (PQ), and moral quotient (MQ), Chuan added.

Source: Thanh Nien, Tuoi Tre

December 29, 2009

Vietnam’s businesses do not trust domestic technology

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:23 am
Tags: , , ,

A director of a big construction company in Hanoi always refuses to go to workshops or technology exhibitions. If he has to go to the workshops for some reasons, he always leaves early because he does not have faith in Vietnamese technology.

The director related that he once ordered Vietnamese scientists to manufacture equipment advertised as “modern technology” with prices just equal to half that of foreign technologies. However, he never got what he wanted and he has turned to foreign technologies.

A director of an informatics service company related that in 2008, she spent money on corporate management software developed by a domestic company. It took three years to complete the product. “The quality was far different from advertised,” she complained. “We always had troubles with the software and we had to purchase foreign technology instead.”

At the HCM City People’s Council’s meeting in early December 2009, Director of the HCM City Science and Technology Department Phan Minh Tan said that the recent survey conducted on 430 HCM City businesses showed that only one percent have modern technologies, 51 percent have low technologies and only 13 percent have above average technologies. Meanwhile, works by Vietnamese scientists have been left unused, which is considered a big waste.

An expert said that every year, the state budgets 750 billion dong for science and technology research, but it has not brought the desired effect. Scientists are just doing research, but they do not care if the works can be applied. A lot of scientific research works carried out with the state’s money cannot be commercialized.

Dr Tran Quoc Thang, former Deputy Minister of Science and Technology, observed that scientists and businesses still cannot attain a meeting of the minds and thus businesses still do not trust in scientists.

Dr Nguyen Phuong Tung, a scientist from the Institute of Applied Materials Science, said that she once moved heaven and earth to collect 30 signatures for the disbursement of a technology transfer contract to a company in Vung Tau City.

When Tung was trying to collect the 21st signature, a leader said that he was not interested. And with the statement, everything was stopped. Tung said that the complicated procedures clip the wings of scientists, making their research works distant frombusinesses.

December 19, 2009

Xã hội hóa giáo dục bất cập giữa cung cầu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:12 pm
Tags: ,
Xã hội hóa giáo dục đang diễn ra từng ngày ở nước ta với việc những trường tư thục, dân lập và trường quốc tế ra đời liên tục. Tuy nhiên, việc năng lực của nhiều học sinh – sinh viên các trường này sau khi tốt nghiệp không đáp ứng được yêu cầu của xã hội, bên cạnh tỷ lệ học sinh ở trường công lập còn chiếm đa số, khiến cho đầu ra giáo dục ở nước ta vẫn bị chi phối bởi hệ thống công lập là chính. Liệu đang tồn tại những bất cập và chênh lệch ra sao trong việc xã hội hóa nền giáo dục Việt Nam?

Xã hội hóa giáo dục phải đi từ hình thức đến nội dung

Dường như xã hội hóa giáo dục hiện nay chỉ mới đáp ứng được về mặt hình thức, còn nội dung chính vẫn chưa thực hiện đến nơi đến chốn. Đầu ra của giáo dục hiện nay vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu của xã hội, dẫn đến việc cung – cầu không gặp được nhau. Xem ra thì việc xã hội hóa hiện thời chỉ mới thay đổi một phần giáo dục của Nhà nước thôi, chứ thực chất nội dung đào tạo chẳng đổi khác là bao.

Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam hiện có ba hình thức chủ yếu. Một là xã hội cùng nhau góp kinh phí cho giáo dục, kể cả ở trường công thì học sinh vẫn phải đóng tiền học dưới các hình thức khác nhau. Thứ hai, Nhà nước cho phép các cá nhân trong xã hội được đứng ra xây dựng trường tư thục hay dân lập.

Thêm nữa là song song với việc mở cửa kêu gọi đầu tư nước ngoài, chúng ta cũng chấp thuận để nhà đầu tư nước ngoài đến đây xây trường, liên kết mở trường quốc tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, ngoại trừ các trường dạy cho học sinh nước ngoài thì các cơ sở giáo dục còn lại đều được Nhà nước quy định về nội dung giảng dạy. Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) cùng ban ngành có liên quan quy định tất cả, từ vấn đề tuyển sinh, tuyển giáo viên, chọn môn học, tiêu chuẩn cấp bằng và tốt nghiệp, luôn cả vấn đề quản lý tài chính.

Những trường dân lập và tư thục dường như chỉ được “xã hội hóa” một phần rất nhỏ, chứ bản chất bên trong về nội dung giảng dạy vẫn bị lệ thuộc. Cho nên, rất khó trách rằng tại sao đã xã hội hóa giáo dục mà đầu ra vẫn bất cập, bởi vì chúng ta chỉ mới xã hội hóa về mặt đóng góp tài chính (thu phí) và vật chất (cho xây trường dân lập…) chứ chưa xã hội hóa về nội dung giảng dạy. Nghĩa là nền giáo dục chưa đưa vào giáo án những yêu cầu cấp thiết của xã hội, những kiến thức cập nhật của một nền kinh tế hội nhập, khiến sinh viên bỡ ngỡ và không đáp ứng được nhu cầu của thị trường khi ra trường. Dường như ở các trường đại học, không có những giờ học giúp học viên nắm bắt tình hình xã hội và giảng viên cũng không dám đưa thực tiễn đời sống đang diễn ra để học sinh tiếp cận và nắm bắt. Những gì mà thế hệ trẻ đang học đều đã xảy ra từ lâu, chứ không tiếp cận được những sự kiện mới nhất liên quan đến chuyên ngành của mình thì làm sao đầu ra có chất lượng?

Khi nói đến xã hội hóa giáo dục ở những bậc học cao như đại học hoặc trung học phổ thông, chúng ta dễ thấy tiêu chuẩn xét tốt nghiệp tú tài hay cử nhân đều do Bộ GD-ĐT và các cấp quản lý giáo dục quy định. Đầu ra này bị chi phối hoàn toàn, nhưng những sinh viên tốt nghiệp này khi bước ra ngoài xã hội lại không đáp ứng được nhu cầu của công việc thực tế. Sản phẩm đào tạo của ngành giáo dục nước ta – nguồn cung – chưa đủ chất lượng để đáp ứng đúng nhu cầu mà xã hội đang cần và mong đợi.

Thế nên dù công cuộc xã hội hóa giáo dục đã được tiến hành từ lâu nhưng cung và cầu vẫn chưa thể gặp nhau. Vì sao lại có sự chênh lệch bất ổn này? Ắt hẳn không phải do trình độ và trí tuệ của con em chúng ta kém cỏi, bởi sinh viên Việt Nam luôn được đánh giá cao khi hòa nhập trong môi trường giáo dục quốc tế. Câu trả lời chỉ có thể là vì nội dung giáo dục nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Có bao giờ ngành GD-ĐT tự nhìn lại mình, xem nội dung giảng dạy hiện có theo kịp xu hướng thời đại và cập nhật đúng những yêu cầu thiết thực từ cuộc sống không? Học sinh, sinh viên có đang được học những kiến thức phù hợp, những điều đang diễn ra ở xã hội hằng ngày hay chỉ học lại các lý thuyết tồn tại khô khan trong sách vở, đã lỗi thời và lạc hậu so với sự phát triển năng động của đất nước?

Nên chăng cần sớm sửa đổi nội dung giảng dạy để phù hợp với cuộc sống hiện nay? Bài toán này đã được đề cập nhiều lần nhưng dường như không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Bởi vậy, vấn đề cần làm ngay bây giờ là phải sửa đổi tận gốc nền giáo dục thì nhiều năm sau mới mong thấy được kết quả khả quan. Nếu không, bất cập giữa cung và cầu sẽ còn tiếp diễn, như chuyện của vài chục năm trước chúng ta từng cải cách giáo dục nhưng vì không tiến hành triệt để nên vẫn còn lấn cấn đến tận giờ.

Nội dung cốt lõi của xã hội hóa giáo dục

Để xã hội hóa giáo dục một cách toàn diện, cần xem lại hai vấn đề sau. Thứ nhất, nền kinh tế nước ta ngày nay đã hội nhập toàn cầu, đòi hỏi từ kiến thức của cá nhân đến sự vận hành của xã hội đều phải kết nối và cập nhật kịp thời với thế giới. Nền giáo dục phải mang những bài học từ thực tiễn cuộc sống vào giáo án giảng dạy để sinh viên khi ra trường không khỏi bỡ ngỡ bởi sự chênh lệch quá lớn giữa lý thuyết và thực hành. Để làm được điều này, ngành GD-ĐT phải tự so sánh mình có khác gì so với các nước phát triển, từ bộ môn giảng dạy đến nội dung giáo án, thời gian học trình, phương pháp dạy và học… Có như vậy mới cải cách triệt để và đào tạo được đầu ra đáp ứng đúng nhu cầu xã hội.

Đây mới chính là cốt lõi của nội dung xã hội hóa giáo dục. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể tự đặt cho mình một chuẩn riêng, tách biệt với sự công nhận và đồng nhất của thế giới. Điều này dẫn đến hậu quả khôn lường, mà trước mắt là những học viên muốn tiếp cận với kiến thức thực tiễn của xã hội đã từ chối môi trường giáo dục thuần lý thuyết ở nước ta. Chúng ta đã và đang thấy nhiều gia đình gửi con em du học nước ngoài ngay từ bậc phổ thông dù gánh nặng chi phí là không nhỏ. Đây hoàn toàn là việc bất đắc dĩ nhưng vì tương lai của con em, họ buộc phải làm thế. Sự quay lưng với nền giáo dục nước nhà cho thấy Việt Nam sẽ còn mất đi nhiều học sinh, sinh viên nếu không giải quyết kịp thời những bất cập trong công cuộc xã hội hóa giáo dục. Chi phí mỗi năm Nhà nước đầu tư cho giáo dục rất lớn mà không đem lại hiệu quả như vậy thì thật là một sự phí phạm rất lớn – phí phạm tài chính, phí phạm nhân lực và hơn thế nữa là phí phạm chất xám.

Muốn giải quyết được điều này, Nhà nước phải xã hội hóa giáo dục một cách triệt để hơn. Nội dung giáo dục nên chăng để cho các trường chủ động tự soạn chương trình giáo án và tự chịu trách nhiệm với chất lượng đào tạo của mình. Nhà trường có quyền và trách nhiệm tuyển sinh, tổ chức thi cử và cấp bằng, tuyển chọn đội ngũ giáo viên cũng như được tự chủ hoàn toàn về tài chính. Có như vậy mới đúng nghĩa của cụm từ “xã hội hóa giáo dục”.

Bên cạnh đó, mỗi trường có một chuyên ngành, đặc tính và văn hóa riêng nên chúng ta cần tôn trọng, chấp nhận sự khác nhau này bằng cách cho ban giám hiệu từng trường quy định phương pháp dạy và học của riêng họ. Nhà nước và Bộ GD-ĐT chỉ cần quan tâm đến chất lượng đầu ra, bằng những đánh giá phân loại trường để xã hội và phụ huynh và học sinh, sinh viên có căn cứ khách quan để chọn lựa đâu là nơi đào tạo phù hợp nhất cho mình. Còn lại tất cả vấn đề nội bộ hãy để cho các trường tự quyết. Nhà nước cần hỗ trợ về tài chính cho các trường ở các cấp khác nhau, không kể trường công lập hay tư thục vì ngân sách giáo dục quốc gia đều do người dân đóng góp nên không có gì sai nếu đầu tư cho cả trường công lẫn trường tư.

Một vấn đề nữa là đừng để thiếu đất xây trường. Đất đai xây dựng trường học không nên xem là đất thương mại, mà là đất công của Nhà nước chu cấp cho ngành giáo dục. Việc này không chỉ thuộc trách nhiệm của Bộ GD-ĐT mà ở tầm chính sách quốc gia, Nhà nước phải có những tỷ lệ quy hoạch đất đai dành riêng cho giáo dục. Biết bao trường học mở ra nhưng không có diện tích đất để xây trường, đành cho sinh viên học tạm bợ ở những cơ sở chật hẹp khác nhau. Trong khi nếu những cơ quan có thẩm quyền biết cách kêu gọi, khuyến khích người dân đóng góp đất tư nhân để xây trường thì mọi việc sẽ khác. Nếu người dân đóng góp đất đai cho Nhà nước thuê thì phải miễn thuế cũng như đảm bảo quyền lợi cho họ, từ đó mới mong có thêm nhiều đất đai để xã hội hóa giáo dục. Không chỉ riêng cho giáo dục, mà cả những ngành khác như y tế, văn hóa, thể thao…, Nhà nước cũng nên tạo điều kiện và giúp đỡ người dân đã mang đất cho thuê làm trường học, bệnh viện, công viên, sân vận động…

Bên cạnh đó, không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước và Bộ GD-ĐT trong việc xây dựng các loại trường mà xã hội chưa làm được, như những trường dạy các ngành học văn hóa và truyền thống, những trường cho các học sinh khó khăn không thể theo học các trường tư thục, trường phổ cập… Nhà nước cũng nên quan tâm nhiều đến chính sách cho các trường học, có chế độ phúc lợi dành cho những người làm giáo dục, nhất là các thầy cô giáo (bảo hiểm, phúc lợi xã hội, lương bổng…), không phân biệt giáo viên trường công lập hay dân lập. Có chính sách như vậy thì xã hội hóa giáo dục mới đào tạo được đầu ra phù hợp với yêu cầu xã hội và cung – cầu mới hy vọng sớm gặp được nhau.

Theo Phan Chánh Dưỡng (Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần)

December 15, 2009

Dự thảo quản lý lưu học sinh- liệu cứ cấm là xong?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:55 am
Tags: ,

Ngành giáo dục sẽ khó có thể mang lại kết quả gì khả dĩ, nếu vẫn không cải cách được trước hết chính đội ngũ công chức cao cấp soạn thảo luật. Đội ngũ này vốn là công cụ tối cần thiết cho một nhà nước pháp quyền; nếu thiếu hoặc yếu, thì dù đường lối chính sách Đảng, nhà nước vạch ra có thần kỳ đến đâu chăng nữa, cũng sẽ luôn bị bất lực.

LTS: Bản dự thảo “Quy chế quản lý công dân Việt Nam đang đào tạo ở nước ngoài” vừa công bố hôm 02/12/2009 đang thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội. Có những ý kiến tạm coi là xác đáng, có những ý kiến cần phải thảo luận thêm. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu thêm một góc nhìn riêng của TS. Nguyễn Sĩ Phương về bản dự thảo này, mời độc giả tham gia ý kiến.

Nhập nhằng giữa lập pháp và lập quy

Ở các quốc gia tiên tiến, qua mỗi kỳ bầu cử, dù thay đổi đảng cầm quyền, xã hội vẫn vận hành thông suốt, không gián đoạn, là nhờ có bộ máy nhà nước pháp trị không thay đổi, với đội ngũ công chức cao cấp của họ chuyên soạn thảo các văn bản luật, tinh thông nghề nghiệp, nắm chắc các văn bản luật hiện có, hiểu đến từng điều khoản, hiệu lực của các điều khoản đó…; đủ năng lực biến mọi chính sách của bất cứ đảng nào lên cầm quyền thành các văn bản luật chi phối xã hội, mà không làm xã hội xáo trộn.

Trong khi đó ở ta, không ít chính sách nhất quán của Đảng, khi được biến thành văn bản pháp lý các cấp, vẫn hoặc không còn giữ được nguyên tinh thần, hoặc bị hiểu sai, hoặc thực thi tuỳ thuộc quan chức hành xử, hoặc thậm chí bất khả thi chỉ dừng lại trên nghị quyết. Số phận của chính sách còn tùy thuộc vào nhận thức chủ quan của các cấp áp dụng…

Phân tích Dự thảo “Quy chế quản lý công dân Việt Nam đang đào tạo ở nước ngoài” mà Bộ GD và ĐT vừa công bố, phần nào cho thấy mức độ trầm trọng của vấn đề.

Trước hết, công dân Việt Nam  phải hiểu là người có quốc tịch Việt Nam; nhưng nhiều người Việt định cư ở nước ngoài đang được đào tạo ở đó chắc chắn không thuộc đối tượng áp dụng của dự thảo này; những công dân du học tự túc, thì bất khả thi áp dụng. Đọc hết dự thảo mới biết, đích của dự thảo là công dân Việt Nam du học được nhà nước cấp học bổng. Tên gọi bản dự thảo vốn rất quan trọng, đã không chặt chẽ.

Mặt khác, khái niệm Quy chế quản lý, được hiểu là những quy phạm áp dụng trong quản lý, ở hầu hết các nước tiên tiến thuộc loại văn bản lập quy chỉ có tác dụng hướng dẫn quản lý trong nội bộ cơ quan công quyền, không liên quan gì đến du học sinh, họ không cần biết. Nhưng trái với tên gọi, nội dung dự thảo lại đề cập chủ yếu đến quyền và trách nhiệm của lưu học sinh mà họ cần biết để thực hiện.

Ở hầu hết các nước tiên tiến, phải là đối tượng điều chỉnh của văn bản lập pháp (do liên quan đến quyền và trách nhiệm của công dân). Dự thảo vì vậy đáng lẽ phải là 2 văn bản dự thảo luật, 1 văn bản lập pháp phải thông qua Quốc hội và một văn bản lập quy chỉ lưu hành trong nội bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng lại bị nhập nhằng trộn lẫn giữa lập pháp và lập quy, giữa quyền và trách nhiệm của lưu học sinh với quyền và trách nhiệm của cơ quan hành xử (nhưng cũng không rõ ràng, thiếu chế tài).

Đi sâu vào các điều khoản quyền lợi lưu học sinh, dự thảo có đề cập đến những khoản tài chính nhà nước hỗ trợ cho học sinh du học, thuộc phạm trù đào tạo, đầu tư cho tương lai mà hầu như nước nào cũng đặt lên hàng đầu, mức độ tùy thuộc khả năng cân đối ngân sách của họ, nên ở họ, những dự luật như thế cũng cần Quốc hội thông qua, tức phải mang tính lập pháp.

Mặt khác, những dự luật mang tính ưu tiên như vậy thông thường tên gọi phải phản ảnh được mục đích xây dựng phát triển của nó, vì vậy dự thảo trên phải được gọi đúng là Dự luật khuyến khích hỗ trợ học sinh du học, từ đó quy định trách nhiệm pháp lý của các cơ quan công quyền liên quan, phục vụ cho mục đích trên.

Không thể cứ cấm là xong trách nhiệm

Trong khi đó, dự thảo của Bộ GD và ĐT được gắn tên gọi Quy chế quản lý công dân Việt Nam đang đào tạo ở nước ngoài, lại chỉ toát lên một tư tưởng chủ đạo- đó là các bộ, ngành ban hành văn bản luật chỉ nhằm phục vụ cho công việc quản lý của mình sao cho lợi nhất.

Chính vì vậy nội dung dự thảo đã coi du học sinh là đối tượng họ quản lý toàn diện, như học sinh phổ thông, không đúng với thế giới nơi học sinh ta tới du học – họ quan niệm học sinh đại học là người trưởng thành, không chịu sự quản lý của bất kỳ ai, có đầy đủ trách nhiệm và quyền công dân, bình đẳng như tổng thống, thủ tướng.

Quan hệ giữa họ với nhà trường là quan hệ hợp đồng đào tạo, tương tự như hợp đồng lao động, 2 bên đều bình đẳng. Khi nhà nước cấp học bổng riêng cho họ thì quan hệ giữa nhà nước với họ chỉ liên quan đến suất học bổng riêng đó.

Chẳng hạn, ở Đức, quân đội sẵn sàng cấp mức học bổng ngang tiền lương sỹ quan cho sinh viên y khoa, nếu người hợp đồng đồng ý khi ra trường phải phục vụ trong quân đội ít nhất 15 năm, trong trường hợp vi phạm sẽ phải bồi thường (chính Bộ trưởng Y tế Đức, gốc Việt, Philipp Rösler, trước kia học ở trường này). Còn mọi quyền khác không bị ảnh hưởng, họ vẫn là sinh viên như bất kỳ sinh viên nào khác, quyền học tập của họ cũng giống như quyền lao động, quyền kinh doanh vậy.

Điểm đáng đề cập nhất trong nội dung quản lý là cấm lưu học sinh “không được thành lập hoặc tham gia hoạt động của các hội hoặc tổ chức chính trị, các hoạt động khác làm phương hại đến lợi ích của Việt Nam và nước sở tại”.  Điều khoản này liên quan đến an ninh chính trị, có giá trị đối với mọi công dân, không riêng gì sinh viên, được điều chỉnh bởi bộ Luật Hình sự, thuộc chức năng nhà nước của Bộ Công an, Viện Kiểm sát, Toà án… nên đưa vào dự luật chuyên về đào tạo là sai đối tượng. Lưu học sinh, ngoài quan hệ đào tạo, còn quan hệ lao động, hôn nhân gia đình, tôn giáo, pháp luật… đâu chỉ mỗi an ninh chính trị.

Tuy nhiên hậu họa điều khoản nên bỏ này lại ở chỗ lợi bất cập hại. Nơi tới du học của học sinh nước ta chủ yếu là những nước tiên tiến mang bản chất xã hội dân sự không tách khỏi hội đoàn, nhà nước họ tập hợp nhiều đảng phái, được luật pháp họ thừa nhận. Sinh viên không thể biết lấy dấu hiệu gì hoặc dựa vào cơ quan thẩm định nào để có thể kết luận tổ chức họ phương hại đến lợi ích hoặc của Việt Nam hoặc của nước sở tại hoặc cả hai. Điều đó thuộc nghiệp vụ chuyên ngành an ninh chính trị phải chịu trách nhiệm giám định, hướng dẫn, chứ không thể phó mặc cho sinh viên.

Nếu không, để thực hiện quy định trên triệt để, du học sinh chỉ còn cách tránh mọi giao tiếp xã hội, như đã từng xảy ra trong quá khứ. Đi đâu cũng phải từ 2 người trở lên để xác nhận, đi xa phải báo cáo, trả lời giáo viên hỏi thăm về tình hình trong nước cũng phải khất để xin ý kiến phụ trách. Thậm chí bạn cầm tay mời nhảy đành viện đến lý do bất khả kháng “đi vệ sinh” để từ chối. Hậu quả, trình độ giao tiếp, ngoại ngữ lưu học sinh Việt Nam nói chung kém xa so với du học sinh nhiều nước. Không ít du học sinh trở về chỉ được kiến thức lý thuyết, sách vở, mù tịt kiến thức về thực tế đời sống luật pháp xã hội chính trị nước họ.

Giáo dục- đào tạo trong mối tương quan kinh tế xã hội cụ thể

Giáo dục- đào tạo là sự tác động qua lại giữa thầy và trò trong một nền tảng kinh tế xã hội nhất định. Thầy chỉ mới cung cấp kiến thức của thầy truyền miệng sang trò, còn nền tảng kinh tế xã hội đem đến cho trò khả năng hiểu biết, biến kiến thức đó trở thành thực tế. Kiến thức nhà trường trong thời đại Internet, khi mà tim người ta còn mổ được từ xa, thì tại Việt Nam cũng đủ khả năng tiếp thu kiến thức đó của mọi nước trên thế giới, không nhất thiết phải du học, chưa nói có thể nhập khẩu cả trường của họ.

Vậy cốt lõi của du học thực chất là kiến thức thu được từ nền tảng kinh tế xã hội nước họ mà nước ta không thể có, vì vậy ưu tiên đầu tiên đối với du học sinh là phải hoà nhập vào xã hội dân sự bản địa, không thể đứng ngoài để học nó, kiểu tập bơi trên cạn… Cần khuyến khích họ tham gia mọi hoạt động hội thảo, thảo luận chuyên đề, nghe thuyết trình, sinh hoạt câu lạc bộ, hội đoàn, các buổi dã ngoại, ngoại khoá, thực tập, tham quan, giao dịch với nhà máy, xí nghiệp, viện, cơ quan, tổ chức dân sự, chính quyền… chứ không thể vì lý do an ninh chính trị cấm đoán họ chung chung.

Còn nếu không thể yên tâm, tin tưởng được họ, thì tốt nhất nên ngừng du học sinh để khỏi lãng phí tiền bạc nhà nước. Quỹ đó nên dành cho đào tạo cấp 1, lớp 1, mẫu giáo, mầm non mới chính là đầu tư cho tương lai lâu dài nhất của đất nước.

Dù hiểu theo nghĩa gì thì chức năng quản lý nhà nước hoàn toàn không có mục đích tự thân, nó phải phục vụ cho đối tượng bị quản lý đạt tới đích nhanh chóng và hiệu quả nhất, chứ không phải nhằm sao cho công việc cơ quan quản lý nhẹ nhàng nhất, và càng không thể bằng biện pháp chống, cứ cấm là xong trách nhiệm.

Ngành giáo dục nước ta hiện đang phải đối mặt với những bức xúc xã hội trầm trọng, đã có bao cố gắng phấn đấu đưa ra nhiều giải pháp cải cách, nhưng sẽ khó có thể mang lại kết quả gì khả dĩ, nếu vẫn không cải cách được trước hết chính đội ngũ công chức cao cấp soạn thảo luật. Đội ngũ này vốn là công cụ tối cần thiết cho một nhà nước pháp quyền; nếu thiếu hoặc yếu, thì dù đường lối chính sách Đảng, nhà nước vạch ra có thần kỳ đến đâu chăng nữa, cũng sẽ luôn bị bất lực.

December 14, 2009

New draft rule worries self-funded overseas students

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:29 pm
Tags: ,

No overseas student will be allowed to work in host countries for more than three years after their graduation under a draft regulation introduced by the Ministry of Education and Training (MoET).

As the plan targets overseas students regardless of where their funding comes from, it also asks them to report their academic performance periodically to the MoET’s International Education Development office.

However, only those enjoy the state’s sponsorship would have to pay income tax during their work abroad, Nguyen Ngoc Hung, deputy head of MoET’s Department of International Cooperation, told local newswire Vietnamnet.

The state-funded students would have also to work under the government’s coordination within given terms on their return, or they would have to repay all the training expenses, according to the draft statute on Overseas Students Management.

The draft, which was released last week to invite public comments and feedback, would add weight to the qualifications obtained by students who fund their own overseas training program when they are placed under MoET management, Vietnamnet quoted Truong Duy Phuc, deputy head of the Vietnam International Education Department as saying.

The move would also help MoET have more exact statistics on self-funded overseas students, giving society a better orientation on studying abroad while protecting the students’ rights, Hung said.

However, the draft has worried overseas students who’ve said in online forums that it contained many impractical and unreasonable points, especially regarding self-funded students.

At a forum on MoET’s website http://edu.net.vn/ , one student said the most illogical regulation is that the MoET wants to manage self-funded students’ working in host countries.

“The ministry’s statutes should only apply to those who are studying abroad under the government’s scholarship or co-operation programs between the ministries and foreign organizations,” another member said.

In the meantime, Nguyen Duc Long, national coordinator of Vietnam Foundation representing Vietnam Education Fund’s Overseas Students Association, said most of the draft regulations are impossible to put into effect.

In fact, most overseas students are studying on their own. Some study abroad under various scholarships, so it would be unreasonable to put all of them under the same management, Long felt.

It’s also illogical to impose income tax on overseas students working in host countries where they earn money and have already paid tax, Long stressed.

“I’m not clear about MoET’s intention to manage self-funded overseas students and limit their working overseas to three years since their graduation,” he added.

Nguyen Duc Thanh, director of the Center of Economics and Policy Research under Hanoi’s University of Economy, meanwhile, said the ministry’s plan was not ideal, but rather “abnormal”.

According to Thanh, in the 1960s an Indian research group proposed a similar plan to prevent the country’s brain drain, but it was never conducted as it was considered impossible and outdated.

“At the moment, it’s for sure no one would propose a management plan that involves the MoET’s statutes,” the director said.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.