Ktetaichinh’s Blog

June 1, 2010

Hà Nội ứng 500 tỷ đồng bình ổn giá 9 mặt hàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:45 pm
Tags: , ,
Cập nhật lúc : 9:05 AM, 01/06/2010

Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định tạm ứng 500 tỷ đồng; trong đó 400 tỷ đồng tạm ứng cho một số doanh nghiệp, với lãi suất 0% để dự trữ chín mặt hàng thiết yếu.

Số còn lại 100 tỷ đồng, thành phố sẽ hỗ trợ cho việc dự trữ hàng phục vụ cứu trợ khi có thiên tai, bão lụt, úng ngập.

Chín mặt hàng mà Hà Nội hỗ trợ bình ổn giá gồm gạo trắng thường với 6.400 tấn; thịt gia súc có 1.520 tấn; thịt gia cầm là 560 tấn; trứng gia cầm với 12 triệu quả; thực phẩm chế biến là 1.280 tấn; thủy, hải sản đông lạnh với 800 tấn; dầu ăn có 240.000 lít; đường RE với 240 tấn; rau, củ là 4.000 tấn.

Thời gian chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu bình ổn thị trường của thành phố trong 10 tháng, bắt đầu từ tháng Sáu tới và kết thúc vào quý I/2011; thời gian hoàn trả vốn tạm ứng được xác định cụ thể, riêng biệt theo từng đợt giải ngân.

Thành phố yêu cầu các doanh nghiệp được thành phố tạm ứng vốn phải thực hiện treo biển nhận diện cửa hàng, điểm bán hàng bình ổn giá trong suốt thời gian tổ chức bán hàng.

Về chất lượng các mặt hàng được bán phải đảm bảo chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm trong điều kiện bình thường cũng như khi có biến động giá, không để xảy ra tình trạng hàng hóa kém phẩm chất, không đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng.

Trong điều kiện thị trường có biến động cung cầu, giá cả, Tổ công tác liên Sở Công thương-Tài chính sẽ yêu cầu các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ bình ổn thị trường thực hiện bán thấp hơn tối thiểu 10% giá thị trường tùy theo mức độ biến động của thị trường.

Nếu nguyên nhân biến động thị trường là do yếu tố khan hiếm hàng hóa giả tạo, các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ bình ổn thị trường phải căn cứ chi phí, lợi nhuận hợp lý với điều kiện kinh doanh cụ thể của đơn vị mình để điều chỉnh giá bán phù hợp với giá trị hàng hóa, chi phí và nhu cầu thực tế của thị trường tại thời điểm có biến động đột biến.

Thành phố cũng giao cho Sở Công thương phối hợp với Sở Tài chính xây dựng tiêu chí cụ thể để xét chọn doanh nghiệp tham gia, xác định rõ quyền lợi và trách nhiệm của các doanh nghiệp.

Đồng thời, hai sở trên thẩm định phương án bình ổn giá của doanh nghiệp và đề xuất Ủy ban Nhân dân thành phố ban hành phương án hỗ trợ tài chính, mức hỗ trợ vốn cho từng doanh nghiệp được giao nhiệm vụ bình ổn thị trường.

Đặc biệt phải kiểm tra tiến độ tạo nguồn hàng thiết yếu của các doanh nghiệp về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa tham gia bình ổn; kiểm tra việc niêm yết giá, bán đúng giá niêm yết, đăng ký giá đối với các mặt hàng thiết yếu thuộc diện bình ổn giá của thành phố.

Chi cục quản lý thị trường phối hợp với Ủy ban Nhân dân các quận, huyện và các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời các trường hợp: đầu cơ hàng hóa, găm hàng, tăng giá quá mức, đưa tin thất thiệt về thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ và các hành vi vi phạm hàng giả, buôn lậu và gian lận thương mại theo thẩm quyền.

Advertisements

March 18, 2010

“Giá vàng trong nước sẽ còn chịu áp lực”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:25 pm
Tags: , ,

Một câu hỏi đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm là có nên dự trữ vàng trong thời điểm hiện tại?

Thời gian đóng cửa sàn vàng đang được tính từng ngày. Nhiều ngân hàng đang tồn lượng vàng khá lớn. Thừa cung dẫn đến việc giá vàng giảm và lãi suất huy động vàng từ các ngân hàng cũng sẽ giảm.

Một câu hỏi đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm là có nên dự trữ vàng trong thời điểm hiện tại? Xung quanh chủ đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Trung Anh, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Vàng Vina.

Nhiều ngân hàng đang giảm mạnh lãi suất huy động vàng, chỉ còn trên dưới 0,5%/năm, trong khi thời điểm này của năm 2009 từ 6-7%. Theo ông, có phải do nguyên nhân đóng cửa sàn vàng?

Việc các ngân hàng giảm mạnh lãi suất huy động vàng, theo tôi có các lý do sau. Thứ nhất, việc cho vay vàng của các ngân hàng khá khó khăn. Như chúng ta biết thì từ trước tới nay các ngân hàng cho vay vàng chỉ phục vụ mục đích thanh toán mua bán nhà đất, đầu cơ, tự doanh.

Nhưng thời gian qua giá vàng biến động quá mạnh và khó lường, do đó việc vay vàng để thanh toán hoặc thậm chí là bán kiếm chênh lệch như lúc trước trong thời điểm này là rất rủi ro, nhất là khi nguy cơ lạm phát có thể quay trở lại bất kỳ lúc nào. Vì vậy, với việc không có đầu ra cho vay, thì các ngân hàng cũng không mặn mà lắm với việc đẩy mạnh đầu vào huy động.

Thứ hai, nhu cầu đầu tư của giới kinh doanh vàng vật chất cũng không còn mạnh như thời điểm năm 2009, nhu cầu tự doanh của các ngân hàng cũng sụt giảm, vì vậy họ cũng không còn nhiều hứng thú đối với việc huy động vàng, nên đã chủ động giảm lãi suất huy động vàng xuống.

Thứ ba, là hiện nay chính các ngân hàng cũng không dám huy động vàng nhiều. Trong thời điểm năm 2009, các ngân hàng huy động vàng với lãi suất lên đến 6-7% nhằm bán ra lấy tiền VND phục vụ nhu cầu cho vay hoặc kiếm lợi nhuận. Nhưng lúc đó họ có thể cân đối lại tài khoản bằng cách mua vàng trên tài khoản ở nước ngoài để tránh rủi ro.

Còn hiện tại thì Ngân hàng Nhà nước đã cấm hình thức kinh doanh vàng trên tài khoản, nên các ngân hàng cũng không dám huy động nhiều vì sợ rủi ro cao. Vì thế lãi suất huy động hiện nay giảm chỉ còn trên dưới 0,5% là điều dễ hiểu.

Thậm chí có khả năng sắp tới các ngân hàng thương mại có thể sẽ còn thu phí giữ hộ vàng cho khách hàng.

Như vậy, theo ông nhu cầu vàng vật chất trên thị trường trong thời gian tới sẽ như thế nào?

Về nhu cầu vàng vật chất trên thị trường, theo tôi là khá thấp trong thời điểm hiện tại, nhưng điều này được xem là tất yếu trong thời điểm đầu năm. Ngoài ra, giá vàng thế giới ít biến động mạnh nên cũng không kích thích lực mua vàng vật chất. Nhu cầu vàng của các ngân hàng thương mại cũng sụt giảm so với thời điểm trước Tết.

Nhưng theo ý kiến cá nhân tôi, nhu cầu mua vàng vật chất trong thời gian tới với mục đích dự trữ của người dân sẽ vẫn cao, do chỉ số giá hàng hóa vẫn đang cho thấy khó có thể kiềm chế.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nên lưu ý một điều là nếu lãi suất huy động VND lên quá cao, như thời điểm trong năm 2008 lên gần 20%/năm, thì khi đó người dân sẽ không còn mặn mà gì với vàng nữa, mà ngược lại có thể sẽ còn bán vàng ra lấy VND gửi tiết kiệm.

Xu hướng trong thời gian tới giá vàng sẽ diễn biến như thế nào? Nhà đầu tư và người dân có nên giữ vàng trong giai đoạn này không, thưa ông?

Giá vàng thế giới trong 3 tháng tới theo tôi sẽ vẫn ổn định trong biên độ hẹp, khi giới đầu tư thế giới ngày càng thận trọng hơn trước những diễn biến nợ công của một số nền kinh tế. Trong khi đó, các nhà đầu tư trung và dài hạn trong giai đoạn này cũng sẽ không tham gia trạng thái lớn, do đó sóng lớn là khó có thể xảy ra. Đây cũng được xem là giai đoạn trầm lắng của thị trường vàng thế giới hàng năm.

Giá vàng trong nước trong thời gian tới sẽ chạy sát với giá vàng thế giới hơn. Hiện tại thì giá vàng trong nước đang cao hơn khoảng 600.000 đồng so với giá vàng thế giới nếu tính theo tỷ giá ngân hàng. Tuy nhiên, nếu tính theo tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do, cộng với các chi phí nhập khẩu khác thì giá trong nước chỉ cao hơn giá thế giới khoảng 100.000 đồng/lượng.

Về vấn đề nhà đầu tư và người dân có nên giữ vàng trong giai đoạn này hay không, theo tôi là vẫn nên phân bổ một phần tài sản vào vàng để đề phòng lạm phát trở lại. Tuy nhiên, tôi xin nhấn mạnh là chỉ nên nắm giữ một phần, vì hiện tại đang có những kênh đầu tư khác với tỷ suất sinh lợi cũng khá hấp dẫn.

Ngoài ra do lãi suất huy động vàng thấp, trong khi lãi suất huy động VND đang khá cao, nên có thể sẽ khiến một dòng vốn từ vàng chuyển sang VND để gửi tiết kiệm, vì vậy giá vàng trong nước thời gian tới có thể sẽ còn chịu áp lực.

March 17, 2010

Vùng mía nóng ngày càng… nóng hơn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:31 am
Tags: , ,

* Cảnh sát giao thông “bảo kê” cho KCP?

Người trồng mía ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên) không nhận tiền đầu tư của Cty TNHH Công nghiệp KCP VN mà tự xoay sở vốn SX nhằm bán mía cho các NM đường khác giá cao hơn. Thế nhưng vụ này, mía đã chín khô vẫn không bán được vì bị “ách” lại.

Chỉ quanh quẩn ở xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân- Phú Yên), chúng tôi đã nghe “nhẫy” tai chuyện cây mía bị “ngăn sông cấm chợ”. Anh Mang Đen, một người dân tộc Bana ở làng Soi Nga cho biết: “Nhà mình có 5 ha đất, muốn trồng mía mà không có vốn, bà con bày mình liên hệ với KCP nhận vốn đầu tư. Nhưng cái vốn này đến chậm quá lại phải làm nhiều giấy tờ lắm mà thời vụ thì không thể chậm trễ. Thế nên mấy năm nay mình nhận đầu tư của tư thương với cam kết là sẽ trừ nợ vào mía khi thu hoạch”.

Người nông dân chân chất này nói tiếp: “Tiền nhận đầu tư là 5 triệu đồng/ha, vốn đầu tư này không bị trả lãi như vốn đầu tư của KCP mà nhanh đến tay nên mình ưng cái bụng lắm. Bỗng nhiên không biết bị “mắc” cái gì mà người đầu tư vốn cho mình không chịu mua mía, mía đã chín khô mà cứ đứng giữa trời. Cứ nhìn ông mặt trời đỏ lòm thì mía của mình chắc sẽ mất chữ đường, mất sản lượng, nghĩa là mình sẽ bị mất nhiều tiền đấy!”.

Hỏi dò, chúng tôi được biết đã nhiều năm qua, bà Dương Thị Kim Loan quê ở thôn 4, xã An Thành, huyện ĐăkBơ (Gia Lai) chọn xã Xuân Lãnh làm chốn làm ăn bằng cách đầu tư vốn cho đồng bào dân tộc thiểu số ở đây trồng mía, đến khi thu hoạch thu hồi vốn bằng sản phẩm. Gặp bà Loan đang đứng ủ rũ bên những bao phân vừa được vận chuyển đến làng Soi Nga chuẩn bị đầu tư cho vụ mía mới, bà rầu rĩ nói: “Năm nay nữa là 11 năm tôi làm ăn với bà con dân tộc ở làng này. Vào những năm đầu, mía thu mua được tôi bán cho Cty KCP. Thế nhưng vì giá thu mua ở Cty này luôn thấp hơn giá thị trường, lại bị trừ tạp chất nặng quá nên không có lãi. Nghe ngóng, tôi được biết Cty CP Đường Bình Định thu mua giá cao hơn lại ít trừ tạp chất nên tôi chuyển hướng làm ăn sang Cty này”.

Không ngờ sự chuyển hướng của bà Loan lại mang đến cho bà và cả những người trồng mía tai hoạ lớn. “Họa đến với tôi từ khi ấy. Cách đây 3 năm, tôi chở 2 xe mía về Bình Định, vừa đến vùng giáp ranh tại địa bàn xã Xuân Lãnh (Phú Yên) thì bị CSGT chặn lại với lỗi quá khổ, quá tải. Kỳ ở chỗ mấy anh cảnh sát bảo rằng nếu tôi chở mía quay ngược lại bán cho Cty KCP thì sẽ được “tha” phạt, còn không nghe sẽ bị phạt và giam xe. Sợ quá, tôi chở ngược lại bán cho Cty KCP, không ngờ cân mía lấy phiếu xong, Cty KCP không thanh toán tiền xe 2 mía kia với lý do “phạt” cái tội chở mía ra Bình Định bán”- bà Loan trình bày tiếp.

Mặc dù UBND xã Xuân Lãnh đã có văn bản kiến nghị Cty KCP trả tiền cho bà nhưng đến nay 2 xe mía có trọng lượng hơn 48 tấn trị giá 30 triệu đồng của người phụ nữ có gan “nổi loạn” này vẫn chưa thu hồi được. “Hỏi vậy làm sao tôi còn dám làm ăn với Cty KCP nữa. Và từ đó đến nay, đến vụ thu hoạch, xe mía nào của tôi chở ra Bình Định đến địa phận xã Xuân Lãnh cũng đều bị CSGT chặn lại phạt và bắt phải cam kết phải bán mía cho Cty KCP”.

Anh Võ Văn Sỹ (55 tuổi) ở thôn Lãnh Trường, xã Xuân Lãnh, người đang sở hữu 1ha mía cho biết thêm: “Gia đình tôi trồng mía từ ngày giải phóng đến nay. Trước đây tôi đã từng bán mía cho Cty KCP. Thế nhưng giá cả luôn thấp hơn giá thu mua của các tư thương, lại còn “ép” người bán trong việc trừ tạp chất. Nếu như bán cho tư thương chúng tôi chỉ bị trừ tạp chất từ 1-2%, 1 tấn mía chỉ mất 20kg, còn ở Cty KCP trừ tạp chất đến 5-6%, 1 tấn mía mất đến 50-60kg, có nghĩa là 1 xe mía 20 tấn người bán mất đứt 1,4 tấn thì nông dân còn gì để ăn”.

“Bây giờ CSGT cứ chặn xe mía chở ra thì tư thương nào dám mua. Quanh năm có thấy bóng dáng ông CSGT nào ở đây đâu, nhưng cứ đến mùa thu hoạch mía là “nườm nượp” nên dân ở đây gọi cái chốt giao thông này là…chốt mía”- anh Sỹ “tố” khổ.

Ông Trịnh Minh Thái- PCT UBND xã Xuân Lãnh cho biết, cây trồng chủ lực của xã là cây mía với 1.000ha thu hút 80% dân số tham gia, tiếp đến là cây mì với 400ha, chỉ có 215 ha trồng lúa. Do chỉ ăn nước trời nên năng suất cây trồng ở đây rất thấp, mía trên đất tốt nhất cũng chi cho chừng 55 tấn/ha. Muốn cây mía phát triển ổn định nông dân cần phải đầu tư cao hơn các vùng mía khác. Thế nên khi bán mía, ai mà không muốn bán được giá cao để bù vào chi phí. Bây giờ bị “ngăn sông cấm chợ”, tư thương không dám mua, bán cho Cty KCP thì mất thu nhập.

Hiện nay dù tư thương không mua nhưng nhiều hộ nông dân vẫn không chặt mía bán cho Cty KCP chấp nhận ngày càng mất chữ đường, mất năng suất chờ tình hình được cải thiện. Mía đứng khô rang trên đồng dưới cái nắng như thiêu đốt. Tình trạng này đang ẩn chứa thảm họa: “bà hỏa” sẽ tấn công đồng mía. Và điều lo lắng này đã bắt đầu xảy ra. Ông Trịnh Minh Thái cho biết: “Vào đêm ngày 9/3, đám mía hơn 1 ha nằm gần vệ đường của ông Nguyễn Hùng (45 tuổi) ở thôn Lãnh Trường bị lửa thiêu rụi, may mà cứu kịp không bị cháy lan”.

TẬN MẮT CHỨNG KIẾN CẢNH SÁT CHẶN XE MÍA

Trưa ngày 9/3/2010, để xác minh thực hư, PV NNVN quyết định âm thầm đi theo xe mía của bà Loan chở mía về Bình Định. Theo chúng tôi biết thì xe mía này nhất định không phạm lỗi quá khổ quá tải vì chỉ chở chưa tới 10 tấn mía trên chiếc xe có trọng tải 20 tấn. Thế nhưng khi đến vùng giáp ranh Phú Yên- Bình Định thuộc xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân), lập tức 2 chiếc xe công tác, 1 của CSGT và 1 của Thanh tra giao thông Phú Yên ập đến chặn xe. Thật ngẫu nhiên, đúng lúc ấy có khoảng 7-8 nông dân địa phương đi làm đồng về thấy vậy đứng lại xem và phản ứng to tiếng, gay gắt.

PV đi lại bắt chuyện với họ để ghi âm những lời phát biểu bức xúc, vô tư của những nông dân chân chất này: “Trời quơi! Chiếc xe chở có bấy nhiêu mía kia mà bắt cái nỗi gì vậy. Sao không vào ngã ba trong kia để bắt những chiếc xe của Cty KCP chất mía “lút bin” mà lại cứ chặn bắt xe mía chở ra ngoài địa bàn. Làm gì cũng phải cho công bằng chứ để dân khỏi nói chứ. Nếu Cty KCP mua mía giá cao và dễ chịu như “người ta” thì ai mà không muốn bán gần cho đỡ tiền vận chuyển. Nếu không bị “chận”, người trồng mía ở đây bán cho các tư thương 1 xe mía sẽ có thêm được 2 triệu đồng. Nông dân ở vùng đất “khỉ ho cò gáy” này mà có thu nhập thêm được 2 triệu đồng/1 xe mía là lớn lắm”.

Ngày 12/3, NNVN đã có bài phản ánh chuyện cây mía ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên) bị “ngăn sông cấm chợ”. 2 hôm sau (14/3), chúng tôi bí mật trở lại vùng mía giáp ranh Bình Định- Phú Yên thuộc xã Xuân Lãnh, huyện Đồng Xuân (Phú Yên) mới nhận ra chuyện “ngăn sông cấm chợ” ngày càng nóng bỏng hơn.

Trong khi người trồng mía những địa phương khác đang tưng bừng thu hoạch mía trong niềm hân hoan tột cùng bởi giá thu mua của các NM Đường tăng tốc từng ngày thì nhiều hộ trồng mía ở huyện Đồng Xuân đang ngửa mặt than trời. Bởi lẽ mía đốn xong nằm thẳng cẳng dưới nắng chang chang mà chẳng tư thương nào dám mua vì biết chắc không thể nào “lọt” được cái “chốt chặn” tại làng Soi Nga, xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân) với lực lượng hùng hậu gồm CSGT, Thanh tra giao thông cùng “lủ khủ” dân phòng xã túc trực tại đây cả ngày lẫn đêm.

Lực lượng CSGT, Thanh tra giao thông cùng “lủ khủ” dân phòng xã túc trực ngày đêm tại “chốt mía” làng Soi Nga, Xuân Lãnh

Bây giờ chuyện “ngăn sông cấm chợ” không chỉ bằng cách chặn xe chở mía đi về hướng Bình Định vì lỗi quá khổ quá tải mà còn “tấn công” vào tận ruộng mía của những hộ nông dân không nhận đầu tư của Cty TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam với hy vọng được bán mía tự do với giá cao hơn.

Anh Nguyễn Văn Thanh quê ở xã Nhơn Mỹ, huyện An Nhơn (Bình Định) vào Đồng Xuân thu mua mía của những ruộng mía “tự do” mang về bán cho Cty CP Đường Bình Định than thở: “4 chiếc xe tải của tôi đang chất mía tại các ruộng mía thuộc xã Xuân Quang 2 (Đồng Xuân) thì cán bộ của Cty KCP đến tận ruộng mía gặp tôi và bảo “Nếu chở mía về bán cho KCP thì không vấn đề gì xảy ra. Còn nếu chở về Bình Định thì sẽ có CSGT “thăm hỏi”. Không còn cách nào cho xe đi lọt tôi đành đánh 4 xe mía chạy về bán cho KCP với giá rẻ”.

Nhưng đau hơn theo anh Thanh “Về đến bãi, KCP để 4 xe mía tôi nằm ngoài nắng từ sáng đến chiều mới tiến hành cân và chỉ mua với giá 760.000đ/tấn, trong khi đó tôi đã mua của nông dân đến 780.000đ/tấn lại còn bị trừ tạp chất đến 5% nên tính rốt ráo, giá bán mía chỉ còn có 680.000đ/tấn. Nếu chở được về bán cho Cty Đường Bình Định với giá hơn 800.000đ/tấn và chỉ trừ tạp chất 1% thì tôi còn có lãi, đằng này bán cho KCP 4 xe mía này tôi bị lỗ đến 6 triệu. Không chỉ vậy, bây giờ tôi đành “nằm chơi xơi nước” vì phải 10 ngày sau KCP mới thanh toán tiền”.

Chiếc xe của anh Nguyễn Thái Hòa đã bị CSGT gỡ biển số

Cả những nông dân địa phương tìm kế sinh nhai bằng nghề mua bán mía nhỏ lẻ nhằm xóa đói giảm nghèo cũng bị chính quyền địa phương “sờ gáy”. Anh Phan Đình Long ở thôn Lãnh Trường, xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân) ngán ngẩm: “Tôi không có vốn làm ăn lớn, chỉ dạo mua dăm ba đám mía của những hộ không “dính” đầu tư của KCP bán lại kiếm chênh lệch mỗi đầu tấn. Thế nhưng mới đây, khi vừa đốn mía xong tôi liền bị UBND xã Xuân Lãnh mời đến bảo là không có giấy “lưu thông mía” nên không cho tôi chở mía ra ngoài địa bàn. Tôi giải thích là tôi mua mía ở những hộ không nhận đầu tư thì tôi muốn bán đâu thì bán, nhưng “mấy ổng” không thông, gây khó dễ đủ bề. 2 xe mía 30 tấn của tôi chặt đã ngày thứ 5 rồi mà vẫn bị “giam” đến khô móp”.

Vào lúc 22 giờ ngày 14/3, đóng vai người buôn mía, PV NNVN ngồi trước cabin chiếc xe chở chừng 10 tấn mía đi từ Xuân Lãnh về huyện Vân Canh (Bình Định). Xe chở mía chạy đến “chốt mía” thuộc thôn Soi Nga thì bị hơn 10 CSGT, TTGT và dân quân xã chặn lại. Thấy xe mía chất thấp là vậy mà cũng bị CSGT bắt, hàng chục người dân địa phương đang ngồi hóng mát dọc đường bức xúc ùa ra phản ứng dữ dội. Chiếc xe CSGT lập tức nổ máy, chạy ào qua để thoát khỏi đám đông và biến mất. Chạy chừng 500m, chiếc xe CSGT dừng lại, đứng chắn ngang giữa đường để chặn xe mía.

PV NNVN ngồi trên cabin xe mía đã kịp dùng máy ảnh quay được 1 đoạn video clip cảnh làm việc “rất tích cực” của những nhà chức trách trong đêm tối và chiếc xe CSGT đứng ở vị trí rất…vi phạm luật giao thông để chặn những chiếc xe mía. Trong khi trước đó, theo ghi nhận của PV thì những chiếc xe chở mía của KCP chất mía cao “ngút trời” vẫn ung dung lưu hành suốt ngày mà không bị ngăn trở nào. Do trời tối lại không dám quay công khai nên hình ảnh không được đẹp, tuy nhiên video clip ngắn này cũng là bằng chứng không thể chối cãi về việc người trồng mía đang bị…hành khổ sở thế nào.

Có nghe thêm chuyện kể của anh Lê Thái Hòa (1966) ở thôn 4, xã Thành An, thị xã An Khê (Gia Lai), chủ chiếc xe tải 81L-4826 thì mới biết “hiệu lực kiểm tra” của CSGT Phú Yên nhằm vào những chiếc xe chở mía ra ngoại tỉnh “quyết liệt” đến mức nào. “Tôi có thằng em tên Võ lỡ mua mía ở xã Xuân Lãnh, mía đốn đã lâu nhưng vì CSGT chặn bắt gắt quá nên thuê giá cao mấy cũng không xe nào dám chở, mía đốn rồi để khô. Thương tình, tôi đánh xe xuống chở dùm. Xuống tới đây tối hôm 14/3 nhưng do trời tối thuê công chất lên xe không có. Sáng 15/3, khi đang chất mía thì thấy mấy “ông” CSGT lượn như chim én nên chất xong tôi không dám chạy xe ra, đã dừng xe núp vào bờ sông rồi nhưng vẫn bị “mấy ổng” tìm đến tháo biển số xe mất tiêu”.

Cuối cùng anh Hoà kết luận: “Tôi cũng đã có 5 năm làm cán bộ CA xã Thành An và đã có 7 năm làm tài xế vận chuyển mía từ An Khê về NM Đường Bình Định nhưng tôi chưa thấy nơi nào có chuyện CSGT chặn bắt mía “ngang xương” thế này”.

Anh Phạm Văn Võ (30 tuổi) ở xã Giang Bắc, huyện ĐăcBơ (Gia Lai), người thuê anh Hòa chở mía tâm sự: “Nếu không đi được mía cứ nằm dưới nắng gay gắt như thế này chắc chắn cứ 10 tấn mía mỗi ngày sẽ bị hao hụt mất 1 tấn vì mía khô. Tiền đi mua bán mía toàn vay, chuyến này lỗ to không biết lấy gì trả nợ”.

ĐỌC BÁO NNVN BỊ CÔNG AN MỜI LÊN ĐỒN… TRA HỎI

Chuyện xảy ra với ông Phạm Thành Đô (1960) ở thôn Lãnh Trường, xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân) mới thật sự là 1 “bi hài kịch”.

Số là sau khi NNVN có bài phản ánh về chuyện cây mía ở địa phương này bị “ngăn sông cấm chợ” khiến người trồng mía khóc đứng khóc ngồi, có người đọc được bài báo này mách lại, người trồng mía ở Xuân Lãnh rất phấn khởi vì có báo chí chia sẻ nỗi khó khăn nên ai nấy đều tìm báo đọc. Được người bạn cho mượn, ông Đô mang báo về chia sẻ với bà con trong xã. Nhưng không ngờ chuyện đọc báo khiến ông “rước họa vào thân”.

Giấy mời của UBND xã Xuân Lãnh mời ông Đô đến làm việc vì tội… đọc báo

Sáng ngày 13/3, ông Đô nhận được giấy của UBND xã Xuân Lãnh mời ông ngay chiều hôm ấy đến trụ sở UBND xã làm việc dù đó là ngày nghỉ. Làm việc với ông Đô là 1 cán bộ CA huyện Đồng Xuân. Tinh thần của buổi làm việc xoay quanh việc ông Đô có biết bài báo viết gì không và vì sao ông Đô giới thiệu cho nhiều nông dân trong vùng đọc bài báo đó?

Bức xúc quá, ngay tối hôm ấy ông Đô đã làm đơn gửi đến NNVN trình bày vụ việc trên. Lá đơn trình bày của ông Đô viết: “Báo Nông nghiệp VN là của cơ quan Nhà nước, chẳng lẽ nông dân chúng tôi đọc lại sai hay sao mà sau buổi làm việc đó, ông cán bộ Công an huyện còn nói để xem thử xếp tội tôi vào khung nào, lại còn bảo tôi sáng thứ hai tuần tới (15/3-PV) xuống huyện làm việc tiếp”.

Cũng xin nói rõ, khi thực hiện bài biết phản ánh thực trạng cây mía ở Đồng Xuân bị “ngăn sông cấm chợ” không có nghĩa là chúng tôi cổ súy cho người trồng mía ở đây bán mía cho các NM Đường Bình Định. Trước sau quan điểm của NNVN chỉ muốn có sự công bằng cho người trồng mía. Sẽ chẳng có gì để nói nếu KCP cạnh tranh nguyên liệu bằng cách nâng giá mía cao ngang bằng các NM đường trong khu vực và không thu mua “ép” nông dân bằng cách trừ tạp chất cao chứ không phải như cách KCP đang áp dụng hiện nay. 1 vụ mía kéo dài cả năm trời, đầu tư lớn, giờ mía bị “chặn” không bán được cầm bằng những người trồng mía ở Đồng Xuân đã lâm vào “cửa tử”

March 14, 2010

Doanh nghiệp xuất khẩu khốn đốn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:30 pm
Tags: , , ,

TP – “Cực kỳ khó khăn về vốn” – Tổng Giám đốc Cty CP Intimex, ông Đỗ Hà Nam thốt lên trên diễn đàn về xuất khẩu hôm 11-3.

Thứ trưởng Bộ Công Thương, ông Nguyễn Thành Biên cũng xác nhận: “Khó khăn lớn nhất hiện nay là các doanh nghiệp (DN) khó tiếp cận nguồn vốn để sản xuất hàng xuất khẩu”.

Các ngành chế biến xuất khẩu nông sản đặng gặp rất nhiều khó khăn về vốn  –  Ảnh: Phục Lễ

Nông thủy sản lao đao

Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên cảnh báo: Thị trường chứng khoán, bất động sản hút vốn rất mạnh, vì vậy, không khéo việc  lãi suất tăng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất xuất khẩu.

Tổng thư ký Hiệp hội Điều Việt Nam, ông Đặng Hoàng Giang cho biết, dự kiến tổng nhu cầu vốn cho thu mua, nhập khẩu và chế biến của toàn ngành Điều năm 2010 là 14.820 tỷ đồng để thu mua 400 nghìn tấn điều thô trong nước, nhập khẩu 250 nghìn tấn điều thô và phục vụ sản xuất 180 nghìn tấn nhân điều.

Tuy nhiên, hiện nay việc tiếp cận vốn của các ngân hàng thương mại là rất khó khăn, hạn mức cho vay thấp, lãi suất cao trong khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa giải ngân cho các khoản vay…

TGĐ Cty CP Intimex, ông Đỗ Hà Nam lo lắng: “Cà phê đang trong tình trạng báo động đỏ!”. Trong khi sản lượng cà phê giảm khoảng 30% so với năm trước vì mất mùa, mức độ tiêu thụ của thị trường thế giới cũng giảm nhưng giá bán ra của cà phê Việt Nam lại giảm mạnh, xấp xỉ 44% và hiện vẫn đang xuống dốc.

Hạt điều cũng không ngoại lệ. Trong khi giá bán thấp thì giá thu mua quá cao, từ 1.100 – 1.150 USD/tấn. Với giá nguyên liệu như hiện nay các DN hoàn toàn làm không công cho nước ngoài.

Thêm vào đó, chi phí đầu vào của ngành điều đã tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Hiện điện, nước, xăng dầu đều tăng nên DN đã khó lại càng thêm khó.

Ông Đỗ Hà Nam cũng nêu một thực tế không vui, khi các DN trong nước gặp khó khăn về vốn, các DN nước ngoài nhảy vào thu gom dự trữ và giành mất quyền nắm giữ các cơ hội kinh doanh.

Theo ông Nam, cũng do kẹt vốn nên các DN xuất khẩu Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị mất hợp đồng.

Khi DN Việt Nam thiếu vốn, một số đối tác chỉ dây dưa, chậm thanh toán là ngay lập tức DN Việt Nam hoảng hốt và phản ứng bằng cách siết chặt các yêu cầu thanh toán và đó là cớ để nhiều đối tác bỏ đi tìm đối tác khác.

Bao giờ hết khó?

Ông Nguyễn Thành Biên cũng cho biết Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ NN&PTNT xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông sản, thủy sản của một số ngành hàng có lượng hàng hóa lớn như gạo, thủy sản, cà phê và một số nông sản khác nhằm duy trì phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân và ổn định giá hàng hóa.

Theo đề nghị của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam,  Chính phủ giao các bộ ngành liên quan nghiên cứu ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất thu mua dự trữ 200.000 tấn để giữ giá cà phê đồng thời giúp nông dân không bị ảnh hưởng nặng nề.

Chính phủ tiếp tục kéo dài chương trình hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn đến hết năm 2010, đồng thời tiếp tục gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 3 tháng cho các nhóm đối tượng DN vừa và nhỏ; số thuế phải nộp từ hoạt động sản xuất, gia công dệt may, da giày của DN.

Theo các chuyên gia, việc giãn thời gian nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đã cho thấy quyết tâm hỗ trợ DN vượt qua khó khăn của Chính phủ.

Tuy nhiên, không phải khó khăn nào của DN cũng được “lắng nghe và thấu hiểu” và kịp thời giải quyết.

“Đề nghị Ngân hàng Phát triển Việt Nam sớm giải ngân và dành khoản tín dụng cho vay ngắn hạn 2.000 tỷ đồng để các DN ngành điều thu mua nguyên liệu từ tháng 3 đến tháng 7-2010”- Ông Đặng Hoàng Giang bức xúc.

Ông Giang cũng đề nghị ngân hàng này dành khoản tín dụng cho vay đầu tư trung hạn ưu đãi 1.500 tỷ đồng để giúp DN cải tạo nhà xưởng và đầu tư trang thiết bị phục vụ chế biến. Đồng thời đề nghị các ngân hàng giải quyết cho DN vay ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu phục vụ xuất khẩu.

Đồng bằng sông Cửu Long:

Nông dân và doanh nghiệp đều khát vốn

TP – Năm 2009, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được hơn 6 triệu tấn gạo, tương đương 3 tỷ USD. Trong đó, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp tới 95% lượng gạo hàng hóa xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối phó với khó khăn về vốn.

Ảnh minh họa

Theo thống kê, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn của cả nước đến nay vào khoảng 231 ngàn tỷ đồng; riêng khu vực ĐBSCL là 71 ngàn tỷ (chiếm 30,6%). Trong khi đó huy động vốn của cả khu vực chỉ đạt xấp xỉ 115 ngàn tỷ đồng, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn tại chỗ đang ngày một tăng.

Xuất phát từ thực tế trên, tại hội thảo tín dụng cho nông thôn tổ chức hôm 10-3, ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định: “Nhu cầu vốn của người nông dân và các doanh nghiệp khu vực ĐBSCL là rất lớn. Nhưng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của nông dân bị hạn chế do lãi suất và cơ chế vay vốn còn có nhiều điểm chưa phù hợp với đặc điểm nông thôn, nông dân”.

Hiện tại, các doanh nghiệp cũng đang đứng trước khó khăn lớn về vốn cho thu mua lúa gạo tạm trữ cho xuất khẩu. Do hầu hết doanh nghiệp chưa ký kết được hợp đồng với đối tác nước ngoài nên đều chưa thể vay vốn ngân hàng.

Trong khi đó, các doanh nghiệp mới chỉ tiến hành thu mua được 500 nghìn tấn trong tổng số 1 triệu tấn gạo theo kế hoạch; cùng với việc phát triển hệ thống kho chứa lên 4 triệu tấn vào cuối 2010 đầu 2011 sẽ đặt ra nhu cầu bức thiết về vốn cho các doanh nghiệp”.

Ông Nguyễn Danh Trọng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) phân tích: Tín dụng cho khu vực nông thôn nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng có những đặc trưng như nhu cầu vốn cho các hoạt động sản xuất thường cao hơn mức huy động được tại địa bàn; mạng lưới của các ngân hàng (ngoại trừ Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Agribank) chưa bao phủ rộng, khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân và doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng còn hạn chế…

Chẳng hạn, tại khu vực ĐBSCL, nguồn vốn huy động tại chỗ chỉ đạt 115 ngàn tỷ đồng (tương đương 6% tổng vốn huy động toàn hệ thống ngân hàng trong cả nước, khoảng 1.777 ngàn tỷ đồng) trong khi dư nợ cho vay lên tới 174 ngàn tỷ đồng.

Đó là còn chưa kể đến các nhu cầu chưa được ngân hàng đáp ứng mà vay từ nguồn tín dụng phi chính thống khác.

Dưới quan điểm của các doanh nghiệp đầu mối, ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, với dự kiến xuất khẩu tới 6 triệu tấn gạo trong năm 2010 (kim ngạch khoảng 3 tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khẩu gạo rất khó khăn trong việc xoay xở nguồn vốn.

Dù vừa qua, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã có chỉ đạo về việc đáp ứng nguồn vốn cho các doanh nghiệp thu mua gạo nhưng khi đầu ra vẫn còn khó khăn như hiện nay, các ngân hàng vẫn do dự khi cho vay.

Bên cạnh, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thể thực hiện việc đầu tư kho và hệ thống xay xát, chế biến cũng chỉ bởi một lý do: thiếu vốn.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Liên Việt cho biết, để giải quyết những khó khăn về vốn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL rất cần sự tham gia của ngân hàng trong liên kết 4 nhà (Nhà nước- Nhà nông- Nhà khoa học- Nhà doanh nghiệp).

Theo ông Hưởng, một trong những điểm bất cập của mô hình liên kết 4 nhà là việc doanh nghiệp thiếu vốn và phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân dẫn đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn lỏng lẻo.

Trong trường hợp xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng không trả được nợ, doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng vốn vay, giá thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính.

Hiện tại, để giải quyết bài toán vốn cho ĐBSCL, trước mắt, Liên Việt sẽ triển khai đề án “Đầu tư phát triển tín dụng nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL” với việc dành ra một khoản tín dụng từ 3 ngàn đến 5 ngàn tỷ đồng cho giai đoạn 2010 – 2013, trong đó riêng năm 2010, sẽ triển khai đề án với vốn lên đến 1,2 ngàn tỷ đồng.

Lúng túng chuyện giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:08 pm
Tags: , , ,

Dai dẳng mấy tháng nay, giới đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nhiều lần lên tiếng bày tỏ sự lo ngại trước khả năng Nhà nước tăng cường kiểm soát giá một số mặt hàng trong khi giới kinh doanh trong nước hầu như chưa thấy lên tiếng về vấn đề này. Vì sao thế?

Nguồn gốc chuyện kiểm soát giá

Căn nguyên của chuyện kiểm soát giá là bản dự thảo một thông tư do Bộ Tài chính soạn thảo nhằm thay thế Thông tư 104 được ban hành từ cuối năm 2008.

Trong khi Thông tư 104 quy định khá chi tiết các điều kiện áp dụng các biện pháp bình ổn giá đối với một số mặt hàng (ví dụ đối với sữa: “Trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động”) thì dự thảo chỉ ghi những điều kiện chung chung như “mức giá tăng cao hơn so với mức giá đã đăng ký, đã kê khai trước đó với cơ quan có thẩm quyền”…

Với các loại hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký giá, Thông tư 104 chỉ giới hạn vào các doanh nghiệp có trên 50% vốn sở hữu nhà nước trong khi dự thảo mở rộng ra tất cả doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục phải đăng ký giá, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Giới đầu tư quan ngại chuyện tăng giá.

Việc đưa ra một dự thảo mới thay thế cho Thông tư 104 là do thông tư này đã không làm được nhiệm vụ bình ổn giá như mục tiêu đề ra. Ví dụ trong năm 2009 dư luận xã hội nóng lên chuyện giá sữa tăng liên tục, nhiều người bất bình vì có loại sữa giá ở thị trường Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các thị trường khác trong khu vực.

Thế nhưng Thông tư 104 đã không cung cấp cho các cơ quan nhà nước cũng như chính quyền địa phương một công cụ để bình ổn giá vì đã quy định chỉ áp dụng các biện pháp bình ổn giá khi giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục. Trở ngại tương tự cũng xảy ra với các mặt hàng khác như gạo, thuốc chữa bệnh, đường… Nếu giá các mặt hàng này tăng dưới mức quy định trong thông tư thì các cấp quản lý cũng đành chịu.

Lập luận của giới đầu tư nước ngoài

Nay khi dự thảo đưa vào diện đăng ký giá, kê khai giá cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngay lập tức giới đầu tư nước ngoài phản ứng. Lần lượt các hiệp hội doanh nhân nước ngoài như EuroCham, AmCham đã gửi thư cho Bộ Tài chính, Chính phủ, trả lời báo chí nước ngoài và tổ chức hội thảo để phản đối các quy định kiểm soát giá.

Họ không hiểu vì sao Việt Nam lại muốn quay lại cơ chế kiểm soát giá chứ không theo quy luật thị trường và để thị trường quyết định giá hàng hóa. Họ cho rằng các quy định trong dự thảo sẽ gây ra những gánh nặng quản lý cho các doanh nghiệp khi phải thực hiện việc đăng ký giá cho hàng ngàn chủng loại hàng, rằng các thông tin về phương án giá (như giá vốn, giá nhập khẩu, chi phí bán hàng, lợi nhuận dự kiến…) là bí mật kinh doanh nay lại phải kê khai, đăng ký.

Các nhà đầu tư cũng cho rằng với khả năng có chuyện kiểm soát giá như thế, các dự án FDI vào các lĩnh vực sản xuất hàng hóa trong danh mục như sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất dầu thực vật, phân bón, và sữa sẽ lưỡng lự trước khi quyết định đầu tư vì không nhà đầu tư nào muốn sản phẩm của mình phải chịu áp đặt giá. Họ cũng đặt vấn đề liệu kiểm soát giá như thế có trái với các cam kết WTO hay không bởi các văn bản gia nhập có cam kết: “kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng các biện pháp quản lý giá phù hợp với quy định của WTO”.

Vấn đề tâm lý

Sự bất lực của cơ quan quản lý giá đối với một số mặt hàng như sữa, đường hay tân dược trong năm 2009 là yếu tố thuận lợi cho việc ra đời dự thảo thay thế cho Thông tư 104.

Việc loại bỏ các điều kiện cụ thể trước khi có thể áp dụng các biện pháp bình ổn giá được kỳ vọng sẽ giúp cơ quan quản lý kiểm soát được giá sữa, giá thuốc chữa bệnh bất kể giá có tăng dưới 20% (sữa) hay dưới 15% (thuốc chữa bệnh). Buộc đăng ký giá đối với tất cả các khâu từ sản xuất, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ cho đến đại lý cũng được kỳ vọng sẽ lấp khe hở của Thông tư 104 khi trong thực tế năm 2009, các doanh nghiệp kinh doanh sữa hay thuốc chữa bệnh ở Việt Nam là nhà phân phối cho các hãng nước ngoài, không thuộc diện đăng ký giá.

Chính vì thế mà đã từng có những kiến nghị Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư 104 theo hướng “tất cả doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ nhà nước bình ổn giá phải thực hiện đăng ký giá theo quy định pháp luật”.

Bối cảnh những tháng đầu năm 2010 cũng thuận lợi cho dự thảo khi nhiều mặt hàng liên tục tăng giá, trong đó có nhiều mặt hàng là đầu vào cho dây chuyền sản xuất của nhiều doanh nghiệp khác. Bởi vậy, doanh nghiệp trong nước giữ im lặng trước dự thảo là điều dễ hiểu. Mặt khác, cũng có phỏng đoán, giới doanh nghiệp trong nước hiểu rõ tính khả thi thấp của các biện pháp kiểm soát giá nên giữ thái độ im lặng vì cho rằng mọi việc rồi sẽ “đâu vào đó”. Chuyện giá xăng tăng liên tục bất kể nhiều quy định chặt chẽ là một minh họa điển hình.

Nhưng quan trọng hơn là tính khả thi

Việc kiểm soát giá chưa bao giờ là một vấn đề mang tính khả thi cao. Giả dụ theo tinh thần của dự thảo, để áp dụng biện pháp bình ổn giá, Bộ Tài chính có thể quy định giá tối đa và giá tối thiểu cho một sản phẩm, nhà cung cấp sẽ giữ lại không đưa mặt hàng này vào thị trường nữa và ngay lập tức thị trường sẽ hình thành những loại “chợ đen” buôn bán “chui” các sản phẩm này với giá thật sự theo cung cầu thị trường.

Biện pháp kiểm soát hàng tồn kho của doanh nghiệp là sự can thiệp quá mức vào việc kinh doanh, sẽ vấp phải sự chống đối cao hơn nữa. Kiểm soát giá sẽ dẫn đến sự khan hiếm giả tạo như thời kỳ bao cấp, phải mua hàng hóa bằng tem phiếu và sau cùng giá cả sẽ trở nên đắt đỏ, lạm phát cao sẽ quay trở lại – những hệ quả hoàn toàn trái ngược mục tiêu của dự thảo mong muốn đạt được.

Dự thảo có nhiều đoạn mang tính mơ hồ không định lượng được như “biến động một cách bất thường”, “giá tăng quá cao hoặc quá thấp không hợp lý”, “những yếu tố hình thành giá không hợp lý”. Làm sao để doanh nghiệp biết được thế nào là bất thường, thế nào là không hợp lý thì không thấy dự thảo hướng dẫn hay giải thích. Thử hỏi với quy định như thế này “giá do các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định giá không đúng các yếu tố hình thành giá theo quy định của pháp luật” làm sao doanh nghiệp hiểu để tuân thủ?

Bộ máy hành chính phục vụ công việc kiểm soát giá cũng không thể nào kham nổi khối lượng công việc khổng lồ, tiếp nhận đăng ký giá, theo dõi biến động giá, hiệp thương giá… vì giá chịu rất nhiều yếu tố đầu vào khác nhau tác động như tỷ giá, giá thế giới, giá xăng dầu, giá điện, lương, chi phí sản xuất…

Không thể nào tưởng tượng nổi chuyện doanh nghiệp sản xuất một mặt hàng trong diện đăng ký giá, mỗi khi thay đổi giá thì phải thực hiện đúng quy trình thực hiện phương án điều chỉnh giá phức tạp mới được tăng hay giảm giá bán. Có những quy định mới nhìn vào đã thấy không thể nào thực hiện được, không hiểu sao dự thảo vẫn đưa vào.

Ví dụ, Sở Tài chính sẽ là nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký giá của các thành phần kinh tế khác (ngoài doanh nghiệp do Nhà nước nắm 51% vốn điều lệ trở lên – đăng ký ở Bộ Tài chính) nhưng làm sao một sở ở một địa phương có đủ nguồn lực để biết doanh nghiệp đăng ký giá như thế nhưng có thực hiện đúng giá đã đăng ký không ở trên các thị trường khắp cả nước. Làm sao doanh nghiệp, mặc dù đã đăng ký giá, có thể kiểm soát được việc bán đúng giá đã đăng ký tại hàng chục ngàn hay thậm chí hàng trăm ngàn điểm bán lẻ trên khắp cả nước.

Biện pháp thay thế

Cứ vài ba năm, lại rộ lên một chuyện nào đó với cộng đồng đầu tư nước ngoài. Cách đây mấy năm là chuyện hiểu nhầm phải ghi tên công ty bằng tiếng Việt, rồi trước đó nữa là vấn nạn hai giá. Nay vấn đề kiểm soát giá thật sự là một chuyện không hay ho gì cho việc quảng bá môi trường kinh doanh của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam vẫn còn bị xem là nền kinh tế phi thị trường, những nỗ lực để các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường chắc chắn bị ảnh hưởng xấu bởi chuyện kiểm soát giá mà tính khả thi, như phân tích ở trên là rất ít.

Thông tư 104 với đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối mà cũng không triển khai được trong thực tế thì dự thảo thay thế với đối tượng mở rộng ra nhiều lần sẽ càng khó thực thi hơn. Tại sao không sử dụng các luật đã có như Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng và quan trọng nhất là quy luật thị trường để kiểm soát giá.

Riêng với các mặt hàng “nhạy cảm” với công luận như sữa, thuốc chữa bệnh thì nên có những nghiên cứu riêng để áp dụng. Điều quan trọng đối với vai trò của các cơ quan nhà nước trong quản lý giá là tính minh bạch, là thông tin rõ ràng trong các khâu phân phối để người tiêu dùng tự mình quyết định. Chính họ là nguồn áp lực lớn nhất buộc nhà sản xuất phải điều chỉnh giá cho phù hợp với cung cầu thị trường. Vai trò đó cũng là tạo một môi trường kinh doanh có cạnh tranh lành mạnh chứ không phải là dùng các biện pháp hành chính, càng làm méo mó thị trường, càng tạo điều kiện cho đầu cơ giá.

March 12, 2010

Giá xăng dầu công khai cỡ nào ?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:20 pm
Tags: , ,

Các cơ quan quản lý cho rằng có thể giám sát được sự minh bạch của doanh nghiệp xăng dầu khi cách tính giá mặt hàng này được công khai. Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế nhận định các công ty xăng dầu đã công khai thì phải công bố chi tiết, nếu không, đó có thể là động thái đánh lạc hướng dư luận, làm như vậy là để thu phục lòng tin của người tiêu dùng

Sau phản ứng của dư luận về giá xăng tăng nhiều, giảm ít, Tổng Công ty Xăng dầu VN (Petrolimex VN) khẳng định với báo giới sẽ đăng tải công thức tính giá cơ sở xăng dầu lên trang chủ website của tổng công ty cho mọi người tham khảo và giám sát.
Vẫn phải chạy theo “anh cả”
Theo ông Bùi Ngọc Bảo, Tổng Giám đốc Petrolimex VN, việc công khai công thức tính giá sẽ được thực hiện từ tuần tới. Công thức này sẽ dựa vào công thức đã được công bố theo Nghị định 84/2009/NĐ-CP, bao gồm giá nhập khẩu từ thị trường Singapore, thuế, chiết khấu, chi phí hoạt động và những yếu tố quan trọng khác.
Việc công khai công thức tính giá xăng dầu cũng được đại diện Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội cho là  cần thiết. “Sắp tới, khi trang web của Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội đi vào hoạt động, chúng tôi sẽ công khai cách tính giá bán lẻ xăng dầu lên mạng” – ông Cao Văn Hân, giám đốc điều hành đơn vị này, cho biết.
Đại diện một doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tại TPHCM bày tỏ việc công khai công thức tính giá cơ sở xăng dầu là thỏa đáng nhưng nếu đã có Petrolimex VN đăng tải lên website, các doanh nghiệp khác không nhất thiết phải đăng vì là công thức chung, người tiêu dùng có thể xem đó là căn cứ để tính toán.
Theo đại diện một doanh nghiệp trong ngành, kể cả khi “anh cả” Petrolimex VN công khai công thức tính giá mặt hàng xăng dầu, các doanh nghiệp khác vẫn phải chạy theo Petrolimex VN trong việc điều chỉnh giá.

Việc giá xăng dầu tăng nhiều, giảm ít đã khiến người tiêu dùng mất lòng tin đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh mặt hàng thiết yếu này. Ảnh: T.Thạnh
Đã từng có thời điểm các doanh nghiệp khác lỗ nặng vì đầu vào tăng quá cao nhưng vẫn chưa thể điều chỉnh vì còn phải chờ Petrolimex VN.

Trong thực tế, kể từ ngày 15-12-2009, Nghị định 84/2009/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu có hiệu lực, chỉ sau khi doanh nghiệp có thị phần lớn nhất là Petrolimex VN có động thái giảm giá xăng dầu thì các doanh nghiệp khác như PV Oil, Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội… mới thông báo áp dụng giá bán với mức giảm tương tự. Thậm chí, nhiều đơn vị phân phối bán lẻ đã giảm giá xăng thấp hơn so với Petrolimex VN.
Nhiều thông tin khó kiểm chứng
Theo các cơ quan quản lý, việc công khai công thức tính giá mặt hàng xăng dầu là cơ sở để cơ quan quản lý và người tiêu dùng nắm được cơ cấu giá, thông qua đó giám sát được giá xăng dầu của doanh nghiệp.

Việc công khai cơ cấu giá này sẽ giải quyết được những vấn đề mà dư luận nghi ngờ về tính minh bạch trong cơ cấu giá thành của xăng dầu từ trước đến nay. Tuy nhiên, giới chuyên môn lại có cái nhìn thận trọng hơn. TS Nguyễn Quang A cho rằng công thức tính giá cơ sở của mặt hàng xăng dầu đã nêu rõ ở Nghị định 84/2009/NĐ-CP, muốn tính được phải có đầy đủ thông số đầu vào.

Do đó, quan trọng là doanh nghiệp phải công bố chi tiết chuỗi số liệu như giá nhập khẩu, chi phí, lợi nhuận định mức… Đó không chỉ là số liệu tức thời của thời điểm nhập lô hàng mà cần cung cấp cả “dữ liệu lịch sử” như giá nhập khẩu của 30 ngày trước, thuế, phí, chi phí…

Từ  các thông số này, có thể vẽ được đồ thị giá để kiểm tra chính xác giá bán thực tế. Theo TS Nguyễn Quang A, những thông số đầu vào như vậy không phải bí mật kinh doanh, vì doanh nghiệp lớn như Petrolimex VN đằng nào cũng phải qua kiểm toán.

Việc họ có chịu tiết lộ không là chuyện khác và ngay cả khi chịu công bố, số liệu đó chưa chắc đã chính xác. “Giá ký hợp đồng thực có thể thấp hoặc cao hơn giá công bố ở Singapore nên nếu doanh nghiệp gửi giá thì sao? Giá vận chuyển đã là giá tiết kiệm nhất hay chưa?

Còn rất nhiều thông tin khó kiểm chứng, công khai là tốt nhưng cần phải theo dõi xem những con số đó đã chuẩn hay chưa. Tôi cho rằng doanh nghiệp nói công bố là một bước tiến đáng hoan nghênh nhưng phải công bố chi tiết, nếu không, đó có thể là động thái đánh lạc hướng dư luận” – TS Nguyễn Quang A bình luận.
TS Vũ Đình Ánh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thị trường giá cả, lại cho rằng đây không phải là sự tiến bộ của doanh nghiệp mà chẳng qua vì họ đã đẩy người tiêu dùng đến trạng thái mất lòng tin nên phải công khai để người dân kiểm định và tin rằng tất cả các yếu tố tính giá đều đáng tin cậy.

Quốc gia nào cũng phải tiêu dùng xăng dầu nhưng người dân không phải bận tâm đến giá bán. Ở VN thì khác, người dân rất quan tâm vì họ mất lòng tin.

Mập mờ kết cấu giá thành

Công thức tính giá bán lẻ xăng dầu dựa vào hơn 10 yếu tố tính giá cơ sở.

Trong đó, công thức đã được công khai nhưng các yếu tố cơ sở thì còn mập mờ, ví dụ tính theo tỉ giá nào; lợi nhuận hợp lý là lợi nhuận tính trên vốn chủ sở hữu hay trên doanh thu; giá nhập khẩu lấy ở đâu…

Ngay cả biểu thuế cũng có nhiều loại, doanh nghiệp chỉ đề cập chung chung là thuế nhập khẩu chứ không bóc tách chi tiết các loại thuế GTGT, tiêu thụ đặc biệt.

Nếu công khai được các yếu tố hình thành giá cơ sở mới giải quyết được vấn đề làm rõ lý do tăng, giảm giá; còn mức tăng – giảm hợp lý hay chưa còn phụ thuộc vào khoản thu của Nhà nước, hiện đang chiếm 50% giá thành đối với mặt hàng xăng dầu.

March 7, 2010

Còn độc quyền, Nhà nước phải quyết giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:29 am
Tags: , ,

TT – Tiếp tục câu chuyện “giá xăng VN cao hơn giá thế giới và điều chỉnh dồn dập”, Tuổi Trẻ đã có cuộc trao đổi với ông Ngô Trí Long, nguyên viện phó Viện Nghiên cứu thị trường giá cả. Ông Long cho biết:

Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải thay đổi cơ chế điều hành xăng dầu hiện nay – Ảnh: T.Đạm

– Tôi có nghe khẳng định của đại diện Ủy ban Giám sát tài chính tiền tệ quốc gia về việc giá xăng VN cao hơn giá thế giới 5%. Tôi cũng đã xem kỹ khẳng định của cục phó Cục Quản lý giá Nguyễn Thanh Hương. Sau tết, ngay sau khi giá xăng tăng ngày 21-2, thói quen của người lâu năm nghiên cứu giá cả, tôi đã tính giá xăng của Mỹ.

Thời điểm đó, giá xăng của Mỹ là 3 USD/gallon (1 gallon bằng 3,8 lít). Sau khi quy đổi ra tiền VN, nếu theo tỉ giá của thị trường tự do là 19.500 đồng/USD, giá xăng của Mỹ cũng chỉ 15.300 đồng/lít. Giá của VN là 16.990 đồng/lít thì cao hơn giá xăng của Mỹ gần 2.000 đồng/lít. Đây là một thực tế. Số liệu giá xăng của Mỹ bây giờ công khai trên mạng, chỉ việc tải xuống và tính.

Tôi nghĩ Cục Quản lý giá có thể so với nhiều nước như Lào, Campuchia hay Thái Lan nhưng theo tôi, Mỹ là một nền kinh tế thị trường quan trọng, nên cần thiết phải so cả với Mỹ để dư luận được thông tin nhiều chiều, có thể đánh giá một cách khách quan hơn.

* Thưa ông, theo cuộc họp mới đây của các cơ quan có chức năng giám sát giá xăng dầu thì các doanh nghiệp đã tăng giá đúng?

– Nếu theo cơ chế hiện nay thì doanh nghiệp sẽ luôn đúng vì việc thay đổi giá theo quy định không có khó khăn gì cho họ cả. Về nguyên tắc quản lý giá, giá cả chỉ do doanh nghiệp định đoạt khi nó không phải là mặt hàng độc quyền vì đã có quy luật cạnh tranh chi phối. Nếu đã là mặt hàng độc quyền thì ở nền kinh tế thị trường nào nhà nước cũng phải định giá.

Hiện chúng ta muốn cho xăng dầu theo giá thị trường nhưng ngay nghị định 84/2009 do các cơ quan như Bộ Tài chính, Bộ Công thương soạn thảo nó đã thực thị trường đâu? Được tự tăng giá đến 7%, từ 7% trở lên đến 12% thì chỉ tăng một phần, phần còn lại lấy quỹ bình ổn giá. Như vậy đâu có thực là thị trường?

Sẽ rất nguy hiểm nếu để doanh nghiệp độc quyền được tự quyết giá bởi nếu vậy quyền lực của họ rất lớn. Bởi khi Petrolimex với gần 70% thị phần quyết tăng giá hay giảm giá, những đơn vị khác sẽ buộc phải theo. Nếu bán giá cao hơn thì mất khách, bán thấp quá thì lỗ. Điều này có thể khiến các doanh nghiệp nhỏ hơn lâm vào khó khăn và phá sản.

Thời gian qua, giá xăng dầu thế giới tăng không quá mạnh nhưng tại VN, trong năm tháng giá xăng đã tăng bốn lần. Vậy nếu tình trạng giá xăng dầu thế giới quay lại tình hình năm 2007-2008, lên đến 140 USD/thùng thì tình hình sẽ thế nào? Việc can thiệp của các cơ quan nhà nước có kịp thời nữa không? Nên theo tôi, đã là độc quyền phải do Nhà nước quyết giá, không thể nửa vời vừa doanh nghiệp quyết, rồi các cơ quan nhà nước bám theo như hiện nay.

* Với cơ chế độc quyền như hiện nay, theo ông, phải làm cách nào để người dân có được giá xăng dầu thật sự hợp lý?

– Có hai hướng. Thứ nhất, theo tôi, phải sửa lại nghị định 84/2009 theo hướng không giao quyền quyết giá xăng dầu cho doanh nghiệp. Vẫn còn độc quyền thì các cơ quan nhà nước phải là người quyết giá với nguyên tắc hài hòa lợi ích nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng. Nếu đã thị trường thì phải thị trường hẳn, chứ không nên nửa thị trường ở chỗ tăng quyền cho doanh nghiệp, nửa không thị trường ở chỗ giữ nguyên độc quyền doanh nghiệp.

Thứ hai, nếu muốn áp dụng việc cho doanh nghiệp tự định giá thì nên áp dụng cơ chế phá độc quyền mà các nước vẫn làm. Hoặc phải tạo đối thủ cạnh tranh đủ mạnh, hoặc chia nhỏ Petrolimex thành nhiều doanh nghiệp, sao cho mỗi doanh nghiệp này chiếm không quá 30% thị phần. Việc này thực chất không quá khó vì dù chia thì đó vẫn là doanh nghiệp nhà nước. Chỉ khi không còn vị thế độc quyền, thật sự phải cạnh tranh thì doanh nghiệp mới thực có động lực giảm chi phí, giảm giá thành.

Một chuyên gia cao cấp từng làm việc ở Cục Quản lý giá:

Nhà nước nắm thượng nguồn, thả tự do hạ nguồn

Chúng ta phải tách bạch giữa thượng nguồn với hạ nguồn như thế giới vẫn làm để quản lý hiệu quả. Xăng, dầu, khí là nguồn năng lượng Nhà nước phải nắm nhưng nắm ở thượng nguồn để điều tiết khi cần và để bảo đảm an ninh năng lượng cho đất nước. Chúng ta phải hình thành một cơ chế mới để quản lý và có đơn vị thay mặt Nhà nước quản lý và điều hành nguồn tài nguyên quốc gia này.

Tôi nghĩ chúng ta đủ nguồn lực để làm với vai trò chủ lực của hai đơn vị là Tập đoàn Dầu khí VN (Petro Vietnam) và Tổng công ty Xăng dầu VN (Petrolimex). Nói một cách nôm na như việc thành lập một ngân hàng năng lượng. Hai đơn vị này hiện sở hữu nguồn cơ sở vật chất, kho bãi hoạt động tương tự ngân hàng trung ương điều tiết thị trường tiền tệ, chỉ can thiệp khi cần thiết.

Chúng ta hiện đang lẫn lộn giữa thượng nguồn với hạ nguồn. Cổ phần hóa là tốt nhưng những ngành quan trọng, tài nguyên quốc gia thì Nhà nước phải nắm. Đừng ngộ nhận việc cổ phần hóa mà làm tràn lan. Các tập đoàn nhà nước lớn hiện nay mang tiếng của Nhà nước nhưng các công ty con thì đã và đang cổ phần hóa. Điều đó càng cho thấy phải tách bạch việc quản lý thượng nguồn và hạ nguồn, nếu không tài nguyên quốc gia sẽ thất thoát.

Còn phần hạ nguồn là các đơn vị kinh doanh bán lẻ, phân phối thì cổ phần hóa, cho tư nhân tham gia thoải mái. Với kiểu quản lý hiện nay, Petrolimex là đơn vị vừa đá bóng vừa thổi còi. Họ được sở hữu nguồn lực của Nhà nước quá lớn, hệ thống đại lý bao trùm thì làm sao có cạnh tranh thật sự. Tôi tin rằng một khi kênh phân phối được khơi thông, thị trường sẽ minh bạch hơn bởi có cạnh tranh.

March 4, 2010

Xuất khẩu gạo: Làm gì để nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi?

Ngày 2/3, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã tổng kết công tác xuất khẩu gạo năm 2009 và triển khai mua vào lúa gạo hàng hóa vụ đông xuân 2009/2010.

Theo báo cáo của VFA, số lượng hợp đồng xuất khẩu gạo đã đăng ký đến ngày 31/12/2009, gồm: hợp đồng tập trung 4,300 triệu tấn, chiếm 51,5%. Hợp đồng thương mại 4,051 triệu tấn, chiếm 48,5%. Tổng cộng là 8,351 triệu tấn, tăng 52,62% so với cùng kỳ 2008.

Năm 2010 sẽ xuất khẩu 6 triệu tấn gạo

Dự kiến thị trường xuất khẩu gạo năm 2010 sẽ không thay đổi nhiều, gồm các thị trường truyền thống như: Philippines, Malaysia, Cuba, châu Phi, Iraq, Đông Timor và các thị trường khác.

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lượng gạo tồn kho 2009 chuyển sang là 1,45 triệu tấn, lượng gạo hàng hóa cần tiêu thụ 2010 là 5,8 triệu tấn. Sản lượng gạo cần xuất khẩu là 7,25 triệu tấn. Kế hoạch xuất khẩu quí 1 là 1,2 triệu tấn, quí 2 là 2 triệu tấn, quí 3 là 1,5 triệu tấn, quí 4 là 1,3 triệu tấn, tổng cộng 6 triệu tấn.

Chủ tịch VFA Trương Thanh Phong cho biết, để xuất khẩu được 6 triệu tấn gạo phải có nhiều biện pháp rất quyết liệt, vì hiện nay chỉ mới có hợp đồng 2,5 triệu tấn, trong khi tình hình hợp đồng thương mại rất trầm lắng. Tuy nhiên, châu Phi chắc chắn sẽ nhập gạo, do vậy từ tháng 5 đến tháng 6 tình hình thị trường mới rõ nét.

Cũng theo ông Phong, năm 2010, chỉ tiêu sẽ không giao cho các tỉnh, còn lương thực và có thị trường thì sẽ xuất khẩu không hạn chế.

Để kịp thời tiêu thụ lúa gạo hàng hóa vụ đông xuân đã vào thu hoạch và đảm bảo lợi ích của nông dân trong lúc thị trường xuất khẩu khó khăn, tiến độ xuất khẩu chậm, VFA thống nhất triển khai kế hoạch tạm trữ 1 triệu tấn gạo hàng hóa vụ đông xuân tại đồng bằng sông Cửu long. Đợt 1: 600 ngàn tấn; đợt 2: 400 ngàn tấn. Giá mua theo thị trường nhưng phải bảo đảm giá gạo qui đổi không dưới giá tối thiểu 4.000 đồng/kg lúa khô, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu tại kho doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp đề nghị VFA đàm phán và yêu cầu khách hàng có kế hoạch nhận hàng sớm để giải phóng kho, VFA cần có cơ chế điều hành giá gạo xuất khẩu linh hoạt hơn, tổ chức lại đội ngũ hàng xáo. Phải gắn kết quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp với quyền lợi và nghĩa vụ của người nông dân.

Có ý kiến cho rằng đã và đang xảy ra tình trạng doanh nghiệp xé rào bán phá giá và chào bán gạo dưới giá sàn, VFA và Chính phủ cần có biện pháp chế tài đủ mạnh để chấm dứt tình trạng này. Đề nghị cho doanh nghiệp thanh toán tiền mua gạo cho hàng xáo bằng tiền mặt.

Ngại mua gạo tạm trữ do lãi suất ngân hàng

Theo ông Lê Minh Trượng, Giám đốc Công ty Xuất khẩu gạo Sông Hậu, chủ trương mua lúa, gạo tạm trữ ngay khi giá lúa xuống thấp để bình ổn thị trường ngay từ đầu vụ là rất đúng, nhưng do lãi suất vay 12% cộng phí đã đẩy mức lãi lên 14% đến 16%/năm, khiến doanh nghiệp ngại mua gạo tạm trữ.

Tuy nhiên, ông Phong cho rằng: “Theo tôi, chúng ta mới mua để đó chưa bán, đề nghị Chính phủ hỗ trợ lãi suất là không đúng. Do vậy, trước mắt VFA sẽ phân bổ hợp đồng tập trung để các đơn vị này bù đắp”.

Ông Vương Bình Thạnh, Phó chủ tịch UBDN tỉnh An Giang đề nghị, năm 2010, VFA phải chú ý đến công tác dự báo, thông tin thị trường phải đầy đủ, kịp thời đến các địa phương và nông dân. Vấn đề bức xúc nhất hiện nay là giá lúa đang xuống, giao cho 30 doanh nghiệp mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo là rất đúng.

Trên cơ sở thực tế An Giang đề nghị giá sàn thu mua lúa phải từ 4.200đồng/kg trở lên và tổ chức thu mua thế nào để nông dân không bị ép giá. Chủ trương mua tạm trữ cần làm thường xuyên liên tục, không đợi giá lúa xuống mới mua trữ và lúc nào trong kho doanh nghiệp cũng có gạo.

Còn theo ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, có 3 điều cần quan tâm trong công tác điều hành xuất khẩu gạo. Một là chủ trương mua gạo tạm trữ giữ giá lúa nếu không hỗ trợ lãi suất thì doanh nghiệp sợ lỗ sẽ không tổ chức thu mua đúng tiến độ. Thứ hai, cần mở rộng thêm diện tích kho dự trữ, để lúc cao điểm cần dự trữ thì có.

Cuối cùng, các hợp đồng tập trung của Chính phủ có giá cao, dư luận rất quan tâm về sự phân bổ chỉ tiêu các hợp đồng này, do vậy cần tổ chức đấu thầu cung ứng các hợp đồng tập trung để tạo tính minh bạch.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên cho biết, hiện nay thị trường có nhiều biến động, biện pháp đẩy mạnh thu mua tạm trữ cũng như đẩy mạnh tiến độ giao hàng là giải pháp cần thiết để giữ thị trường, không để giá biến động bất lợi cho sản xuất lúa, gạo ảnh hướng đến doanh nghiệp và nông dân.

Trong bối cảnh đó, Bộ Công Thương và VFA đang chỉ đạo và kiểm tra, giám sát kế hoạch triển khai mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo, cũng như kỹ thuật thực hiện các hợp đồng thương mại, trong đó giao VFA có  biện pháp phối hợp với các cơ quan chức năng trong khâu đăng ký hợp đồng cũng như việc thực hiện giao hàng kể cả các cơ quan hải quan, thuế.

Đồng thời, giám sát việc đăng ký giá xuất khẩu và xử lý nghiêm hiện tượng đăng ký, khai báo giá thấp hơn trong hợp đồng. Nếu phát hiện vi phạm, VFA và Tổ điều hành xuất khẩu gạo sẽ áp dụng các biện pháp chế tài một cách cương quyết như dừng đăng ký hợp đồng xuất khẩu gạo, nếu là doanh nghiệp trong hiệp hội thì dừng tư cách hội viên, thậm chí rút giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp.

February 28, 2010

Đấu trí trên thị trường gạo thế giới

Thứ sáu, 26/02/2010, 01:02 (GMT+7)
Trong buổi họp báo ngày 25-2 tại TPHCM do Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tổ chức, ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Thường trực VFA cho biết, 2 tháng đầu năm, các doanh nghiệp xuất khẩu 704.000 tấn gạo (tháng 2 là 350.000 tấn gạo), với giá trị kim ngạch là 389 triệu USD (giá CIF – giao hàng tại cảng nước ngoài), giá bình quân 473 USD/tấn, nếu so 2 tháng cùng kỳ năm 2009 thì lượng xuất giảm 25,22% và giá trị giảm 7,35% (giá CIF), nhưng giá xuất bình quân tăng 73,8 USD/tấn.

Kiểm tra chất lượng gạo xuất khẩu tại Công ty Lương thực Trà Vinh. Ảnh: Đ.C.P.

Mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo

* Theo VFA, lượng lúa hàng hóa vụ đông-xuân 2009 – 2010 quy ra gạo khoảng 3 triệu tấn cùng với lượng gạo tồn kho năm 2009 gối đầu 1,45 triệu tấn, như vậy cân đối 6 tháng đầu năm là 4,45 triệu tấn gạo để xuất khẩu. Trong đó, quý 1 là 1,15 triệu tấn, quý 2 có thể xuất khẩu 2 triệu tấn. Dự kiến cả năm xuất khẩu 5,5 – 6 triệu tấn gạo. Vấn đề hiện nay là hợp đồng ký thêm trong quý 2 khoảng 650.000 tấn.

Cũng tại buổi họp báo, Phó Chủ tịch VFA Phạm Văn Bảy cho biết, giá gạo 5% tấm của Thái Lan chỉ còn 515 USD/tấn, gạo 25% tấm là 485 USD/tấn. Gạo 5% tấm của Pakistan cũng giảm xuống còn 440 USD/tấn, gạo 25% là 350 USD tấn. Giá gạo chào bán của VFA cũng ở mức 440 USD/tấn (gạo 5%). Như vậy là giá gạo trên thị trường thế giới giảm khá mạnh so với cuối năm 2009. Giá gạo thế giới giảm, cộng với tiến độ xuất khẩu chậm đã tác động thị trường lúa gạo trong nước, khi thương nhân mua vào hạn chế làm giảm khá mạnh giá lúa những ngày qua.

Trước tình hình này, VFA cam kết mua hết lúa hàng hóa vụ đông-xuân (khoảng 6 triệu tấn) và quyết định mua ngay 1 triệu tấn gạo (gần 2 triệu tấn lúa) từ ngày 25-2 đến tháng 4. Trong đó, riêng tháng 3 là 600.000 tấn gạo nhằm giảm bớt áp lực lúa hàng hóa trên thị trường khi lúa đông-xuân vào vụ thu hoạch. Khoảng 30 doanh nghiệp (DN) hàng đầu xuất khẩu gạo (có kho tàng, nhà máy xay, kim ngạch xuất khẩu cao, tài chính lành mạnh…) được VFA giao chỉ tiêu mua gạo tạm trữ (không tính lượng gạo mua để xuất khẩu).

Để tạo điều kiện cho những DN này tích cực mua gạo tạm trữ, VFA sẽ báo cáo để Chính phủ có những giải pháp hỗ trợ cho DN sau này (lãi suất ưu đãi chẳng hạn). Trước mắt, VFA sẽ ưu tiên giải quyết việc xuất khẩu gạo theo hợp đồng tập trung đã ký được phân chia trước đó của DN để giải phóng kho tàng, có tiền mặt. VFA cũng ưu tiên phân chia cho các DN này lượng gạo hợp đồng tập trung sẽ được đấu thầu trong thời gian tới với Philippines, Malaysia…

Theo VFA, giá lúa khô đạt tiêu chuẩn xuất khẩu mua tại kho DN hiện nay là 4.300– 4.400 đồng/kg (giá tại ruộng thấp hơn). Nếu diễn biến bất lợi, giá tiếp tục giảm, các DN của VFA cũng sẽ mua với giá thấp nhất là 4.000 đồng/kg (theo tham khảo các địa phương, ước tính giá thành lúa vụ đông-xuân này ở ĐBSCL bình quân khoảng 2.200 đồng/kg). Ngày 2-3, VFA cùng với các bộ ngành và địa phương ĐBSCL họp về việc triển khai các giải pháp đồng bộ trong việc thu mua lúa hàng hóa trong dân tại tỉnh An Giang.

Ông Phạm Văn Bảy nhấn mạnh, dù chưa thể gọi là hoàn thiện, nhưng những giải pháp cấp bách này nếu DN thực hiện tích cực, bài bản sẽ giải tỏa áp lực giảm giá lúa trên thị trường. Nét mới năm nay là VFA chỉ đạo công ty lương thực các tỉnh mời những thương nhân (hàng sáo, nhà máy…) trong vùng lại trong một tổ chức với cam kết mua hết lúa để thương nhân không bị lỗ, có thể ứng vốn… Qua đó sẽ hạn chế vấn nạn ép giá bà con trồng lúa trong bối cảnh hiện nay.

Nhu cầu thế giới vẫn cao

Lợi dụng giá gạo thế giới giảm khá mạnh, mới đây, có nhà nhập khẩu đưa giá tham khảo để mua thấp đến mức vô lý nhằm gây hoang mang DN và làm rối thị trường trong nước. VFA trấn an hội viên và sẽ có giải pháp nếu công ty nước ngoài này tiếp tục chào giá bất hợp lý như vậy để bảo vệ quyền lợi cộng đồng DN trong nước, nhất là bà con trồng lúa.

Thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: DƯƠNG MINH TUẤN

Dù thị trường thế giới đang giảm giá, nhưng VFA phân tích, nhu cầu mua gạo các nước thời gian tới khá lớn: Philippines sau khi đấu thầu mua gần 2 triệu tấn gạo cuối năm 2009 sẽ mua thêm 800.000 tấn gạo 25% tấm, dự kiến mở thầu cuối tháng 3 mua 600.000 tấn (số còn lại giao cho 9 công ty để mua theo hợp đồng thương mại. VFA cử 3 DN ở Tiền Giang, An Giang và Kiên Giang để đàm phán các công ty này, sau đó sẽ phân chia lại cho các thành viên khác như một dạng hợp đồng tập trung).

Với Malaysia, DN đã ký hợp đồng cung cấp 200.000 tấn gạo, Iraq đang mở thầu mua 250.000 tấn gạo (Vinafood 1 tham gia). Thị trường châu Phi bắt đầu có nhu cầu mua gạo (5% tấm) thông qua các công ty đa quốc gia với lượng khá lớn. Những nhà nhập khẩu này định chốt giá để mua, nhưng do thời gian qua khi tham khảo giá các DN Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn và biết vùng ĐBSCL đang thu hoạch lúa đông-xuân nên chần chừ chưa muốn ký.

Ngoài ra, với diễn biến thời tiết bất lợi hiện nay ảnh hưởng đến an ninh lương thực và tác động của chỉ số giá tiêu dùng nội địa, nên một số nước khác sẽ nhập khẩu gạo với số lượng lớn để cân đối cung cầu. Dự báo nhu cầu này sẽ xảy ra vào quý 2 và 3. Chỉ cần một trong những nước trên nhập khẩu gạo sẽ làm giá gạo thế giới biến động lớn. Thông tin này là khá chính xác, vì vậy, VFA nhận định, xác suất rủi ro ít hơn so với cơ hội giá cao đối với DN mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo hàng hóa.

Tình hình hiện nay khá giống thời điểm tháng 8 và 10-2009, khi Philippines mở thầu đã đẩy giá gạo trên thị trường lên cao. Do vậy, đây như là một cuộc đấu trí giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu trên thị trường vốn đầy biến động và nhạy cảm. Nếu điều chỉnh liên tục sẽ gây tâm lý nhà nhập khẩu chờ giá xuống trong khi giá xuất của Việt Nam đã thấp hơn nhiều so với Thái Lan và cả Pakistan.

Với phân tích này, VFA thống nhất cùng các DN chào giá ở mức 440 USD/tấn gạo 5% (giá FOB). Tuy nhiên, mức giá này sẽ được xử lý uyển chuyển, linh hoạt trong thời gian tới (tháng 3 và 4) nhằm tạo ra thế có lợi nhất cho bà con nông dân và DN để vừa giữ thị trường châu Phi, vừa đảm bảo giá cho việc chuẩn bị đấu thầu với Philippines. Nếu buông, giá xuất sẽ còn tiếp tục giảm, ảnh hưởng đến giá lúa trong nước, có thể dưới 3.000 đồng/kg.

EVN

cac ong nha điện chỉ bào chữa cho nhau, nào la điện tăng la đúng với nền kinh tế thị trường, khi mà demand > supply thi price increses, toàn nói phét khi mà chẳng hiêu dc cai definition Kinh te Thi Truong la cai j,  thang EVN la thang monopoly, no de xuat tang gia dien cho chinh phu the nao ma chang dc http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=187473&ChannelID=3

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_%C4%91o%C3%A0n_%C4%90i%E1%BB%87n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam

làm điện thì phải tập trung vào keep up giua san xuat voi cung cap du dien cho nguoi dan và giá cả ổn định, lai ko lo,lo nhay wa cac linh vuc khac  nhu dau tu vao tai chinh ngan hang. Nuoc minh fai co cai chinh sach quan ly may thang state-owned enterprise nay, nhu US ra quy dinh Glass-Steagall fan hoat dong giua ngan hang dau tu voi ngan hang truyen thong vay, chu ko tui no y la monopoly, lay tien profit voi subsidy ko reverse invest lai vao cong ty ma dem tien cua taxpayer ra bet on poker game the nay mai

Organisational Structure of EVN

Electricity of Vietnam (EVN) is a state-owned utility established in 1995. It is engaged in generation, transmission and distribution of electricity in the whole country.

The EVN oversees the various entities or business units engaged in generation, transmission, distribution, and associated service functions along commercial lines.  These business units are grouped as either dependent (generation and transmission entities attached to EVN accounts) or independent accounting units (distribution and supply entities detached from EVN accounts).  In spite of strong government regulation of power tariffs, the EVN is capable of raising profits out of its operations and to source external funds subject to approval of appropriate government agencies for infrastructure development, network expansion, and human resource management.

In the power industry, there are National Load Dispatch Center, fourteen main power plants, four transmission companies, and the Institute of Energy operating as dependent accounting units under EVN. The independent accounting units are seven distribution power companies, four design and engineering companies, two power equipment manufacturing companies, and one electric telecommunication company.

Generation Facilities

In 2001, the total installed capacity of Vietnam reached 8,478 MW, of which 7,878 MW are operated and owned by EVN and the remainder of 600 MW are owned by the IPPs.  Hydropower accounted for 48.6 percent, coal and oil 13.4 percent, gas turbine and diesel 30.8 percent, and the remainder of 7.2 percent came from IPPs with mixed use of fuels.

The total amount of electricity generated was 30,600 GWh, of which hydropower generation accounted for 59.5 percent, coal-fired 10.5 percent,  oil-fired 3.6 percent, gas turbine (gas) 14.4 percent, and 7 percent turbine+Diesel (DO), and  4.9 percent from IPPs. (Shown in figure of below). The growth rate power generated over the year 2000 is 14,3%.

The total new capacity added to the power system in 2001 was 2225 MW. They were: hydropower Yaly unit 3,4 (360 MW), hydropower Ham Thuan-Da Mi (475 MW), GTCC Phu My 1(1090 MW), and Coal-Fired Pha Lai (300 MW).
Averagely, the growth rate of power energy produced over the period from 1995 to 2001 is about 13,1%, reaching 30.6TWh in the year 2001: The peak load of the system has been increased from 2,774 MW in year 1995 to 5,600 MW in year 2001, the annual Load Factor (LF) of VN is about 62%.
Record of peak power demand and energy generation in period 1995-2001 shown in figure below.

In 2001, EVN’s turnover was about 18.800 billions VDN (about 1.25 Billions USD), with sales volume of 25.8 TWh. Compared to previous year, sales volume increased by 15% and number of customers by 13% (amounted to 3.8 million customers). Customer category and market segmentation construed of: industry (40.4%), residential (49.1%), Commercials and services (4.9%) and others (5.6%).
The energy sales through the figures of power sales

Since 1995, the two graphs below shown the situation of the load demand over the past seven years.

The average energy sales growth rate in period 1995 – 2001 was 15%.

Transmission and Distribution Facilities

Transmission voltages in Vietnam are 500 kV, 220 kV 110 kV. The total length and substation capacity at various voltage levels are the following:

Voltage Level,kV Length of line, km Transformer�s Capacity,MVA
500 1529 2580
220 3706 7170
110, 66 7900 9000
Medium voltage 79800 3016

The medium voltage network is planned for integration with 35 kV for the mountainous and rural areas and 22 kV for the urban areas.  In the next five years, the 6 kV network will be upgraded to 22 kV. The 10 kV and 15 kV transmission lines will be step-by-step replaced by 22 kV or 35 kV in the future

Rural electrification

As of December 2001, 97.6 percent of the total districts have been connected to the national grid, the remaining districts (2.4 percent) are provided with off-grid  local power supply. About 87 percent  of the communes, and 77.4 percent of rural households have been provided with grid electricity.

Presently, the ceiling price of 700 VND/kWh (4.67 US cents/kWh) mandated by the Government to rural households is strictly being applied to 81.4 percent of the communes.

EVN has made a great effort to support provinces in providing rural households with affordable electricity supply.

Next Page »

Blog at WordPress.com.