Ktetaichinh’s Blog

February 7, 2010

GDP và mấy ngộ nhận thường gặp thường

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:42 pm
Tags: ,
(TBKTSG) – Hiện nay việc vận dụng GDP (Gross Domestic Product) để hạch toán nền kinh tế cả nước và các địa phương đang nổi lên một số vấn đề. Dưới đây xin nói riêng về một số ngộ nhận, thậm chí sai sót có thể gặp phải khi sử dụng và tính toán GDP cho quốc gia và GRDP (Gross Regional Domestic Product) cho các địa phương/vùng lãnh thổ nước ta.

Ngộ nhận đầu tiên: lẫn lộn GDP với GNI

Với sự hỗ trợ của Liên hiệp quốc, Việt Nam đã thử nghiệm hệ thống hạch toán quốc gia (SNA – System of National Account) từ năm 1989 và chính thức ứng dụng từ năm 1993, nhưng về cơ bản là dùng theo phương pháp của SNA 1968 có kết hợp với ý niệm của hệ thống sản xuất vật chất MPS (Material Product System) thường dùng trước đổi mới.

Vì Việt Nam đã quen sử dụng thu nhập quốc dân của hệ thống MPS, nên nhiều người đã cố giải trình “nôm na” sự “tương tự” giữa hai thuật ngữ GDP và thu nhập quốc dân sản xuất theo MPS để mọi người làm quen dần với GDP bao quát đầy đủ các hoạt động kinh tế (sản xuất hàng hóa và dịch vụ), hơn là chỉ các hoạt động sản xuất vật chất.

Nhưng cùng với sự quen dần này, đôi khi một số người đã coi GDP như chỉ tiêu duy nhất phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, trong khi thực tế SNA có nhiều chỉ tiêu khác nhau, toàn diện và phức tạp hơn nhiều. Thậm chí có người gần như “đồng nhất” tổng sản phẩm quốc nội GDP (giá trị gia tăng làm ra trong quốc gia/vùng lãnh thổ) với tổng thu nhập quốc gia GNI (giá trị thực được thụ hưởng của một quốc gia/vùng lãnh thổ, sau khi đã trừ bớt phần chuyển ra và cộng thêm phần thu được từ bên ngoài).

Khắc phục tình trạng này, khi Tổng cục Thống kê công bố GDP và GDP bình quân đầu người năm 2008 theo tiền đồng Việt Nam và tương đương theo giá đô la Mỹ, cũng đã tính GNI theo tiền đồng và cả theo đô la Mỹ. Cụ thể GDP 2008 của Việt Nam tương đương 89 tỉ đô la Mỹ và bình quân đầu người là 1.047 đô la Mỹ/người, còn GNI 2008 thấp hơn, chỉ bằng 96,7% GDP 2008. Dù lệch nhau 3,3% nhưng đôi khi lại bị sử dụng gần “như nhau”. Đó là ngộ nhận đầu tiên dễ mắc phải.

Ba ngộ nhận trong so sánh quốc tế

Tính GDP/GNI theo tiền đồng cũng đã được chuyển sang đô la Mỹ để dùng trong so sánh quốc tế, thậm chí so sánh các địa phương với nhau và với thế giới. Tuy nhiên, khi sử dụng cũng thường mắc một số lầm lẫn do ngộ nhận. Xin kể ra tiếp ba ngộ nhận khác là:

Thứ nhất, GNI theo cách tính của Tổng cục Thống kê hiện nay chưa phải là GNI theo WB Atlas trong phân loại các nước được Liên hiệp quốc thừa nhận. Ngân hàng Thế giới (WB) đã xác định GNI bình quân đầu người, không chỉ tính theo tỷ giá hối đoái bình quân trong năm (cách Việt Nam đang sử dụng), mà xét thêm cả tỷ giá theo hai năm trước đó và lấy trọng số theo một số nền kinh tế lớn để phản ánh sát hơn tình hình lạm phát/tỷ giá trong các nền kinh tế thế giới.

Theo đó, GNI 2008 của Việt Nam tương đương khoảng 90 tỉ đô la Mỹ và bình quân đầu người là 890 đô la Mỹ/người. Quy mô nền kinh tế của Việt Nam năm 2008 như vậy nằm trong số 60 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, GNI 2008 Việt Nam theo WB chỉ bằng 90% GDP tính theo giá đô la Mỹ của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Sai lệch đã được đẩy lên mức 10% và từ đó nhận định chưa đúng về trình độ phát triển của Việt Nam hiện tại trong so sánh với các nước.

Thứ hai, có người còn chưa hiểu đúng về cách phân loại kinh tế các nước theo thu nhập tại từng thời điểm. WB đã phân loại các nước năm 2009/2010 thành các nhóm nước/vùng lãnh thổ theo mức GNI năm 2008:

(1) nhóm nước có thu nhập thấp (có GNI dưới 975 đô la Mỹ/người);

(2) nhóm nước có thu nhập trung bình (có GNI từ khoảng 976 đô la Mỹ/người đến 11.905 đô la Mỹ/người, trong đó có hai phân nhóm trung bình thấp từ 3.855 đô la Mỹ/người trở xuống và trung bình cao);

(3) nhóm nước có thu nhập cao (trên 11.906 đô la Mỹ/người).

Như vậy, trong phân loại năm 2010 dựa vào số liệu GNI 2008, Việt Nam chưa thuộc nhóm nước thu nhập trung bình (890 đô la Mỹ/người so mức ít nhất là 975 đô la Mỹ/người), mà mới chỉ bằng 91,3% của ngưỡng trên của nhóm nước thu nhập thấp.

Theo các chuyên gia Tổng cục Thống kê, do GDP bình quân chỉ tăng chút ít (1.047 đô la Mỹ/người năm 2008 và 1.055 đô la Mỹ/người năm 2009), có thể ước đoán GNI 2009 bình quân của nước ta cũng chỉ khoảng trên dưới 900 đô la Mỹ/người. Do đó, nếu tính cả các yếu tố lạm phát, tỷ giá, tăng trưởng thực, có thể dự đoán sau năm 2010, mức GNI bình quân vượt 1.000 đô la Mỹ/người và Việt Nam có thể vững chắc đứng trong nhóm các nước thu nhập trung bình (thấp).

Trong 10 năm qua (1997-2007), thu nhập bình quân GNI Việt Nam tăng gần ba lần (từ gần 300 lên gần 900 đô la Mỹ), trong khi thu nhập trung bình GNI thế giới cùng kỳ đã tăng gấp rưỡi (từ 5.130 lên 7.958 đô la Mỹ). Thu nhập trung bình GNI thế giới năm 2008 là 8.613 đô la Mỹ/người, lớn hơn mức thu nhập trung bình GNI Việt Nam đến gần 10 lần. Để vượt qua khoảng cách “tụt hậu” này có lẽ cần nhiều thời gian hơn ta muốn, bởi lẽ khi nước ta tăng trưởng nhanh, thì thế giới cũng không dừng lại.

Thứ ba, có sự khác biệt giữa giá thực tế và sức mua tương đương. Để loại trừ các chênh lệch giá giữa các nước, người ta sử dụng phương pháp sức mua tương đương (Purchasing Power Parity – PPP), tính theo giá đô la “bình quân” thế giới. Khi đó GDP Việt Nam 2008 theo giá thực tế mới khoảng 90 tỉ đô la Mỹ, đứng thứ 60 nước/vùng lãnh thổ trên thế giới, nhưng khi tính theo PPP đã được “tăng lên” đến 241,8 tỉ đô la Mỹ và đứng thứ 45 trên thế giới, do mức giá cả ở Việt Nam rẻ hơn trung bình thế giới khoảng 2,7 lần.

Với các nước đang phát triển trình độ thấp, độ lệch giữa hai loại giá như trên có thể lên tới 5 lần. Với Việt Nam trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, độ lệch giữa giá cả thực tế và giá theo PPP đã giảm dần từ 5 lần các năm trước, xuống còn 3,28 lần năm 2006/2007 và sau khi gia nhập WTO, độ lệch giá năm 2008 còn khoảng 2,67 lần.

Lẫn lộn trong sử dụng giá cả (giá so sánh 1994 và giá thực tế) ở nhiều địa phương

Khác với khi tính quy mô, cơ cấu GDP người ta sử dụng giá thực tế, thì khi tính tốc độ tăng trưởng, người ta lại phải dùng giá so sánh (Việt Nam là giá năm 1994). Vì nhiều sản phẩm, dịch vụ không có giá tương ứng trong bảng giá so sánh năm 1994, hoặc đôi khi có thể do bệnh thành tích, người ta đã tạo ra giá so sánh năm 1994 “mới” gần ngang bằng giá thực tế (mà lẽ ra phải giảm đi vài lần do yếu tố lạm phát cao nhiều năm).

Hệ quả là theo giá so sánh “mới” này, người ta cũng đã tạo ra quy mô và tốc độ tăng trưởng cao một cách giả tạo. Khi Tổng cục Thống kê công bố cả nước tăng trưởng 5-7%, thậm chí 8-9%, thì hầu hết các tỉnh thành đều đã “công bố” đạt tốc độ tăng trưởng hơn 10%/năm. Cứ đà này thì khi tổng hợp các tỉnh lên vùng và cả nước, chúng ta sẽ có các con số chênh lệch nhau đến vài chục phần trăm!

Mặc dù các con số chưa chuẩn, không đúng, nhưng nó không chỉ hợp “khẩu vị” với những ai thích thành tích cao, mà còn làm căn cứ để làm chính sách. Khi lập kế hoạch phấn đấu hàng năm và quy hoạch phát triển dài hạn 10 năm hay dài hơn, người ta đã hoạch định mục tiêu cho địa phương mình các tốc độ tăng trưởng GRDP quá cao, chẳng hạn cần đạt tốc độ 10-15-20%/năm trong liên tục nhiều năm, để nhắm vượt địa phương bạn, để hơn trung bình vùng, hơn trung bình cả nước và hơn thế để “về trước” so với mục tiêu chung của cả nước về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Lẫn lộn trong xác định phạm vi lãnh thổ của sản xuất các sản phẩm, dịch vụ

Khi tính toán GRDP với các địa phương, một lầm lẫn nữa có thể xảy ra là đã tính trùng các sản phẩm và dịch vụ được sản xuất ở địa phương khác, nhưng được tiêu thụ, được đóng thuế ở địa phương đang xét. Có sự “tranh chấp” thực tế giữa tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nơi sản xuất dầu khí, với TPHCM, nơi đóng trụ sở của cơ quan quản lý dầu khí và nộp thuế chủ yếu của tập đoàn Dầu khí.

Thủy điện sản xuất ở Hòa Bình, nhưng GRDP cũng được tính cho Hà Nội vì đây là trụ sở của tập đoàn Điện lực. Vấn đề cũng tương tự khi đánh giá thành tích xuất khẩu các sản phẩm khác cũng dễ gây tính trùng: gạo ở đồng bằng sông Cửu Long, cao su, hồ tiêu, điều,… của các tỉnh miền Đông, Tây Nguyên xuất qua cảng TPHCM. Thậm chí, sản phẩm điện tử sản xuất ở một tỉnh này và xuất ở cảng tỉnh khác cũng gây ra số liệu nhầm lẫn. Ngành than sản xuất ở Quảng Ninh, nhưng các công ty bán than lại có trụ sở ở Hà Nội. Rồi các ngành xi măng, vật liệu xây dựng…

Việc “khắc phục” tình trạng này trong điều kiện phân cấp ngân sách đến mức chia cắt như hiện nay lại là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng “chạy đua”: tỉnh nào cũng muốn làm riêng cảng, riêng sân bay, để … “tự thở bằng mũi của mình”, rất không phù hợp với đặc tính liên hoàn của hệ thống kết cấu hạ tầng và dịch vụ hiện đại.

Trong điều kiện thiếu các thông tin đến với người dân và cả một số lãnh đạo, các loại nhầm lẫn nêu trên cũng góp phần gây ra các kiểu ngộ nhận khác nhau, hệ quả đã làm cho bức tranh kinh tế cả nước bị méo mó đi phần nào. Đó là chưa kể các sai lệch khác trong các số liệu về tài chính, ngân hàng, thương mại quốc tế… Vì thế, các cơ quan thống kê các cấp ở nước ta nên đóng vai trò “nhạc trưởng” và phản ánh thực tế khách quan cần được đề cao hơn nữa.

Về lý thuyết, GDP được tính theo ba phương pháp chủ yếu là:

– Phương pháp sản xuất: GDP = tổng giá trị sản xuất – tổng chi phí trung gian + thuế nhập khẩu.

– Phương pháp thu nhập: GDP = tổng thu nhập của người lao động từ sản xuất + tổng thặng dư sản xuất + tổng khấu hao tài sản cố định + tổng thuế gián thu và thuế sản xuất khác + thuế nhập khẩu – trợ cấp cho sản xuất.

– Phương pháp sử dụng cuối cùng: GDP = tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình + tiêu dùng cuối cùng của nhà nước + tích lũy tài sản + xuất khẩu – nhập khẩu.

Tuy nhiên thực tế các nước vận dụng khác nhau. Ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi và hầu hết các địa phương ở nước ta hay thiên về dùng phương pháp sản xuất (dựa trên nguồn cung từ sản xuất – supply side) phù hợp với quá trình chuyển phương pháp từ MPS sang SNA, trong khi các nước có nền kinh tế thị trường thiên về phương pháp sử dụng cuối cùng (dựa vào nhu cầu cuối cùng – demand side – cho tiêu dùng, đầu tư và chênh lệch xuất nhập khẩu).

Thái Trinh THESAIGONTIMES

Advertisements

March 21, 2009

Lạm phát một phần vì lúng túng trong chỉ đạo tiền tệ’ 113007

(Nguồn: VNExpress 30/11/07) Kinh tế tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua, song chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao và VN đang nhập siêu. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thẳng thắn nhìn nhận, ngoài hàng loạt nguyên nhân khách quan, một phần do sự lúng túng trong chỉ đạo về tiền tệ. Tại hội nghị ngành Kế hoạch và Đầu tư năm 2007, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đánh giá, kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển ổn định, đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 trở lại đây (dự kiến đạt 8,5%). Tổng thu nhập quốc dân (GDP) theo giá hiện hành dự kiến đạt 1.144 nghìn tỷ đồng, tương đương 71,3 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 835 USD, cao hơn kế hoạch 15 USD.

Tuy nhiên, 3 chỉ tiêu quan trọng trong tổng số 23 chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2007 không đạt được, là giữ tốc độ tăng CPI thấp hơn tăng trưởng kinh tế, cân đối cán cân xuất – nhập khẩu và giảm tỷ lệ sinh. Theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, CPI năm nay sẽ đạt trên 9%, trong khi tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,5%. Tốc độ tăng tổng kim ngạch nhập khẩu cũng đạt 27%, vượt xa con số dự kiến 15,5%.

Phát biểu tại hội nghị này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, việc giá tiêu dùng leo thang phần lớn do giá cả các nguyên – nhiên liệu tăng mạnh, cũng như nhiều thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Tuy nhiên, theo người đứng đầu Chính phủ, việc lúng túng trong điều hành thị trường tiền tệ cũng là một lý do khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) vượt qua tốc tốc độ tăng GDP. 6 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào 9 tỷ USD, đưa dự trữ ngoại tệ của Việt Nam lên 20 tỷ USD. Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm, Chính phủ lúng túng vì lo ngại nếu đưa tiền đồng ra mua đôla, sức ép lên giá tiêu dùng sẽ tăng. Nhưng nếu không gom vào đôla, tăng trưởng kinh tế sẽ không giữ được mức cao như hiện nay.

Tuy nhiên, theo Thủ tướng, dù CPI tăng cao, Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định về mặt kinh tế vĩ mô và giá tiền đồng vẫn được giữ ổn định. “Nếu tỷ giá giữa đôla và tiền đồng bị đảo lộn, sẽ càng khó khăn cho sản xuất”, ông nhận định. Đồng thời, việc khu vực công nghiệp tăng trưởng 17% trong cơ cấu ngành, dịch vụ lên thêm 8%, xuất khẩu tăng 21% là những thành tựu lớn trong năm 2007.

Thủ tướng cũng báo động về một loạt khó khăn đối với nền kinh tế trong thời gian tới, trong đó điển hình là hạ tầng không đáp ứng được yêu cầu. Hiện hầu hết các cảng biển đều đã hoạt động hết công suất, máy bay cho ngành hàng không đang thiếu, trong khi đến năm 2014, Việt Nam mới nhận những máy bay đầu tiên đã đặt mua. Hiện tại, Việt Nam cũng chưa có đường cao tốc nào đúng nghĩa.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dự kiến trong năm 2008, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 8,5-9%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 20-22%, chỉ số CPI thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, và tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chiếm 42% GDP.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng yêu cầu, trong năm 2008 cơ bản thực hiện xong các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010, đến năm 2009 sẽ hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu này, trước một năm so với kế hoạch. Theo đó, đến năm 2008, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt 960 USD, và lên mức 1.100 USD vào năm 2009, thay vì vào 2010 như kế hoạch.

2007 là năm thứ ba liên tiếp tiến độ giải ngân vượt kế hoạch, trong đó tổng vốn ODA giải ngân trong năm nay dự kiến đạt 2 tỷ USD, cao hơn kế hoạch khoảng 5%.

Các nhà tài trợ nước ngoài đã cam kết dành cho Việt Nam 4,45 tỷ USD tại Hội nghị Nhóm tư vấn (CG) 2006. Cùng với mức cam kết 3,74 tỷ USD, tính chung 2 năm, tổng vốn ODA dành cho Việt Nam đạt 8,19 tỷ USD, đạt khoảng 40% dự báo ODA cho cả thời kỳ 2006-2010.

Tuy nhiên, tính chung trong 2 năm 2006-2007, Việt Nam mới giải ngân được khoảng 3,9 tỷ USD, đạt 32% so với kế hoạch 11,9 tỷ USD của giai đoạn 2006-2010.

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dù nhanh hơn dự kiến, song việc thực hiện các dự án ODA vẫn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra, khiến cả Chính phủ và các nhà tài trợ lo ngại.

Hiện nhóm 5 ngân hàng phát triển, gồm ADB, AFD, JBIC, KfW và WB, dã đồng ý tổ chức đánh giá chung tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã thực hiện hài hòa thủ tục đấu thầu và quy trình thẩm định dự án, khiến quá tình giải ngân vốn ODA tăng tốc.

Năm nay cũng bội thu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với 15,03 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm. Dự kiến lượng vốn của cả năm sẽ đạt khoảng 16 tỷ USD.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt mục tiêu thu hút 14,5-15 tỷ USD vốn FDI trong năm 2008, do nguồn vốn này còn phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp nhận đầu tư, đàm phán các dự án lớn phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội cả nước cũng như của từng địa phương.
Ngọc Châu

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Chính phủ chiều nay, Thứ trưởng Tài chính Trần Văn Tá đã nhận thiếu sót về công tác dự báo giá cả, do đó không đưa ra trước được những biện pháp đón trước diễn biến.

Ngành thuế mới đây cũng phạt 3 doanh nghiệp không giảm giá, khi giá nguyên liệu đầu vào đã được điều chỉnh giảm. Theo Thứ trưởng Tá, việc phạt 3 doanh nghiệp này mới chỉ là bước đầu khi thuế nhập khẩu đã hạ.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng vừa chỉ đạo về việc điều hành giá cả, thị trường cuối năm 2007 và dịp Tết Nguyên đán Mậu Tý. Theo đó, các Bộ, ngành, địa phương sẽ thực hiện triệt để Chỉ thị 18 của Chính phủ về các biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng giá.

Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước và các Bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư theo dõi sát diễn biến giá cả, thị trường hàng hóa và tiền tệ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc cho vay đầu tư chứng khoán, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống tín dụng, tiền tệ.

Chính phủ cũng chỉ đạo tiếp tục triển khai thực hiện lộ trình xóa bao cấp qua giá, để trong năm 2008 sẽ thực hiện giá dầu, than (trừ than cho sản xuất điện) theo cơ chế thị trường

Lạm phát tăng kỷ lục, vượt xa tăng trưởng 112707

Filed under: kinh tế — ktetaichinh @ 5:58 pm
Tags: ,

(Nguồn: VNMedia 27/11/07) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 đã tăng vọt, tăng gấp hơn 3 lần dự báo của Tổ điều hành thị trường trong nước (Bộ Công Thương) đưa ra trước đó. Như vậy, tổng mức tăng giá của 11 tháng đầu năm đã xấp xỉ 9,5% – chính thức vượt xa mức tăng trưởng GDP dự báo khoảng 8,5% trong cả năm nay, trong khi năm 2007 vẫn còn cả tháng 12 ở phía trước…Lũ lụt chứ không phải xăng dầu là “thủ phạm” chính

Số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố ngày 27/11 cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 đột ngột tăng tới 1,23% so với tháng 10, nâng tổng mức tăng CPI kể từ đầu năm tới nay lên tới 9,45%, mức tăng cao kỷ lục trong hơn 10 năm qua và gây sốc ngay cả với những chuyên gia kinh tế lạc quan nhất.

Theo các chuyên gia kinh tế, CPI tăng mạnh trong tháng 11 không phải bởi quyết định tăng giá xăng dầu kỷ lục mới đây bởi sự điều chỉnh này chỉ thực sự tác động đến CPI trong những tháng tiếp theo. Và số liệu của Tổng cục thống kê cũng chứng minh điều đó: Vẫn như thông lệ, sự tăng giá chóng mặt của lương thực, thực phầm – nhóm có quyền số cao nhất trong rổ hàng hoá tính CPI- là “thủ phạm chính” khiến CPI tăng. Tháng 11 này, CPI của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng tới 2,06% so với tháng 10, trong đó lương thực tăng tới 2,66%, thực phẩm tăng 1,95%. Kể từ đầu năm tới nay, giá lương thực đã tăng trên 12%, trong khi thực phẩm tăng gần 16%. Nhóm có mức tăng giá thứ hai trong tháng là nhà ở, vật liệu xây dựng, với mức tăng cũng lên tới 1,87%. Bên cạnh nhu cầu tiêu dùng cuối năm tăng cao thì việc khu vực miền Trung – Tây Nguyên phải gồng mình hứng chịu những đợt lũ liên tiếp, với nhu cầu lương thực, thực phẩm và nguyên vật liệu xây dựng tăng cao…là lý do chính khiến những nhóm mặt hàng này có mức tăng mạnh trong tháng qua.

Có thể nói, nếu không có sự tăng phi mã của hai nhóm hàng hoá nói trên thì CPI tháng 11 sẽ khá sát với mức dự báo tăng 0,4% do Bộ Công Thương đưa ra trước đó. 8 nhóm hàng hoá còn lại đều tăng khá thấp, như nhóm đồ uống, thuốc lá; may mặc, mũ nón, giầy dép cùng tăng 0,40%; dược phẩm, y tế tăng 0,32%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,20%; nhóm giáo dục; phương tiện đi lại, bưu điện tăng không đáng kể với mức tăng tương ứng là 0,06% và 0,02%. Thậm chí nhóm thể thao, văn hoá, giải trí còn giảm, với mức giảm 0,10% so với tháng 10/2007. Mặc dù nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,02% so với tháng trước nhưng nhóm nhỏ bưu điện vẫn duy trì được truyền thống giảm giá liên tục trong nhiều tháng qua, với mức giảm kỷ lục tới 0,54% so với tháng trước, do những nỗ lực cải tiến công nghệ và tăng cường chăm sóc khách hàng của các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại, Internet…

Trong 10 tỉnh thành được đưa ra trong thống kê CPI, Gia Lai có mức tăng giá lớn nhất, với mức tăng tới 2,42% so với tháng 10. Khác với thông lệ, nhìn vào bảng chỉ số giá tháng 11 chúng ta thấy rất nhiều địa phương có mức tăng giá trên 1%, trong đó Đà Nẵng tăng tới 1,73%, TP.HCM và Kiên Giang cùng tăng 1,35%; Huế, Hải Phòng tăng tương ứng 1,25 và 1,21%…Chỉ có 3 địa phương giữ được mức tăng giá dưới 1% là Hà Nội, Vĩnh Long và Phú Thọ, trong đó CPI của Hà Nội tháng 11 là 0,9%.

Tuy không phải là mặt hàng nằm trong diện tính CPI nhưng giá vàng cũng thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà đầu tư, bởi đây là mặt hàng có hệ số an toàn cao trong thời gian gần đây. Điều này cũng góp phần đẩy giá vàng tháng 11 tăng tới 8,89% so với tháng trước, trái với mức suy giảm nhẹ 0,28% của giá USD.

Như vậy, hiện chỉ số giá tiêu dùng đã tăng tới 10,01% so với tháng 11/2006 và với đà tăng giá này, khả năng giá tiêu dùng cả năm 2007 tăng tới 11% hoàn toàn có thể xảy ra, đặc biệt những yếu tố “hỗ trợ” tăng giá như khắc phục hậu quả lũ lụt, nhu cầu tiêu dùng dịp lễ, Tết âm lịch; hệ quả của việc đồng loạt tăng kỷ lục giá xăng dầu….đang ngày càng tác động mạnh tới mặt bằng giá….

Khả năng giá tăng vượt tăng trưởng đã để ngỏ…

Trao đổi với VnMedia bên lề kỳ họp Quốc hội trung tuần tháng 11 vừa qua về việc nhiều chuyên gia nghi ngờ về mục tiêu tăng trưởng GDP cao hơn tăng chỉ số giá, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho biết, không nước nào đặt chỉ tiêu lạm phát cố định ra thành Pháp lệnh, mà chỉ tính toán dự báo để điều hành.

Bộ trưởng cho biết: “Đúng là chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng có quan hệ với nhau, mỗi một nước một khác. Ở VN hai chỉ tiêu này quan hệ tương đối mật thiết với nhau. Nếu chúng ta kìm chế lạm phát quá thấp thì có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng bởi, thứ nhất, cơ hội đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài rất lớn – biểu hiện cơ hội của tăng trưởng tốt, nếu ta kìm chế nó, nó vào làm tăng tổng phương tiện thanh toán, có nguy cơ tăng giá, nếu kiềm chế nó thì không có tăng trưởng. Thứ hai, yêu cầu tổng dư nợ đang tăng, có nghĩa là nền kinh tế đang cần vốn để dầu tư phát triển, nếu ta kiềm chế nó thì lại không có tăng trưởng, nếu mở rộng quá rộng, quá phạm vi thì lại có nguy cơ tăng giá cao. Thứ ba, VN rất khác với nước khác, chúng ta phải nhập khẩu lượng nguyên nhiên liệu nước ngoài cực lớn, tổng kim ngạch nhập khẩu chiếm tới 74% GDP, trong khi Mỹ chỉ chiếm 19%, Trung Quốc 24% GDP, nên chúng ta phải phụ thuộc nước ngoài lớn. Người ta lo được phần này thì đỡ bị động. Chúng ta đi theo hướng dần dần lo nguyên liệu trong nước. Chúng ta phải điều hành cái đó làm giá đừng tăng quá cao”.

Chu Thọ

Blog at WordPress.com.