Ktetaichinh’s Blog

May 14, 2010

The consumers’ attitude on Vietnam products Thứ 6, 14/05/2010 – 14:50 PM

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:51 pm
Tags: , , ,
Dear friends

If you happen to have interest in Vietnamese consumers’ behaviors, the below information/link might be useful. This is free monthly market update on Vietnamese consumers’ attitude and behavior across different target groups. It is named after Viettrack, a product of FTA research & consultant, the company I am working for.

[url]http://www.ftaresearch.com/userfiles/file/FTA%20Market%20Research%20-%20Viettrack%20October%202009%20-%20E.pdf[/url]
You can also have free access to previous issues of Viettrack as well by searching in this website: [url]www.ftaresearch.com[/url]

Advertisements

April 18, 2010

Một nghị định vô hiệu hóa một định chế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:13 pm
Tags: , ,

Nghị định ấy có số 01/2010/NĐ-CP được ban hành ngày 4/1/2010 và định chế kia là công ty cổ phần.

Nghị định quy định việc chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty cổ phần cho các nhà đầu tư; và nhìn vào nội dung các phụ lục thì nó do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề nghị và sẽ thực thi.

Ở đây, chúng tôi tóm tắt các điều khoản chính của nghị định liên quan đến công ty cổ phần mới thành lập hay đang hoạt động.

Tóm lược các điểm chính

Về phạm vi

Nghị định ấn định:

– Chào bán cổ phần riêng lẻ là “chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng”.

Nói cách khác là công ty cổ phần mời và bán cổ phần cho mỗi người trên căn bản một vài hay nhiều cổ phiếu; nhưng cổ phiếu không được gom lại theo các đơn vị do các sở hay sàn chứng khoán ấn định.

– Đối với công ty cổ phần – mà không phải là công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, bảo hiểm và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa – tức là các công ty cổ phần nói chung thì cơ quan quản lý việc chào bán cổ phần riêng lẻ là sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

– Một trong những đối tượng chào bán cổ phần riêng lẻ là dưới 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; tức là chỉ cần công ty cổ phần bán cổ phần cho 1 người hoặc đến mức tối đa 99 người đều bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ”.

Về đăng ký

Công ty cổ phần thuộc loại trên muốn chào bán cổ phần riêng lẻ thì phải:

– Có hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợp lệ gửi tới – nói cho gọn – sở kế hoạch và đầu tư, chậm nhất 20 ngày trước ngày dự kiến thực hiện việc chào bán. Công ty cổ phần được phép thực hiện việc chào bán theo phương án đã đăng ký kể từ ngày có thông báo của sở kế hoạch và đầu tư về việc đã nhận được hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợp lệ hoặc hết thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ mà sở kế hoạch và đầu tư không có yêu cầu sửa đổi, bổ sung và cũng không có thông báo gì khác về hồ sơ đã nộp.

– Nếu công ty cổ phần là doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài việc phải đáp ứng các quy định của Nghị định này còn phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan.

– Người đầu tư không được bán cổ phiếu trong vòng một năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán.

– Các đợt chào bán riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng.

– Trong vòng 10 ngày, kể từ khi kết thúc đợt chào bán, công ty phải gửi Báo cáo kết quả đợt chào bán và danh sách cổ đông (theo mẫu quy định) cho sở kế hoạch và đầu tư đồng thời công bố kết quả chào bán trên website của tổ chức chào bán (nếu có).

Nhận xét

Về mặt thực tế

Hiện nay, với các bản phụ lục chi tiết và phức tạp ban hành kèm theo nghị định, một số sở kế hoạch và đầu tư các tỉnh, thành phố chưa dám nhận hồ sơ đăng ký hoặc nếu có nhận thì không biết hướng dẫn thực hiện việc đăng ký ra sao và cũng khó mà kiểm tra và đánh giá mức độ “đầy đủ và hợp lệ” của các nội dung bắt buộc (đặc biệt là các nội dung thuần túy về tài chính và kinh doanh) nêu tại các bản phụ lục đó.

Ai muốn làm – tức là công ty đang hoạt động hay định thành lập – đều kẹt hết!

Về mặt lý thuyết

Công ty cổ phần là một cách giúp những người sáng lập huy động được nhiều vốn. Luật Doanh nghiệp quy định, muốn lập thì phải có ít nhất ba người, góp đủ tối thiểu 20% vốn điều lệ; trong vòng ba năm kể từ ngày có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải góp đủ; không thì phải giảm vốn đã đăng ký.

Với ba người đầu tiên kia, trong vòng ba năm họ phải gọi và bán cổ phần cho vài mươi người nữa; số người không giới hạn, tuy nhiên họ không thể bán cho hơn 100 người để thành công ty đại chúng; vì phải đủ điều kiện về vốn tối thiểu.

Vậy các công ty cổ phần trong vòng ba năm đầu khó lòng lên công ty đại chúng. Ở đây ta thí dụ là công ty cổ phần đã có ba cổ đông sáng lập; họ muốn bán cho bốn năm người nữa, và với số cổ phần sẽ bán mà khi được góp đủ tiền thì công ty sẽ có đủ vốn điều lệ. Vậy là công ty cổ phần kia bị điều chỉnh bởi Nghị định này.

Khi ấy, ba người sáng lập kia – cũng là đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị – phải:

– Lập phương án chào bán, phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt bán, theo nội dung ấn định; trong đó, xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư được chào bán, và nếu bán cho đối tác chiến lược hoặc người lao động thì phải xây dựng tiêu chí xác định, lựa chọn đối tác chiến lược hoặc người lao động.

– Đại hội đồng thông qua phương án chào bán và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán; thông qua tiêu chuẩn và danh sách đối tác chiến lược, người lao động.

– Đăng ký với sở kế hoạch và đầu tư, 20 ngày trước ngày dự kiến chào bán và chờ quyết định của Sở trong 15 ngày, nếu không bị trả lại trong vòng 10 ngày trước đó.

– Trong vòng 10 ngày, kể từ khi bán xong, công ty gửi báo cáo kết quả đợt chào bán và danh sách cổ đông (theo mẫu quy định) cho sở kế hoạch và đầu tư.

– Mặc dù không được nói rõ trong nghị định, nhưng theo Luật Doanh nghiệp và các văn kiện hướng dẫn hoặc quy định các loại, công ty còn phải thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh liên quan đến vốn điều lệ, danh sách cổ đông sáng lập và tỷ lệ góp vốn (nếu còn trong thời hạn ba năm kể từ ngày thành lập) và các nội dung khác, nếu có, do có sự thay đổi nói trên theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Ngoài ra, nếu việc tăng vốn là để thực hiện dự án đầu tư mới hoặc có nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, công ty còn phải thực hiện việc đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư hoặc hoàn tất các thủ tục bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài và sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18-6-2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam.

– Muốn bán đợt nữa phải chờ ít nhất sáu tháng.

Nếu rơi vào trường hợp trên, liệu có ai muốn lập công ty cổ phần hay tăng vốn cho nó nữa hay không?

Nghị định dẫn tới đâu?

Theo chúng tôi, những điều khoản trong nghị định trên bộc lộ các tính chất sau:

– Vô hiệu hóa cách thức gọi vốn và góp vốn của công ty cổ phần mà Luật Doanh nghiệp đã quy định. Như thế là vô tình phá hủy định chế công ty cổ phần. Nghị định này không phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp.

– Sai chức năng. Xét theo chức năng truyền thống thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chỉ kiểm soát các công ty niêm yết vì chúng nắm tiền của số đông người; những người ấy cần phải được bảo vệ thoát khỏi những hành vi sai luật hay lợi dụng của các công ty niêm yết. Mục đích cuối cùng của sự bảo vệ ấy là khuyến khích ngày càng có nhiều người tham gia thị trường chứng khoán để các công ty cần tiền có nơi cung cấp.

Như thế, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không cần tự đặt cho mình bổn phận hay quyền hạn phải bảo vệ một số ít người vì họ tự lo được, do tiền đi liền khúc ruột, và không cần đến sự bảo vệ kia. Mặt khác, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng chẳng phải bảo vệ từ một người trở lên cho đến hàng chục ngàn người để rồi đặt ra quy định kia rồi giao cho các sở kế hoạch và đầu tư làm hộ và báo cáo cho mình.

Thực ra, việc theo dõi hay kiểm soát các nhà đầu tư mua chứng khoán (không cần biết chuyên nghiệp hay không) chỉ có thể thực hiện trên diện rộng thông qua trung tâm lưu ký chứng khoán của các sở hay sàn giao dịch chứng khoán, và trên diện hẹp là các công ty chứng khoán; chứ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hay các sở kế hoạch và đầu tư cũng chẳng làm trực tiếp được.

Thế thì tại sao công ty bị buộc phải nộp danh sách cổ đông đã mua cổ phiếu riêng lẻ cho sở kế hoạch và đầu tư? Luật Doanh nghiệp đâu có đòi! Chưa nói đến chuyện trái luật, phải chăng đòi hỏi của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đi ngược lại cố gắng cải tổ thủ tục hành chính?

– Không rõ ràng. Khi quy định “nhà đầu tư không chuyên nghiệp” tức là họ không mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Vậy làm sao để công ty biết một người đầu tư nào đó là chuyên nghiệp hay không? Hơn nữa, nếu vậy, một người đã có chứng khoán trong tay thì không được mua cổ phần riêng lẻ nữa ư?

Chưa hết, nếu công ty cổ phần chỉ bán cổ phần cho chính các cổ đông sáng lập (hoặc hiện hữu) hoặc vừa bán cho các cổ đông này vừa bán cho các nhà đầu tư bên ngoài thì các cổ đông nói trên có bị tính trong giới hạn 1-99 nhà đầu tư hay không và khi đó công ty có bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ” hay không?

Thực ra, sự phân biệt nhà đầu tư chuyên nghiệp hay không cũng không chính xác. Người mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán chỉ có hai loại là cẩn thận và liều lĩnh; người sau ta hay gọi là “người đầu cơ”, bây giờ gọi là “lướt sóng”. Trong hai loại người này ai là chuyên nghiệp? Người cẩn thận nắm chứng khoán hai ba năm, người lướt sóng nắm vài tháng rồi thôi vì lỗ?

– Ngoài ra, các khái niệm mang tính quyết định đến các nghĩa vụ của công ty lại không được giải thích hoặc định nghĩa rõ ràng hoặc không thể đáp ứng trên thực tế; ví dụ như thời điểm “dự kiến thực hiện việc chào bán”, “kết thúc đợt chào bán”, “đối tác chiến lược”, “tài liệu chứng minh đáp ứng tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài và tuân thủ quy định về hình thức đầu tư”, “việc công bố thông tin không được chứa đựng nội dung có tính chất quảng cáo và mời chào về việc bán cổ phần riêng lẻ”.

Như vậy, có nhiều khả năng là sẽ có nhiều công ty cổ phần bị bắt giò vi phạm quy định về trình tự và thủ tục đăng ký hoặc không đảm bảo được tính “đầy đủ và hợp lệ” của hồ sơ đăng ký. Hậu quả là hồ sơ sẽ phải sửa đổi, bổ sung, trả lại và tồi tệ hơn là có thể bị hủy kết quả chào bán do vi phạm. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể bảo “tôi cũng đòi các công ty niêm yết các điều tương tự họ có kêu ca đâu”. Ấy là vì chào bán trên thị trường (IPO) thì khác với chào bán riêng lẻ, cái trước lại còn có bảo lãnh phát hành, rồi thị trường sơ cấp.

– Sai bản chất. Do mục đích huy động vốn, nên cổ phiếu của công ty cổ phần được mua vào và bán đi tự do (trừ những cổ đông sáng lập). Đối với người mua cổ phần, khi mua bán thì chỉ cần hợp đồng chuyển nhượng của họ được hội đồng quản trị công ty phê duyệt để cho ghi vào sổ đăng ký cổ đông là xong.

Riêng yêu cầu báo cáo sau khi bán xong mỗi đợt cho sở kế hoạch và đầu tư, trong đó có tên các người đã mua, tạo ra một số câu hỏi: (i) Các ông A, B, C mua đợt này, có tên trong báo cáo như yêu cầu; nhưng sau đó – dù là một năm – họ bán đi thì danh sách đã nộp có giá trị gì? (ii) Sở kế hoạch và đầu tư giữ danh sách đó làm gì? Mỗi khi họp đại hội đồng cổ đông thì chính công ty chốt danh sách cổ đông, chứ đâu có phải sở kế hoạch và đầu tư; (iii) Các cổ đông muốn xem ai khác cũng là cổ đông như mình, hay bao nhiêu người được chia cổ tức thì họ xem sổ đăng ký cổ đông, chứ ai lên sở kế hoạch và đầu tư?

– Không bao quát. Một công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên có thể có đến 50 người; khi mua bán phần góp vốn thì công ty chỉ đăng ký tên họ với sở kế hoạch và đầu tư. Khi làm công ty không phải lập phương án gọi vốn, sử dụng vốn. Tại sao công ty cổ phần bán cổ phần cho hai ba người – chưa đến 50 – thì lại phải có các phương án kia? Áp dụng các đòi hỏi của loại công ty niêm yết có hàng ngàn người cho loại công ty cổ phần có mươi người là thiếu một cái nhìn bao quát về nhiều lãnh vực khác nhau.

– Gây thiệt hại cho việc kinh doanh và đầu tư. Nghị định bắt mỗi đợt chào bán công ty phải chờ sáu tháng? Công ty cần gọi vốn trên số 20% ban đầu của các cổ đông sáng lập tại sao phải chờ? Nếu công ty cần tiền và có người mua tại sao cũng phải chờ? Nhà đầu tư mua xong bỗng cần tiền dù phải bán lỗ, tại sao họ phải chờ một năm?

Mặt khác, Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán cho phép cổ phần được tự do chuyển nhượng trừ trường hợp cổ phần của cổ đông sáng lập trong ba năm kể từ khi thành lập công ty, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, và cổ đông giữ một số chức vụ quản lý trong công ty bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần từ sáu tháng đến một năm kể từ ngày công ty niêm yết.

Nghị định sáng tạo thêm một trường hợp hạn chế chuyển nhượng là khi công ty kết thúc đợt chào bán thì người mua bị hạn chế chuyển nhượng một năm. Hạn chế như vậy là không cần thiết vì phần lớn cổ phần được chào bán là cổ phần phổ thông và việc phát hành là để huy động vốn phục vụ hoạt động của công ty, việc có thay đổi cổ đông sau đó do việc chuyển nhượng không ảnh hưởng gì đến hoạt động của công ty.

Trừ trường hợp đối tác chiến lược và người lao động nếu có nhu cầu cam kết gắn bó lâu dài thì có thể thỏa thuận riêng về việc hạn chế chuyển nhượng với công ty. Quy định như vậy là trái với tinh thần của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán, đồng thời tạo ra nhiều rối rắm như việc chồng lấn các thời hạn hạn chế theo nhiều văn bản khác nhau.

– Không khả thi. Theo nghị định, đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị của các công ty cổ phần phải thông qua một loạt các văn kiện trước và sau khi kết thúc đợt chào bán. Đối với các công ty cổ phần đang hoạt động, muốn tăng vốn, mà phải làm nào là phương án chào bán cổ phần, phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán, tiêu chuẩn đối tác chiến lược và người lao động, danh sách đối tác chiến lược và người lao động, thay đổi mục đích sử dụng vốn thu được từ việc chào bán thì biết bao là việc nhiêu khê mà chẳng giúp ích cho các công ty đó.

Bản thân đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị cũng đã phải phê duyệt việc sửa đổi điều lệ, các nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do kết quả của việc chào bán, giờ phải gánh thêm phê duyệt nhiều thứ khác mà thời điểm thì khác nhau.

Liệu rằng với công ty mà số lượng cổ đông và thành viên hội đồng quản trị lớn, ở rải rác trên cả nước hoặc công tác ở nước ngoài thì việc triệu tập các cuộc họp hoặc lấy ý kiến liên tục, nhiều lần có khả thi và thuận lợi cho công ty hay không?

Chưa bàn đến việc tốn kém nhiều chi phí cho việc tổ chức cuộc họp. Những quy định ấy phục vụ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hay công ty cổ phần? Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần các thứ đó từ các công ty cổ phần làm gì?

Với các tính chất nêu ở trên thiết tưởng công ty cổ phần chưa phải là công ty đại chúng nên được loại bỏ ra khỏi phạm vi điều chỉnh của nghị định nêu trên. Nghị định ấy chỉ nên áp dụng cho công ty đại chúng và niêm yết chứng khoán đã được điều chỉnh trong Luật Chứng khoán.

Nguyễn Ngọc Bích – Ngô Duy Minh (TBKTSG)

March 27, 2010

XK thủy sản 2010 : Nỗi lo trong cuộc

Báo  vừa có bài “XK thủy sản 2010: Không quá lạc quan” phản ánh về dự báo khá lạc quan trong khi thực trạng sản xuất, xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức. Để làm rõ các cơ hội và thách thức,PV   đã trao đổi với các nhà chế biến, XK thủy sản về những lo toan và ghi nhận tình hình vùng nguyên liệu tại ĐBSCL.
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức

Nói về thuận lợi, khó khăn của hoạt động XK thủy sản 2010, ông Phạm Hoàng Việt – Phó TGĐ Cty cổ phần thực phẩm Sóc Trăng (Sao Ta – Fimex VN) cho rằng: Với DN, cơ hội phát triển và thách thức luôn cùng tiềm tàng. DN không thể lạc quan kiểu “hồn nhiên” mà phải căn cứ trên những cơ sở vũng chắc, từng thời điểm, giai đoạn của tiến trình vận động. Thành hay bại đều do sự ứng phó linh hoạt, hợp thời của DN.

Dự định và thực tế

Ba tháng đầu năm nay, Fimex đã XK hơn 9 triệu USD (tương đương cùng kỳ năm trước); mặt hàng chủ lực vẫn là tôm sứ; thị trường chủ yếu vẫn là Nhật Bản, EU chỉ chiếm khoảng 10%. Hoạt động hiện tại khá yên ổn – sự yên ổn trong tình trạng thiếu nguyên liệu chung của tất cả các DN chế biến, XK thủy sản. Hai mối lo lớn mà Fimex đang tập trung quan tâm là nguồn nguyên liệu và công nhân. Từ trước Tết đến nay, giá và sản lượng nguyên liệu trồi sụt liên tục nên hầu hết các nhà máy ở ĐBSCL đều hoạt động với hơn nửa công suất. Fimex trong bối cảnh đó vẫn tuyển dụng thêm công nhân có tay nghề vững để giảm giờ làm cho 2.000 công nhân hiện có. Hoạt động đều và ổn thỏa mọi mặt, Fimex cần có 3.000 công nhân. “Tăng trưởng chắc chắn và ổn định là điều Fimex luôn tâm niệm. Năm 2009 xuất khẩu hơn 52 triệu USD thì năm nay cố gắng đảm bảo tăng 10-12% khi hội đủ các điều kiện cần và đủ để phát triển an toàn” – ông Phạm Hoàng Việt cho biết.

Còn ông Trần Văn Phẩm – Tổng Giám đốc Stapimex (Cty CP Thủy sản Sóc Trăng) chia sẻ mối lo toan về nguồn nguyên liệu mà theo ông là năm nay có những nét khác. Ông Phẩm nhận định nguồn nguyên liệu năm nay sẽ khả quan hơn, ví như tôm thẻ chân trắng miền Trung đang rất “đắt hàng”. Nhắc đến trở ngại trong nuôi trồng vì ảnh hưởng mặn và hạn, ông cho hay: So với Cà Mau và Bạc Liêu, diện tích nuôi của Sóc Trăng nhỏ hơn nhưng bù lại năng suất cao gấp 5-7 lần. Chuyện cứu lúa, làm ảnh hưởng tôm ở Bạc Liêu là có thật nhưng nếu giảm chút ít sản lượng ở đây không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng chung, trong khi tổng diện tích nuôi trồng trong cà vùng ĐBSCL đang mở rộng.  Năm 2010, Stapimex không đặt nặng tăng trưởng doanh số mà quan tâm hiệu quả cân đối nhiều mặt. Giá điện tăng sẽ tạo mặt bằng giá nguyên liệu, chế biến và giá thành sản phẩm; nói cách khác, sẽ làm ảnh hưởng kết quả chung cho toàn bộ ngành hàng.

Cạnh tranh nhân công

Trở lại vấn đề kinh doanh XK, TGĐ Trần Văn Phẩm cho biết: Nhận định của Vasep về triển vọng XK 2010 với 500 ngàn tấn cá và 200 ngàn tấn tôm là có cơ sở. Ở Stapimex, 3 tháng đầu 2010 đã XK được 6 triệu USD (thấp chút ít so cùng kỳ 2009) nhưng kinh doanh 2009 có cái dễ, cái khó khác. Năm 2009 nhờ có gói hỗ trợ lãi suất, người nuôi tôm duy trì được diện tích và làm ra nguyên liệu tốt hơn cho chế biến.

Hiện Stapimex có 2.500 công nhân (vào vụ sẽ lên 3.500 công nhân). “Ở VN nói thiếu công nhân là không chính xác. Có chăng là do cạnh tranh, lúc vào vụ chế biến DN nào nuôi công nhân tốt thì ổn định hơn. Mặt bằng lương công nhân ở ĐBSCL là trên dưới 4 triệu đồng/người/tháng, nếu không đủ nguyên liệu sản xuất mà có công nhân đông sẽ khó khăn. Không những thế, vẫn còn hiện tượng thu nhận công nhân nhưng ngoài lương không mua bảo hiểm cho họ. DN sử dụng công nhân rẻ đó sẽ có giá thành chế biến thấp, đó là cạnh tranh không công bằng” – ông Trần Văn Phẩm nhấn mạnh.

Thách thức từ nguồn nguyên liệu

Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức, đe dọa do nguy cơ biến đổi khí hậu (mặn và hạn hán) đang hiển hiện. Ở ba tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng có hơn 50 DN thu mua chế biến thủy sản xuất khẩu với gần 100 nhà máy.  Để đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu cho số nhà máy chế biến này hàng năm cần gần gấp đôi tổng sản lượng tôm nuôi toàn vùng. Chuyện khan hiếm nguồn nguyên liệu đã được cảnh báo từ trước do công tác quy hoạch và đầu tư diện tích nuôi trồng. Bộ NN-PTNT trong năm 2009 đang tái khởi động công việc này, tuy nhiên, nông dân mỗi khi biến động giá lên/xuống hoặc mặt hàng ế thì vẫn luẩn quẩn trồng/chặt (lúa, mía) hoặc đào/lấp hay “treo” ao đầm.

Tháng 3/2010, 14 DN ở Cà Mau áp dụng phương án cho công nhân nghỉ việc luân phiên. Lãnh đạo Cty Chế biến thủy sản XK Cà Mau (Camimex) nhận định đây là tình trạng chung của các nhà máy khi hết mùa tôm nên đã tổ chức mạng lưới thu mua đến tận cơ sở với giá cao, dù vậy, vẫn không tìm đủ nguồn nguyên liệu để chế biến. Tại Bạc Liêu, hiện 13 DN chế biến thủy sản hầu hết hoạt động không đủ công suất, cầm chừng vì thiếu nguyên liệu. Cty chế biến thủy sản xuất khẩu Giá Rai, huyện Giá Rai hơn tháng nay hoạt động có thời điểm chỉ 30% công suất thiết kế do thiếu nguyên liệu. Động thái này liên quan đến chủ trương trên 20.000ha lúa đông xuân cuối vụ đang khát nước nghiêm trọng. Tỉnh Bạc Liêu quyết định hạn chế lấy nước mặn vào vùng ngọt hóa Quản Lộ – Phụng Hiệp. Việc làm này vô tình ảnh hưởng trực tiếp đến trên 40.000 ha diện tích nuôi tôm tại khu vực lân cận. Ở xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai có 2.427ha nuôi tôm, đến thời điển này đã có đến 1.519ha bị thiệt hại, trong đó có đến 419ha thiệt hại trên 50% không khả năng khắc phục. Phòng NN-PTNT Giá Rai – cho biết: Trong 20.000 ha đã thả tôm, có đến 5.482 ha bị thiệt hại, mức độ thiệt hại từ 30% trở lên. Đáng báo động là có đến trên 10.000 ha đang đứng trước nguy cơ thiếu nước. Ông Võ Hồng Ngoãn, người nuôi tôm có tiếng tăng ở Bạc Liêu cho biết: “Ai cũng biết nuôi trồng cái gì trái mùa, nếu thành công sẽ lời rất nhiều, nhưng đối với con tôm nuôi trái vụ rất nhiều rủi ro, nếu thất bại là thiệt hại tiền tỉ như chơi”.

Trước thực trạng này – Phó giám đốc Sở NN-PTNT Bạc Liêu Tạ Minh Phú, cho biết: “Chúng tôi khuyến cáo nông dân ở nơi nào điều kiện thuận lợi thì sản xuất, nơi nào có khả năng thiếu nước thì hãy chậm lại để tránh thiệt hại”.

March 17, 2010

Có nhiều cách giữ chân công nhân

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:41 pm
Tags: ,

Trả lương tương xứng, tăng ca hợp lý, quan tâm đến con em công nhân… là những việc mà nhiều doanh nghiệp đã làm được để người lao động gắn bó với mình.

Những số báo trước, Pháp Luật TP.HCM đã giới thiệu ý kiến phân tích của các chuyên gia về tình trạng công nhân quay lưng với doanh nghiệp hiện nay. Các ý kiến đều thống nhất rằng muốn doanh nghiệp phát triển ổn định thì người lao động phải được chăm lo cả về vật chất lẫn tinh thần. Quan điểm này đã được chứng minh bằng thực tế sống động tại một số doanh nghiệp.

Trao quyền chủ động, sáng tạo

Thật ra doanh nghiệp (DN) cũng muốn chăm lo chỗ ăn ở cho công nhân chứ nhưng TP.HCM là “đất vàng”, làm sao đầu tư nổi. Vì vậy, DN có chiến lược khác để chăm lo cho công nhân. Các chính sách này không chỉ đơn thuần giữ chân để tránh thiếu hụt lao động mà thực sự là muốn giữ lòng, chia sẻ đời sống với những người cùng xây dựng DN. Cụ thể, công ty có chính sách không tăng ca quá 6 giờ chiều, không làm ngày Chủ nhật để công nhân thực sự có ngày nghỉ trong tuần, có thời gian vui chơi giải trí, chăm sóc gia đình.

Để gắn kết người lao động với DN, công ty còn phát động chương trình “mỗi công nhân – một sáng kiến”, “mỗi công nhân – một người quản lý chất lượng”. Chương trình này nhằm thúc đẩy công nhân tìm tòi những cách làm mới cho hiệu quả công việc cao hơn. Nhờ đó công nhân cảm thấy mình là người chủ động, sáng tạo trong công việc và góp phần xây dựng DN chứ không chỉ đơn thuần là làm cho xong phần việc của mình.

Trong khi nhiều công ty đang tuyển lao động khó khăn thì Công ty Freetrend vẫn thu hút hàng trăm lao động đến nhận việc. Ảnh: P.ĐIỀN

Hiện chúng tôi cũng đang lập “Công viên May” đầu tiên trên toàn quốc, đặt tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Tổng kinh phí giai đoạn một để xây dựng là 50 tỉ đồng, trong đó đến 10 tỉ đồng để đầu tư xây khu nhà ở và các tiện ích cho công nhân.

Ông Nguyễn Ân, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần May Sài Gòn

Dồn lực xây nhà lưu trú

Trừ một vài DN cá biệt thì hầu hết DN dệt may tại Bình Dương có chính sách đãi ngộ công nhân khá tốt. Hiện đã có vài DN dệt may xây được nhà lưu trú cho công nhân. Nhiều DN khác cũng muốn xây nhà lưu trú nhưng còn vướng nhiều thứ, như không lo nổi quỹ đất, hoặc có đất nhưng đất lại nằm trong khu công nghiệp. Thêm vào đó, muốn xây nhà lưu trú thì phải vay ngân hàng mà hiện nay lãi suất vay cao, DN không kham nổi.

Năm 2009, Công ty Sản xuất May mặc Bình Dương đã xây dựng xong khu nhà lưu trú cho khoảng 1.000 công nhân, chi phí đầu tư 29 tỉ đồng. Công nhân được miễn phí ở, chỉ phải trả chi phí điện, nước. Khu nhà này có ban quản lý, có nội quy vừa đảm bảo đảm sinh hoạt tự do cho công nhân nhưng cũng không quá ràng buộc. Ví dụ, buổi tối khu nhà đóng cổng lúc 10 giờ đêm, thứ Bảy thì đến 12 giờ đêm. Nội quy chung là công nhân không được đưa bạn bè, người nhà vào phòng ở nhưng khu nhà cũng có khu riêng để công nhân tiếp bạn bè, gia đình. Nhờ vậy mà công nhân cảm thấy không quá gò bó nên vào ở khá đông.

Ông Lê Hồng Phoa, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Bình Dương, TGĐ Công ty Sản xuất May mặc Bình Dương

Hỗ trợ tiền gửi trẻ

Đặc thù của ngành gia công cần rất nhiều lao động, vì vậy chiến lược lao động phải được hoạch định lâu dài thì DN mới hoạt động tốt được. Để làm được điều đó, công ty tập trung xây dựng môi trường làm việc thân thiện với người lao động, thông qua lối hành xử có văn hóa theo khuôn khổ do công ty định ra. Đặc biệt, bộ phận quản lý người nước ngoài nếu có thái độ xử sự không đúng mức với công nhân sẽ bị kỷ luật rất nặng.

Để công nhân gắn bó lâu dài, công ty đã tập trung vào việc nâng cao đời sống tinh thần cho họ bằng cách mở các lớp học bổ túc, dạy tiếng Anh, vi tính, võ thuật, đàn guitar… Ngoài ra, công ty đã có chính sách hỗ trợ 300.000 đồng cho mỗi bà mẹ có con nhỏ để gửi trẻ từ hơn 10 năm nay. Năm 2010 này, công ty sẽ xây dựng nhà trẻ trong khuôn viên công ty đủ sức đón 1.200 trẻ là con em công nhân để giúp người lao động an tâm làm việc.

Ông Củ Phát Nghiệp, Chủ tịch Công đoàn Công ty Pou Yuen

Nhà lưu trú thành nhà kho

Công ty chúng tôi từng xây nhà lưu trú quy mô 500 người cho công nhân ở, giá nhà ở chỉ bằng một nửa giá thuê phòng trọ bên ngoài nhưng công nhân không chịu ở. Cuối cùng phải bỏ làm nhà kho! Lý do chính là công nhân thích tự do như ở nhà trọ. Trong khi đó, công ty xây nhà lưu trú thì phải đảm bảo quy củ, bởi lỡ xảy ra chuyện gì thì chúng tôi phải chịu trách nhiệm.

(Một doanh nghiệp giày da)

Tâm lý thời vụ

Công nhân “nhảy việc” một phần do họ chưa tập trung vào chuyên môn và chưa tâm huyết để gắn bó lâu dài với DN, trong đó phải kể đến tư tưởng chạy theo thời vụ. Tâm lý công nhân không ổn định trong việc lựa chọn ngành nghề khiến DN rất khó xây dựng được mô hình lao động có tâm huyết, gắn bó lâu dài và hài hòa trong quan hệ lao động.

Nguyễn Thị Việt Hòa, Giám đốc Công ty Rồng Á Châu

March 14, 2010

Doanh nghiệp xuất khẩu khốn đốn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:30 pm
Tags: , , ,

TP – “Cực kỳ khó khăn về vốn” – Tổng Giám đốc Cty CP Intimex, ông Đỗ Hà Nam thốt lên trên diễn đàn về xuất khẩu hôm 11-3.

Thứ trưởng Bộ Công Thương, ông Nguyễn Thành Biên cũng xác nhận: “Khó khăn lớn nhất hiện nay là các doanh nghiệp (DN) khó tiếp cận nguồn vốn để sản xuất hàng xuất khẩu”.

Các ngành chế biến xuất khẩu nông sản đặng gặp rất nhiều khó khăn về vốn  –  Ảnh: Phục Lễ

Nông thủy sản lao đao

Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên cảnh báo: Thị trường chứng khoán, bất động sản hút vốn rất mạnh, vì vậy, không khéo việc  lãi suất tăng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất xuất khẩu.

Tổng thư ký Hiệp hội Điều Việt Nam, ông Đặng Hoàng Giang cho biết, dự kiến tổng nhu cầu vốn cho thu mua, nhập khẩu và chế biến của toàn ngành Điều năm 2010 là 14.820 tỷ đồng để thu mua 400 nghìn tấn điều thô trong nước, nhập khẩu 250 nghìn tấn điều thô và phục vụ sản xuất 180 nghìn tấn nhân điều.

Tuy nhiên, hiện nay việc tiếp cận vốn của các ngân hàng thương mại là rất khó khăn, hạn mức cho vay thấp, lãi suất cao trong khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa giải ngân cho các khoản vay…

TGĐ Cty CP Intimex, ông Đỗ Hà Nam lo lắng: “Cà phê đang trong tình trạng báo động đỏ!”. Trong khi sản lượng cà phê giảm khoảng 30% so với năm trước vì mất mùa, mức độ tiêu thụ của thị trường thế giới cũng giảm nhưng giá bán ra của cà phê Việt Nam lại giảm mạnh, xấp xỉ 44% và hiện vẫn đang xuống dốc.

Hạt điều cũng không ngoại lệ. Trong khi giá bán thấp thì giá thu mua quá cao, từ 1.100 – 1.150 USD/tấn. Với giá nguyên liệu như hiện nay các DN hoàn toàn làm không công cho nước ngoài.

Thêm vào đó, chi phí đầu vào của ngành điều đã tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Hiện điện, nước, xăng dầu đều tăng nên DN đã khó lại càng thêm khó.

Ông Đỗ Hà Nam cũng nêu một thực tế không vui, khi các DN trong nước gặp khó khăn về vốn, các DN nước ngoài nhảy vào thu gom dự trữ và giành mất quyền nắm giữ các cơ hội kinh doanh.

Theo ông Nam, cũng do kẹt vốn nên các DN xuất khẩu Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị mất hợp đồng.

Khi DN Việt Nam thiếu vốn, một số đối tác chỉ dây dưa, chậm thanh toán là ngay lập tức DN Việt Nam hoảng hốt và phản ứng bằng cách siết chặt các yêu cầu thanh toán và đó là cớ để nhiều đối tác bỏ đi tìm đối tác khác.

Bao giờ hết khó?

Ông Nguyễn Thành Biên cũng cho biết Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ NN&PTNT xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông sản, thủy sản của một số ngành hàng có lượng hàng hóa lớn như gạo, thủy sản, cà phê và một số nông sản khác nhằm duy trì phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân và ổn định giá hàng hóa.

Theo đề nghị của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam,  Chính phủ giao các bộ ngành liên quan nghiên cứu ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất thu mua dự trữ 200.000 tấn để giữ giá cà phê đồng thời giúp nông dân không bị ảnh hưởng nặng nề.

Chính phủ tiếp tục kéo dài chương trình hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn đến hết năm 2010, đồng thời tiếp tục gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 3 tháng cho các nhóm đối tượng DN vừa và nhỏ; số thuế phải nộp từ hoạt động sản xuất, gia công dệt may, da giày của DN.

Theo các chuyên gia, việc giãn thời gian nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đã cho thấy quyết tâm hỗ trợ DN vượt qua khó khăn của Chính phủ.

Tuy nhiên, không phải khó khăn nào của DN cũng được “lắng nghe và thấu hiểu” và kịp thời giải quyết.

“Đề nghị Ngân hàng Phát triển Việt Nam sớm giải ngân và dành khoản tín dụng cho vay ngắn hạn 2.000 tỷ đồng để các DN ngành điều thu mua nguyên liệu từ tháng 3 đến tháng 7-2010”- Ông Đặng Hoàng Giang bức xúc.

Ông Giang cũng đề nghị ngân hàng này dành khoản tín dụng cho vay đầu tư trung hạn ưu đãi 1.500 tỷ đồng để giúp DN cải tạo nhà xưởng và đầu tư trang thiết bị phục vụ chế biến. Đồng thời đề nghị các ngân hàng giải quyết cho DN vay ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu phục vụ xuất khẩu.

Đồng bằng sông Cửu Long:

Nông dân và doanh nghiệp đều khát vốn

TP – Năm 2009, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được hơn 6 triệu tấn gạo, tương đương 3 tỷ USD. Trong đó, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp tới 95% lượng gạo hàng hóa xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối phó với khó khăn về vốn.

Ảnh minh họa

Theo thống kê, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn của cả nước đến nay vào khoảng 231 ngàn tỷ đồng; riêng khu vực ĐBSCL là 71 ngàn tỷ (chiếm 30,6%). Trong khi đó huy động vốn của cả khu vực chỉ đạt xấp xỉ 115 ngàn tỷ đồng, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn tại chỗ đang ngày một tăng.

Xuất phát từ thực tế trên, tại hội thảo tín dụng cho nông thôn tổ chức hôm 10-3, ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định: “Nhu cầu vốn của người nông dân và các doanh nghiệp khu vực ĐBSCL là rất lớn. Nhưng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của nông dân bị hạn chế do lãi suất và cơ chế vay vốn còn có nhiều điểm chưa phù hợp với đặc điểm nông thôn, nông dân”.

Hiện tại, các doanh nghiệp cũng đang đứng trước khó khăn lớn về vốn cho thu mua lúa gạo tạm trữ cho xuất khẩu. Do hầu hết doanh nghiệp chưa ký kết được hợp đồng với đối tác nước ngoài nên đều chưa thể vay vốn ngân hàng.

Trong khi đó, các doanh nghiệp mới chỉ tiến hành thu mua được 500 nghìn tấn trong tổng số 1 triệu tấn gạo theo kế hoạch; cùng với việc phát triển hệ thống kho chứa lên 4 triệu tấn vào cuối 2010 đầu 2011 sẽ đặt ra nhu cầu bức thiết về vốn cho các doanh nghiệp”.

Ông Nguyễn Danh Trọng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) phân tích: Tín dụng cho khu vực nông thôn nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng có những đặc trưng như nhu cầu vốn cho các hoạt động sản xuất thường cao hơn mức huy động được tại địa bàn; mạng lưới của các ngân hàng (ngoại trừ Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Agribank) chưa bao phủ rộng, khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân và doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng còn hạn chế…

Chẳng hạn, tại khu vực ĐBSCL, nguồn vốn huy động tại chỗ chỉ đạt 115 ngàn tỷ đồng (tương đương 6% tổng vốn huy động toàn hệ thống ngân hàng trong cả nước, khoảng 1.777 ngàn tỷ đồng) trong khi dư nợ cho vay lên tới 174 ngàn tỷ đồng.

Đó là còn chưa kể đến các nhu cầu chưa được ngân hàng đáp ứng mà vay từ nguồn tín dụng phi chính thống khác.

Dưới quan điểm của các doanh nghiệp đầu mối, ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, với dự kiến xuất khẩu tới 6 triệu tấn gạo trong năm 2010 (kim ngạch khoảng 3 tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khẩu gạo rất khó khăn trong việc xoay xở nguồn vốn.

Dù vừa qua, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã có chỉ đạo về việc đáp ứng nguồn vốn cho các doanh nghiệp thu mua gạo nhưng khi đầu ra vẫn còn khó khăn như hiện nay, các ngân hàng vẫn do dự khi cho vay.

Bên cạnh, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thể thực hiện việc đầu tư kho và hệ thống xay xát, chế biến cũng chỉ bởi một lý do: thiếu vốn.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Liên Việt cho biết, để giải quyết những khó khăn về vốn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL rất cần sự tham gia của ngân hàng trong liên kết 4 nhà (Nhà nước- Nhà nông- Nhà khoa học- Nhà doanh nghiệp).

Theo ông Hưởng, một trong những điểm bất cập của mô hình liên kết 4 nhà là việc doanh nghiệp thiếu vốn và phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân dẫn đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn lỏng lẻo.

Trong trường hợp xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng không trả được nợ, doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng vốn vay, giá thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính.

Hiện tại, để giải quyết bài toán vốn cho ĐBSCL, trước mắt, Liên Việt sẽ triển khai đề án “Đầu tư phát triển tín dụng nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL” với việc dành ra một khoản tín dụng từ 3 ngàn đến 5 ngàn tỷ đồng cho giai đoạn 2010 – 2013, trong đó riêng năm 2010, sẽ triển khai đề án với vốn lên đến 1,2 ngàn tỷ đồng.

March 12, 2010

Lãi suất cho vay đã quá sức chịu đựng doanh nghiệp?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:48 pm
Tags: ,


SGTT – Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.

Nếu lãi suất cao hơn nữa, doanh nghiệp sẽ… gửi tiết kiệm thay vì kinh doanh. Tốc độ huy động vốn của các ngân hàng từ đầu năm đến nay rất chậm. Ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng Á Châu (ACB) cho biết, dư nợ huy động hai tháng đầu năm ở ACB chỉ tăng nhẹ, nhưng không đều đặn và ổn định, tốc độ chỉ bằng khoảng 50% thời điểm giữa năm 2009.

Bao nhiêu là quá sức?

Đồng thời, như nhiều ngân hàng khác, tốc độ tăng trưởng tín dụng ở ACB cũng chậm chạp và hầu như đứng im. Ngoài việc tăng trưởng cho vay khó đạt cao vì ngân hàng đang gặp khó khăn thanh khoản, ông Lý Xuân Hải cho rằng, đối với nhiều doanh nghiệp, vốn cũng đang gặp nhiều khó khăn, thì lãi suất dần gia tăng đến ngưỡng doanh nghiệp khó thể gánh chịu, và cũng là lý do khiến tốc độ tín dụng chậm lại.

Ở mức lãi suất thoả thuận 17 – 18%/năm phổ biến trên thị trường hiện nay, doanh nghiệp có dự án khả thi và mức lợi nhuận cao thì mới tìm đến ngân hàng. “Mức lãi suất cho vay 17 – 18% hãy còn trong giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp, nhưng nếu vượt cao hơn, tôi cho rằng họ khó có thể chịu đựng hơn”, ông Hải nói.

Theo ông, qua theo dõi các năm 2002 – 2007, thời điểm nền kinh tế ổn định và các doanh nghiệp kinh doanh tương đối tốt, các doanh nghiệp Việt Nam thường có 1 đồng thì đi vay 2 đồng (tỷ lệ vay/vốn khoảng 2 lần). Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong khoảng 25 – 30%. Lãi suất vay tổ chức tín dụng vào thời kỳ đó từ 12 – 14%/năm. Như vậy, nếu lãi suất vay tăng 5 – 6% lên 18 – 19% sẽ làm ROE giảm xuống còn khoảng 15 – 18%, tương đương lãi suất huy động. Điều này làm tăng rủi ro hoạt động, ảnh hưởng đến lợi nhuận, các doanh nghiệp không còn hứng thú đầu tư mở rộng mới. Thay vào đó, họ có tiền sẽ đem gửi tiết kiệm, vì hiệu quả như nhau mà rủi ro thấp hơn nhiều.

Theo ThS Đào Trung Kiên, giảng viên khoa ngân hàng đại học Kinh tế TP.HCM, với mức lãi suất đi vay 18%/năm, nhìn chung các doanh nghiệp phải có tỷ suất lợi nhuận khoảng 25% mới bù đắp được chi phí sử dụng vốn. Giả sử lãi suất cao hơn mức trên, doanh nghiệp sẽ lại lao đao như hồi năm 2008, ông nói.

Lãi suất cho vay sẽ giảm

Theo báo cáo chiến lược đầu năm nay của công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), năm 2010 các doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí lãi vay cao hơn 63% so với chi phí lãi vay của 273,16 ngàn tỉ đồng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất mà các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân được hưởng trong năm 2009. Với mức hỗ trợ lãi suất bình quân là 4%, với số dư nợ này, các doanh nghiệp phải trả lãi khoảng 21,8 ngàn tỉ đồng/năm (lãi suất 8%). Trái lại, với mức lãi suất thị trường hiện tại là 13%/năm thì các doanh nghiệp sẽ phải trả lãi 35,5 ngàn tỉ đồng (ở mức lãi suất cho vay thương mại thông thường). Và nếu lãi suất cơ bản tăng lên 9% vào cuối quý 1 thì chi phí lãi vay sẽ là 38,2 ngàn tỉ đồng.

Điều đáng mừng là thanh khoản đã được cải thiện. Theo ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng vào tuần trước bình quân ở mức 7,44%/năm, giảm mạnh so với mức 10,69% ở tuần gần cuối tháng 12.2009, và so với mức 9,37% tuần đầu tháng 2. Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, lãi suất cho vay thoả thuận cách đây một tuần khoảng 12 – 14%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, khoảng 15 – 17%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần. Đây là tác động tích cực. Theo ông Lý Xuân Hải, chi phí vay vốn của doanh nghiệp hiện nay không tăng mà có xu hướng giảm đi so với ba – bốn tháng trước, lúc thị trường thiếu hụt thanh khoản hơn hiện nay. “Bây giờ, ACB có thể cho vay doanh nghiệp ở mức 15 – 16%/năm, chứ lúc trước khó có thể ở mức này”, ông nói.

Dù vậy, ngân hàng vẫn khó tăng cho vay ra nếu không huy động được như các số liệu công bố gần đây. Nhiều ý kiến cho rằng, nếu ngân hàng Nhà nước sắp tới dỡ bỏ quy định trần lãi suất huy động, thì lãi suất huy động sẽ tăng lên, nhưng lãi suất cho vay có thể sẽ giảm xuống, chênh lệch cho vay và huy động khoảng 3,5 – 4% là mức đảm bảo ngân hàng kinh doanh có lời. Nhiều người trông đợi vào cuộc họp mới đây giữa hiệp hội Ngân hàng Việt Nam với đại diện các ngân hàng, mà theo giới thạo tin, sau cuộc họp này, họ sẽ có kiến nghị bỏ lãi suất huy động trần hiện nay.

March 4, 2010

Thỏa thuận lãi suất: Ngân hàng “cười”, DN “mếu”!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:45 am
Tags: , , , , ,

Nhiều doanh nghiệp nhận định, trước đây, trường hợp khách hàng vay trung, dài hạn để đầu tư sản xuất kinh doanh, ngân hàng phải áp lãi suất không quá 150% so với lãi suất cơ bản 8% một năm (tức là 12%/năm). Tuy nhiên, trên thực tế do thiếu vốn và phải huy động với chi phí cao, các ngân hàng đều tìm cách lách luật, cộng thêm phí, đẩy lãi suất doanh nghiệp thực trả cao hơn nhiều so với trần 12% một năm. Nhiều doanh nghiệp bị ám ảnh bởi chuyện ngay cả khi được vay theo lãi suất trần vẫn phải bấm bụng chi thêm nhiều thứ phí không rõ ràng khác.

Giờ, với cơ chế “thỏa thuận” mới, nhiều doanh nghiệp lại càng lo lắng hơn khi chi phí vốn bị đẩy lên cao, cộng thêm việc giá điện, giá xăng tăng… cũng sẽ khiến giá thành sản xuất tiếp tục bị đội lên, khó khăn lại càng chồng chất!

Ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Công ty Hải Vân (chuyên kinh doanh ống nước) cho biết, với mức lãi suất cho vay 16-17%/năm, doanh nghiệp khó mà chịu đựng nổi, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Áp lực lãi suất vay cao đang đẩy về phía các doanh nghiệp.

Trước tình hình đó, thậm chí một số doanh nghiệp đang có kế hoạch chuyển sang vay USD với lãi suất khoảng 5%/năm, bởi theo tính toán vẫn có lợi hơn vay VND.

Thỏa thuận có thực theo thị trường?

Theo một số ngân hàng, việc áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận là phù hợp với quy luật thị trường. Nhờ đó, các ngân hàng sẽ có sự cạnh tranh về lãi suất cho vay, chất lượng phục vụ. Ngân hàng nào có giá vốn thấp sẽ cho vay với lãi suất thấp. Và khi đó, khách hàng nào càng có hệ số tín nhiệm cao (trả nợ đúng hạn, quan hệ lâu dài…) sẽ được hưởng mức lãi suất thấp hơn.

Mặt khác, cơ chế thỏa thuận cũng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp rộng đường tìm các ngân hàng giá rẻ nhất, ngân hàng cũng dễ tiếp cận được các doanh nghiệp, tạo sự cạnh tranh theo cơ chế thị trường trên thị trường vốn tín dụng.

Phó Tổng Giám đốc một ngân hàng cổ phần cho hay: Công ty con của ngân hàng vẫn thực hiện thu phí đối với các khoản vay nhưng vừa làm vừa “run” vì nếu bị “tố” thì thanh tra ngân hàng sẽ vào cuộc. Vì vậy, việc được thỏa thuận lãi suất cho vay sẽ giúp ngân hàng có thể thực hiện tất cả các việc trên một cách công khai!

Đứng ở góc độ khác, một chuyên gia kinh tế nhìn nhận, ngân hàng chỉ chờ quy chế thỏa thuận này để tăng lãi suất và họ không có lý do gì để không thực hiện ngay trong những ngày tới, khi ngân hàng đang nắm tiền còn doanh nghiệp thì đói vốn.

Nhiều ý kiến còn lo ngại một cuộc đua lãi suất mới sẽ nóng ngay trong những ngày tới đây và lần này có thể còn căng thẳng hơn năm 2008 vì được “thỏa thuận”. Ngân hàng sẽ mặc nhiên “mặc cả” với doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp thì phải “ngậm bồ hòn” vì nếu ngoảnh mặt với ngân hàng, đồng nghĩa với việc họ tự đặt dấu chấm hết cho công việc kinh doanh của mình!

Chính vì vậy, chuyên gia ngân hàng, tiến sĩ Nguyễn Đại Lai cho rằng ngân cần phải đề phòng tình trạng một số ngân hàng có thể liên kết độc quyền, nâng giá lên làm cho người đi vay bị thiệt hoặc dùng vốn trung và dài hạn biến tướng ra thành đầu cơ tài chính.

Đồng tình với quan điểm này, ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cho hay, các ngân hàng thương mại phải nâng cao một bước hiệu quả quản lý, kiểm soát dòng vốn. Bởi với cơ chế mới, chi phí vốn tăng làm giá thành hàng hóa, dịch vụ tăng, mặt bằng giá cả nâng lên, tạo thêm áp lực kiểm soát lạm phát. Càng đáng ngại hơn nếu dòng vốn lại đổ vào những dự án kém hiệu quả, cung tiền tăng lên nhưng hàng hóa không tăng tương ứng, ngân hàng cũng khó thu hồi nợ.

Ông Kiêm nhấn mạnh: “Mặc dù được thỏa thuân, nhưng mặt bằng lãi suất cho vay cũng chỉ nên tối đa là 16%/năm, nếu vọt lên tới 18%-20% mỗi năm thì sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế”./.

Theo Minh Thúy (Vietnam+)

January 29, 2010

Hàng tết xuất ngoại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:27 am
Tags: ,

TT – Trong khi người Việt trong nước đang hối hả chuẩn bị đón tết thì kiều bào sinh sống ở nước ngoài cũng nóng lòng chờ những chuyến hàng mang hương vị tết ấm áp từ quê nhà gửi sang.

Công nhân Công ty TNHH sản xuất – thương mại Hải Minh đóng gói sản phẩm mắm nêm để xuất khẩu sang thị trường Mỹ (ảnh chụp chiều 28-1)  – Ảnh: M.ĐỨC

Các doanh nghiệp xuất khẩu phải làm việc thâu đêm suốt sáng để kịp chuyển các loại đặc sản tết như gạo, nếp, trái cây, bánh tráng, hoa… đến nơi trước tết.

Trắng đêm chuẩn bị hàng tết

Đêm 27-1, toàn bộ lãnh đạo và công nhân Công ty CP chế biến nông sản Ngọc Ngân (huyện Cái Bè, Tiền Giang) phải thức trắng để xử lý, đóng gói 10 tấn nhãn, bưởi, xoài, mận An Phước xuất sang Singapore.

Ông Nguyễn Xuân Huy, giám đốc công ty, cho biết hai tuần trước đó hầu như ngày nào công nhân cũng phải làm đến khuya để kịp giao năm container hơn 100 tấn trái cây đặc sản Tiền Giang xuất sang Ý theo đơn đặt hàng của Công ty MC&S.

Công ty MC&S sẽ phối hợp với hội người Việt Nam ở các nước tổ chức phân phối số trái cây này tới tay kiều bào trước khi kết thúc năm cũ.

Tại Khu công nghiệp Mỹ Tho, Công ty TNHH một thành viên Long Uyên cũng tất bật thu gom, sơ chế, đóng gói ớt trái, gừng, thanh long để xuất khẩu sang Hàn Quốc, Malaysia, Singapore. Đây là những mặt hàng rất cần thiết đối với kiều bào và người Hoa trong dịp Tết Nguyên đán. Thanh long để chưng, gừng có thể làm mứt và chế biến thức ăn rất tốt trong mùa lạnh.

Hơn 150 công nhân của Công ty thương mại sản xuất Hải Minh (Củ Chi, TP.HCM) đang phải làm việc hết công suất và tăng ca trong những ngày cuối năm mới đáp ứng đủ đơn đặt hàng từ Mỹ, Úc, New Zealand và châu Âu.

Ông Quách Hưng Tòng, tổng giám đốc Hải Minh, hồ hởi cho biết: “Dù khủng hoảng kinh tế nhưng nhu cầu ăn uống, đặc biệt là các đặc sản tết của kiều bào như bánh chưng, bánh tét, mứt…  không giảm, thậm chí còn tăng”.

Năm 2009, mỗi tháng Công ty Hải Minh xuất khẩu trên 10 container các loại đặc sản Việt Nam, tăng khoảng 10-15% so với năm 2008 và dịp giáp tết nhu cầu đặc sản còn cao hơn.

Đủ hương vị tết

Điều ghi nhận hàng tết xuất khẩu cho kiều bào năm nay chính là ở sự đa dạng về chủng loại sản phẩm. Các công ty đã tận dụng đem mọi đặc sản trong nước để chuyển đến cộng đồng người Việt trên khắp thế giới.

Năm nay Công ty TNHH Phát Triển Đồng Tháp tiếp tục xuất 15 container (mỗi container khoảng 20 tấn) bánh mứt các loại sang thị trường châu Âu.

Ông Nguyễn Thái Quân, đại diện công ty, cho biết ngay từ tháng 10-2009 những lô hàng đầu tiên đã được vận chuyển bằng đường biển để kịp đến tay bà con Việt kiều trong dịp tết cổ truyền. Ngoài các mặt hàng quen thuộc là bánh tét, bánh chưng, bánh ít, bánh da lợn, năm nay có thêm xôi gấc đỏ. Các sản phẩm này đều được cấp đông nên bảo quản 1-2 năm.

Nhờ kinh nghiệm lâu năm xuất hàng đi nước ngoài, bánh chưng của công ty chỉ cần rã đông bằng lò vi ba hoặc luộc sơ 15-20 phút là dùng được mà vẫn giữ vị thơm của lá chuối, vị dẻo của nếp và mùi béo ngậy của nhân thịt heo, đậu xanh.

Thương hiệu mứt Thành Long (Q.3, TP.HCM) mỗi mùa tết đều dành từ 5-10% sản lượng mứt để xuất khẩu cho thị trường châu Âu. Bà Ngọc Thúy, chủ cơ sở, cho biết ba loại mứt dừa, mứt gừng, mứt bí đao chủ đạo phục vụ bà con Việt kiều đều được sử dụng các kỹ thuật gia truyền để đảm bảo độ trắng của lát mứt cũng như thời gian bảo quản được lâu nhất.

Bên cạnh những thị trường truyền thống có nhiều người Việt định cư như Mỹ, Úc…, điểm đến của những chuyến hàng tết cũng đa dạng hơn.

Theo ông Nguyễn Phụng Hoàng – giám đốc Công ty TNHH một thành viên Bà Giáo Khỏe 55555 (thị xã Châu Đốc, An Giang), đơn vị chuyên cung cấp các loại đặc sản khô và mắm miền Tây như khô cá lóc, khô cá tra phồng, khô cá kết, khô cá lăng…, năm nay thị trường Đài Loan có nhu cầu hàng khô tăng mạnh 30-40%.

“Đó là đặc sản quê người ta mua cho những cô dâu Việt ở Đài Loan không có điều kiện về quê ăn tết” – ông Hoàng nói.

Không chỉ cho người Việt

Qua nhiều năm, hàng đặc sản tết giờ đây không chỉ dành cho những người Việt xa quê, mà đã dần trở thành một lựa chọn mới trong phong cách ẩm thực của nhiều người nước ngoài.

Theo ông Quách Hưng Tòng, hiện có hơn 800 mặt hàng đặc sản Việt Nam do Công ty Hải Minh sản xuất mang thương hiệu “Cô gái Việt Nam”, “Quê hương”… có mặt tại nhiều hệ thống siêu thị của người Việt ở Mỹ cũng như trong siêu thị Costco (một nhà phân phối của Mỹ dạng Metro ở Việt Nam).

Ngoài khách hàng là Việt kiều sống tại đây, đặc sản Việt Nam hiện là món ăn ưa thích của những người gốc châu Á khác như Trung Quốc, Campuchia, Lào… “Dù bị cạnh tranh gay gắt với sản phẩm của Thái Lan nhưng sản phẩm Việt có chất lượng và giá rẻ hơn nên rất nhiều người tiêu dùng gốc Á thích vào các siêu thị hàng Việt” – ông Tòng cho hay.

Tương tự, bà Hoàng Ny, giám đốc Trung tâm đào tạo nghệ thuật bonsai Thanh Tâm (TP.HCM), cho biết trong năm 2009 đã xuất khẩu chín container cây cảnh các loại sang các thị trường châu Á như Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, Ấn Độ… Dịp tết này, đơn vị cũng xuất khẩu được ba chuyến hàng với hàng chục ngàn cây mai tết phục vụ Việt kiều cũng như người dân tại các nước kể trên.

Gạo đặc sản, bánh tráng… cũng xuất ngoại

Theo ông Nguyễn Ngọc Nam – giám đốc Công ty Lương thực Tiền Giang, chỉ trong hai tháng cận tết công ty đã xuất gần 4.000 tấn gạo đặc sản Việt Nam thương hiệu “Chín con rồng”, “Hương Việt”, nếp bè Chợ Gạo và 200 tấn bánh tráng Thuận Bình sang nhiều nước.

Theo ông Nam, lượng hàng xuất khẩu tăng do hàng hóa thương hiệu Việt Nam đã khẳng định được chất lượng và giá cả phù hợp.

January 25, 2010

Thị trường “đồ nhỏ”, chuyện không nhỏ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:51 pm
Tags: ,

SGTT – Theo ước tính của một số nhà kinh doanh, đến đầu năm 2010, Việt Nam mới chỉ có hơn mười công ty với khoảng 40 thương hiệu chuyên sản xuất trang phục lót bán trong thị trường nội địa. Tìm doanh nghiệp đủ năng lực may gia công mặt hàng này tuy không nhiều, nhưng tìm doanh nghiệp có đủ khả năng quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng khá phức tạp và cao cấp và quan trọng hơn, đủ lực và đủ tầm để dựng một nhãn hiệu vẫn là chuyện khó với doanh nghiệp may mặc trong nước.

Nhiều thương hiệu quốc tế đã xuất hiện trên thị trường đồ lót Việt Nam. Ảnh: Lê Hồng Thái

Một nhà sản xuất hàng may mặc Việt Nam có nhà máy ở khu công nghiệp Tân Bình tiến hành khảo sát thị trường với dự kiến sẽ tung sản phẩm ra bán trong nước vào giữa năm 2010 cho biết: hàng nội chỉ chiếm chưa đến 5% doanh thu thị trường quần áo lót ở Việt Nam (ước khoảng 8.000 tỉ/năm với mức bình quân cả năm là 150.000đ/nữ và 50.000đ/nam). Các thương hiệu ngoại Triumph, Wacoal, Bon Bon, Pierre Cardin, Minoshe, Jockey, XZDY… ước tính có khoảng 3.000 điểm bán trên cả nước. Còn ở chợ chỉ toàn là hàng Trung Quốc, chợ nhỏ là loại hàng giá rẻ, chợ sang là hàng cao cấp hơn nhập từ Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc… Đồ lót nam, ở chợ có thể tìm thấy một số thương hiệu nội, một số sản phẩm không thương hiệu của cơ sở nhỏ may bán về tỉnh. Còn áo lót nữ thì gần như không có.

Bà Phạm Thị Thuý, giám đốc công ty Vương Hải Long chuyên sản xuất quần áo lót cho thị trường nội địa nói: “Mở cửa hàng riêng chi phí quá cao, nên sản phẩm công ty chủ yếu bán trong siêu thị đáp ứng cho phân khúc thị trường trung bình ở đô thị”.

Bà Thuý cho rằng hàng nội khó ra chợ vì phân khúc giá thấp không cạnh tranh được với hàng Trung Quốc quá rẻ, chỉ mười mấy đến hai chục ngàn đồng/cái. Còn phân khúc giá cao thì đã có các thương hiệu nhập ngoại. Doanh nghiệp trong nước không thể sản xuất chiếc áo lót nữ viền ren, độn mút tạo dáng để có bán giá lẻ 10.000 – 20.000 đồng. Còn làm hàng giá hơn triệu đồng thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hiệu ngoại. Chính vì vậy, những hộ gia đình sản xuất quần áo lót bỏ mối ra chợ ở khu vực Tân Bình đã lần lượt chuyển sang may hàng khác.

Khó trăm bề

Bà Nguyễn Thị Điền, chủ thương hiệu An Phước nhìn nhận: “An Phước đã có thương hiệu riêng, mà vẫn chưa mạnh dạn cho ra thương hiệu áo lót An Phước do có nhiều điều khó”.

Bà Điền phân tích, mua chiếc máy may chuyên dụng sản xuất áo lót mắc gấp ba lần máy công nghiệp may sơmi. Mở xưởng nhỏ với 100 máy may cần trên 500.000 USD sắm thiết bị. Loại sản phẩm này chỉ cần may chệch vài milimet là hỏng, đạp máy chậm, khựng từng chút là áo sẽ xấu. Phải mất ba tháng học nghề, sáu tháng may “nháp”, và sau ba năm mới có được người thợ may trên máy chuyên dụng. Tuyển người quản lý kỹ thuật lại càng khó hơn. Đó là chưa kể, Việt Nam chưa có nhà thiết kế trang phục lót chuyên nghiệp. Bên cạnh đó cần bộ phận chuyên thu mua nguyên phụ liệu riêng, vì trang phục lót đòi hỏi ren, thun, lớp độn, móc… lắt nhắt từng chút, phải đặt từ Nhật, Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc…

“Đầu tư sản xuất tốn kém như vậy, phải bán giá thoả đáng mới có lãi, nhưng trên thị trường hiện nay hàng Trung Quốc tràn ngập, mẫu mã đa dạng, màu sắc thời trang, giá lại quá rẻ, nên ra sản phẩm khó mà giành được thị phần”, bà Điền nói.

Ông Nguyễn Khoa Văn, giám đốc công ty Anh Khoa cũng cho biết: “Không thể cạnh tranh nổi với quần áo lót Trung Quốc. Loại mà họ bán 4.500đ thì Anh Khoa phải tốn 15.000đ mới làm ra được”.

Bắt đầu từ “đo ni”

Khó khăn như vậy, nên rất ít nhà sản xuất dám nhảy vào thị trường này. Từ những năm 1990, bà Lý Thị Thanh Nguyệt, (người quản lý công ty may Vĩnh Hưng chuyên xuất khẩu quần lót nam bán sang thị trường châu Âu, Mỹ, Đài Loan, Singapore…) đã quyết tâm chiếm lĩnh thị trường quần lót nam nội địa. Tìm hiểu các số đo của hàng ngàn đàn ông Việt Nam trong độ tuổi từ 17 – 70, suốt 12 năm, đến năm 2003, bà Thanh Nguyệt mới tổng kết được sự khác biệt của đàn ông Việt Nam, để thiết kế sản phẩm.

Trong khi đó, khi vào Việt Nam, các công ty nước ngoài điều tra nghiên cứu thị trường Việt Nam khá kỹ lưỡng để có thể trụ vững. Công ty Gunze khảo sát thị trường Việt Nam từ năm 1999. Sau ba năm Gunze có đủ những thông tin cần thiết về thực tế thu nhập của người dân thành thị, nhất là những người đi làm ở công ty, văn phòng; những đối tượng nào sẵn sàng mua những sản phẩm hàng hiệu đắt tiền. Gunze cũng chỉ ra được các số đo hình thể đàn ông Việt Nam để thiết lập các rập kích cỡ mới dành riêng cho thị trường.

Tương tự, sau khi ra đời vào năm 2001, thương hiệu Vera cũng tìm hiểu qua cả ngàn khách hàng nữ để rút ra kết luận: phụ nữ Việt Nam có nhiều nét khác biệt, chẳng hạn có khung xương nhỏ, vòng 1 và vòng 3 đều khiêm tốn hơn thông số quốc tế của châu Á, từ đó điều chỉnh các đường cắt cúp cho phù hợp. Dù vậy, theo bà Nguyễn Hồng Trang, giám đốc công ty Vera thì: “Việt Nam có khá nhiều công ty chuyên may gia công trang phục lót cho nước ngoài, nhưng làm hàng để bán nội địa không dễ, vì cần phải có định hướng riêng, định hình khách hàng, quan trọng nhất là xây dựng hệ thống phân phối với dịch vụ, hệ thống nhận diện…”

January 7, 2010

Xã hội hóa đường sắt: Hành khách lợi gì?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:53 am
Tags: , ,

– Cho tư nhân thuê hành trình chạy tàu; đấu thầu việc cung ứng suất ăn trên tàu; ưu tiên giờ đẹp, tuyến chạy tàu đông khách cho tư nhân ảnh hưởng gì tới quyền lợi khi đi tàu của người dân?

Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng GĐ Tổng Cty Đường sắt Việt Nam Nguyễn Hữu Bằng (ảnh) trả lời PV Tiền Phong.

Thưa ông, tư nhân đang tham gia kinh doanh những gì trong ngành đường sắt?

Hiện có khoảng 10 công ty kinh doanh vận tải khách trên các tuyến, khoảng 2-3 công ty kinh doanh vận tải hàng hóa. Có nhà đầu tư tự thuê toa xe hoặc phối hợp với Tổng Cty Đường sắt Việt Nam (ĐSVN) thuê toa xe và được giao bán vé.

Trên thực tế, xã hội hóa có những cái tư nhân làm hiệu quả hơn chúng tôi. Ví dụ chính sách bán vé của tư nhân khác hẳn. Khi không có khách, tư nhân sẵn sàng hạ giá vé rất thấp; đông khách thì họ bán vé giá cao.

Mình phải coi đó là bình thường, chứ không nên thắc mắc vì sao vé của họ đắt, vé đường sắt thấp hơn. Từ 1-7 tới đây, các Cty vận tải hàng hóa đường sắt sẽ cổ phần hóa.

Trước mắt, ĐSVN sẽ cổ phần hoá những đơn vị này theo hướng họ chỉ quản lý toa xe. Các công ty cổ phần (hoặc tư nhân) tự tổ chức kinh doanh, chỉ trả phí điều hành và phí cơ sở hạ tầng theo quy định của Nhà nước.

Hiện Cty CP Vận tải và Thương mại Đường sắt liên doanh với Cty Cổ phần Nissin Corporation (Nhật Bản) đưa 15 toa xe vào vận chuyển ô tô Bắc Nam. Tới đây, hai đơn vị này còn dự định hợp tác đóng các toa xe chuyên chở container.

Nghe nói, tới đây ngành đường sắt sẽ tổ chức đấu thầu cấp suất ăn trên tàu hỏa?

Ngày trước, suất ăn nằm trong giá vé. Sau này, chúng tôi thấy việc này không phù hợp nữa. Một điểm dễ nhận thấy là, một suất ăn như thế, người ta bán bình thường chỉ 15 nghìn đồng nhưng lại tính gần 30 nghìn đồng.

Như vậy, chúng tôi phải trả gần gấp đôi một suất ăn khi bán cho khách. Từ đó, ĐSVN mới đề nghị Bộ Tài chính cho tách suất ăn khỏi giá vé tàu.

Năm 2008, ngành đường sắt đã thử nghiệm tách suất ăn trên một số đôi tàu, năm 2009 tách toàn bộ. Tổng kết một năm không phải trả tiền cho suất ăn trong giá vé, ngành đường sắt giảm chi gần 100 tỷ đồng.

Từ năm nay, ngành đường sắt bắt đầu tổ chức đấu thầu cung cấp suất ăn trên tàu một cách rộng rãi, không phải hỗ trợ nữa mà ngược lại các doanh nghiệp trúng thầu phải nộp lại tiền cho ĐSVN.

Hiện có một số đơn vị đề nghị nộp cho ĐSVN mỗi toa xe chạy một chuyến Hà Nội-TPHCM là 3 triệu đồng, một đơn vị khác lại đề nghị trả hơn 1 triệu đồng, nên tới đây sẽ tổ chức đầu thầu rộng rãi. Chắc chắn lúc đó, việc phục vụ ăn uống trên tàu sẽ tốt hơn.

Những đối tượng nào sẽ được tham gia đấu thầu, thưa ông?

Các đơn vị tham gia đấu thầu suất ăn chỉ cần có giấy phép kinh doanh ăn uống, còn các hoạt động trên tàu sẽ được ngành đường sắt giúp đỡ, tổ chức đào tạo. Giá cả do đơn vị cung ứng và hành khách thỏa thuận. Tất nhiên, tổng công ty cũng khống chế một mức giá nào đó nhưng sẽ có một mức cao hẳn lên để đáp ứng nhu cầu của khách.

Sắp tới đây, những dịch vụ không liên quan tới vận tải thì được tách ra và cổ phần hóa. Một khi đã cổ phần hóa, hoạt động của doanh nghiệp sẽ linh động hơn trong việc cung ứng sản phẩm tới khách hàng. Trường hợp tàu gặp mưa bão, dù tư nhân cung ứng suất ăn thì ngành đường sắt cũng bao cấp miễn phí cho hành khách.

Bán hết chỗ đẹp, tuyến đông khách cho tư nhân, khi đó những dịp đông khách (ngày lễ, tết), nhà tàu bắt chẹt hành khách, đẩy giá vé cao thì sao?

Về nguyên tắc, xã hội hóa có cái lợi thì cũng có cái hại. Mình cũng đã trình cho Nhà nước và đã được chấp thuận giá vé ngồi cứng do nhà nước quản lý, do đó không ai có thể tăng tuỳ tiện được. Còn giá vé các loại khác có tiện nghi và chất lượng cao hơn thì Nhà nước không quản và khách hàng tự quyết định

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.