Ktetaichinh’s Blog

March 13, 2010

2009 Country Reports on Human Rights Practices

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:03 am
Tags: , , ,

http://www.state.gov/g/drl/rls/hrrpt/2009/eap/136015.htm

Advertisements

March 26, 2009

Vùng đặc quyền kinh tế hay đặc quyền quân sự? 032909

Filed under: chính sách,chính trị — ktetaichinh @ 3:04 pm
Tags: , ,

(TuanVietNam) – Sự kiện Mỹ – Trung đụng độ trên biển không đơn giản chỉ là chuyện nắn gân giữa hai cường quốc mà còn là do sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về quy chế vùng đặc quyền kinh tế giữa một bên là Mỹ – một cường quốc đã thống lĩnh đại dương từ lâu, và bên kia là Trung Quốc – một cường quốc đang bắt đầu thách thức sự thống lĩnh đó.

Bài cùng chủ đề:
Đụng độ Mỹ – Trung và lựa chọn ứng xử cho ASEAN
Ba góc nhìn về xung đột Mỹ – Trung
Đụng độ Mỹ – Trung và ý nghĩa với tranh chấp biển ĐNA

Ngày 08/03/2009, cách đảo Hải Nam 75 hải lý về phía Nam, 5 tàu Trung Quốc bao vây một tàu do thám không vũ trang của hải quân Mỹ, tiến tới cách tàu này 8 mét, cản đường tàu này và tìm cách phá hoại những thiết bị thuỷ âm mà tàu này đang kéo trên biển.

Cường quốc đang lên Trung Quốc bắt đầu “thách thức” vị trí thống lĩnh của Mỹ ở ngoài khơi.

Vùng biển nơi sự kiện xảy ra nằm ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý từ đảo Hải Nam của Trung Quốc, ngoài vùng 12 hải lý từ đất liền Việt Nam và từ các đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đang chiếm đóng. Tọa độ chính xác chưa được công bố nhưng theo Trung Quốc thì vùng này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Sau đó, Mỹ cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật biển quốc tế. Trung Quốc cáo buộc ngược lại là Mỹ vi phạm luật quốc tế và luật Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Sự kiện này không đơn giản chỉ là chuyện nắn gân giữa hai cường quốc mà còn là do sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về quy chế vùng đặc quyền kinh tế giữa một bên là Mỹ – một cường quốc đã thống lĩnh đại dương từ lâu, và bên kia là Trung Quốc – một cường quốc đang bắt đầu thách thức sự thống lĩnh đó.
1 Vùng đặc quyền kinh tế theo UNCLOS

Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), trên nguyên tắc nước ven biển có quyền có 5 vùng biển sau: Nội thủy; Lãnh hải; Vùng tiếp giáp lãnh hải; Vùng đặc quyền kinh tế; và Thềm lục địa.

Xét về tính chất pháp lý, 5 vùng biển mà nước ven biển có quyền đòi hỏi theo UNCLOS có thể được chia thành 2 nhóm khác nhau:

Các vùng biển thuộc chủ quyền của nước ven biển, bao gồm:

– Nội thủy: vùng biển nằm phía bên trong đường cơ sở.

– Lãnh hải: vùng biển rộng 12 hải lý phía ngoài đường cơ sở.

Các vùng biển này có quy chế pháp lý như lãnh thổ trên đất liền, tức quốc gia ven biển có quyền thực thi chủ quyền của mình tại vùng biển này như đối với lãnh thổ đất liền. Tuy nhiên, có một điều khác với lãnh thổ trên bộ, tàu thuyền hay máy bay nước ngoài được quyền đi qua vô hại trong lãnh hải.

Các vùng biển mà nước ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán, bao gồm:

– Vùng tiếp giáp lãnh hải: vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền lãnh hải và rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở.

– Vùng đặc quyền kinh tế: vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền với lãnh hải, rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

– Thềm lục địa: bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển phía bên ngoài của lãnh hải trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

Tại các vùng biển này, quốc gia ven biển được thực hiện một số quyền mang tính chất chủ quyền và chỉ có quyền tài phán trong một số lĩnh vực nhất định.

Riêng đối với vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có những quyền chủ quyền về việc khảo sát, khai thác, bảo tồn, quản lý và nghiên cứu các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như có những quyền chủ quyền về những hoạt động khác vì mục đích kinh tế. Ngoài ra, trong vùng biển này, quốc gia ven biển cũng có quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước và các quyền khác do Công ước này quy định.

Xét về mặt lịch sử, tập quán và luật pháp quốc tế trước khi UNCLOS ra đời không có quy chế về vùng đặc quyền kinh tế. Vùng biển này là sáng kiến của UNCLOS và đặt vùng này nằm giữa vùng lãnh hải và biển cả. Nó nhằm mục đích cho quốc gia ven biển được hưởng những quyền lợi về kinh tế trên những khu vực ngoài 12 hải lý mà không cần phải mở rộng chiều rộng của lãnh hải; đồng thời vẫn đảm bảo những quyền lợi phi kinh tế của những quốc gia khác ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý của quốc gia ven biển.

Quy chế lãnh hải

Thật vậy, từ thế kỷ 18, nước Anh và một số nước trên thế giới bắt đầu công nhận một vùng lãnh hải rộng khoảng 3 hải lý thuộc chủ quyền nước ven biển, và công nhận là không nước nào có chủ quyền đối với vùng biển, gọi là biển cả, bên ngoài vùng lãnh hải này. Từ thế kỷ 19 cho tới giữa thế kỷ 20, khái niệm “lãnh hải – biển cả” này trở thành tập quán ngoại giao, ban đầu là cho các nước Âu Mỹ và sau đó là cho cộng đồng quốc tế.

Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng Tiếp giáp[1] (Công ước 1958) nới chiều rộng của lãnh hải ra thành 12 hải lý. Trong lãnh hải, nước ven biển có chủ quyền, nhưng các nước khác có quyền đi qua vô hại[2].

Theo Công ước 1958, việc bảo đảm nền hoà bình, trật tự và an ninh của nước ven biển là những mục đích của quy chế lãnh hải 12 hải lý.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) kế thừa tinh thần trên của Công ước 1958. Điều 19 của UNCLOS quy định cụ thể về “phương hại tới hoà bình” như sau[3]:

2. Việc đi qua của một tàu thuyền nước ngoài bị coi như phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như ở trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong bất kỳ hoạt động nào sau đây:

a) Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chính quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc;

b) Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;

c) Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

d) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;

f) Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

g) Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;

h) Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;

i) Đánh bắt hải sản;

j) Nghiên cứu hay đo đạc;

k) Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;

l) Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua.

Quy chế biển cả

Ngược lại, khác với trong vùng lãnh hải, tinh thần đối với của biển cả là các nước trên thế giới có tự do hàng hải, hàng không và tự do sử dụng biển cả.

Tuy có quy định rằng biển cả là để cho các mục đích hoà bình và quy định rằng các nước phải tuân thủ luật quốc tế và Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, UNCLOS không cấm đo đạc hay những hoạt động quân sự như từ Điểm b đến Điểm f, Khoản 2 Điều 19 UNCLOS như đã cấm trong vùng lãnh hải. Như vậy, tinh thần tự do hoạt động quân sự trên biển cả có từ lâu đời và được UNCLOS bảo lưu.

Quy chế vùng đặc quyền kinh tế

Trong bài viết về lịch sử của quy chế vùng đặc quyền kinh tế, S.N. Nandan, Đại diện Đặc biệt của Tổng Thư ký về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc cho là mục đích của sự ra đời của quy chế vùng đặc quyền kinh tế trong UNCLOS là cho phép các nước ven biển bảo đảm quyền lợi kinh tế của mình mà không cần phải nới quy chế của lãnh hải rộng ra 200 hải lý[4].

Trong khi tinh thần của lãnh hải là bảo đảm nền hoà bình, trật tự và an ninh của nước ven biển thì tinh thần của vùng đặc quyền kinh tế là bảo đảm quyền lợi kinh tế của nước ven biển. Ngoài việc bảo đảm quyền lợi kinh tế và những quyền tài phán hạn chế, tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế gần giống tinh thần của quy chế biển cả.

Thật vậy, trong khi Điều 19 của UNCLOS cấm đo đạc và hoạt động quân sự, bao gồm thu thập thông tin tình báo trong lãnh hải, không có một điều cấm tương tự trong biển cả hay vùng đặc quyền kinh tế.

Điều 58 của UNCLOS nói rằng trong vùng đặc quyền kinh tế các nước có tự do hàng hải, hàng không được quy định tại điều 87 dành cho biển cả.

UNCLOS có quy định rằng các hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế phải hoà bình và quy định rằng các nước phải tuân thủ luật quốc tế và Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, nhưng điều này không khác với biển cả.

Như vậy, đối với tự do hàng hải, hàng không và đối với hoạt động quân sự, tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế gần với tinh thần của quy chế biển cả, và rất khác với tinh thần của quy chế lãnh hải.

Trên thực tế, phần lớn các nước trên thế giới công nhận là quyền hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế giống như trong biển cả, ngoại trừ hoạt động quân sự không được gây thiệt hại cho kinh tế của nước ven biển và không gây thiệt hại đáng kể cho tài nguyên[5]. Trên thế giới chỉ có vài nước, bao gồm Bangladesh, Brazil, Cape Verde, Malaysia, Pakistan, và Uruguay, tuyên bố là các nước khác phải xin phép trước khi thi hành hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển[6].
2 Hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế

Xét về khía cạnh pháp lý, câu hỏi là những hành động do thám và khảo sát thủy văn quân sự của Mỹ trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc có vi phạm UNCLOS hay không?

Dựa trên những lý do sau, có thể cho là những hành động đó không vi phạm UNCLOS:

– Tinh thần của quy chế vùng đặc quyền kinh tế như đã nêu trên.

– Điều 19 của UNCLOS cấm đo đạc và thu thập tình báo trong lãnh hải nhưng không tồn tại điều tương đương cấm những việc này trong vùng đặc quyền kinh tế hay biển cả.

– Điều 58 của UNCLOS nói rằng trong vùng đặc quyền kinh tế các nước có những tự do hàng hải, hàng không của điều 87 trong quy chế biển cả.

– Những quy định của UNCLOS về sử dụng biển một cách hoà bình trong vùng đặc quyền kinh tế không khác với trong biển cả.

– Tập quán quốc tế là công nhận quyền đo đạc, do thám và hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế.

Ngược lại, Trung Quốc cho là những hành động đó vi phạm UNCLOS vì những lý do sau.

Trung Quốc cho rằng khảo sát thuỷ văn, đo đạc hay do thám là những hành động để “sửa soạn chiến trường”, vì vậy là một sự đe doạ cho Trung Quốc, và vì vậy vi phạm luật quốc tế, cụ thể là Điều 2, đoạn 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc[7]. Trong quan điểm này, Trung Quốc dùng từ “đe doạ” với nghĩa một nguy hiểm tiềm tàng, khác với ý nghĩa của thuật ngữ “đe dọa dùng vũ lực” trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc có nghĩa như doạ nạt, cảnh cáo và với ý là có thể hành động tức thời. Vì vậy lập luận này của Trung Quốc là không đúng.

Trung Quốc cũng cho rằng những hành động đó xâm phạm an ninh của Trung Quốc, vì vậy không “tính đến các quyền và các nghĩa vụ của nước ven biển” như điều 58 của UNCLOS đòi hỏi[8]. Tuy nhiên, quy định của UNCLOS về an ninh trong vùng đặc quyền kinh tế không khác với trong biển cả. Ngoài việc không cản trở các hoạt động kinh tế và không gây thiệt hại đáng kể cho tài nguyên, không có quan niệm chung thế nào là “tính đến các quyền và các nghĩa vụ của nước ven biển” trong vùng đặc quyền kinh tế[9]. Vì vậy quan điểm này của Trung Quốc không phải là quan điểm cụ thể tồn tại trong UNCLOS.

Lý do thứ ba của Trung Quốc là đo đạc, khảo sát thuỷ văn và do thám là nghiên cứu khoa học biển cho nên UNCLOS đòi hỏi là phải xin phép Trung Quốc, và những hành động đó không phải là những hành động hoà bình cho nên UNCLOS không đòi hỏi là Trung Quốc phải cho phép. Ngược lại, Mỹ cho là những hành động đó không phải là nghiên cứu khoa học biển mà là đo đạc và những hoạt động quân sự mà UNCLOS không cấm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển.
3 Biến vùng đặc quyền kinh tế thành vùng đặc quyền quân sự

Ngày nay, nỗ lực lớn nhất để thay đổi tập quán quốc tế về vùng đặc quyền kinh tế là từ Trung Quốc.

Năm 2002, Trung Quốc ban hành một đạo luật dựa trên luật 1998 của nước này về vùng đặc quyền kinh tế, cấm các nước khác khảo sát, đo đạc trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Mục đích của Trung Quốc là biến vùng đặc quyền kinh tế của nước này thành vùng đặc quyền quân sự. Trong tình hình hải quân Trung Quốc chưa mạnh bằng hải quân Mỹ nhưng mạnh hơn hải quân của các nước Á Đông, có thể ngoại trừ hải quân Nhật, vùng đặc quyền quân sự đó sẽ thuận tiện cho chiến lược biển của Trung Quốc nói chung và chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông nói riêng.

Có vẻ như là Trung Quốc muốn sử dụng những quy định trong UNCLOS về tài nguyên và kinh tế cho mục đích ngăn cấm những hoạt động đi lại, do thám có tính quân sự của các nước khác trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

Khác với Trung Quốc, nhu cầu của Mỹ từ xưa tới nay luôn luôn là tự do hàng hải trên biển. Một trong những nhiệm vụ của hải quân Mỹ là bảo đảm tự do hàng hải cho Mỹ, cho đồng minh của Mỹ và cho những hoạt động kinh tế quan trọng với Mỹ một cách trực tiếp hay gián tiếp. Mặt kia của vấn đề, tự do hàng hải là điều cần thiết cho hoạt động của hải quân Mỹ. Vì vậy, Mỹ luôn luôn chống những chính sách của những nước khác có khả năng làm giảm tự do hàng hải.
4 Lựa chọn cho Việt Nam về hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế

Câu hỏi cho Việt Nam là nên ủng hộ tập quán quốc tế là các nước trên thế giới có quyền hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển, hay ủng hộ quan điểm của Trung Quốc và một số ít các nước khác?

Hiện nay dù Việt Nam có quyền thì cũng không có nhiều khả năng hay nhu cầu để hoạt động quân sự bên trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác, nhất là bên ngoài Biển Đông.

Ngược lại, nhiều nước trên thế giới có khả năng hoạt động quân sự bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Thoạt nhìn thì có vẻ như là quan điểm như của Trung Quốc sẽ cản trở những nước này hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và như vậy tốt cho quyền lợi của Việt Nam.

Tuy nhiên, trên thực tế thì không hẳn như vậy vì những lý do sau.

Thứ nhất, giả sử Việt Nam có ủng hộ quan điểm không cho các nước khác quyền hoạt động quân sự, khảo sát, đo đạc, do thám trong vùng đặc quyền kinh tế của mình đi nữa thì trên thực tế điều đó cũng không đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam. Lý do là ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc sẽ không công nhận vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà sẽ cho rằng phần lớn vùng biển đó là của Trung Quốc, và Trung Quốc vẫn sẽ có hoạt động quân sự trong phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Như vậy, ủng hộ quan điểm của Trung Quốc sẽ không có nhiều ích lợi cho Việt Nam mà có ích cho Trung Quốc nhiều hơn. Giả sử Trung Quốc công nhận vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam thì Việt Nam còn có thể ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về quy chế vùng đặc quyền kinh tế.

Thứ nhì, nếu Trung Quốc thành công trong việc biến vùng đặc quyền kinh tế của họ thành vùng đặc quyền quân sự của họ thì điều đó sẽ tăng khả năng cho việc họ đòi hỏi là vùng biển bên trong ranh giới lưỡi bò cũng là vùng đặc quyền quân sự của họ, và tăng khả năng họ thành công trong đòi hỏi đó.

Thứ ba, không có nước nào bên ngoài Biển Đông (mà chỉ có những nước bao quanh Biển Đông) đe doạ trực tiếp và hiện hữu cho sự vẹn toàn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam. Ngay cả những nước Đông Nam Á trong tranh chấp Biển Đông cũng không có yêu sách trong vùng đặc quyền kinh tế tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam. Vì vậy, nếu những nước này có hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế này mà không gây thiệt hại cho kinh tế và tài nguyên, như UNCLOS đòi hỏi, thì điều đó không là thiệt hại cho Việt Nam.

Vì những lý do trên, Việt Nam tuyệt đối không nên ủng hộ quan điểm của Trung Quốc mà nên ủng hộ việc duy trì tập quán quốc tế. Tuy nhiên, với thực trạng quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam cần phải ủng hộ việc duy trì tập quán quốc tế một cách khéo léo để tăng tối đa lợi ích cho mình và giảm tối thiểu những hệ quả có hại cho mình.
5 Lựa chọn cho Việt Nam về phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của mình

Dù nước ven biển không có độc quyền quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế, vùng này vẫn hết sức quan trọng.

Thế nhưng Việt Nam chưa bao giờ công bố bản đồ hay phạm vi cụ thể nào cho vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trên nguyên tắc, đó là một điều bất lợi cơ bản cho việc bảo vệ quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trên thực tế, với thực trạng Trung Quốc có chủ trương và hành động cụ thể để chiếm 75- 80% diện tích trên Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sự chưa công bố này lại càng gây bất lợi nghiêm trọng hơn.

Vì các đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang trong tình trạng tranh chấp, vì hiệu lực để tính vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này chưa được xác định và chưa được các nước trong khu vực công nhận, vì vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sẽ nằm chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế từ lãnh thổ không bị tranh chấp của các nước khác, Việt Nam có thể tuyên bố là sẽ công bố phạm vi vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo này sau. Như vậy sẽ phù hợp với tinh thần của Tuyên bố 2002 của ASEAN và Trung Quốc về quy tắc ứng xử về Biển Đông.

Nhưng Việt Nam cần phải yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế từ lãnh thổ không bị tranh chấp của mình càng sớm càng tốt. Trong việc này, Việt Nam phải lựa chọn giữa 2 phương cách.

Phương cách thứ nhất là yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở 1982 của Việt Nam.

Tuy nhiên, đường cơ sở 1982 của Việt Nam không phù hợp với UNCLOS ở một số điều quan trọng và nằm xa bờ một cách đáng kể so với một đường cơ sở phù hợp với UNCLOS. Trong vòng 2 năm từ khi Việt Nam công bố đường sơ sở 1982, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Thái Lan phản đối đường sơ sở này[10].

Một số khuyết điểm của đường cơ sở 1982 của Việt Nam tương đương với một số khuyết điểm của dự luật HB 3216 của Philippines về đường cơ sở của nước này[11]. Philippines đã bác bỏ dự luật này.

Khả năng là một vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở 1982 sẽ không được nhiều nước chấp nhận, thậm chí có thể sẽ bị nhiều nước phản đối.

Nếu yêu sách của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế không được nhiều nước chấp nhận, hay bị nhiều nước phản đối, thì yêu sách đó khó có thể đóng góp cho việc bảo vệ quyền chủ quyền của nước ta.

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1: Đường cơ sở 1982 của Việt Nam.
(Click vào bản đồ để xem hình lớn hơn)

Phương cách thứ nhì là yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế tính bằng khoảng cách 200 hải lý từ những đường ad hoc (những đường biên trong sự việc này) phù hợp với các quy định của UNCLOS về đường cơ sở. Các đường ad hoc (đường biên trong sự việc) này có thể là ngấn thuỷ triều thấp của đất liền, của các đảo ven bờ, và của các đảo trong các nhóm Côn Đảo, Phú Quý, đơn giản hoá một cách phù hợp với quy chế đường cơ sở thẳng bình thường của UNCLOS[12]. Phương cách này cho phép Việt Nam yêu sách phạm vi cụ thể cho vùng đặc quyền kinh tế ngay cả khi đường cơ sở 1982 chưa được chỉnh sửa, vì phạm vi đó sẽ không cách đường cơ sở 1982 hơn 200 hải lý.

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: Vùng đặc quyền kinh tế của các vùng lãnh thổ không bị tranh chấp, tính từ ngấn thủy triều thấp. Ranh giới lưỡi bò xân phạm phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia.

Vùng đặc quyền kinh tế tính bằng phương cách này sẽ phù hợp với UNCLOS, sẽ không gây ra hay chỉ gây ra ít tranh chấp với các nước ASEAN do chồng lấn, và, quan trọng nhất, sẽ công bằng.

Như vậy, phạm vi vùng đặc quyền kinh tế đó sẽ được nhiều nước công nhận và sẽ góp phần quan trọng cho việc bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp và công bằng của nước ta. Cụ thể là Việt Nam sẽ có một ranh giới công bằng, hợp pháp và được nhiều nước chấp nhận cho vùng đặc quyền kinh tế của mình để góp phần đối trọng với những yêu sách không thể chấp nhận được của Trung Quốc dựa trên ranh giới lưỡi bò – một ranh giới mập mờ, không công bằng, không phù hợp với luật pháp và không thể chấp nhận được.

Các tác giả xin cảm ơn Hoàng Việt về một số góp ý

* Dương Danh Huy, Lê Minh Phiếu, Phạm Thu Xuân (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
[1] Xem đường link

[2] Công ước về lãnh hải 1958, Điều 14

[3] UNCLOS, Điều 21. Để đọc toàn văn Công ước, này, vui lòng click tại đây http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6032/index.aspx

[4] The Exclusive Economic Zone: A historical perspective, S.N. Nandan, Under Secretary-General, Special Representative of the Secretary-General for the Law of the Sea, FAO Corporate Document Repository, http://www.fao.org/docrep/s5280T/s5280t0p.htm

[5] Military and intelligence gathering activities in the EEZ: definition of key terms, Moritaka Hayashi, School of Law, Waseda University, Japan, 2004, http://www.southchinasea.org/docs/ScienceDirect%20-%20Marine%20Policy%20%20Military%20and%20intelligence%20gat.htm

[6] Military and intelligence gathering activities in the EEZ

[7] Military and intelligence gathering activities in the EEZ

[8] Military and intelligence gathering activities in the EEZ

[9] Military and intelligence gathering activities in the EEZ

[10] Straight baselines of Vietnam, Johan Henrik Nossum, Dissertations & Theses Nọ 12/2000, Department of Public and International Law, University of Oslo, 2000

[11] http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//6082/index.aspx

[12] UNCLOS, Điều 7

March 25, 2009

Đảng CSVN và Các Nhà Dân Chủ – Ai Thích Đô-la Hơn? 12/2008

Filed under: chính trị — ktetaichinh @ 11:54 pm
Tags: ,

Hoàng Thị Vân
Trong một bài viết đăng trên báo Vietnamnet, một trong những cơ quan ngôn luận của nhà nước CSVN, ngày 6 tháng 12, có đoạn:
“Trong các ngày 28/7, 16/8, 7/9, trên địa bàn HN, Hải Phòng, Hải Dương đã xảy ra 3 vụ treo khẩu hiệu, rải truyền đơn có nội dung hết sức phản động, vu cáo Ðảng và nhà nước ta. Bằng biện pháp nghiệp vụ và tố giác của quần chúng nhân dân, Cơ quan an ninh đã phát hiện, bắt giữ đối tượng cầm đầu, chủ mưu và trực tiếp tham gia các vụ treo khẩu hiệu, rải truyền đơn gồm: Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Tính (ở Hải Phòng); Nguyễn Văn Túc (ở Thái Bình); Nguyễn Kim Nhàn, Ngô Quỳnh (Bắc Giang); Vũ Hùng (Hà Nội).”
Ðó là những lời mào đầu của bài viết trên báo Vietnamnet. Vẫn những luận điệu vu khống và bôi nhọ cũ rích, đối với những anh chị em dân chủ vừa bị bắt trong đợt đàn áp vào trung tuần tháng 9 vừa qua ở Hà Nội và Hải Phòng. Bài báo cho rằng, những nhà dân chủ đã treo biểu ngữ, rải truyền đơn chống đảng và nhà nước chỉ vì tiền, và vì sự chỉ đạo của những cá nhân và đoàn thể ở hải ngoại, như đảng Việt tân, đảng Dân chủ Nhân dân v.v… Ðồng thời bài báo cũng không quên vu cáo và mạ lị luôn cả ông Nguyễn Thanh Giang.
Bên cạnh đó, báo Công An CSVN cũng tung bài tương tự, tiếp sức Vietnamnet, đánh phá ông Nguyễn Thanh Giang và các nhà dân chủ, vu cáo và kết tội họ như đã từng vu cáo và kết tội những anh chị em dân chủ đang bị lãnh án, nhằm chuẩn bị cho phiên-tòa-đạo-diễn có thể sắp xảy ra. Ðây là đòn hèn của đảng, chỉ đạo báo chí tung tin thất thiệt, tạo dựng nên những hình ảnh xấu nhất, tồi tệ nhất để bôi bẩn những hoạt động rất can đảm của những anh chị em dân chủ, khi đã dám bày tỏ quan điểm của mình bằng cách treo biểu ngữ, rải truyền đơn kêu gọi đảng CSVN chấp nhận đa đảng, phản đối Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, chống tệ nạn tham nhũng của đảng CSVN, v.v…
Những nội dung của truyền đơn và biểu ngữ như thế không thể cáo buộc là “chống đảng và nhà nước”. Người dân lên tiếng về những vấn nạn của đất nước là vì muốn đóng góp với nhà nước những ưu tư của dân, muốn nhà nước hiểu được ý dân để hòng sửa đổi chính sách, hoặc rà soát lại cơ cấu chính quyền đang có vấn đề. Thế là để làm tốt cho Ðảng, cho nhà nước. Thế là để lo toan cho tương lai của dân tộc. Nhất định không thể nào buộc tội họ chống phá nhà nước. Chỉ qua vì đảng bị chạm nọc, bị chạm tới cái ung nhọt “tham nhũng”, bị tố giác nhu nhược với kẻ xâm lược Trung cộng, cho nên đảng giận, “giận quá mất khôn”, bèn bắt nhốt, triệt hết những tiếng nói trung thực của nhân dân.
Vì dám đứng lên đối diện với đảng, góp ý thẳng với đảng, các nhà dân chủ bị bức hại, bị đánh đập, bị cô lập kinh tế, bị đuổi việc, dẫn tới việc cả gia đình cũng bị liên can, bị trù dập. Vì thế, góp sức, yểm trợ với họ không chỉ là nhiệm vụ của những “thế lực phản động bên ngoài”, mà còn phải là trách nhiệm của nhân dân trong nước vì tương lai đất nước, vì tiền đồ của dân tộc. Chỉ được hỗ trợ những số tiền rất ít oi, vài trăm đô-la để thầy giáo Vũ Hùng có phương tiện sống vì bị đuổi việc, mà đảng đã chụp cho cái mũ là những “nhà dân chủ thích đô-la”. Ðồng bào hải ngoại thương mến nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng xa xôi, muốn gửi tiền để anh có phương tiện đi lại, nhưng anh không nhận. Vậy mà báo chí dám “ngậm máu phun người”, viết láo nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa nhận 1000 đô-la theo thông tin mớm của công an.
Ngày xưa ông Hồ Chí Minh đi xin Cộng Sản Quốc tế tiền để cho cán bộ, đảng viên Cộng Sản Việt Nam và ông Hồ hoạt động thì Ðảng CSVN gọi là gì? Tài liệu ở văn khố Nga hiện còn lưu trữ, xác nhận: Những biên bản của buổi họp về “Vấn đề Ðông Dương” tại Quảng Ðông trình bày một ngân sách ký tên “Lee (Nguyễn Ái Kvak)”: “ông Hồ đòi hỏi một số tiền 20,000 Hoa tệ để huấn luyện 100 cán bộ tuyên truyền và tổ chức, và 20,000 Mỹ kim nữa để yểm trợ cho 10 cán bộ toàn thời hoạt động một năm trong nước. Ông Doriot và một người tên “Voline” cũng chứng ký trên những biên bản nầy” (1) Có phải ông HCM cũng hoạt động vì thích đô-la không?
Ðem chủ nghĩa ngoại lai vào đất nước, khiến nhân dân miền Bắc phải bị thua thiệt, nghèo đói 30 năm so với miền Nam. Sau 1975, cả nước Việt Nam bị tụt hậu, thua xa cả các nước láng giềng. Ngày nay, 33 năm sau chiến tranh, Ðảng CSVN vẫn tiếp tục đi xin viện trợ, ngửa tay vay mượn. Bạc tỉ đô-la đầu tư và viện trợ hàng năm vào đất nước thì nhân dân được thừa hưởng bao nhiêu? Thống kê của UNICEF cho biết Việt Nam hiện có 7 triệu trẻ em nghèo. Báo cáo của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), bình quân lợi tức mỗi đầu người Việt Nam là 715USD. Hãy nhìn qua Ðại Hàn, sau khi thoát ra khỏi chế độ độc tài của Phác Chính Hy, Ðại Hàn đã trở thành một đất nước dân chủ, nhân dân Ðại Hàn đã ngửng mặt trên trường kinh tế thế giới, với lợi tức trung bình 23.000 USD, hơn Việt Nam gấp 30%.
Ðảng bảo các nhà dân chủ thích đô-la là đảng tự phỉ nhổ lấy đảng. Ðảng ăn hối lộ, ăn cắp, bòn rút công quỹ quốc gia hàng triệu triệu đô-la. Bùi Tiến Dũng xây nhà hàng trăm nghìn, đánh bạc hàng triệu đô-la. Huỳnh Ngọc Sỹ nhận hơn tám trăm ngàn USD từ nhà đầu tư Nhật, trong tổng số 2.6 triệu USD tiền lại quE1, tức “hối lộ” (đây chỉ là con số trên báo chí Nhật, ta biết rằng đảng không bao giờ dám công bố tư liệu thật). Vậy thì số tiền tham nhũng còn lại nằm trong tay ai? Những kẻ đó chắc chắn phải là lãnh đạo của HNS, chức năng lớn hơn HNS.
Nếu có nhận vài trăm đô của nhân dân để vận động cho dân chủ, cho nhân quyền thì quả thực các nhà dân chủ Việt Nam thật là nghèo mà đa đoan quá! Làm đảng viên đảng CSVN giàu hơn, an toàn hơn, vì có gì thì đảng bao che. Bỏ túi vài trăm nghìn đô là chuyện nhỏ, lương nhà nước không đủ để sống vương giả thì đảng có cách khác giải quyết: tạo cơ hội cho tham nhũng, bòn rút tiền nhân dân, dễ ợt! Ði du lịch quốc tế với nhãn hiệu “đi tham quan, trao đổi đối tác…” tiền đảng cho, ráng sử dụng, tiêu xài cho hết ngân khoản. Cứ ra tay đàn áp các nhà dân chủ, viết bài theo chỉ thị bôi đen dân chủ, tất cả đều có đảng chi tiền.
Nhân dân lên tiếng thì đảng cáo buộc phản động, bỏ tù không cần chứng cớ. Quốc tế lên tiếng thì đảng bựa, đòi hỏi đưa bằng chứng. Phó chủ tịch thường trực Sài Gòn Nguyễn Thành Tài lên tiếng về vụ PCI rằng: “Tôi đã trình bày quan điểm của lãnh đạo thành phố và đã được thủ tướng chấp nhận về cách giải quyết. Chỉ cần khi nào phía bạn đưa ra chứng cứ thì sẽ cho tiến hành xử lý…” Trong khi các bị cáo bên phía Nhật Bản ra tòa khai báo và xác nhận đã đưa tiền lại quả (hối lộ) nhiều lần cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ, tổng số tiền hứa hối lộ lên đến 2.6 triệu Mỹ kim. Tại sao chưa thấy nhà nước có hành động nào đối với ông HNS và đồng bọn?
Cho đến lúc nhân dân Nhật thẳng thừng công bố trên diễn đàn hội nghị tại trung tâm của đảng rằng: “Chúng tôi không đủ khả năng hứa hẹn những món nợ mới cho đến khi nào hai nước hợp tác nhau chặt chẽ và hiệu quả trong việc ch ống tham nhũng” và: “Rất khó để gầy dựng lại sự hỗ trợ từ nhân dân Nhật để giúp đỡ Việt Nam, chúng tôi khó hứa hẹn những món nợ mới”.( 2) Thì các nhà lãnh đạo mới bật ngửa, còn nhân dân thì mắc cỡ, nhục nhã vì đảng tham nhũng có tiếng trên trường quốc tế rồi.
Ðảng tha hồ ngụy tạo tin tức vì đảng độc quyền thông tin, hơn 600 cơ quan truyền thông báo chí, chỉ làm nhiệm vụ “cái loa” cho đảng, múa gậy vườn hoang. Có ai dám xé rào như kiểu ký giả Nguyễn Việt Chiến thì vào tù ngay. Bị Nhật ngưng giúp đỡ vì tham nhũng bạc triệu tiền viện trợ ODA, không thấy báo chí trong nước dám phê bình, điều tra rốt ráo, truy tìm thực hư cho nhân dân biết. Trong khi đó, các nhà dân chủ nhận yểm trợ vài trăm bạc vì bị đảng CSVN bao vây kinh tế, bị đuổi việc, đảng chỉ thị tay sai, an ninh “ký giả” viết báo bôi nhọ “đấu tranh cho dân chủ vì tiền”. Dám đứng ra giúp nhận tiền để trao lại cho vợ con, anh chị em dân chủ đang bị tù tội và đàn áp như ông Nguyễn Thanh Giang thì bị vu cáo, chụp mũ “ăn chận đô-la”. Các nhà dân chủ treo biểu ngữ đòi toàn vẹn lãnh thổ, rải truyền đơn chống tham nhũng, kêu gọi nhân quyền cho nhân dân mà lại bị bôi nhọ là “các nhà dân chủ thích đô-la” thì thật là lý luận ngu ngơ, trẻ con quá. Vận động dân chủ, rải truyền đơn, treo biểu ngữ, đấu tranh cho nhân quyền, đòi chủ quyền đất nước để nhận vài trăm đô-la, rồi bị đảng CSVN trấn áp, bị vào tù, cả gia đình bị hệ lụy, có ai dám làm vì đô-la không?!
Vậy thử hỏi, các nhà dân chủ và đảng CSVN ai thích đô-la hơn?
Chớm Ðông, 2008
Hoàng Thị Vân
Womenforhumarights@yahoo.com
http://www.whrvn.org
Chú thích:
(1) Ho Chi Minh – A Life, William J. Duiker
-Trong lá thư đề ngày 19 tháng 2 ông (Hồ Chí Minh) ước lượng những công việc cần hoàn tất trong 1925 sẽ tốn khoảng 5.000 đô-la. Ông cần tiền để thiết lập cơ sở tại Quảng Châu cũng như những cơ sở thông tin tại Quảng Tây; tại vùng cực nam của Quảng Ðông; tại Bangkok (Ho Chi Minh – The Missing Years – Sophie Quinn-Judge, Dịch giả=2 0Diên Vỹ- Hoài An, x-cafevn.org)
– Vào tháng 8 năm 1925 Nông Dân Quốc Tế gửi Hồ năm nghìn rúp (rubles – khoảng 2.500 Ðôlla lúc ấy qua tài khoản của Borodin tại Ngân Hàng Viễn Ðông. Họ chỉ thị Hồ dùng số tiền này để (1) in bích chương cách mạng và tài liệu về những vấn đề nông dân; (2) gửi đại diện đến các tỉnh khác để thành lập các hội liên hiệp nông dân; (3) gửi một đồng chí đáng tin cậy người Trung Quốc đến Moscow để làm việc trong Nông Dân Quốc Tế; và (4) cung cấp đều đặn tin tức và tài liệu về phong trào nông dân Trung Quốc đến Moscow. (Ho Chi Minh – The Missing Years – Sophie Quinn-Judge, Dịch giả Diên Vỹ-Hoài An, x-cafevn.org)
– Hồ đệ trình ngân sách của năm cho QTCS với tổng số là 40.000 đồng tiền Trung Quốc. Một nửa số tiền này sẽ dùng để trang trải chi phí đi lại và đào tạo tại Quảng Châu cho 100 học viên tương lai. Ngoài ra ông còn yêu cầu 1.500 đồng cho 10 tuyên truyền viên làm việc toàn thời gian trong một năm. Chi phí xuất bản, thông tin, thành lập một cửa tiệm nhỏ để làm vỏ bọc cho việc liên lạc chiếm hết 8.500 đồng. Chi phí vận chuyển 100 học viên khác đến học tại Hoàng Phố tốn khoảng 5.000 đồng nữa. Theo giải thích của Hồ trong ghi chú đính kèm thì Hoàng Phố đã hứa đào tạo 100 người này nếu chi phí đi lại của họ được lo liệu [148]. 5.000 đồng còn lại được dự trữ cho những trường hợp bệnh tật hoặc cấp bách. (Ho Chi Minh – The Missing Years – Sophie Quinn-Judge, dịch giả Diên Vỹ-Hoài An, x-cafevn.org)
(2) “We are unable to pledge new yen loans” until both countries work out “effective and meaningful measures against corruption”… “it would be difficult to regain the support from the Japanese public for further assistance to Vietnam , and we are unable to pledge new yen loans.” (AFP)

March 21, 2009

Việt Tân điều trần trước quốc hội Úc 032109

Filed under: chính trị — ktetaichinh @ 7:30 pm
Tags: ,

Đại diện của Việt Tân điều trần trước Quốc hội Úc ngày 19.3

Ban lãnh đạo đảng Việt Tân vừa xuất hiện trong cuộc điều trần của quốc hội Úc thảo luận các biện pháp tăng cường nhân quyền cho vùng Á châu Thái Bình Dương.

Trong phòng họp của Tiểu ban Nhân quyền người ta thấy ông Đỗ Hoàng Điềm, chủ tịch Đảng, bác sĩ Nguyễn Đỗ Thanh Phong, Ủy viên ban Chấp hành của Việt Tân. Và ông Trương Đức, đại diện cho đảng Việt Tân tại Úc.

Cuộc điều trần do Ủy ban Phối hợp Ngoại giao, Quốc phòng và Mậu dịch của Quốc hội liên bang Úc điều phối.

Ủy ban này đề nghị tiểu ban Nhân quyền tổ chức ba buổi điều trần để thảo luận và lắng nghe đề nghị của các tổ chức hoạt động nhân quyền tại Úc.

Ủy ban hy vọng các ý kiến đóng góp này sẽ xuất hiện trong bản thẩm định chung gửi lên Bộ Ngoại giao nhằm cập nhật cách nhìn và đường hướng giải quyết nhân quyền của Úc.

Úc có chính phủ mới từ tháng 11 năm ngoái. Cuộc điều trần là sáng kiến của ngoại trưởng Úc, ông Stephen Smith, trong chính phủ Lao Động, nhằm tìm ra cách tiếp cận tốt nhất về nhân quyền trong vùng Á châu.

Theo bác sĩ Nguyễn Đỗ Thanh Phong, cuộc điều trần sẽ giúp bộ Ngoại giao Úc nghiên cứu cách bảo vệ nhân quyền tại Á châu Thái bình Dương, hy vọng qua đó sẽ có những đối sách thích đáng để cải thiện tình trạng trong vùng.

Đối thoại Úc Việt

Giữa Úc và Việt Nam, hàng năm vẫn có đối thoại về nhân quyền, tổ chức luân phiên tại thủ đô hai nước.

Úc muốn dùng cơ chế này để tác động đến nhận thức và hành động trong chính giới Việt Nam để đưa sự hiểu biết và tôn trọng nhân quyền với mặt bằng chung trên thế giới.

Ông Phong cho rằng đây là cơ cấu người Việt hải ngoại nên khai thác, và tiếp tục đưa kiến nghị để chính phủ Úc thúc ép Việt Nam thay đổi nhận thức về nhân quyền ở trong nước.

Ngoài Việt Nam, Úc còn quan tâm đến nhân quyền vùng Á châu Thái Bình Dương. Nhiều người nói Úc là quốc gia Tây phương đi đầu trong việc phối hợp tìm ra cơ cấu hữu hiệu hơn nhằm giảm bớt các vụ đàn áp về nhân quyền trong vùng.

Dù Úc không nằm trong khối Asean, nhưng lại liên hệ chặt chẽ với các nước thành viên của Asean, ông Phong và đảng Việt Tân đề nghị Úc nên gắn bó với quá trình thành lập Ủy hội Nhân quyền Asean để chia sẻ kinh nghiệm và tăng thêm tính hiệu quả của tổ chức.

Ngày hôm nay Việt Nam vẫn là quốc gia đàn áp nhân quyền gần như là tệ nhất trên thế giới.

Nguyễn Đỗ Thanh Phong

“Mục đích cao nhất của Úc là đưa ra thêm nhiều đóng góp vào việc cải thiện nhân quyền trong vùng,” ông Phong nói.

Sau buổi điều trần ban điều hành đảng Việt Tân có cuộc gặp với Bộ Ngoại giao Úc. Theo chủ tịch đảng Đỗ Hoàng Điềm, đoàn Việt Tân được thông báo về hoạt động của Bộ Ngoại giao Úc tại Việt Nam thời gian qua, và một số dự định của Úc trong tương lai.

Ông Phong thừa nhận Úc có đóng góp đối với nhân quyền Việt Nam trong quá khứ. Cuộc gặp, theo ông, là cơ hội kêu gọi Úc làm nhiều hơn.

“Những đóng góp đó vẫn chưa đủ. Ngày hôm nay Việt Nam vẫn là quốc gia đàn áp nhân quyền gần như là tệ nhất trên thế giới.”

“Cho nên nước Úc, một quốc gia lớn trong vùng, cần gia tăng áp lực, hoặc đưa ra chương trình cụ thể để ép buộc Cộng sản Việt Nam chấp nhận thay đổi trong nhu cầu hội nhập thế giới.”

Việt Tân được nhiều người đánh giá là tổ chức chính trị có thế lực và quy củ hàng đầu trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Tuy vậy, những liên hệ với người sáng lập, Hoàng Cơ Minh (qua đời năm 1987), là yếu tố gây tranh cãi, ngay cả trong người Việt ở Mỹ.

Chính phủ Việt Nam gọi Việt Tân là tổ chức “khủng bố”, trong khi đảng này nói chủ trương của họ là “tiến hành một cuộc cách mạng toàn diện để xây dựng dân chủ và canh tân Việt Nam”.

March 18, 2009

“Cuộc chiến” không cân sức giữa giới học giả VN và TQ 031609

Filed under: chính sách,chính trị,thông tin,Uncategorized — ktetaichinh @ 9:35 pm
Tags: ,

(TuanVietNam) – Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam.

>> Bài liên quan:
Vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa: cần một nỗ lực tổng hợp
Thận trọng khi biên soạn sách về Hoàng Sa – Trường Sa

Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền

Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự.

Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa – Trường Sa (HS-TS), do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.

Hiện tại, Việt Nam chỉ có ba cơ quan nhà nước từng đặt vấn đề nghiên cứu chính thức về lãnh hải và luật biển (Vụ Biển thuộc Ủy ban Biên giới Quốc gia, Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế, Tổng cục Quản lý Biển và Hải đảo). Đếm số lượng các nhà nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa – Trường Sa, tính cả người đã mất, thì “vét” trong cả nước được gần một chục người.

Còn Trung Quốc đã có hàng chục cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về tranh chấp lãnh hải và HS-TS từ hơn nửa thế kỷ qua. Ít nhất, có thể kể tới trung tâm nghiên cứu trực thuộc các trường đại học Bắc Kinh, Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Sơn, hoặc trực thuộc Ủy ban Nghiên cứu Biên cương, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, v.v…

Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

Trung Quốc “chiếm sóng”

Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

Foreign Policy – tạp chí uy tín về quan hệ quốc tế. (Nguồn ảnh: wordpress.com)

Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học.

Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ.
Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và HS-TS. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển – tạp chí của Thừa Thiên – Huế) . Số lượng bản in hạn chế – 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp.

Việt Nam… yếu thế

Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về HS-TS, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành – Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý – lịch sử – chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)…

Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

Danh mục một số cuốn sách của các học giả Trung Quốc và thế giới viết về quan hệ quốc tế, tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. (Ảnh: Mai Thi)

Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo HS-TS (Lưu Văn Lợi, NXB Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, NXB Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít.

Với kênh thứ ba – thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. – thì sự tham gia của giới khoa học Việt Nam càng yếu ớt hơn.

Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, TS Từ Đặng Minh Thu (ĐH Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè “Vấn đề tranh chấp Biển Đông” (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng.

Trung Quốc coi gần như toàn bộ Biển Đông là thuộc lãnh thổ của mình. Trên bản đồ, phần màu xanh lơ là vùng tranh chấp. (Nguồn ảnh: image.google.com)

Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: “So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội”.

Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và HS-TS lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí.

Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v… Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu “nhạy cảm” là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.

Bìa lót của cuốn sách nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc đối với các vùng lãnh thổ tranh chấp, của tác giả Chi-kin Lo (Hong Kong), xuất bản tại London năm 1989. (Ảnh: Mai Thi)

Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: “Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về HS-TS và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả”.

Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là “nhạy cảm”, “mật”, và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để “xin” được nghiên cứu về HS-TS hay chủ quyền đất nước.

Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu – thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.

Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét: “Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài”.

Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” – như khẳng định của Bộ Ngoại giao.

Chúng ta có thể làm gì?

Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện “công ích” như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước.

Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước “xã hội hóa” công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ…) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí “luật hóa”, để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế…Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.

Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách “ngoại giao nhân dân”, tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài

Trung – Mỹ đụng độ trên biển Đông: Chỉ là khởi đầu 071309
(TuanVietNam) – Vụ đụng độ trên biển Đông giữa các tàu của Trung Quốc và Mỹ gần đây đang dấy lên nhiều lo ngại về an ninh trên biển cũng như tham vọng của các nước đối với các tiềm năng của biển. Tuần Việt Nam giới thiệu phân tích của tác giả Mark J. Valencia* đăng trên Tạp chí kinh tế Viễn Đông ngày 11/3.

Về đụng độ Trung – Mỹ trên Biển Đông:
Đụng độ Mỹ – Trung và lựa chọn ứng xử cho ASEAN
Ba góc nhìn về xung đột Mỹ – Trung
Đụng độ Mỹ – Trung và ý nghĩa với tranh chấp biển ĐNA

Sự “quấy rối” đối với tàu đo đạc Impeccable của hải quân Mỹ đang hoạt động tại Vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc ở Biển Đông chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Sự khác biệt giữa Mỹ và Trung Quốc về luật biển là rất lớn. Thực tế, sự việc như thế này không phải là lần đầu tiên, và nếu không có sự đàm phán để đi đến thỏa hiệp, thì đây chắc chắn không phải là lần cuối cùng.

Một Công ước, mỗi bên một lý lẽ

Theo Công ước luật biển năm 1982 của LHQ, việc nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế của một nước chỉ có thể được tiến hành khi có sự đồng ý của nước có bờ biển liên quan. Đó là do những nghiên cứu và hoạt động như vậy có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý đối với các tài nguyên sinh vật và vô sinh của quốc gia có bờ biển liên quan. Việc nghiên cứu cũng chỉ được phép tiến hành vì mục đích hòa bình.

Trung Quốc đã phê chuẩn Công ước này. Mỹ chưa phê chuẩn, nhưng xác nhận rằng Công ước này phù hợp với thông lệ.

Vụ đụng độ giữa các tàu Trung – Mỹ trên Biển Đông ngày 8/3 là vụ đụng độ tồi tệ nhất trong vòng 8 năm qua. Ảnh: Reuters

Trung Quốc khăng khăng rằng những gì Mỹ đang làm nằm trong khuôn khổ điều chỉnh của các điều khoản về khoa học biển trong Công ước và không đồng ý theo yêu cầu của Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ lại phân biệt rạch ròi giữa việc nghiên cứu khoa học biển cần có sự đồng ý với việc đo đạc thủy văn học và quân sự được quy định riêng rẽ trong Công ước này.

Mỹ khăng khăng rằng việc đo đạc không cần đến sự đồng ý và đó là thực thi quyền tự do hàng hải và “các công dụng khác của biển phù hợp với luật pháp quốc tế” được Công ước này bảo vệ.

Những phản biện đối với quan điểm này chỉ ra rằng việc thu thập số liệu cho dù chỉ là vì mục đích quân sự cũng có thể vô tình hay hữu ý tác động đến các tài nguyên trong khu vực. Họ cũng phản biện rằng một quốc gia chưa phê chuẩn Công ước nói trên thì không có đủ tư cách để áp dụng Công ước đó làm lợi thế cho mình.

Nhiệm vụ của tàu Impeccable là sử dụng các tia mặt trời tần số thấp cả chủ động và thụ động cho việc dò tìm và theo dõi các nguy cơ dưới biển. Trung Quốc phản đối rằng việc thu thập những số liệu đó là việc “chuẩn bị chiến trường” và vì thế là một nguy cơ sử dụng vũ lực – vi phạm Hiến chương LHQ và rõ ràng không phải là việc sử dụng biển một cách hòa bình như Công ước yêu cầu.

Phía Mỹ thì lý luận rằng việc thu thập số liệu của họ hoàn toàn vì mục đích phòng thủ và dĩ nhiên không phải là nguy cơ sử dụng vũ lực.

Liên quan đến sự đụng độ gần đây, Trung Quốc nói rằng các tàu của họ không hề quấy rối tàu Impeccable, mà chỉ cố gắng ngăn cản tàu này vi phạm những gì mà Trung Quốc gọi là luật quốc tế và luật Trung Quốc, và khiến tàu này rời khỏi khu vực.

Mỹ thì cho rằng theo Công ước, Trung Quốc phải có sự “tôn trọng thích đáng” đối với các quyền hoạt động hàng hải của Mỹ và “việc quấy rối” tàu của Mỹ – đặc biệt là một tàu hải quân có quyền miễn trừ tối cao – là một hành động vi phạm nguyên tắc tôn trọng thích đáng trên.

Sự phân biệt này đối với các hạng mục khác nhau về đo đạc và nghiên cứu khoa học biển không chỉ đơn giản xoay quanh ý định và mục đích thu thập số liệu. Giá trị và ích lợi kinh tế tiềm năng của các số liệu đó đối với quốc gia có bờ biển liên quan cũng cần được xem xét, và rất khó để nói rằng những số liệu thủy văn học hay quân sự được thu thập hôm nay sẽ không có giá trị nào đó trong tương lai.

Nếu có tiêu chuẩn cho sự đồng ý thì đó sẽ là sự công nhận với cả mục đích của hành động và sự liên quan đối với các tài nguyên của các số liệu thu được.

Viễn cảnh đáng lo ngại

Tuy nhiên vấn đề thực sự lại là hải quân nước xanh đang mở rộng của Trung Quốc và căn cứ tàu ngầm lớn của nước này ở đảo Hải Nam. Hiển nhiên là Trung Quốc muốn bảo vệ “bí mật” của mình trong khu vực, bao gồm cả bí mật về hoạt động và năng lực của các tàu ngầm, cũng như bí mật về hình thái học của đáy biển.

Và cũng tất nhiên là Mỹ muốn biết càng nhiều càng tốt về năng lực tàu ngầm của Trung Quốc và khu vực mà có thể một ngày nào đó họ sẽ phải đến chiến đấu. Vì vậy, những sự vụ như thế này sẽ còn lặp lại và ngày càng nguy hiểm hơn, và đó cũng không chỉ là việc riêng giữa Trung Quốc và Mỹ.

Quan hệ Trung – Mỹ vẫn đang chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn.
Ảnh: chinadigitaltimes.net

Thực tế, các hoạt động thu thập thông tin tình báo và quân sự ở các vùng đặc quyền kinh tế kinh tế trên thế giới sẽ còn gây tranh cãi và nguy hiểm hơn nữa. Ở châu Á, viễn cảnh đáng lo ngại này phản ánh nhu cầu ngày càng tăng và đang thay đổi đối với thông tin tình báo kỹ thuật; các chương trình phát triển vũ khí lớn của của nước có bờ biển liên quan, đặc biệt là những tiềm năng chiến tranh điện tử ngày càng tăng và sự phát triển rộng rãi của các tiềm năng chiến tranh thông tin.

Hơn thế nữa, quy mô và phạm vi của các hoạt động thu thập thông tin tình báo của hải quân và không quân Mỹ sẽ còn mở rộng nhanh chóng trong một thập kỷ tới, cả về mức độ và hình thức hoạt động chưa từng thấy trong thời bình.

Chúng sẽ không chỉ trở nên tập trung hơn; mà nói chung sẽ còn mang tính xâm nhập cao hơn. Chúng sẽ gây ra những căng thẳng và các cuộc khủng hoảng thường xuyên hơn; chúng sẽ tạo ra các phản ứng phòng thủ và những động lực ngày càng leo thang; và chúng sẽ dẫn đến ngày càng nhiều bất ổn ở hầu hết các khu vực liên quan, đặc biệt là ở châu Á.

Do Mỹ chưa phê chuẩn Công ước nói trên nên vấn đề này không thể giải quyết thông qua Tòa án quốc tế về luật biển. Vì thế những chuyện đụng độ này sẽ trở thành chủ đề cho những tương tác hỗn loạn và thiếu trật tự, khi các nước cùng lên tiếng đòi và bảo vệ quyền lợi của mình qua các động thái cấp nhà nước, các cuộc biểu tình ở các nước bị tổn hại, và cuối cùng là việc cho – nhận trong các cuộc thương thuyết ngoại giao.

Sớm muộn gì thì qua quá trình này cũng sẽ có một sự đồng thuận nhất định. Nhưng để đến được thời điểm đó, vẫn sẽ có nhiều thủy thủ, phi công, và ngư dân phải bỏ mạng, và quan hệ giữa một số nước sẽ trở nên căng thẳng khi đòi hỏi đơn phương của các bên dẫn đến những sự cố mang tính bạo lực giữa các nước.

Một sự lựa chọn ít mang tính đối đầu hơn chính là tăng cường đối thoại, tìm kiếm các biện pháp xây dựng lòng tin, và nỗ lực hợp tác giữa các nước liên quan cũng như cố gắng để có sự thỏa hiệp và đồng thuận chung. Các cuộc đối thoại này nên đặt mục tiêu là phát triển những quy định chung mang tính tự nguyện về các hoạt động thu thập thông tin tình báo và quân sự tại các vùng đặc quyền kinh tế trên thế giới.

* Mark J. Valencia là nghiên cứu sinh thỉnh giảng tại Viện hải dương học Malaysia (MIMA).

Chung Hoàng dịch

February 14, 2009

Vietnam issues new rules for importers, foreign publishers

Filed under: chính trị,Uncategorized,đầu tư — ktetaichinh @ 4:05 pm
Tags: ,

The government has introduced several changes to the publication laws that tighten control over the import of foreign publications and the operations of foreign publishers in Vietnam. Foreign publishers’ representative offices in Vietnam have to apply for new licenses if theirs had been issued before January 1 this year. The offices can continue operating while waiting for the new licenses, which will valid for five years from the date of issuance and must be extended every five years. The same rule will apply to importers of foreign publications. Also, they have to submit a list of the items they plan to import for approval from the Ministry of Information and Communications (MIC). The approval will be effective only until December 31 of the year in which the application has been made. Under the new regulation, the ministry has the power to issue or revoke licenses for foreign publishing agencies’ offices in Vietnam and the importation of non-commercial publications. The ministry’s Directorate of Publishing will issue such licenses to central, foreign and international organizations based in Hanoi. The ministry’s permission will not be required for importing private documents and those used at international seminars or conferences organized with permission from Vietnamese authorities. The latest changes also deal with publication on the Internet and the content of book covers. Publications that are copies of laws or Vietnam Communist Party documents, regulations of the National Assembly, holy books and regulations of recognized religions in Vietnam will not be allowed to print on the cover the names of authors, translators or publishing partners. These names cannot be placed on the images of Vietnam’s political leaders, the national flag, the Communist Party flag or the maps of Vietnam that are carried on front covers. Those who want to publish an item on the Internet have to register with the ministry’s Directorate of Publishing their publication plans, including the website address and publication date. They also need written approval from the directorate that should be granted within a maximum of 10 days after application. To publish on the Internet the items that have already been published on other media, the publishers must have written approval from the authors or copyright owners.

February 11, 2009

Đừng để người nghèo bị gạt ra bên lề – TT Võ Văn Kiệt

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 1:50 am
Tags:

TT

” Người nghèo – những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa – trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng, trong khi chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo”

Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng sau những bão lụt – thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục. Người nghèo – những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa – trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng, trong khi chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo. Cam kết lịch sử Trong suốt hai thập niên đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để xóa đói giảm nghèo. Tỉ lệ người nghèo, tính theo chuẩn mực quốc tế (có mức sống dưới 1 USD/ngày), đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 14,7% năm 2007. Một số viên chức quốc tế đã đánh giá cao những nỗ lực của VN. Nhưng những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước và chúng ta hiểu khoảng cách giữa thực tế và báo cáo là còn đáng kể. Tôi nhớ cách đây không lâu, báo chí phát hiện thêm rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo trước đó đã “100% ngói hóa”. Mặt khác, dù phần lớn dân chúng đã “thoát nghèo” nhưng chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả kinh tế mà những người dân này tần tảo để có lại gần như bị xóa sạch. Tôi vừa đến một số vùng như vậy và không khó lắm để thấy người nghèo đang chiếm một tỉ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao. Chăm lo cho người nghèo hiện nay không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân. Thực hiện cam kết đó không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo. Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản. Nhưng mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của giai cấp công nhân. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài. Khi trở lại một số địa phương, thăm một số công trình, trong đó có những công trình được bắt đầu từ khi tôi còn công tác ở Chính phủ, tôi rút ra bài học rằng: nếu đô thị hóa hay công nghiệp hóa mà không cân nhắc đầy đủ sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngôi nhà, làng bản, thị trấn đặc trưng của các vùng cao dần được thay thế bằng những ngôi nhà, phố xá chen chúc, hình ảnh vẫn thường thấy ở vùng xuôi. Khi đó chúng ta không chỉ gây ra những tổn thất về văn hóa mà còn đánh mất cả lợi ích kinh tế lâu dài. Đầu tư phát triển, một mặt không thể thiếu những giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa; mặt khác phải có chính sách để người nghèo, đặc biệt là nông dân, bà con các vùng nông thôn, vùng dân tộc… không bị gạt ra bên lề tiến trình phát triển, nhất là tiến trình xây dựng các khu đô thị, nhà máy trên làng bản, ruộng đất lâu đời của họ. Từ thiện không thể thay chính sách Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này. Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ các nhà lý luận rất cần tham khảo. Kinh nghiệm sau hơn hai thập niên đổi mới cho thấy không thể có “công bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp). Cũng không thể cào bằng bằng cách điều tiết hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo. Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng. Nhưng, nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình “tích lũy tư bản” diễn ra như thời “hoang dã” (nhờ hối mại quyền lực và có được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai), thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững. Có lẽ chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu. Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ là đã quá đủ. Nhưng chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP để thấy chúng ta đã thật sự làm được những gì: nhóm 20% những người giàu nhất ở VN hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước; trong khi nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này. Gần như thường xuyên chúng ta chứng kiến những hoạt động quyên góp, đấu giá… được tổ chức rầm rộ trên truyền hình, phần lớn những hoạt động ấy do Ủy ban T.Ư MTTQ VN tổ chức. Tôi không phản đối cách làm đó, nhưng tôi nghĩ công việc ấy để các nhà hoạt động từ thiện chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp, các nhà hảo tâm làm thay thì tốt hơn rất nhiều. Theo kinh nghiệm của tôi, những người có nguyện vọng từ thiện đúng nghĩa thường chọn cách làm từ thiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức từ thiện chuyên nghiệp, vì họ tin đồng tiền đi qua các tổ chức như thế sẽ không bị xà xẻo trên đường đến với người nghèo. Những người muốn giúp đỡ người nghèo thay vì dùng tiền bạc để mua danh và khoa trương, thường không chọn cách làm từ thiện theo kiểu “đấu giá” ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có tạo được những nền tảng pháp lý cho xã hội dân sự phát triển, để những tổ chức từ thiện đúng nghĩa có thể xuất hiện thì tình cảm cộng đồng mới thức dậy một cách chân thành, người nghèo từ đó mới được phần nào chia sẻ. Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện chỉ có thể khơi gợi một nguồn lực khác của xã hội chứ không thể thay thế các chính sách của Nhà nước. Sứ mệnh chính trị của những tổ chức như Mặt trận, vì vậy lớn hơn là việc quyên góp, xin – cho rất nhiều. Mặt trận có thể tham gia xóa đói giảm nghèo một cách hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất và phân tích chính sách, sao cho: lợi ích từ các nguồn tài nguyên quốc gia được phân phối hợp lý cho các chủ nhân của nó; người nghèo được hỗ trợ để có thể tiếp cận được với những quyền lợi căn bản nhất. Đầu tư của Nhà nước vào các công trình phúc lợi y tế, giáo dục, văn hóa… không nên tập trung ở các đô thị, nơi mà các nguồn lực khác của xã hội có thể tham gia. Nhà nước cũng cần sớm hoàn thiện các thiết chế như: bảo hiểm y tế, quĩ trợ cấp, tín dụng giáo dục… cho người nghèo ở cả đô thị và nông thôn. Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải. Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo, nhưng phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo. VÕ VĂN KIỆT VN: chênh lệch giàu nghèo 34,4 lần 10% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập và chi tiêu quốc gia. 10% giàu nhất chiếm 28,8% thu nhập và chi tiêu quốc gia. 20% dân số nghèo nhất chiếm 9% tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia. 20% dân số giàu nhất chiếm 44,3% tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia. Chênh lệch giữa 10% dân số giàu nhất với 10% dân số nghèo nhất là 6,9 lần, còn theo chỉ số Gini (chỉ số chênh lệch giàu nghèo) ở VN là 34,4 lần. (Nguồn: Báo cáo phát triển con người 2007-2008 của UNDP) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=252302&ChannelID=3

RFA phỏng vấn THTNDC

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 1:46 am
Tags:

Vì sao thanh niên Việt Nam cần quan tâm và tham gia các hoạt động chính trị? Cổ võ dân chủ là một con đường đầy chông gai, thử thách, làm thế nào để kêu gọi sự lưu tâm của thanh niên nhiều hơn đối với việc này? Đây là nội dung chính của buổi trao đổi tiếp theo với Hoàng Lan, Quốc Minh, Kế Vũ đang du học ở Pháp, và Trang Nhung, đã về nước sau một thời gian làm việc cho hãng Avassy tại Nhật. Trang Nhung: Quan tâm tới chính trị xã hội là một cách thiết thực để góp phần xây dựng đất nước. Các hướng đóng góp khác như là tham gia vào lãnh vực kinh tế hay là giáo dục chẳng hạn đều là những đóng góp thiết thực. Song, trong hiện trang Việt Nam chưa có dân chủ thì những đóng góp trong những mặt khác đều có thể không giành được kết quả xứng đáng bởi vì vấn đề về quy chế. Do đó đóng góp vào lãnh vực chính trị đem lại hiệu quả thiết thực hơn cả. Trà Mi: Nhưng cổ võ dân chủ trong tình hình Việt Nam hiện nay không phải là một việc làm dễ dàng. Có nhiều người đặt ra câu hỏi là như vậy thì khi làm những công việc dân chủ, dấn thân vào con đường chính trị mang lại ích lợi gì cho bản thân hay là chỉ rước họa vào thân mà thôi? Quốc Minh: Như là bản thân của Quốc Minh, sau khi tham gia hoạt động thì Quốc Minh có thể tự cải thiện được khả năng nói chuyện của mình với các bạn, cảm thấy tự tin hơn khi nói chuỵên với những người đối diện với mình, mình học hỏi được nhiều kiến thức chung quanh, và nhận biết được nhiều hơn. Cái đó không những đóng góp cho xã hội mà khi mình rèn luyện bản thân như vậy thì không những cho hoạt động chính trị mà cho ngay cả công việc hàng ngày của mình mà mình đi làm, mà mình còn thuyết phục ai đó, thì sẽ giúp đỡ được cho mình rất là nhiều. Hoàng Lan: Với những bạn mà suy nghĩ rằng chính trị là chuyện xa vời, không có ảnh hưởng gì đến mình thì Lan muốn nhắn nhủ bạn là thực ra chính trị là một cái điều gì đó gần gũi với đời sống của mỗi người hơn là các bạn tưởng. Nói ví dụ chuyện lạm phát ở Việt Nam hiện nay tác động lên đời sống của nhân dân Việt Nam thế nào thì mọi người cũng đều thấy rõ. Cái vấn đề giáo dục như thế nào thì mọi người cũng đã thấy rồi. Để giải quyết được những vấn đề đó thì cần phải có một giải pháp chính trị cho Việt Nam. Tâm lý người bình thường cũng đều là muốn mình có một đời sống, một cuộc sống yên bình, nhưng khi mà đất nước ở trong tình trạng có những vấn nạn quốc gia như là tham nhũng, yếu kém như hiện nay, trên mọi mặt đều có vấn đề cả. Vấn đề không còn là mình thích hay mình không thích làm nữa mà đây là cái vấn đề mỗi thanh niên, rường cột tương lai của đất nước, mỗi người cần có cái trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vấn đề quốc gia. Nếu như mỗi bạn trong điều kiện của mình không có thể tham gia làm việc trong tổ chức để mà hoạt động chính trị lâu dài được thì các bạn cũng cần có một thái độ chính trị đúng đắn. Khi Lan nói chuyện với nhiều bạn, nhiều bạn rất là đồng thuận trong vấn đề là những nhà lãnh đạo ở Việt Nam nếu họ không có đủ sức đề làm được thì tại sao không mở cái cơ chế ra để cho những người tài giỏi ở hải ngoại cũng như là những tiến sĩ, thạc sĩ du học cùng nhau giải quyết những vấn nạn quốc gia. Cái thiết thực nhất chúng ta có thể làm, đó là vận động cho cuộc bầu cử tự do công bằng, trong đó người dân được bầu ra người thật sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, bầu lên một quốc hội đa đảng, để từ đó làm ra hiến pháp mới, làm nên những chính sách cần thiết để giải quyết những vấn đề của Việt Nam hiện nay. Trà Mi: Quan tâm tới chính trị hoặc là quan tâm tới tình hình đất nước thì có nhiều cách, trong đó có cách gọi là truyền thống an toàn nhứt hiện nay là đi vào con đường của đoàn, rồi tiếp tục phấn đấu vào đảng, cũng là một cách tham gia chính trị, thế thì tại sao phải đi theo con đường cổ võ dân chủ là một con đường đầy chông gai và nhiều thử thách? Nếu mà có bạn trẻ nào đặt ra với các bạn câu hỏi này thì các bạn sẽ trả lời như thế nào? Hoàng Lan: Thì Lan sẽ hỏi các bạn là cái vấn đề chính của đất nước mình hiện giờ là ở đâu. Mọi người đều thấy đó là vấn nạn tham nhũng và sự thiếu năng lực của bộ máy hành chính. Sự tham nhũng xảy ra là bởi vì không có cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực. Những người lãnh đạo hiện nay không do dân bầu ra. Thì bây giờ vấn nạn tham nhũng chỉ có thể giải quyết được khi mà có cơ chế dân chủ, tức là có tam quyền phân lập và có bầu cử tự do công bằng để mọi người dân thực sự bầu lên những người đại diện cho nhân dân. Những người tham gia vào đoàn, vào đảng hiện nay, theo như Lan được biết, thì rất là ít người tham gia vì lý tưởng, vì mọi người đều thấy là tham gia vào trong đảng thì có rất là nhiều quyền lợi hơn người khác. Người dân đã mất niềm tin rồi thì bây giờ hãy để nhân dân là người bầu lên người lãnh đạo đất nước. Dân chủ là công nhận mọi quan điểm khác biệt ở trong xã hội. Đó là cách duy nhất để đoàn kết và từ sự đoàn kết đó chúng ta mới có thể thúc đẩy nội lực của Việt Nam. Trà Mi: Các bạn đã có những hoạt động cụ thể để mà quan tâm tới tình hình ở Việt Nam, các bạn cũng có ấp ủ những niềm tin về dân chủ, về thay đổi chính trị cho Việt Nam, thì các bạn có những vui buồn, khó khăn như thế nào khi tham gia những công việc như vậy? Trang Nhung: Đối với các thành viên ở trong nước thì cái khó khăn thứ nhất là không dễ dàng gì được gia đình ủng hộ, còn điều tích cực khác là làm được những gì theo đúng lý tưởng của mình. Hơn nữa, khi mà tham gia vào tổ chức có nhiều thứ mình có thể học được, đó là tạo được cho mình một ý chí, một bản lĩnh vững vàng, có được các mối quan hệ xã hội và học được rất nhiều kiến thức về các lãnh vực của đời sống. Trà Mi: Các bạn du sinh thì sao? Khi tham gia vào công cuộc kêu gọi cởi mở chính trị hoặc là cổ võ dân chủ cho Việt Nam, thì các bạn có những khó khăn nào không? Có gặp những trở ngại hoặc những vui buồn nào mà các bạn muốn chia sẻ? Kế Vũ: Kế Vũ muốn chia sẻ những vấn đề mà chung quanh em thấy rồi. Một khi mình đang nói chuyện chính trị với các bạn du sinh thì có một số bạn tỏ ra lo ngại về việc làm giấy tờ với chính quyền ở Việt Nam. Các bạn sợ là một khi các bạn tham gia một tổ chức chính trị như vậy, mực dù các bạn quyết định đây là con đường đúng đắn, nhưng các bạn vẫn sợ sự cản trở của chính quyền. Liệu các bạn có về Việt Nam chỉ để du lịch được hay không? Và vấn đề nữa là vấn đề gia đình của các bạn. Nhiều khi các bạn cũng muốn, nhưng gia đình các bạn không ủng hộ, hoặc là có ủng hộ nhưng cũng ngại chính quyền địa phương đặt ra những rào cản giấy tờ của mình cho nên nó ảnh hưởng tới sự hạn chế việc các bạn tham gia vào những hoạt động tích cực như vậy. Trà Mi: Đó là những mối quan tâm rất thực tế. Các bạn đã là những người đi trước đã tham gia vào Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ rồi thì các bạn có câu trả lời nào “gỡ rối tơ lòng” cho những người đang quan ngại như vậy không? Kế Vũ: Cũng không có gì ngoài hai chữ “vững tin”. Vấn đề đó có thể có nhưng mà mình sẽ vượt qua. Trà Mi : Các bạn không sợ là sau khi tốt nghiệp về nước thì bạn sẽ gặp khó khăn trong việc kiếm công ăn việc làm ổn định, rồi khó khăn có được một cuộc sống bình yên? Kế Vũ: Vấn đề này thì mình phải xác định tư tưởng từ trước rồi và nghĩ là việc làm của mình là đúng. Mình vẫn bước đi trên con đường đó. Hoàng Lan: Lan cũng chia sẻ ý kiến với Kế Vũ, đó là một khi mình đã tin tưởng vào những gì mình làm là đúng, và nhất là đối với tình trạng của Việt Nam hiện nay thì những bạn trẻ mà có lý tưởng cho đất nước đều cảm thấy là nếu mình không thể làm cái điều gì đó cho Việt Nam tốt đẹp hơn thì mình sẽ cũng không thể sống cuộc sống thanh thản cho chính bản thân mình được. Chính niềm tin của mình cho một tương lai tốt đẹp hơn của đất nước đã tiếp cho mình sức mạnh nhiều hơn rất là nhiều. Nếu mỗi người trong chúng ta không cố gắng, nhất là thế hệ thanh niên mỗi người không hy sinh một chút riêng tư cá nhân của mình để mà lo việc chung thì sẽ không ai làm thay cho mình cả. Và Lan muốn sau này về Việt Nam, nên Lan nghĩ là nếu mình không thể làm một điều gì đó cho đất nước thì cuộc sống của mình sẽ mất đi nhiều ý nghĩa. Trà Mi: Nhưng mà bạn có nghĩ là khi mà về nước thì bạn có cách nào để giải thích cho những người có cái nhìn ngược lại hiểu được cái lý tưởng của mình là vì mục đích tốt đẹp cho đất nước, cho quê hương? Hoàng Lan: Lan nghĩ là những người có ý kiến khác biệt với mình thì mình hãy nhìn họ với lòng bao dung. Từ cái thiện chí đó của mình thì có thể đối thoại với nhau được. Chứ nếu bây giờ cả hai bên đến với nhau bằng thành kiến thì rất là khó. Trà Mi: Nhưng mà có quan niệm cho rằng những thành phần dân chủ là những thành phần muốn “diễn tiến hoà bình”, là những thành phần phản động, theo khái niệm của Việt Nam. Nếu mà có nhiều bạn trẻ ở Việt Nam nhìn các bạn như vậy thì bạn sẽ giải thích như thế nào? Hoàng Lan: Mình cũng chia sẻ với các bạn những bức xúc về tình hình đất nước một cách rất là ôn hoà, ví dụ như Tập Hợp chỉ yêu câu là tiếng nói cuối cùng của người dân là bầu cử tự do công bằng chứ không thể có một nhóm người nào, một đảng phái nào tự cho mình cái quyền là nói thay cho 84 triệu dân, thì Lan thấy là bây giờ cái tư tưởng đó của Tập Hợp được chia sẻ bởi rất nhiều bạn trẻ, ngay cả khi các bạn đó vẫn còn mơ hồ và chưa hoàn toàn ủng hộ dân chủ. Trà Mi: Trong những cuộc tiếp xúc mà Trà mi đã có được với các bạn trẻ trong nước thì nhiều người nêu ra ý kiến như thế này là muốn đất nước phát triển, muốn đóng góp cho đất nước thì có nhiều cách, thì bây giờ đất nước đang phát triển đó mà tại sao mình không đóng góp cho sự phát triển đó thêm vững mạnh mà mình phải tìm con đường phát triển khác bằng con đường dân chủ? Trang Nhung: Nếu các bạn nào có quan niệm như thế thì Lan có thể giải thích là một đất nước vừa chuyển biến như Việt Nam thì phát triển là điều tất yếu, vấn đề là phát triển ở mức độ như thế nào và tốc độ như thế nào thì xu hướng dân chủ là xu hướng tất yếu. Nếu như không có dân chủ, một đất nước phát triển chỉ ở một mức độ không phải hiệu quả nhất. Chỉ ở thể chế dân chủ thì mọi yếu tố cho sự phát triển ổn định mới có thể được đảm bảo thật sự. Hoàng Lan: Chỉ có thể chế dân chủ mới giải phóng tiềm năng nước Việt Nam và dân tộc. Có thể chế dân chủ thì Việt nam sẽ còn phát triển hơn nữa chứ không phải chỉ dừng lại ở cái sự phát triển không bền vững như bây giờ. Trong cái thể chế độc đảng, tham những, độc tài như hiện nay thì sẽ rất là khó cho những người trí thức, những người cần môi trường tự do để mà sáng tạo, để mà làm việc, thì sẽ rất khó thu hút họ về. Đó là lý do vì sao chúng ta cần mở cơ chế ra để từ đó những người có tài có tâm mới có thể đóng góp sức mình vào được nhiều hơn, thì khi đó nền kinh tế và xã hội Việt Nam mới phát triển hơn nữa. Trà Mi: Cái thể chế dân chủ mà các bạn đang cổ võ, các bạn đang mong muốn Việt Nam đạt được thì nó phải như thế nào, mang tính chất như thế nào? Có những đặc điểm gì? Trang Nhung: Phải đảm bảo được các quyền căn bản của con người, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do ứng cử, tự do bầu cử, tự do lập hội, tự do lập đảng, như thế thì mọi tiềm năng của con người mới được phát huy triệt để. Trà Mi: Để Việt Nam có được thể chế dân chủ như các bạn mong muốn thì vai trò của người thanh niên Việt Nam cần phải làm gì, có thể làm gì? Kế Vũ: Mỗi bản thân của một người bây giờ nên có sử dụng hai từ gọi là “dấn thân” và mở rộng mình ra và tìm hiểu về những vấn đề dân chủ để mình có những kiến thức cơ bản, hiểu rõ bản chất của vấn đề là gì, cùng nhau cùng xây dựng với một tính chất tích cực hơn, chứ không hẳn là chỉ nghe về một phía. Trà Mi: Làm thế nào để các bạn có thể thu hút các bạn trẻ ở Việt Nam biết đến Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ nhiều hơn, rồi lôi cuốn sự tham gia của giới trẻ trong nước nhiều hơn nữa? Các bạn tiếp cận với giới trẻ trong nước bằng cách nào? Kế Vũ: Mỗi người Việt Nam luôn yêu nước mình, chỉ có điều là bây giờ họ chưa nhận ra hoặc là họ còn có những e dè của riêng mình và khi mà họ được khơi dậy cái lòng tự hào dân tộc thì em nghĩ việc tiếp cận với Tập Hợp như lôi kéo thành viên vào Tập Hợp sẽ trở nên dễ dàng hơn. Hoàng Lan: Lan muốn nhắn gửi các bạn trẻ nói chung có liên quan tới nhiều sự việc rất gần đây, đó là chuyện Trung Quốc thiết lập quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như thiết lập căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, và sự kiện gần đây nhất là ngày 19-4-2008 khi mà thanh niên Việt Nam yêu nước muốn lên tiếng về sự việc đó thì bị ngăn cản và thành phố Sài Gòn chỉ còn dành cho lá cờ Trung Quốc, thì Lan cũng như rất nhiều bạn bè khác dù là có chia sẻ lý tưởng dân chủ hay không thì đều cảm thấy rất là tủi nhục trước hình ảnh đó và rất là bất bình. Thì Lan muốn nhân dip này nhắn nhủ với các bạn là những gì chúng ta có thể làm được cho đất nước nhiều hơn là những cuộc biểu tình hoặc là việc lên tiếng mỗi người chúng ta có thể chủ động hơn một chút trong việc phát triển nội lực của Việt Nam. Bởi vì chỉ khi Việt Nam trở thành một nước có tiềm năng về kinh tế, vấn đề quan sự mạnh mẽ hơn, thì khi đó những nước khác mới không thể xem thường chúng ta và có những hành động rất là ngang ngược về mặt ngoại giao với chúng ta như vậy. Trên đây là buổi giao lưu với các bạn trẻ trong Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ, một tổ chức chính trị độc lập đầu tiên của thanh niên thế hệ hậu 1975, do cựu du sinh Nguyễn Tiến Trung thành lập tại Pháp. Trong hai năm qua, Tập Hợp đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm kêu gọi và ủng hộ dân chủ cho Việt Nam. Và nhân tiện đây Trà Mi cũng xin được giới thiệu cuốn “Cẩm nang dành cho blogger và người bất đồng chính kiến trên mạng” do Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới soạn thảo, được các bạn trong Tập Hợp chuyển ngữ, với mong muốn phổ biến cho giới blogger thêm công cụ bảo vệ quyền tự do bày tỏ quan điểm. Nội dung cuốn cẩm nang có đăng trên trang web của RFA để quý vị và các bạn tiện tham khảo.

CHÍNH TRỊ

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 12:32 am
Tags: ,
Trần Đông Chấn

Đang đọc một cuốn sách rất hay: “TIỂU LUẬN viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932” của Phạm Quỳnh. Tác giả là một nhà văn hóa lớn đầu thế kỷ 20, đã từng viết nhiều bài báo và tác phẩm văn học có giá trị.

Trong các tiểu luận này, có một bài báo tựa đề “Chính trị” được viết vào năm 1929 nhưng vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay. Xin được trích dẫn vài đoạn:

“Vậy chính trị theo định nghĩa ở từ điển là gì? Đó là tất cả những gì liên quan đến công việc cai quản Nhà nước, đến công việc quản lý có hiệu quả mọi công việc công cộng, đến việc bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc.
Vậy thì, vì lẽ gì một công dân xứng với danh hiệu này, cho dù danh hiệu đó đã bị hạ thấp ít nhiều, – và đó chính là trường hợp của kẻ đang muốn trở thành công dân ở xứ Đông Dương hay ở nước Nam – lại có thể không quan tâm đến công việc của đất nước mình, nghĩa là quan tâm đến chính trị, cái chính trị như một nghệ thuật quản lý mọi công việc của đất nước sao cho tốt đẹp?

Vì lẽ gì một người nước Nam biết lo lắng cho sự phồn thịnh và tương lai của tổ quốc mình, lại có thể không tìm hiểu xem tố quốc mình được cai quản như thế nào, lại không tự hỏi liệu các thể thức cai quản hành chính hay cai quản hiện nay có phù hợp với đất nước mình không, và nếu cần, thì phải tiến hành những cải cách, những cải tiến, những sửa đổi hoặc những cải tạo hữu ích hoặc cần thiết nào? Và nếu cái người nước Nam ấy phát hiện thấy có những lạm dụng, những sai sót hoặc những vi phạm, liệu cái người nước Nam ấy có thể tự buộc tội mình không tố cáo chúng ra?

Tất cả những điều đó chính là chính trị, và đó không chỉ là quyền được làm mà còn là nghĩa vụ phải làm của người công dân.

Và nếu, trong khi tranh luận về những vấn đề lợi ích chung này, công dân nước Nam kia chỉ duy nhất bị thúc đẩy bởi ước vọng được có ích cho đất nước và đồng bào mình, nếu như công dân ấy không bao giờ mất bình tĩnh, mất khả năng làm chủ hoàn toàn bản thân, mất cái trung lập về tinh thần hay tính “trung dung” thành thói quen trải qua nhiều thế kỷ văn hóa Khổng giáo, nếu như công dân ấy không đem vào đó bất kỳ định kiến nào, bất kỳ sự nóng nảy nào, và hơn thế nữa, nếu công dân ấy luôn luôn giữ mình trong phạm vi hợp pháp và tôn trọng trật tự, thì có cái chính phủ nào, dù có yếu bóng vía đến mấy, lại có thể coi hành vi và thái độ như thế của công dân kia là một tội ác?

Ngược lại, một chính phủ quan tâm đến việc hoàn tất tốt nhiệm vụ của mình sẽ phải biết ơn những con người có thiện chí này, những người làm hết sức mình để soi tỏ cái niềm tin đó của chính phủ.

Và trong hoàn cảnh này, các bạn lại không muốn người nước Nam làm chính trị hay sao? Như thế chẳng khác nào các bạn muốn họ thờ ơ với số phận của đất nước họ, đến tương lai con cháu họ, đến hạnh phúc gia đình họ, đến cuộc sống của chính họ!

Chính các xã hội mị dân Phương Tây đã truyền bá ra thế giới dạng chính trị này, một dạng chính trị khêu gợi và khai thác các đam mê của dân chúng, chia rẽ dân tộc thành các bè phái đối lập, khích họ chống lại nhau, khơi dậy các bản năng thấp hèn nhất của dân chúng để thỏa mãn các tham vọng của một thiểu số sẵn sàng làm tất cả. Dưới cái cớ kiếm tìm hạnh phúc cho nhân dân, người ta ru ngủ và lừa dối nhân dân bằng các ảo tưởng nguy hiểm hoặc giả trá. Với chiêu bài chính trị này, những kẻ tầm thường nhờ vào những con người tốt đẹp hơn họ để giành lấy chính thắng, những người cuồng nhiệt nhất thì vùng vẫy và đứng ra trục lợi là láu cá nhất hạng hoặc là những kẻ ít biết hổ thẹn hơn cả thì đứng ra trục lợi.

Bọn họ duy trì trong xã hội một tình trạng siêu kích động triền miên thuận lợi cho sự bùng nổ mọi loại hằn thù, oán hận, mọi loại tình cảm xấu vốn đang ngủ yên trong đám đông. Đó chính là chính trị “làm chiêu bài cho đủ điều ngu ngốc, cho mọi thứ tham vọng, và cho mọi chuyện lười nhác” như Alphonse Daudet đã nói. Chính vì thế nó trở thành “chất hòa tan cực mạnh ý thức con người”, trở thành yếu tố làm bại hoại tình cảm và phong tục. Cái thứ chính trị đó luôn luôn đi kèm với những cách thức thực thi ít nhiều được đem dùng phổ biến, bao gồm từ những lời dối trá ngu xuẩn nhất đến những dọa dẫm trơ trẽn nhất, từ các mưu mô xảo quyệt nhất đến hành động mua chuộc công nhiên nhất. Lợi ích chung, lợi ích của nhân dân, lòng ái quốc, sự hòa hợp xã hội, đó là những lời lẽ được dùng để biện hộ cho sự buông thả mọi dục vọng và mọi thói ích kỷ.

Dạng chính trị này, vốn dĩ mọi người đều có thể tiếp cận được, tự nhiên làm nảy nở mọi sự tầm thường. “Thô bạo, bất công, gây hận thù, và to mồm”, nó làm những con người có giá trị tránh xa, nhưng lại phô ra những nét hấp dẫn đặc biệt cho đám người bất tài, mưu mẹo, tham vọng, ba hoa. Sở thích này bắt đầu lan truyền trong một số giới người nước Nam. Nhưng nếu đồng bào chúng ta được tiếp xúc sâu rộng với loại chính trị này, – và dường như đó là quy luật để “tiến bộ” lên – thì chúng tôi mong muốn sự tiếp xúc để tiến bộ đó càng xảy ra muộn càng tốt.

Kết luận phải rút ra từ sự so sánh như thế giữa hai dạng chính trị là rành rành rồi. Người nước Nam có thể và cần phải làm chính trị, nhưng đó là chính trị theo nghĩa thứ nhất đã đem ra phân tích: cái chính trị của lợi ích chung đòi hỏi một sự toàn tâm toàn ý cho việc công. Ngược lại, người nước Nam phải tránh cái chính trị có xu hướng mị dân, nó ve vãn nhân dân để lừa dối nhân dân, và bất chấp thực tế, khiến nhân dân lao vào các ảo tưởng nguy hiểm và không thể thực hiện được.” (trang 312 – 317)

Bài báo ra đời vào năm 1929, thời điểm mà chính quyền phong kiến và chế độ bảo hộ của thực dân Pháp bước vào giai đoạn suy vong. Đúng 80 năm trôi qua nhưng tình trạng bài báo mô tả chẳng thay đổi là mấy ở nước ta, có phần còn tệ hơn. Lúc đó còn có những tờ báo chính thức đăng tải công khai những bài báo như thế này. Tốt hơn nữa là tác giả của chúng chẳng bị làm sao. Không những thế, 2 năm sau ông còn được triều đình Huế mời vào làm quan, giữ đến chức thượng thư (tức bộ trưởng bây giờ). Chính quyền thực dân cũng chẳng bắt tội ông chút nào vì đã dám mỉa mai đến “mẫu quốc”. Nếu Phạm Quỳnh sống vào thời nay thì chắn chắn các bài báo rất giá trị của ông sẽ bị xem là “lề trái”. Nhưng “may” cho ông là đã không “phải” sống đến bây giờ. Ngay sau cách mạng Tháng 8 ông đã bị bắt và giết chết. Một thời gian dài mấy chục năm sau đó chính quyền xem ông là phần tử xấu.

Nhờ tiến bộ công nghệ của nhân loại, người dân Việt vừa tìm thấy một không gian để bày tỏ quan điểm và mối quan tâm chính trị cho đất nước thì chính quyền nhanh nhạy cho ra thông tư quản lý blog. Cuộc sống khó khăn của dân chúng đang có quá nhiều thứ cần chính quyền nhanh nhạy nhưng các quan chức đều vô cảm với những điều ấy. Hệ thống công quyền này chỉ quan tâm đến những cái họ gọi là nhạy cảm. Ý nghĩa trong sáng của tính từ này khi nói về công chúng là để diễn tà mức độ quan tâm rất lớn của nhiều người, nhưng nó đã bị lạm dụng và chính trị hóa để ngăn chặn sự quan tâm chính đáng của người dân vào chính trị.

Xét cho cùng đó là sự hoảng sợ. Yếu thế nào thì người ta mới sợ đến như vậy.
Mùa đông tháng 1, 2009

Động Lực Cho Thay Đổi

Filed under: chính trị,Uncategorized — ktetaichinh @ 12:29 am
Tags: , ,

Trần Đông Chấn

Kính gửi anh Nguyễn Tâm – Đảng Dân Chủ Việt Nam Tôi đã đọc bản tuyên bố anh gửi cho tôi về quan điểm của đảng Dân chủ Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 2008. Tôi nhận thấy đây là một nhận thức giá trị trong đường lối hiện nay. Đại biến cố sắp diễn ra ở Việt Nam tới đây sẽ là một biến động từ sự sụp đổ niềm tin. Đó là điều không thể tránh khỏi vì nó là kết quả cuối cùng của một quá trình cầm quyền sai qui luật, trái lòng dân. Nó sẽ xảy ra, diễn tiến và kết thúc rất nhanh trong vòng 2 năm nữa vì được ngoại lực rất mạnh thúc đẩy một cách có chủ đích để lợi dụng. Mặc dù đứng trước một cơ hội để thay đổi nhưng Việt Nam cũng sẽ đối mặt với một nguy cơ rất tai hại. Lịch sử thế giới và Việt Nam cùng cho thấy những cuộc cách mạng được phát động bằng cách kích động lòng hận thù của dân chúng đều dẫn đến những sự phá hủy xã hội nặng nề. Cho dù chúng dễ dàng tạo ra sự thành công lúc phát động nhưng cũng thường đi kèm với những sự tàn phá vật chất lẫn tinh thần. Các nền tảng của xã hội không được tôn tạo tốt hơn mà còn bị xói mòn nghiêm trọng, dẫn đến những kết cuộc tồi tệ mà không tạo ra các nền văn minh mới. Những cuộc cách mạng Tháng Mười ở Nga, cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc hay cách mạng tháng Tám và cải cách ruộng đất ở Việt Nam là những ví dụ còn nguyên giá trị. Các vấn đề từ kinh tế, xã hội đến chính trị ở Việt Nam và những quốc nạn mà nó tạo ra như tham nhũng, đàn áp bất đồng chính kiến, khủng hoảng kinh tế, v.v… đã và đang xói mòn lòng tin của người dân song song với nỗi uất hận của họ đang ngày càng lớn dần. Khi có sự tác động mạnh của ngoại lực sẽ dẫn đến một sự sụp đổ nhanh chóng. Thêm vào đó, ngoại trừ tác động của thời gian thì vẫn chưa có một biện pháp nào được thực hiện để xóa bỏ những chia rẽ sâu sắc trong cuộc chiến Việt Nam; cách hành xử của phe chiến thắng sau cuộc chiến là những vấn đề chưa dễ quên với không ít người trong lẫn ngoài nước. Tất cả những yếu tố đó sẽ dễ dàng biến thành một sự biến động mạnh được dẫn dắt bởi lòng hận thù. Đó là điều mà dân tộc Việt Nam cần phải tỉnh táo để tránh. Đất nước chúng ta cần sự thay đổi, và buộc phải thay đổi. Nhưng làm sao để đảm bảo rằng sự thay đổi sẽ tốt hơn mà không bị rơi vào những vòng lặp của lịch sử là điều rất cần được quan tâm trên hết. Những sự thay đổi bởi động cơ hằn thù thì sẽ luôn dẫn tới suy nghĩ và hành động thay đổi bằng mọi giá, nếu nó gắn với động cơ lợi ích của các nhóm nhỏ được khéo léo che đậy bởi đám đông quần chúng thì thực sự là tai họa mà chúng ta đã từng chứng kiến. Mỹ và các đồng minh của họ đang sử dụng đòn “gậy ông đập lưng ông” với chính quyền hiện nay. Cộng sản đã duy trì sự tồn tại của chế độ và kiểm soát bộ máy quan lại bằng tham nhũng. Họ trả lương cho công chức rất thấp nhưng lại để rất nhiều kẽ hở cho tham nhũng. Đầu tiên người ta phải tham nhũng nhỏ vì không đủ sống đàng hoàng bằng lương, họ nghĩ đơn giản đó là những gì mà công bằng thì họ phải được do công sức của mình. Nhưng rồi lòng tham không cho họ dừng lại như thế, kẻ hỡ càng ngày càng nhiều. Dần dần hầu hết quan lại trở thành những kẻ phạm pháp nên phải ra sức bảo vệ chế độ bằng mọi giá, họ chống lại bất kỳ thay đổi nào vì sợ bị trừng phạt. Họ thực hiện bất kỳ mệnh lệnh nào của đảng Cộng sản bất chấp đạo lý, nếu không họ sẽ trở thành những con tốt bị thí. Có lẽ chính quyền Cộng sản cũng không ngờ rằng chẳng riêng họ mới biết khai thác chiêu thức này. Hơn 10 năm nay bằng chứng nhận hối lộ âm thầm được thu thập, và bây giờ chúng trở thành những công cụ cực kỳ hữu hiệu để sai khiến hệ thống quan lại ở Việt Nam. Những vụ truy tố đưa hối lộ tại Nhật và Mỹ liên quan đến quan chức Việt Nam gần đây chỉ là những vụ nhỏ để “rung cây nhát khỉ” mà thôi. Có rất nhiều những quan chức nhỏ bây giờ đã trở thành những nhân vật cao cấp mà bằng chứng nhận hối lộ và những bê bối khác “thuở nhỏ” của họ đang là những cái gót Achile bị điều khiển. Đến khi cục diện đã được khống chế thì một vài vụ truy tố hối lộ đình đám hơn sẽ được công bố – giọt nước sẽ tràn ly, niềm tin của dân chúng sẽ sụp đổ hoàn toàn. Xã hội Việt Nam đang rất mong manh, dưới bề mặt có vẻ bình lặng của nó là những cơn sóng ngầm của u uất và hằn thù do bất công lâu nay và sự kích động thù hận trước đây tạo ra. Hơn lúc nào hết, cần phải nhanh chóng hình thành những động lực tích cực vì quyền lợi của cả dân tộc để dẫn dắt những biến động theo hướng tạo ra sự phát triển bền vững cho đất nước. Nếu không có những động lực như vậy thì theo lẽ tự nhiên, những biến động này sẽ được kích động bằng sự thù hận và dễ dàng bị lợi dụng để phục vụ cho những thế lực khác mâu thuẫn với quyền lợi dân tộc. Trong lịch sử của thế giới, những cuộc cách mạng thành công và gắn liền với việc tạo ra những nền văn minh mới cho nhân loại đều không có ảnh hưởng của sự thù hằn và gắn liền với những động lực thực sự nhân văn. Cuộc cách mạng tư sản ở Anh (1640) là một minh chứng như vậy, nó được dẫn dắt bởi tầng lớp tư sản mới vì nhu cầu phát triển thực tế của xã hội Anh thời bấy giờ, họ không giết vua để trả thù khi nắm được chính quyền. Nó còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi những tiến bộ khoa học kỹ thuật vì lợi ích của con người, từ đó dẫn đến một cuộc cách mạng công nghiệp rộng lớn trên toàn thế giới, tạo ra nền tảng thay đổi cơ bản những suy tưởng tư duy mới của nền văn minh nhân loại. Như đã nhiều lần trao đổi với anh, dân chủ ở Việt Nam hiện nay cần được xác định là mục tiêu và phương tiện để xây dựng một xã hội văn minh và thịnh vượng cho toàn dân, chứ chưa thể là động lực cho một sự thay đổi. Dân chủ là nền tảng vững chắc của xã hội, thiếu dân chủ sẽ không có sự phát triển và thịnh vượng bền vững. Nhưng dân chủ tự thân nó không thể tạo ra sự phát triển thịnh vượng. Dân chủ là điều kiện cần, rất cần nhưng không phải là điều kiện đủ. Nhiều nước đã có nền dân chủ lâu rồi nhưng vẫn nghèo, thậm chí rất nhiều nơi dân chủ còn bị lợi dụng để phục vụ cho quyền lợi của một thiểu số nhỏ. Chỉ khi nào xã hội có sự chuyển biến mạnh mẽ trong điều kiện sinh tồn và suy tưởng hoàn toàn mới thì mới tạo ra được một sự đột phá trong phát triển kinh tế lành mạnh- đây chính là điều kiện đủ. Sự phát triển kinh tế như vậy nếu được nuôi dưỡng trong một môi trường chính trị dân chủ thì sẽ tạo ra một xã hội phát triển hài hòa giữa vật chất và tinh thần một cách công bằng cho dân chúng. Chính những thành quả này sẽ trở thành những nhân tố rất quan trọng để duy trì dân chủ và đảm bảo một nền dân chủ thực chất. Thiếu những điều này thì dân chủ sẽ không bền vững hoặc chỉ là giả hiệu mà thôi. Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, công nghệ thì lạc hậu; nền kinh tế thì lệ thuộc; môi trường bị hủy hoại; giáo dục thì xuống cấp trầm trọng, việc tìm ra những thế mạnh cốt lõi từ những yếu tố này để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ và động lực tích cực cho sự thay đổi từ những biến động sắp tới quả thật là một thách thức rất lớn, khó tìm ra lời giải. Tuy nhiên, những lợi thế của thiên nhiên và tạo hóa ban tặng cho mảnh đất và con người Việt Nam; những đặc tính văn hóa của dân tộc được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử chính là những thế mạnh cho đất nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay. Vấn đề văn hóa từ trước đến giờ thường được đề cập một cách thụ động như cảnh báo các nguy cơ của văn hóa du nhập, làm sao để bảo vệ văn hóa không bị tấn công, cần có các biện pháp bảo hộ văn hóa, v.v… Ít có những cách tiếp cận chủ động để khai thác văn hóa như một sức mạnh tạo ra động lực phát triển của cả một dân tộc, quốc gia. Bản tính trời cho dân tộc Việt Nam là ôn hòa và thân thiện, không thích suy tư tranh cãi về triết học hay các lý thuyết chính trị. Điều này dẫn hướng đến một tầm nhìn lớn về chiến lược giao thoa văn hóa và giao lưu kinh tế giữa đông và tây. Đây thực sự là lợi thế về đặc tính của con người Việt Nam trong việc hấp thụ rồi tạo nên những thành tựu văn hóa và kinh tế mới thông qua sự tương hợp với bất kỳ nền văn minh nào trên thế giới mà không tạo ra những mâu thuẫn và xung đột về văn hóa, sắc tộc và tôn giáo. Việt Nam là nước có nền văn hóa và tiếng nói phương đông nhưng lại có chữ viết theo kiểu phương tây, đó chính là những di sản do lịch sử tạo lợi thế cho dân tộc ta trong một môi trường đa phương toàn cầu của hệ thống quốc tế mới đang hiện hữu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong một bối cảnh thế giới đang nhiều biến động như hiện nay, xu thế hình thành đa cực để chống lại sự đơn cực cộng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung quốc và Ấn Độ, sự không chịu thua của Nga chắc chắn sẽ làm nảy sinh thêm nhiều xung đột cả về quân sự lẫn văn hóa, sắc tộc và tôn giáo. Sự xuất hiện một nơi cân bằng về kinh tế, văn hóa và chính trị sẽ rất cần thiết để duy trì sự ổn định cho thế giới. Và đương nhiên, nơi cân bằng đó sẽ được hưởng lợi rất lớn. Việt Nam là một mảnh đất lành, có đầy đủ những ưu điểm về con người và lịch sử cũng như giá trị của vị trí trung tâm trong vùng châu Á Thái bình dương, cũng là giao điểm của đông và tây để trở thành một nơi cân bằng như vậy. Dẫn hướng này cũng sẽ mở ra một khả năng đột phá để giải quyết vấn đề tranh chấp biển đông và bảo vệ lãnh thổ. Thụy Sĩ đã tránh được các cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu và phát triển thanh bình là nhờ làm “túi tiền” của bất kỳ phe nào. Việt Nam có thể biến mình trở thành cái “chợ” của bất kỳ nước nào. Người dân cần được định hướng và tạo động lực để xây dựng những cái mới tốt hơn thay thế dần cho những cái cũ. Động lực của sự hận thù dễ dàng dẫn đến sự đập phá những cái cũ trước khi cái mới có thể hình thành và phát triển. Ngay cả vấn đề tham nhũng cũng cần có cách nhìn khoan dung với quá khứ của nó để triệt tiêu những động lực chống đối sự thay đổi. Tham nhũng ở Việt Nam phát triển phức tạp đến mức nó vừa là nhân mà cũng vừa là quả. Cần nhìn nhận nó như một vấn đề chính trị và lịch sử để tạo ra được những giải pháp tích cực từ đó. Tôi hẹn sẽ trao đổi sâu hơn với anh về vấn đề này vào một dịp khác.

Next Page »

Blog at WordPress.com.