Ktetaichinh’s Blog

November 10, 2010

BIÊN BẢN HỘI THẢO KHOA HỌC HỘI KHOA HỌC KINH TẾ VN và TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO KINH TẾ-XÃ HỘI QUỐC GIA (Chưa được chỉnh lý)

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:59 pm
Tags: , ,

 

Chủ trì: GS Trần Phương, Chủ tịch Hội KHKTVN

Khai mạc: 8 h 30, ngày 7-10-2010

Thành phần: Hội KHKT – XH QG

Một số thành viên Tổ Biên tập Cương lĩnh

Một số cán bộ nghiên cứu (được mời): GS Trần Phương – nguyên phó Thủ tướng Chinh phủ ; Vũ Khoan – nguyên phó Thủ tướng Chính phủ ; PGS Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện kinh tế ; GS Phan Văn Tiệm – nguyên thứ trưởng Bộ Tài chính ; Việt Phương – nguyên Thư ký cố vấn của cố Thủ tướng Phạm văn Đồng ; Dương Thu Hương – nguyên phó Thống đốc Ngân hàng ; GS Đào Xuân Sâm – nguyên Trưởng bộ môn Quản lý kinh tế trường Nguyễn Ái Quốc; PGS Võ Đại Lược – nguyên viện trưởng Viện Kinh tế Thế giới …

Nội dung: Góp ý cho các Dự thảo Văn kiện Đại hội XI của Đảng.

1 – GS Trần Phương: Đề nghị nói ngắn, nói rõ: muốn sửa điều này, bổ sung điều kia thôi, không cần giải thích vì mọi người đều đã đọc, đã biết cả. Nói ngắn để nhiều người được nói, và nghe đươc ý kiến của nhiều người.

 

2 – GS Đào Công Tiến: Không nên giữ “kim chỉ nam” như cũ. Phải coi cái đúng ở mọi thuyết đều là nền tảng tư tưởng.

Cần nhận thức lại CNXH, CNXH như cách hiểu chính thống, ngòai khẩu hiệu “Dân giàu nước mạnh.” như mục tiêu thì được; nhưng 3 đặc trưng ở mô hình trong đó Đảng CS toàn trị, đấu tranh giai cấp, …thì cần thay bằng một mô hình văn minh hơn. Ở đó, dân quyền, pháp quyền phải là tối cao. Hiện nay cần tăng cường tư tưởng khoan sức dân (như Di chúc của Bác Hồ).

Các giải pháp đột phá: phải nhằm vào cải cách chính trị (chứ không chỉ kinh tế).

 

3Ông Việt Phương: Nay người ta không quan tâm góp ý vào văn kiện, vì cho rằng ĐH nào cũng chủ yếu là vấn đề nhân sự thôi. Về văn kiện, có 5 ý sau:

Qúa dài, rất trùng lắp

Đã có một số chủ trương đúng, mới đã được ghi nhận trước đây. Không được tước bỏ đi. Phải đưa trở lại + nhiều cái mới nữa. Những cũ kỹ, lạc hậu, sai lầm quay lại nhiều quá.

Rất nhiều điều chỉ có thể là dự báo khoa học lại coi là chủ trương, Ví dụ: Đến giữa thế kỷ XXI VN thành thế này, thế kia.

–    Giữa các văn kiện không có tư tưởng thống nhất

–    Văn kiện bị tụt lùi xa so với ĐH 9,10.

Nếu có thể sửa chữa ti nào thì tốt. Hoặc nên có một Nghị quyết mới, khác. Chỉ nên 10-15 trang, chủ trương tinh túy thôi.

 

4 – Ông Nguyễn Trung:

Văn kiện chưa rõ vấn đề giải phóng con người, mà còn chưa thống nhất được dân tộc về ý chí, về con đường đi.

Nhận định về quốc tế, về các nước XHCN và tình hình đất nước sai. Nên bỏ đi!

Nên có một Nghị quyết khác với các vấn đè chính là:

– PTBN: nên ghi rõ thành 1 chủ trương + chương trình hành động cụ thể. Thủ tướng đã có một bài viết về v/đ này rồi.

– Quan hệ đối ngoại, nhất là đối với TQ: phải rõ quan điểm.

– Cải cách thể chế chính trị thành một vấn đề bức xúc, không giải quyết không phát triển được. Phải xây dựng Hiến pháp mới.

 

5 – PGS Võ Đại Lược:

Đồng tình với các ý kiến trước. Lẽ ra Hôi thảo phải có người lãnh đạo nghe.

Ta đang sống trong thời đại thế giới đại điều chỉnh, nhưng Văn kiện không ghi nhận được điều này.

Đánh giá sai nhiều lắm. Ví dụ: Sụp đổ của XHCN là tổn thất, vậy không phải là thời cơ à?

Định nghĩa về CNXH; Công hữu là chủ đạo? thật là vô lý, có hại cho đổi mới! Doanh nghiệp Nhà nước là chủ đạo, nền tảng của kinh tế nhà nước, chỗ này là phi XHCN nhất, nguy hiểm quá.

Ngoài chủ trương công hữu và Đảng CS lãnh đạo chả khác gì phương Tây.

Vấn đề hoàn thiện thể chế ghi trong Văn kiện lại không có định hướng, trở nên vô nghĩa.

Phải có thí nghiệm thể chế, nên xây dựng đặc khu kinh tế.

Tóm lại: Các Văn kiện hiện quá lạc hậu so với thời đại.

 

6 – TS Nguyễn Mại:

– Có 3 chỉ tiêu cần thay đổi; thu ngân sách 26% (quá cao), 5 năm qua thu 28% ; điều chỉnh tổng đầu tư XH/GDP: 42% (quá cao), chỉ nên 35% thôi; thu thuế qua hải quan là hơn 30%. Rất phi lý! Phải tăng thu trong nước, giảm thu hải quan. Các nước thu trong nước tới 90%.

–  Phải khoan sức dân. Cần cải cách thuế một cách cơ bản, triệt để.

–  Đề nghị phải làm rõ PMU 18, Vinashin,

–  Đột phá 3 lĩnh vực nêu trong Văn kiện thì không phải là đột phá. Phải đột phá Tư duy!

–  Đã đến lúc phải đổi mới hệ thống chính trị, phải phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng của nhà nước. Quốc hội hiện chưa phải là cơ quan lập pháp!

Tôi nghĩ vấn đề Đảng có thật sự muốn nghe hay không?

 

7 – Ông Vũ Khoan:

Tiêu chí thực hiện công nghệ hoá như thế nào? Nhưng trong điều kiện phải hiện đại hoá, chứ không chỉ công nghệ hoá.

– Xử lý những bất ổn trong kinh tế vĩ mô; thâm hụt ngân sách, nhập siêu quá cao;

– Hoàn thành đầy đủ cái nền tảng hay là xây dựng mới?

– Tình hình quốc tế khó khăn hơn trước; sau khủng hoảng người ta thay đổi cả, ta không rõ;

– Nhân tố TQ; chưa tính hết và chưa đúng vấn đề dùng nhân dân tệ làm phương thức thanh toán.

Về mô hình phát triển: Văn kiện trình bày chưa rõ (chưa hình thành được mô hình phát triển cho 10 năm tới ).

Vấn đề đột phá (bây giờ thành mốt rồi): nên đưa nguồn nhân lực lên đầu tiên. Trong nhân lực quan trọng nhất là vấn đề người lãnh đạo. Gíáo dục chưa biết là đi theo hướng nào?

Thể chế: Phải đặt vấn đề về thể chế quản trị quốc gia.

Góp ý chỉ ta là với nhau chăng? Dân có biết gì đâu? Đại hội Đảng bộ các cấp cũng có đóng góp gì đâu Văn kiện thiếu vấn đề giải pháp, không biết làm thế nào để thực hiện những ước muốn kia?

 

8 – Ông Vũ Quốc Tuấn:

Văn kiện không phản ánh được cuộc sống. Phải đưa cuộc sống vào Nghị quyết. Đổi mới chính trị chưa theo kịp đòi hỏi, đang cản trở.

Xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của Đảng: Lãnh đạo là ai? Ai cho anh quyền lãnh dạo? Chính quyền thì ỷ lại Đảng, cái gì cũng đợi để Thường vụ bàn!

 

9 – PGS Trần Đình Thiên:

25 năm qua, điều ta đạt được là nhờ chuyển sang thị trường chứ không phải là do định hướng xã hội chủ nghĩa. Gắn chủ nghĩa xã hội với thị trường như thế nào không rõ. Bây giờ thế nào là chủ đạo?

 

10 – TS Lê Đăng Doanh:

Cần kiểm điểm lại các nhiệm vụ ghi trong ĐH 9, 10

Có một số việc không làm.ví dụ: Luật về Hội, Luật về quyền tiếp cận thông tin, Luật Hiến pháp, vv…Tại sao Đảng lại không thực hiện nghị quyết đại hội Đảng?

Vậy sắp tới có quy chế gì không?

Đổi mới thể chế phải là then chốt! Phải ngăn chặn lợi ích nhóm, kiểm soát sự lãnh đạo của Đảng. Cần có luật về sự lãnh đạo của Đảng.

Thể chế là vấn đề sống còn. Đảng phải đổi mới, phải được giám sát.

Tình hình kinh tế vĩ mô và kinh tế thế giới không giống như trong Văn kiện.

Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta mà không lừa được thực tiễn đâu.

Các nước xung quanh cải cách rất nhanh.Ở ta có 3 vấn đề bức thiết: Thể chế, lợi ích nhóm, vận hành quyền lực tùy tiện không thể không giải quyết.

 

11. GS Nguyễn Đình Hương:

Tôi vẫn hy vọng đóng góp của ta đến được TW.

Các văn kiện còn mâu thuẫn. Ví dụ như nội dung nói về cơ cấu còn khác nhau. Vậy cần có sự thống nhất về thuật ngữ giữa các văn bản.

 

12. GS Lê Du Phong:

Tôi có 4 nhận xét:

Tư duy lý luận lạc hậu, mâu thuẫn, Xa rời thực  tiễn; thụt lùi so với ĐH trước; Vấn đề công hữu, kinh tế nhà nước là chủ đạo, bình đẳng mọi thành phần là những vấn đề nổi cộm.

Lòng tin của dân đối với Đảng, với chế độ giảm.

Xem thường lịch sử; Nói CNXH là điều kiện để độc lập. Các triều đại trước có CNXH đâu mà vẫn độc lập.

Không gắn với thời đại, xem thường thiên hạ.

Nếu cứ thế này, đến năm 2020 chắc chắn sẽ tụt xa so với các nước.

Hungari: 2001: 5000 USD/ người; năm 2998: 15000 USD/người, họ nhanh hơn ta nhiều.

Đột phá: Đầu tiên là đổi mới hệ thống chính trị vì đang là vật cản.

 

13 – GS Trần Phương:

Hiện nay ta thích nói một cách, làm một cách khác. Ta nói chủ nghĩa Mác-LêNin, nhưng nó là cái gì mà bảo nó là nền tảng? Ta có làm theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác không? Đổi mới của ta thực chất là “ thụt lùi”; thừa nhận cả kinh tế tư nhân …   Mác đã sai khi dự kiến về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Ta giả vờ theo Mác, vì nói vậy nhưng đã làm khác đi rồi.

Đổi mới là so với cái đã sai trong 20 năm trước!

Mác nói: triệt tiêu chế độ tư hữu, thế là sai! Vì mất động lực (giống nhận xét của Victo Hugo về Mác). Vậy: chủ nghĩa xã hội là gì? Có ai trả lời được không?

Ta nói và ta biết là ta đang bịp người khác! Nhưng “Người ta chỉ có thể lừa bịp được vài người trong mọi lúc, lừa được mọi người trong vài lúc, nhưng không thể lừa được mọi người trong mọi lúc!” (Abraham Lincoln).

Vậy, viết thế nào thì viết, nhưng đừng đao to búa lớn quá.

Mác mới là phác thảo, dự báo về xã hội tương lai chứ có phải nguyên lý, kinh thánh đâu? Liên Xô cũng từ chối xã hội chủ nghĩa đấy chứ!

Không thể nói kinh tế nhà nước là chủ đạo được, nhiều nhất chỉ là nòng cốt thôi. Nói thế là sai với thực tế. Có sử dụng quả đấm thép nào đâu?

Phải xác định rõ chủ nghĩa xã hội là gì? Định hướng nó là gì?  Chủ nghĩa Mác-Lê nin có điều đúng, có điều sai rồi! Vậy thì phải xem trong đó có cái gì là nền tảng chứ. Bây giờ có đến 6,5 tỷ người, đến nước sạch cũng bị thiếu rồi, đánh nhau vì nước uống. Cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã là ảo tưởng rồi.

Tôi nói với ông Đỗ Mười, ông Phạm văn Đồng là đến cuối thế kỷ XXI này, con cháu chúng ta mới bắt đầu nghĩ đến chủ nghĩa xã hội

Tóm lại, cương lĩnh viết không rõ ràng.Chiến lược cũng nhiều điều không rõ ràng.

Nông dân còn chiếm đa số. Đầu tư cho nông nghiệp quá thấp, suốt cả 30 năm nay. Đê đập không tốt, hệ thủy nông, hồ chứa nước … Sắp tới ta 100 triệu dân, nuôi số này như thế nào? Đảng này, Chính phủ này muốn ổn định phải lo đến nông dân. Phải sửa chỗ đầu tư bất cập vào nông nghiệp.

Phân cấp quản lý 10 năm qua là sai. Vì biến thành rất nhiều “vương quốc”!

Tỉnh nào cũng có xi măng, sân bay, nhà máy thép, cảng biển …đầu tư nham nhở. 15 khu kinh tế, làm gì có tiền mà làm 15 khu kinh tế.

Tổ chức quản lý các DNNN sai! Nhật chỉ có MITI, nhưng dưới nó là các tập đoàn tư nhân lớn. Ta thì Bộ không làm quản lý, sửa chữa, đi quản DN, làm sao quản nổi?

Tài sản toàn dân ai quản? Phải xử lý vấn đề này như thế nào? Như vậy, cơ chế quản lý không rõ ràng, phải sửa!

Thể chế: Loài người đi đến chỗ Dân chủ. Nhưng thế nào là Dân chủ?

Nhất định phải đến chỗ Dân chủ + Pháp quyền.

Đảng quyết mọi thứ mà lại không chịu trách nhiệm gì. Thế mới chết chứ.

Không phải chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà cả quan điểm tư tưởng đấy.

Viết rằng 2020 thành nước công nghiệp mà có 3000 USD/người là bịp dân. Nước công nghiệp mà có 3000 USD/người thôi à! Vậy mục tiêu không rõ ràng và không đúng.

Cương linh cũng không chỉ cho biết cần làm gì. 3 cái đột phá không phải là đột phá. Không đột phá vẫn phải làm 3 cái đó.

Cương lĩnh và văn kiện đều theo tinh thần chúng ta quyết làm tất cả. Thành ra chúng ta không làm gì cả. La liệt, đủ thứ ; không thể góp ý gì được, không biết làm gì để tiến lên.

14 – Ông Nguyễn Trung (lần 2)

Nên lưu ý kiến của TS Lê Đăng Doanh. Đừng say mê về chuyện tăng trưởng con số, vì có thể vì nó mà sụp đổ.

Kiến nghị: Kinh tế nhà nước chủ đạo là thế nào? Cần định nghĩa rõ. Có phải làm những cái tư nhân không được làm không? Đề nghị bỏ hẳn cái phần làm trái nghề đi. Bỏ hẳn phần bao cấp quyền, bao cấp vốn, mà chỉ còn dịch vụ công.

Vấn đề phụ thuộc vào Trung Quốc, rất nguy hiểm. Toàn bộ xuất siêu của ta đập vào nhập siêu của Trung Quốc mà không đủ. Nếu Trung Quốc chỉ dùng Nhân Dân tệ để buôn bán khu vực thì ta nguy.

Nhân sự: Tổng Bí thư phải gương mẫu thực hiện công khai minh bạch; nên có chương trình hành động, có cam kết; có một tổ chức giam sát việc thực hiện cam kết.

 

15 – GS Đào Xuân Sâm:

Tại sao Văn kiện lại ngổn ngang thế.

Trong hành trang của Đảng đừng nên nói CN Mác-Lênin vì ta không có nguyên bản, chỉ có du nhập. Hành trang đó bây gìờ vẫn mang vào ĐH XI. Nên xem lại trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cương lĩnh thất bại, tuyên truyền thất bại. Lý luận chính trị chưa bao giờ suy đồi như bây giờ. Học viên bây giờ phải học cưỡng bức 3 chứng chỉ.

Trong khu vực DNNN không tìm thấy động lực nối tiếp. Ngổn ngang quá. Gỉả dối quá. Thật là bi kịch.

Cảnh ngộ của Đảng ta từ sau Đại hội  XI  bắt đầu bước vào suy đồi. Không loại trừ khả năng Dân tộc phải chịu đựng nhiều năm.

Sửa gì? Nên tập trung vào Đảng, Nhà nước, khu vực công.

 

16 – GS Phan Văn Tiệm:

Tôi chia sẻ với tất cả các ý kiến đã nói, rất tâm đắc. Văn kiện ít tinh thần, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nên viết lại Cương lĩnh. Cụ Hồ rất ít nói về chủ nghĩa xã hội.

Phong trào cộng sản quốc tế rất tả khuynh, biểu hiện rõ nhất là căm thù tư hữu. Sức sống của chế độ tư hữu lớn lắm.

Từ nay từ bỏ chủ đạo. Không nên lập ra các tập đoàn kinh tế, vì đó là sân sau của quan chức.

 

17 – Bà Phạm Chi Lan ;

Cảm nhận chung của các địa phương giống như các anh vừa nói. Mọi người ngạc nhiên hỏi rằng: “Bây giờ viết vậy, họ tin thế thật à?”.  Dân còn tin Đảng như tôi nói đây? Toàn là giả dối cả. Cộng đồng quốc tế người ta cũng có tâm trạng như vậy.

Người ta bình luận, Triều Tiên dại quá! Lại đưa ông Kim con 27 tuổi lên đại tướng. Khôn ra thì luân chuyển một chút rồi hãy lên!

Nếu đưa cái Cương lĩnh Chiến lược này ra mà thông qua thì sẽ ra sao đây?

Qủa đấm thép không đấm vào đối thủ mà lại đấm ngay vào chính ta.

Còn 2 “Vinashin” nữa, tình trạng không khác gì Vinashin, rất nguy hiểm.

Nợ công trầm trọng quá.

Cải cách hệ thống chính là nút thắt phải gỡ.

 

18 – Bà Dương Thu Hương

Văn kiện thì không có gì mới về nhận thức lý luận, không sát thực tiễn, cái cũ không sửa được, vậy thì sẽ đi đến đâu?

Định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường, của công nghiệp hoá là gì mà cứ phải có cái đuôi ấy?

Dân Chủ thì ở đâu cũng giống nhau; dân được nói mới là Dân Chủ.

Đảng vẫn đặt Dân tộc sau giai cấp, Cương lĩnh như thế không tập hợp được lực lượng.

GDP 2005 khác 2010 về giá nên không rõ có thật phát triển không?

Dự thảo Văn kiện đánh giá: “Dân chủ trong Đảng được mở rộng”. Tôi nghĩ trong Đảng là mất Dân chủ nhất. Đại biểu Quốc hội là đảng viên thì phải hy sinh quyền lợi của cử tri, chỉ vì vị trí của đảng viên.

Hầu như không có nhận định nào trong Văn kiện là đúng sự thật thực tiễn.

An ninh quốc phòng: tôi đang rất lo sợ. Bau xit Tây Nguyên, cho thuê rừng, lao động nước ngoài …không được giải quyết dứt điểm. Trong các báo cáo đề cập rất mờ nhạt.

Niềm tin của dân với Đảng giảm sút thì trách nhiệm của Đảng đến đâu? Liên Xô đổ vì dân không còn tin Đảng.

Phần viết về nguyên nhân: đánh giá rất sơ sài và đổ cho khách quan.

Tất cả yếu kém trên mà chỉ nói BCH TW xin tự phê bình,…; nói thế quá nhẹ nhàng; mà không nhận khuyết điểm, nhận trách nhiệm.

Phương hướng Phát triển đất nước thì thiếu giải pháp.

 

19 – TS Lưu Bích Hồ

Tôi đánh giá rất cao Hội thảo này, vì rất thẳng thắn, cởi mở. Tôi rất chia sẻ các ý kiến các anh các chị hôm nay.

Nhưng nói mãi mà vẫn không vào được Văn kiện.

Có lẽ cần có ngọn cờ của đổi mới thì mới vào Văn kiện được.

Tôi nghĩ đất nước ta chưa bao giờ dân trí cao như bây giờ. Nhưng trình độ lãnh đạo thì khó xác định.. Họ hiểu biết mà không nói ra. Dẫu sao, nói chung trình độ trí tuệ thì chưa bằng bên ngoài. Đây là nguyên nhân làm cho cuộc sống không vào được Văn kiện.

Vậy có thể thay đổi được không? Tôi còn một chút hy vọng.

Đề nghị anh Trần Phương giảng lại cho các đ/c TW hiểu thế nào là công hữu, vì trước anh đã giảng cho họ làm như hiện nay. Nay anh cần giảng lại cho họ.

Đề ngị bỏ DNNN là chủ đạo ; thừa nhận Xã hội Dân sự và phát triển Xã hội Dân sự.

Bây giờ tình thế và ngọn cờ không giống như hồi ĐH 6.

Nền tảng của xã hội ta là gì? Tôi xin hỏi ý kiến các anh? Đảng có dựa vào công nhân không? Có dựa vào nông dân không? Tôi nghĩ không. Vậy dựa vào cơ sở nào? Có dựa vào trí thức không? Cũng không nốt!

Vậy có phải doanh nhân? Mà doanh nhân lại chỉ là các DNNN ư? Phải viết lại, đánh giá lại chỗ này trong văn kiện.

Thế giới bao giờ cũng phải dựa vào trí tuệ, nên phải dựa vào trí thức và doanh nhân. Nhưng lại mâu thuẫn với điều lệ Đảng!

Nếu không kịp sửa, đề nghị không thông qua Cương lĩnh! Để lại sau.

 

20 – PGS Võ Đại Lược (lần 2)

Còn một vấn đề chưa nói đến là công tác cán bộ. Tình trạng mua quan bán chức lộ liễu, công khai, hết sức nguy hiểm. Thị trường quan chức bóp chết tất các thị trường khác.

Cơ chế tuyển dụng, tuyển chọn cấp cao như thế nào? Không công khai minh bạch.

Người lãnh đạo ở các cấp không có chịu trách nhiệm gì cả với quyết định của mình. Bộ giao thông, Bộ xây dựng … cầu đổ, nhà đổ , không thấy nói gì về trách nhiệm cả. Một đất nước như vậy thì không mong đợi gì!

 

21 – GS Vũ Huy Từ

Tôi rất nhất trí với tất cả các ý kiến từ sáng đến giờ. Chưa bao giờ vấn đề nghiêm trọng như bây giờ. Dân không còn tin Đảng như trước nữa. Không ai quan tâm nữa.

Xin lưu ý: trong Dự thảo có câu: Nhà nước tập trung xây dựng đường bộ + đường sắt cao tốc Bắc – Nam. Có nên đưa vào không?

22 – GS Trần Phương (lần 2) :

Tư tưởng trong Đảng không rõ ràng. Có nguyên nhân của nó đấy. Trước đây có Nghị quyết của ĐCS và CN quốc tế (1957 và 1960), xem đó là những quy luật và dựa vào đó, người ta khai trừ Nam Tư ra khỏi các Đảng CS.

Cương lĩnh 1991 vẫn y như quan điểm chung của hệ tư tưởng cũ. Chưa có đổi mới gì cả. Vì chưa kiểm điểm lại hệ tư tuổng cũ.

Hội đồng Lý luận TW có bao giờ ngồi lại nghĩ xem Mác có cái nào đúng, cái nào sai không? Lê nin cũng vậy! Ví dụ: tư tưởng cách mạng không ngừng.

Cương lĩnh đầy dẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói XHCN mà không biết nó là cái gì?  Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa dối người khác. Phải sửa!

Nhưng ai sửa?

 

Kết luận:

Các nhà kinh tế học thảo luận về Dự thảo Văn kiện, nhưng thực tình không nhằm vào sửa Văn kiện. Ta chỉ chuyển cho Ban Văn Kiện, họ có sửa hay không là việc của họ. Trách nhiệm của nhà nghiên cứu là nói trung thực, thẳng thắn, với tinh thần xây dựng, mong muốn Đảng mạnh lên, đất nước mạnh lên.

Dù không được chấp nhận, nhưng ít ra cũng lưu vào văn bản, lưu lại hậu thế rằng năm 2010 có một số nhà kinh tế đã nói như vậy, để hậu thế biết rằng, hóa ra đất nước cũng còn những trí thức không đến nỗi dốt nát./.

Advertisements

May 27, 2010

Sẽ đổi mới đồng bộ hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:20 pm
Tags:
Cập nhật lúc : 2:44 PM, 26/05/2010
Ảnh minh họa.

(eFinance) –  (Tạp chí Tài chính Điện tử số 82 ngày 15/4/2010) – Năm 2009 vừa qua được ghi nhận với những nỗ lực của ngành thống kê trong việc hoàn thành nhiệm vụ công tác đảm bảo thông tin thống kê phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan Đảng và Nhà nước như: Tổ chức thành công cuộc điều tra dân số và nhà ở năm 2009, thực hiện tốt chế độ báo cáo thống kê, biên soạn và phổ biến thông tin thống kê cung cấp cho xã hội và người sử dụng thông tin qua các ấn phẩm thống kê, các phương tiện thông tin đại chúng, qua webstie…

Bên cạnh đó, công tác phân tích dự báo thống kê của ngành đã có nhiều bước chuyển biến tích cực, các dự báo thống kê đã được Đảng và Chính phủ tham khảo sử dụng để chỉ đạo, điều hành nền kinh tế, được các cấp, các ngành coi như một kênh thông tin quan trọng để tham khảo và nghiên cứu.

Tuy nhiên, với những yêu cầu từ thực tế phát triển của nền kinh tế đất nước trong xu thế hội nhập với thế giới, một nhiệm vụ “đột xuất” nhưng hết sức quan trọng được đặt ra cho ngành Thống kê là xây dựng và trình Chính phủ Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê (bao gồm 353 chỉ tiêu, trong đó có hơn 20 chỉ tiêu của ngành Tài chính).

Vì sao cần đổi mới hệ thống chỉ tiêu thống kê?

Trải qua các thời kỳ hình thành và phát triển, nhất là trong những năm đổi mới gần đây, ngành Thống kê đã có những nỗ lực trong việc hoàn thiện phương pháp chuyên môn nghiệp vụ và đã đạt được kết quả quan trọng:

– Sự chuyển đổi hệ thống phương pháp luận thống kê từ Hệ thống bảng cân đối vật chất (MPS) nặng về phản ánh chỉ tiêu hiện vật sang áp dụng Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) có sự kết hợp hài hoà giữa giá trị và chỉ tiêu hiện vật là một trong những tiến trình đồi mới nhanh chóng của ngành thống kê;

– Kết hợp các hình thức thu thập thông tin thống kê như: Chế độ báo cáo thống kê, điều tra thống kê, khai thác các hồ sơ đăng ký hành chính là các hình thức thu thập thông tin phù hợp đối với nền kinh tế nhiều thành phần;

– Từng bước triển khai có hiệu quả việc ứng dụng thành tựu CNTT và truyền thông nhằm nâng cao năng lực công tác thống kê;

– Hệ thống các sản phẩm thống kê tiếp tục được hoàn chỉnh và phố biển ngày càng trở thành các nguồn thông tin chính thống được các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế tin cậy, thống nhất sử dụng và đánh giá cao.

Tuy nhiên, công tác thống kê vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, số lượng và chất lượng thông tin thống kê tuy đã được nâng lên, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng kịp tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước: Hệ thống chỉ tiêu thống kê chưa được xây dựng hoàn chỉnh và đồng bộ; Quá trình đổi mới công tác thống kê chưa được tiến hành đồng bộ ở tất cả các khâu thu thập, phân tích, phổ biến và lưu trữ thông tin thống kê, chưa tạo lập đồng bộ, sự phối hợp, trao đổi và chia sẻ thông tin giữa hệ thống thống kê tập trung và thống kê Bộ, Ngành, thống kê địa phương…

Vì vậy, yêu cầu phải đổi mới, hoàn thiện công tác thống kê, mà trước hết là xây dựng một hệ thống thông tin thống kê quốc gia thống nhất, thông suốt và hiệu quả sẽ cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin thống kê phân tích, đánh giá tình hình kinh tế – xã hội phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước cũng như từng Bộ ngành, địa phương.

Những nội dung đổi mới:

Đổi mới đồng bộ hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm: Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành; Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã hình thành tổng thể các hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất. Quá trình này phải đặt trong tổng thể đổi mới toàn diện các hoạt động thống kê; phải thực sự trở thành cơ sở quan trọng để xây dựng Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2025.

Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải giữ vững các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê đã được quy định trong Luật Thống kê và phải đáp ứng được các yêu cầu phát triển của đất nước, đồng thời thể hiện sự chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng với thống kê quốc tế. Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải gắn liền với đổi mới các hoạt động thống kê, hoàn thiện tổ chức, đảm bảo nguồn nhân lực, môi trường, pháp lý, cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện khác để triển khai thực hiện kịp thời có hiệu quả các nội dung đổi mới.

1. Đổi mới, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia theo hướng: (a) Tăng cường các chỉ tiêu thống kê phản ánh chất lượng hiệu quả của sự phát triển, sức cạnh tranh của nền kinh tế và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các chỉ tiêu đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái; (b) Phải đảm bảo tiêu thức phân tổ các chỉ tiêu thống kê chi tiết theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế; (c) Phân công trách nhiệm thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu quốc gia phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quản lý của Bộ, ngành và chức năng, nhiệm vụ của hệ thống thống kê tập trung, tránh trùng lặp, chồng chéo.

2. Xây dựng và ban hành đầy đủ Hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ, ngành: Hệ thống chỉ tiêu thống kê của mỗi Bộ, ngành phải đáp ứng yêu cầu quản lý của Bộ, ngành, đồng thời phải là một trong những nguồn cung cấp thông tin đầu vào quan trọng của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và đáp ứng nhu cầu thông tin của tổ chức, cá nhân khác.

3. Xây dựng và ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã: Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã sẽ trở thành mộ trong những nguồn cung cấp thông tin đầu vào quan trọng của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Hệ thống chỉ tiêu thống kê của mỗi Bộ, ngành. Mặt khác, phải đáp ứng yêu cầu thông tin thống kê phục vụ các cơ quan Đảng và chính quyền các cấp ở địa phương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, giám sát và đánh giá tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn.

4. Nội dung của Đề án  đổi mới cũng đề cập tới các nội dung khác như: Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê; Hoàn thiện các hình thức thu thập thông tin đầu vào giữa các hệ thống chỉ tiêu thống kê; Đổi mới và hoàn chỉnh chuyên môn nghiệp vụ thống kê một cách đồng bộ; Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê.

Như vậy, Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê sẽ làm cơ sở tiên quyết, vững chắc cho đổi mới toàn diện của thống kê nước ta trong những năm tiếp theo và xây dựng chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2025. Xây dựng và triển khai thành công Đề án sẽ đòi hỏi nguồn nhân lực của ngành thống kê, các Bộ ngành, cơ quan TW, địa phương và hơn nữa một điều kiện tiên quyết để dự án thành công là phải có sự quan tâm chỉ đạo xát sao của Chính phủ, các Bộ, ngành trong đó ngành Tài chính cũng đóng một vai trò để hoàn thành tốt các mục tiêu của Đề án.

Các bước thực hiện Đề án

– Xây dựng hoàn chỉnh Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong quý IV/2009.

– Xây dựng hoàn chỉnh Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã để Bộ trưởng Bộ KHĐT ban hành vào quý I/2010.

– Các Bộ, ngành xây dựng hoàn chỉnh và ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành của Bộ, ngành trong năm 2010.

– Tháng 6/2010 hoàn thành giải thích khái niệm, phương pháp tính của nhóm chỉ tiêu áp dụng từ năm 2011(nhóm A).

– Hoàn thành giải thích khái niệm, phương pháp tính của nhóm chỉ tiêu áp dụng những năm 2012 -2014 (nhóm B); Từ năm 2005 sẽ áp dụng toàn bộ các chỉ tiêu trong danh mục Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.

– Trong năm 2010 bổ sung hoàn thiện Chương trình điều tra thống kê quốc gia, các chế độ báo cáo thống kê và triển khai tổ chức xây dựng các cơ sở dữ liệu thống kê khai thác từ hồ sơ đăng ký hành chính; Xây dựng và phê duyệt Đề án về chương trình ứng dụng CNTT và truyền thông của hệ thống thống kê Nhà nước đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Triển khai các hoạt động nhăm tăng cường bộ máy tổ chức, hoàn thiện môi trường pháp lý, xây dựng kế hoạch và bố trí kinh phí tăng cường cơ sở vất chất cho công tác thống kê.

(Vũ Ánh Hồng – Bùi Tiến Sỹ)

April 18, 2010

Một nghị định vô hiệu hóa một định chế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:13 pm
Tags: , ,

Nghị định ấy có số 01/2010/NĐ-CP được ban hành ngày 4/1/2010 và định chế kia là công ty cổ phần.

Nghị định quy định việc chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty cổ phần cho các nhà đầu tư; và nhìn vào nội dung các phụ lục thì nó do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề nghị và sẽ thực thi.

Ở đây, chúng tôi tóm tắt các điều khoản chính của nghị định liên quan đến công ty cổ phần mới thành lập hay đang hoạt động.

Tóm lược các điểm chính

Về phạm vi

Nghị định ấn định:

– Chào bán cổ phần riêng lẻ là “chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng”.

Nói cách khác là công ty cổ phần mời và bán cổ phần cho mỗi người trên căn bản một vài hay nhiều cổ phiếu; nhưng cổ phiếu không được gom lại theo các đơn vị do các sở hay sàn chứng khoán ấn định.

– Đối với công ty cổ phần – mà không phải là công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, bảo hiểm và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa – tức là các công ty cổ phần nói chung thì cơ quan quản lý việc chào bán cổ phần riêng lẻ là sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

– Một trong những đối tượng chào bán cổ phần riêng lẻ là dưới 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; tức là chỉ cần công ty cổ phần bán cổ phần cho 1 người hoặc đến mức tối đa 99 người đều bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ”.

Về đăng ký

Công ty cổ phần thuộc loại trên muốn chào bán cổ phần riêng lẻ thì phải:

– Có hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợp lệ gửi tới – nói cho gọn – sở kế hoạch và đầu tư, chậm nhất 20 ngày trước ngày dự kiến thực hiện việc chào bán. Công ty cổ phần được phép thực hiện việc chào bán theo phương án đã đăng ký kể từ ngày có thông báo của sở kế hoạch và đầu tư về việc đã nhận được hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợp lệ hoặc hết thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ mà sở kế hoạch và đầu tư không có yêu cầu sửa đổi, bổ sung và cũng không có thông báo gì khác về hồ sơ đã nộp.

– Nếu công ty cổ phần là doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài việc phải đáp ứng các quy định của Nghị định này còn phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan.

– Người đầu tư không được bán cổ phiếu trong vòng một năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán.

– Các đợt chào bán riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng.

– Trong vòng 10 ngày, kể từ khi kết thúc đợt chào bán, công ty phải gửi Báo cáo kết quả đợt chào bán và danh sách cổ đông (theo mẫu quy định) cho sở kế hoạch và đầu tư đồng thời công bố kết quả chào bán trên website của tổ chức chào bán (nếu có).

Nhận xét

Về mặt thực tế

Hiện nay, với các bản phụ lục chi tiết và phức tạp ban hành kèm theo nghị định, một số sở kế hoạch và đầu tư các tỉnh, thành phố chưa dám nhận hồ sơ đăng ký hoặc nếu có nhận thì không biết hướng dẫn thực hiện việc đăng ký ra sao và cũng khó mà kiểm tra và đánh giá mức độ “đầy đủ và hợp lệ” của các nội dung bắt buộc (đặc biệt là các nội dung thuần túy về tài chính và kinh doanh) nêu tại các bản phụ lục đó.

Ai muốn làm – tức là công ty đang hoạt động hay định thành lập – đều kẹt hết!

Về mặt lý thuyết

Công ty cổ phần là một cách giúp những người sáng lập huy động được nhiều vốn. Luật Doanh nghiệp quy định, muốn lập thì phải có ít nhất ba người, góp đủ tối thiểu 20% vốn điều lệ; trong vòng ba năm kể từ ngày có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải góp đủ; không thì phải giảm vốn đã đăng ký.

Với ba người đầu tiên kia, trong vòng ba năm họ phải gọi và bán cổ phần cho vài mươi người nữa; số người không giới hạn, tuy nhiên họ không thể bán cho hơn 100 người để thành công ty đại chúng; vì phải đủ điều kiện về vốn tối thiểu.

Vậy các công ty cổ phần trong vòng ba năm đầu khó lòng lên công ty đại chúng. Ở đây ta thí dụ là công ty cổ phần đã có ba cổ đông sáng lập; họ muốn bán cho bốn năm người nữa, và với số cổ phần sẽ bán mà khi được góp đủ tiền thì công ty sẽ có đủ vốn điều lệ. Vậy là công ty cổ phần kia bị điều chỉnh bởi Nghị định này.

Khi ấy, ba người sáng lập kia – cũng là đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị – phải:

– Lập phương án chào bán, phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt bán, theo nội dung ấn định; trong đó, xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư được chào bán, và nếu bán cho đối tác chiến lược hoặc người lao động thì phải xây dựng tiêu chí xác định, lựa chọn đối tác chiến lược hoặc người lao động.

– Đại hội đồng thông qua phương án chào bán và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán; thông qua tiêu chuẩn và danh sách đối tác chiến lược, người lao động.

– Đăng ký với sở kế hoạch và đầu tư, 20 ngày trước ngày dự kiến chào bán và chờ quyết định của Sở trong 15 ngày, nếu không bị trả lại trong vòng 10 ngày trước đó.

– Trong vòng 10 ngày, kể từ khi bán xong, công ty gửi báo cáo kết quả đợt chào bán và danh sách cổ đông (theo mẫu quy định) cho sở kế hoạch và đầu tư.

– Mặc dù không được nói rõ trong nghị định, nhưng theo Luật Doanh nghiệp và các văn kiện hướng dẫn hoặc quy định các loại, công ty còn phải thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh liên quan đến vốn điều lệ, danh sách cổ đông sáng lập và tỷ lệ góp vốn (nếu còn trong thời hạn ba năm kể từ ngày thành lập) và các nội dung khác, nếu có, do có sự thay đổi nói trên theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Ngoài ra, nếu việc tăng vốn là để thực hiện dự án đầu tư mới hoặc có nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, công ty còn phải thực hiện việc đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư hoặc hoàn tất các thủ tục bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài và sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18-6-2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam.

– Muốn bán đợt nữa phải chờ ít nhất sáu tháng.

Nếu rơi vào trường hợp trên, liệu có ai muốn lập công ty cổ phần hay tăng vốn cho nó nữa hay không?

Nghị định dẫn tới đâu?

Theo chúng tôi, những điều khoản trong nghị định trên bộc lộ các tính chất sau:

– Vô hiệu hóa cách thức gọi vốn và góp vốn của công ty cổ phần mà Luật Doanh nghiệp đã quy định. Như thế là vô tình phá hủy định chế công ty cổ phần. Nghị định này không phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp.

– Sai chức năng. Xét theo chức năng truyền thống thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chỉ kiểm soát các công ty niêm yết vì chúng nắm tiền của số đông người; những người ấy cần phải được bảo vệ thoát khỏi những hành vi sai luật hay lợi dụng của các công ty niêm yết. Mục đích cuối cùng của sự bảo vệ ấy là khuyến khích ngày càng có nhiều người tham gia thị trường chứng khoán để các công ty cần tiền có nơi cung cấp.

Như thế, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không cần tự đặt cho mình bổn phận hay quyền hạn phải bảo vệ một số ít người vì họ tự lo được, do tiền đi liền khúc ruột, và không cần đến sự bảo vệ kia. Mặt khác, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng chẳng phải bảo vệ từ một người trở lên cho đến hàng chục ngàn người để rồi đặt ra quy định kia rồi giao cho các sở kế hoạch và đầu tư làm hộ và báo cáo cho mình.

Thực ra, việc theo dõi hay kiểm soát các nhà đầu tư mua chứng khoán (không cần biết chuyên nghiệp hay không) chỉ có thể thực hiện trên diện rộng thông qua trung tâm lưu ký chứng khoán của các sở hay sàn giao dịch chứng khoán, và trên diện hẹp là các công ty chứng khoán; chứ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hay các sở kế hoạch và đầu tư cũng chẳng làm trực tiếp được.

Thế thì tại sao công ty bị buộc phải nộp danh sách cổ đông đã mua cổ phiếu riêng lẻ cho sở kế hoạch và đầu tư? Luật Doanh nghiệp đâu có đòi! Chưa nói đến chuyện trái luật, phải chăng đòi hỏi của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đi ngược lại cố gắng cải tổ thủ tục hành chính?

– Không rõ ràng. Khi quy định “nhà đầu tư không chuyên nghiệp” tức là họ không mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Vậy làm sao để công ty biết một người đầu tư nào đó là chuyên nghiệp hay không? Hơn nữa, nếu vậy, một người đã có chứng khoán trong tay thì không được mua cổ phần riêng lẻ nữa ư?

Chưa hết, nếu công ty cổ phần chỉ bán cổ phần cho chính các cổ đông sáng lập (hoặc hiện hữu) hoặc vừa bán cho các cổ đông này vừa bán cho các nhà đầu tư bên ngoài thì các cổ đông nói trên có bị tính trong giới hạn 1-99 nhà đầu tư hay không và khi đó công ty có bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ” hay không?

Thực ra, sự phân biệt nhà đầu tư chuyên nghiệp hay không cũng không chính xác. Người mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán chỉ có hai loại là cẩn thận và liều lĩnh; người sau ta hay gọi là “người đầu cơ”, bây giờ gọi là “lướt sóng”. Trong hai loại người này ai là chuyên nghiệp? Người cẩn thận nắm chứng khoán hai ba năm, người lướt sóng nắm vài tháng rồi thôi vì lỗ?

– Ngoài ra, các khái niệm mang tính quyết định đến các nghĩa vụ của công ty lại không được giải thích hoặc định nghĩa rõ ràng hoặc không thể đáp ứng trên thực tế; ví dụ như thời điểm “dự kiến thực hiện việc chào bán”, “kết thúc đợt chào bán”, “đối tác chiến lược”, “tài liệu chứng minh đáp ứng tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài và tuân thủ quy định về hình thức đầu tư”, “việc công bố thông tin không được chứa đựng nội dung có tính chất quảng cáo và mời chào về việc bán cổ phần riêng lẻ”.

Như vậy, có nhiều khả năng là sẽ có nhiều công ty cổ phần bị bắt giò vi phạm quy định về trình tự và thủ tục đăng ký hoặc không đảm bảo được tính “đầy đủ và hợp lệ” của hồ sơ đăng ký. Hậu quả là hồ sơ sẽ phải sửa đổi, bổ sung, trả lại và tồi tệ hơn là có thể bị hủy kết quả chào bán do vi phạm. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể bảo “tôi cũng đòi các công ty niêm yết các điều tương tự họ có kêu ca đâu”. Ấy là vì chào bán trên thị trường (IPO) thì khác với chào bán riêng lẻ, cái trước lại còn có bảo lãnh phát hành, rồi thị trường sơ cấp.

– Sai bản chất. Do mục đích huy động vốn, nên cổ phiếu của công ty cổ phần được mua vào và bán đi tự do (trừ những cổ đông sáng lập). Đối với người mua cổ phần, khi mua bán thì chỉ cần hợp đồng chuyển nhượng của họ được hội đồng quản trị công ty phê duyệt để cho ghi vào sổ đăng ký cổ đông là xong.

Riêng yêu cầu báo cáo sau khi bán xong mỗi đợt cho sở kế hoạch và đầu tư, trong đó có tên các người đã mua, tạo ra một số câu hỏi: (i) Các ông A, B, C mua đợt này, có tên trong báo cáo như yêu cầu; nhưng sau đó – dù là một năm – họ bán đi thì danh sách đã nộp có giá trị gì? (ii) Sở kế hoạch và đầu tư giữ danh sách đó làm gì? Mỗi khi họp đại hội đồng cổ đông thì chính công ty chốt danh sách cổ đông, chứ đâu có phải sở kế hoạch và đầu tư; (iii) Các cổ đông muốn xem ai khác cũng là cổ đông như mình, hay bao nhiêu người được chia cổ tức thì họ xem sổ đăng ký cổ đông, chứ ai lên sở kế hoạch và đầu tư?

– Không bao quát. Một công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên có thể có đến 50 người; khi mua bán phần góp vốn thì công ty chỉ đăng ký tên họ với sở kế hoạch và đầu tư. Khi làm công ty không phải lập phương án gọi vốn, sử dụng vốn. Tại sao công ty cổ phần bán cổ phần cho hai ba người – chưa đến 50 – thì lại phải có các phương án kia? Áp dụng các đòi hỏi của loại công ty niêm yết có hàng ngàn người cho loại công ty cổ phần có mươi người là thiếu một cái nhìn bao quát về nhiều lãnh vực khác nhau.

– Gây thiệt hại cho việc kinh doanh và đầu tư. Nghị định bắt mỗi đợt chào bán công ty phải chờ sáu tháng? Công ty cần gọi vốn trên số 20% ban đầu của các cổ đông sáng lập tại sao phải chờ? Nếu công ty cần tiền và có người mua tại sao cũng phải chờ? Nhà đầu tư mua xong bỗng cần tiền dù phải bán lỗ, tại sao họ phải chờ một năm?

Mặt khác, Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán cho phép cổ phần được tự do chuyển nhượng trừ trường hợp cổ phần của cổ đông sáng lập trong ba năm kể từ khi thành lập công ty, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, và cổ đông giữ một số chức vụ quản lý trong công ty bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần từ sáu tháng đến một năm kể từ ngày công ty niêm yết.

Nghị định sáng tạo thêm một trường hợp hạn chế chuyển nhượng là khi công ty kết thúc đợt chào bán thì người mua bị hạn chế chuyển nhượng một năm. Hạn chế như vậy là không cần thiết vì phần lớn cổ phần được chào bán là cổ phần phổ thông và việc phát hành là để huy động vốn phục vụ hoạt động của công ty, việc có thay đổi cổ đông sau đó do việc chuyển nhượng không ảnh hưởng gì đến hoạt động của công ty.

Trừ trường hợp đối tác chiến lược và người lao động nếu có nhu cầu cam kết gắn bó lâu dài thì có thể thỏa thuận riêng về việc hạn chế chuyển nhượng với công ty. Quy định như vậy là trái với tinh thần của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán, đồng thời tạo ra nhiều rối rắm như việc chồng lấn các thời hạn hạn chế theo nhiều văn bản khác nhau.

– Không khả thi. Theo nghị định, đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị của các công ty cổ phần phải thông qua một loạt các văn kiện trước và sau khi kết thúc đợt chào bán. Đối với các công ty cổ phần đang hoạt động, muốn tăng vốn, mà phải làm nào là phương án chào bán cổ phần, phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán, tiêu chuẩn đối tác chiến lược và người lao động, danh sách đối tác chiến lược và người lao động, thay đổi mục đích sử dụng vốn thu được từ việc chào bán thì biết bao là việc nhiêu khê mà chẳng giúp ích cho các công ty đó.

Bản thân đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị cũng đã phải phê duyệt việc sửa đổi điều lệ, các nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do kết quả của việc chào bán, giờ phải gánh thêm phê duyệt nhiều thứ khác mà thời điểm thì khác nhau.

Liệu rằng với công ty mà số lượng cổ đông và thành viên hội đồng quản trị lớn, ở rải rác trên cả nước hoặc công tác ở nước ngoài thì việc triệu tập các cuộc họp hoặc lấy ý kiến liên tục, nhiều lần có khả thi và thuận lợi cho công ty hay không?

Chưa bàn đến việc tốn kém nhiều chi phí cho việc tổ chức cuộc họp. Những quy định ấy phục vụ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hay công ty cổ phần? Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần các thứ đó từ các công ty cổ phần làm gì?

Với các tính chất nêu ở trên thiết tưởng công ty cổ phần chưa phải là công ty đại chúng nên được loại bỏ ra khỏi phạm vi điều chỉnh của nghị định nêu trên. Nghị định ấy chỉ nên áp dụng cho công ty đại chúng và niêm yết chứng khoán đã được điều chỉnh trong Luật Chứng khoán.

Nguyễn Ngọc Bích – Ngô Duy Minh (TBKTSG)

April 9, 2010

Bùng nổ đầu tư vàng ‘chui’

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:07 pm
Tags: , ,

Hàng loạt đơn vị như Công ty Hồng Hối, Trung tâm vàng 24K, Công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh vàng quốc tế (IGI), Vàng Ngọc Thanh… sau ngày đóng cửa sàn vàng đã công bố hoạt động kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn, với yêu cầu đặt cọc 5%.

Sau ngày 30/3, khi các sàn vàng đóng cửa theo lệnh của Thủ tướng, những đơn vị trên đã công bố trên website của mình hoạt động kinh doanh vàng vật chất, chỉ cần đặt cọc 5%. Khi Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ thanh tra, kiểm tra các sàn vàng biến tướng, họ nhanh chóng gỡ toàn bộ thông tin về hoạt động kinh doanh vàng vật chất theo kỳ hạn ra khỏi trang web.

Tuy vậy, nhiều nhà đầu tư cho biết vẫn đang được một số đơn vị như Trung tâm mua bán vàng Ngọc Thanh, vàng 24K…mời chào ký hợp đồng. “Người chơi chỉ cần đặt cọc khoảng 5% có thể giao dịch vàng vật chất như với vàng tài khoản. Nếu đến kỳ hạn quy định, nhà đầu tư chưa đủ tiền nộp mua vàng sẽ phải chịu lãi suất ký gửi để duy trì trạng thái”, một khách hàng tại Trung tâm vàng 24K nói.

Một số môi giới cũng đang ráo riết giới thiệu dịch vụ mở tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài (trên các trang web như FXPRO, FXDD, FXCM…). Chỉ cần hai bước, chuẩn bị hồ sơ sau đó gửi đến email của môi giới để được hướng dẫn hoàn thiện mở tài khoản và nhận chuyển tiền…

Hoạt động kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn bắt đầu bùng nổ. Ảnh: Hoàng Hà

Theo một chuyên gia về kinh doanh vàng tại TP HCM, thực chất hình thức đặt cọc 5% cũng tương tự như ký quỹ, là cách để kinh doanh vàng tài khoản phổ biến bấy lâu nay. Vì nếu đã là đầu tư vàng vật chất thì phải đưa đủ 100% tiền mặt mới được nhận vàng, chứ không doanh nghiệp nào lại chấp nhận khoản tiền cọc chỉ 5%.

Ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tại TP HCM cho biết, cơ quan chức năng sẽ tăng cường kiểm tra, nếu phát hiện các trường hợp vi phạm như hoạt động sàn chui, mở tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài… sẽ xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Riêng những biến tướng sau khi sàn vàng đóng cửa, Ngân hàng Nhà nước TP HCM sẽ tập hợp và ghi nhận, đề xuất hướng xử lý gửi lên Vụ quản lý ngoại hối Ngân hàng Nhà nước.

“Rồi đây, sẽ có nhiều người tiếp tục “chết” vì vàng nếu những hình thức này không được kiểm soát”, vị chuyên gia này nói.

Thực tế, trước và trong khi có sàn vàng, hình thức kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn đã hoạt động và “dìm chết” rất nhiều người tham gia.

Lãnh đạo một công ty kinh doanh vàng tại TP HCM cho rằng, trường hợp vỡ nợ của chủ tiệm vàng Tuấn Tài hồi tháng 11 năm ngoái cũng chính vì tham gia vào hình thức “đánh vàng ngoài sàn” như trên. Họ chỉ cần mang một số tiền đến ngân hàng ký quỹ 5-7%, còn nhà băng chịu 93-95%, để vay một số vàng lớn. Sau đó, người chơi chờ giá vàng xuống để hưởng phần chênh lệch. Cách chơi này giới đầu cơ gọi là đánh xuống.

Tuy nhiên, tháng 11 năm ngoái, khi giá vàng vượt 29 triệu đồng một lượng khiến người chơi hoảng loạn, tìm cách mượn vàng bạn hàng, vay của dân, mua giá cao để cắt lỗ nhưng vẫn không trả đủ cho ngân hàng. Cuối cùng, người chơi chấp nhận thanh lý hợp đồng ngay thời điểm giá cao, đồng nghĩa với việc chịu thua lỗ nặng.

Năm 2007, cuộc chơi kinh doanh “vàng ngoài sàn” cũng diễn ra tương tự, để lại nhiều nạn nhân với những cuộc kiện tụng cho đến nay vẫn chưa giải quyết xong. Nhiều người sau đợt sốt vàng 3 năm trước giờ cũng chìm trong nợ nần với khoảng vài trăm lượng.

Mấy tháng nay, ông Trương Văn Tấn (Hóc Môn, TP HCM), một người chơi vàng năm 2007, cầm lá đơn khởi kiện vừa nhận được từ một ngân hàng thương mại tại TP HCM mà lo lắng không yên. Ông bị nhà băng này đưa ra tòa vì “không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết”.

Ông Tấn cho biết, trong đơn khởi kiện, ngân hàng yêu cầu ông phải trả hơn 600 lượng vàng là nợ gốc cộng lãi phát sinh, lãi phạt chậm. Đơn khởi kiện còn liệt kê các loại tài sản thế chấp cho khoản nợ mà ông đã trót lao vào cuộc chơi vàng năm ấy, bao gồm một ôtô Mitsubishi 7 chỗ, 18 thửa đất ở Long An, 36 thửa đất ở Tây Ninh…

Nhớ lại diễn biến của ba năm về trước, ông Tấn nghẹn giọng kể, nếu giá vàng tại thời điểm khoảng 12,5 triệu đồng một lượng, ông nộp ngân hàng khoảng 1,5 tỷ đồng tiền ký quỹ (7%), nhà băng mở cho ông một sổ tiết kiệm có giá trị 14 tỷ đồng (ngân hàng 93%). Đổi lại, ông phải ký với ngân hàng một hợp đồng vay 1.000 lượng vàng với lãi suất 3,5% một năm, còn sổ tiết kiệm trị giá 14 tỷ đồng được xem là tài sản cầm cố để đảm bảo khoản vay. Nếu giá vàng xuống dưới 12,5 triệu đồng mỗi lượng (tức 12,5 tỷ đồng cho 1.000 lượng vàng) ông thu được khoản lời chênh lệch. Ngoài ra, ông Tấn còn được hưởng tiền lãi từ sổ tiết kiệm, nếu trừ lãi suất vàng mỗi tháng cũng thu lời 40-50 triệu đồng (trong trường hợp giá vàng ổn định và ít biến động).

Thấy số tiền lời quá hấp dẫn, ông Tấn lao vào chơi. Chưa đầy 3 tháng, toàn bộ tài sản lần lượt ra đi do giá kim loại quý liên tục tăng cao. Không chỉ tài sản của gia đình bị ném vào khoản tiền bổ sung ký quỹ, nhà đầu tư này còn đi vay mượn tiền bạc, đất đai, nhà cửa của anh em, dòng họ để bổ sung vào. “Đến khi, mọi nguồn lực cạn kiệt, không thể chống đỡ nổi, tôi đành mang khoản nợ 600 lượng vàng mà không có cách nào trả được”, ông Tấn nói.

Nhà đầu tư vàng này bức xúc, khoản nợ của mình có thể sẽ nhẹ hơn nếu như theo đúng hợp đồng, khi dư nợ vượt quá 98% giá trị tài sản cầm cố (sổ tiết kiệm), ngân hàng tự động cắt lỗ, tất toán hợp đồng cho khách hàng. Đằng này, nhà băng cho rằng, khi ông Tấn không yêu cầu thì họ có quyền cắt hoặc không cắt. Do đó, ngân hàng vẫn cứ để mặc cho nhà đầu tư say máu, chìm ngập trong thua lỗ đến mức tài khoản của họ vượt 130% so với tài sản cầm cố (tức bị âm đến 30%), mới tất toán. Đến lúc này, ông Tấn bị cột chặt vào hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ để trở thành con nợ của ngân hàng.

Ngoài ra, hơn chục nhà đầu tư khác như bà Hiệp, bà Nhân, bà Hà…sống tại TP HCM cũng đang chung cảnh nợ nần như ông Tấn khi trót dính vào cuộc chơi vàng 2007. Giờ đây, họ phải ngày đêm chạy trốn chủ nợ và sống cảnh vất vưởng khắp nơi.

April 4, 2010

Kiến nghị gạt vàng khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:40 pm
Tags: , ,

Hiệp hội Kinh doanh vàng dự định kiến nghị Ngân hàng Nhà nước đưa vàng ra khỏi danh sách mặt hàng xuất nhập khẩu và yêu cầu xem vàng như một ngoại tệ mạnh.
> Thống kê xuất nhập khẩu cần chỉnh lại

Theo ông Đinh Nho Bảng, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh Vàng, gạt vàng ra khỏi danh sách, lý do chính vì bản chất đây không phải là hàng hóa. Việc kim loại quý này có mặt trong danh sách mặt hàng nhập khẩu sẽ làm tăng tỷ lệ nhập siêu. Lo ngại này cũng dẫn đến hậu quả thị trường vàng trong nước bị kìm hãm. Tính thanh khoản của kim loại quý này rất cao, vốn là một ngoại tệ mạnh, chứ không như các loại hàng hóa khác có sự hao mòn về giá trị. Sau khi nhập khẩu, vàng cũng có thể được tái xuất mà vẫn bảo đảm giá trị quốc tế. Ông Bảng cho biết, quý một năm 2009 khi Việt Nam xuất siêu tới 1,64 tỷ USD, xuất khẩu vàng chiếm phần lớn.

Ngoài ra, ông nhận định việc Việt Nam chưa xem vàng là ngoại tệ mạnh khiến vai trò của nó trong kho dự trữ ngoại tệ hiện ở mức rất thấp so với Mỹ hay Trung Quốc. Vàng trong kho cũng khó sinh lời khi mua từ thời giá khoảng 200 USD, cho đến nay thị trường đã vượt xa 1.000 USD mà vẫn không xuất được. Hiệp hội kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần đánh giá lại hiệu quả của việc dự trữ vàng và nới lỏng kiểm soát để được xuất được nhập khi có nhu cầu.

Hiệp hội không cho rằng việc nới lỏng nhập vàng sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ, thậm chí còn ngược lại. Khi việc xuất nhập bị hạn chế, hoạt động buôn lậu vàng sẽ gây căng thẳng trên thị trường ngoại tệ tự do.

Tuy nhiên, theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, không việc gì phải đưa vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu. “Nếu nói gạt vàng ra để hạn chế nhập siêu thì chỉ là biện pháp tự ru ngủ mình”, ông nhận định. Trong khi đó, Việt Nam lại không phải là nước sản xuất vàng. Để thỏa mãn nhu cầu vàng cất giữ, trang sức trong nước, chỉ có cách nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu vàng cần một lượng ngoại tệ lớn. Tóm lại, việc gạt vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu không đem lại lợi ích thực chất nào về mặt kinh tế học, ông Doanh khẳng định.

Mặt khác, vàng trong nước hiện nay cũng không khan hiếm. Nhiều nguồn tin ước đoán trong dân đang nắm giữ khoảng 500 tấn vàng. Nới lỏng dây cương cho xuất nhập vàng cũng không đồng nghĩa với việc ngăn chặn hoạt động buôn lậu. “Cứ có chênh lệch giá giữa thị trường trong và ngoài nước thì có buôn lậu. Không ai đảm bảo được là cho xuất nhập vàng thì giá nội địa và quốc tế sẽ cân bằng nhau. Thực tế thì lâu nay, rất ít khi chúng ta thấy có sự cân bằng này”, ông Doanh nói.

Từ phía Tổng cục Thống kê, đại diện của Vụ Thương mại Giá cả cho biết vẫn giữ nguyên quan điểm từ trước đến nay là thống kê xuất nhập khẩu cần tính cả vàng miếng. Không chỉ Việt Nam mà nhiều nước cũng chung quan niệm vàng do Nhà nước, ngân hàng trung ương nhập về để dự trữ thì được coi là phương tiện thanh toán, tích trữ. Còn vàng do các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp nhập, xuất để phục vụ mục đích kinh doanh cần được đưa vào danh mục hàng xuất nhập khẩu.

March 18, 2010

“Giá vàng trong nước sẽ còn chịu áp lực”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:25 pm
Tags: , ,

Một câu hỏi đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm là có nên dự trữ vàng trong thời điểm hiện tại?

Thời gian đóng cửa sàn vàng đang được tính từng ngày. Nhiều ngân hàng đang tồn lượng vàng khá lớn. Thừa cung dẫn đến việc giá vàng giảm và lãi suất huy động vàng từ các ngân hàng cũng sẽ giảm.

Một câu hỏi đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm là có nên dự trữ vàng trong thời điểm hiện tại? Xung quanh chủ đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Trung Anh, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Vàng Vina.

Nhiều ngân hàng đang giảm mạnh lãi suất huy động vàng, chỉ còn trên dưới 0,5%/năm, trong khi thời điểm này của năm 2009 từ 6-7%. Theo ông, có phải do nguyên nhân đóng cửa sàn vàng?

Việc các ngân hàng giảm mạnh lãi suất huy động vàng, theo tôi có các lý do sau. Thứ nhất, việc cho vay vàng của các ngân hàng khá khó khăn. Như chúng ta biết thì từ trước tới nay các ngân hàng cho vay vàng chỉ phục vụ mục đích thanh toán mua bán nhà đất, đầu cơ, tự doanh.

Nhưng thời gian qua giá vàng biến động quá mạnh và khó lường, do đó việc vay vàng để thanh toán hoặc thậm chí là bán kiếm chênh lệch như lúc trước trong thời điểm này là rất rủi ro, nhất là khi nguy cơ lạm phát có thể quay trở lại bất kỳ lúc nào. Vì vậy, với việc không có đầu ra cho vay, thì các ngân hàng cũng không mặn mà lắm với việc đẩy mạnh đầu vào huy động.

Thứ hai, nhu cầu đầu tư của giới kinh doanh vàng vật chất cũng không còn mạnh như thời điểm năm 2009, nhu cầu tự doanh của các ngân hàng cũng sụt giảm, vì vậy họ cũng không còn nhiều hứng thú đối với việc huy động vàng, nên đã chủ động giảm lãi suất huy động vàng xuống.

Thứ ba, là hiện nay chính các ngân hàng cũng không dám huy động vàng nhiều. Trong thời điểm năm 2009, các ngân hàng huy động vàng với lãi suất lên đến 6-7% nhằm bán ra lấy tiền VND phục vụ nhu cầu cho vay hoặc kiếm lợi nhuận. Nhưng lúc đó họ có thể cân đối lại tài khoản bằng cách mua vàng trên tài khoản ở nước ngoài để tránh rủi ro.

Còn hiện tại thì Ngân hàng Nhà nước đã cấm hình thức kinh doanh vàng trên tài khoản, nên các ngân hàng cũng không dám huy động nhiều vì sợ rủi ro cao. Vì thế lãi suất huy động hiện nay giảm chỉ còn trên dưới 0,5% là điều dễ hiểu.

Thậm chí có khả năng sắp tới các ngân hàng thương mại có thể sẽ còn thu phí giữ hộ vàng cho khách hàng.

Như vậy, theo ông nhu cầu vàng vật chất trên thị trường trong thời gian tới sẽ như thế nào?

Về nhu cầu vàng vật chất trên thị trường, theo tôi là khá thấp trong thời điểm hiện tại, nhưng điều này được xem là tất yếu trong thời điểm đầu năm. Ngoài ra, giá vàng thế giới ít biến động mạnh nên cũng không kích thích lực mua vàng vật chất. Nhu cầu vàng của các ngân hàng thương mại cũng sụt giảm so với thời điểm trước Tết.

Nhưng theo ý kiến cá nhân tôi, nhu cầu mua vàng vật chất trong thời gian tới với mục đích dự trữ của người dân sẽ vẫn cao, do chỉ số giá hàng hóa vẫn đang cho thấy khó có thể kiềm chế.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nên lưu ý một điều là nếu lãi suất huy động VND lên quá cao, như thời điểm trong năm 2008 lên gần 20%/năm, thì khi đó người dân sẽ không còn mặn mà gì với vàng nữa, mà ngược lại có thể sẽ còn bán vàng ra lấy VND gửi tiết kiệm.

Xu hướng trong thời gian tới giá vàng sẽ diễn biến như thế nào? Nhà đầu tư và người dân có nên giữ vàng trong giai đoạn này không, thưa ông?

Giá vàng thế giới trong 3 tháng tới theo tôi sẽ vẫn ổn định trong biên độ hẹp, khi giới đầu tư thế giới ngày càng thận trọng hơn trước những diễn biến nợ công của một số nền kinh tế. Trong khi đó, các nhà đầu tư trung và dài hạn trong giai đoạn này cũng sẽ không tham gia trạng thái lớn, do đó sóng lớn là khó có thể xảy ra. Đây cũng được xem là giai đoạn trầm lắng của thị trường vàng thế giới hàng năm.

Giá vàng trong nước trong thời gian tới sẽ chạy sát với giá vàng thế giới hơn. Hiện tại thì giá vàng trong nước đang cao hơn khoảng 600.000 đồng so với giá vàng thế giới nếu tính theo tỷ giá ngân hàng. Tuy nhiên, nếu tính theo tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do, cộng với các chi phí nhập khẩu khác thì giá trong nước chỉ cao hơn giá thế giới khoảng 100.000 đồng/lượng.

Về vấn đề nhà đầu tư và người dân có nên giữ vàng trong giai đoạn này hay không, theo tôi là vẫn nên phân bổ một phần tài sản vào vàng để đề phòng lạm phát trở lại. Tuy nhiên, tôi xin nhấn mạnh là chỉ nên nắm giữ một phần, vì hiện tại đang có những kênh đầu tư khác với tỷ suất sinh lợi cũng khá hấp dẫn.

Ngoài ra do lãi suất huy động vàng thấp, trong khi lãi suất huy động VND đang khá cao, nên có thể sẽ khiến một dòng vốn từ vàng chuyển sang VND để gửi tiết kiệm, vì vậy giá vàng trong nước thời gian tới có thể sẽ còn chịu áp lực.

March 17, 2010

Lãi suất gỡ nửa vời làm thêm rối

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:57 pm
Tags: , ,

TT – Đang diễn ra nhiều hiện tượng không bình thường trên thị trường tiền tệ. Người gửi tiền tiết kiệm luôn có thói quen gửi ngắn hạn, một vài tháng, thậm chí một vài tuần, bỗng dưng nay lại gửi đến 24 tháng (2 năm), thậm chí 36 tháng (3 năm).

Sự không bình thường này dẫn đến không bình thường khác là vốn huy động trung – dài hạn của ngân hàng (NH) vốn luôn ì ạch thì nay lại có xu hướng tăng.

Chưa hết, nhiều doanh nghiệp lại dồn dập vay vốn trung – dài hạn để sản xuất kinh doanh. Sự gia tăng vay vốn để đầu tư cũng là bất thường vì thị trường tiêu thụ trong thời gian tới không có gì hứa hẹn sẽ tăng trưởng đột biến.

Một điểm không bình thường nữa là đột nhiên nhiều NH giảm cho vay ngắn hạn mà chỉ lo cho vay trung – dài hạn.

Những điều không bình thường nêu trên diễn ra kể từ khi NH Nhà nước cho NH được áp dụng lãi suất thỏa thuận khi cho vay vốn trung – dài hạn nhưng vẫn buộc NH phải thực hiện trần lãi suất khi cho vay ngắn hạn.

Thật ra chẳng có chuyện người dân gửi tiền dài hạn, họ vẫn gửi ngắn hạn. Cũng không hề có chuyện doanh nghiệp mạnh tay vay vốn trung – dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.

NH vẫn cho vay ngắn hạn bình thường. Chỉ có khác là tiền vay ngắn hạn ấy đã được chuyển sang núp dưới hình thức trung – dài hạn để được hưởng lãi suất thỏa thuận.

Có nhiều thuận lợi giúp NH lắt léo, biến ngắn thành dài. Điều đáng nói là những thuận lợi ấy được hình thành từ cơ chế trần lãi suất. Trần lãi suất huy động đã tạo ra mặt bằng lãi suất huy động xoay quanh 10,499%/năm cho tất cả các kỳ hạn, từ một tuần đến 36 tháng. Khách hàng gửi tiền 3 tháng nhưng NH động viên gửi kỳ hạn 24 hoặc 36 tháng với cam kết cho rút bất kỳ lúc nào, vì vậy gửi dài nhưng ngắn.

Vì sao NH phải biến tiền gửi ngắn hạn của khách hàng thành tiền gửi dài hạn? Đây cũng là cách NH lách để có vốn cho vay. Thực tế NH không thể huy động được nguồn vốn trung – dài hạn, mà phải chuyển 30% vốn ngắn hạn để cho vay trung – dài hạn. Nhiều NH đã dùng hết hạn mức này nên phải biến khoản gửi ngắn hạn của khách hàng thành trung – dài hạn để được cho vay theo lãi suất thỏa thuận.

Sự lắt léo, chuyển ngắn thành dài này là việc làm bất đắc dĩ của các NH nhưng là cần thiết để khơi thông dòng vốn.

Có nguyên nhân buộc các NH phải lách, đó là trần lãi suất cho vay. Nhiều NH nói họ thà để tiền trong kho còn hơn cho vay ngắn hạn theo trần lãi suất 12%/năm. Cho vay theo trần lãi suất 12%/năm chỉ ngang với mức lãi suất mà NH trả cho người gửi tiền (gồm 10,499% cộng với các khoản khuyến mãi, thưởng…), xem như NH lỗ phần chi phí khoảng 3%.

Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã đề nghị phải xóa bỏ trần lãi suất, cả huy động lẫn cho vay để khai thông dòng vốn. Nghị quyết của Chính phủ cũng mở đường để bỏ trần lãi suất vay ngắn hạn. Thế nhưng, thay vì gỡ tất cả thì NH Nhà nước lại chỉ bỏ trần lãi suất cho vay trung – dài hạn. Cơ chế cho dài buộc ngắn này tuy khai thông được vốn trung – dài hạn nhưng lại làm méo mó hoạt động huy động và cho vay vốn ngắn hạn.

Điểm khác giữa vốn ngắn hạn với trung – dài hạn là ngày tháng. Vay ngắn hạn thì 365 ngày trở lại. Còn vay trung – dài hạn phải trên 12 tháng, tức 366 ngày. Chỉ chênh nhau một ngày nhưng lãi suất vay lại chênh 3-5%/năm.

Các chuyên gia đã cảnh báo nếu cứ cho dài buộc ngắn, NH phải lách, dẫn đến những hệ quả xấu, đó là hạch toán của NH không phản ánh đúng thực chất các khoản vay/gửi; làm méo mó các con số thống kê, tưởng rằng doanh nghiệp gia tăng đầu tư, mở rộng sản xuất nhưng thực chất chỉ là những khoản vay ngắn hạn thông thường…

Ngân hàng “chê” vàng – Nhiều ngân hàng không thiết tha đối với khách gửi vàng mà khuyến khích họ bán vàng chuyển sang gửi VNĐ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:56 pm
Tags: , , , ,

Hiện tại, các ngân hàng (NH) đang thực hiện giảm lãi suất huy động vàng với mức thấp nhất có thể. Đặc biệt một số NH từ chối nhận gửi vàng không kỳ hạn. Nguyên nhân chính là do nhu cầu vàng của nhà đầu tư hiện nay không còn nên các NH không dám huy động vào nhiều.
Lãi suất bèo
Nếu như vào thời điểm giữa năm 2009, các NH đã ào ạt huy động lãi suất tiền đồng, lẫn vàng với lãi suất huy động vàng cao hơn 10 lần so với hiện tại, có thời điểm lên đến 6%-7%/năm; thì nay các NH đang hạ dần mức lãi suất huy động vàng ở mức thấp nhất có thể.
Lãi suất huy động tại NH Phương Đông (OCB) kỳ hạn 1 tháng chỉ 0,3%/năm; kỳ hạn 3 tháng 0,35%… các kỳ hạn từ 6 tháng đến 1 năm là 0,5%. Đây cũng là mức lãi suất huy động bình quân mà các NH khác đang áp dụng. NH Sài Gòn (SCB) và một số NH khác còn khuyến khích khách bán vàng chuyển sang gửi VNĐ.

Tại các NH lớn, lãi suất huy động vàng kỳ hạn ngắn còn thấp hơn so các NH nhỏ. Tại Eximbank, kỳ hạn 1 tháng chỉ còn 0,25%…
Mặt khác, do lãi suất cho vay VNĐ cao, đầu ra của các NH thương mại chưa mấy thông suốt nên nhu cầu bán vàng lấy tiền mặt để cho vay cũng không còn, trong khi giá vàng lại có xu hướng giảm. Việc này khiến cho lãi suất huy động tiền gửi bằng vàng càng trở nên bèo bọt.
Sợ “ôm” vàng
Hiện tại, nhiều NH, đặc biệt là các NH nhỏ đã đóng cửa hoàn toàn với huy động vàng để tránh rủi ro. Theo ông Nguyễn Quốc Sỹ, Phó Tổng Giám đốc NH Miền Tây, trước đây, các NH đã tăng mạnh huy động vàng với hai mục đích chính là cho vay để kinh doanh, cho vay mua nhà nhưng thời điểm này cũng như vừa qua giá vàng biến động mạnh nên người vay đã bỏ cuộc.

Trong đó, không ít người đã quá sợ vì từng “ôm đắng nuốt cay” do lỡ vay vàng giá thấp và trả vào lúc giá vàng ngất ngưởng. Đối tượng thứ hai vay vàng của các NH là các nhà đầu tư vàng qua sàn, nhưng nay sàn vàng đã đến ngày chính thức đóng cửa. Khi nhu cầu không có thì các NH không còn tha thiết với vàng nữa.
Ngoài ra, trong thời điểm năm 2009, các NH huy động vàng với lãi suất cao nhằm bán ra lấy VNĐ phục vụ nhu cầu cho vay hoặc kiếm lợi nhuận. Hoặc họ có thể cân đối lại tài khoản bằng cách mua vàng trên tài khoản ở nước ngoài để tránh rủi ro.

Nay NH Nhà nước đã cấm hình thức kinh doanh vàng trên tài khoản, nên các NH cũng không dám huy động nhiều, vì rủi ro cao. Thậm chí sắp tới các NH thương mại có thể sẽ còn thu phí giữ hộ vàng cho khách hàng.

Thị trường vàng sẽ trầm lắng?

Theo ông Nguyễn Trung Anh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Vàng Vina, giá vàng thế giới trong 3 tháng tới sẽ vẫn ổn định trong biên độ hẹp, khi giới đầu tư thế giới ngày càng thận trọng hơn trước những diễn biến nợ công của một số nền kinh tế.

Các nhà đầu tư trung và dài hạn cũng sẽ không tham gia đầu tư lớn, nên khó có sóng lớn. Đây là giai đoạn trầm lắng của thị trường vàng thế giới hằng năm.
Tại VN, nhà đầu tư vẫn nên phân bổ một phần tài sản vào vàng để đề phòng lạm phát trở lại. Nhưng chỉ nên nắm giữ một phần, vì hiện tại đang có những kênh đầu tư khác với tỉ suất sinh lợi cũng khá hấp dẫn.

Thêm vào đó, do lãi suất huy động VNĐ cao và lãi suất cho vay vàng thấp có thể thúc đẩy một bộ phận nhà đầu tư mạo hiểm vay vàng mang bán (do giá vàng tại VN đang cao hơn giá thế giới), đổi lấy VNĐ gửi tiết kiệm để hưởng chênh lệch lãi suất và chênh lệch giá.

Đây cũng là hoạt động phổ biến của các tiệm vàng và nhà đầu tư vàng VN từ trước đến nay. Điều này sẽ tiếp tục tạo áp lực lên giá vàng trong nước thời gian tới.

Nhiều người “run” nếu đụng đến chợ Trời!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:39 pm
Tags: , ,

Chợ Trời nhức nhối là thế, nhưng chưa khi nào Hà Nội có một chiến dịch giải tỏa nó thực sự, ông Vũ Vinh Phú, chủ tịch Hiệp hội siêu thị, nguyên Phó Giám đốc Sở Thương mại Hà Nội nói.

Chiều 16/3, ông Vũ Vinh Phú đã dành cuộc trao đổi thẳng thắn, bộc trực với TS về chợ Trời- một nỗi ‘đau” của ngành thương mại Hà Nội trong hàng chục năm qua.

PV: Thưa ông, quận kêu khó giải tỏa vì… thiếu đất. Trong khi, chợ Trời thực sự là địa chỉ gây nhắc nhối ở thủ đô.

Mô tả ảnh.
Ông Vũ Vinh Phú, chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội (ảnh: Phạm Huyền)

Ông cảm nhận thế nào về câu chuyện này?

Tôi có 7 năm là Phó giám đốc thường trực Sở Thương mại Thành phố, Trưởng ban quản lý chống buôn lậu nhưng chưa bao giờ, thấy Sở hay thành phố có một chuyên đề về giải tỏa chợ Trời cả.

Chợ Trời chỉ được nói sơ qua. Nhiều người bảo, ôi, nó phức tạp lắm, tạm thời, chưa động đến. Chưa bao giờ, các cấp thành phố đặt ý tưởng mạch lạc, khoa học, cụ thể và quyết tâm chính trị để xử lý chợ Trời đâu.

Tôi đi họp nhiều lần ở Sở là tôi biết rõ. Họ rón rén, an phận thủ thường, động tới tổ ong bò vẽ là rụt lại. Một giáo sư nói là bây giờ làm thương mại, tiền tài thì nhiều, tình cảm ít lắm. Chính cái ung nhọt ở chợ Trời là bởi tình trạng ấy.

Thậm chí, có lãnh đạo không muốn đụng chạm vào tổ ong bò vẽ. Còn nhớ, khi giải tỏa chợ Phùng Hưng, nhiều người còn… run. Người ta thường chỉ làm cái gì tròn trĩnh.

Người ta cũng chỉ làm cái gì dễ thôi. Cái gì xương xẩu thì thôi, cứ từ từ.

Chợ Trời là một điểm nhức nhối rất lâu rồi, mà nhiều đời Chủ tịch Thành phố cũng chưa giải quyết được. Trong chuyện này, tôi trách nhất là trách người đứng đầu quận, đứng đầu thành phố. Họ không chịu quan tâm đến câu chuyện này.

Mô tả ảnh.
Mua bán ở chợ Trời (ảnh: Phạm Huyền)

PV: Nói như ông, cái khó nhất không phải là chuyện thực hiện, mà là vấn đề con người?

Tôi cho là chợ Trời sẽ cứ tồn tại nghiễm nghiên, bởi có những người không muốn giải tỏa chợ Trời họ có lợi ích. Ngay cả việc tiêu thụ đồ ăn cắp, bán công khai ở lòng đường thì ai cũng hiểu mà cũng đâu có dẹp được.

Trong việc này, vấn đề là nằm ở con người. Chợ Trời sẽ tồn tại nếu không có cán bộ dũng cảm, chính trực, đứng về phía dân. Phải có bàn tay sạch và bàn tay sắt.

PV: Ông đánh giá thế nào trước việc ban đầu là tạm bợ và nay, đã 25 năm, người dân vẫn chính thức kinh doanh dưới lòng đường, hè phố?

Theo tôi hiểu thì, những việc đó là phải “hoa hồng” cả đấy. Họ phải được bật đèn xanh cả.

PV: Thưa ông, quận Hai Bà Trưng nói, chợ Trời đóng tiền thuế cao nhất trong các chợ toàn quận là 6 tỷ đồng, với 700 hộ kinh doanh. Ông có thể nói gì về con số này?

Không có căn cứ gì để tính được con số ấy. Buôn bán ở chợ Trời thì không có chứng từ, không có sổ sách. Tôi cho rằng, Nhà nước thất thu thuế rất nhiều nhưng không làm được họ.

Khi không có thanh toán kho, không nhập xuất rõ ràng thì không thể nói chuyên thuế ở đây được.. Tôi làm kế toán thương mại lâu năm, tôi hiểu hết . 6 tỷ đồng tiền thuế, còn xa mới tới sự thật.

Phải biết “dụ” bà con đến nơi mới

PV: Xưa nay, cứ đụng đến giải tỏa là… thường hay tắc. Vậy, ông có kinh nghiệm gì trong câu chuyện giải tỏa các loại chợ tạm lớn như vậy?

Kinh nghiệm thành công trong giải tỏa thì ít, mà kinh nghiệm thất bại thì nhiều. Khi không chuẩn bị đầy đủ, công phu nên nhiều chương trình giải tỏa chợ ở Hà Nội đã thất bại. Điển hình, như giải tỏa hàng rong. Bây giờ, tình hình bán hàng rong còn tệ hơn.

Mô tả ảnh.
Ngõ 2, Thịnh Yên vốn rất rộng nhưng nhiều năm nay đã phải nhường đất cho các sạp vòng bi, đồ cơ khí (ảnh: Phạm Huyền)

Nếu gọi là thành công, tôi cho rằng, việc di dời chợ xe máy Phùng Hưng có thể là một bài học thành công trong công tác giải tỏa chợ tạm.

Hồi đó, chỉ mất đúng một ngày rưỡi là chúng tôi giải tỏa xong. Bởi lẽ, cơ sở hạ tầng ở chợ mới có đầy đủ khu dịch vụ kèm theo. Chính tôi, khi đó là Trưởng ban giải tỏa chợ, đã trực tiếp xin thành phố cho miễn các loại thuế, phí dịch vụ cho bà con đến kinh doanh trong vòng 1 năm. Với cái ưu đãi đó, bà con vui vẻ chuyển nhanh chóng.

Nhìn lại câu chuyện này, tôi cho là, những người làm quản lý, phải biết trải chiếu hoa cho bà con dân chợ. Đôi khi, Nhà nước cần hi sinh khoản thu trước mắt để tạo điều kiện cho bà con di chuyển.

PV: Ông đánh giá thế nào về độ khó của việc xử lý chợ Trời?

Giải tỏa chợ Trời là khó nhưng không phải là không làm được. Trước tiên là cần quyết tâm đồng bộ ở tất cả các cấp. Đất để di chuyển chợ bây giờ là ở đâu? Đối tượng ra sao? Phải điều tra thống kê ra sao, về đối tượng kinh doanh trong chợ.

Thậm chí, phải lấy ý kiến của người dân trong khu chợ. Và nhất là, phải có một ban chuyên trách về giải tỏa chợ Trời, do quận và Sở Công Thương chủ trì.

Các sở ngành liên quan, thuế, sở địa chính phải tham gia vào, xem có thể có ưu đãi gì về thuế chẳng hạn. Nhà nước phải xây dựng cơ sở hạ tầng cho chợ mới và chợ mới thì phải thuận tiện cho người dân kinh doanh, chứ không phải ở mảnh đất đầu thừa đuôi thẹo.

Tuy nhiên, nếu làm ngay bây giờ thì câu chuyện giải tỏa chợ Trời chắc cũng khó kịp dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội.

Nếu làm rốt ráo ngay thì có thể, chỉ trong 2 năm là xong. Chợ Trời có thể có hồi kết vào năm 2011.

Cho phép TP.HCM tăng mức xử phạt giao thông

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:55 am
Tags: ,

“Giao Bộ Tài chính phối hợp với UBND TP.HCM xây dựng cơ chế đặc thù về quản lý, lập các ban ngành sao cho hiệu quả với thành phố 10 triệu dân. Về kiểm soát phương tiện giao thông, Chính phủ đồng ý cho thành phố thí điểm tăng mức đăng ký xe cá nhân; thí điểm lấy quỹ đầu tư hạ tầng giao thông chống ùn tắc” – Thủ tướng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Giao thông: Rất khó nói khi nào hết kẹt xe
TP.HCM sẽ chống kẹt xe bằng thu phí và phạt

Ngày 15/3, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Thường trực Chính phủ đã làm việc với lãnh đạo TP.HCM về những vấn đề “nóng” của thành phố.

Thủ tướng cho rằng một thành phố năng động, phát triển nhưng gặp thách thức không nhỏ bởi tình trạng ngập nước, kẹt xe ảnh hưởng đến phát triển kinh tế. Chính vì vậy, trong năm nay, TP.HCM cần thực hiện những bước đột phá về hạ tầng giao thông làm sao để kiềm chế và kéo giảm ùn tắc giao thông, ngập nước.

Muốn giải quyết vấn nạn kẹt xe, ùn tắc, Thủ tướng chỉ đạo cần phải rà soát các quy hoạch tổng thể, tính toán lại các dự án đã, đang thực hiện nhằm đảm bảo đúng tiến độ.

Theo kiến nghị của UBND TP.HCM, Thủ tướng chấp thuận cho điều chỉnh tăng mức phí đăng ký mới và cấp biển số xe ôtô từ 7 chỗ ngồi trở xuống không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách từ 2 triệu đồng lên 20 triệu đồng. Ban hành lệ phí lưu hành xe hàng năm đối với khu vực TP.HCM (mô tô, xe máy: 500.000 đồng/năm; xe ô tô từ 7 chỗ ngồi trở xuống không hoạt đông kinh doanh vận tải hành khách 5 triệu đồng/năm).

Kẹt xe là một trong 2 nhân tố đang cản trở sự phát triển KT-XH của TP.HCM. Chính vì vậy, năm 2010 Thủ tướng chỉ đạo thành phố cần quyết liệt trong cuộc chiến chống ùn tắc bằng việc thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Ảnh: Thái Phương
Thủ tướng xem bản đồ hệ thống đường sắt đô thị TP.HCM. Ảnh: Chinhphu.vn

Mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông cũng được Thủ tướng chấp thuận cho điều chỉnh Nghị định 146  theo hướng quy định đặc thù của TP.HCM như tăng mức phạt thấp nhất từ 100.000 đồng lên 1 triệu đồng đối với xe ô tô dừng đỗ không đúng quy định; tăng mức phạt từ 80.000 đồng lên 500.000 đồng nếu xe gắn máy không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông…

Trong 3 hướng đột phá mà Thủ tướng chỉ đạo thành phố cần phải thực hiện ngay là đột phá về cơ chế quản lý, về nguồn nhân lực và về hạ tầng kỹ thuật thì TP.HCM gặp rào cản không nhỏ bởi hạ tầng kỹ thuật, giao thông. Chẳng hạn, đường vành đai 3 là dự án cấp thiết liên quan đến các tỉnh TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Long An cần do Bộ GTVT làm chủ đầu tư. Sau đó, dự án cần được phân đoạn đầu tư hợp lý, phân công trách nhiệm cho từng tỉnh, đơn vị cụ thể nhằm huy động tối đa các nguồn lực…

Ngoài ra, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) với các dự án trọng điểm phải được ưu tiên lên hàng đầu. Phải dành quỹ đất cho giao thông, tái định cư cho người dân ảnh hưởng bởi dự án… “Nhiều dự án trọng điểm chậm tiến độ chỉ vì GPMB. Vì vậy, cần lên phương án GPMB trước cho các dự án chuẩn bị đầu tư, tạo quỹ đất tái định cư cho người dân. Nếu không làm tốt khâu này, cứ loay hoay vướng GPMB rồi lại chậm tiến độ” – Thủ tướng chỉ đạo.

Muốn chống ùn tắc hiệu quả, TP.HCM cần tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp như xây dựng, hoàn thiện các qui định về quản lý đô thị. Việc xây dựng hệ thống giao thông động và tĩnh, bãi đỗ xe ngầm, trung tâm điều hành giao thông hoặc tăng cường xử phạt các trường hợp vi phạm để răn đe… cũng là cần thiết.

“Giao thông tĩnh cũng rất quan trọng, một đô thị lớn như TP.HCM mà chưa có bến đậu xe, bãi đỗ xe ngầm nào đàng hoàng. Chưa kể diện tích cho bãi đậu xe cứ bị hẹp dần, nhường chỗ cho khách sạn, cao ốc thì cần phải tính toán lại”, Bộ Trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng nhận xét.

Liên quan đến các kiến nghị của TP.HCM, Thủ tướng đồng ý bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước cho một số dự án đầu tư trên địa bàn thành phố như đường cao tốc Bến Lức – Long Thành, dự án xây dựng vành đai 3, xây dựng các tuyến đường trên cao, tuyến đường sắt đô thị số 5, các công trình kiểm soát nước triều dâng,  xây dựng cơ chế kiểm soát nhập cư…

Đây là các dự án, biện pháp mang tính cấp bách, quan trọng cần được tiến hành đồng bộ trong mục tiêu chống ùn tắc ngập úng cho TP.HCM.

Next Page »

Blog at WordPress.com.