Ktetaichinh’s Blog

March 13, 2010

Mighty Mekong is drying up- China dams blamed by Thais downstream for fishing and crop woes

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:52 am
Tags: , , ,

Nirmal Ghosh, Thailand Correspondent

CHIANG KHONG: Resentment is simmering among Thai fishing communities along the Mekong River facing a prolonged dry spell and record-low water levels.

Local residents blame China’s dams upstream for disrupting fish and other marine life, causing a sharp drop in fish catches and in turn affecting their livelihoods.

Experts and Chinese officials, however, are not convinced that the problem lies with the dams.

China’s Assistant Foreign Minister told Thai Prime Minister Abhisit Vejjajiva when they met in Bangkok yesterday that its dams in Yunnan province do not have a significant impact on water levels downstream.

‘China would not do anything to damage mutual interest with neighbouring countries in the Mekong,’ Mr Hu Zheng-yue was quoted by the Thai media as saying.

The country is experiencing an unusually long dry spell. Some locals say they last saw rain in October last year.

This reporter spent two days visiting communities along the Mekong and talking to people there.

Summer has yet to peak, but already forests and roadsides are littered with tinder-dry teak leaves that crush into a million fragments underfoot.

Smoke from brush and forest fires – some started deliberately to clear land for cultivation – hangs like a shroud over the region and fills the river valley.

The Mekong is one of the world’s longest rivers.

Beginning in the Tibetan plateau, it runs through China’s Yunnan province, Myanmar, Laos, Thailand, Cambodia and Vietnam.

The river has dropped to its lowest level in at least 20 years, according to residents.

Shipping between China and Thailand has literally ground to a halt – calling into question the utility of a new port being built at Chiang Saen to accommodate 500-tonne ships instead of the current maximum of 300 tonnes.

Riverbed crops continue to wither, and household taps are running dry as the water levels in wells drop.

More than a dozen communities in towns from Chiang Saen, near Thailand’s northern border, to Pa Dai, where the Mekong leaves Thailand for a while to run through Laos, have been affected.

The locals say they have seen the river’s water level go up or down by as much as a metre in a single day.

The erratic water levels have disrupted breeding and spawning in the Mekong, where about 70per cent of the fish stock is migratory.

Locals told The Straits Times that their catches of fish had dropped and that large fish were now a rarity.

They also said that unexplained fluctuations in water levels had destroyed dry season crops such as chillies, vegetables and tobacco grown on the exposed portions of the river bed.

Thai senator Prasarn Marukpitak, who is the chairman of a senate sub-committee on the Mekong, said that ‘China does not seem concerned’.

While acknowledging that the Chinese need water for their own needs, he said they ‘should not think the river is theirs’.

Mr Niwat Roykaew, 50, the head of a conservation group based in Chiang Khong, told The Straits Times: ‘Governments can’t solve these problems. It is the people who are the key.’

Mr Niwat, who is a teacher, is part of a growing number of activists across the four lower Mekong countries who are networking at a community level to exert pressure on their governments to demand an end to the exploitation of the Mekong.

He listed other issues that add to the problem: navigation, the use of chemical fertilisers in fields adjoining the river, the use of dynamite and electricity to catch fish, and encroachments on wetlands.

But much of his ire is directed at China – and at experts who say that the drought, not the dams, is to blame for the current situation.

China, they point out, contributes just 16 per cent of the water flow in the Mekong, while Laos contributes 35 per cent.

‘Academics and experts often ignore local knowledge,’ Mr Niwat said. ‘But for us here, we just know the dams are a major factor.’

Last month, a Chiang Rai provincial official wrote to Yunnan’s governor to ask that water be released to ease the shortage in the lower Mekong, Mr Niwat said.

In his reply, the governor said he could not do so because Yunnan needed water for agriculture during the dry season.

A Thai conservationist and former senator, Ms Tuenjai Deetes, told The Straits Times it was time for a six-party agreement on sharing the waters of the Mekong.

‘There is clear evidence that development projects that do not consider trans-boundary social and environmental impacts have disastrous impacts on downstream areas,’ she said.

Advertisements

January 9, 2010

Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)- Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:27 am
Tags: , , ,
Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)

Trước việc Chính phủ Indonesia, dưới sức ép mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, có thể sẽ quyết định hoãn việc thi hành một số điều khoản của hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), vì lo sợ những ngành như dệt may, da giày, sắt thép, của mình sẽ lâm vào cảnh khốn đốn dưới sức cạnh tranh của hàng giá rẻ của Trung Quốc tràn vào, khi thuế suất được đưa về mức 0% vào đầu năm nay, theo đúng lộ trình cam kết, Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi nhanh với các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp…

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, người đã có nhiều năm theo dõi, nghiên cứu về tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam và tác động của nó đối với doanh nghiệp, đánh giá về hành động của Indonesia:

Mối lo của Indonesia rất thực tế, và chính đáng nhằm bảo vệ cho các doanh nghiệp của họ. Từ góc độ nghiên cứu, tôi nghĩ chắc chắn nhà nước họ phải xem xét. Đối với những nước đang phát triển như Indonesia, Việt Nam, hay các thành viên ASEAN khác, hễ ngành nào còn tương đối có thị trường trong nước là y như rằng chịu sức ép cạnh tranh rất mạnh từ Trung Quốc.

Việt Nam có thêm năm năm để chuẩn bị cho ACFTA, nhưng tôi vẫn thấy không yên tâm. Do khủng hoảng kinh tế, xuất khẩu đã khó khăn hơn nhiều, nay miếng bánh ở thị trường nội địa lại có nguy cơ bị nhỏ lại bởi những hàng hoá giá rẻ từ Trung Quốc.

Với ACFTA, ngay từ khi thực hiện ở giai đoạn thu hoạch sớm, Việt Nam thiệt nhiều hơn lợi. Hàng Việt Nam bán sang Trung Quốc, vốn đã quá ít so với hàng Trung Quốc bán sang Việt Nam, lại vẫn chủ yếu là những mặt hàng nguyên liệu thô.

Bà có nghĩ rằng chính do khủng hoảng kinh tế, những thị trường lớn như Mỹ, hay EU, bị thu hẹp lại, và nền kinh tế được coi là công xưởng thế giới buộc phải quyết liệt tìm những thị trường khác, như ASEAN, để bù lại?

Đúng vậy. Và bản thân họ cũng phải tự kiềm chế xuất khẩu một số hàng sang Mỹ, hoặc EU, như sắt thép, da giày, dệt may, nhằm tránh sự cạnh tranh trực diện có thể xảy ra, bởi những mặt hàng đó quá nhạy cảm về mặt lao động trong bối cảnh suy thoái. Dư thừa công suất của Trung Quốc chắc chắn sẽ tràn sang các thị trường khác như ASEAN. Nguyên bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, khi khủng hoảng xảy ra, đã nêu rằng khoảng 50 –70 tỉ USD giá trị hàng hóa của Trung Quốc đã được chuyển sẵn xuống miền nam Trung Quốc để chuẩn bị xuất xuống ASEAN.

Tại sao các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ này lại không lên tiếng mạnh mẽ với Chính phủ, như trường hợp của Indonesia?

Có một điều rất đáng tiếc là quá trình đàm phán thương mại của Việt Nam với các đối tác liên quan, ví dụ như với Trung Quốc, hầu như giới doanh nghiệp, một trong những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất, đều không được biết, không được mời tham vấn là nên mở cửa đến đâu, và với những sản phẩm nào. Còn hoạ chăng nếu có mời tham vấn, Chính phủ chỉ mời các doanh nghiệp lớn của Nhà nước, và trong nhiều trường hợp lợi ích của họ không phản ánh lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp nói chung.

Chẳng hạn, với chương trình thu hoạch sớm, với vài trăm mặt hàng giảm thuế hàng năm theo lộ trình, doanh nghiệp chỉ được biết vào đầu mỗi năm mới, khi bộ Tài chính công bố. Nếu họ được quyền tham vấn, có thể những cam kết của chúng ta đã thận trọng hơn.

Việc đàm phán ký kết, Chính phủ coi đó đó là việc riêng của mình, nên không tham vấn cộng đồng doanh nghiệp. Thậm chí, những cam kết đó còn được coi là tài liệu mật. Tôi nhớ mãi chuyện cách đây khoảng chục năm, khi Việt Nam và Mỹ hai bên hoàn tất hiệp định thương mại song phương, phía Mỹ thì đã công bố hết những cam kết lên mạng, còn ở Việt Nam trong văn bản của các bộ liên quan vẫn còn đóng dấu mật.

Ngoài chuyện bao biện của Nhà nước, tiếng nói của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam phải chăng quá yếu ớt so với các đồng nghiệp ở các nước khác…

Nếu nói nhiều hiệp hội doanh nghiệp là cánh tay nối dài của Nhà nước cũng chẳng oan cho họ đâu. Tình trạng hành chính hoá hoạt động của các hiệp hội này quá nặng nề. Các hiệp hội vẫn do các doanh nghiệp lớn, đa phần là quốc doanh, đứng chủ trò, và tiếng nói lợi ích của họ át đi tiếng nói lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hơn nữa, một loạt các vị quan chức về hưu được bổ nhiệm là chủ tịch các hiệp hội, và, ít hay nhiều, họ cũng mang theo cái phong cách hành chính của mình vào hiệp hội. Mối quan hệ quen biết với những người đương nhiệm khiến họ cũng có khi khó ăn khó nói. Rồi những gì mà doanh nghiệp thuộc hiệp hội đang phải oằn lưng ra gánh chịu có khi lại do những cam kết thiếu thận trọng của ông chủ tịch hồi đang còn làm quan chức chính phủ. Bây giờ phản bác lại nhân danh các các hội viên hoá ra lại tự phản bác lại mình à?

Ngoài hàng giá rẻ đang tràn sang Việt Nam, ngay cả đến hoa quả không an toàn mà Chính phủ Trung Quốc đã khuyến cáo dân họ không được ăn, cũng có nguy cơ tràn sang Việt Nam. Vậy, Chính phủ Việt Nam phải làm gì, chẳng hạn dùng những rào cản kỹ thuật, để bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng?

Cái khác của các nước khác so với Việt Nam là sau khi ký kết các hiệp định thương mại, bên cạnh việc mở cửa thị trường, họ cũng dựng lên các hàng rào kỹ thuật. Tự do hàng hoá càng mạnh, hàng rào kỹ thuật càng nhiều, bởi chẳng ai dại gì mở toang cửa nhà mình cho hàng hoá thiên hạ tràn vào rồi bóp chết các doanh nghiệp của mình.

Còn Việt Nam ta, khi thực hiện các cam kết mở cửa thị trường, tỏ ra khá nghiêm túc khi cắt giảm thuế quan, nhưng lại rộng lượng tới mức không dựng lên các hàng rào kỹ thuật tương ứng để bảo vệ “gà nhà” khỏi những cạnh tranh bất hợp lý và không lành mạnh từ bên ngoài. Chúng ta có pháp lệnh về quyền tự vệ, pháp lệnh về chống bán phá giá, nhưng trên thực tế những pháp lệnh đó gần như là không thiêng, chẳng ai chịu sử dụng. Theo dõi của tôi, mãi gần đây mới có hiệp hội Gốm xây dựng đang đề nghị Chính phủ điều tra về hàng vật liệu xây dựng của Trung Quốc có dấu hiệu bán phá giá trên thị trường Việt Nam.

Còn về vệ sinh an toàn thực phẩm, do hàng rào của mình quá yếu, các cơ quan có liên quan thường liếc nhau để chuyền quả bóng trách nhiệm.

January 7, 2010

China-ASEAN pact offers more than win-win

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:52 am
Tags: , , ,

The formal inauguration of the ASEAN-China Free Trade Area (ACFTA) on January 1 marks the culmination of arguably the most successful big-power diplomacy of the post-Cold War era.

Since 1991, China’s relations with Southeast Asia have moved from an alliance of convenience with the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) against Vietnam, Cambodia and Laos to close and multi-dimensional interaction with an expanded 10-member ASEAN and with each of the association’s member states (in addition to the above-mentioned trio, the group now includes Myanmar alongside founding members Brunei, Indonesia, Malaysia, the Philippines, Singapore and Thailand).

A similar pattern of China’s successful engagement with neighbors can be seen in the Shanghai Cooperation Organization with Russia and Central Asia and, less successfully, in the six-party talks in northeast Asia over North Korea’s nuclear program. With the exception of China’s trans-Himalayan border, promotion of regional multilateral institutions has progressed hand-in-hand with strengthening bilateral relationships.

The formula for China’s successful good neighbor policy has many labels, but the simplest is “win-win”. Every country in Southeast Asia has benefited from broader and deeper relations with China, and ASEAN as a regional organization has been strengthened by China’s involvement.

Trade, investment and tourism have blossomed. China’s willingness to sign the Framework Agreement on Comprehensive Economic Cooperation in 2002 and the Treaty of Amity and Cooperation in 2003 encouraged other nations to follow suit. Despite global economic uncertainty displacing US-centered globalization, China and ASEAN are off on the right foot in a new era. But the path ahead is not simply a yellow brick road of win-win policies.

Why not? What could possibly be wrong with win-win? A cynical power theorist would say that if one side wins more than the other, the one who wins less may end up being dominated by the one who wins more. But this hardly applies to Southeast Asia. No individual state in Southeast Asia has ever considered itself the equal of China. Moreover, China’s military budget surpassed the aggregate military budgets of Southeast Asia in the 1990s. And ASEAN is no North Atlantic Treaty Organization. Rather than being a security umbrella for coordinating action in crisis situations, ASEAN is more of a consensual parasol that works best in sunny weather. If losing parity with China were the tipping point for subjugation, Southeast Asia lost long ago.

Win-win is too simple a formula precisely because of the disparities between China and Southeast Asia. Individually and collectively, Southeast Asian nations are more exposed in their relationship with China than vice versa. According to estimates of the Central Intelligence Agency in the United States, all of ASEAN together in 2008 had only one-third of China’s gross domestic product (GDP) in terms of purchasing power parity (PPP). The economy of Shanghai is one-and-a-half times that of Singapore. Guangdong’s GDP exceeds that of Indonesia, while the combined economies of Guangxi and Yunnan, middling provinces by Chinese standards, exceed those of their neighbors Vietnam, Laos and Myanmar.

Therefore, Southeast Asia is necessarily more alert to the risks as well as the opportunities of its relationship to China. Proportionally, it has more at stake, and the sense of risk as well as opportunity is all the more vivid to individual states in Southeast Asia.

Southeast Asia’s dilemmas in dealing with China can be illustrated by the recent controversy in Vietnam over Chinese investments in bauxite mining and processing. It is certainly a win-win situation. The Chinese company involved, Chinalco, is a major global investor in bauxite mining and alumina processing. Bauxite occurs in limestone areas with poor agricultural prospects. Vietnam has the world’s third-largest bauxite reserves, and hopes to attract US$15 billion in investment in this area by 2025. It needs the investment in the current global economic climate, and it also needs to offset its severe balance of payments deficit with China.

But the Vietnamese people have been very concerned about Chinese bauxite development. They are concerned about the ecological effects of mining; about the major stake that a powerful Chinese company would have in central Vietnam; and about losing jobs to imported Chinese workers. They do not want to have the future of a major national resource in the hands of an outside power. Win-win is not enough. Vietnam wants reassurance about its long-term interests because it is dealing with a much larger neighbor.

Similarly, the proposal of two corridors, rail and highway, from Nanning, the capital of the coastal Guangxi autonomous region, bordering Vietnam, to Singapore would undoubtedly benefit Vietnam. The corridors would run most of the length of Vietnam, thereby improving domestic transportation as well as connections to China and to the rest of mainland Southeast Asia. However, given current patterns of trade, far more goods will be coming down the corridors from China than going up from Vietnam, and much of Vietnam’s exports would continue to be raw materials and resources.

This is still win-win for China’s producers and Vietnam’s consumers, but consumers also need to produce, and Vietnam’s economy must continue to modernize and become more sophisticated. It is therefore hardly a surprise that on such win-win projects China pushes forward while Vietnam hesitates. A change at the periphery of China’s economy could affect the heartland of Vietnam’s.

Vietnam is the most sensitive country in Southeast Asia to China, but the entire region is aware that its interests and China’s interests are not identical, even if many are compatible. The problem of asymmetric relationships cannot be solved, it can only be managed.

Take for example China’s single most successful gesture in its regional relations. In 1997, China held the value of the yuan steady against the dollar while the Southeast Asian currencies were falling. Its neighbors were impressed that China could succeed where they failed, and they were grateful that China prevented a race to the bottom in currency devaluations.

Since August 2008, China has pursued exactly the same policy, but its effects on Southeast Asia are the opposite of a decade earlier. Now the yuan’s peg to a declining US dollar is forcing neighbors to compress their currency values in order to maintain market share. China’s neighbors wonder how long currency compression will last and what will happen when the yuan finally does revalue. There is little reassurance from China, and no claim that it is helping the neighborhood.

The tension between China and Southeast Asian states over conflicting claims in the South China Sea has become the symbol of the region’s collective uneasiness concerning China’s commitment to cooperation. The “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea” signed in 2002 was a watershed event in regional confidence-building, but there has been little further progress.

Moreover, China’s expansion of naval facilities on Hainan raises concerns throughout the region regarding China’s military transparency and intentions. In fact, however, multilateral cooperation is the only feasible way for any country, China included, to profit from the disputed area. It would be difficult to extract oil at gunpoint, and the costs to China’s regional and even global relations would outweigh any possible gains. The only winning path in the South China is one of more serious cooperation and reassurance.

While win-win is the slogan of the day, deeper principles have lain behind China’s successes of the past two decades. China’s willingness to work with multilateral regional institutions has been a big part of the winning formula. Participation in ASEAN’s general relationship with China buffers the exposure of each individual state. This benefits China as well as ASEAN.

Vulnerability causes smaller states to hesitate in asymmetric relationships, while collective agreements reduce individual vulnerability. Within each bilateral relationship, sensitivity to the dilemmas faced by the smaller side even in a win-win situation is essential for continued development.

For example, not only does Vietnam have reason to expand its merchandise market in China, but China has an interest in Vietnam’s marketing success. Currently, Vietnam’s weak sales to China are a major trade bottleneck; a more balanced relationship would enable trade volume to expand on a solid basis.

Finally and most importantly, China’s traditional respect for the sovereignty and autonomy of all states becomes ever more important with the growth of China’s relative power. As Sophie Richardson’s recent book on China-Cambodia relations demonstrates, the “Five Principles of Peaceful Coexistence” have been an especially important foundation of China’s relations with smaller states. [1] The time has come to multilateralize the five principles into a general respect for regional consensus and international agreements and institutions.

In the new era of global economic uncertainty, the risks that smaller countries face are more vivid than their opportunities. The special task faced by regional powers, whether China, or South Africa, or Brazil, or India, or Russia, is to earn regional leadership by reassuring neighbors that their interests and voices will be respected.

Moreover, they need to take the lead in regional projects that address common problems. But to do so effectively they must act in a spirit of multilateral respect. For the past two decades, China has led the cohort of regional powers in developing cooperative relationships with neighbors, and one of the fruits of success is the successful beginning of ACFTA. But it is only a successful beginning, it is not the end of the road.

Note
1. China, Cambodia, and the Five Principles of Peaceful Coexistence, by Sophie Richardson. Columbia University Press, 2009.

Brantly Womack is the Cumming Memorial Professor of Foreign Affairs at the University of Virginia. His recent books include China and Vietnam: The Politics of Asymmetry (Cambridge University Press, 2006) and China among Unequals: Asymmetric Foreign Relations in Asia (World Scientific, forthcoming).

(Copyright 2010 Brantly Womack.)

January 3, 2010

Tản mạn về ASEAN qua những chuyến đi – vu quang viet

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:09 pm
Tags: , ,
Tòa nhà Phủ thủ tướng ở Putrajaya, thủ đô hành chính mới của Malaysia.

(TBKTSG) – Trong năm qua, tôi lại được dịp tới nhiều nước châu Á, đặc biệt là hầu hết các nước ASEAN. Nhiều nước hơn mười năm qua tôi đã không có dịp trở lại. Malaysia là một, Myanmar là hai. Và cả Trung Quốc cũng như Indonesia rất nhiều năm rồi tôi mới được dịp trở lại.

Tất nhiên ấn tượng nhất về sự thay đổi vẫn là Trung Quốc. Nhiều bạn bè, người quen đã về hưu, tóc cũng bạc thêm. Nhưng cũng có những người trẻ hồi xưa giờ đã lên nắm những chức vụ then chốt, kể cả trở thành lãnh đạo trong ngành thống kê.

Có những nước tôi ở cả tháng, có những nước chỉ một hai tuần, thậm chí vài ngày, chưa đủ để biết rõ về những biến chuyển xã hội nhưng khá đủ để biết về một thực thể gọi là ASEAN, tổ chức 10 nước Đông Nam Á mà theo lộ trình định sẵn kéo dài từ 1992, sẽ giảm thuế nhập khẩu hàng hóa có nguồn gốc giữa các nước trong khối xuống 0-5%, và xuống 0% giữa sáu nước thành viên kỳ cựu vào năm 2010. Điều này xem như sẽ đạt được.

Vị trí đặt quảng cáo

Ít nhất do sự hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn về mặt kinh tế, việc đi lại của công dân các nước ASEAn không còn cần thị thực nhập cảnh, trừ Myanmar. Lần đầu tiên tôi cảm thấy tấm hộ chiếu Việt Nam cầm trong tay thực sự có giá trị. Trừ Myanmar, tôi không cần qua các sứ quán xin thị thực nhập cảnh, vừa nhiêu khê và lại tốn tiền lệ phí.

Đi lại giữa các nước thành viên không cần thị thực nhập cảnh là một bước tiến khó tưởng tượng được khi các nước còn thù nghịch và nghi ngờ lẫn nhau đến tận cuối những năm 1990, và hiện nay cũng chưa hết, như đang tồn tại giữa Thái Lan và Campuchia.

Tháng bảy năm ngoái, theo yêu cầu của Ban thư ký ASEAN, tôi đã được sự tài trợ của USAID làm một chuyến đi bảy nước ASEAN để đánh giá và làm một cuộc vận động tổ chức cuộc họp hàng năm về thống kê khu vực, với mục đích tạo khung hoạt động để các nước ASEAN giúp đỡ lẫn nhau về mặt thống kê kinh tế. Đây là sự hợp tác đã đạt được ở Liên hiệp châu Âu, ở nhóm các nước Hồi giáo và ở nhóm các nước Nam Mỹ. Các nước ASEAN sau đó có cuộc họp phê chuẩn kế hoạch nhưng qua một năm vẫn chưa có động thái thực hiện.

Cái khó hiện nay là có những nước rất giàu, hoặc có lực tài chính lớn vì đông dân; có nước lại rất nghèo và ít dân, khó có thể tham gia toàn bộ các cuộc họp, hay các hoạt động nhằm gắn bó các hoạt động của nhóm nước này. ASEAN hiện nay vẫn chưa có hình thức tổ chức quỹ chung để tài trợ hoạt động của những nước thiếu khả năng tài chính, và một lý do nữa cũng không kém quan trọng là ngay cái nhìn gắn bó mang tính chiến lược giữa các nước ASEAN cũng chưa có.

Chừng nào chưa xác định được lợi ích chung của toàn khối các nước ASEAN, và chừng nào các nước này chưa sẵn sàng cùng chung sức bảo vệ “thương hiệu” ASEAN thì chừng đó tổ chức ASEAN sẽ chỉ là cái diễn đàn để nước lớn sử dụng.

Malaysia

Tôi đã ở Malaysia hơn một tháng rưỡi. Làm việc gần một tháng và du lịch gần một tháng. Hình như vấn đề xã hội ở đây nóng hơn trước, mạch ngầm mâu thuẫn dân tộc mạnh hơn trước, mặc dù đã có chính sách mới nới rộng hơn chính sách “chỉ tiêu” trong việc phân phối theo tỷ lệ dân tộc (Mã Lai, Hoa, Ấn) số sinh viên được nhận vào trường đại học công và số người giữ các chức vụ quan trọng trong chính phủ và số hợp đồng của nhà nước. Chính trị gia gốc Hoa đã hợp tác với các đảng phái Mã Lai, hoạt động đối đầu với liên minh nắm chính quyền hiện nay.

Xã hội Malaysia đã mở rộng hơn, việc thiết lập nhiều trường đại học tư đã cho phép người Hoa và người Ấn không vào được trường công vì chính sách chỉ tiêu đã có cơ hội thăng tiến. Kinh tế Malaysia có thể nói là phát triển nhất trong khu vực, không kể Singapore nhỏ bé, một quốc gia thành phố dễ dàng quản lý hơn, cũng không tránh khỏi khó khăn vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay. Trước đây Malaysia đã phải cần đến lao động tay chân của nhiều nước chung quanh, từ Indonesia đến Bangladesh và cả Việt Nam. Thất nghiệp đã tạo ra những người lang thang, gây ra tội ác và tác động đến cái nhìn với những người trong khu vực.

Tôi được dịp đến thăm Ipoh, Malacca và Penang, và được dịp gặp các công nhân Việt Nam làm việc tại đó, và kể cả những chị em người Việt kết hôn với người Malaysia mà không nói nổi một câu tiếng Anh. Một số chị em làm việc cho một công ty làm găng tay cao su dùng trong y tế ở chung với nhau hơn chục người trong một căn nhà khang trang.

Họ kể với tôi họ đi làm, thường kéo dài đến 10 tiếng rồi về nấu ăn chung và để dành tiền gửi về gia đình. Cuộc đời ba năm hợp đồng chỉ có thế. Không có cơ hội học một vài chữ tiếng Anh. Thế mà có khi trên đường đi về nhà họ cũng bị chặn đánh lột tiền. Một gia đình người Mã Lai thân quen với tôi cả chục năm trước, cũng có người trong gia đình bị chặn giết lột tiền trên đường về nhà. Mà đây là ở khu vực có mức sống cao hơn mức trung lưu.

Sông Malacca, Malaysia..

Cái nhìn thiện cảm về người lao động nước ngoài mất đi rất nhiều. Trước đây, khi tôi đến Malaysia, người ta nhìn người Việt như những anh hùng, giỏi giang, đáng nể. Bây giờ khi tiếp xúc với nhiều người lao động, hình như người ta nhìn người Việt khác đi nhiều. Chính sách xuất khẩu lao động đã giúp nền kinh tế Việt Nam đỡ khó khăn và mở lối thoát cho bế tắc kinh tế trong nước không vì lý do gì phải ngăn chặn, nhưng chính sự phát triển không từ nội lực này cũng không phải là lối thoát, để tạo ra lòng tự tin dân tộc.

Trong lúc trà dư tửu hậu, những người bạn thân quen Philippines đã nói với tôi, Philippines đã từng là quốc gia phát triển nhất châu Á, không tiến được cũng vì đã phải chấp nhận con đường này, đó là chưa kể Philippines đã liên tục chảy máu chất xám, sáng sủa nhất là làm chuyên gia cho các tổ chức quốc tế.

Cũng vừa qua Mông Cổ làm việc, rõ ràng tôi thấy sự tự tin của họ. Chế độ cộng sản không còn, nhưng Đảng Cộng sản lại đắc cử, trở lại chính trường nắm quyền. Không nhìn thấy đâu một chữ tiếng Hoa ở Ulan Bator. Ngay chữ tiếng Anh cũng hiếm. Người Mông Cổ phải nói là cố gắng hết sức tự nguyện tham gia, vừa học hỏi, vừa tạo vai trò trong các hoạt động thống kê, ít nhất là ở châu Á. Tôi và nhiều người đã có cái nhìn rất khác về người Mông Cổ. Một nước đang vươn lên nhằm khẳng định mình.

Việt Nam hình như đang rơi vào cái bẫy như Philippines. Không ít trí thức trẻ tuổi trong nước cũng tìm đường mưu sinh và thăng tiến ở nước ngoài.

Trở lại Malaysia, nơi tôi đã nhiều năm bỏ công xây dựng một phần thống kê kinh tế cho họ, xúc động vì sau hơn mười năm họ vẫn nhớ đến việc làm của tôi, đón tiếp như một người bạn. Trở lại như thế tôi có thể nhanh chóng nắm bắt vấn đề, điều hành việc thực hiện điều họ cần. Liên minh cầm quyền ở Malaysia đã mất quyền ở một vài bang cho nên vấn đề phát triển kinh tế đồng đều được đặt ra và thế là họ cần tính toán GDP của từng bang.

Và đó là lý do tôi đã làm việc liên tục, ngồi cùng một phòng, ngày 8 tiếng, với một nhóm chuyên viên khoảng 10 người, lúc làm chung, lúc làm riêng, thử nghiệm và thiết lập hệ thống tính GDP cho từng tỉnh, hoàn thành công việc trong một tháng. Đây là một hướng thực hiện đúng đắn, thay vì để từng bang tự tính và tự thổi phồng, nâng thành tích như đã xảy ra ở Việt Nam và Trung Quốc.

Một số nguyên tắc tính toán đã được tranh luận, thảo luận với tổ kế hoạch kinh tế trong văn phòng Thủ tướng và đi đến quyết định khá nhanh chóng. Thí dụ bang Teranggnu là bang nghèo nhất ở Malaysia, nhưng nếu tính khai thác dầu hỏa thì bang này lại có thu nhập đầu người cao nhất Malaysia.

Vậy thì tính như thế nào? Tôi hỏi vậy thu nhập dầu hỏa đi về đâu? Vào tay Petronas là công ty dầu hỏa quốc gia hay vào ngân sách chính quyền bang? Đại diện Petronas trả lời là hoàn toàn thuộc về chính quyền trung ương. Như thế đây là một hoạt động kinh tế thuộc chính quyền trung ương, chứ đâu thuộc bang. Nếu tính vào thu nhập của bang sẽ chẳng khác gì đem kết quả hoạt động của dầu khí ngoài khơi Việt Nam ghép vào Bà Rịa – Vũng Tàu hay TPHCM, hay sau này ghép khai thác bauxite vào Tây Nguyên. Đây chỉ là một trong nhiều vấn đề cần giải quyết để tính GDP cho bang hay tỉnh.

Lào

Khi đến Lào làm việc một tháng, ngoài nội dung chính, tôi cũng được yêu cầu giải quyết một vấn đề tương tự. Dĩ nhiên Lào ở mức thấp hơn vì số liệu thống kê chưa được thu thập trên cơ sở từng tỉnh như ở Malaysia. Nhưng người Lào rất ấn tượng về Việt Nam là đã có GDP từng tỉnh và yêu cầu chính trị là thiết lập chúng. Tôi có góp ý, các bạn chắc không muốn lặp lại kinh nghiệm của Việt Nam và Trung Quốc là GDP tỉnh nào cũng tăng khoảng 10% một năm nhưng GDP cả nước thì chỉ 7-8%.

Tượng và phù điêu ở một ngôi chùa tại Vientiane, Lào.

Lào là một quốc gia có truyền thống hữu nghị lâu đời với cách mạng Việt Nam. Rất nhiều người đã được gửi sang Việt Nam học từ bé, và gần đây dù không lớn lên trong môi trường Việt Nam thì cũng thường xuyên được sang Việt Nam học ngắn ngày hoặc tham quan. Nhiều người trong cấp lãnh đạo nói tiếng Việt rất sõi.

Luang Prabang là một tỉnh tôi nghe tiếng từ lâu, lần này mới được đến thăm và làm việc. Đây có thể là một tỉnh kiểu mẫu, phát triển mà vẫn có ý thức bảo vệ môi trường và di tích lịch sử. Đường sá sạch sẽ hơn hẳn Vientiane, nơi mặc dù không có rác, nhưng đầy bụi bặm. Ít có một tỉnh nào ở châu Á còn sót lại như vậy. Nhiều khu rừng bạt ngàn được trồng. Những công viên thác nước được xây dựng với ý thức bảo vệ thiên nhiên. Có lẽ Việt Nam cần sang học người Lào thay vì ngược lại. Thế mà lãnh đạo ở đây đều học từ Việt Nam.

Ông phó chủ tịch tỉnh và nhiều quan chức mà tôi gặp nói tiếng Việt thông thạo. Nhưng điều này tôi sợ cũng khó dài lâu. Người Trung Quốc đã xâm nhập khá sâu vào Lào. Ở Vientiane có thể tìm thấy rất nhiều tiệm ăn tàu hoành tráng, nhưng gần như không tìm ra một tiệm ăn Việt Nam nào có thể sánh kịp. Tất nhiên người Lào vẫn thích ăn phở, phở Lào có lẽ bắt nguồn từ Việt Nam nhưng đã được biến chế mang hương vị Lào. Ở thủ đô, chỉ có một tiệm phở Việt Nam là Yep, rất đông người ăn. Ngay trung tâm thành phố, còn có một trung tâm thông tin về Việt Nam nhưng quả thực không có gì để coi hoặc để hỏi. Cái nữa mà quan chức Lào ở trung ương hơn hẳn Việt Nam là họ nói tiếng Anh rất tốt. Tôi làm việc với Cục Thống kê Lào bằng tiếng Anh mà không cần thông dịch. Buổi thuyết trình ở Bộ Kinh tế Kế hoạch cũng không cần thông dịch.

Myanmar

Myanmar là nước trong cả chục năm nay bị cô lập. Sự cô lập này đã đẩy Myanmar chỉ còn một đối tác duy nhất: đó là Trung Quốc. Theo tin tình báo thì Trung Quốc đã xây dựng một cảng quân sự ở miền Nam Myanmar, mở đường vào Ấn Độ Dương. Đây cũng là lý do Mỹ không thể mãi cô lập họ. Và đây cũng là lý do tôi được dịp trở lại Myanmar, trong một chương trình của Liên hiệp quốc gọi là tạo sự hữu hảo với chính quyền Myanmar.

Ngay cả thủ đô mới Nay Pyi Taw (thành phố của vua) cũng hoàn toàn cô lập với nội địa Myanmar, một phần nghe nói để không làm tăng mức dân của Yangon, thủ đô cũ, nhưng một phần không nhỏ là triệt tiêu hoàn toàn ảnh hưởng của sự chống đối nếu có. Thủ đô mới nằm trong một thung lũng lớn, trước đây là rừng, đã bị đốn sạch, được nối với Yangon bằng một xa lộ, đổ bê tông, ít nhất là 4 làn xe, nhưng nhiều nơi là 8 làn xe, chạy bon bon phải mất hơn 4 tiếng lái xe.

Một ngôi chùa ở Yangoon, Myanmar.

Trên đường, cả lần đi tới và về tôi chỉ thấy vài chiếc xe hơi. Con đường đi qua khu vực gần như không có dân cư. Một cảnh tượng rất siêu thực. Thủ đô cũng chỉ có một số nhà cao tầng dành cho viên chức, rải rác trên vài con đường nhỏ hơn từ một đại lộ chính. Có một vài khách sạn rất lớn, gồm những ngôi nhà riêng lẻ, nhìn ra hồ nhân tạo, hoành tráng, gần như chỉ dành cho những người đi công tác, nhiều ngày chỉ có tôi và một hai người nữa là khách trú.

Lác đác ở thủ đô là một vài nơi có người, có tiệm ăn. Nhưng đi tới nơi cũng mất 15 phút hoặc nửa tiếng lái xe từ khách sạn tôi ở. Đi từ cơ quan này đến cơ quan khác thì không thể không có xe hơi. Có thể nói, đây là một thành phố đầy bê tông và chưa có người. Trong một bữa ăn được mời vì tôi là khách ở quá lâu, ông giám đốc quản lý khách sạn nói với tôi, nhiệm vụ của ông ấy là làm sao giảm lỗ tới mức thấp nhất.

Hai tuần lễ huấn luyện, ăn trưa hàng ngày với 20 chuyên gia cấp cao ở Bộ Kế hoạch, ngân hàng, tài chính và một số giáo sư đại học, tôi nhận thấy là Myanmar vẫn còn nhìn người Việt như những anh hùng. Ảnh hưởng của Trung Quốc có thể chỉ ở cấp lãnh đạo tối cao chứ không lan đến quan chức và người dân.

Cuộc xung đột nhằm nắm quyền kiểm soát người thiểu số ở vùng biên giới với Trung Quốc đang gây căng thẳng giữa hai nước. Myanmar là thành viên của ASEAN nhưng hình như họ là một thành viên cô lập. Và có lẽ họ sẽ bỏ phiếu cho những người không cô lập họ. Ở vị thế chủ tịch ASEAN năm 2010, việc giúp Myanmar và Mỹ đạt tới những hiểu biết để hai bên từ bỏ chính sách đối nghịch sẽ làm tăng vai trò của Việt Nam trong việc xây dựng uy thế cho ASEAN. Và tất nhiên là lợi ích mang đến cho Việt Nam không phải là nhỏ.

Trung Quốc

Một năm qua tôi đã bốn lần đi Bắc Kinh. Có lúc tôi đã có ý định sang Bắc Kinh dạy học theo lời mời của một trường đại học ở đó. Cũng đã bỏ công hai năm, rị mọ học chữ Hán, nhưng rồi phải suy nghĩ lại vì một sự kiện. Đó là bài viết của tôi trên Vietnamnet về yêu sách phi lý của Trung Quốc, coi vùng biển trong đường lưỡi bò, chiếm tới 80% Biển Đông là lãnh hải của họ. Điều này hoàn toàn không phù hợp với luật biển Liên hiệp quốc.

Một anh bạn người Trung Quốc đã báo cho tôi biết là có điện thoại thẳng từ Trung Quốc nói là không hài lòng với bài viết. Tôi ngạc nhiên hỏi lý do. Anh ấy trả lời là đó là vì bài viết đã được dịch ra tiếng Trung. Tôi nói mục đích bài viết không phải là để chống Trung Quốc, mà là để kêu gọi đi đến một giải pháp mà mọi người ở châu Á và các nước đang có quyền đi lại tự do trong vùng biển này có thể chấp nhận được.

Đường dẫn lên chiếc cầu bắc qua sông Hoàng Phố, Thượng Hải, Trung Quốc.

Một giải pháp tốt đẹp hợp lý dựa trên luật quốc tế sẽ đương nhiên nâng vai trò lãnh đạo trong khu vực của người Trung Quốc. Còn không sẽ tiềm ẩn một cuộc tranh chấp có thể đi đến chiến tranh mà không ai được lợi. Phản ứng của Trung Quốc như thế làm tôi tưởng sẽ không còn được thị thực vào Trung Quốc làm việc trong chương trình của họ. Nhưng họ đã không làm điều đó.

Trung Quốc có một chính sách khá rõ là gậm nhấm và đe dọa, gây cho đối phương sợ hãi về sức mạnh của họ, không cần đánh nhưng đòi được nhượng bộ và sẵn sàng cho mượn tiền đầu tư, để quyền lợi của nước sở tại gắn chặt vào lợi ích của Trung Quốc. Tất nhiên nước lớn nào muốn bá chủ cũng làm thế. Có chăng nước lớn khác còn có nguyên tắc ứng xử minh bạch.

Dùng tiền viện trợ dưới hình thức cho vay có lẽ là nguyên nhân đưa Philippines tới việc ký kết cùng hợp tác nghiên cứu địa chấn trong khu vực thỏa thuận ở Biển Đông. Việc thỏa thuận này ngầm công nhận Trung Quốc có quyền lợi rộng rãi ở Biển Đông, đồng thời đẩy Việt Nam vào thế chấp nhận tham gia. Nhưng nghiên cứu địa chấn ấy lại cũng xảy ra trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Phản đối mãnh liệt từ nghị viện Philippines, đã làm thỏa ước này không thể tiếp tục.

January 1, 2010

Nhìn lại Bắc Triều Tiên một năm qua

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:32 am
Tags: ,
Kurt Achin
30/12/2009
Kim Jong Il
Có nhiều đồn đoán về sức khỏe của ông Kim Jong Il.

Thông tín viên VOA Kurt Achin ghi nhận các diễn biến quan trọng tại Bắc Triều Tiên trong năm vừa qua.

Năm 2009 bắt đầu bằng một câu hỏi lớn: tình hình sức khỏe của lãnh tụ Kim Jong Il thực sự ra sao?

Ông Kim vắng mặt trong một số dịp quan trọng, kể cả dịp phóng thử loại rocket tầm xa mà cả thế giới lấy làm bực bội.

Vài ngày sau khi có vụ phóng rocket này, ông Kim xuất hiện tại một phiên họp Quốc hội, trông có vẻ ốm yếu hơn. Đa số các chuyên gia tin ông ta đã bị tai biến mạch máu não.

Yang Moo-Jin, chuyên gia tại viện Nghiên cứu Bắc Triều Tiên tại trường đại học Seoul nói: “Bộ máy tuyên truyền của Bắc Triều Tiên giải thích với nhân dân ông Kim trông như vậy không phải vì sức khỏe yếu kém, mà vì phải làm việc ngày đêm cho nhân dân, phải đi tham quan hết nơi này đến nơi khác, đại loại là như vậy”.

Bắc Triều Tiên tiếp tục biện minh cho chương trình phát triển vũ khí hạt nhân và tiến hành một vụ thử nghiệm hạt nhân lần thứ nhì. Theo giáo sư Koh Yu-Hwan của trường đại học Donguk ở Nam Triều Tiên, cuộc thử nghiệm này nhằm gây sức ép để Hoa Kỳ hoặc là đàm phán trực tiếp với Bình Nhưỡng, hoặc là sẽ thấy Bắc Triều Tiên phổ biến vũ khí hạt nhân.

Vài tháng sau đó, cựu Tổng thống Nam Triều Tiên Kim Dae-jung từ trần, tạo cơ hội để hai miền Nam Bắc xích lại gần nhau. Miền Bắc gửi sứ giả đến phúng điếu và tiếp xúc với Tổng thống Lee Myung-bak, người đã bị báo chí nhà nước Bắc Triều Tiên gọi là “kẻ phản bội” vì đã đưa ra những chính sách cứng rắn đối với miền Bắc.

Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton, phu quân của Ngoại trưởng Hillary Clinton, đến Bình Nhưỡng tháng 8 để tiếp quản hai nhà báo Mỹ bị bắt. Chuyên gia Yang Moo-Jin nhận định: “Dù mục đích của chuyến đi chủ yếu có liên quan đến hai nhà báo nữ, nhưng nói cho rộng ra, chuyến đi đó có lợi cho cả hai nước. Nó có thể được xem là dấu mốc giúp mang lại chuyện đàm phán song phương giữa Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên”.

Tổng thống Obama đến Nam Triều Tiên tháng 11, tại đây ông nhắc nhở Bắc Triều Tiên con đường đối thoại vẫn còn mở.

Vài tuần lễ sau đó, một sứ giả của Hoa Kỳ đến Bình Nhưỡng, sau đó cho biết Bình Nhưỡng muốn quay lại bàn đàm phán 6 bên. Giáo sư Koh Yu-Hwan nhận định: “Tôi cho rằng Bắc Triều Tiên đang ở vào thời điểm hoặc là tham gia với cộng đồng quốc tế, bước vào nền kinh tế toàn cầu một cách an toàn; hoặc là sẽ sụp đổ vì cuộc khủng hoảng kinh tế của họ ngày càng lan rộng”.

Các giới chức trong chính phủ Nam Triều Tiên nói rằng năm 2010 có thể mở ra với một viễn ảnh lạc quan là cuộc đàm phán 6 bên có thể mở lại vào tháng Giêng.

December 30, 2009

Singapore: Tỷ lệ sinh tiếp tục giảm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:55 am
Tags: , ,
21:36 | 29/12/2009
Ảnh: Internet

(ĐCSVN) – Cuối tuần qua, theo các phương tiện truyền thông Singapore, tỷ lệ sinh tại quốc gia này tiếp tục giảm xuống với tổng số chỉ có 32.630 trẻ em mới được sinh ra trong vòng 10 tháng đầu năm 2009.

Kênh truyền hình Channel NewAsia đưa tin cho biết con số này thấp hơn rất nhiều so với mức 50.000 cần thiết để thay thế cho phần dân số già mỗi năm. Trong năm 2008, tổng số 39.826 em bé được sinh ra tại Singapore.

Theo các nhà xã hội học, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hiện tượng sụt giảm này là do tình hình suy thoái kinh tế. “Một số lượng lớn các quyết định liên quan tới việc kế hoạch hóa gia đình được áp dụng là do tình hình kinh tế. Tiền lương của các gia đình tiếp tục là một nhân tố chính”, ông Chang Yau Hoon, chuyên gia xã hội học thuộc Singapore Management University (SMU) cho biết.

Tại Singapore, tỷ lệ sinh đã giảm xuống 1,28 em/phụ nữ vào năm 2008. Dân số của quốc gia này đã tăng lên 4,99 triệu người vào cuối tháng 6/2009.

Nhiều dự báo cho thấy, tỷ lệ người cao tuổi tại Singapore sẽ tăng nhanh từ 7% lên 14% trong giai đoạn 1977 – 2018, đưa cơ cấu dân số từ trẻ trở thành cơ cấu già hóa dân số nhanh nhất. Nếu những năm 1980, trung bình ở Singapore có 1 người già/20 người dân thì dự báo năm 2011, tỉ số này sẽ là 1 người già/11 người dân và đến năm 2030 trung bình sẽ là 1 người già/5 người dân. Thời gian chuẩn bị cho dân số già của Singapore ngắn hơn (15 năm) so với các nước khác (Anh, Mỹ là 20 – 25 năm).

Đứng trước tình trạng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng này, chính phủ Singapore đã sử dụng gói kích thích bằng tài chính và các biện pháp khuyến khích như miễn giảm thuế thu nhập để giảm bớt sự lo âu về gánh nặng tài chính khi sinh con; giảm bớt khó khăn gặp phải khi vừa thực hiện công việc và chăm sóc con cái của người phụ nữ như trợ cấp chăm sóc con; giảm bớt ngày phép đối với phụ nữ; cho nghỉ phép để chăm con ốm; làm việc 1/2 ngày cho những phụ nữ làm trong các nghề dịch vụ công cộng; thay đổi các chính sách khuyến khích sinh 2 con trước đây cho phù hợp với chính sách dân số mới.

Hiện nay, chính phủ Singapore đang thực hiện Chiến lược 3 mũi nhọn: Khuyến khích kết hôn và sinh đẻ, tăng nhập cư và thu hút người Singapore gốc Do Thái.

December 13, 2009

Thông Điệp từ chuyến công du Châu Á của Tổng thống Obama

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 1:46 am
Tags: , , ,

Sau giấc ngủ thật dài ở ASEAN qua hơn 4 thập niên, Rồng Trung Hoa trỗi dậy đủ để trở thành siêu cường kinh tế và quân sự đứng sau Hoa Kỳ. Trung Hoa đang muốn nuốt chửng Miến Điện, Việt Nam, Lào, Cambodia và đang chơi trò mèo vờn chuột ở Vương Quốc Thái Lan. Họ đang gây hốt hoảng cho cường quốc kinh tế số hai Nhựt Bản và các Hổ Phương Đông như Singapore, Nam Hàn và Đài Loan. Sức mạnh của Trung Hoa cũng đủ để Nga, Ấn Độ, Úc Châu, Cộng Đồng Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh phải xem xét lại cơ cấu chính trị, quân sự, kinh tế và ngoại giao của mình. Trước cường độ “rung chuyển thế giới” của Rồng Trung Hoa đang đổi màu từ đỏ qua xanh, Hoa Kỳ thấy cần trở lại Đông Nam Á để tạo “thế cân bằng quyền lực” vì quyền lợi lâu dài lẫn khu vực mà Hoa Kỳ đang hướng tới.

Thế trận ASEAN và APEC
Vị Tổng Thống da màu đầu tiên của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã trở thành biểu tượng cực thịnh của nền dân chủ sinh động và một xã hội đa chủng tộc được ổn định tuyệt đối bằng pháp trị. Ông đã tới Châu Á trong sự giao tiếp đầy hân hoan, hoàn toàn khác với tinh thần bài Mỹ cách đây hơn bốn thập niên. Cùng vào thời điểm nổ ra cuộc cách mạng Đông Âu khởi đầu cho tiến trình dân chủ hóa nước Nga và biến cố đẫm máu Thiên An Môn, việc hình thành Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967 và sự cho ra đời Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) không phải là việc làm ngẫu nhiên của những nhà hoạch định chiến lược của Hoa Kỳ.
Thế trận Châu Á Thái Bình Dương mà Hoa Kỳ dàn dựng bằng ASEAN và APEC đã chín mùi nhờ sự quẫy đuôi mạnh mẽ của Rồng đỏ Trung Hoa. Tổng thống Obama mang một thông điệp mới của Hoa Kỳ tới vùng này: ―Chúng tôi là một quốc gia Châu Á Thái Bình Dương và chúng tôi sẽ có mặt tại đây về lâu về dài,‖ như lời xác nhận của người phụ trách chính sách Á Châu trong Hội đồng An ninh quốc gia Hoa Kỳ Jeffrey Bader. Hướng về ―Thế Cân bằng Chiến Lược Đông Nam Á‖, chúng ta hãy chờ xem kết quả của cuộc vận động tế nhị của Tổng thống Obama cho tiến trình dân chủ ở Miến Điện qua cuộc bầu cử của quốc gia này vào năm 2010 để rút ra bài học dân chủ cho Việt Nam và Lào. Đây là yếu tố cần để các nước thành viên ASEAN tự xóa các khác biệt và tiến tới sự đồng thuận cho một cộng đồng phát triển Đông Nam Á vào năm 2015, như tầm nhìn chung mà tổ chức ASEAN đang hướng tới. Vì vậy Giáo sư Amitav Acharya rất hữu lý khi nhận xét rằng cuộc họp giữa Tổng thống Obama và ASEAN là ―quan trọng cả về thực chất và tính biểu tượng cao‖.
Hợp tác thực dụng của Hoa Kỳ và Bắc Kinh
Giới truyền thông soi rọi vào ba lãnh vực kinh tế, chính trị và quân sự tiềm ẩn phía sau đường lối ―hợp tác thực dụng‖ của Hoa Kỳ mà Tổng thống Obama đã đánh tiếng từ Tokyo trước khi đến Bắc Kinh.
Kinh Tế:
Về kinh tế, việc áp đặt thuế quan lên thép và lốp xe nhập từ Trung Quốc trước chuyến công du của Tổng thống Obama được xem là điều kiện trao đổi một cách ―thực dụng‖ cho việc TQ ghìm giá đồng yuan. Hành động ghìm giá thay vì thả nổi đồng yuan là con dao hai lưỡi vừa hạ giá hàng xuất khẩu, cạnh tranh với các quốc gia Á Châu vừa kiếm lời nhiều hơn và chiếm lĩnh lâu hơn thị trường Hoa Kỳ. Hiện tại Hoa Kỳ là bạn hàng lớn nhất cùa Trung Quốc; ngược lại, Trung Quốc là chủ nợ hàng đầu của Hoa Kỳ. Thật không ngoa khi nói rằng mối quan hệ kinh tế Hoa—Trung đang gắn liền thế ―môi hỡ răng lạnh‖. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tuy phớt lờ không nhắc đến vấn đề tiền tệ một cách công khai, nhưng khó tiếp tục tránh né ―hợp tác thực dụng‖ của Obama nếu muốn các bên cùng hưởng lợi.
Chính Trị:
Trong chuyến thăm Bình Nhưỡng vào đầu tháng 10 của Thủ tướng Ôn Gia Bảo, Kim Chính Nhất đã thông báo rằng Bắc Hàn sẵn sàng trở lại đàm phán sáu bên. Tuy nhiên, việc quay trở lại đàm phán phụ thuộc vào tiến bộ của hội đàm song phương giữa Bắc Hàn và Hoa Kỳ. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói rằng chắc chắn chính quyền Obama tán thành bang giao tốt đẹp hơn với Bắc Triều Tiên, nhưng sẽ giữ nguyên lập trường đối thoại với Bình Nhưỡng phải nằm trong khung sườn các cuộc đàm phán sáu bên. Và gần đây Tổng thống Obama tái xác nhận Bắc Kinh là yếu tố không thể thiếu để giải quyết vấn đề này. Lý luận kiểu ―kiến bò chén‖ này khiến nhiều người có quyền đặt ra câu hỏi: ―Phải chăng khi Hoa Kỳ và Trung Quốc đồng thuận giải quyết dứt điểm vấn đề Bắc Triều Tiên, họ sẽ chẳng còn gì để ngã giá với Nhựt Bản và Nam Hàn?‖ Tương tự, cách ứng xử trong vấn đề Iran, thỏa hiệp giữa Hoa Kỳ—Trung Quốc vẫn chưa đủ, mà lại cần ―hợp tác thực dụng‖ với Medve-dev từ Điện Kremlin và cần gắn liền với chiến trường Afghanistan.
Quân Sự:
Tuy không có tuyên bố chi tiết nào về quân sự giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, chúng ta có thể hiểu rằng mục tiêu quân sự mà hai bên đang quan tâm chính là vùng Thái Bình Dương. Điều này được thể hiện qua sự phô trương sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên biển Đông cùng cuộc diễn binh với quy mô lớn nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Và cách đây không lâu còn có thêm cuộc thảo luận về hợp tác quân sự với ông Tập Cận Bình ở Ngũ Giác Đài. Chúng ta cũng hiểu rằng, sức mạnh quân sự mà Trung Quốc hiện có chỉ đủ để tham gia vào công tác chống cướp biển và hù dọa láng giềng. Trung Quốc vẫn còn một chặn đường khá dài ở phía trước để theo đuổi Hoa Kỳ. Vì vậy Hoa Kỳ có lý do chính đáng để bảo vệ quyền lợi của mình qua sự ―hợp tác thực dụng‖ về quân sự đa phương trong vùng để ―cân bằng quyền lực‖ với Trung Quốc.
Dân chủ trong khu vực Đông Nam Á năm 2012
Nếu được sự đáp ứng từ mọi phía theo chiều hướng tích cực, chuyến công du của Tổng thống Obama có thể là viên gạch đầu tiên cho một cuộc cách mạng xanh tại Á Châu. Sự ảnh hưởng này có thể với tầm vóc rộng lớn hơn, tiến bộ hơn và đem lại nhiều phúc lợi hơn cho nhân loại so với cuộc cách mạng 1989 tại Đông Âu. Và cũng trong khuôn khổ này, chúng ta có thể kỳ vọng vào tiến trình dân chủ hóa ở Miến Điện, sau đó Việt Nam và Lào như là tiền đề cho sự trỗi dậy của khối ASEAN. Chúng ta nhìn thấy nước Nga hoàn tất lộ trình dân chủ còn dang dỡ vào cuối nhiệm kỳ của Gorbachev. Chúng ta cũng có thể thấy được một nước Trung Hoa sẽ lần bước theo đoạn đường dân chủ hóa nước Nga của Gorbachev cách nay 20 năm. Người thực hiện cuộc cách mạng này chắc chắn không phải Chủ tịch Hồ Cẩm Đào hoặc ai đó xuất thân từ Đoàn Phái (Đoàn Thanh Niên), vì nhóm này đã bị đốt cháy bởi biến cố Tân Cương. Có thể là Tập Cận Bình, người tiến thân từ các tỉnh trù phú vùng duyên hải, nhảy vọt lên Phó Chủ tịch nước sau khi nắm chức Bí thư Thượng Hải (2006), rồi Ủy viên Ban thường vụ Bộ Chính Trị (2007), và có nhiều khả năng được bình chọn vào Quân Ủy Trung Ương. Chúng ta mong được nhìn thấy CHND Triều Tiên sẽ thoát khỏi đói nghèo và tiến dần tới lộ trình thống nhứt với Nam Hàn trong hòa bình như Đông Đức đã làm cách nay hai thập niên. Chúng ta sẽ có nhiều hy vọng nhìn thấy nền kinh tế thế giới phục hồi nhờ có những điều chỉnh cần thiết giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển. Sau cùng, chúng ta hy vọng vấn nạn nóng ấm toàn cầu sẽ được quan tâm đúng mức tại Copenhagen vào năm tới. Nếu các giấc mơ trên đây trở thành hiện thực, chúng ta có thể chứng kiến một kỷ nguyên thịnh vượng cho Châu Á—Thái Bình Dương nhằm phục vụ cho toàn thể nhân loại.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không loại trừ trường hợp xấu nhứt có thể xảy ra vì sự tham lam và ích kỷ của con người. Hoặc vì nhu cầu tiêu thụ kho võ khí khổng lồ của các cường quốc, vì không còn con đường nào khác để giúp nền kinh tế thế giới phục hồi khi nó rơi vào chu kỳ thứ hai của hình W. Hoặc vì nhu cầu năng lượng của mỗi nước, vì chủ nghĩa chủng tộc tiếp tục dâng cao tại Trung Quốc, vì hòa bình vẫn là điều không tưởng cho thế giới Hồi giáo và vì mối đe dọa nóng ấm toàn cầu không được giải quyết. Trong trường hợp này, nhân loại sẽ khó tránh khỏi một cuộc Thế Chiến III để có một trật tự thế giới mới và để ổn định nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, đây là cơ hội để có ―làn ranh cố định cho thế giới Hồi Giáo‖ và quan trọng hơn cả là để đưa nhân loại ra khỏi họa ―Đại Hồng Thủy‖.
Năm 2012 được cho là mốc thời gian để đo lường giữa sáng và tối. Sự thay đổi dựa vào nhiều yếu tố tại các quốc gia ASEAN, thế giới Hồi giáo, sự phục hồi của nền kinh tế và các vấn đề liên quan thay đổi khí hậu. Tùy theo mức độ mà các giả thuyết trên trở thành hiện thực hay chỉ là những tuyên truyền nhằm tô điểm cho một giai đoạn hòa bình giả tạo, chúng ta sẽ thẩm định được sự sáng và sự tối vậy.
Huỳnh Công Luận
Tài Liệu Tham Khảo:
[1] Kim Ghattas, BBC News; Obama tìm cách trấn an đồng minh châu Á http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/11/091112_obama_asia_analysis.shtm
[2] Mai Vân, RFI; Mỹ-Nhật nỗ lực làm dịu tình hình trƣớc chuyến công du của Obama; Bài đăng ngày 12/11/2009 Cập nhật lần cuối ngày 12/11/2009 17:04 TU. http://www.rfi.fr/actuvi/articles/119/article_5672.asp
[3] VOA News; 13/11/2009; Kỳ tăng cường ‘cách tiếp cận mới với ASEAN‖ http://www.voanews.com/vietnamese/mobile/displaystory.cfm?id=375873&metadataid=1340
[4] Hồng Minh; Hoa Kỳ – Trung Quốc: Hợp tác thực dụng; BBC News; Cập nhật: 14:16 GMT – thứ ba, 17 tháng 11, 2009; http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2009/11/091117_china_us_opinion.shtml

December 12, 2009

Chia sẻ những vấn đề thời sự của ASEAN

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:24 pm
Tags:
Lao Động số 283 Ngày 12/12/2009 Cập nhật: 8:49 AM, 12/12/2009
Một tiết mục văn nghệ chào mừng hội nghị. ảnh: Kỳ Anh
(LĐ) – Hội nghị lần này có chủ đề “Hội đồng giáo giới ASEAN ứng phó với suy thoái kinh tế toàn cầu, nhằm đảm bảo phát triển bền vững giáo dục”. Các báo cáo, tham luận của các đoàn đại biểu CĐ giáo giới các nước ASEAN tại hội nghị không chỉ đưa ra các thông tin, mà còn đề xuất những sáng kiến nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt ra cho GDĐT ở mỗi nước và khu vực.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GDĐT VN Nguyễn Thiện Nhân cùng lãnh đạo Tổng LĐLĐVN đã tới dự.

Vấn đề phát triển GD bền vững

Trong báo cáo quốc gia của tất cả các nước đều khẳng định cần phát triển giáo dục (GD) bền vững. Báo cáo quốc gia của Malaysia đưa ra ý kiến hệ thống GD quốc gia có thể ổn định bền vững hơn nếu như có thêm nhiều trường dạy nghề cho những học sinh yếu hơn không tiếp tục học cao lên. Còn rất nhiều gia đình khó khăn về kinh tế không đủ tiền cho con học đại học – có lẽ tình trạng này không chỉ tồn tại ở Malaysia. Ngoài ra, khi không có cơ hội học lên cao hơn nữa thì con em các vùng khó khăn cũng có thể có cơ hội được đào tạo nếu như có đủ trường dạy nghề như điện, may, trang điểm… để có thể yên tâm gia nhập thị trường LĐ với kỹ năng nghiệp vụ tốt.

Tại Thái Lan, chính phủ cam kết mở rộng phạm vi bảo hiểm GD cho tất cả các công dân Thái. Tuy nhiên, Thái Lan cũng là nơi có số lượng lớn trẻ em di cư từ các nước lân cận. Theo quyết định của nội các chính phủ thì thực hiện một chính sách GD cho tất cả trẻ em trong nước và trẻ em di cư được quyền tiếp cận, tham gia vào hệ thống GD Thái Lan. Hiện ước tính có khoảng 1 triệu trẻ em di cư được tiếp cận với GD, nhưng không được chăm sóc y tế và bảo vệ pháp luật khỏi bị lạm dụng. Con em các dân tộc thiểu số, di dân và người tị nạn là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Trong báo cáo của Cộng hoà Indonesia, phần tác động của khủng hoảng lên GD đã nêu rõ liên quan đến vấn đề ngân sách GD, nước này kêu gọi chính phủ cam kết áp dụng nguyên tắc hiến pháp trong việc: Phân bổ 20% ngân sách quốc gia và địa phương cho GD, không hỗ trợ lương cho giáo viên;

Chính quyền địa phương phải cố gắng hết sức để phân bổ một cách phù hợp 20% ngân sách địa phương, cùng chính phủ khuyến khích tăng chất lượng, tính thích hợp và khả năng cạnh tranh của GD; GD là vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với chính phủ mới; ngân sách phân bổ không để hỗ trợ giới quản lý mà nên phân bổ để hỗ trợ trực tiếp trẻ em, giáo viên, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng; tránh quan liêu trong GD từ cấp quốc gia cho tới địa phương; đề bạt người thích hợp hay những người có trình độ và kinh nghiệm GD giữ những trọng trách cao trong lĩnh vực GD.

Kiến nghị và giải pháp từ các quốc gia

Trước những tác động của suy thoái kinh tế đến đời sống giáo viên, Ban Chính sách – Xã hội CĐ GDVN cho biết, để tiếp tục hỗ trợ ổn định đời sống nhà giáo trong những năm tới, Nghị quyết số 35/2009/QH12 ngày 19.6.2009 của Quốc hội về đổi mới cơ chế tài chính GD đến năm 2015 đã nêu: Thực hiện chính sách ưu tiên về lương và phụ cấp cho đội ngũ nhà giáo; tiếp tục chính sách khuyến khích nhà giáo dạy học ở các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và GD hoà nhập; thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo và CB quản lý GD; bảo lưu phụ cấp đứng lớp trong thời hạn 3 năm cho nhà giáo được điều động làm công tác quản lý GD.

Đối với Singapore, GD là chìa khoá để duy trì một giai đoạn cạnh tranh của Singapore. Bộ GD Singapore trong những năm gần đây đã đưa ra nhiều sáng kiến nhằm mang lại sự linh động và đa dạng trong hệ thống GD nhằm đáp ứng nhu cầu của người học. Cùng lúc, hệ thống GD phải đảm bảo tất cả các học sinh đều phải được trang bị tốt cho tương lai, bắt đầu từ GD tiểu học vì đây là giai đoạn cơ bản. Chất lượng GD phải được cải thiện, đặc biệt là GD tiểu học và qua đó, đưa ra báo cáo cụ thể về GD tiểu học trong năm nay.

Theo đánh giá, hội nghị sẽ tạo nhiều cơ hội trao đổi, học tập kinh nghiệm hay của các nước cũng như những kinh nghiệm có thể áp dụng được cho VN, góp phần đưa nền GDVN nhanh chóng hội nhập với GD quốc tế.

Phát biểu của Phó Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân – Bộ trưởng Bộ GDĐT: Khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã có tác động không nhỏ đến sự phát triển KTXH của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có VN. Tuy nhiên, đầu tư vào GD của Chính phủ VN ngày càng tăng, an sinh xã hội vẫn được giữ vững.

(…) Trong những năm qua, CĐGDVN với chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và chăm lo đời sống nhà giáo và NLĐ trong ngành đã phối hợp chặt chẽ với Bộ GDĐT tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước có những chính sách thoả đáng để chăm lo đời sống đội ngũ nhà giáo và LĐ trong ngành, nâng cao vị trí xã hội của nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả GD.

Phát biểu của Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Nguyễn Thị Thu Hồng: Trong thành tựu chung của phong trào CNVC – LĐ và hoạt động CĐ cả nước, có phần đóng góp quan trọng của hơn 1 triệu CB đoàn viên của CĐGDVN. Chúng tôi tin tưởng rằng, hội nghị lần này sẽ là cơ hội tốt để giáo giới các nước ASEAN tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau hợp tác trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm vì lợi ích chung của giáo giới, vì sự ổn định, phát triển của GD và tiến bộ xã hội, cùng nhau vượt qua những khó khăn của suy thoái kinh tế toàn cầu, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ nhà giáo, phát triển nền GD của mỗi quốc gia và của các nước trong khu vực.

April 3, 2009

China’s Great Wall at sea – March 27, 2009 Friday

Filed under: chính trị — ktetaichinh @ 11:51 pm
Tags: , ,

William Choong, Senior Writer- The Straits Times (Singapore)

The South China Sea has hogged global headlines recently. Earlier this month, five Chinese vessels harassed the USNS Impeccable, an unarmed ocean surveillance ship, near Hainan Island. The United States subsequently said that it would send a destroyer to escort its surveillance ships in the area. China said it would send its largest fishery patrol ship, the Yuzheng 311, to waters around the Paracels.

According to some analysts, the recent Sino-American spats in the South China Sea belie China’s new – and moderate – approach to the highly disputed area, a strategic and reportedly oil-rich body of water linking East Asia to the Indian Ocean. The last major military incident in the area occurred eight years ago in 2001, when China detained an American EP-3 spy plane and its crew. Before that, China and the Philippines clashed over Mischief Reef in 1995. China also had a major clash with Vietnam over the Spratlys in 1988 and the Paracels in 1974.

Dr Li Mingjiang, an assistant professor at the S. Rajaratnam School of International Studies, says Beijing has shown more moderation in its South China Sea policy in recent years. The Yuzheng, he pointed out, is a fisheries administration vessel. It was sent to the Paracels, which are under effective and tight Chinese control. ‘If the vessel was sent to the Spratlys, it would make a huge difference. I think China has continued its previous policy in the South China Sea: calculated moderation,‘ says Dr Li.

In the past decade, China has also sent all the right signals to the countries that have staked competing claims on various island groups in the South China Sea. It has signed the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea and acceded to the Asean Treaty of Amity and Cooperation. Recently, it also inked a deal with the Philippines and Vietnam to jointly explore energy resources in the South China Sea.

The rationale for all this is straightforward: Given an increasingly globalised Chinese economy, Beijing cannot afford to engage in armed hostilities in the South China Sea. Fiery nationalist rhetoric and the inclusive language of globalisation just do not mix.

‘While the situation in the South China Sea is the best known and problematic of the maritime jurisdictional problems in East Asia, it is also the situation where the most progress is being made in establishing effective functional cooperation,’ write Sam Bateman and Ralf Emmers, the editors of Security And International Politics In The South China Sea: Towards A Cooperative Management Regime.

Sceptics, however, argue that there is a jarring dissonance between China’s words and deeds: It continues to offer the world the language of ‘peaceful rise’, but its military build-up in the South China Sea suggests quite the opposite. According to Dr Bruce Elleman, a naval historian at the US Naval War College, People’s Liberation Army (PLA) forces have been stationed on many disputed islands and atolls in the South China Sea. These bases are linked by elaborate signal stations and radar units, supported by a slew of air, maritime and land forces based on Hainan Island and the mainland.

‘These naval assets may one day assist China in obtaining its long-range strategic goal of controlling all of the South China Sea,‘ writes Dr Elleman, adding that China had in 2007 designated a new ‘city’ on Hainan Island that will administer the disputed Paracels, Spratlys and Macclesfield Bank islands.

Dr Elleman’s analysis overlooks China’s increased cooperation with other countries that have staked claims in the South China Sea. But he is not alone. Mr John Pike, the director of GlobalSecurity.org, argues that the PLA Navy (PLAN) ‘has an incredible capability to grab everything down there (in the South China Sea). If I was in PLAN, that’s a no-brainer,‘ he is quoted as saying in the Washington Times.

Essentially, there are two perspectives on China’s approach to the South China Sea. The first sees China as a responsible stakeholder willing to cooperate with other countries in the joint development of the islands in the sea. The second is more nuanced: It acknowledges China’s desire to be a responsible stakeholder, but sees it playing a two-track game: diplomatic initiatives are pursued for joint development; but if they were to fail, force might be used.

The latter perspective does not say that China will use force any time soon. But it wisely sees that amid China’s declarations about its ‘peaceful rise’, there have also been signs that it wishes to control maritime territories necessary for economic development.

In 1984, for example, Admiral Liu Huaqing, the head of the Chinese navy, called for a stronger navy to secure China’s rich maritime resources. In the mid-1990s, General Mi Zhenyu, a former vice-commandant at the PLA’s Academy of Military Science, said that ‘China must develop a strong sea power to protect and not yield a single cm of its three million sq km of ocean territory’.

As Bernard Cole, author of The Great Wall At Sea: China’s Navy Enters The 21st Century, notes, China’s offers of diplomatic discussions and economic cooperation come with an important proviso: that China has ‘indisputable sovereignty over the Nansha (Spratly) Islands and their adjacent waters’.

williamc@sph.com.sg

March 29, 2009

Asians of the Century

Filed under: châu Á,kinh tế — ktetaichinh @ 6:20 pm
Tags: ,

A combination of towering individuals and societies that played down individualism helped liberate, ravage and resurrect the vast, protean region
By NISID HAJARI

Worlds do not go gently. When the kings of Bali saw in 1906 that they could no longer fend off the Dutch army, they chose an ending both glorious and horrific–the now legendary puputan. They ordered their palaces set alight. Then, clad in ritual white and armed only with spears and sacred knives, the ranks of the nobility hurled themselves against Dutch rifles until a thousand Balinese lay dead against the soft, green earth. Much else was shed with their blood: one of the last obstacles to full Dutch mastery of the Indies, but also, more imperceptibly, a world beholden to rajahs and viziers, and an Asia that could not but appear to the world as magical and archaic and doomed.

For the young, Westernized narrator of Pramoedya Ananta Toer’s Buru Quartet, something, too, is born: “I bowed my head,” he says after hearing of Bali’s fall, “went back to my desk. I took out my diary and wrote these words: ‘Today I begin.'”

For Asia what started that day, in many ways, was the 20th century. Kings would last longer: in ancient China the Qing dynasty would cling to power for another five years, and as late as 1955 the French still sought to foist the hapless Bao Dai upon Vietnamese who scoffed at that parody of an emperor. But after that moment–not everywhere, and not at the same time–new élites would guide the struggle for freedom, demanding more than the right to continue the old ways undisturbed. They chose words like liberty and equality whose pitch and force had been determined elsewhere. But more importantly, they clamored for the full independence of communities, nations, that were brought into being by their call.

What we now know as Asia followed from their actions. If the lands that stretch from the Hindu Kush to the East Sea share more than geography, that conceptual unity is in large measure a product of the 20th century. In that time guns and European mapmakers carved the boundaries that most countries now accept. Wars, trade and the wildfire ideologies of nationalism and communism shook the region while knitting together its parts. What those nations share, really, is a record of transformation–and a roll call of singular individuals who charted, often violently, that dizzying change.

Perhaps more than any other region of the world in the past 100 years, Asia can paint its modern history as a series of portraits. The style is hardly fashionable; even the region’s many and sycophantic “official biographers” would admit, to paraphrase Nietzsche, that most great men are only agents of a great cause. Yet nowhere else have the actions and foibles of individuals so thoroughly marked the fates of mass populations, for good or ill. Taken singly, the life stories of most of these titans are as familiar as fairy tales to their countrymen (and often equally fabulist). Together, however, they tell a more complex tale: the story of the century itself.

Early on, that narrative seemed destined to have more faceless authors. The late 19th century–the heyday of the Raj and a period when Western domination of Asia appeared unassailable–did bear its share of visionaries: in Siam, King Chulalongkorn helped fend off both British and French by modernizing his administration; in the Philippines, José Rizal was executed even while championing reform rather than revolution. Yet more often the crucial sea change welled up from a class rather than an individual. In lands like India and Indonesia, the opening of Western education to local students created an élite familiar with the ideals of European political thought–and their disregard in the colonies. Those wealthy few who could travel to Europe usually returned less awed by its citizens. By 1905, when British officials hacked the state of Bengal in two, India’s middle-class intelligentsia could lead a boycott so successful that, three years later, the bales of Lancashire cotton on Bombay docks had dwindled by more than 25%.

Japan had already set the course–a task the archipelago nation would play throughout the century. Its reformers were fired by the same thought as those in China and India–to blend Eastern ethics with Western science–and though they issued orders in the name of a teenaged emperor, their leaders were several. None could dispute the scale of their success: when Admiral Togo’s warships sank the Russian Baltic Fleet in 1905, Japan claimed a seat at the table of world powers. A generation of Asian nationalists would draw succor from that example of what could be achieved in their struggle.

To reach that point, however, would require more of colonized (or, like China, subdued) Asia. Champions of reform could organize, educate, even negotiate for greater responsibilities within the colonial system. But the boast of Dutch governor-general Bonifacius de Jonge–“We have ruled here for 300 years with the whip and the club”–would not fall to a debating society. (In tragic Vietnam, the French built 83 prisons and precisely one university.) “Give me 10 youths who are fired with zeal and with love for our native land, and with them I shall shake the earth,” thundered Indonesia’s spellbinder, Sukarno. He would need more. And his people would need him to draw out the challenge lying within their vast numbers.

Spoken now, that challenge seems almost self-evident. “Let the government then, to carry on its rules, use guns against us, send us to prison, hang us,” said Mohandas K. Gandhi in 1930, as he walked to the sea to make salt–and thus to doom the Raj. “But how many can be given such punishment? Try and calculate how much time it will take of Britishers to hang 300 million of persons.”

Given the temper of the times, though, the rhetoric of Gandhi and his ilk struck like a hammer blow. The Great War had both fueled the economies of the region and shown their populations the spectacle of a Europe weakened and base. The Great Depression wiped out the markets for colonial Asia’s treasures–rice, rubber, minerals. From those elements would emerge peoples more confident, and angry. By focusing that discontent Gandhi transformed the Indian National Congress into a truly mass organization, rallying India’s millions to awesome displays of civil disobedience.

Like all national struggles, those waged in Asia encouraged the writing of heroic myths. At least some of Sukarno’s later reputation would rest on an active self-aggrandizement, while Ho Chi Minh during this period still skulked in the shadows, trying to foment revolution from Moscow and Hong Kong. In China the death grip in which Chiang Kai-shek and Mao Zedong held each other would meet all the needs of epic: the Long March–begun by nearly 100,000 and finished by fewer than a tenth that number–still stands as the quintessence of struggle, both inside and outside the People’s Republic. Yet China would also typify the perils of forcing so much upon single, charismatic leaders, as the loathing each felt for the other began to undermine the alliance they had formed against Japan.

Perhaps only the century’s most transformative event could have pushed them together in the first place. World War II dismantled in weeks a colonial edifice that had been built over centuries. Japan slogged through China for four years before the attack on Pearl Harbor; its forces overran nearly all of Southeast Asia in barely three months. Outside of the Indian subcontinent, the misnamed “Co-Prosperity Sphere” that resulted was the closest thing to a unified Asia the world had yet seen.

To a certain extent that would stand as Japan’s legacy, but not in the way the occupiers intended. Their lightning advance not only knocked down the West’s defenses, but also its equally flimsy myth of white superiority. The locals who watched haggard British and Dutch marched off to internment camps could well believe that the colonizers’ day had passed. At the same time, Japanese officials gave a forum to precisely those figures who could seize that audience. Sukarno, allowed to establish a nationalist umbrella group in Jakarta, turned his mellifluous voice to recruiting coolie laborers for the war machine, some 200,000 of whom may have died in the jungles of Malaya and Burma. (“I shipped them to their deaths. Yes, yes, yes, yes, I am the one,” he would admit, a peacock to the end.) Yet he could also use the occupiers’ “singing trees”–loudspeakers wired to radio sets–to pound home the nationalist message. For those, like Ho, who took advantage of crumbling Japanese control at war’s end to lay claim to their countries, the occupation served as a means to a long-sought goal.

By that point, the combination of leaders and led had grown too powerful for returning colonizers to subdue.

Pressure from the United States, which kept its promise of independence to the Philippines in 1946, helped sway European governments, as did the weariness of their home populations. But the post-colonial moment ultimately demanded an individual touch–whether of warrior, statesman, braggart or showman. “I am the natural ruler of the country, and my authority has never been questioned,” boasted Cambodia’s god-king, Sihanouk. Paris believed him enough to sign over the nation in 1954. Next door, Ho and his genius general, Vo Nguyen Giap, forged Vietnam’s peasants into a force capable of annihilating a garrison of legionnaires at Dien Bien Phu (though aided by Chinese artillery and with frightful casualties of their own). Jinnah delivered a bloodstained Pakistan. Aung San promised the possibility of unifying Burma’s fractious tribes. Mao plowed through the rottenness at the core of the Kuomintang. When Nehru celebrated India’s “tryst with destiny,” his high-flown speechifying was as suited to the tenor and need of the times as Sukarno’s loopy, inventive acronyms.

Those various triumphs in turn brought the region closer to a sense of shared destiny. In Asia’s two largest countries, the ambitious, top-down economic plans imposed from New Delhi and Beijing produced stellar returns: in the decade between 1951 and ’61, the national income of India rose 42%; in China it grew at an average rate of 8.9% a year between 1953 and ’57. When a panoply of Third World leaders gathered in Bandung in 1955 to declare they would follow a path unmarked by either the U.S. or the Soviet Union, their bravado seemed less far-fetched than one might now imagine. Only a decade later once-bereft India would boast of a Green Revolution, fuelled by high-yield strains of rice and wheat that raised food-grain production to nearly 100 million tons in 1968-69–and the country to agricultural self-sufficiency by the 1970s.

The fellowship displayed at Bandung would, of course, prove as gossamer as the rhetoric. Only seven years later, Mao would make a mockery of Nehru‘s blithe Hindi Chini bhai bhai (“Indians and Chinese are brothers”) by sending the Red Army over the Himalayas in the same week as the Cuban missile crisis. “Nonalignment is no ideology,” an editor in New Delhi would complain. “It is an idiosyncrasy.”

The cold war not only did not bypass Asia, as its propagandists might have imagined; it fed hungrily upon the region’s predilection for single, domineering leaders. The Korean War, which flared barely six months after the Dutch left Jakarta, began both the shooting and the trend. In Seoul, Syngman Rhee hardened into the unbending patriarch who would be ousted by student demonstrators in 1960. His northern counterpart, Kim Il Sung, would butcher his way to infamy as one of the century’s most paranoid, omnipotent heads of state. On the far banks of the Yalu River, the fanning of anti-U.S. sentiment would help Mao bend his young republic to his will.

All across Asia, leadership that once drew its legitimacy from the national struggle would henceforth be enshrined, linked inextricably to the nation itself. The shift fueled a welter of coups and cults of personality. Sukarno could no longer be satisfied as Great Leader of the Revolution, Mouthpiece of the Indonesian People, Father of the Farmers; in 1957, he would replace democracy with Guided Democracy–and name himself guide. Park Chung Hee and Suharto made few excuses for their iron rule, and fellow soldiers Ne Win in Burma and Phibun in Thailand even fewer. But the less obvious breaches of the national contract could, if anything, sting more. Part of the horror Indians felt at Indira Gandhi‘s imposition of emergency rule in 1975-77 drew from a recognition of how far the nation had traveled from the rectitude of that other, martyred Gandhi.

The same factors that had brought the original generation of nationalists to power–and their nations into being–made this, too: a continent of strongmen. The U.S. served as a handy foil for some regimes, a banker for others (Ngo Dinh Diem’s in Saigon, Ramon Magsaysay’s in Manila). Peoples haunted by war and deprivation often welcomed the firm hand of those, like Singapore’s unflappable Lee Kuan Yew, who promised a more comfortable future. They also lent themselves as fodder for yet more mass campaigns. “China’s 600 million people have two remarkable peculiarities,” Mao liked to claim–poverty and blankness. “A clean sheet of paper has no blotches, and so… the newest and most beautiful pictures can be painted on it.”

Most often Asia’s new emperors would only deepen the poverty. The salaries of Filipinos were, in real terms, half as much in 1985 as they had been in 1956; the share of the national income held by the wealthiest tenth of the country increased from 27% to 37% in the same period. Sukarno, who dashingly told the West to “go to hell with their aid,” also told his citizens to cross out the zeros on their banknotes when inflation turned their rupiah into tissue paper. What the titans had wrought seemed so diametrically the opposite of their promise as to be darkly comic: the visions of shiny, virile factories gave way to the stubble of backyard blast furnaces that blanketed China after the horrors of Mao’s Great Leap Forward. As many as 30 million Chinese may have died of starvation and disease between 1958 and 1962–not least because no cadres had the strength to challenge the Helmsman’s faith in himself.

In time, that failure of will would devour entire societies. The combination of fervent populaces and unchecked leaders gave rise to the law of the mob, writ frighteningly large. While Suharto eased Sukarno off the stage he had held for so long, he also unleashed a bloodbath that began with suspected communists and continued through village grudges. An estimated half-million Indonesians were killed between late 1965 and early 1966, sometimes at the behest of army troops, more often by vigilantes. In China, Mao rallied 10 million Red Guards to the streets of Beijing in 1966; at his command–spoken or implied–they would mutilate in a decade the millennia of history that China had always used to define herself. Most gruesome, though, was the picture painted in Cambodia, where famine and repression and the sledgehammer pounding of U.S. bombers brought a society face-to-face with its opposite. The movement had a leader–the violin-playing schoolteacher Saloth Sar. But for years the Khmer Rouge underscored their malevolence by pretending not to have a Brother Number One, issuing orders in the name of an Angkar–“organization”–as blank as the slate they tried to make of their green, haunted land.

As at the dawn of the century, Japan would argue for a different path. For the bloodied nation struggling to remake itself under strict occupation reforms, the Korean War heralded a “miracle,” not a nightmare. Over the next two decades, heavy industries transformed the boost received from American purchases during the war into an export machine, and the country racked up 10% growth rates year after year. Observers would turn to cliché to explain the boom, envisioning a population of loyal drones devoting their lives to the bottom line of Japan Inc. But the critical role played by the country’s vaunted bureaucrats was at least equally apparent. Many in the West would cry foul over their strict management of imports and support of targeted industries; much later, critics would blast a financial policy that encouraged companies to run up a terrifying mountain of debt, implicitly backed by the state.

Those in the East would find more to appreciate in the Japanese system. Asia’s authoritarian rulers could still push and pull levers when they liked: when South Korea’s Park wanted a steel mill, he overrode his advisers and built what would become the world’s biggest, at Pohang. The $800 million in Japanese aid he won for normalizing relations with Tokyo did not hurt either–any more than the flood of Japanese investment that would later revive the former subject economies of Southeast Asia. And the fundamentals of the Japanese success story required precisely what much of Asia had in abundance, high savings and cheap labor. The Tigers’ replication of that success seems, in hindsight, almost as preordained as the victory of Asia’s prewar nationalists. In China, still dizzied by the Cultural Revolution, Deng Xiaoping had only to unchain the entrepreneurial spirit of his people–and the country doubled its per-capita income in a decade.

The revolution inspired by those riches rivaled anything that came before. In countries like Indonesia, a powerful and corrupt few would gobble up a large share of the wealth; still, between 1970 and 1990, the number of Indonesians living in absolute poverty dropped from 60% to 14% of the population. As the ranks of the middle class swelled–in Thailand, Taiwan, India–so too did the scope of their demands. Refrigerators and TVs became attainable, even expected goals–then cars, computers, mobile phones. One could well imagine that the Asia envisioned by an élite few at the turn of the century had arrived.

Boosters made the logical leap and suddenly an Asian Century, too, seemed inevitable. “Asia” itself had gained a sort of currency–as a region that shared one of the most extensive and speedy transformations the world had ever seen, and not a little smugness at that accomplishment. Leaders would loudly hail the deference of their hard-working, high-saving peoples.

Spoken more quietly was the threat: that without the strongmen (and they were almost always men), the masses would be reduced to an older, more familiar want.

That those leaders would be the ones reduced stands as the great irony of the century’s close. Too much can be laid on the wave of democratization that has swept East Asia in the past decade, but the fact of it is nonetheless startling. The People Power revolution that brought down Philippine dictator Ferdinand Marcos in 1986 wrote a script almost too perfect: a nation quiescent for more than a decade would rise and, relatively peacefully, replace their leader with his assassinated rival’s widow. Reforms elsewhere would still depend upon central figures: Chiang‘s son Ching-kuo in Taiwan, Roh Tae Woo in South Korea, and in Thailand the revered King Bhumibol, who curbed Bangkok’s generals in 1992. But everywhere they reflected the pressure of a spreading individualism–of populations emboldened by new influences and more stable living conditions to demand a say in their governing.

Not only strongmen would decry the change. Traditionalists would seize on an influx of usually alliterative evils–MTV, McDonald’s, miniskirts–to prove that the region had not come into its own, only sold out to a West bent once again upon conquest. But they ignored the timbre of the transformation, the way in which Western culture was morphed by contact with the East. Cultures are both less permeable and more resilient than their defenders usually think. That Asia’s have changed does not mean they are any less Asian. It is no accident, after all, that karaoke has become the region’s most visible cultural element outside the subcontinent and one of its few unifying factors: instead of isolating the singer as a star, the microphone actually confirms him or her, reassuringly, as a member of the group.

On the other hand, neither has the region found a singularly “Asian” way of being (not even Japan’s). In fact, talk of Asian values and an Asian Century has fallen to a whisper since the cascading devaluations of 1997 shamed the region’s economic model. Those few patriarchs who cling to such rhetoric–Singapore’s Lee, Malaysia’s Mahathir Mohamad–now seem out-of-step, for such predictions ignore the fact that the history of Asia this century has been one of becoming. Towering figures may have helped that process along. But if the century heralded by the great men does come, the “Asia” thus ushered in, after 100 years of making and unmaking and remaking, will almost certainly not be what they once imagined.

TIME staff writer Nisid Hajari covers Asian politics and culture

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.