Ktetaichinh’s Blog

March 13, 2010

Hàng không nước ngoài lách luật để khai thác nội địa?

Đây là điều lo ngại của Vietnam Airlines (VNA) trước sự kiện Hãng Hàng không giá rẻ AirAsia (AA), Malaysia mua được 30% cổ phần của Hãng Hàng không tư nhân Viet Jet (VJ).

VNA đã kiến nghị Chính phủ không thông qua việc đầu tư hợp tác này vì cho rằng động thái mua cổ phần của VJ là cách lách luật để khai thác thị trường hàng không nội địa VN của hãng hàng không nước ngoài AA.

VNA giữ “miếng bánh” nội điạ

Trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ mới đây, VNA cho rằng do không có khả năng thâm nhập thị trường nội địa của các nước khác, các hãng hàng không (HK) nước ngoài luôn tìm cách lách luật thông qua con đường đầu tư vào các hãng HK nội địa của nước đó để thâm nhập khai thác thị trường nội địa.

Chính vì vậy, các nước đều dùng chính sách để điều tiết lĩnh vực này nhằm bảo vệ thị trường HK nội địa. Luật Hàng không Dân dụng VN tuy cũng có quy định tỉ lệ sở hữu nước ngoài đối với vốn điều lệ của các hãng HK (cụ thể phần vốn nước ngoài đầu tư vào hãng HKVN tối đa 49% cổ phần và một nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể mua tối đa 30% cổ phần), song “khe hở” ở đây là luật chưa phân biệt rõ nhà đầu tư nước ngoài thông thường và nhà đầu tư nước ngoài là các hãng HK.

Chính vì vậy, các hãng HK chi phí thấp như Jetstar và nay là AA đã tận dụng “khe hở” lách luật, tranh thủ mua rẻ thương quyền nội địa của VN thành lập liên minh các hãng HK giá rẻ ồ ạt khai thác thị trường quốc tế đến VN và thị trường HK nội địa. Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tồn tại và phát triển của các hãng HK trong nước. Theo VNA, với 30% cổ phần tại VJ, AA hoàn toàn có khả năng tham gia HĐQT của VJ để điều hành hãng theo mục tiêu của mình.

Mặt khác, VNA cho rằng thị trường nội địa trị giá hàng tỉ USD vì thế cần xác định phương án tính toán, định giá cụ thể thương quyền kinh doanh HK nội địa của VN, làm công cụ đàm phán với đối tác nước ngoài trong việc liên doanh và bán cổ phần để tránh thua thiệt. VNA kiến nghị sửa đổi Nghị định 76/2007/ NĐ – CP, bổ sung quy định về tỉ lệ vốn góp của các hãng HK nước ngoài trong DN kinh doanh vận chuyển hàng không tại VN. Cuối cùng, VNA cũng kiến nghị không thông qua việc đầu tư hợp tác của AirAsia vào VJ.

Có quá lo xa(?!)

Theo các chuyên gia, việc VNA kiến nghị có phần quá lo xa. Bởi hiện đây là hãng chiếm tới hơn 80% thị phần nội địa. Hãng cũng là một trong những đơn vị duy nhất kinh doanh tổng hợp về lĩnh vực HK nên đang gần như là độc quyền tại lĩnh vực này. Thêm nữa, thị trường hàng không nội địa VN hiện không phải là miếng bánh béo bở.

Sự thua lỗ của Pacific Airlines trước đây và Jetstar Pacific Airlines (JPA) hiện nay dù cũng có nhà đầu tư nước ngoài chiếm giữ 30% cổ phần. Hay như Indochina Airlines vừa nhập cuộc được hơn một năm đã phải dừng bay vì nợ nần không thanh toán được, cho thấy “miếng bánh” HK nội địa hoàn toàn không dễ xơi.

Vì thế, việc VJ nhập cuộc thị trường với tỉ lệ nắm giữ 30% vốn của hãng HK nước ngoài có thật sự là một nguy cơ lớn đến thế với VNA nói riêng và các hãng hàng không nội địa nói chung như VNA cảnh báo(?!).

Thêm nữa, VNA chủ trương duy trì mô hình hãng HK dịch vụ đầy đủ chiếm giữ phân khúc thị trường hạng trung bình khá trở lên. Trong khi đó, các hãng HK giá rẻ như JPA và tới đây có thể là VJ với 30% của AA thì nhằm vào phân khúc thị trường hạng bình dân. Việc đa dạng hoá dịch vụ cung cấp cho thị trường HK nội địa cũng là một cách mở rộng thị trường HK còn rất khiêm tốn với mức hơn 1% dân số đi máy bay như hiện nay.

Mặt khác, xu hướng mở cửa bầu trời để thu hút nguồn lực xã hội, phát triển thị trường HK nội địa VN trong thế cạnh tranh để người dân được hưởng lợi, khai thác có hiệu quả hệ thống hạ tầng hàng không VN được đầu tư nhiều tỉ USD, đang là chủ trương của Nhà nước VN. Vì thế, nếu một VJ với nguồn vốn xã hội hoá hoàn toàn, nhập cuộc thị trường HK nội địa, còn có thể là một nhân tố mới thúc đẩy cạnh tranh giúp phát triển thị trường.

Tuy nhiên với lo ngại “khả năng xuất hiện xu hướng thành lập hãng hàng không rồi bán cổ phần cho đối tác nước ngoài để thu lợi” của VNA, thì nhà chức trách hàng không cần đặc biệt quan tâm phát hiện và thổi còi đúng lúc, nếu hiện tượng này có thật. Về điểm này, một đại diện VJ khẳng định: Theo Luật HK hiện nay, việc AA mua 30% cổ phần của VJ là hoàn toàn hợp pháp.

AirAsia chỉ là một cổ đông chiếm giữ 30% cổ phần. Mọi quyết định chiến lược của VJ đều do HĐQT quyết định theo nguyên tắc đa số. Hãng này dự định sẽ khởi bay vào khoảng tháng 6.2010 và khai thác đồng thời các tuyến nội địa cũng như nước ngoài.

Bích Liên
Advertisements

January 24, 2010

Vietcombank chỉ muốn được… bình thường?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:32 pm
Tags: ,

Yêu cầu thí điểm cổ phần hóa khiến Vietcombank không thể tăng vốn và phát triển… bình thường như các ngân hàng khác.

Ngày 19/11/2009, Đại hội đồng cổ đông Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có nghị quyết thông qua phương án phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ trong năm 2009.

Mức vốn hiện tại của ngân hàng này là 12.100 tỷ đồng, số vốn tăng thêm dự kiến là gần 1.123 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ phát hành thêm là 9,28%. Đối tượng tham gia tăng vốn điều lệ là toàn bộ các cổ đông hiện hữu có tên trong danh sách cổ đông tại thời điểm Vietcombank chốt danh sách thực hiện quyền (thay vì giả thiết chỉ phát hành cho các cổ đông nhỏ được giới đầu tư bàn luận trước đó).

Tuy nhiên, kế hoạch tăng vốn nói trên của Vietcombank bị cơ quan chức năng bác bỏ.

Từ sự kiện trên, một lần nữa, câu hỏi “Ai quản lý vốn Nhà nước tại Vietcombank?” được đặt ra, bởi có sự trái chiều giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước (chi nhánh Hà Nội) trong kế hoạch tăng vốn này. Mặc khác, sự kiện này cũng cho thấy Vietcombank vẫn chưa thể vận động một cách bình thường như các ngân hàng thương mại cổ phần khác.

Vì sao kế hoạch tăng vốn bị từ chối?

Cổ phần hóa Vietcombank là sự kiện nổi bật thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong năm 2007. Đây là một mô hình thí điểm cổ phần hóa, gắn với các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các bước thực hiện cụ thể.

Ngày 9/11/2007, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng có văn bản số 1693/TTg-ĐMDN về việc lựa chọn đối tác chiến lược của Vietcombank, trong đó có một số nội dung đáng chú ý: thứ nhất, việc bán cổ phần lần đầu của Vietcombank thực hiện trong năm 2007; thứ hai, việc công bố giá trị doanh nghiệp và bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định 109/QĐ-CP này 26/6/2007 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

Theo đó, Chính phủ đã chỉ rõ việc chọn đối tác chiến lược của Vietcombank được thực hiện theo Nghị định 109. Tuy nhiên, không hiểu sao Công văn 2307 ngày 16/12/2009 của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Nội truyền đạt nội dung văn bản số 9798/NHNN-TTGSNH ngày 11/12/2009 của Ngân hàng Nhà nước cho rằng việc tăng vốn của ngân hàng này trong khi chưa bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược là không phù hợp với nội dung cổ phần hóa giai đoạn I tại Khoản 6 Điều I Quyết định 1289 (ban hành ngày 26/9/2007).

Với lý do trên, Văn bản số 2307 của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Nội yêu cầu Vietcombank khẩn trương lựa chọn nhà đầu tư chiến lược để hoàn thành việc bán cổ phần theo giai đoạn I theo Quyết định 1289.

Việc từ chối trên làm nảy sinh một số vấn đề cần xem xét lại.

Thứ nhất, liệu việc xác định các văn bản chỉ đạo cổ phần hóa Vietcombank và việc tham mưu, vận dụng của Ngân hàng Nhà nước trong xét duyệt kế hoạch tăng vốn có hợp lý?

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước có đại diện thành viên Hội đồng Quản trị tại Vietcombank nhưng đại diện này đã thực sự phát huy vai trò của mình để yêu cầu xin tăng vốn điều lệ của Vietcombank bị “tuýt còi” bẽ bàng như vậy?

Thứ ba, Bộ Tài chính thì đồng ý còn Ngân hàng Nhà nước “tuýt còi”. Sự trái chiều trong ý kiến của hai cơ quan quản lý về kế hoạch tăng vốn của Vietcombank cần được hiểu như thế nào? Phía sau câu hỏi này vẫn là câu hỏi cũ: “Ai quản lý vốn Nhà nước tại Vietcombank?”. Và liệu Chính phủ sẽ là người quyết định cuối cùng?

Vietcombank chỉ muốn được… bình thường?

Trong câu chuyện này, một số cổ đông của Vietcombank cho rằng những vướng mắc thời gian qua chủ yếu là do “di chứng” của yêu cầu thí điểm cổ phần hóa; trong khi đó họ muốn đây là một ngân hàng thương mại cổ phần bình thường sau khi đã chuyển đổi mô hình, được tăng vốn đáp ứng yêu cầu phát triển và đảm bảo lợi ích các cổ đông như các ngân hàng khác.

Tuy nhiên, để làm được điều đó, trước hết ngân hàng này phải tìm và chọn cho được đối tác chiến lược, để mô hình cổ phần hóa thí điểm trọn vẹn.

Suốt từ năm 2008 và 2009, Vietcombank trải qua hàng chục cuộc họp bàn, đàm phán… để xúc tiến việc lựa chọn và chốt lại yêu cầu có nhà đầu tư chiến lược. Bản thân lãnh đạo Vietcombank nhiều lần bày tỏ mong muốn đẩy nhanh và thực hiện thành công yêu cầu này. Nhưng đến nay kết quả cuối cùng vẫn chưa được xác định. Có nhiều khó khăn và nguyên do ở đây lại là một câu chuyện khác. Nhưng nếu khó khăn này tiếp tục kéo dài, kế hoạch tăng vốn của Vietcombank vẫn chưa biết đến bao giờ mới hiện thực, theo như viện dẫn mà Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Nội đưa ra.

Còn thực tế, ngoài yêu cầu phát triển kinh doanh, ngân hàng này cho biết với mức vốn điều lệ hiện nay, Vietcombank đang đứng trước nguy cơ tỷ lệ an toàn vốn (CAR) giảm xuống dưới mốc 8% (mốc định hướng của Ngân hàng Nhà nước, cũng như theo tiêu chuẩn quốc tế).

Một số ý kiến cho rằng Vietcombank là ngân hàng “đặc biệt” vì gắn với yêu cầu thí điểm cổ phần hóa mà Chính phủ đề ra. Nay, sau khi đã hoàn thành việc chuyển đổi sang mô hình cổ phần, yêu cầu thí điểm đó vẫn đeo đẳng khiến Vietcombank vẫn chưa thể được bình thường như các ngân hàng cổ phần khác. Cổ đông của Vietcombank cũng “khác” với các ngân hàng khác, khi không được hưởng các quyền lợi trong các đợt phát hành thêm…

Mặt khác, có thể thấy trong hai năm gần đây, hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần đều đồng loạt tăng mạnh vốn điều lệ để phát triển kinh doanh. Trong khi đó, sau khi IPO với gần 10.000 tỷ đồng thặng dư mang về cho Nhà nước, Vietcombank vẫn chưa thể tăng vốn.

January 7, 2010

Xã hội hóa đường sắt: Hành khách lợi gì?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:53 am
Tags: , ,

– Cho tư nhân thuê hành trình chạy tàu; đấu thầu việc cung ứng suất ăn trên tàu; ưu tiên giờ đẹp, tuyến chạy tàu đông khách cho tư nhân ảnh hưởng gì tới quyền lợi khi đi tàu của người dân?

Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng GĐ Tổng Cty Đường sắt Việt Nam Nguyễn Hữu Bằng (ảnh) trả lời PV Tiền Phong.

Thưa ông, tư nhân đang tham gia kinh doanh những gì trong ngành đường sắt?

Hiện có khoảng 10 công ty kinh doanh vận tải khách trên các tuyến, khoảng 2-3 công ty kinh doanh vận tải hàng hóa. Có nhà đầu tư tự thuê toa xe hoặc phối hợp với Tổng Cty Đường sắt Việt Nam (ĐSVN) thuê toa xe và được giao bán vé.

Trên thực tế, xã hội hóa có những cái tư nhân làm hiệu quả hơn chúng tôi. Ví dụ chính sách bán vé của tư nhân khác hẳn. Khi không có khách, tư nhân sẵn sàng hạ giá vé rất thấp; đông khách thì họ bán vé giá cao.

Mình phải coi đó là bình thường, chứ không nên thắc mắc vì sao vé của họ đắt, vé đường sắt thấp hơn. Từ 1-7 tới đây, các Cty vận tải hàng hóa đường sắt sẽ cổ phần hóa.

Trước mắt, ĐSVN sẽ cổ phần hoá những đơn vị này theo hướng họ chỉ quản lý toa xe. Các công ty cổ phần (hoặc tư nhân) tự tổ chức kinh doanh, chỉ trả phí điều hành và phí cơ sở hạ tầng theo quy định của Nhà nước.

Hiện Cty CP Vận tải và Thương mại Đường sắt liên doanh với Cty Cổ phần Nissin Corporation (Nhật Bản) đưa 15 toa xe vào vận chuyển ô tô Bắc Nam. Tới đây, hai đơn vị này còn dự định hợp tác đóng các toa xe chuyên chở container.

Nghe nói, tới đây ngành đường sắt sẽ tổ chức đấu thầu cấp suất ăn trên tàu hỏa?

Ngày trước, suất ăn nằm trong giá vé. Sau này, chúng tôi thấy việc này không phù hợp nữa. Một điểm dễ nhận thấy là, một suất ăn như thế, người ta bán bình thường chỉ 15 nghìn đồng nhưng lại tính gần 30 nghìn đồng.

Như vậy, chúng tôi phải trả gần gấp đôi một suất ăn khi bán cho khách. Từ đó, ĐSVN mới đề nghị Bộ Tài chính cho tách suất ăn khỏi giá vé tàu.

Năm 2008, ngành đường sắt đã thử nghiệm tách suất ăn trên một số đôi tàu, năm 2009 tách toàn bộ. Tổng kết một năm không phải trả tiền cho suất ăn trong giá vé, ngành đường sắt giảm chi gần 100 tỷ đồng.

Từ năm nay, ngành đường sắt bắt đầu tổ chức đấu thầu cung cấp suất ăn trên tàu một cách rộng rãi, không phải hỗ trợ nữa mà ngược lại các doanh nghiệp trúng thầu phải nộp lại tiền cho ĐSVN.

Hiện có một số đơn vị đề nghị nộp cho ĐSVN mỗi toa xe chạy một chuyến Hà Nội-TPHCM là 3 triệu đồng, một đơn vị khác lại đề nghị trả hơn 1 triệu đồng, nên tới đây sẽ tổ chức đầu thầu rộng rãi. Chắc chắn lúc đó, việc phục vụ ăn uống trên tàu sẽ tốt hơn.

Những đối tượng nào sẽ được tham gia đấu thầu, thưa ông?

Các đơn vị tham gia đấu thầu suất ăn chỉ cần có giấy phép kinh doanh ăn uống, còn các hoạt động trên tàu sẽ được ngành đường sắt giúp đỡ, tổ chức đào tạo. Giá cả do đơn vị cung ứng và hành khách thỏa thuận. Tất nhiên, tổng công ty cũng khống chế một mức giá nào đó nhưng sẽ có một mức cao hẳn lên để đáp ứng nhu cầu của khách.

Sắp tới đây, những dịch vụ không liên quan tới vận tải thì được tách ra và cổ phần hóa. Một khi đã cổ phần hóa, hoạt động của doanh nghiệp sẽ linh động hơn trong việc cung ứng sản phẩm tới khách hàng. Trường hợp tàu gặp mưa bão, dù tư nhân cung ứng suất ăn thì ngành đường sắt cũng bao cấp miễn phí cho hành khách.

Bán hết chỗ đẹp, tuyến đông khách cho tư nhân, khi đó những dịp đông khách (ngày lễ, tết), nhà tàu bắt chẹt hành khách, đẩy giá vé cao thì sao?

Về nguyên tắc, xã hội hóa có cái lợi thì cũng có cái hại. Mình cũng đã trình cho Nhà nước và đã được chấp thuận giá vé ngồi cứng do nhà nước quản lý, do đó không ai có thể tăng tuỳ tiện được. Còn giá vé các loại khác có tiện nghi và chất lượng cao hơn thì Nhà nước không quản và khách hàng tự quyết định

December 26, 2009

TP. Hồ Chí Minh sắp xếp, đổi mới 104 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:44 pm
Tags: , ,
18:08 | 26/12/2009
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 2173/QĐ-TTg, giao Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện việc sắp xếp, đổi mới 104 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trên địa bàn thành phố.Trong danh mục các công ty nhà nước độc lập thuộc các Sở, ngành, có 16 công ty chuyển thành công ty TNHH một thành viên như: Công ty 27/7, Công ty Dịch vụ xuất khẩu lao động và Chuyên gia (Suleco); Công ty Quản lý khai thác và Dịch vụ thủy lợi; Công ty Xổ số kiến thiết… Ngoài ra, sẽ tiến hành cổ phần hóa Công ty Chế biến thực phẩm Hùng Vương và chuyển Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Dịch vụ khoa học kỹ thuật thành đơn vị sự nghiệp.

Danh sách các công ty nhà nước độc lập thuộc các quận, huyện, bao gồm 22 công ty công trình công cộng, dịch vụ công ích tại 22 quận, huyện chuyển thành công ty TNHH một thành viên, gồm: Công ty Công trình công cộng Quận 1; Công ty Quản lý và Phát triển nhà Quận 2; Công ty Dịch vụ công ích Quận 3, Quận 4… Bên cạnh đó, sáp nhập Công ty Quản lý nhà Quận 1 và Công ty Quản lý và Phát triển nhà Quận 5. Tại 15 tổng công ty (Tổng công ty Văn hóa Sài Gòn, Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn, Tổng công ty Cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn, Tổng công ty Bến Thành, Tổng công ty Liksin, Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn, Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn, Tổng công ty Xây dựng Sài Gòn, Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn, Công ty Phát triển công nghiệp Tấn Thuận, Công ty Dệt may Gia Định, Công ty Cholimex và Công ty Dược thành phố), từ nay đến năm 2010 sẽ cổ phần hóa 4 Công ty thành viên, 19 Công ty thành viên được chuyển thành Công ty TNHH một thành viên, 15 Công ty khác được giữ nguyên là Công ty TNHH một thành viên, 4 Công ty được sáp nhập và tiến hành bán 4 Công ty. Ngoài ra, sẽ có 16 công ty mẹ của các tổng công ty và công ty hoạt động theo hình thức Công ty mẹ – Công ty con chuyển thành Công ty TNHH một thành viên, bao gồm: Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn, Tổng công ty Bến Thành, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, Tổng công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC)… ./.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, đến ngày 1-7-2010 là thời hạn cuối cùng để các doanh nghiệp (DN) nhà nước sắp xếp lại, chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, hoặc cổ phần.Cho đến nay, sau nhiều năm cổ phần hóa (CPH) mới có hơn 3.800 công ty nhà nước và bộ phận của công ty nhà nước chuyển sang công ty cổ phần, 300 công ty TNHH một thành viên nhà nước. Như vậy, thời gian còn lại để thực hiện không còn nhiều, trong khi còn khoảng 1.500 DN nhà nước phải sắp xếp, đây là một thử thách không dễ vượt qua.

Nhiều bất cập trong quá trình CPH

Theo Bộ Tài chính, có nhiều nguyên nhân dẫn đến các DN chậm CPH. Nào là tồn tại về tài chính, do kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất vốn nhà nước, nợ xấu ngân hàng, nhiều tài sản tồn đọng không xử lý… đã làm nhiều DN nhà nước không CPH được. Nhiều DN đã “ép” CPH do đánh giá tăng giá trị tài sản, chất lượng hoạt động, nên sau CPH tình hình sản xuất, kinh doanh không cải thiện. Thậm chí, không ít DN không thể quyết toán để bàn giao tài chính sang công ty cổ phần. Việc huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài còn hạn chế, nên vốn nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong vốn điều lệ các DN CPH (52%). Đã vậy, một tỷ lệ lớn DN sau CPH, ban quản lý, điều hành là những người quản lý của DN Nhà nước cũ, nên không đổi mới trong quản trị DN… Ngoài ra, một số quy định pháp luật về CPH chưa thật sát với thực tế, hoặc chậm hướng dẫn thi hành. Về các nội dung tính đủ giá trị đất, nhất là việc tính giá đất thuê vào giá trị DN, xác định lợi thế về địa lý, giá trị thương hiệu, lựa chọn cổ đông chiến lược, minh bạch các thông tin về CPH… làm chưa chuẩn nên đã kéo dài thời gian CPH, hoặc bị lợi dụng trong khi thực hiện.

Bên cạnh đó, các quy định, khung pháp lý về CPH lại thay đổi liên tục khiến DN khó cập nhật. Chẳng hạn, từ năm 2002 đến nay quy định pháp luật về CPH được thay đổi 3 lần (Nghị định (NĐ) 64/2002/CP, NĐ 187/2004/CP và NĐ 109/2007/CP) và các thông tư hướng dẫn thường ban hành chậm, nên đã ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch CPH DN nhà nước…

Đẩy nhanh tiến độ, nhưng phải bảo đảm chất lượng

Để DN hoạt động hiệu quả sau CPH, Nhà nước chỉ giữ 100% vốn tại các loại DN như DN quốc phòng, an ninh; DN công ích quan trọng; công ty mẹ của một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty hoạt động một trong những ngành, nghề liên quan đến an ninh quốc gia về kinh tế, quản lý, khai thác nguồn tài nguyên và khoáng sản quan trọng… Ngoài ra, Nhà nước cũng cần đổi mới chính sách đầu tư tạo lập tài sản và quyền sở hữu, quản lý tài sản phục vụ mục tiêu cung ứng sản phẩm và dịch vụ công ích theo hướng Nhà nước có trách nhiệm đầu tư tạo lập những tài sản cần đầu tư lớn, mà các DN không có khả năng đầu tư hoặc không muốn đầu tư (hệ thống đập hồ, kênh mương thủy lợi liên vùng, hệ thống cấp thoát nước đô thị lớn, thông tin tín hiệu hàng hải…) để giao hoặc tổ chức đấu thầu cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích.

Được biết, địa vị pháp lý của các công ty cổ phần mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối chưa nhất quán. Khi cần kiểm soát, các cơ quan quản lý coi họ là DN nhà nước, khi xét hưởng ưu đãi của nhà nước (nếu có) họ lại bị coi là công ty cổ phần. Vì thế, nên thay đổi nhận thức không còn tồn tại DN nhà nước nữa, mà chỉ còn DN hoạt động theo Luật DN. Các cơ quan quản lý nhà nước nên hạn chế việc can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính vào quá trình quản trị điều hành của DN. Thay vào đó, nên ban hành các quy định về người đại diện sở hữu vốn nhà nước và thực hiện quyền của Nhà nước với DN như một cổ đông bình đẳng với các cổ đông khác.

Một số chuyên gia cho rằng, trong thời điểm hiện nay nếu CPH vội vàng có thể dẫn đến tình trạng “thôn tính” tài sản nhà nước. Vì thế, mục tiêu CPH nên được nhìn nhận một cách tổng thể và dài hạn hơn. CPH là việc cần phải làm để tái cơ cấu DN nhà nước nhằm đặt mục tiêu tăng hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, nhưng không CPH bằng mọi giá. Vấn đề hiện nay là đẩy nhanh tiến độ CPH các DN nhà nước, song phải bảo đảm chất lượng khi thực hiện CPH các DN này.

March 21, 2009

DN quốc doanh: Thắt túi tiền Nhà nước lại để phát triển (bài của Hải Yến) 112907

Filed under: chính sách,thông tin — ktetaichinh @ 6:18 pm
Tags: , ,

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), giải pháp tốt nhất là hạn chế nguồn cung cấp tài chính cho khu vực kinh tế này dưới mọi chính sách, hình thức hỗ trợ, phân bổ một cách đồng đều các cơ hội về đất đai, tín dụng, đào tạo… cho tất cả các thành phần kinh tế.

Kinh tế quốc doanh: Càng ưu đãi sẽ càng yếu kém

Đòi hỏi các DNNN cư xử như DN tư nhân phải chăng là duy ý chí, bởi sự khác nhau về bản chất khi người ta tiêu tiền của mình và tiêu tiền của người khác (ở đây là tiền của Nhà nước và là tiền thuế của dân). Chính vì vậy, chỉ có thể kỳ vọng vào việc sắp xếp lại khu vực kinh tế Nhà nước thông qua chủ trương cổ phần hóa, chỉ để lại trong một số lĩnh vực quan trọng với tỷ trọng hợp lý.

Được ưu đãi hơn hẳn về đất đai, nguồn vốn, chính sách tín dụng, chính sách đào tạo, nhưng các DNNN lại tỏ ra kém hiệu quả hơn hẳn so với các DN tư nhân, vốn ít, non trẻ và hạn chế về nhân lực.

Với các DN tư nhân, không bao giờ có chuyện bỏ hoang hơn 2 triệu m2 đất như ở TP.HCM mà chỉ riêng tiền cho thuê lại diện tích mặt bằng này cũng làm Nhà nước thất thu hàng chục tỷ đồng.

Hay cũng không bao giờ có chuyện đầu tư ào ạt những dây chuyền sản xuất không hiệu quả, nhập khẩu máy móc và thiết bị lạc hậu, tuyển dụng nhiều nhân lực làm phình to bộ máy phải trả lương mà công việc vẫn không hiệu quả, bổ nhiệm nhiều chức vụ chỉ nhằm mục đích giải quyết căng thẳng trong nội bộ.

Bởi vì DNNN không bao giờ phải đối mặt như những ông chủ tư nhân thực sự, chi tiêu thận trọng như đếm tiền trong túi. Và khi gặp khó khăn về tài chính, DNNN luôn tìm được giải pháp từ Ngân sách Nhà nước hay hệ thống ngân hàng cũng của quốc doanh. Thậm chí, trong những trường hợp xấu, người lãnh đạo ra đi, thuyên chuyển công tác, hay về hưu “hạ cánh trong an toàn” là để lại những món nợ khổng lồ cho xí nghiệp, nhà máy và tập thể.

Các nguồn lực và tài nguyên của Nhà nước là hạn hẹp và cả khu vực kinh tế quốc doanh lẫn khu vực kinh tế tư nhân đều có nhu cầu sử dụng. Nhưng khả năng và cơ hội được thụ hưởng lại không ngang bằng nhau. Các DNNN sẵn có những mối quan hệ đã được tạo dựng với các ngân hàng và chính quyền. Đó là chưa kể, bản thân tầm vóc của các DNNN cũng tạo ra nhiều ưu thế để thu hút các nguồn lực.

Chính vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNN không thể duy trì tư duy: Càng phải hỗ trợ cho nó nhiều hơn nữa để xây dựng nên những tập đoàn có tiềm lực lớn, để có khả năng cạnh tranh với DN nước ngoài đang chuẩn bị cho cuộc “xâm thực” thị trường nội địa.

Bài học rõ ràng nhất là công cuộc đầu tư cho ngành dầu khí quốc gia. Việt Nam và Malaysia cùng một xuất phát điểm khi đầu tư cho nền công nghiệp khí từ những năm 1974-1975, nhưng đến nay, Petronas đã được biết đến như một tập đoàn dầu khí quốc tế, có hoạt động kinh doanh với 31 quốc gia khác trên thế giới, có nhiều công trình thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài, trở thành thương hiệu biểu tượng cho Malaysia đối với các quốc gia khác. Còn Petro VN mặc dù cũng đã có những cố gắng nhưng vẫn nhỏ bé và thương hiệu vẫn không vượt ra được ngoài vùng lãnh thổ.

Hạn chế can thiệp Nhà nước

Một quan điểm hoàn toàn trái ngược là, để nâng cao năng lực cạnh tranh cho khu vực kinh tế quốc doanh, ngoài việc sắp xếp chuyển đổi các DNNN làm ăn yếu kém càng nhiều càng tốt thông qua tiến trình CPH, thì phải kiềm chế tối đa các chính sách hỗ trợ, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động cho vay tín dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh, mà như Kornais János, nhà kinh tế học của Hunggary thời kỳ XHCN đã chỉ ra: “Việc tiêu tiền của Nhà nước là việc mà xã hội phải kiểm soát chi li. Đừng đụng tay can thiệp vào khu vực kinh tế tư nhân, nhưng đồng thời cũng đừng nhúng tay can thiệp vào khu vực quốc doanh!”.

Mặc dù không ít người có thể giải thích tầm quan trọng của DNNN, ngoài kinh doanh còn phải gánh vác nhiệm vụ ổn định kinh tế xã hội. Ví dụ như sự lúng túng trong chuyện bình ổn giá xăng dầu vừa qua chẳng hạn, có DNNN chiếm hơn 60% thị phần trong nước nhưng khi giá dầu thế giới tăng cao, đã phải “gồng mình” chịu lỗ khi nhận lệnh kiềm chế không tăng giá xăng dầu trong nước. Và Nhà nước phải có cơ chế bù lỗ cho DN này sau đó để cân đối hoạt động kinh doanh sản xuất.

Giải pháp giá thị trường nửa vời này có thể coi là làm “phá sản” Nghị định 55 được ban hành trước đó không lâu, khi Bộ Tài chính và bộ Công thương đã quyết định cho phép DN được chủ động định giá, trong lộ trình phấn đấu để có cơ chế giá được điều tiết bởi thị trường.

Hậu quả là những mệnh lệnh hành chính mang tính tình thế cũng không thể cưỡng lại được xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường. Xăng dầu vẫn phải tăng giá, kéo việc hình thành một mặt bằng giá cả mới của tất cả các loại sản phẩm khác trên thị trường. Lương cán bộ công nhân viên dù có được điều chỉnh vẫn không theo kịp tốc độ tăng của giá cả. Đời sống người dân đi xuống rõ rệt, khi thậm chí bữa ăn hàng ngày cũng đã nghèo nàn đi vì áp lực giá cả.

Trên thực tế, Nhà nước nên làm tốt việc thu thuế, sử dụng Ngân sách để giải quyết các vấn đề của xã hội (như khi bị tác động bởi tăng giá trong trường hợp này) bằng các công cụ khác, để nâng cao đời sống người dân mà không phải bằng cách can thiệp vào hoạt động kinh doanh của DNNN để điều tiết thị trường.

Hải Yến

VCB sẽ IPO trước khi chọn nhà đầu tư chiến lược 111407

Filed under: chứng khóan,ngân hàng — ktetaichinh @ 6:15 pm
Tags: , , ,

Theo công văn số 1693 vừa được Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký, Ngân hàng Ngoại thương VN (VCB) sẽ phải bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) ngay trong năm nay.

Việc công bố giá trị doanh nghiệp và bán cổ phần cho đối tác chiến lược tuân theo Nghị định 109/2007 ngày 26/6/2007 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần. Điều 6 của nghị định này quy định, nhà đầu tư chiến lược sẽ được mua cổ phần theo giá không thấp hơn giá đấu thành công bình quân.

Trước đó, Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa VCB theo hướng cho phép ngân hàng bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược trước, sau đó mới bán đấu giá ra công chúng. Tuy nhiên, sau một thời gian dài đàm phán với một số đối tác, trong đó có General Electric, Nomura và Goldman Sachs, VCB vẫn chưa chọn được đối tác nào. Với chủ trương mới này, việc ai là đối tác chiến lược của VCB sẽ được quyết định sau khi có kết quả bán đấu giá cổ phần.

Hiện tại, phần công việc còn lại của VCB cũng không nhiều, chỉ là những vấn đề liên quan tới kỹ thuật như nộp hồ sơ và đánh giá tài sản để xác định giá đấu khởi điểm, song cũng không thể nhanh tới mức có thể tiến hành đấu giá ngay trong tháng 11.

Quyết định trên của Phó thủ tướng có nghĩa là Chính phủ sẽ không bán rẻ tài sản quốc gia, bởi trước đó nhiều ý kiến đồn đoán rằng trong quá trình đàm phán lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, đối tác chỉ chấp nhận trả giá ở “đầu 5″ đến “đầu 7″, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng của Nhà nước.

Theo bà Lê Thị Thu, Giám đốc Đầu tư Công ty Chứng khoán Hà Nội, trong bối cảnh thị trường chứng khoán như hiện nay, nếu cứ để cho nhà đầu tư chiến lược bỏ giá trước thì khó thu được giá như ý muốn. Đối với trường hợp của VCB, nếu đối tác chỉ chịu trả ở giá 50.000-70.000 đồng mỗi cổ phần thì Nhà nước sẽ bị thiệt thòi bởi thặng dư vốn thu được sẽ ít.

Trong khi đó, nếu đấu giá trước sẽ tranh thủ được sự hứng khởi của các nhà đầu tư nhỏ lẻ trong nước và giá sẽ dễ đạt được như mong đợi hơn. “VCB được đánh giá là một trong những ngân hàng quốc doanh có uy tín. Chính vì vậy, nhà đầu tư trong nước rất kỳ vọng và chờ đợi vào đợt IPO này”, bà Thu nhấn mạnh.

Tuy nhiên theo ông Hoàng Xuân Quyến, Trưởng phòng Phân tích Công ty Chứng khoán Tân Việt, việc liên tục thay đổi các kế hoạch liên quan tới IPO của VCB có thể làm ảnh hưởng tới hình ảnh của đại gia ngân hàng này.

“Nếu VCB đàm phán xong đối tác chiến lược rồi mới IPO thì hình ảnh của VCB sẽ hấp dẫn hơn nhiều, vì khi đó VCB không đơn thuần là ngân hàng trong nước nữa mà đã có sự tham gia của đối tác nước ngoài”, ông Quyến nhận định. Thêm vào đó, vị chuyên gia này cho rằng, chắc gì IPO trước giá cổ phiếu VCB sẽ cao như kỳ vọng.

Theo phân tích của ông, vốn điều lệ của VCB vào khoảng 15.000 tỷ đồng, trong khi đó, lợi nhuận sau thuế năm 2007 dự kiến cao hơn 10% so với năm ngoái, nghĩa là vào khoảng 3.000-3.200 tỷ đồng. Và như vậy, EPS (chỉ số thu nhập trên cổ phiếu) chỉ vào khoảng 2.000 đến 2.200 nên theo ông, chắc gì P/E (hệ số giá trên thu nhập) sẽ đạt được 50-60 lần (tương ứng 100.000-120.000 đồng mỗi cổ phần).

Trong giới đầu tư, mặc dù rất hồ hởi trước thông tin VCB sẽ IPO ngay trong năm nay, một số người cũng e ngại, trước khi đợt đấu giá này diễn ra, rất có thể thị trường sẽ lình xình một thời gian. Anh Hoàng, nhà đầu tư sàn Tràng An cho rằng, không loại trừ khả năng từ nay tới thời điểm đó, các quỹ đầu tư nước ngoài sẽ xả hàng ra để kéo thị trường đi xuống, giá cổ phiếu VCB sẽ thấp hơn so với kỳ vọng.

Tuy nhiên, bà Lê Thị Thu cho rằng, giá sẽ không thể thấp tới mức 50.000 đồng mỗi cổ phần như đối tác từng trả. Giải thích cho nhận định này, bà cho rằng, thông thường theo chu kỳ hằng năm, tháng 12 là thời điểm thị trường chứng khoán sẽ tăng trưởng mạnh. Ngoài ra, cuối năm thị trường sẽ đón nhận rất nhiều tin tích cực như kiều hối, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Thêm vào đó, đây cũng là thời điểm mà các quỹ đầu tư phải gửi báo cáo về kết quả hoạt động nên họ chịu áp lực giải ngân rất lớn. Suốt thời gian dài vừa qua, một lượng tiền lớn đã được các quỹ găm để chờ giải ngân vào cổ phiếu VCB bởi họ đánh giá đây là cổ phiếu tốt, có tiềm năng. Theo dự đoán của bà Thu, giá cổ phần của VCB sẽ vào khoảng 80.000-120.000 đồng.

Theo đánh giá chung của các chuyên gia, nếu ở mức giá trên thì đợt IPO của VCB sẽ là một yếu tố nâng đỡ thị trường rất tốt, bởi các cổ phiếu trong lĩnh vực ngân hàng đều được đánh giá thấp hơn giá của cổ phiếu VCB khi phát hành.

Hà Vy

Updates

Thông tin mới về IPO của Vietcombank

Tổng hợp từ Vietnamnet, Thanh Nien, Tuoi Tre, VNExpress) Ngày 19/11/07, lãnh đạo Ngân hàng Vietcombank đã tổ chức họp báo về tiến trình IPO của ngân hàng này.

  1. Những cái gì thuộc về VCB phải làm đã làm. Tất cả đã xong. Để IPO, Vietcombank chỉ chờ 2 văn bản quan trọng là quyết định IPO và quyết định công bố giá sàn. Hai quyết định này hiện thuộc về quyền Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Có quyết định là có thể triển khai ngay để kịp thời điểm tháng 12/2007.
  2. Tuy nhiên, nếu có quyết định ngay trong tháng 11, thì Vietcombank cũng phải rất nỗ lực mới có thể IPO đúng tiến độ vì sau khi có quyết định, còn phải tuân theo một lộ trình bao gồm nhiều thủ tục như công bố thông tin, đăng ký đấu giá, chọn đại lý… tất cả mất khoảng 1 tháng. Được biết, VCB sẽ chọn sàn chứng khoán TP.HCM để đấu giá.
  3. Bà Hà cho biết, Credit Suisse đánh giá dựa vào 3 phương pháp: phương pháp chiết khấu cổ tức nhằm xác định giá trị nội tại của Vietcombank; phương pháp phân tích so sánh các giá trị mua bán, sáp nhập tương đồng (tức là căn cứ vào giá giao dịch mua bán của các ngân hàng được các đối tác chiến lược nước ngoài mua gần đây); phương pháp phân tích so sánh giá cổ phiếu với các doanh nghiệp tương đồng (căn cứ vào giá giao dịch mua bán trên thị trường đối với các ngân hàng tương đồng trong khu vực, cụ thể là với các ngân hàng hàng đầu tại Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia)
  4. Việc đàm phán chọn đối tác chiến lược đã không đạt được kỳ vọng của Vietcombank và Chính phủ, nhất là giá. Tuy các điều kiện cam kết khác và giá trả cao hơn nhiều đối tác chiến lược trả các ngân hàng khác nhưng Vietconbank và Chính phủ thấy rằng nên thận trọng và cân đối lợi ích giữa các bên nhất là lợi ích của các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Đàm phán chọn nhà đầu tư chiến lược đang tạm dừng và Vietcombank cũng chưa có đàm phán gì cụ thể tiếp theo với các đối tác
  5. Với quyết định IPO trước rồi chọn nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư chiến lược muốn trở thành cổ đông của Vietcombank phải tuân theo Nghị định 109 tức là giá mua phải bằng hoặc cao hơn giá đấu bình quân.
  6. Nguồn tin từ Vietcombank cho biết, chỉ có thông tin về General Electrics là đúng. Nomura thì có tên nhưng không phải đứng tên một mình mà là cùng với các tổ chức khác, nên thông tin về Tập đoàn Nomura (Nhật Bản) lọt vào vòng cuối cùng là không chính xác.
  7. Trong đợt IPO sắp tới của Vietcombank, với 6,5% cổ phần đưa ra đấu giá tương đương mệnh giá 1.000 tỷ đồng sẽ dành cho tất cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước, không hề cấm các nhà đầu tư nước ngoài như trước đây.
  8. Hiện vốn chủ sở hữu trước cổ phần hóa của Vietcombank theo kết quả kiểm toán là 11.000 tỷ đồng. Dự kiến sau khi cổ phần hóa, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam sẽ có vốn điều lệ 15.000 tỷ đồng. Theo kế hoạch, Vietcombank sẽ phát hành tổng khối lượng cổ phần trong giai đoạn thứ nhất là 30%, trong đó dành cho đấu giá công khai 6,5%, tương đương gần 1.000 tỷ đồng.
  9. Dự kiến Vietcombank sẽ công bố giá trị doanh nghiệp và giá khởi điểm 20 ngày trước khi thực hiện IPO.

Vietcombank “trình làng” bản công bố thông tin

guồn: Tuổi Trẻ 06/12/07) Hôm nay (6-12), Vietcombank sẽ chuyển đến nhà đầu tư bản công bố thông tin (CBTT) cho đợt phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng.

Đứng kèm hỗ trợ cho đợt phát hành của Vietcombank gồm toàn những tên tuổi lớn. Trong đó, tổ chức tư vấn tài chính là Credit Suisse (Singapore) Limited, tổ chức kiểm toán là Ernst & Young VN, và tổ chức tư vấn pháp lý là văn phòng luật sư YKVN.

Điểm mạnh “lấn lướt” điểm yếu

Một trong những lợi thế của Vietcombank được giới đầu tư kỳ vọng là ngân hàng (NH) sở hữu một số đất đai rộng lớn để làm văn phòng giao dịch và tương lai sẽ khai thác các hoạt động khác. Tính đến cuối năm 2006, tổng diện tích đất Vietcombank đang quản lý, sử dụng là hơn 185.000m2, trong đó chủ yếu là đất thuê dài hạn của Nhà nước (gần 126.800m2), và đất được Nhà nước giao (gần 45.500m2). Diện tích đất chưa sử dụng là 3.840m2, là lô đất xiết nợ tại thị xã Hà Nam, hiện đang được thỏa thuận với UBND tỉnh Hà Nam về việc chuyển nhượng.

Đến ngày trái chủ thành cổ đông

Ngày 25-12 sẽ là ngày chốt danh sách trái chủ (những người sở hữu trái phiếu tăng vốn của Vietcombank phát hành vào tháng 12-2005) để nhận quyền ưu đãi mua cổ phiếu của Vietcombank (tỉ lệ chuyển đổi tính trên giá đấu thành công bình quân). Tuy nhiên, tổng số cổ phiếu được quyền mua đối với pháp nhân là không quá 10% vốn điều lệ NH và 5% đối với cá nhân.

Theo Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM, ngày 5-12 giá giao dịch của trái phiếu Vietcombank là 100.000 đồng/đơn vị (bằng với mệnh giá). Trước đó, ngày 4-12 giá trái phiếu của Vietcombank đột ngột vọt lên 155.000 đồng/đơn vị với khối lượng chuyển nhượng cực lớn (25.000 trái phiếu so với khối lượng giao dịch bình quân những ngày trước đó là khoảng 4.500 trái phiếu).

Theo bản CBTT, Vietcombank được thừa nhận rộng rãi là NH thương mại nhà nước hàng đầu và được quản lý tốt nhất VN, hiện đang dẫn đầu thị trường về mảng NH phục vụ khối doanh nghiệp xuất nhập khẩu với vị thế cao trong hoạt động tài trợ thương mại và thanh toán quốc tế (xấp xỉ 27% thị phần), và trong cho vay các ngành liên quan đến xuất khẩu cũng như kinh doanh ngoại tệ.

Tuy nhiên, khó khăn của Vietcombank là thuộc sở hữu nhà nước (sau cổ phần hóa Nhà nước giữ 70% vốn) nên trong quá trình hoạt động phải tuân thủ các qui định về chính sách lương thưởng, phúc lợi, định mức lao động, kế hoạch lợi nhuận, công tác tiếp thị…

Điều này làm cho hoạt động kinh doanh phần nào kém linh hoạt và không phát huy hết yếu tố nguồn lực con người trong quá trình hoạt động. Kết quả là tình trạng “chảy máu” chất xám đã diễn ra khi một bộ phận nhân sự có trình độ, có kinh nghiệm chuyển sang làm việc nơi khác.

Áp lực cạnh tranh trên thị trường cũng không ngừng gia tăng khi khối NH thương mại cổ phần liên tục nâng cao năng lực tài chính và đầu tư cho hoạt động phát triển mạng lưới. Bênh cạnh đó, các NH con 100% vốn nước ngoài đang trong quá trình hình thành và sẽ được thực hiện hầu hết các nghiệp vụ như một NH nội địa.

Kế hoạch kinh doanh: không ấn tượng?

Tuy nhiên, bản CBTT có thể làm thất vọng bất kỳ NĐT nào đang trông chờ một kế hoạch kinh doanh đột phá của NH này sau cổ phần hóa. Năm 2006, Vietcombank đạt lợi nhuận sau thuế là 2.877 tỉ đồng, sang năm 2007 giảm chỉ còn 1.854 tỉ đồng.

Việc giảm này được hiểu là do Vietcombank tập trung vào công tác cổ phần hóa nên có phần lơ là việc kinh doanh. Tuy nhiên, điều lạ là kế hoạch kinh doanh năm 2008 của “đại gia” này tiếp tục giảm so với năm 2006. Cụ thể, chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế năm 2008 chỉ khoảng 2.600 tỉ đồng. Trong đó, NH dành ra gần 1.040 tỉ đồng để chi trả cổ tức, tính ra cổ tức năm 2008 chỉ khoảng 7%. Bản CBTT không có phần thuyết minh vì sao kế hoạch lợi nhuận năm 2008 lại giảm.

Theo một chuyên gia phân tích, khi Vietcombank đưa ra giá khởi điểm là 100.000 đồng/cổ phần, giới kinh doanh dự đoán NH này sẽ tung ra một kế hoạch kinh doanh thật ấn tượng trong vòng ba năm tới. Tuy nhiên, với những gì được đề cập trong bản CBTT thì khó có thể thuyết phục nhà đầu tư về một sự lột xác sau cổ phần hóa.

Cũng theo bản CBTT, về lâu dài, Vietcombank sẽ phát triển thành tập đoàn đầu tư tài chính NH đa năng, trong đó tổng lượng vốn phải tăng thêm trong vòng ba năm sắp tới là 14.500 tỉ đồng so với mức hiện có. Bên cạnh hoạt động dịch vụ tài chính, Vietcombank sẽ mở rộng sang đầu tư các công trình cơ sở trọng điểm của Nhà nước (đường cao tốc, cảng biển…), đầu tư và kinh doanh bất động sản. Dự kiến, sau khi hoàn tất các thủ tục chuyển đổi, Vietcombank sẽ tiến hành đăng ký niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM.

Ông Fiachra Mac Cana, giám đốc điều hành Công ty chứng khoán Vina: Nhà đầu tư nhắm giá 15 “chấm”

Tôi cho rằng nhà đầu tư đã chờ đợi quá lâu cho đợt đấu giá cổ phần của một NH Nhà nước, vì vậy sự đón nhận của thị trường với sự kiện này là rất tích cực mặc dù từ đây đến cuối năm còn hàng loạt cuộc đấu giá khác cung ứng thêm một lượng cổ phiếu khá lớn. Đặc biệt, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được mua hơn 29 triệu cổ phần (chiếm 30% số lượng cổ phần bán đấu giá).

Với giá khởi điểm là 100.000 đồng/cổ phần, tôi nghĩ mức giá mục tiêu mà đa số nhà đầu tư chấp nhận là 150.000 đồng/cổ phần. Tất nhiên, mức giá này cao hay thấp còn phụ thuộc tỉ lệ vốn thặng dư mà Nhà nước sẽ giữ lại sau đợt chào bán cổ phần này. Tỉ lệ này chúng tôi dự đoán sẽ dao động 20-40% và hi vọng sẽ được công bố tại buổi roadshow của Vietcombank tổ chức trong những ngày tới.

NHƯ HẰNG

Download Bản công bố thông tin của VCB tại đây.

Thử dự báo những kịch bản IPO Vietcombank

uồn:Vietnamnet 07/12/07) Chỉ còn 3 tuần nữa là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank hay VCB) sẽ chính thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO). Có lẽ đây là sự kiện được trông chờ nhất năm 2007 trên thị trường tài chính Việt Nam.Điều gì xảy ra chỉ có thể biết được sau 20 ngày nữa. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, chúng ta thử dự đoán những kịch bản có thể xảy ra.

Kịch bản về giá khi IPO

Mức giá đấu giá khởi điểm đã được chốt là 100 nghìn đồng cho một cổ phiếu. Với giá này, tính cho 1,5 tỷ cổ phiếu thì giá trị thị trường (GTTT) của VCB sẽ là 150 nghìn tỷ đồng. Nên nhớ vào cuối năm 2006, tổng vốn của VCB mới là 11 nghìn tỷ.

Con số 150 nghìn tỷ cũng bằng 75% tổng tài sản năm 2007, một mức quá cao so với khả năng làm ra lợi nhuận của chính ngân hàng này cũng như mức bình quân chung của các ngân hàng trên thế giới. (Bình quân với các ngân hàng trên thế giới, giá trị thị trường chỉ khoảng trên dưới 20% tổng tài sản.)

Hơn thế, một số người cho rằng, mức giá kỳ vọng của công chúng có thể lên đến 180 nghìn đồng. Lúc này, giá trị thị trường của Vietcombank sẽ là 270 nghìn tỷ đồng, gấp 1,35 lần tổng tài sản và bằng 23,7% GDP của Việt Nam năm 2007.

Giá khởi điểm đã được công bố và kỳ vọng của một số người là như vậy. Tuy nhiên, dựa vào những diễn biến thực tế trên thị trường, thì khó có thể dự báo một mức giá cao, với những lý do sau:

Thứ nhất, nếu ngay từ đầu VCB thực hiện theo trình tự IPO trước, sau đó mới chọn nhà đầu tư chiến lược, thì có thể mức giá cao như trên sẽ xảy ra. Bởi vì lúc đó công chúng không thể biết được rằng giá mà các nhà đầu tư chiến lược trả chỉ bằng 4-6 lần mệnh giá. Giờ đây công chúng phần nào hình dung ra giá trị thực của ngân hàng này. Thêm vào đó với sự dao động của giá chứng khoán trong thời gian qua làm cho nhiều người đã nhận ra rằng việc chứng khoán cứ gia tăng liên tục là điều không thể.

Thứ hai, đây là đợt IPO lớn nhất từ trước đến nay, để mua hết 75 triệu cổ phiếu (số lượng dành cho các nhà đầu tư trong nước) sẽ phải có một lượng tiền rất lớn. Nếu chỉ ở mức giá 100 nghìn đồng, thì con số đã là 7.500 tỷ đồng, tương đương với giá trị của nửa tháng giao dịch gần đây. Trong điều kiện hiện nay, khi việc vay vốn kinh doanh chứng khoán vẫn bị thắt chặt và một lượng tiền khá lớn được rút ra khỏi lưu thông thì lượng tiền trên có thể là quá lớn đối với các nhà đầu tư trong nước.

Thứ ba, hiện tại không có nhiều nhà đầu tư dài hạn mà chủ yếu là những người kinh doanh chênh lệch giá ngắn hạn. Đồng thời một tỷ trọng không nhỏ tiền dùng để mua chứng khoán là vay nợ hoặc huy động từ các nguồn tạm thời nên họ chỉ chấp nhận giá cao nếu sau đó giá thị trường lên và họ có thể hiện thực hóa lợi nhuận của mình trong một thời gian ngắn. Ngược lại áp lực trả nợ sẽ rất lớn. Với thị trường hiện nay, khả năng có một đợt sốt giá mới là không cao.

Kịch bản về giá sau IPO

Thông thường, những đợt IPO trên thế giới, ngay sau thời điểm phát hành, giá cổ phiếu thường tăng khoảng 15%. Tình huống này cũng đã xảy ra đối với việc IPO của Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Công thương Trung Quốc.

Sở dĩ có hiện tượng trên là do giá được quyết định không phải do đấu giá như cách Bảo Việt đã làm và VCB sẽ làm, mà thường do “bảo lãnh phát hành chắc chắn”. Hay nói cách khác là cổ phiếu được bán đứt cho một hay một tổ hợp các ngân hàng đầu tư, sau đó ngân hàng này mới bán ra công chúng.

Trong hầu hết các trường hợp, các doanh nghiệp đều muốn giá cổ phiếu của họ sau khi phát hành sẽ tăng. Việc định mức giá thấp hơn giá thị trường một chút là vì lý do trên. Mặt khác, cách thức các doanh nghiệp thường làm và cũng chính cách VCB đã định làm là chọn nhà đầu tư chiến lược trước khi IPO. Việc có giá thấp hơn kỳ vọng và có chiến lược rõ ràng đã tạo ra hoạt động giao dịch sôi động ngay sau khi IPO.

Trong trường hợp cụ thể của VCB sắp tới, khả năng giá cổ phiếu tăng cao sau IPO sẽ không cao. Bảo Việt là một ví dụ. Trong mấy tháng qua, giá của cổ phiếu doanh nghiệp này không có sự thay đổi nhiều so với giá đấu giá thành công. Khả năng VCB sẽ rơi vào tình huống tương tự là điều rất có thể xảy ra.

Kịch bản lựa chọn nhà đầu tư chiến lược

Vietcombank muốn có được các đối tác chiến lược có tên tuổi như Nomura hay GE Capital. Tuy nhiên, kết quả đàm phán vẫn chưa có kết quả vì bên mua trả giá quá thấp so với kỳ vọng của bên bán.

Câu hỏi đặt ra là sau khi IPO với mức giá được xác định thì các đối tác như trên có chấp nhận một mức giá quá cao so với tính toán của họ dựa vào tiềm năng làm ra lợi nhuận của VCB hay không? Câu trả lời là điều này không dễ gì xảy ra, trừ khi có những thỏa thuận khác. Chẳng lẽ thương hiệu của họ chỉ bằng những nhà đầu tư cá nhân không tên tuổi? Đó là chưa kể đến những ràng buộc đối với nhà đầu tư chiến lược.

Một kịch bản có thể xảy ra là VCB sẽ đề nghị các đối tác nêu trên quay lại bàn đàm phán và yêu cầu họ chấp nhận mức giá đấu giá bình quân với điều kiện VCB sẽ tính toán giá trị thương hiệu và phần hỗ trợ kỹ thuật của đối tác chiến lược bằng mức chênh lệch giữa giá thực tế mà họ chấp nhận và giá đấu giá bình quân. Có thể đó là một cách hợp lý so với mức giá chào mua trước đây.

Nếu làm như vậy, VCB sẽ đạt được hai mục đích, vừa có được nhà đầu tư chiến lược như ý, vừa thiết lập được một mức giá cao như mong muốn. Lúc này, nhà đầu tư chiến lược cũng có lợi. Tuy nhiên, những người mua cổ phiếu ở mức giá cao sẽ chịu thiệt vì đơn giản trò chơi có tổng bằng không, có bên được lợi tất có bên mất. Khi đó sẽ trái ngược hoàn toàn với những gì mà VCB giải thích khi thay đổi kế hoạch IPO là để bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Trong trường hợp không theo phương án trên, sẽ rất khó chọn được nhà đầu tư chiến lược như ý. Hoặc là chấp nhận những tổ chức tài chính ít danh tiếng và khó có khả năng giúp được VCB, hoặc là không có đối tác nào cả. Tệ hại hơn là chọn phải những “nhà đầu cơ chiến lược” và họ sẽ có những động tác giả để kích giá cổ phiếu lên rồi bán ra đúng một ngày sau thời hạn bắt buộc phải nắm giữ (điều này đã từng xảy ra ở Việt Nam). Tình huống nào cũng dở.

Tóm lại, dường như còn nhiều điều chưa thể nói trước với giá cổ phiếu và việc lựa chọn đối tác chiến lược của VCB. Không khéo chỉ vì muốn có một giá cao khi IPO để có thêm ít tiền mà tiến trình cổ phần hóa của Vietcombank này vừa tác động tiêu cực đến chính mình, vừa tác động không tốt đến thị trường. Cũng có khi sự kiện này lại khởi đầu cho một đợt giảm giá mới thay vì gia tăng như một số người dự đoán. Việc giảm giá để các loại chứng khoán về đúng giá trị thực của nó sẽ là tín hiệu tốt cho sự phát triển dài hạn của TTCK Việt Nam, nhưng không nằm trong tính toán của một số người.

Thúy Bình

Vietcombank IPO với mức giá khởi điểm 100 ngàn/cp

: Vietnamnet 08/12/07) Ngày 7/12/2007, lãnh đạo Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã chính thức công bố về những thông tin liên quan đến đợt IPO sắp tới. Như vậy, sau bao nhiều lần trì hoãn, Vietcombank cũng đã chốt được ngày IPO vào 26/12/2007 tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.

Thông tin từ Vietcombank cho biết, sau khi cổ phần hoá (CPH) ngân hàng sẽ có vốn điều lệ là 15.000 tỷ đồng. Số lượng cổ phần đưa ra bán đầu giá lần đầu là 97,5 triệu cổ phần mệnh giá 10 ngàn đồng/cổ phần (tương đương 6,5% tổng số cổ phần sau khi CPH). Giá khởi điểm được xác định là 100 ngàn đồng/cổ phần. Theo quy định, trong đợt IPO này, nhà đầu tư nước ngoài được mua tối đa 29,5 triệu cổ phần, cổ đông là pháp nhân trong nước được mua tối đa là 4 triệu cổ phần và thể nhân là 500 ngàn cổ phần.

Mức giá 100 ngàn/cổ phần là phù hợp?

Ông Nguyễn Hòa Bình – Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho rằng, mức giá khởi điểm 100 ngàn đồng/cổ phần là hợp lý. Căn cứ để Vietcombank đưa ra mức giá này và được phê duyệt dựa trên các yếu tố là: định giá DN, tình hình thị trường và tình hình cung cầu.

“Vietcombank thực hiện thuê tư vấn quốc tế và trên cơ sở định giá thì mức “10 chấm” là nằm trong phạm vi hợp lý. Xét tình hình thị trường của những đợt phát hành gần đây của Bảo Việt và Tài chính Dầu khí đều quay quanh 7 chấm. Tuy rất khó so sánh DN này với DN khác nhưng với vị thế Vietcombank trên thị trường tài chính ngân hàng và cả nền kinh tế cũng như các thế mạnh về thương hiệu, sự tin tưởng của công chúng, có kết quả kinh doanh thuộc hàng tốt nhất trong số các ngân hàng Việt Nam, có mạng lưới kinh doanh rộng lớn… thì tôi nghĩ rằng đây là mức giá chấp nhận được”, ông Bình cho biết.

Quý I/2008 Vietcombank lên sàn chứng khoán TP.HCM

Ông Nguyễn Hòa Bình cho biết, Vietcombank IPO vào 26/12; thông thường phải mất 3 tháng sau mới có thể hoàn tất các công đoạn lên để niêm yết. Dự kiến từ quý I đến đầu quý II 2008 sẽ thực hiện niêm yết trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Còn việc niêm yết quốc tế đã được nghĩ tới và chuẩn bị nhưng năm 2008 chưa thể thực hiện ngay mà phải năm 2009.

Bên cạnh đó, nếu so với mức giá một số ngân hàng đang niêm yết hiện nay thì mức giá khởi điểm của Vietcombank hoàn toàn ở mức chấp nhận được, ông Bình nói.

Có lẽ rất tự tin vào đợt IPO sắp tới của mình nên khi trả lời câu hỏi về giả thiết đấu giá không bán hết cổ phần thì các lãnh đạo ngân hàng này đều cho rằng, với kỳ vọng của thị trường và giá trị của Vietcombank thì giả thiết sẽ khó diễn ra.

Không chỉ lãnh đạo Vietcombank tự tin, khi trao đổi vào chiều ngày 7/12, nhiều chuyên gia tư vấn của các công ty chứng khoán dù chưa thể dự đoán được mức giá trúng IPO Vietcombank nhưng đều cho rằng khởi điểm 100 ngàn/cổ phiếu là đã được tính toán hợp lý. Bằng chứng là ngay sau khi công bố, rất nhiều nhà đầu tư đã bày tỏ ý muốn tham gia đấu giá và sẵn sàng bỏ mức giá cao hơn khởi điểm khá nhiều.

Khống chế nước ngoài, dành cho trong nước

Mức khống chế tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài trong đợt IPO này là 29,5 triệu cổ phần tương đương với 30% tổng số phát hành có thể làm cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các quỹ đầu tư thất vọng. Bởi vì, các quỹ đầu tư đang chuẩn bị một lượng tiền khá lớn để đầu tư trong đó rất mong đợi vào IPO Vietcombank để giải ngân. Trong khi đó, nguồn tiền nhà đầu tư trong nước lại đang có những dấu hiệu bị hạn chế.

Theo ông Nguyễn Phước Thanh – Tổng Giám đốc Vietcombank thì việc đưa ra mức khống chế 30% cho nước ngoài là để bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư trong nước, vì nếu không hạn chế thì nhà đầu tư trong nước có thể không mua được. Theo tính toán, 30% của 97,5 triệu cổ phần IPO tương đương chiếm 1,95% tổng số cổ phần của Vietcombank sau khi cổ phần hoá.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài còn nhiều cơ hội để mua, trong đó có việc bán cho đối tác chiến lược và IPO quốc tế. Trước đây, chúng ta dự định chọn nhà đầu tư chiến lược trước thì khi IPO không bán cho nhà đầu tư nước ngoài. Nay chuyển sang IPO trước thì nhà đầu tư nước ngoài được tham gia nhưng phải có tỷ lệ khống chế, ông Thanh nhấn mạnh.

Theo ông Bình, trong giai đoạn đầu CPH, Nhà nước vẫn sẽ nắm khoảng 70% cổ phần Vietcombank và sau đó giảm xuống tối thiểu là 51%. Như vậy, tối đa chỉ có 49% được bán ra bên ngoài cho công chúng. Trong khi đó, Vietcombank đã được phê duyệt bán cho nhà đầu tư nước ngoài 15-20% và niêm yết quốc tế không dưới 10%. Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài sẽ nắm giữ khoảng 25-30% và chỉ còn khoảng 19% cho các nhà đầu tư trong nước. Vì thế, nên đặt ra một tỷ lệ khống chế, nếu không có giới hạn thì nhà đầu tư nước ngoài có thể mua hết phần nhà đầu tư trong nước.

Ông Bình cũng cho biết thêm, việc khống chế không phải là sự hạn chế nước ngoài tham gia hay phân biệt đối xử mà nhằm đảm bảo tỷ lệ cân đối và các lợi ích khác.

Thặng dư vốn sử dụng ra sao?

Đến thời điểm này vẫn chưa có câu trả lời chính xác về việc thặng dư vốn từ việc bán ra khoảng 30% cổ phần (khoảng 4.500 tỷ đồng mệnh giá). Với mức giá khởi điểm là 100.000 đồng/cổ phiếu, giá trị thặng dư ít nhất sẽ đạt khoảng 45.000 tỷ đồng (2,8 tỷ USD), gấp 3 lần giá trị vốn góp của Vietcombank sau cổ phần hóa là 15.000 tỷ đồng. Trước mắt, ông Nguyễn Hòa Bình cho biết, dự kiến có khoảng 30% thặng dư được để lại để Vietcombank sử dụng nhưng các quy định thế nào sẽ được xây dựng cụ thể sau.

Trái chủ nắm giữ trái phiếu bị thiệt?

Theo Vietcombank, các trái chủ trong danh sách chốt vào ngày 25/12 sẽ được mua ưu đãi cổ phiếu. Từ thời điểm này đến khi Vietcombank công bố kết thúc thời hạn chuyển đổi, trái chủ không được chuyển nhượng trái phiếu cũng như quyền ưu đãi mua cổ phiếu. Giá chuyển đổi sẽ là mức đấu thành công bình quân của cuộc đấu giá. Mức giá này có thể chỉ có được vào cuối tháng 1/2008.

Vấn đề chuyển đổi đã được công bố nhưng vấn đề thời gian IPO và giai đoạn tiếp theo để xác định giá bình quân thực tế kéo dài do vậy có thể đến 25/1/2008 trái phiếu mới được chuyển đổi. Đây là khoảng thời gian khá dài và trái chủ có thể bị ảnh hưởng không nhỏ. Nếu các trái chủ Vietcombank chuyển đổi nhận cổ phiếu chậm, có thể khiến cổ đông sẽ phải tiếp tục hưởng lãi suất trái phiếu thay vì cổ tức. Hơn nữa, trong trường hợp cổ phiếu Vietcombank hút hàng sau IPO, những trái chủ nhận cổ phiếu chậm có thể mất đi cơ hội giao dịch.

Lãnh đạo Vietcombank cũng thừa nhận điều này nhưng cho biết Vietcombank là ngân hàng quốc doanh đầu tiên được cổ phần hóa. Việc chuyển đổi trái phiếu chậm một phần do IPO chậm so với kế hoạch. Đây là nguyên nhân khách quan chứ ngân hàng không chủ ý sắp xếp làm ảnh hưởng đến trái chủ.

Phước Hà

Tiền “thông minh” lên tiếng

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 6:12 pm
Tags: ,

Trong hai tuần qua giao dịch cổ phiếu niêm yết của nhà đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đặc biệt tổng giá trị chứng khoán bán ra nhiều hơn hẳn các tháng trước đó. Đã có những dấu hiệu cho thấy đồng vốn đầu tư gián tiếp, hay còn gọi là tiền thông minh, bắt đầu lên tiếng.

Giảm mua chứng chỉ các khoản đầu tư
Khác với những lần trước, lần này ngay cả các cổ phiếu blue-chip chủ chốt như KDC, NKD, FPT, SJS, VSH, VNM, PPC, SAM… vốn được các tổ chức nước ngoài nắm giữ đã khá lâu cũng bị bán ra. Họ bán cấp tập, nhiều phiên liên tiếp khiến không ít cổ phiếu xuống kịch sàn hai, ba phiên liền. Đó không phải là những cuộc rút vốn, nhưng là những cuộc đổi ngôi. Một số pháp nhân nước ngoài đã đầu tư những khoản tiền tương đối vào cổ phiếu niêm yết, sau đó họ phát hành chứng chỉ những khoản đầu tư này ở nước ngoài cho các nhà đầu tư nước ngoài không có điều kiện giao dịch chứng khoán trực tiếp ở Việt Nam. Những tháng trước, giao dịch các chứng chỉ này ở ngoài biên giới Việt Nam vẫn khá sôi động, song gần đây nó đã không còn giữ được nhịp độ như trước. Các nhà đầu tư đã bán chứng chỉ các khoản đầu tư ở Việt Nam để lấy tiền bỏ vào Trung Quốc, nơi thị trường chứng khoán vẫn đang được xem là hấp dẫn với mức tăng trưởng 170% từ đầu năm đến nay. Ngoài ra một nguyên nhân khác là giới đầu tư bắt đầu e ngại khi lạm phát ở Việt Nam có thể tăng cao vào cuối năm, khi việc kiểm soát tỷ giá hối đoái từ phía Nhà nước đang có những lúng túng nhất định. Tác động mạnh nhất tới động thái giao dịch các chứng chỉ nói trên là thông tin về sự chậm trễ tiến trình cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank). Tung Kim Nguyen, Giám đốc điều hành Công ty Quản lý quỹ Indochina Capital, cho biết nếu IPO Vietcombank dời vào năm sau thì giới đầu tư nước ngoài rất thất vọng. “Năm 2007 được đón chờ như năm IPO các đại gia của Việt Nam, nhưng đến nay nhìn lại thì có gì?” – ông nói – “Chỉ mới có Bảo Việt mà Bảo Việt lại không thành công như mong muốn”. Theo ông, một khi IPO Vietcombank trễ, thì IPO các doanh nghiệp lớn khác cũng sẽ tương tự. Nó sẽ tạo ra một tiền lệ xấu cho quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước trong mắt nước ngoài…

Khi chứng chỉ các khoản đầu tư không còn sức hút, các tổ chức đang nắm trong tay những khoản đầu tư đó đã đồng loạt bán ra. Khi họ bán, có những quỹ nước ngoài khác đến sau đang chờ giải ngân mua vào. Tuy nhiên đối với một số mã, lượng cổ phiếu nước ngoài mua vào luôn thấp hơn khối lượng nước ngoài bán ra, một phần vì người mua e ngại các chỉ số tài chính của một số blue-chip đã cao, phần khác vì họ đợi các công ty mới lên sàn. Các blue-chip thời gian qua đã tăng vốn nhanh và với quy mô lớn, khó có thể duy trì tốc độ tăng trưởng lợi nhuận như trước đây. Trong khi đó các cổ phiếu mới lên sàn có thể có sức bật mạnh hơn về lợi nhuận. Sẽ không khó hiểu khi các blue-chip “già” tới đây sẽ nhường sân cho lớp blue-chip “trẻ” đang lên!

Vietcombank sẽ IPO trong nước trước
Tháng 9-2007 Vietcombank đã từng là một nhân tố đẩy thị trường phục hồi và đi lên, thì bây giờ cũng vẫn Vietcombank đang góp phần đưa thị trường vào trạng thái lình xình và điều chỉnh. Nguồn tin thân cận từ Vietcombank nói với TBKTSG là ngân hàng này đã chính thức báo cáo Chính phủ kết quả đàm phán với đối tác chiến lược nước ngoài. Giá chào mua của cả ba đối tác chiến lược không như Vietcombank mong đợi. “Họ cho rằng thương hiệu của họ cao, và khi họ vào Vietcombank thì sẽ giúp Vietcombank tăng trưởng nhanh, đặc biệt đối với việc niêm yết cổ phiếu ở thị trường nước ngoài. Bên cạnh đó, trước đây họ đã mua cổ phiếu của các ngân hàng Trung Quốc cũng với tư cách cổ đông chiến lược với giá thấp hơn giá IPO nhiều lần. Họ hy vọng một điều tương tự với các ngân hàng Việt Nam. Điều này tạo khoảng cách về giá từ hai phía” – nguồn tin trên bình luận.

Liệu Vietcombank có IPO trong năm nay? Câu trả lời là có! Vietcombank đã đề nghị Chính phủ cho ý kiến về việc IPO trong nước trong tháng 12-2007 trước khi nối lại đàm phán với đối tác chiến lược nước ngoài. Cơ cấu IPO Vietcombank sẽ không thay đổi, tức phần bán đấu giá trong nước sẽ vẫn là 6,5% vốn điều lệ (gần 1.000 tỉ đồng mệnh giá). Dù thành công đến đâu, tiến trình cổ phần hóa Vietcombank vẫn phải bắt đầu để gây dựng lòng tin của giới đầu tư trong, ngoài nước và nhất là để công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước không bị chậm trễ. So với Bảo Việt, hiệu quả kinh doanh của Vietcombank tốt hơn nhiều và mối quan tâm của công chúng tới IPO ngân hàng cũng lớn hơn nhiều. Đó là tiền đề cơ bản đảm bảo cho việc IPO Vietcombank thuận lợi. Từ giờ đến cuối năm chỉ còn bảy tuần, nếu Chính phủ chấp thuận, Vietcombank đủ sức tổ chức kịp IPO và đợt IPO này nhiều khả năng sẽ là cú hích cho sự tăng trưởng của cả thị trường niêm yết và OTC. Khi đó, những đồng tiền quốc tế “thông minh” sẽ đến Việt Nam, ở lại lâu dài và ổn định.

Hải Lý

Không nên trì hoãn IPO Vietcombank (ý kiến cuả Huỳnh Thế Du) 111007

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 6:11 pm
Tags: , ,

hị trường niêm yết đang “lình xình”; thị trường OTC, giá nhiều loại cổ phiếu (CP) ngành tài chính – ngân hàng giảm… Trong hầu hết các giải thích của chuyên gia, các công ty chứng khoán về tình hình này đều có nhắc đến sự trì hoãn đấu giá phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) của Ngân hàng Ngoại thương VN (VCB). Thanh Niên đã có cuộc trao đổi với ông Huỳnh Thế Du, giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fullright tại TP.HCM, xung quanh vấn đề này.

* VCB lại tiếp tục trì hoãn việc IPO, nhận xét của ông về việc này như thế nào?

– Vấn đề này có thể nhìn dưới hai góc độ. Nếu trì hoãn để cân nhắc kỹ việc lựa chọn nhà đầu tư (NĐT) chiến lược, những người có thể giúp gia tăng giá trị cho VCB thì đó là sự trì hoãn cần thiết. Khi đó, việc có IPO năm nay hay để sang năm, nghĩa là chậm vài tháng, thậm chí 1 năm không quan trọng bởi việc chọn NĐT chiến lược và IPO bài bản sẽ tạo ra một cái chuẩn cho thị trường. Đây chính là điều mà VCB nói riêng và Việt Nam nói chung mong muốn. Ngược lại, nếu trì hoãn là do các NĐT chiến lược trả giá quá thấp trong khi kỳ vọng về mức giá của VCB trên thị trường rất quá cao thì lại khác. Có nhiều ý kiến cho rằng, nếu bán cho NĐT chiến lược với mức thấp sẽ làm tổn thất tài sản quốc gia, nhưng tôi thì lại không đồng ý với quan điểm đó, vì các NĐT chiến lược có đủ công cụ và khả năng để hiểu giá trị thực của VCB và đưa ra mức giá của mình.

Trên thực tế, không phải đến VCB các NĐT chiến lược mới chào giá thấp như vậy, mà điều này đã xảy ra thường xuyên ở Trung Quốc và nhiều nước khác. Ví dụ, cách đây hơn 1 năm, Goldman Sachs và 2 nhà đầu tư khác chỉ chấp nhận bỏ ra 3,8 tỉ đô la để có được 10% cổ phần của Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC), ngân hàng mà giá trị thị trường ở thời điểm trước khi IPO lên đến gần 130 tỉ đô la và hiện tại đã trên 300 tỉ đô la và trở thành ngân hàng lớn nhất thế giới về giá trị thị trường. Trước đó, 10% cổ phần của Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc và Ngân hàng Trung Quốc lần lượt cũng chỉ là 2,7 và 3 tỉ đô la. Từ đó quay lại vấn đề của VCB, chúng ta đang thấy kỳ vọng của thị trường quá cao trong khi các NĐT chiến lược trả thấp quá nên chần chừ thì không nên.

* Ông có cho rằng việc trì hoãn IPO VCB đang gây ảnh hưởng đến thị trường? Thị trường đang có tâm lý chờ đợi giá của VCB và xem đó như thước đo giá CP ngành tài chính – ngân hàng, điều đó có lý không, thưa ông?

– Trước khi có việc IPO VCB thì ACB và STB là những ngân hàng dẫn đầu trên thị trường. Việc mua bán CP của các ngân hàng dường như được NĐT tham chiếu vào giá CP 2 ngân hàng này. Nhưng về quy mô VCB lớn hơn 2 ngân hàng kia rất nhiều và tâm lý chờ đợi giá VCB làm giá tham chiếu, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng là điều không có gì ngạc nhiên.

Tuy nhiên trong ngắn hạn người ta thấy như vậy nhưng dài hạn thì lại khác. Đơn cử, trong bản cáo bạch của ACB do chính Công ty chứng khoán (CTCK) ACB xây dựng cách đây 1 năm chỉ định giá CP của ngân hàng này ở mức 105.000 đồng/CP và lúc đó chỉ có 110 triệu CP. Nghĩa là giá trị thị trường của ACB do chính người ta định giá chỉ khoảng 11.000 – 12.000 tỉ đồng. Nhưng sau đó, kỳ vọng thị trường đã đẩy CP ACB cao gần gấp ba lần con số nêu trên và bây giờ gấp gần 2 lần.

Thêm vào đó, trong thời gian qua đã có thêm 143 triệu CP mới và 55 triệu CP sẽ được hình thành từ trái phiếu chuyển đổi vào năm tới làm cho giá trị thị trường của ACB hiện nay gấp 4 – 5 lần giá được định ban đầu (nếu ở thời điểm công bố cáo bạch tính cả phần trái phiếu chuyển đổi coi như CP thì giá trị hiện nay cũng tăng gấp đôi). Tôi lưu ý là không bao giờ CTCK ACB lại định giá thấp cho ACB cả. Điều đó cho thấy, với tâm lý kỳ vọng cao hiện nay người ta chờ đợi VCB như một chuẩn mực là đúng thôi. Tôi cũng rất mong VCB sẽ là chuẩn mực của thị trường vì điều này tốt cho sự phát triển dài hạn của TTCK cũng như nền kinh tế VN. Nhiều người cho rằng, bán được giá càng cao càng tốt nhưng không dễ gì có thể làm được điều này đối với các NĐT dày dặn kinh nghiệm. Khi bỏ tiền ra, họ đã tính suất sinh lợi tối thiểu rất kỹ.

* Một số thông tin cho rằng các NĐT chiến lược chỉ trả giá CP VCB chỉ từ 4,3 – 6,5 lần mệnh giá, ông có thấy như vậy là quá thấp?

Với mức giá như vậy, 10% CP của VCB sẽ có giá từ 400-600 triệu đô la hay giá trị thị trường của ngân hàng hàng này vào khoảng 4-6 tỉ đô la. Tôi tin rằng mức giá như vậy là vừa phải vì từ trường hợp IPO của ICBC ở thị trường Trung Quốc năm ngoái cho thấy, Goldman Sachs khó có thể chấp nhận bỏ ra một vài tỉ đô la để sở hữu 10% một ngân hàng có quy mô về tài sản chỉ hơn 1 phần trăm của ICBC. Thêm vào đó, theo tính toán của tôi, nếu dựa vào nền kinh tế hiện tại thì giá trị thực của VCB chỉ vào khoảng 3,5 tỉ đô la và nếu dựa vào nền kinh tế sau 5 năm nữa thì con số này cũng chỉ khoảng 7 tỉ đô la.

* Nếu đó là mức giá hợp lý thì các nhà đầu tư đang giữ CP các ngân hàng khác với giá cao ngất hiện nay sẽ ra sao?

– Sự kỳ vọng đã đẩy giá CP ngân hàng – tài chính lên quá cao và khi bong bóng thổi lên quá thì khi có sự điều chỉnh nó sẽ bị xẹp cũng là lẽ đương nhiên. Điều này tôi đã nói rồi, những người đầu tư ăn chênh lệch giá không cần phân tích cơ bản hay giá trị doanh nghiệp (DN ) là bao nhiêu. Họ chỉ cần biết rằng, hôm nay nên mua nếu ngày mai có người trả giá cao hơn và ngày nay nên bán nếu ngày mai có thể mua được thấp hơn. Nghĩa là họ chỉ cần đoán được xu hướng của thị trường. Còn người thiệt hại là người “ôm bom” cuối cùng vì trò chơi có tổng bằng không, có người được ắt có người mất.

* Như vậy liệu có khả năng xảy ra việc bán tháo CP ngành tài chính ngân hàng không? Điều này có gây nguy hiểm đối với thị trường chứng khoán (TTCK) không thưa ông?

– Quay lại bản chất của vấn đề, TTCK giúp cho các DN huy động vốn. Ở một thời điểm nào đó, thị trường phi lý thì một số DN có thể huy động được vốn, các cổ đông trước đó cũng có lợi một ít. Các DN chỉ có lợi khi phát hành thêm CP ở mức giá cao, nếu không phát hành thêm CP thì không có gì xảy ra cả. Vì vậy, việc CP dao động lên xuống dường như không ảnh hưởng gì nhiều đến kế hoạch dài hạn của các ngân hàng, chỉ có những người mua đi bán lại CP mới được hoặc mất. Vì vậy, nếu giá CP ngành ngân hàng tài chính lúc này có giảm thì cũng không ảnh hưởng đến các ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nhưng nếu thị trường xuống quá mức, bán CP trên thị trường thứ cấp không ai mua thì trên thị trường sơ cấp DN cũng không huy động vốn được và lúc đó mới thực sự là ảnh hưởng.

* Cuối cùng là theo ông, VCB có nên trì hoãn việc IPO hay không?

– Theo tôi, cả 3 NĐT chiến lược hiện nay của VCB đều rất tốt và muốn làm ăn lâu dài vì vậy VCB chẳng nên chờ đợi làm gì. Đó chính là những NĐT chiến lược thật sự. Chúng ta chỉ có thể bán giá cao cho những nhà đầu cơ, những người có thể dùng kỹ thuật để thổi giá lên đến hết thời gian yêu cầu nắm giữ người ta sẽ bán ngay để kiếm một món lợi khổng lồ như thực tế đã xảy ra. Vậy ta muốn ai? Người sẽ cùng ta xây dựng thương hiệu của mình lên hay sau một thời gian sẽ “bỏ của chạy lấy người”?

Nguyên Hằng (thực hiện)

Blog at WordPress.com.