Ktetaichinh’s Blog

January 10, 2011

Ai sẽ nắm những chức vụ chủ chốt sau Đại hội Đảng lần thứ 11? Việt Hà, phóng viên RFA 2011-01-09 Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11 sắp diễn ra từ ngày 12 đến 19 tháng 1 sắp tới.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:42 pm
Tags: , ,

Trước đại hội, dư luận trong và ngoài nước đều rất quan tâm đến những nhân sự sắp tới của Đảng vì điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối chính sách của Việt Nam trong 5 đến 10 năm tới.

Việt Hà phỏng vấn Giáo sư Carl Thayer về vấn đề này. Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện quốc phòng Úc và là một chuyên gia về Việt Nam. Trước hết, giáo sư Carl Thayer nói về các Thay đổi trong các vị trí chủ chốt của Đảng trong đại hội lần này như sau.

TBT Nguyễn Phú Trọng, TT Nguyễn Tấn Dũng, CT nước Trương Tấn Sang?

GS Carl Thayer: Bộ chính trị vẫn có sự thay đổi người khá thường xuyên kể từ đại hội đảng lần thứ 5 năm 1982, sau đó họ có đưa ra giới hạn về tuổi, hiện có 5 đến 6 người trong bộ chính trị sẽ về hưu là tổng bí thư Nông Đức Mạnh, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Đây là những chỗ cần người thay thế.

Tại đại hội, các đại biểu sẽ bầu nhân sự vào Ban chấp hành Trung ương, rồi BCHTƯ sẽ chọn người cho bộ chính trị. Trong hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 14 thì dường như BCHTƯ đã chọn ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư. Đảng đã làm rõ là ai sẽ giữ chức vụ nào, tức là ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ vẫn giữ chức vụ thủ tướng. Người muốn nắm chức vụ này là ông Trương Tấn Sang sẽ là chủ tịch nước. Còn lại các vị trí khác như chủ tịch quốc hội thì đến giờ này vẫn chưa rõ ai sẽ nắm. Ông Phạm Quang Nghị, Bí thư thành ủy Hà Nội là một ứng cử viên sáng giá vì ông đã làm bí thư hai nhiệm kỳ, và như vậy là đã hết thời hạn. Nhưng ngoài ra còn có các tên khác. Ai là thường trực ban bí thư, một ví trí quan trọng cũng là một câu hỏi còn được bỏ ngỏ. Tô Huy Rứa là một cái tên sáng giá cho chức vụ này.

vcp-leaders-250.jpg
Bộ tứ lãnh đạo hiện nay của đảng CSVN, từ trái sang: Các ông Nguyễn Phú Trọng chủ tịch quốc hội, Nguyễn Minh Triết chủ tịch nước, Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng chính phủ, Nông Đức Mạnh tổng bí thư. AFP PHOTO/Hoang Dinh Nam

Việt Hà: Nhìn vào nhân sự lần này có thể thấy ông Nguyễn Phú Trọng đã đến tuổi 66 tức là quá mức giới hạn tuổi trong Bộ Chính Trị. Theo ông vì sao Đảng có sự lựa chọn này?

GS Carl Thayer: Bình luận chung mà tôi có đó là do cách Việt Nam như vậy. Trong bộ chính trị bao gồm 15 người, nếu có từ 6 đến 7 người về hưu thì cái danh sách người để chọn ra người lãnh đạo khá nhỏ, cho nên họ phải chọn trong số nhỏ những người mà họ còn cho các vị trí này.

Điểm thứ hai tôi muốn nói là có những người thì muốn có một ông tổng bí thư mạnh mẽ hơn đặc biệt là để đối trọng đối với ông thủ tướng, nhưng không ai muốn có một tổng bí thư quá mạnh như Lê Duẩn từ những năm 60 đến 86. Như vậy là phải chọn người nào đó yếu vừa phải, hoặc ít quyền lực hơn. Nếu thủ tướng là người miền Nam thì phải chọn người miền Bắc hoặc Bắc Trung bộ làm tổng bí thư.

Ngoài ra Việt Nam còn có yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài là Trung Quốc. Mặc dù Trung Quốc không thể chọn tổng bí thư cho Việt Nam nhưng có ảnh hưởng nhất định. Ông Nguyễn Phú Trọng về mặt lý luận tư tưởng thì đáp ứng đủ cả ba yếu tố này.

Những ngoại lệ cũng có thể xảy ra, một người 66 tuổi vẫn có thể làm tổng bí thư. Nếu chúng ta quay lại thời Đỗ Mười làm tổng bí thư, ông ấy ra ứng cử lần hai và lúc đó có những sự không nhất trí trong đảng. Và cuối cùng họ đồng ý bầu ông ta làm tổng bí thư lần hai nhưng sau đó thay ông ta giữa kỳ, tức là 2 năm. Cho nên kịch bản thứ hai là chọn ông Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư và mọi người sẽ thử ông ta trong hai năm và có thể ông ta chỉ làm 2 năm, nhưng theo tôi ông ta sẽ làm hết 5 năm, và cái khả năng thay giữa nhiệm kỳ là rất khó xảy ra nhưng một số người vẫn đang nói về khả năng này vì lý do tuổi tác.

Việt Hà: Nếu so với Tổng bí thư Nông Đức Mạnh được các chuyên gia và các nhà ngoại giao nước ngoài đánh giá là khá mờ nhạt, thì ông Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư có thể mang lại gì khác biệt lớn hơn không thưa ông?

GS Carl Thayer: Cả hai người đều từng làm chủ tịch quốc hội. Ông Nông Đức Mạnh có bằng cử nhân lâm nghiệp, tức là một chuyên gia về kỹ thuật, còn ông Nguyễn Phú Trọng thì trước đó là người đứng đầu Học viện chính trị quốc gia, là Tổng biên tập của tạp chí cộng sản, và phụ trách các vấn đề về tư tưởng, cho nên ông là một ứng cử viên sáng giá về mặt tư tưởng.

Trong hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ 14 thì dường như BCHTƯ đã chọn ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư.

GS Carl Thayer

Nhưng nếu so sánh hai người khi họ làm chủ tịch quốc hội thì chúng ta không nghe thấy gì mới cả. Nhưng điều đó có lẽ là tốt, vì quốc hội thì rất sôi nổi, càng ngày càng vậy, đặc biệt là gần đây. Cho nên nhiệm vụ của người chủ tịch quốc hội phải là người trung gian hòa giải giữa các đại biểu và đây là một vai trò không ích kỷ, cho nên theo tôi Nguyễn Phú Trọng được bầu lên là người có thể nói chuyện với Trung Quốc về mặt tư tưởng, đảm bảo với Trung Quốc là Việt Nam vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa và sử dụng kỹ năng của mình để đảm bảo được sự cân bằng giữa các phe nhóm trong đảng vì ông là người miền bắc và đáp ứng đươc về tư tưởng. Ông cũng đã học được những kỹ năng cần thiết trong việc đàm phán ở quốc hội.

Việt Hà: Vậy còn các tên khác cũng đã được nói đến là ông Hồ Đức Việt, trưởng ban tổ chức trung ương Đảng và ông Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng. Những người này liệu sẽ vẫn ở trong bộ chính trị và sẽ có những vị trí gì sau đại hội này?

GS Carl Thayer: Hồ Đức Việt có hai khả năng. Khả năng 1, ông ta được dự đoán sẽ là chủ tịch quốc hội, tên của ông ta đã khá nổi bật cho vị trí này. Một khả năng hai là có những đồn đoán về việc ông dính vào một vụ xì căng đan và ông ta có thể phải nghỉ hưu. Lúc này tất cả những điều này còn chưa rõ.

Đối với Nguyễn Sinh Hùng, đã có lời đùa rằng nếu bạn hỏi khi nào thì đại hội đảng sẽ diễn ra, câu trả lời là trước ngày sinh nhật của ông Hùng để cho ông ta vẫn đủ tuổi để ở lại. Còn nhớ là hồi ông Nguyễn Tấn Dũng lên Thủ tướng, ngay lập tức ông đã thay đổi một số vị trí phó thủ tướng và chọn những người trẻ vào. Cuối cùng thì ông ta có được hai người của mình nhưng vẫn phải giữ lại 3 người khác trong đó có ông Hùng là phó thủ tướng thứ nhất.

Ở đây có sự không thống nhất về tư tưởng đường lối phát triển kinh tế cho Việt Nam. Cho nên theo tôi ông Hùng khó có thể sẽ tiếp tục vị trí Phó thủ tướng của mình.
Ông Nguyễn Tẫn Dũng sau đại hội đảng sẽ giảm số phó thủ tướng trong chính phủ và Nguyễn Sinh Hùng theo tôi có thể sẽ là nạn nhân của sự cắt giảm đó. Ông ta vẫn sẽ ở Bộ chính trị, và có 5 vị trí còn chưa rõ ví dụ ai là thường trực bí thư. khi Trương Tấn Sang rời vị trí đó thì cần người thay thế, cho nên có một số tên được đưa ra như Tô Huy Rứa chẳng hạn. Ông Nguyễn Sinh Hùng có nhiều hơn 5 năm trong Ban chấp hành Trung ương, từ đại hội 8 nên đó là một lợi thế nhưng lúc này cũng chưa rõ.

Phân chia quyền lực 3 miền

dai-hoi-dang-XI-250.jpg
Biểu ngữ chào mừng Đại hội ĐCS VN lần thứ 11 treo dọc đường phố trung tâm thành phố Hà Nội hôm 06 tháng 1 năm 2011. AFP photo.

Việt Hà: Nếu nhìn vào các vị trí mới này, chúng ta có thể thấy không có đại diện miền Trung. Từ đại hội lần trước chúng ta đã không có đại diện miền Trung trong 4 chức vụ quan trọng nhất của Đảng. Liệu ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư thành ủy Đà Nẵng có được xem xét một vị trí nào trong đại hội lần này?

GS Carl Thayer: Nếu nói về sự phân chia quyền lực Bắc Trung Nam, các đại biểu được chọn ra rất nhiều từ 58 tỉnh thành. Số lượng đảng viên phân bố không đều ở Việt Nam, càng về phía Bắc thì càng nhiều đảng viên, cho nên các đại biểu này đại diện cho suy nghĩ tình cảm của mỗi khu vực sẽ không muốn người miền Nam nắm chọn các chức vụ, như tổng bí thư và thủ tướng. Các tỉnh miền Bắc có nhiều đảng viên hơn nên sẽ có nhiều đại biểu hơn tại đại hội.

Tên ông Nguyễn Bá Thanh cũng được nói đến cho chức vụ chủ tịch quốc hội. Miền Trung thực sự có thể kêu gào là họ có ít đại diện trong các chức vụ quan trọng, và họ cũng muốn được phát triển về mặt kinh tế, cũng muốn có sân bay quốc tế, cho nên khi nói về các tên trong bộ chính trị, về quốc hội thì tên ông ta cũng được nhắc đến. Nhưng rõ ràng là miền Trung đang cảm thấy họ đang bị áp đảo trong các chức vụ quan trọng trong đảng.

Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho đài chúng tôi buổi

Advertisements

November 10, 2010

Việt Nam: Từ con hổ châu Á đến chú mèo ngủ đônế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:25 pm
Tags: ,

Trước kia, nhiều người cho rằng Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 – 20 năm tới, tiếp đến họ lại cho Việt Nam sẽ là con hổ Châu Á và bây giờ Việt Nam được xem lại là con mèo ngủ đông!

LTS: Ngày 07/11/2010 tại Hà Nội diễn ra buổi Hội thảo về Hội nhập WTO với chủ đề: “4 năm gia nhập WTO, Sự hội nhập của DN Việt Nam” với sự tham gia của hai diễn giả là Ông Lương Văn Tự – Nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng đoàn Đàm phán Việt Nam – WTO, Bà Phạm Chi Lan – Chuyên gia Kinh tế cao cấp. Tuần Việt Nam tổng lược nội dung cuộc trao đổi giữa các DN với hai chuyên gia trong hội thảo.

>> Hội nhập không phải là một cuộc “đánh quả”
>> Việt Nam vẫn làm ăn không giống ai

Thua trên sân nhà

Ông Lương Văn Tự: Sau 4 năm chúng ta gia nhập WTO, môi trường kinh doanh đã thay đổi từ đóng, mở ở mức độ thấp sang môi trường mở ở mức độ cao hơn, hội nhập sâu hơn. Môi trường pháp lý tốt hơn, xóa đi được quan niệm cũ “tân quan, tân chính sách”, tạo ra được DN giỏi.

Chính hội nhập mà tư duy của các DN có nhiều thay đổi, từ thụ động sang chủ động hơn, lấy hiệu quả kinh tế làm trọng tâm. Nhiều DN chuyển từ đơn ngành sang đa ngành; từ làm ăn gia đình sang đa sở hữu cổ phần, đại chúng; từ chụp giật sang lâu dài và bền vững hơn.

Những điều này thể hiện qua số lượng DN và chất lượng sản phẩm. Từ 100 ngàn DN năm 2006 lên khoảng 500 ngàn DN năm 2009. Nhiều lĩnh vực có sự tham gia của các DN nước ngoài, một phần tạo nên nhiều nhà quản lý trẻ giỏi, năng động.

Bốn năm trước, Việt Nam chính thức là thành viên WTO.

Tuy nhiên, sau 4 năm gia nhập WTO, nhiều DN của chúng ta vẫn thiếu nghiên cứu một cách khoa học về thị trường và phân khúc của nó. Nhiều DN làm ăn theo kiểu phong trào, bầy đàn, chụp giật; văn hóa kinh doanh chưa cao; thiếu doanh nhân, cán bộ quản lý có trình độ cao; công nghiệp phụ trợ chậm phát triển vì thiếu nguồn lực đầu tư… đặc biệt là vai trò của thể chế chậm cải tiến cho phù hợp với luật chơi chung của toàn cầu.

Bà Phạm Chi Lan: Sau khi gia nhập WTO, VN đã tham gia những quy định chung và tự nhận ra mình được gì và mất gì từ sân chơi ấy. Trước kia, nhiều nhà khoa học của các nước cho rằng Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 – 20 năm tới, tiếp đến họ lại cho Việt Nam sẽ là con hổ Châu Á và bây giờ Việt Nam được xem lại là con mèo ngủ đông!

Khi đã tham gia WTO, nhiều người đã nói rằng hàng hóa đến đâu thì biên giới quốc gia đến đó và rõ ràng Việt Nam đang thua hàng hóa trên sân nhà, trước nguy cơ cạnh tranh thị trường, đặc biệt là từ Trung Quốc.

Ví dụ, trong một số liệu điều tra tại Trà Vinh, 95% hàng hóa tiêu thụ là hàng Trung Quốc. Nếu chúng ta hội nhập sâu hơn nữa thì không biết hàng hóa Việt Nam sẽ đi đâu về đâu? Đây là một thách thức lớn cho đường lối phát triển hiện nay và sắp tới.

Nếu chúng ta không có những chính sách tốt thì trong thập kỷ tới, nền kinh tế, các ngành và DN Việt Nam khó mà cạnh tranh với các đối thủ “nặng ký” hơn. Đặc biệt, vai trò quản lý rủi ro, nhất là đối với các DNNN cần phải được coi trọng, để “nút thắt” thể chế không kìm hãm tăng trưởng.

Sau khi vào WTO, chúng ta đi theo một mô hình tăng trưởng sai lệch, quá chú trọng đến tăng trưởng theo tốc độ và số lượng, để rồi sung sướng khi mình luôn đứng thứ hai ở châu Á về mức độ tăng trưởng, chỉ sau Trung Quốc. Tuy nhiên, thực tế là 1% tăng trưởng của Việt Nam nhỏ hơn rất nhiều với 1% tăng trưởng của các nước.

Chưa theo được luật chơi

Nhiều người kì vọng, WTO cùng với hội nhập nói chung sẽ là động lực để tạo nên những thay đổi về luật chơi và cách chơi, nhất là về thể chế, chính sách trong nước. Sau 4 năm, việc này đã giúp gì trong việc xây dựng cách chơi của VN theo luật chơi thế giới?

Ông Lương Văn Tự: Hiệu quả hội nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó bản thân chính sách Nhà nước và năng lực của DN là hai yếu tố quan trọng. Các nước họ trở thành những con hổ, con rồng là do chính sách kinh tế vĩ mô và năng lực sản xuất kinh doanh của các DN. Thiếu cả hai điều này nên Việt Nam chưa theo được luật chơi của thế giới.

Bà Phạm Chi Lan: Những cải cách trước đây từ khi ta gia nhập WTO là vẫn chưa đủ để nền kinh tế Việt Nam cất cánh. Thể chế đang là nút thắt của sự tăng trưởng, nút thắt của sự hội nhập sân chơi toàn cầu. Chính vì vậy, chúng ta cần có chiến lược cải cách mới, triệt để và thực hiện nghiêm túc hơn.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.

Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta xây dựng hệ thống thể chế hiện đại, năng lực thể chế cao (luật pháp, chính sách, bộ máy, con người) mới tận dụng được lợi ích, vượt qua khó khăn. Không có năng lực thể chế sẽ không có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Trong thời gian tới, Nhà nước cần thúc đẩy sự sáng tạo và tăng cường quản lý rủi ro, đề cao vai trò của các DN và xã hội. Nhà nước phải biết lợi thế so sánh của nền kinh tế để phát triển các ngành công nghiệp trong từng giai đoạn, trong đó hai điều kiện tiên quyết phải là hệ thống thị trường cạnh tranh và một nhà nước tạo thuận lợi cho phát triển.

Việt Nam sẽ không dễ thay đổi vị trí trong khu vực nếu cứ tình trạnh chính sách tài chính và chính sách kinh tế có sự cách xa nhau như hiện nay. Cần cải thiện quản trị nhà nước để phát triển các khu kinh tế tự do, cải cách các tập đoàn kinh tế lớn, cải thiện cơ chế đối thoại nhằm tạo đồng thuận.

Thế giới dựa luật, Việt Nam vẫn dựa quan hệ

– Bà Virginia Foote, người gắn bó với quá trình hội nhập kinh tế VN từng chua chát nói: Việt Nam cứ chơi theo luật chơi riêng, thì chỉ có DN Việt Nam tự chơi với nhau thôi. Vậy điều gì cản trở Việt Nam mãi không chơi luật chơi chung của thế giới? Những gì cần điều chỉnh?

Ông Lương Văn Tự: Các DN thế giới sử dụng pháp luật để hợp tác kinh doanh trong khi DN Việt Nam nặng về quan hệ để làm ăn. Điều này có thể dễ trong việc làm ăn, nhưng rõ ràng để chơi được với thế giới là điều không dễ.

Ngoài ra, tính minh bạch và đầu tư cho bộ phận pháp chế để tuân thủ luật lệ thế giới cũng là điều còn rất hạn chế ở những DN Việt. Vì vậy mà các DN Việt Nam tự chơi với nhau cũng là điều dễ hiểu.

Để có thể tiến xa hơn các DN chúng ta nên khắc phục điểm bất lợi này. Đồng thời, chúng ta là nước đang còn nghèo nhưng lại được hưởng những ưu ái của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong khi các nước nghèo phải làm cả thứ bảy và chủ nhật thì ta chiều thứ sáu đã nghỉ rồi thì làm sao mà giàu được.

Chúng ta phải tham gia vào cuộc chơi toàn cầu và bắt buộc phải nâng tầm mình lên, DN càng khỏe, càng mạnh thì hội nhập càng tốt.

Ngoài ra, bản thân DN cũng phải thay đổi tư duy là đừng trông chờ vào Chính phủ.

Bà Phạm Chi Lan: DN Việt Nam vẫn xem nó là cuộc đánh quả, vẫn tư duy theo kiểu chộp giật, lo cái lợi trước mắt, thiếu tầm nhìn. Bản thân chính sách vẫn còn thay đổi xoành xoạch, thiếu tính tiên lượng. Năng lực cạnh tranh của các DN thấp, tinh liên kết nội bộ các DN trong nước khi ra sân chơi toàn cầu rất ít, vì vậy mà không tạo được sức mạnh cạnh tranh DN với thế giới, vẫn theo kiểu mạnh ai người ấy làm.

Cũng như nói ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến tính trạng các DN Việt như vậy là do vấn đề chính sách, thể chế, sự hạn chế trong năng lực đại diện cho các DN của các hiệp hội trong việc đối thoại, vận động chính sách, hỗ trợ và liên kết DN, xúc tiến thương mại và đầu tư…

Chính vì vậy, bản thân từng DN phải tự rà soát lại mình, điều chỉnh chiến lược, cách tổ chức kinh doanh, thực hiện những việc cần làm ngay. Coi trọng hơn thị trường trong nước, chuyển mạnh sang chiến lược kinh doanh hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, phát triển các cụm liên kết.

Ưu ái cũng là gây hại

– Sau 4 năm gia nhập WTO thế nhưng nhiều nước vẫn chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường và họ viện dẫn bằng chứng rõ nhất là cách chúng ta phân bổ nguồn lực, với những ưu ái dành cho DNNN. Góc nhìn của ông/ bà như thế nào về điều này?

Ông Lương Văn Tự: Kinh tế thị trường cũng như một thứ game mang màu sắc chính trị. Tiêu chuẩn kinh tế thị trường của Mỹ có một số tiêu chí như đồng tiền chuyển đổi, lao động tự nguyện, lương theo thỏa thuận… những vấn đề nhạy cảm mà Hoa Kỳ quan tâm.

Còn về việc phân bố nguồn lực, tôi nghĩ, nhà nước nên phân bố nguồn lực dựa vào luật đấu thầu, trên các tiêu chí cụ thể.

Bà Phạm Chi Lan: WTO không đưa ra các tiêu chuẩn để nói thế nào là một nước có nền kinh tế thị trường, tuy nhiên cần chú ý các tiêu chí về kinh tế thị trường của các nước hoặc nhóm nước đưa ra và quan trọng nhất là tiêu chí kinh tế thị trường của Mỹ, EU. Nhiều nước nói chúng ta chưa có nền kinh tế thị trường có liên quan đến bảo hộ cho DNNN với việc bán phá giá liên quan đến trợ cấp của Chính phủ.

Thế giới không quan tâm chúng ta có bao nhiêu DNNN, việc này là do chúng ta, tuy nhiên việc đối xử với nó như thế nào trong cuộc chơi toàn cầu lại là chuyện khác.

Nhiều lúc, ở Việt Nam bài toán phân bổ nguồn lực đã không tạo ra được những ưu ái cho số đông DN, thậm chí đã làm méo mó môi trường cạnh tranh. Việc phân bổ nguồn lực không bình đẳng đã làm hại cho cả hai phía.

Đối với bên kinh tế tư nhân bị phân biệt đối xử, thiệt thòi là dễ hiểu rồi, vì đất đai và các nguồn lực ngon lành đều nằm trong tay DNNN. Còn đối với bên DNNN được ưu ái đôi khi lại thành bị hại, như Vinashin là ví dụ sinh động cho vấn đề vay vốn và tiếp cận các nguồn lực một cách dễ dàng và thoải mái.

Đôi khi nhiều nguồn lực quá đối với DNNN lại là tai hại đang rình rập mà họ không hề biết, bởi vì họ đã mất đi khả năng cạnh tranh vốn là sự sống còn của bản thân mỗi DN muốn phát triển.

Đã đến lúc chúng ta phải cắt bỏ điều này đi, hãy để cho nó tự lập mới đủ sức đề kháng trong xu thế hội nhập khốc liệt.

June 1, 2010

Đường sắt cao tốc… dài quá!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:59 pm
Tags: , ,

Liệu có cách nào để Việt Nam có một hệ thống đường sắt hiện đại nhưng không quá tốn kém lại vừa chuyên chở được cả người lẫn hàng?

Dưới góc nhìn chuyên môn của người từng giữ chức Phó chủ tịch điều hành Alstom Transports (1992-1997) thuộc tập đoàn Alstom – một trong những công ty sở hữu công nghệ tàu hỏa cao tốc hàng đầu thế giới – ông Phan Văn Trường đã trả lời về câu hỏi này…

Thực tế, máy bay từ Hà Nội đến Tp.HCM mất một tiếng bốn mươi phút; trong khi tàu hỏa cao tốc cách mấy cũng phải mất ít nhất 5-7 tiếng, chưa kể thời gian phải dừng lại tại một số trung tâm đô thị trên tuyến đường. Cho nên, theo tôi, tính cạnh tranh của tuyến đường sắt cao tốc Bắc – Nam rất thấp.Những nhận định về lượng người đi lại trong tương lai như thế cần phải có nghiên cứu kỹ lưỡng và khoa học. Với kinh nghiệm của mình, tôi e rằng không có đủ hành khách cho tuyến đường sắt cao tốc này… Vì giá vé của tàu hỏa cao tốc quá cao, gần bằng giá vé máy bay, cho nên phải tự hỏi có bao nhiêu người hôm nay có khả năng mua vé; trong khi tàu hỏa cao tốc có thể chuyên chở số lượng rất lớn, hàng ngàn người.

Về mặt địa hình, chúng ta không nên quên hướng Đông-Tây. Đây là hướng có khả năng phát triển những mối liên hệ thương mại, kinh tế và du lịch với Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Lào, Singapore… Đó là hướng phát triển trong khung ASEAN.

Về lựa chọn công nghệ, theo tôi, thay vì nghĩ tới đường sắt cao tốc, nước ta nên nghĩ về một mạng lưới đường sắt (có hệ thống) với tốc độ trung bình, 60-120 km/giờ, để nối các đô thị nhỏ và trung bình, các vùng nông thôn sản xuất với hải cảng. Hệ thống đường sắt này mới là sườn kinh tế cho một đất nước như Việt Nam trong thời điểm này – giúp cho hàng hóa lưu thông thuận tiện; cũng như cho phép dân nghèo và thành phần trung lưu có cơ hội di chuyển với giá vé rẻ hoặc phải chăng.

Đầu tư cho mạng lưới đường sắt tốc độ trung bình còn giúp chúng ta có cơ hội tiếp thu công nghệ tàu hỏa không quá tầm với chúng ta. Theo tôi, Việt Nam ngày nay có, hoặc phải có cho bằng được, khả năng sản xuất đường ray, tàu hỏa với công nghệ bình thường… Tôi biết có ít nhất 30 quốc gia trên thế giới có khả năng giúp chúng ta, đôi khi họ muốn giúp miễn phí, vì công nghệ này đã trở nên bình thường trên thế giới.

Nhưng những người ủng hộ dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam cho rằng Việt Nam phải nhanh chóng tiếp cận với công nghệ tàu hỏa hiện đại để không phải chịu cảnh tụt hậu trong tương lai?

Nói như trên không phải tôi không nghĩ đến công nghệ cao trong lĩnh vực đường sắt cho Việt Nam. Nhưng về mặt xã hội chúng ta phải biết đặt ưu tiên vào những vùng kém mở mang, cần sự hỗ trợ của hạ tầng cơ bản. Sau đó chúng ta có thể nghĩ tới công nghệ tàu hỏa 160 km/giờ, 220 km/giờ… đủ để bảo đảm cho chúng ta phát triển bền vững.

Công nghệ cao như tàu hỏa cao tốc 350 km/giờ không chỉ tốn kém khi đầu tư (công nghệ cao, ít công ty làm được nên giá mắc) mà còn tốn chi phí vận hành rất lớn; cũng như thiếu tính cạnh tranh khi tuyến đường quá dài và kết nối những đô thị nhỏ. Để giải quyết vận chuyển hành khách được nhanh, rẻ, tiện lợi… nhiều quốc gia như Anh, Ý, Canada, Thụy Điển… và ngay cả Pháp, Đức, Nhật (những nước sở hữu công nghệ tàu hỏa cao tốc) họ đã đầu tư các tuyến đường Tilting Train – tàu hỏa lúc lắc – có thể chạy trên 220 km/giờ thay cho tàu hỏa cao tốc.

Trong tương lai xa hơn, theo tôi, Việt Nam nên đầu tư cho các tuyến tàu hỏa lúc lắc thay vì đường sắt cao tốc. Công nghệ tàu hỏa lúc lắc – vẫn giữ được vận tốc cao khi ôm cua (nhờ hệ thống lúc lắc) – có giá đầu tư chỉ bằng một nửa công nghệ tàu hỏa cao tốc. Được biết, sau khi ra những chính sách hạn chế ôtô, nước Mỹ đang hướng về giải pháp đầu tư Tilting Train trên cả nước.

May 27, 2010

Vốn xã hội và phát triển kinh tế Trần Hữu Dũng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:24 pm
Tags: , ,
http://www.viet-studies.info/kinhte/SocialCapital_Unpacked.pdf

Bài viết cho Hội Thảo về Vốn Xã Hội và Phát Triển
do tạp chí Tia SángThời Báo Kinh Tế Sài Gòn tổ chức

Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 6/2006

________________________________________________________



Department of Economics
Wright State University
Dayton, Ohio – Mỹ

Một cách tóm tắt xu hướng phát triển của kinh tế học (tây phương) về phát triển trong nửa thế kỉ qua là: nó đi từ các mô hình căn cứ trên những quan niệm khá hẹp hòi, thậm chí thiếu nhất quán, đến những mô hình phức tạp hơn, với nhiều yếu tố “ngoại kinh tế” (thể chế, văn hoá, lịch sử, địa lí).  Hai yếu tố nổi bật mà lý thuyết này đã dần dần hội nhập trong xu hướng ấy là con người và xã hội.

Có lẽ nên nhắc lại: theo kinh tế học cổ điển, ba thành tố quyết định tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, và vốn vật thể.  Cho đến khoảng những năm 1990, gần như mọi thuyết về phát triển kinh tế đều xem quan hệ xã hội là thứ yếu, thậm chí không cần bàn đến.  Vào những thập niên 50 và 60, chẳng hạn, các liên hệ xã hội, lối sống cổ truyền bị xem là trở ngại cho phát triển (hiểu là hiện đại hoá).[1] Tiếp theo thời kì này là giai đoạn lên ngôi của kinh tế học tân cổ điển, và dù trường phái này (cụ thể là Theodore Schultz và Gary Becker) có đề nghị thêm vốn con người vào số các thành tố phát triển, nó cũng không chú ý đến các quan hệ xã hội.  Thậm chí, một số kinh tế gia tân cổ điển cực đoan còn cho rằng có thể giải thích các hiện tượng xã hội (kể cả tôn giáo) bằng mô hình tối đa hoá (lợi nhuận cho doanh nghiệp, dụng ích cho cá nhân).  Tất nhiên, tiếp cận kinh tế cổ điển lẫn tân cổ điển đều hầu như không có đề nghị nào về chính sách đối với quan hệ xã hội.

Khái niệm vốn xã hội xuất hiện trong kinh tế trong bối cảnh ấy.[2] Qua cụm từ này, nhiều nhà phân tích cảm thấy đã tìm ra một “đáp số” cho hai nhu cầu cùng lúc: vừa vẫn duy trì tiếp cận kinh tế (“vốn”), vừa hội nhập vào tiếp cận ấy những yếu tố “xã hội”.

I.  “Vốn xã hội” là gì?

Trong bài “Vốn xã hội và kinh tế” (Thời Đại số 8, 2003) tôi đã trình bày sơ về ý niệm “vốn xã hội”.  Xin tóm tắt như sau: Tuy rằng động cơ khiến các học giả[3] đặt ra khái niệm này xuất phát từ nhiều hướng (xã hội, kinh tế, chính trị, giáo dục) song đại để là với nhận xét rằng (1) sự tin cẩn giữa những người cùng một “cộng đồng” (không nhất thiết bao trùm toàn thể quốc gia), (2) sự họ tuân theo thói lề, phong tục của cộng đồng ấy (không cần pháp luật cưỡng chế, hoặc vì hấp lực của quyền lợi vật chất), và (3) nói chung là “mạng lưới” xã hội (có thể là những hiệp hội, liên hệ gia tộc, vv), những “thứ đó” có ảnh hưởng thường là tốt đối với xã hội nói rộng, thậm chí có những lợi ích kinh tế rõ rệt.  Từ những nhận xét “chung chung” (và khó phủ nhận) này, nhiều học giả đã gọi nguồn lực ấy là một thứ “vốn” – “vốn xã hội”.

Trước khi khai triển thêm về  khái niệm này, cần nhận xét ngay rằng không ít bàn tán về nó là xung quanh câu hỏi thật sự căn bản: tại sao gọi nguồn lực này là “vốn”?

Người biện hộ cho bản chất “vốn” của nguồn lực này đưa ra ba lí do chính.[4] Thứ nhất, nó giống những loại vốn (đã được công nhận) khác ở chỗ có thể tích lũy từ các loại nguồn lực khác[5] với mong mỏi sẽ có thêm thu hoạch (dù không chắc) trong tương lai. Thứ hai, vốn xã hội có thể được sử dụng trong nhiều việc khác nhau (Coleman 1988).[6] Thứ ba, vốn xã hội có thể được chuyển thành những loại nguồn lực khác, vốn khác (Bourdieu 1985).[7]

Tất nhiên, cũng như những loại vốn khác ở chỗ có nhiều khác nhau song vẫn là “vốn”, vốn xã hội (theo những người đề xuất ý niệm này) có vài dị biệt với những loại vốn khác.  Chẳng hạn, khác vốn tài chính (nhưng giống vốn vật thể và vốn con người), vốn xã hội cần được nuôi dưỡng, bảo trì, để tiếp tục có ích.[8] Rồi, cũng không thể tiên đoán suất chiết cựu của vốn xã hôi.  Về đặc tính này, vốn xã hội giống với vốn con người, nhưng khác với vốn vật thể .[9]

Căn bản hơn, không giống mọi loại vốn khác, vốn xã hội là sản phẩm của tập thể, không của chỉ một cá nhân.  Nó tuỳ vào “lòng tốt” của kẻ khác, sự “có đi có lại” của nhiều người, và lợi ích của nó cũng là của chung. Dùng thuật ngữ kinh tế, có thể nói vốn xã hội là một loại hàng hoá công.  Không một ai có thể độc quyền “sở hữu” mạng lưới xã hội, ngăn chặn lợi ích đến người khác.  Song, ngược lại, chỉ một vài cá nhân thôi cũng đủ làm đổ vỡ vốn xã hội mà tập thể đã dày công xây dựng.[10]

Gần đây, nhiều nhà kinh tế chính thống (Arrow, Solow, Stiglitz) đã phân tích cặn kẽ khái niệm vốn xã hội và nêu ra một số dè dặt về sự thích hợp của chữ “vốn” trong cụm từ này. Arrow nhắc lại rằng vốn vật thể có ba đặc tính: dãi ra trong thời gian (extension in time), hàm chứa những hi sinh cho lợi ích mai sau, và có thể được chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác. Theo Arrow, “vốn xã hội” có đặc tính thứ nhất nhưng thiếu đặc tính thứ hai và thứ ba. Solow đặt thêm câu hỏi: vốn vật thể có “suất thu hoạch” và có thể đo bằng cách tổng cộng tất cả đầu tư trong quá khứ, trừ đi phần tiêu hao, còn vốn xã hội thì làm sao đo? “Suất thu hoạch” của nó là cái gì? Và Ostrom châm thêm: vốn xã hội có đặc tính là càng sử dụng thì giá trị càng tăng, hoàn toàn trái ngược với vốn vật thể.

II.  Vốn xã hội và phát triển kinh tế

Vậy thì cái “nguồn lực” ấy (từ đây sẽ gọi là “vốn xã hội” cho gọn, dù vẫn tồn nghi tính “vốn” của nó, như đã nói ở trên) có những ích lợi kinh tế nào?

(1) Vốn xã hội giúp giải quyết nhữngbài toán tập thể”.  Cụ thể, có những tình huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy. Ví dụ đầy dẫy chung quanh ta: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến những việc tầm thường như ngừng ở đèn đỏ, hoặc không xả rác nơi công cộng.  Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội – như là kết tinh của một chuẩn mực cư xử, một kì vọng chung của thành viên cùng một cộng đồng — giúp giải quyết các “bài toán phối hợp” (coordination problems).[11] Đi xa hơn (dù chưa thấy ai đề nghị), nhớ lại rằng nhiều nhà kinh tế đã giải thích những vấn đề kinh tế vĩ mô như là hậu quả của sự “thất bại phối hợp” (coordination failures), người viết bài này nghĩ rằng “tiếp cận vốn xã hội” có thể rất hữu ích cho phân tích những hiện tượng vĩ mô tổng quát (như thất nghiệp, lạm phát…).[12]

(2) Vốn xã hội tiết kiệm phí giao dịch (transaction costs).  Mọi giao địch xã hội và kinh tế sẽ ít rủi ro hơn nếu những đối tác liên hệ ngầm hiểu rằng mọi người đều theo một chuẩn tắc cư xử (tự trọng, sợ mất danh giá gia đình, giữ lời hứa, chẳng hạn), bởi vì như vậy thì những cá nhân liên hệ sẽ không tốn nhiều thời giờ và tiền bạc để bảo đảm rằng đối tác sẽ chu toàn trách nhiệm của họ.

(3) Vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy của những loại vốn khác.[13] Chẳng hạn, vốn xã hội có thể làm tăng vốn con người (Coleman 1988)

(4) Trong những xã hội ít tin cẩn (tức là nghèo vốn xã hội), quyết định thuê mướn nhân viên thường bị ảnh hưởng của những đặc tính cá nhân người ấy (chẳng hạn như thân nhân hoặc quen biết riêng), ít dính dáng đến khả năng làm việc.  Ở xã hội nhiều tin cẩn thì những yếu tố khác như học vấn, tay nghề, sẽ được quan tâm hơn.  Do đó, muốn tiến thân, người trong xã hội thiếu tin cẩn hay tìm cách móc nối thay vì trau giồi khả năng, hay kiến thức của mình.

(5) Một xã hội nhiều vốn xã hội là một xã hội ít tội phạm.[14] Khi sinh ra trong một xã hội mà thành viên tin cẩn nhau thì con người cũng dễ có lòng tốt với người khác.  Hậu quả là xã hội sẽ ít tội phạm hơn. Lợi ích kinh tế không phải nhỏ.

(6) Vốn xã hội của nhà nước[15] là cái sườn, là thành tố của pháp chế. Càng nhiều vốn xã hội thì tư pháp càng vững chắc, khế ước càng nhiều khả năng thực thi, tham nhũng càng ít, quyết định của nhà nuớc càng minh bạch, dễ kiểm soát, và bộ máy hành chính càng hữu hiệu.

(7) Vốn xã hội, qua dạng tin cẩn, sẽ tăng mức khả tín của quan chức nhà nước, đặc biệt là khi họ tuyên bố về chính sách kinh tế và tài chính.[16] Do đó vốn xã hội sẽ nâng cao mức đầu tư và những hoạt động kinh tế khác.

(8) Một xã hội đoàn kết, ít chia rẽ (tức là phong phú vốn xã hội) sẽ dễ hồi phục sau những cú “sốc” kinh tế.  Theo Rodrik (1999), những cú sốc này đòi hỏi sự quản lí những quyền lợi khác nhau trong xã hội.  Vốn xã hội giúp hài hoà những xung khắc mà một cơn khủng hoảng kinh tế sẽ phơi trần.  Thiếu vốn xã hội, ảnh hưởng của các cú sốc kinh tế sẽ trầm trọng và lâu dài hơn

III. Vốn xã hội và chính sách phát triển kinh tế

Ý niệm “vốn xã hội” là một cầu nối giữa tiếp cận kinh tế và tiếp cận xã hội, và do đó cung cấp những lí giải phong phú và thuyết phục hơn về hiện tượng phát triển kinh tế.  Nó cho thấy bản chất và chừng mực tương tác giữa các cộng đồng và thể chế có ảnh hưởng quan trọng đến thành tựu kinh tế.  Nhận định này có nhiều hệ luận quan trọng cho chính sách phát triển mà cho đến nay hầu như chỉ nhắm vào mặt kinh tế.

(1) Mọi chính sách đều có một bối cảnh xã hội, và mỗi bối cảnh ấy là một hỗn hợp tế nhị giữa các tổ chức không chính thức (informal), những mạng (quen biết cá nhân), và các thể chế.  Do đó, quy hoạch chính sách đòi hỏi, trước hết, một phân tích xã hội và thể chế để nhận dạng mọi thành phần liên hệ, và liên hệ giữa các thành phần ấy.  Cụ thể, khi hoạch định một phương thức can thiệp kinh tế hay xã hội, cần lưu ý đến khả năng các nhóm thế lực có thể động viên ảnh hưởng của họ theo cách có hại cho cộng đồng chung.

(2)  Phải xem vốn xã hội là một nguồn lực như các nguồn lực khác trong mọi công trình  xây dựng, dự án phát triển, từ cơ sở hạ tầng, đến giáo dục, y tế, vv.  Cũng nên nhớ rằng vốn xã hội là một loại “hàng hoá công” và, cũng như các loại hàng hoá công khác, nó sẽ không được thị trường cung ứng đầy đủ.   Sự hỗ trợ của nhà nước là cần thiết.

(3)  Nói chung, cần vun quén vốn xã hội, song cũng nên nhớ (a) vốn xã hội không phải bao giờ cũng tốt, (b) vốn xã hội thường là thuộc tính của một “cộng đồng”, một nhóm, đan xen, chồng chéo nhau —  ít khi của toàn thể quốc gia.  Do đó, chính sách “phát triển vốn xã hội” cần được cẩn thận chọn lọc, cụ thể, trong đó có cả biện pháp kết nối những cộng đồng (mà nội bộ có vốn xã hội riêng) trong một nước (Granovetter).  Nó không thể là một chính sách chung chung. Sự phân cực, manh mún trong xã hội sẽ làm giảm vốn xã hội.  Muốn phát triển kinh tế, chúng ta phải vuợt lên những chia rẽ trong xã hội, làm xã hội gắn kết hơn.

(4) Cần tăng cường khả năng tổ chức, phối hợp của người thu nhập thấp (nhưng lại có thể rất giàu vốn xã hội), và giúp những tập thể, những nhóm xã hội, liên kết với nhau.  Đặc biệt quan trọng là “bắt cầu” (danh từ của Granovetter) giữa những nhóm xã hội, bởi lẽ nhiều quyết định có ảnh hưởng đến người nghèo là không xuất phát từ địa phương.  Nhằm mục đích này, phải cổ động sự tham gia đông đảo để tiến đến sự đồng thuận, cũng như tương tác xã hội, giữa những người (khác nhau về quyền lợi và chênh nhau về nguồn lực) trong tầm ảnh hưởng của quyết định ấy.

(5) Các tổ chức viện trợ của nước ngoài thường có một câu hỏi bức xúc: làm sao để trợ giúp thành phần nào đó trong một xã hội vô cùng phức tạp, xa lạ đối với họ.  Tiếp cận “vốn xã hội” nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn chấp thuận một dự án hỗ trợ như thế không thể chỉ dựa vào các tiêu chuẩn công nghiệp và tài chính, mà còn phải để ý đến vốn xã hội địa phương.

(6) Từ quan điểm vốn xã hội, ta càng thấy cần có những chính sách “tiết lộ thông tin” (information disclosure) ở mọi cấp để công dân có nhiều thông tin hơn, và do đó tăng cường “tính trách nhiệm” ở khu vực công lẫn tư.  Quan niệm vốn xã hội đưa đến ý nghĩ là một chính sách tăng cường thông tin, nhất là giữa các tầng lớp xã hội, là cần thiết – thêm một lí do để nhà nước đầu tư vào những phương tiện truyền thông đại chúng.

(7) Liên hệ giữa các loại vốn xã hội thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế.  Những lối sống “cổ truyền” (dựa vào vốn xã hội giữa dân chúng) dần dần được thay thế bằng những tổ chức xã hội có quy cũ hơn.  Thị trường ngày càng mở rộng, quy mô sản xuất ngày càng lớn, nhưng sự phát triển ấy chỉ có thể bền vững nếu số lượng và chất lượng vốn xã hội là đầy đủ và thích hợp.  Nhìn cách khác, ở mỗi giai đoạn phát triển là một tỷ lệ tổ hợp tối ưu giữa vốn-xã-hội-dân-sự và vốn-xã-hội-nhà-nước và, trong chừng mực có thể, chính sách phải linh động đồng nhịp với những thay đổi ấy.

IV. Kết luận

Tôi nghĩ rằng “vốn xã hội” là một ý niệm hữu ích, cơ bản là nó giúp ta nhớ rằng liên hệ quen biết, sự tin cẩn, thể chế xã hội (và lịch sử) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, và do đó cần những chính sách thích hợp.  Tuy nhiên, phải cảnh giác rằng ý niệm này rất linh động, thậm chí mập mờ, chưa đủ chính xác để đưa vào mọi phân tích kinh tế.  Hơn nữa, có nhiều tình huống, vấn đề, mà sự phân tích không thật sự cần khái niệm “vốn xã hội”.  Fukuyama (2006) cảnh báo là chớ nên xem (tiếp cận) “thể chế” như “viên đạn thần” cho phát triển.  “Vốn xã hội” cũng thế  Nên xem nó như một quan niệm bổ túc để hiểu tiến trình phát triển, không phải là thành tố quan trọng nhất trong tiến trình này.

Trần Hữu Dũng
Dayton, Ohio (Mỹ)
7-5-06

Tham khảo

Adler, P. và Kwon, 1998, “Social capital: The good, the bad and the ugly,” trong E.L. Lesser (chủ biên) Knowledge and social capital: Foundations and applications, Boston: Butterworth Heineman

Bourdieu, Pierre, 1986, “The Forms of Capital”, trong Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education (John Richardson, chủ biên). New York: Greenwood Press, 241-258.

Bowles, S., và Gintis, H., 2002, “Social Capital and Community Governance,” Economic Journal 112, F419-F436.

Coleman, J. 1988. “Social capital in the creation of human capital.” American Journal of Sociology, 94, S95–S120.

Cooper, Russell, 1999, Coordination Games, MIT Press

Cooper, Russell, và Andrew John, 1988, Coordinating Coordination Failures in Keynesian Models, Quarterly Journal of Economics, Vol. 103, No. 3 (Aug., 1988) , pp. 441-463

Dasgupta, P., và Serageldin, I., 1999, Social Capital: A Multifaceted Perspective, Washington, DC: The World Bank.

De Soto, Hernando, 2000, The Mystery of Capital: Why Capitalism Triumphs in the West and Fails Everywhere Else, New York: Basic Books.

Dũng, Trần Hữu, 2003, “Vốn xã hội và kinh tế“, Thời Đại, số 3, tr. 82-102.

Durlauf, Steven, 1999, “The Case ’Against’ Social Capital,” Focus 20, 1-5.

Durlauf, Steven, 2000, “Bowling Alone: A Review Essay,” Working Paper.

Durlauf, Steven, 2002, “On the Empirics of Social Capital,” Economic Journal 112, F459-F479.

Fukuyama, Francis, 1995, Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity. NY: Free Press.

Fukuyama, Francis, 2006, America at the crossroads, New Haven: Yale University Press.

Granovetter, Mark, 1973, “The Strength of Weak Ties,” American Journal of Sociology, số 78, tr. 1360-80.

Lin, Nan, 2001, Social Capital, NY: Cambridge University Press,

Nguyen, V. T., Weinstein, M., và  Meyer, A. 2005. “Development of trust: A study of interfirm relationships in Vietnam.” Asia Pacific Journal of Management, 22(3), 211–235.

Putnam, Robert, 2000, Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community, NY: Simon & Schuster.

Rodrik, Dani, 1999, “Where Did All the Growth Go? External Shocks, Social Conflict and Growth Collapses,” Journal of Economic Growth, December.

Sobel, Joel, 2002, “Can We Trust Social Capital?”, Journal of Economic Literature 40, 139-154.

Woolcock, M., 1998, “Social capital an economic development: Toward a theoretical synthesis and policy framework”, Theory and Society 27(2), tr. 151-208.

Woolcock, M. và D. Narayan, “Social capital: Implications for development theory, research and policy,” World Bank Research Observer (15(2), 2000.


[1] Một tài liệu của Liên Hợp Quốc năm 1951 hô hào phá vở những xã hội truyền thống nếu muốn phát triển

[2]Dù nó đã có trong xã hội học gần cả thế kĩ trước.

[3]Những tên tuổi chính: Bourdieu, Coleman, Putnam, Fukuyama, De Soto, …

[4] Xem Adler và Kwon (1998)

[5] Chẳng hạn như vốn tài chính là do tiết kiệm mà có.

[6] Ví dụ, một người bạn của anh là một thứ vốn xã hội mà anh có thể dùng khi nhờ người ấy giới thiệu chỗ làm cho anh, và cũng có thể dùng để “tâm sự” (khỏi tốn tiền gặp bác sĩ tâm lý!).

[7]Tuy nhiên, sự chuyển đổi này không phải luôn luôn dễ (vốn tài chính là dễ chuyển đổi nhất).

[8]Ví dụ, “móc nối xã hội” giữa một nhóm người sẽ phai nhạt qua thời gian nếu những người ấy không giữ liên lạc với nhau.

[9]Một chiếc ôtô cũ chẳng hạn, xài càng lâu thì chắc chắn giá trị càng giảm.  Nhưng không thể tiên đoán giá trị của một liên hệ sẽ thay đổi ra sao với tầm mức hai người giữ liên lạc với nhau.

[10]Trong một hội đoàn, chỉ vài người lươn lẹo là không ai còn tin ai nữa.

[11] “Thế lưỡng nan của người tù”, chẳng hạn.

[12] Xem Cooper và John, 1988; Cooper 1999.

[13] Nói theo kinh tế, vốn xã hội sẽ chuyển dịch (shift) hàm sản xuất gộp (aggregate production function) của cả nước..

[14] Trừ khi “vốn xã hội” này là của các băng đảng tội phạm!

[15] Phân biệt với “vốn xã hội dân sự”, như nhiều học giả đề nghị.

[16] Về lãi suất hoặc thuế má, chẳng hạn.

May 26, 2010

MỘT SỐ QUAN NIỆM ĐƯƠNG ĐẠI VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ- TRẦN HỮU QUANG

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:47 am
Tags: ,

http://www.viet-studies.info/kinhte/TranHuuQuang_XaHoiDansu_2.pdf

May 3, 2010

Nha dau tu trong nuoc da tinh tao hon?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:57 am
Tags: ,


Thị trường chứng khoán Việt Nam trong vài năm gần đây đã phát triển hết sức mạnh mẽ với sự tham gia của nhiều tổ chức nước ngoài cũng như các cá nhân và tổ chức trong nước. Trong thời gian trước, phần lớn những người được lợi là các tổ chức nước ngoài và phần thua thiệt hay đứng về phía các nhà đầu tư nhỏ lẻ trong nước. Kịch bản thường thấy là mỗi khi bắt đầu một chu kỳ tăng điểm sẽ có những phiên mua ròng liên tục của các nhà đầu tư nước ngoài, sau một thời gian các nhà đầu tư trong nước bắt đầu tham gia, lượng tiền đổ vào thị trường ngày càng nhiều và cũng là lúc các nhà tổ chức nước ngoài bán dần cổ phiếu và lại bắt đầu một chu kỳ giảm điểm. Tuy nhiên, đợt sóng 2 tháng trở lại đây tôi nhận thấy một sự thay đổi ở phía các nhà đầu tư trong nước, có lẽ họ đã tỉnh táo hơn.

Các tổ chức nước ngoài ngoài có ưu thế về tiềm lực tài chính, có hệ thống thu thập và phân tích thông tin tốt, các kỹ năng và công cụ để thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán nhiều lợi thế hơn các nhà đầu tư trong nước. Do đó, họ thường đi trước các nhà đầu tư trong nước về việc xác định sớm những tín hiệu tích cực cho sự hồi phục của thị trường chứng khoán, họ thường mua gom cổ phiếu trong thời điểm nhà đầu tư trong nước đang bi quan hoặc đang lưỡng lự chưa xác định được xu hướng. Tuy nhiên, họ có một nhược điểm là vốn đầu tư lớn nên chỉ tập trung chủ yếu ở các cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn và tính thanh khoản cao, không đầu tư dàn trải và các quyết định mua hoặc bán cổ phiếu với số lượng lớn thường phải thực hiện trong một giai đoạn nhất định hoặc khi thị trường bùng nổ với những phiên giao dịch với khối lượng lớn. Các nhà đầu tư trong nước tuy không có lợi thế như những nhà đầu tư nước ngoài nhưng họ có sự chủ động và rất linh hoạt trong việc mua bán từng mã cổ phiếu, các quyết định thay đổi khá nhanh chóng phụ thuộc vào diễn biến thị trường.

Đợt sóng gần đây các nhà tổ chức nước ngoài vẫn tiếp tục mua ròng các phiên liên tiếp, tuy nhiên thị trường chứng khoán Việt Nam không diễn ra như các lần trước mặc dù các tín hiệu khả quan ủng hộ cho sự tăng điểm của thị trường liên tục xuất hiện ngày một lớn và có nhiều sự cổ vũ cho một sự tăng trưởng mạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam. Các nhà đầu tư nhỏ trong nước đã chuyển sang đầu tư vào các cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ và trung bình thu được lợi nhuận lớn, các tổ chức nước ngoài giường như vẫn bị “mắc cạn” bởi những cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn, thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ bùng nổ một hai phiên rồi ngay lập tức lại trở lại tình trạng tăng hoặc giảm nhẹ, sự thay đổi luân phiên chủ yếu diễn ra ở các cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ và vừa. Các nhà đầu tư trong nước thời gian trước thường rất hay quan tâm tới những phân tích và khuyến nghị của các tổ chức nước ngoài và hành động mua, bán chứng khoán cũng hay dựa theo phân tích và khuyến nghị đó. Hiện nay thì đã khác, giường như họ đã có cái nhìn độc lập hơn, họ biết những điều gì các tổ chức nói đúng và điều gì là không đúng để đưa ra quyết định của riêng mình.

Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới nhưng theo tôi VNI sẽ tăng trưởng từ từ, ổn định cùng với đà hồi phục của nền kinh tế thế giới và sự ổn định của kinh tế trong nước. Có thể đợt sóng này người được lợi nhiều là các cá nhân trong nước và không hiểu sắp tới có sự thay đổi nào về chiến thuật của các nhà tổ chức nước ngoài ?

NGUYỄN HỒNG HẢI – NGUYÊN PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC OCEANBANK – THÀNH VIÊN CÂU LẠC BỘ DOBF.

Thanh toan khong dung tien mat NGUYỄN HỒNG HẢI – NGUYÊN PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC OCEANBANK.

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:54 am
Tags: , ,

1. Tác dụng của thanh toán không dùng tiền mặt: ?
– Ngân hàng tiết kiệm được chi phí hoạt động trong việc vận chuyển, kiểm đếm và bảo quản tiền mặt
– Khách hàng không cần phải để tồn quỹ, để trong nhà nhiều tiền mặt vừa mất an toàn, không tiện lợi và tốn kém khi thanh toán;
– Nền kinh tế tiết kiệm nhiều nguồn lực cho việc in ấn, phát hành tiền mặt, và thanh toán không dùng tiền mặt là cơ sở để phát triển, đẩy mạnh các dịch vụ giao dịch thanh toán trực tuyến tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, và an toàn với chi phí thấp.

2. Thực trang thanh toán không dùng tiền mặt tại VN:
Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt hiện tại vẫn còn khá cao – chiếm khoảng 14% (tỷ lệ này ở các nước có nền kinh tế phát triển đều dưới 1 con số), đặc biệt trong khu vực chi tiêu cá nhân, số người sử dụng dịch vụ ngân hàng để thanh toán chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp, lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có thu nhập cao và ổn định. Tuy chính phủ và Ngân hàng NN đã có nhiều giải pháp và khá tích cực trong xây dựng hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt tại VN nhưng theo tôi hiện tại quá trình này vẫn đang còn diễn ra chậm và chưa đáp ứng được yêu cầu.

3. Vai trò của các Ngân hàng thương mại trong việc phát triển hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt.
Có nhiều nguyên nhân làm chậm tiến độ việc triển khai hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt hiện tại, nhiều người đưa ra các lý do như do thói quen của người dân (ở tất cả các nước trước khi thực hiện thành công thanh toán không dùng tiền mặt thì người dân của họ cũng đều có thói quen dùng tiền mặt ), hoặc do khuôn khổ pháp lý, hay cơ sở hạ tầng của hệ thống thanh toán của Ngân hàng nhà nước. Nhưng theo tôi vấn đề hiện tại cơ bản đang làm chậm tiến độ của việc triển khai hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt nằm ở định hướng phát triển và hợp tác giữa các NHTM. Thể hiện qua những yếu tố sau:
– Chậm trễ trong việc kết nối hệ thống thanh toán thống nhất giữa các Ngân hàng Thương mại: Chúng ta biết rằng, đối tượng cung cấp dịch vụ ngân hàng tới các cá nhân, tổ chức chính là các ngân hàng thương mại, nếu không tạo ra một hệ thống kết nối thanh toán thống nhất giữa các Ngân hàng thương mại thì sẽ gây khó khăn và bất tiện cho người sử dụng dịch vụ ngân hàng khi phải mở nhiều tài khỏan tại các Ngân hàng khác nhau. Các Ngân hàng nên bắt tay nhau để tạo ra thị trường lớn hơn để cùng khai thác thay vì cạnh tranh nhau trên thị phần còn nhỏ bé. Nếu Việt Nam thực hiện việc thanh toán không dùng tiền mặt thành công như ở các nước phát triển theo tôi nghĩ không sẽ không thiếu dịch vụ và không thiếu khách hàng cho tất cả các Ngân hàng hiện tại với thị trường Việt Nam có tới gần 90 triệu dân như ở VN. Các trở ngại về công nghệ, năng lực theo tôi sẽ không phải là vấn đề lớn nếu các Ngân hàng TM chủ chốt thực sự muốn đẩy nhanh tiến độ kết nối hệ thống thanh toán.
– Cần phải thay đổi cách nhìn về phát triển các dịch vụ thanh toán hiện tại: Theo tôi được biết thì hầu hết các Ngân hàng tại Việt Nam hiện nay đều bị thua lỗ trong mảng kinh doanh thẻ và trong tương lai nếu vẫn tiếp tục triển khai như hiện tại thì sẽ tiếp tục bị lỗ, Các ngân hàng thương mại đang chạy đua trong việc mở rộng mạng lưới và phát triển hệ thống máy ATM nhưng việc phát triển này vừa gây ra lãng phí lại không hiệu quả. Ví dụ như ở thị trường Đà nẵng có tới gần 900 ngàn dân mà có gần bằng ngần đó thẻ ATM được phát hành, số thẻ ATM thực sự được sử dụng theo tôi chỉ khoảng vài chục ngàn người, việc phát triển hệ thống thẻ ATM chưa giải quyết được triệt để vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt vì khi người dân rút tiền từ thẻ ATM họ sẽ lại dùng tiền mặt để thanh toán, hiện tại các NH Thương mại mới kết nối hệ thống máy ATM thống nhất. Trong khi, điều cần phát triển nhất là các máy POS thì các ngân hàng thương mại chưa thực sự chú trọng, chi phí một máy POS chỉ khoảng vài triệu và có thể giảm xuống vài trăm ngàn ( nếu trong nước sản xuất hoặc chính phủ hỗ trợ ), nếu các máy POS đó được đặt khắp mọi nơi từ các chợ, siêu thị, cơ quan trường học… và với một hệ thống POS được kết nối thống nhất giữa các ngân hàng thì sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho người dân trong việc thanh toán không dùng tiền mặt. Máy POS không những có đăc điểm chi phí rẻ, dễ sử dụng, nhỏ gọn và dùng được các chức năng, thanh toán, truy vấn số dư..
– Các sản phẩm được thiết kế còn bất tiện và hạn chế trong việc sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy rằng hầu hết các NH thương mại đã thay Corebanking mua ở nước ngoài nhưng các sản phẩm tiền gửi thiết kế vẫn theo hình thức cũ. Tôi lấy ví dụ như các ngân hàng thiết kế sản phẩm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Mỗi lần gửi tiền thì Ngân hàng lại cấp cho một quyển sổ tiết kiệm mới, việc rút bớt một phần hoặc nộp tiền vào sổ người dân lại phải tới ngân hàng, ký tá rất nhiều thủ tục và giấy tờ, việc chuyển tiền từ tiền gửi tiết kiệm sang tiền gửi thanh toán không thuận tiện và vẫn phải tới ngân hàng. Tôi cũng có mở một tài khoản tại Canada và tôi dùng nhiều sản phẩm tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm khác nhau. Tuy nhiên tôi chỉ cần duy nhất một thẻ ATM và số tài khoản, và tôi có thể kiểm tra toàn bộ các sản phẩm mình có thông qua thẻ ATM và E-banking, chuyển, rút tiền đơn giản thông qua máy ATM hoặc E-banking và khi giao dịch không phải mang theo bất cứ giấy tờ nào.
– Các NHTM chưa mạnh dạn trong việc triển khai E- banking. Khi thực hiện giao dịch E-banking tại các NHTM tại VN tôi thường phải nhập tới 3 vòng mật khẩu, kèm theo phải sử dụng các thiết bị bảo mật, trong khi đó tại Canada tôi chỉ cần nhập 1 vòng mật khẩu để sử dụng dịch vụ, tôi hỏi vấn đề này tại các ngân hàng ở Canada thì họ nói là nếu có hacker hoặc bị người khác lợi dụng thì khi người bị hại thông báo họ sẽ phối hợp với ngân hàng bạn để trả lại số tiền cho người bị hại và cơ quan an ninh sẽ phối hợp điều tra để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

4. Vai trò của các cơ quan chức năng:
Theo tôi về phía Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cũng đã rất tích cực trong việc đẩy nhanh việc thanh toán không dùng tiền mặt. Cụ thể:
Về phía Chính Phủ và NHNN cũng đã có những hành động cụ thể để đẩy nhanh việc triển khai hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt tại VN. Về phía Chính phủ và NHNN đã ban hành các văn bản:
– Đề án Thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020 theo Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
– Nghị định 161/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 Quy định thanh toán bằng tiền mặt; Chỉ thị 20/2007/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Quyết định về Séc, về Nhờ thu Hối phiếu qua người thu hộ, về Thẻ ngân hàng…
– Ngân hàng NH là đơn vị chủ trì, đứng ra để yêu cầu các NHTM thực hiện việc kết nối hệ thống thanh toán thẻ ATM
– Đồng thời NHNN cũng đã thực hiện triển khai hệ thống thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử liên ngân hàng….

Tuy nhiên, theo tôi NHNN nên định có vai trò định hướng cho các NHTM trong việc phát triển hệ thống POS và kết nối hệ thống này, đẩy nhanh tiến độ kết nối hệ thống máy POS. Chính phủ có thể hỗ trợ một phần tiền nếu các đơn vị sử dụng máy POS để giảm chi phí máy POS tại VN xuống, Việt Nam nên có một chiến dịch để thực hiện triển khai đồng loạt việc trang bị và sử dụng hệ thống máy POS tại các cơ sở thanh toán ( cơ quan, siêu thị, chợ, cửa hàng….) đồng thời có chiến dịch truyền thông và phối hợp với các NH Thương mại tổ chức hệ thống đào tạo người dân sử dụng máy POS và các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt khác của Ngân hàng, Các ngân hàng thương mại cũng nên có trung tâm và phương án để xử l‎y các sự cố liên quan tới việc khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ thanh toán của NH TM.

March 14, 2010

Lúng túng chuyện giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:08 pm
Tags: , , ,

Dai dẳng mấy tháng nay, giới đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nhiều lần lên tiếng bày tỏ sự lo ngại trước khả năng Nhà nước tăng cường kiểm soát giá một số mặt hàng trong khi giới kinh doanh trong nước hầu như chưa thấy lên tiếng về vấn đề này. Vì sao thế?

Nguồn gốc chuyện kiểm soát giá

Căn nguyên của chuyện kiểm soát giá là bản dự thảo một thông tư do Bộ Tài chính soạn thảo nhằm thay thế Thông tư 104 được ban hành từ cuối năm 2008.

Trong khi Thông tư 104 quy định khá chi tiết các điều kiện áp dụng các biện pháp bình ổn giá đối với một số mặt hàng (ví dụ đối với sữa: “Trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động”) thì dự thảo chỉ ghi những điều kiện chung chung như “mức giá tăng cao hơn so với mức giá đã đăng ký, đã kê khai trước đó với cơ quan có thẩm quyền”…

Với các loại hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký giá, Thông tư 104 chỉ giới hạn vào các doanh nghiệp có trên 50% vốn sở hữu nhà nước trong khi dự thảo mở rộng ra tất cả doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục phải đăng ký giá, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Giới đầu tư quan ngại chuyện tăng giá.

Việc đưa ra một dự thảo mới thay thế cho Thông tư 104 là do thông tư này đã không làm được nhiệm vụ bình ổn giá như mục tiêu đề ra. Ví dụ trong năm 2009 dư luận xã hội nóng lên chuyện giá sữa tăng liên tục, nhiều người bất bình vì có loại sữa giá ở thị trường Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các thị trường khác trong khu vực.

Thế nhưng Thông tư 104 đã không cung cấp cho các cơ quan nhà nước cũng như chính quyền địa phương một công cụ để bình ổn giá vì đã quy định chỉ áp dụng các biện pháp bình ổn giá khi giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục. Trở ngại tương tự cũng xảy ra với các mặt hàng khác như gạo, thuốc chữa bệnh, đường… Nếu giá các mặt hàng này tăng dưới mức quy định trong thông tư thì các cấp quản lý cũng đành chịu.

Lập luận của giới đầu tư nước ngoài

Nay khi dự thảo đưa vào diện đăng ký giá, kê khai giá cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngay lập tức giới đầu tư nước ngoài phản ứng. Lần lượt các hiệp hội doanh nhân nước ngoài như EuroCham, AmCham đã gửi thư cho Bộ Tài chính, Chính phủ, trả lời báo chí nước ngoài và tổ chức hội thảo để phản đối các quy định kiểm soát giá.

Họ không hiểu vì sao Việt Nam lại muốn quay lại cơ chế kiểm soát giá chứ không theo quy luật thị trường và để thị trường quyết định giá hàng hóa. Họ cho rằng các quy định trong dự thảo sẽ gây ra những gánh nặng quản lý cho các doanh nghiệp khi phải thực hiện việc đăng ký giá cho hàng ngàn chủng loại hàng, rằng các thông tin về phương án giá (như giá vốn, giá nhập khẩu, chi phí bán hàng, lợi nhuận dự kiến…) là bí mật kinh doanh nay lại phải kê khai, đăng ký.

Các nhà đầu tư cũng cho rằng với khả năng có chuyện kiểm soát giá như thế, các dự án FDI vào các lĩnh vực sản xuất hàng hóa trong danh mục như sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất dầu thực vật, phân bón, và sữa sẽ lưỡng lự trước khi quyết định đầu tư vì không nhà đầu tư nào muốn sản phẩm của mình phải chịu áp đặt giá. Họ cũng đặt vấn đề liệu kiểm soát giá như thế có trái với các cam kết WTO hay không bởi các văn bản gia nhập có cam kết: “kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng các biện pháp quản lý giá phù hợp với quy định của WTO”.

Vấn đề tâm lý

Sự bất lực của cơ quan quản lý giá đối với một số mặt hàng như sữa, đường hay tân dược trong năm 2009 là yếu tố thuận lợi cho việc ra đời dự thảo thay thế cho Thông tư 104.

Việc loại bỏ các điều kiện cụ thể trước khi có thể áp dụng các biện pháp bình ổn giá được kỳ vọng sẽ giúp cơ quan quản lý kiểm soát được giá sữa, giá thuốc chữa bệnh bất kể giá có tăng dưới 20% (sữa) hay dưới 15% (thuốc chữa bệnh). Buộc đăng ký giá đối với tất cả các khâu từ sản xuất, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ cho đến đại lý cũng được kỳ vọng sẽ lấp khe hở của Thông tư 104 khi trong thực tế năm 2009, các doanh nghiệp kinh doanh sữa hay thuốc chữa bệnh ở Việt Nam là nhà phân phối cho các hãng nước ngoài, không thuộc diện đăng ký giá.

Chính vì thế mà đã từng có những kiến nghị Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư 104 theo hướng “tất cả doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ nhà nước bình ổn giá phải thực hiện đăng ký giá theo quy định pháp luật”.

Bối cảnh những tháng đầu năm 2010 cũng thuận lợi cho dự thảo khi nhiều mặt hàng liên tục tăng giá, trong đó có nhiều mặt hàng là đầu vào cho dây chuyền sản xuất của nhiều doanh nghiệp khác. Bởi vậy, doanh nghiệp trong nước giữ im lặng trước dự thảo là điều dễ hiểu. Mặt khác, cũng có phỏng đoán, giới doanh nghiệp trong nước hiểu rõ tính khả thi thấp của các biện pháp kiểm soát giá nên giữ thái độ im lặng vì cho rằng mọi việc rồi sẽ “đâu vào đó”. Chuyện giá xăng tăng liên tục bất kể nhiều quy định chặt chẽ là một minh họa điển hình.

Nhưng quan trọng hơn là tính khả thi

Việc kiểm soát giá chưa bao giờ là một vấn đề mang tính khả thi cao. Giả dụ theo tinh thần của dự thảo, để áp dụng biện pháp bình ổn giá, Bộ Tài chính có thể quy định giá tối đa và giá tối thiểu cho một sản phẩm, nhà cung cấp sẽ giữ lại không đưa mặt hàng này vào thị trường nữa và ngay lập tức thị trường sẽ hình thành những loại “chợ đen” buôn bán “chui” các sản phẩm này với giá thật sự theo cung cầu thị trường.

Biện pháp kiểm soát hàng tồn kho của doanh nghiệp là sự can thiệp quá mức vào việc kinh doanh, sẽ vấp phải sự chống đối cao hơn nữa. Kiểm soát giá sẽ dẫn đến sự khan hiếm giả tạo như thời kỳ bao cấp, phải mua hàng hóa bằng tem phiếu và sau cùng giá cả sẽ trở nên đắt đỏ, lạm phát cao sẽ quay trở lại – những hệ quả hoàn toàn trái ngược mục tiêu của dự thảo mong muốn đạt được.

Dự thảo có nhiều đoạn mang tính mơ hồ không định lượng được như “biến động một cách bất thường”, “giá tăng quá cao hoặc quá thấp không hợp lý”, “những yếu tố hình thành giá không hợp lý”. Làm sao để doanh nghiệp biết được thế nào là bất thường, thế nào là không hợp lý thì không thấy dự thảo hướng dẫn hay giải thích. Thử hỏi với quy định như thế này “giá do các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định giá không đúng các yếu tố hình thành giá theo quy định của pháp luật” làm sao doanh nghiệp hiểu để tuân thủ?

Bộ máy hành chính phục vụ công việc kiểm soát giá cũng không thể nào kham nổi khối lượng công việc khổng lồ, tiếp nhận đăng ký giá, theo dõi biến động giá, hiệp thương giá… vì giá chịu rất nhiều yếu tố đầu vào khác nhau tác động như tỷ giá, giá thế giới, giá xăng dầu, giá điện, lương, chi phí sản xuất…

Không thể nào tưởng tượng nổi chuyện doanh nghiệp sản xuất một mặt hàng trong diện đăng ký giá, mỗi khi thay đổi giá thì phải thực hiện đúng quy trình thực hiện phương án điều chỉnh giá phức tạp mới được tăng hay giảm giá bán. Có những quy định mới nhìn vào đã thấy không thể nào thực hiện được, không hiểu sao dự thảo vẫn đưa vào.

Ví dụ, Sở Tài chính sẽ là nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký giá của các thành phần kinh tế khác (ngoài doanh nghiệp do Nhà nước nắm 51% vốn điều lệ trở lên – đăng ký ở Bộ Tài chính) nhưng làm sao một sở ở một địa phương có đủ nguồn lực để biết doanh nghiệp đăng ký giá như thế nhưng có thực hiện đúng giá đã đăng ký không ở trên các thị trường khắp cả nước. Làm sao doanh nghiệp, mặc dù đã đăng ký giá, có thể kiểm soát được việc bán đúng giá đã đăng ký tại hàng chục ngàn hay thậm chí hàng trăm ngàn điểm bán lẻ trên khắp cả nước.

Biện pháp thay thế

Cứ vài ba năm, lại rộ lên một chuyện nào đó với cộng đồng đầu tư nước ngoài. Cách đây mấy năm là chuyện hiểu nhầm phải ghi tên công ty bằng tiếng Việt, rồi trước đó nữa là vấn nạn hai giá. Nay vấn đề kiểm soát giá thật sự là một chuyện không hay ho gì cho việc quảng bá môi trường kinh doanh của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam vẫn còn bị xem là nền kinh tế phi thị trường, những nỗ lực để các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường chắc chắn bị ảnh hưởng xấu bởi chuyện kiểm soát giá mà tính khả thi, như phân tích ở trên là rất ít.

Thông tư 104 với đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối mà cũng không triển khai được trong thực tế thì dự thảo thay thế với đối tượng mở rộng ra nhiều lần sẽ càng khó thực thi hơn. Tại sao không sử dụng các luật đã có như Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng và quan trọng nhất là quy luật thị trường để kiểm soát giá.

Riêng với các mặt hàng “nhạy cảm” với công luận như sữa, thuốc chữa bệnh thì nên có những nghiên cứu riêng để áp dụng. Điều quan trọng đối với vai trò của các cơ quan nhà nước trong quản lý giá là tính minh bạch, là thông tin rõ ràng trong các khâu phân phối để người tiêu dùng tự mình quyết định. Chính họ là nguồn áp lực lớn nhất buộc nhà sản xuất phải điều chỉnh giá cho phù hợp với cung cầu thị trường. Vai trò đó cũng là tạo một môi trường kinh doanh có cạnh tranh lành mạnh chứ không phải là dùng các biện pháp hành chính, càng làm méo mó thị trường, càng tạo điều kiện cho đầu cơ giá.

March 13, 2010

Có cơ chế mới – luồng vốn vẫn chưa thông

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:10 pm
Tags: , ,
(VOV) – Đã bắt đầu xuất hiện những “nút” thắt mới cần phải tiếp tục điều chỉnh chính sách từ phía Ngân hàng Nhà nước mới có thể khai thông luồng vốn và thực hiện mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát.

Đã hơn chục ngày sau khi Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay với lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn, thị trường vốn vẫn chưa được khai thông như kỳ vọng.

Trước hết phải khẳng định, cơ chế lãi suất thoả thuận áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn là một giải pháp tháo gỡ “nút thắt” cho doanh nghiệp và ngân hàng ở khâu cho vay và vay vốn. Một khi ngân hàng và khách hàng được tự do thỏa thuận lãi suất sẽ tránh được những bóp méo hay “lách luật” theo kiểu thu phí “ngầm” của các ngân hàng hiện nay – một tình trạng mà ngay cả Ngân hàng Nhà nước đã không thể kiểm soát được.

Tuy nhiên, cơ chế mới đã có hơn chục ngày, nhưng thị trường vốn vẫn ì ạch chưa khai thông vì nhiều lý do. Một mặt bằng lãi suất cho vay thỏa thuận mới sẽ được thiết lập đã không diễn ra nhanh như dự báo. Các ngân hàng thương mại vẫn đang trong trạng thái “nhìn nhau” và thận trọng thăm dò để đưa ra mức lãi suất hợp lý không quá cao hay quá thấp so với các ngân hàng khác…

Cũng dễ hiểu bởi trên thực tế, nếu một ngân hàng nào đó đưa ra lãi suất thỏa thuận cao quá, khách hàng có thể chuyển sang giao dịch với ngân hàng khác. Tất nhiên, theo qui luật thị trường sẽ có một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, mà phần thắng sẽ thuộc về ngân hàng nào mời chào lãi suất hợp lý, đi kèm chất lượng dịch vụ tốt trong việc lôi kéo và giữ chân khách hàng.

Tuy nhiên, cái khó của các ngân hàng hiện nay là khi thực hiện cơ chế mới, các ngân hàng không huy động được vốn vì vướng lãi suất trần 10,5%, mức lãi suất được xem là không hấp dẫn người gửi tiền. Nghịch lý đường cong lãi suất một lần nữa lại diễn ra trên thị trường tiền tệ hiện nay khi lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn đều không có sự khác biệt và thường không vượt quá 10,5%/năm.

Theo lẽ thường, kỳ hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao, nhưng hiện nay các kỳ hạn đều có mức lãi suất gần sát nhau với độ chênh lệch không đáng kể nên người gửi tiền không mấy mặn mà đem tiền gửi ở ngân hàng từ 12 tháng đến 36 tháng. Theo tính toán của một số chuyên gia kinh tế, giá trị quà tặng khuyến mãi hay tặng tiền mà một số ngân hàng đang áp dụng chiếm khoảng 30% lãi suất huy động. Vì thế, không ít ngân hàng cho rằng, trần lãi suất đang là “chiếc áo quá chật” đối với tình hình hoạt động của thị trường tín dụng.

Có thể hình dung đơn giản là dù cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng với các khoản vay trung dài hạn, tức là đầu ra đã mở nhưng đầu vào vẫn đóng. Một tâm lý chung là các ngân hàng gần như “án binh” trong tâm lý chờ tín hiệu của thị trường, tín hiệu bỏ trần lãi suất huy động 10,5% và mở rộng cơ chế thỏa thuận đối với cả vay ngắn hạn  từ phía ngân hàng Nhà nước.

Đã có không ít chuyên gia đang cảnh báo thị trường sẽ méo mó nếu cứ duy trì cơ chế lãi suất như hiện nay. Khi lãi suất đầu vào  bị chặn ở trần 10,5%,  các ngân hàng sẽ không huy động được tiền gửi, khi đó tiền sẽ trôi nổi bên ngoài lưu thông gây ra lạm phát, trong khi ngân hàng không có vốn để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Có lẽ bài toán khó nhất lúc này đối với Ngân hàng Nhà nước là nếu dỡ trần lãi suất huy động liệu có xảy ra tình trạng ngân hàng chạy đua đẩy lãi suất lên cao và kịch bản tồi tệ của năm 2008 có thể lặp lại hay không? (khi đó lãi suất cho vay bị đẩy lên cao kỷ lục 22%/năm khiến doanh nghiệp điêu đứng). Hay câu chuyện thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận có thể sẽ khiến cho chi phí sản xuất cho doanh nghiệp vay vốn trung, dài hạn chảy vào những lĩnh vực vốn được coi là nhạy cảm như bất động sản, chứng khoán…?

Tuy nhiên, đứng ở một góc độ khác, không ít chuyên gia lại cho rằng, có những tín hiệu và cơ sở để tin rằng, khi dỡ trần lãi suất, có thể thời gian đầu lãi suất sẽ tăng lên nhưng sau đó theo quy luật cung – cầu, lãi suất sẽ giảm theo tín hiệu thị trường. Cái được lớn nhất là dòng vốn sẽ thông thoáng khi người gửi được trả lãi suất như mong muốn và người đi vay có được vốn./.

March 12, 2010

Lãi suất và rủi ro pháp lý

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:24 pm
Tags: , , ,

Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát.

Với chủ các ngân hàng và doanh nghiệp, đây là quyết định không thể không hợp thức hóa hoạt động thực tiễn lâu nay của họ, giúp khơi thông nguồn vốn đã có dấu hiệu tồn đọng và phát sinh những khoản chi phí khi giao dịch mà không thể đưa vào sổ sách kế toán. Với một số ý kiến chuyên gia nhìn bằng lăng kính pháp lý hiện hành và những doanh nghiệp đang họat động chủ yếu bằng nguồn vốn vay, mà không thể huy động vốn bằng các nguồn khác, thì mức lãi suất mà họ có thể thỏa thuận hiện nay chắc chắn sẽ phạm Luật dân sự vì đã phải chấp thuận mức lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản (8%/năm) mà Ngân hàng Nhà nước công bố.

Giữa những luồng ý  kiến băn khoăn ấy, những thông tin về các vụ giật hụi, chủ nợ cho vay nặng lãi, doanh nghiệp đút lót cả chục tỷ đồng cho quan chức Ngân hàng để nhận được khoăn vay theo lãi suất quy định của pháp luật vẫn rộn ràng khắp nơi.

Ngoài vụ bị bắt quả tang như ở BIDV, dường như các vụ tranh chấp vay nợ theo lãi suất thỏa thuận nặng lãi bên ngoài không có dấu hiệu sẽ được giải quyết bằng thủ tục pháp lý bởi các cơ quan công quyền với lý do con nợ và chủ nợ tự thỏa thuận cách giải quyết với lý do “hành vi thỏa thuận nợ không được chính quyền công nhận, bất hợp pháp ngay từ khi nó phát sinh”.

Hơn nữa, cần tách bạch hợp đồng tín dụng của các pháp nhân là ngân hàng thương mại với những thỏa thuận dân sự giữa các thể nhân là công dân có năng lực pháp lý và khả năng chịu trách nhiệm pháp luật về hành vi trong cuộc sống hàng ngày. Có như vậy, việc lãi suất ngân hàng vượt ngưỡng 150% lãi suất cơ bản có được coi là hoạt động vi phạm pháp pháp luật hay không hay cơ chế nào để giải quyết những vụ trốn nợ, giật hụi đang xảy ra ngày càng phổ biến.

Ảnh: chaongaymoi.com

Hoạt động ngân hàng là hợp đồng kinh tế, dược đỉều chỉnh bằng các văn bản pháp lý Luật kinh tế, được phán xử tại Tòa kinh tế. Hoặc hành vi bằng các thủ đọan không trung thực để lừa gạt, dụ dỗ, cưỡng bức để bắt một người phải nhận nợ với lãi suất cao; hoặc một người đưa ra cam kết trả lãi suất cao mà không có bằng chứng cho thấy họ có năng lực và khả năng nâng cao giá trị khỏan vay để lấy tiền của người cho vay, là những dấu hiệu vi phạm đạo đức và pháp luật ngay khi bắt đầu thực hiện hành vi bởi động cơ không trung thực. Hành vi đó không thuộc hình thức hợp đồng kinh tế mà phải được coi là dấu hiệu của tội lừa đảo và phải được điều chỉnh bởi luật Dân sự, Luật hình sự.

Ngân hàng như một Nhà máy mà “đầu vào” cũng như  “đầu ra” đều là giá trị tiền. Hoạt động ngân hàng không đơn thuần là nhận tiền gửi rồi lại mang số lượng tiền ấy cho vay để nghiễm nhiên hưởng chênh lệch lãi suất.

Thực tế, có hẳn một Học viện Ngân hàng, nhiều thạc sỹ và tiến sỹ về họat đông ngân hàng trong và ngòai nước đang làm việc trong các tổ chức tín dụng này. Vậy thì, giữa đồng tiền “vào” và đồng tiền “ra” qua cửa ngân hàng chắc hẳn nó phải được xử lý, nó phải được phân tích để ra kết quả về mức lãi suất “vào” và khả năng rủi ro khi cho nó “ra”. Nhân lực ngân hàng phải xử lý các đầu đề bài toán đó và cho ra kết quả tối ưu bảo đảm lãi suất đủ thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội và dòng tiền ra phát huy hiệu quả cho chủ đầu tư và có tỷ suất cao quay trở lại khi đến hạn. Một hoạt động có kết tinh chất xám như thế trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt với các đối thủ không chỉ trong nước mà trong tương lai gần cả với các ngân hàng nước ngoài thì không thể quan niệm và kết luận rằng hoạt động ấy đơn thuần chỉ mang tính cơ học.

Đặc biệt, việc đánh giá rủi ro khi quyết định cho vay của Ngân hàng thực sự là một khoa học đòi hỏi các nhân viên có đạo đức nghề nghiệm vững, trình độ học vấn cao, kinh nghiệm thực tiễn phong phú…

Mọi đánh giá sai đều dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho nguồn vốn của chủ ngân hàng và đánh đổi bằng hiệu quả của rất nhiều dự án khác mới bù đắp được. “Mười đấm có lãi không bằng một cú đạp nợ khó đòi” – đó là câu dằn lòng của các cán bộ tín dụng.

Ngân hàng không thể  tự ý áp đặt lãi suất cả đầu ra lẫn đầu vào vì còn các đối thủ cùng ngành trong và ngoài nước cạnh tranh. Người vay cũng không buộc phải chấp thuận bất cứ lãi suất nào nếu như chi phí vốn không bù đắp được sự sụt giảm doanh thu và không có lãi, họ còn có quyền chọn ngân hàng để vay và cả cơ chế thỏa thuận trực tiếp bằng uy tín thương hiệu và độ tín nhiệm với ngân hàng.

Khi hoạt động của nền kinh tế phải chịu mức chi phí vốn đầu vào cao hơn mặt bằng trước đó thì cũng là động lực buộc các chủ đầu tư và doanh nghiệp vay vốn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay bằng áp dụng công nghệ tiên tiến, bằng cải tiến quản lý nâng cao năng suất và bằng các biện pháp tổng hợp khác để tồn tại và phát triển.

Ngược lại, hoạt động cho vay nặng lãi hầu như là các hoạt động giữa các cá nhân, không được pháp luật công nhận và  bảo vệ khi có tranh chấp. Dó đó, cả hai phía: bên cho vay và bên nhận nợ đều vi phạm Luật dân sự và Luật hình sự ngay từ khi phát sinh giao dịch. Và hầu như, các thể nhân tham gia giao dịch trong hoạt động này không đủ kiến thức đánh giá, nghiên cứu nhu cầu và khả năng hòan trả vốn trong các giao dịch này – ít nhất là từ phía người nhận nợ.

Vì thế, nên coi hoạt động ngân hàng là việc thực hiện các hợp đồng kinh tế và được điều chỉnh bằng các văn bản pháp quy về Kinh tế. Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước không phải chỉ đóng vai trò là khống chế trần lãi vay như quan niệm phổ biến mà còn đóng vai trò trong việc bày tỏ thái độ của Nhà nước về cung tiền, xu hướng điều chỉnh chính sách vĩ mô, quy định lãi suất của các nghiệp vụ tài chính khác: lãi suất tái cấp vốn, vay qua đêm, trái phiếu…

Đừng vì cách hiểu cứng nhắc và không đầy đủ về lãi suẩt cơ bản để làm ách tắc luồng lưu chuyển của tiền tệ trong nền kinh tế. Cơ thể của nền kinh tế sẽ yếu và đột tử nếu như dòng huyết mạch của nó là luồng tiền bị nghẽn mạch.

Next Page »

Blog at WordPress.com.