Ktetaichinh’s Blog

May 16, 2009

051609

Filed under: kinh tế,thông tin — ktetaichinh @ 8:08 pm
Tags: ,

Dư nợ tín dụng tăng mạnh: Mừng hay lo?- 051109
Tình hình kinh tế 2009: Thu ít, chi nhiều, GDP khó dự đoán- Phap Luat- 051309

Phong van GS Krugman- Nguyen Van Phu- 051309


Advertisements

April 4, 2009

Ứng xử biển Đông: Nghiên cứu kỹ lưỡng, cân nhắc lợi ích 032809

Filed under: chính sách,chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 12:22 am
Tags: , ,
Thời điểm đăng kí đường ranh giới ngoài của thềm lục đang tới gần. Việc điều chỉnh của Việt Nam là cần, nhưng phải trên cơ sở nghiên cứu kĩ lưỡng, để điều chỉnh có hiệu lực cao hơn, các nước tôn trọng nhiều hơn, dựa trên lợi ích chính đáng của Việt Nam, không chạy đua theo thời gian. – Nguyên Trưởng ban biên giới Chính phủ Trần Công Trục nói.

Tiến sĩ Trần Công Trục đã có thời gian dài là Trưởng ban Biên giới của Chính phủ. Ông từng tham gia nhiều phiên đàm phán giữa Việt Nam – Trung Quốc về phân định biên giới trên đất liền và trên biển. Ông cũng tham gia biên dịch sang tiếng Việt bản Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.

Đụng độ Trung – Mỹ: Việt Nam cần xem xét cẩn trọng

Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Trần Công Trục. Ảnh: Cao Nhật.

Gần đây, vấn đề Biển Đông thu hút sự quan tâm của dư luận trong nước và quốc tế, nhất là với căng thẳng Mỹ – Trung do sự xuất hiện của tàu Impeccable ở khu vực Trung Quốc tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình và Tổng thống Philippines thông qua dự luật về đường cơ sở mới. Bình luận của ông về những diễn tiến gần đây?

Biển Đông vốn là vấn đề phức tạp với tranh chấp chủ quyền trên các đảo, quần đảo, tranh chấp vùng biển và nhiều vùng chồng lấn, liên quan tới nhiều nước.

Bây giờ, cùng với nhu cầu khai thác lợi ích kinh tế như dầu khí, tài nguyên và đường hàng hải.., biển Đông càng thu hút được sự quan tâm cũng là dễ hiểu.

Về sự kiện tàu Impeccable, đây không phải là căng thẳng đầu tiên giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ở vùng biển này. Việt Nam cần xem xét cẩn thận Luật Biển quốc tế, căn cứ vào vụ việc cụ thể để có tiếng nói.

Không tạo tiền lệ xấu

– Vậy theo ông, Việt Nam nên ứng xử như thế nào trước vụ việc này?

Theo Công ước Luật biển thì tàu thuyền nước ngoài có quyền tự do hàng hải, nghĩa là tàu thuyền các nước được phép tự do hoạt động nhưng trên cơ sở tôn trọng quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển. Điều đó có nghĩa là không được gây tổn hại đến các hoạt động kinh tế của quốc gia ven biển.

Việt Nam cũng từng nhiều lần thực hiện quyền tài phán của mình ở vùng đặc quyền kinh tế.

Ví dụ, Công ty Cable and Wireless Hồng Kông có nhu cầu đặt ống cáp ngầm qua vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ cho rằng họ được quyền thực hiện quyền này mà không cần phải xin phép và chịu sự giám sát của Việt Nam.

Quan điểm của Việt Nam cho rằng công ty này có quyền lắp đường ống cáp ngầm nhưng việc đặt hệ thống cáp ngầm qua vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đang có nhiều hoạt động thăm dò khai thác có thể gây tổn hại đến các hoạt động đó, vì thế họ phải xin phép Chính phủ Việt Nam theo đúng thủ tục và phải chịu sự giám sát của phía Việt Nam.

Sau đàm phán, công ty của Hồng Kông đã chấp nhận vô điều kiện. Không những thế, họ còn có nghĩa vụ ưu tiên cho VN trong việc tham gia khai thác hệ thống cáp ngầm này.

Các tuyến hàng hải quan trọng đều đi qua biển Đông. Ảnh: uscc.gov

Nói cách khác, quyền tài phán và quyền thuộc chủ quyền ở vùng đặc quyền kinh tế là những quyền cần được tôn trọng và được bảo vệ hoàn toàn, đầy đủ. Và quyền tự do hàng hải của tàu thuyền nước ngoài ở khu vực này hoàn toàn khác với ở khu vực biển cả (high sea).

Quay trở lại với việc tàu Impeccable của Mỹ, theo các nguồn tin chính thức từ phía Hoa Kỳ thì đây là tàu nghiên cứu biển của hải quân Koa Kỳ, đang làm nhiệm vụ nghiên cứu biển để phục vụ cho hải quân. Tàu này xuất hiện trong khu vực biển cách bờ biển ven bờ lục địa Việt Nam và các bờ biển đảo Hải Nam – Trung Quốc dưới 200 hải lý. Như vậy, tàu Impeccable của hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành thăm dò nghiên cứu biển phục vụ cho mục đích quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc.

Theo Công ước Luật Biển LHQ, đây là hành vi sai trái, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển có liên quan ở vùng đặc quyền kinh tế.

Tại Mục 3, Điều 246 Công ước Luật biển 1982 đã quy đinh rất rõ nội dung này:  “Trong việc thi hành quyền tài phán của mình, các quốc gia ven biển có quyền qui định cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa của mình theo đúng các qui định tương ứng của Công ước.” Và, “trong những trường hợp bình thường, các quốc gia ven biển thoả thuận cho thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học biển mà các quốc gia khác hay các tổ chức quốc tế có thẩm quyền dự định tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế hay trên thềm lục địa của mình theo đúng Công ước nhằm vào mục đích hoàn toàn hòa bình và để tăng thêm kiến thức khoa học về môi trường biển, vì lợi ích của toàn thể loài người…”.

– Nhưng có một số ý kiến cho rằng, Việt Nam không có lợi gì trong việc ủng hộ quan điểm của Trung Quốc mà ủng hộ tiền lệ quốc tế về hoạt động của tàu quân sự và tàu phục vụ mục đích quân sự ở vùng đặc quyền? (Xem thêm bài: Vùng đặc quyền kinh tế hay vùng đặc quyền quân sự?)

Hoa Kỳ vẫn thường khẳng định quyền đi lại tự do trên biển, thực chất là muốn mở rộng phạm vi triển khai lực lượng quân sự của mình trên khắp các châu lục trên bộ lẫn trên biển mà không cần tuân thủ bất kỳ một luật lệ nào, dù đó là Luật Biển của LHQ.

Nhiều cuộc họp bàn về Luật Biển đã diễn ra ở Mỹ, Mỹ cũng đã kí Công ước Luật Biển 1982 nhưng chưa phê chuẩn là cách để Mỹ để ngỏ quyền hoạt động của mình trên các vùng biển.

Tuyên bố chủ quyền của các bên liên quan trong tranh chấp biển Đông.

Với vai trò siêu cường và sức mạnh Mỹ, Mỹ có thể cho mình cái thế để gây sức ép lên các nước nhỏ. Các quốc gia, nhất là nước nhỏ đang phát triển, ngược lại muốn chống lại quyền hoạt động hải quân của các cường quốc hải quân.

– Nhưng vấn đề ở chỗ, các ý kiến ủng hộ thông lệ hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế vì lo ngại rằng, với tham vọng về đường lưỡi bò trên biển Đông, một ngày nào đó, Trung Quốc cũng sẽ biến vùng đặc quyền kinh tế thành đặc quyền quân sự của mình. Và điều đó chỉ bất lợi cho Việt Nam?

Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đang đàm phán để phân định ranh giới khu vực đặc quyền kinh tế chồng lấn có liên quan.

Trong vụ tàu Impeccable, Trung Quốc đã phải đứng ở thế của người tự vệ khi xem xét vùng đặc quyền kinh tế trong vụ việc có liên quan tới cường quốc có quan hệ nhạy cảm.

Việt Nam có thể ghi nhớ và sử dụng những luận điểm tranh luận của Trung Quốc khi tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế. Nếu một cuộc đụng độ tương tự xảy ra trong tương lai giữa Trung Quốc và Việt Nam, Việt Nam có thể trích dẫn những lời của Trung Quốc cho chính Trung Quốc. – Gs. Brantly Womack.

Vì thế, khu vực này không phải đã là khu vực biển hoàn toàn thuộc về Trung Quốc. Việc Trung Quốc đơn phương thực hiện quyền của mình với tư cách là nước hoàn toàn có quyền chủ quyền và quyền tài phán ở vùng biển này là không tôn trọng các quyền và lợi ích của Việt Nam, vi phạm các cam kết của hai bên khi đang tiến hành đàm phán phân định ranh giới biển. Việt Nam cần có ý kiến phản đối hành vi sai trái này của Trung Quốc theo đúng các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Ngoài ra, tàu quân sự và phục vụ mục đích quân sự ở vùng này không chỉ là tàu của Mỹ, vì không phải một mình Mỹ là cường quốc quân sự. Hiện nay, Trung Quốc cũng đầu tư rất nhiều cho việc nâng cấp lực lượng quân sự của mình.

Nếu các quốc gia ven biển làm ngơ, sẽ tạo tiền lệ xấu, các cường quốc hải quân có thể lợi dụng để hoạt động bất cứ khi nào, ở đâu nếu muốn.

Các nước ven biển nên thực hiện quyền tài phán của mình trên vùng đặc quyền kinh tế, chính là nhằm đảm bảo tôn trọng nội dung Công ước 1982, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, bảo vệ thành quả đấu tranh không mệt mỏi và kiên trì trong suốt gần một thế kỷ để có được một bộ luật về biển đồ sộ và công bằng cho mọi quốc gia, dân tộc có biển và không có biển.

Điều chỉnh đường cơ sở mới: Cân nhắc trên lợi ích

– Ông nghĩ sao về việc Philippines đưa ra đạo luật về đường cơ sở của mình?

Việc pháp điển hóa lợi ích và quyền của các nước trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia là rất cần thiết và chính đáng. Việt Nam cũng cần phải làm như vậy.

Tuy nhiên, đối với các qui định có ảnh hưởng đến chủ quyền và lợi ích của mình thì nhất thiết phải có ý kiến bảo lưu, nếu không thì coi như đã mặc nhiên thừa nhận, bất lợi về pháp lý, nhất là ở các khu vực có tranh chấp.

Về nguyên tắc, nếu Việt Nam không có tuyên bố chính thức, đồng nghĩa với việc Việt Nam mặc nhiên thừa nhận quyền của nước khác.

Tuy nhiên, việc phản ứng như thế nào của Việt Nam phải trên cơ sở nghiên cứu, phân tích khách quan, cả về nội dung, hình thức và thời điểm đưa ra ý kiến đó sao cho có lợi nhất, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế…

– Thời điểm hạn chót cho việc các nước đăng kí đường ranh giới ngoài của thềm lục địa ngày 13/5/2009 đang đến gần. Theo ông, Việt Nam cần làm gì?

Theo tôi biết, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam đang xem xét, nhưng để có sự thay đổi, điều chỉnh nào thì không dễ. Bởi thay đổi phải để có hiệu lực cao hơn, các nước tôn trọng nhiều hơn, dựa trên lợi ích chính đáng của Việt Nam. Đó phải là sản phẩm của sự nghiên cứu kĩ lưỡng.

Việt Nam không nhất định chạy đua với thời gian. Việt Nam phải đặt lợi ích, vị trí của mình trong khu vực và quốc tế để cân nhắc đã nên điều chỉnh hay chưa vào lúc này.

Giữ vững vùng  biên cương của Tổ quốc.
Ảnh: Blog Hồ Trung Nghĩa.

Theo tôi được biết còn có nhiều nước chưa thay đổi đường cơ sở dù vô lý. Mình thay đổi là cần, nhưng theo tôi, Việt Nam nên cân nhắc kỹ tất cả các yếu tố có liên quan, nhất là thời điểm.

Thiếu chỉ đạo thống nhất, nghiên cứu có thể sai lệch

Nghiên cứu biển đảo của Việt Nam vẫn đang còn là vấn đề lớn?

Việc nghiên cứu thiếu bài bản và vẫn còn khiếm khuyết. Gần đây, chúng ta đã khuấy động lên nhưng còn ở mức tập hợp lực lượng trong và ngoài nước nghiên cứu hơn là có một đề án cụ thể. Các nghiên cứu phần nhiều là tự phát, dù có nhiều người tâm huyết.

Ngay cả tư duy, bản lĩnh của người nghiên cứu cũng chưa chín, phần nhiều còn cảm tính và theo xu hướng chính trị chứ chưa dựa trên kiến thức vững vàng, khoa học và khách quan.

Hơn nữa, thiếu chỉ đạo, nghiên cứu có thể sai lệch đi.

– Theo ông, Việt Nam phải gỡ từ đâu?

Từ nhận thức của các cơ quan quản lý cấp cao, phải có quyết tâm tạo chuyển biến trong nhận thức và chỉ đạo thống nhất. Người lãnh đạo giỏi cần có cố vấn tin cậy, tâm huyết. Công tác thông tin, truyền thông phải đẩy mạnh với nhiều kênh thông tin.

Hiện nay, công tác biển đảo tập trung vào một đầu mối là Cục Quản lý Biển của Bộ Tài nguyên – Môi trường và Biển, liệu có làm nổi một chương trình mang tính tổng hợp?

Việt Nam cần có người có tầm chiến lược vĩ mô trong hình huống nhạy cảm, đặt vấn đề đúng tầm nhu cầu, có tiếng nói thống nhất, xử lý nhanh, nhạy. Muốn vậy phải có nghiên cứu tốt, sâu. Luật pháp không thể hiểu lơ mơ.

April 3, 2009

The Spy Who Loved UsThe Spy Who Loved Us: The Vietnam War and Pham Xuan An’s Dangerous Game

Filed under: thông tin — ktetaichinh @ 11:32 pm
Tags: ,

by Thomas A. Bass
PublicAffairs, 320 pp.

F or most of us who did time in Saigon covering the Vietnam War, a favorite spot was the old French colonial Continental Palace Hotel. It had history, character, and a strategic location in the heart of the city—it faced the old opera house, flanked the famous rue Catinat of French colonial days, and sat catty-cornered from the government press filing center.

The gracefully aging three-story building, with its potted palms, high ceilings, and slow revolving fans, had the decadent feel of a Somerset Maugham novel. It was, after all, where Graham Greene had come in the 1950s to research—and set—The Quiet American, his classic novel of American political naïveté about the Third World. There was a great inner patio at the Continental Palace for al fresco dining after the nightly curfew rang down. And, more importantly, it housed Saigon’s best bar, known to the cognoscenti as “The Shelf” for its openness to the streets outside. It was here that every manner of spooks, hacks, diplomats, and Hawaiian-shirted off-duty military types gathered daily to swap tall tales, recent rumors, and political gossip. They did all this while gazing out over chilled beers at the ever-fascinating theater of the absurd along Tu Do Street, which was what the old rue Catinat had been renamed after the departure of the French.

The Continental Palace and its immediate environs comprised a major center of news gathering. Not only did such sages of the war as the New Yorker’s Robert Shaplen and the Chicago Daily News’s Keyes Beech make the hotel their base in Saigon, but Newsweek and Time had their bustling bureaus on its second floor. Most visiting media stars either camped out there on their way to visit with the generals and ambassadors or used the Shelf as their unofficial office and briefing center to double-check what they heard on their official rounds. It was on the Shelf at the end of a hard day at the front that one repaired for unofficial assignations to exchange information gleaned, sniff the air for newly planned political and military initiatives, or get hints of intended plots and coups.

But the real reason the Continental Palace was such an important center of news was that it was there—at the Time office, or just across the street in the Café Givral—that one found a slight, gaunt, and unassuming U.S.-educated Vietnamese journalist named Pham Xuan An. Covering the war first as a freelancer for publications such as the Christian Science Monitor, then for the Reuters news agency, and finally, in the last ten years of the war, for Time, An was a legend among those seeking to understand Vietnam and its wars. Journalists, diplomats, and even the CIA agents who came to know and trust him considered An the single best-informed journalist in the country.

An briefed everyone—fellow journalists, diplomats, and intelligence agents of all manner and nationalities. He was everyone’s interpreter of all things Vietnamese: its history, its culture, its belief systems, and its personalities, both past and current. He was a shrewd analyst of Vietnamese politics and wartime strategies. He was also very good company, a man of wit and charm.

By virtue of his position of trust and knowledge as well as his standing as a member of the U.S. press corps, An was also privy to everyone else’s briefings, official and unofficial. Those who went to him for information also imparted their own. And what he didn’t glean in conversations with the journalists, diplomats, and officials who came to sit at his table at Givral’s, he got from attending official and often off-the-record briefings by South Vietnamese and U.S. officials as a staff member of Time or by reading the voluminous reports his fellow Time correspondents filed to their home office weekly.

All this access may have made An the most successful spy in history. When in 1973 the U.S. finally threw in the towel in Vietnam and fled Saigon by helicopter, An took over the Time bureau and filed several major stories about the Communist takeover of the country. Then, in 1976, he was identified as having been Hanoi’s master spy in the south during the decades-old war and officially honored as a Hero of the People’s Armed Forces, the newly united Vietnam’s highest military honor. By the time of his death in 2006, An had been promoted to general.

In the ten years of what Hanoi calls the “American War,” An filed 498 intelligence reports for Hanoi according to Vietnamese reports since the war’s end. Sent out of Saigon clandestinely to the Viet Cong’s Cu Chi tunnels complex, the reports were relayed on to Hanoi, where they were personally read by President Ho Chi Minh and General Vo Nguyen Giap. (Their strategic analysis was so well documented that President Ho is said to have once remarked, upon reading an An report, “We are now in the U.S. war room!”)

Much of the story of An’s life and times (and his duplicity) as related by Thomas Bass in his latest book, The Spy Who Loved Us, is not new. This is the second An biography written by an American in the past two years (the other being Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, by Larry Berman). Beyond the stories An told Bass during a series of interviews before his death, there is much material gleaned from two officially sanctioned biographies published in Vietnam in recent years, and the serialization of An’s life in several Vietnamese newspapers. What is new, however, is Bass’s thesis that An was not just a benign secret agent writing informed intelligence reports for the Vietnamese Communist leadership in Hanoi, but also an important military strategist and tactician who, while working in a position of trust and friendship with the Americans in Saigon, provided the Viet Cong and North Vietnamese military with targeting and fighting guidance.

Bass depicts An as a classic Vietnamese nationalist opposed to the long list of foreigners whom Vietnam has had to fight for its independence over the millennia. An came of age at World War II’s end, just as the French replaced the Japanese as Vietnam’s occupiers. Like so many ardent nationalists, he joined the Communist Party in the early 1950s because it was the only party able and organized to fight the French.

His early training was as a platoon commander in the Mekong Delta. But his superiors quickly realized that his wit and intellect would better help the cause if he worked as a secret agent in Saigon rather than as just another guerilla in the bush. His career as a spy began as a lowly post office censor during the time when Graham Greene was filing his reports on the French war. By the time the French were defeated at Diem Bien Phu in 1954, An had been drafted into the South Vietnamese army and, through the good offices of an influential cousin, sent to work at the South Vietnamese military headquarters. Bass makes much of how it was at that job that An had his first important contacts with the Americans whom he would come to both admire and betray. With the French defeat, and the arrival in Saigon of the legendary Col. Edward Landsdale and his CIA sidekick Lucien “Black Luigi” Conein, the United States made its first intelligence forays into Vietnamese politics. An became the Americans’ local guide and protégé.

Ironically, it was through Landsdale and Conein that An, the future master spy, began to learn the craft of spying and counterinsurgency that would eventually help lead to the U.S. failures in Vietnam. The two Americans taught him basic tradecraft and, more importantly, introduced him to the writings of Sherman Kent, the Yale professor and World War II intelligence guru who helped found the CIA, as well as other theorists of guerilla warfare.

But it was the foresight of Communist Party handlers that sealed An’s formation and future cover as a spy. After the French were defeated, it became clear to Hanoi that they would also have to fight the Americans for their independence. The party scraped together some money, and sent An to the United States to study their new emerging enemy.

An enrolled in Orange Coast College in Costa Mesa, California, in 1957. As Bass relates, “An studied political science, American government, economics, sociology, psychology, Spanish and journalism.” He also wrote for the college newspaper, Barnacle, and graduated in the spring of 1959 with an associate degree in journalism. He then spent two months working as an intern on the Sacramento Bee, bought a car, and drove across the United States to New York City for a second internship at the United Nations. Then, in October, trained as a journalist and knowledgeable about the United States, its people, and its ways, he flew back to Vietnam, ready for work.

The rest, one might say, is history. He worked his way to a distinguished staff position at Time in the usual way of war correspondency: by beginning to establish a reputation freelancing for newspapers like the Christian Science Monitor that couldn’t yet afford a full staff of reporters in Vietnam, then working for the wires—United Press International, and then
Reuters. He joined Time in 1964, just as the United States was sending its first troops into battle against the Communist forces of the north.

Most of An’s former colleagues in the U.S. press corps have defended him in the years since the war ended, insisting that he never let his spying get in the way of practicing honest journalism, and that he always remained an admirer of the United States. But Bass alleges that An had a more direct, hands-on role in the war—a role that made him directly responsible for the deaths of U.S. soldiers. Bass maintains that An’s reports weren’t only for distant eyes in Hanoi, but frequently informed battlefield commanders on how to fight their American foes on the ground in South Vietnam. Bass says that this was the case, for example, in 1963, in the battle of Ap Bac, south of Saigon, where for the first time a major Viet Cong unit stood and fought a U.S.-advised South Vietnamese unit; the Viet Cong was able to down U.S.-supplied helicopters, using tactics recommended by An. And, more importantly, Bass writes in detail about how An drove a senior North Vietnamese intelligence official around Saigon on the eve of the 1968 Tet Offensive, personally selecting targets (such as the U.S. embassy) for attack.

This is a fascinating spy story about a fascinating and engaging man—but it is also much, much more. For An’s story reveals a great deal about how and why the Vietnamese Communists ended up defeating the better-armed U.S. force. It speaks to how little American officials, military and otherwise, really knew and understood, not only their opponents in the field, but also the agents planted among them. Most devastatingly, the U.S. failed to understand how shrewd and methodical a foe the Vietnamese were, to have trained and planted such an amazing spy in their midst, well before the United States had even committed itself to war in their land

Updates: the spy who loved us

March 30, 2009

ORC Worldwide announces list of the weakest working environment 032209

VNBusinessNews – US Business Week magazine has declared the list of cities with the weakest working environment in the world. In which, Vietnam’s HCM City and Hanoi stood at 9 and 11th position among 55 cities.

The list was made by ORC Worldwide (ORC), a leading international HR consulting and management firm headquartered in New York.

Notably, all 55 cities are outside US, Canada and Western Europe, which belong to Africa region, India, China, south-eastern Asia region, Middle East and Central Europe.

The ranking list bases on environmental pollution, disease risk, political violence, comfort on goods and services, the classification of high risks that the labour have to suffer.

The list does not regard on the isolate sites where wars usually brake out, such as Iraq’s Baghdad, Zimbabwe’s Harare or North Korea.

Leading the list of cities with the weakest working environment is Nigeria’s Lagos capital due to the weak infrastructure and rising criminal.

HCM City and Hanoi are assessed to be the highly potential risky. Problems that foreign workers living here have to suffer are disease risks and hygiene, climate, environmental pollution and criminal, according to ORC Worldwide.

Indonesia’s Jakarta also was in top 20 of the ranking list, followed by China’s five cities, India’s four cities of Mumbai, New Delhi, Chennai and Bangalore

March 28, 2009

Hợp tác kinh tế APEC: Doanh nghiệp đứng vị trí trung tâm

Filed under: thông tin — ktetaichinh @ 2:46 am
Tags: ,

Ngày 17-11, Hội nghị thượng đỉnh các tổng giám đốc doanh nghiệp APEC (CEO Summit) đã khai mạc. Đây được xem là cuộc họp mặt lớn nhất của cộng đồng doanh nghiệp trong vùng năm nay.

>> Chia sẻ kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài
>> Khai mạc Hội nghị các tổng giám đốc Doanh nghiệp APEC
>> Ghi nhanh từ VTV1
>> Hội nghị Tổng giám đốc doanh nghiệp APEC: Sẽ đạt đẳng cấp cao
>> Phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Hội nghị cấp cao CEO APEC 2006

Lãnh đạo nhiều nền kinh tế và trên 1.200 doanh nhân hàng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã tham dự hội nghị nhằm phát hiện những thách thức, từ đó đưa ra các giải pháp cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cho rằng nhân tố tạo nên sự năng động, vượt qua khủng hoảng ở châu Á – Thái Bình Dương những năm qua là “sự hợp tác ngày càng gia tăng trong khuôn khổ APEC về thương mại, đầu tư, kinh tế kỹ thuật… mà các nhà doanh nghiệp đứng ở vị trí trung tâm”. Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cho rằng APEC Hà Nội sẽ phát đi những thông điệp mạnh mẽ, không chỉ của các nhà lãnh đạo mà cả giới doanh nghiệp, về nỗ lực thúc đẩy tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại.

Hình ảnh VN đã được các diễn giả thường xuyên đề cập cùng với lời chúc mừng sau sự kiện VN gia nhập WTO. Ông Craig Mundie, trưởng nghiên cứu và chiến lược của Microsoft, cho rằng đây là “một năm lịch sử của VN”. Theo ông, Chính phủ VN nhận thức rõ những thách thức trong thời kỳ hậu WTO và đang có những chính sách, bước đi phù hợp. “VN được thừa nhận trên toàn thế giới như một điểm sáng về kinh tế với nhiều cơ hội đầy hứa hẹn, nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết” – chủ tịch kiêm tổng giám đốc điều hành Ngân hàng HSBC Michael Smith nhìn nhận.

Thách thức và cơ hội cho nền kinh tế

Với kinh nghiệm của một cựu tổng giám đốc WTO và hiện nay là tổng thư ký UNCTAD, ông Supachai Panitchpakdi đã đưa ra những điểm rất lạc quan về nền kinh tế khu vực: đà tăng trưởng mạnh mẽ, tỉ lệ lạm phát được đẩy lùi, dòng đầu tư chảy vào khu vực ào ạt. Ông Nick Reilly, phó chủ tịch Tập đoàn General Motors, trích dự báo của các nhà kinh tế cho rằng tăng trưởng GDP toàn cầu sẽ đạt trung bình 2,2% trong 10 năm tới, góp phần giảm bớt tỉ lệ đói nghèo, tăng niềm tin của nhà sản xuất và người tiêu dùng.

Tuy nhiên các diễn giả cũng đã nhấn mạnh đến thách đố lớn mà thế giới và khu vực đang đối mặt: sự bế tắc của vòng đàm phán Doha. Ông Supachai cho rằng các nhà lãnh đạo cần tăng cường “nỗ lực ngoại giao thầm lặng”, nhất là tại dịp hội nghị APEC, và từng bước tháo gỡ bất đồng để đưa vòng đàm phán này đến đích. Một thách thức lớn nữa là tỉ lệ người nghèo vẫn còn cao (với 700 triệu người sống dưới 2 USD/ngày ở châu Á) trong khi tăng trưởng chưa thật sự tạo ra nhiều cơ hội việc làm.

Bên cạnh đó thế giới vẫn tiếp tục đối mặt những rủi ro như bất ổn chính trị, an ninh năng lượng, thiên tai, dịch bệnh, chính sách bảo hộ của châu Âu và Mỹ, mất cân bằng trong cán cân thanh toán…, điều này tạo một áp lực không nhỏ cho vùng châu Á – Thái Bình Dương. Theo ông Thomas J.Donohue – chủ tịch kiêm tổng giám đốc Phòng Thương mại Mỹ, đứng trước những thách thức này, khu vực không nên quên đi sự tiến bộ đã đạt được, từ đó rút tỉa những bài học để vượt qua. Ông cho rằng VN là một ví dụ điển hình về nỗ lực mở cửa thị trường, chống tham nhũng và tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn, ổn định.

Để thu hẹp khoảng cách tăng trưởng ở châu Á – Thái Bình Dương, các diễn giả đưa ra các biện pháp: phổ biến rộng rãi công nghệ số, kích cầu, đa dạng hóa nguồn năng lượng, chú trọng giải quyết nguồn nước sạch… Với bài diễn văn tại hội nghị, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã chia sẻ kinh nghiệm quản lý của nước này trong việc thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giảm sự mất cân đối giữa các lĩnh vực kinh tế, xây dựng một xã hội hài hòa và tăng trưởng bền vững. Để làm được những điều này, “Trung Quốc theo đuổi cách nhìn khoa học về phát triển, đặt con người lên ưu tiên…, từ bỏ quan niệm cũ kỹ, áp dụng hình mẫu phát triển mới” – ông phát biểu.

Chiến lược thu hút đầu tư

Có mặt tại hội nghị, Thủ tướng Thái Lan Surayud Chulanont nỗ lực làm sáng tỏ về tình hình chính trị và kinh tế của nước này trong mắt nhà đầu tư nước ngoài sau những bất ổn vừa qua. Ông cho biết Chính phủ Thái Lan đặt ra các ưu tiên để thực hiện trong vòng một năm tới: thúc đẩy cải cách chính trị, tăng cường đoàn kết quốc gia, thu hẹp khoảng cách về thu nhập và củng cố pháp quyền nhằm hạn chế tham nhũng. Để cải thiện tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, Thái Lan sẽ tăng cường tính minh bạch hóa, phát triển cơ sở hạ tầng với những dự án khổng lồ, tìm nguồn tài chính từ lĩnh vực tư, cải thiện giáo dục nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào toàn cầu hóa…

Với tư cách là nhà lãnh đạo của một trong những nền kinh tế năng động và hiệu quả nhất châu Á, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã trình bày những chiến lược mà nước này áp dụng để thu hút đầu tư. Thứ nhất, Singapore mở cửa thị trường mạnh mẽ, tạo thuận lợi cho sự chu chuyển của vốn, hàng hóa, dịch vụ, từ đó qui tụ được nhiều tập đoàn đa quốc gia đến làm ăn. Thứ hai, Singapore theo đuổi một chính sách tiền tệ hợp lý, áp dụng lãi suất thấp, tạo ra một môi trường kinh tế có thể tiên đoán được. Ông cũng nhấn mạnh việc không nên bóp méo thị trường, định giá đúng cho hàng hóa, tự do hóa thị trường nhà đất, đưa ra những điều luật dễ hiểu. Chiến lược thứ ba của nước này là xây dựng một nguồn lực cho tương lai thông qua giáo dục, trong sạch hóa bộ máy điều hành, nâng cao kỹ năng lao động của người dân để có việc làm khi môi trường thay đổi.

Một số góp ý khác của các diễn giả cho rằng tập trung vào nhu cầu kích thích tiêu thụ nội địa không nên trông cậy quá mức vào những nguồn lực bên ngoài. Chủ tịch HSBC Michael Smith đã nhắc đến “hội chứng bầy đàn” của các tổ chức và tập đoàn đầu tư tài chính với xu hướng ồ ạt đầu tư hoặc rút ra hàng tỉ USD khỏi một nền kinh tế gây bất ổn dây chuyền. Châu Á đã trải qua kinh nghiệm này với cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, do đó giới lãnh đạo cần hợp tác chặt chẽ với các định chế tài chính nhằm tránh điều tương tự xảy ra trong tương lai.

SƠN NGUYỄN

Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc Doanh nghiệp APEC:

Chia sẻ kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc Doanh nghiệp APEC – Ảnh T.T.D

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những chủ đề nổi bật đã được các đại biểu tham dự Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc Doanh nghiệp APEC (APEC CEO Summit 2006) thảo luận trong buổi chiều ngày 17-11.

>> Khai mạc Hội nghị các tổng giám đốc Doanh nghiệp APEC
>> Ghi nhanh từ VTV1
>> Hội nghị Tổng giám đốc doanh nghiệp APEC: Sẽ đạt đẳng cấp cao
>> Phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Hội nghị cấp cao CEO APEC 2006

Trong bài phát biểu quan trọng với chủ đề “Thu hút thành công đầu tư trực tiếp nước ngoài”, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nhấn mạnh: các nước cần phải đưa ra những quyết định mang tính chiến lược để có thể tham gia tích cực hơn vào quá trình toàn cầu hóa, phải có các chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô để duy trì lòng tin của giới đầu tư, đồng thời phải nỗ lực xây dựng năng lực phát triển trong tương lai.

Theo Thủ tướng Singapore, việc thu hút FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. FDI giúp các quốc gia tăng năng suất lao động, phát triển công nghệ, mở cửa tiếp cận các thị trường nước ngoài, tạo việc làm và nâng cao mức sống của người lao động. Trong năm 2005, FDI trên toàn thế giới đã tăng lên gần 1.000 tỷ USD. Các nước Đông Á được coi là khu vực thu hút được nhiều FDI, chiếm khoảng 1/5 tổng số vốn đầu tư vào khu vực. Tuy nhiên, cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt do các nước đều muốn có thêm các dự án đầu tư mới.

Chia sẻ quan điểm này, trong bài phát biểu với chủ đề “Thách thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài: Góc nhìn từ Thái Lan”, Thủ tướng Thái Lan Surayud Chulanont cho biết, Thái Lan sẽ theo đuổi các nguyên tắc như minh bạch, công lý, hiệu quả và sử dụng các nguồn lực kinh tế bền vững để thu hút FDI. Hiện nay, FDI vào Thái Lan vẫn tiếp tục gia tăng. Đây là cơ sở giúp Thái Lan xây dựng một xã hội vững mạnh dựa trên nền kinh tế tri thức.

Tại các phiên thảo luận, các đại biểu nhận định, trong khu vực Đông Nam Á, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ cùng với tiến trình mở cửa, thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư. Nhờ những cải cách tích cực và mạnh mẽ môi trường đầu tư, Việt Nam cũng đang nổi lên là một quốc gia thu hút được nhiều FDI trong thời gian qua, trong có những tập đoàn đầu tư lớn. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ mở ra những cơ hội mới cho các nhà đầu tư cũng như cho các doanh nghiệp và các hoạt động đầu tư ở Việt Nam tiếp tục gia tăng hơn nữa trong những năm tới.

Trong phiên họp buổi chiều, Hội nghị cũng đã nghe các tham luận về các chủ đề: “Duy trì cải cách kinh tế: Những thách thức đối với Chính phủ và doanh nghiệp” của Tổng thống Chile Michelle Bachelet và Thủ tướng New Zealand Helen Clark; “Những giải pháp hiện tại có phù hợp với những đe dọa an ninh kinh tế trong tương lai” của Tổng thống Indonesia Susilo Banbang Yudhoyono.

Tối cùng ngày, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức chiêu đãi trọng thể các đại biểu tham dự Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc Doanh nghiệp APEC.

DN bảo hiểm tài chính nước ngoài có nhiều cơ hội tại VN

Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề Hội nghị thượng đỉnh Tổng giám đốc doanh nghiệp APEC (APEC CEO Summit), Chủ tịch, Tổng Giám đốc Tập đoàn AIG (Mỹ) Martin Sullivan nhận định: Việt Nam là đất nước đang phát triển mạnh mẽ với những cam kết mở cửa thị trường tài chính bảo hiểm, tạo ra nhiều cơ hội cho các công ty nước ngoài trong lĩnh vực này.

Ông Martin Sullivan cho rằng, hơn 80 triệu người dân Việt Nam với điều kiện sống đang ngày càng nâng cao sẽ là những khách hàng tiềm năng của AIG cũng như các công ty khác.

“Được cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ (năm 2000) và phi nhân thọ tại Việt Nam (năm 2005), AIG hiện đang quan hệ rất tốt với thị trường Việt Nam, có hoạt động tại TP.HCM, Hà Nội; ký kết hợp đồng cho thuê máy bay với Vietnam Airlines, và đang rất hy vọng mở rộng hoạt động tại tất cả các tỉnh, thành phố với nhiều loại sản phẩm dịch vụ bảo hiểm”, ông Martin Sullivan nói.

Đối với ông Michael Smith, Tổng Giám đốc Ngân hàng Hong Kong và Thượng Hải (HSBC) khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, những cam kết mở cửa thị trường dịch vụ-tài chính ngân hàng của Việt Nam hiện nay là rất hợp lý, và HSBC đã chuẩn bị cho sự cạnh tranh trong bối cảnh này từ lâu, đang sẵn sàng triển khai các dịch vụ, sản phẩm mới tại Việt Nam.

Về việc các ngân hàng nước ngoài sẽ được mở ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam từ 1-4-2007, ông Michael Smith cho biết, HSBC sẽ chắc chắc đón bắt cơ hội này và dự tính tiếp tục phát triển thêm các chi nhánh tại Việt Nam để mở rộng hoạt động và phát triển các dịch vụ ngân hàng phục vụ các đối tượng khách hàng của Việt Nam cũng như các nhà đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài đang làm ăn tại Việt Nam. Đặc biệt, đối với các khách hàng cá nhân cũng như công ty của Việt Nam, HSBC sẽ triển khai các dịch vụ như cho vay tiêu dùng và một loạt các dịch vụ ngân hàng mà hiện nay thị trường Việt Nam chưa có.

Về thị trường chứng khoán Việt Nam, ông Michael Smith cho rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua đã có sự phát triển vượt bậc, tuy nhiên, quy mô thị trường cũng như lượng vốn hóa còn khiêm tốn so với các thị trường trong khu vực. Bởi vậy, cần phải tiếp tục tăng cường tính minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi để huy động được tối đã các nguồn vốn cả bên trong lẫn bên ngoài để phát triển nhanh thị trường này.

Đánh giá về đợt phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam vào tháng 11-2005, Tổng giám đốc Michael Smith khẳng định, thành công của Việt Nam trong việc này cho thấy sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với các sản phẩm của Việt Nam và dự đoán những đợt phát hành sắp tới của Việt Nam sẽ tiếp tục thành công.

Liên quan đến khả năng cạnh tranh của các tổ chức tài chính Việt Nam khi mở cửa trong lĩnh vực này, cả hai vị lãnh đạo của các tập đoàn tài chính ngân hàng lớn nói trên đều cho rằng không nên lo ngại về vấn đề này vì đó sẽ là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm về chuyên môn, về công nghệ cao mà các tập đoàn tài chính ngân hàng lớn mang đến Việt Nam.

Hội nghị Tổng giám đốc doanh nghiệp APEC: Sẽ đạt đẳng cấp cao

TT – Với tư cách chủ nhà của APEC 2006, VN cũng đồng thời đăng cai hội nghị các tổng giám đốc doanh nghiệp (CEO Summit). Đây là dịp hiếm hoi các nhân vật “có cỡ” của các tập đoàn hàng đầu thế giới cùng lúc tề tựu tại VN. Tuổi Trẻ trao đổi với ông Nguyễn Văn Thảo (ảnh), giám đốc điều hành hội nghị CEO Summit 2006.

* Hội nghị CEO năm nay do VN tổ chức có tầm vóc ra sao, thưa ông?

– Từ năm 1996 đến nay, hội nghị các CEO luôn được tổ chức bên lề cùng thời gian với hội nghị các nhà lãnh đạo APEC. Lần này, hội nghị sẽ diễn ra từ ngày 17 đến 19-11 tại phòng họp 3.800 chỗ của Trung tâm Hội nghị quốc gia (NCC).

Một số “đại gia” đến VN

– Hãng ôtô General Motors (Mỹ): doanh thu năm ngoái hơn 192 tỉ USD, hạng 5 thế giới trong top 500 công ty năm 2006 (do tạp chí Fortune xếp hạng theo doanh thu), cử mười đại diện của GM Daewoo, GM Trung Quốc và GM châu Á – Thái Bình Dương.

– Tập đoàn dầu khí Chevron (Mỹ): hạng 6, với doanh thu gần 190 tỉ USD, cử năm đại biểu.

– Hãng ôtô Toyota (Nhật): hạng 8, với doanh thu gần 186 tỉ USD, cử bốn đại biểu, trong đó có chủ tịch Toyota châu Á – Thái Bình Dương và một cố vấn cao cấp từ tổng hành dinh.

– Hãng ôtô Ford (Mỹ): hạng 9, với doanh thu hơn 177 tỉ USD, cử phó chủ tịch Liam Benham tới Hà Nội.

– Tập đoàn dầu khí ConocoPhillips (Mỹ): hạng 10 thế giới, với doanh thu hơn 166 tỉ USD, cử bốn đại biểu.

– Tập đoàn ngân hàng Citigroup: doanh thu hàng đầu thế giới trong lĩnh vực ngân hàng với 131 tỉ USD, cử 14 đại biểu.

– Tập đoàn ngân hàng HSBC: hạng 26 thế giới, với doanh thu hơn 93 tỉ USD, cử chủ tịch kiêm tổng giám đốc Michael Smith và sáu đại biểu khác.

– Tập đoàn Time-Warner (Mỹ): hạng 122, dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực giải trí với doanh thu hơn 43 tỉ USD, cử phó chủ tịch Laura Lane và hai đại biểu khác.

Chúng tôi chọn chủ đề “Hướng tới một cộng đồng, tạo cơ hội vì sự phát triển chung”. Sở dĩ chúng tôi chọn chủ đề này vì muốn nhấn mạnh tới hợp tác nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước trong khu vực. Dự kiến sẽ có mười nhà lãnh đạo xuất hiện tại các phiên đối thoại với các doanh nghiệp (DN).

Tổng số đại biểu đăng ký tham dự hội nghị CEO tới nay đã lên đến hơn 1.100 người, trong đó có hơn 700 DN nước ngoài. Đây là một kỷ lục của APEC bởi tất cả hội nghị CEO của các kỳ APEC trước chưa bao giờ vượt qua con số 1.000 đại biểu. Không chỉ là kỷ lục về số lượng, hội nghị CEO lần này còn đạt đẳng cấp cao bởi sự hiện diện của lãnh đạo các tập đoàn, các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới. Các công ty nằm trong danh sách 500 công ty hàng đầu thế giới như FedEx, Boeing, Citigroup, AIG, GM, DHL, Visa… đều cử các nhân vật rất quan trọng tới Hà Nội.

* Với sự hiện diện của các “đại gia” như vậy, Phòng Thương mại và công nghiệp VN có kế hoạch gì nhằm tranh thủ quảng bá về các cơ hội ở VN?

– Năm nào nước chủ nhà của hội nghị CEO cũng cố gắng đưa ra một nội dung thảo luận có lợi cho nền kinh tế nước mình. Năm nay VN đưa vào hội nghị một phiên thảo luận “VN – điểm đến đầu tư”, dự kiến kéo dài một tiếng rưỡi.

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy thời gian ngắn như vậy không thể đủ để “tiếp thị” VN nên đã phối hợp với Công ty VinaCapital tổ chức thêm diễn đàn “Kinh doanh với VN” vào ngày 16-11 cũng tại NCC. Một tin vui là hơn 80% đại biểu tới dự hội nghị CEO đã đăng ký tham dự diễn đàn này. Các DN của Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Mexico… tỏ ra đặc biệt quan tâm và đăng ký tham dự rất đông.

Xác định rằng đây là nơi hội tụ của các công ty lớn, các nhà lãnh đạo các tập đoàn khổng lồ nên chúng tôi xây dựng một chương trình thảo luận chú trọng vào tầm nhìn chiến lược. Mối quan tâm của các vị “đại gia” này sẽ không chỉ dừng lại ở những hợp đồng cụ thể, mà là những cơ hội của họ ở VN sau năm năm, mười năm.

Diễn đàn này đem đến cơ hội để khám phá không chỉ các chiến lược của Chính phủ VN trong quá trình hậu WTO, mà còn là để học hỏi kinh nghiệm của các nhà đầu tư nước ngoài tại VN và sự chuẩn bị cho tương lai của cộng đồng DN VN.

Xoay quanh chủ đề “VN – thành viên mới nhất của WTO”, chúng tôi mời bốn bộ trưởng của Bộ Kế hoạch – đầu tư, Bộ Công nghiệp, Bộ Thương mại và Bộ Tài chính tới thông báo cho các DN về lộ trình đổi mới nền kinh tế của VN cũng như các kế hoạch phát triển ngành tài chính, thương mại, dịch vụ… Các bộ trưởng sẽ chỉ có 10 phút mỗi người để phát biểu, còn lại là đối thoại trực tiếp với các DN.

Các đại biểu cũng sẽ được bố trí đi thăm các khu công nghiệp và tham dự một số tour du lịch.

CẨM HÀ thực hiện

Michael Ducker – chủ tịch toàn cầu Tập đoàn FedEx:

Có mặt tại Hà Nội lúc 22g30 ngày 13-11, có thể nói ông Michael Ducker là một trong những doanh nhân cấp cao có mặt sớm nhất tại VN để tham dự CEO Summit. Ảnh: VIÊT DŨNG

Tôi hết sức lạc quan về môi trường kinh doanh, đầu tư tại VN. Gia nhập WTO sẽ mở cánh cửa cho VN hòa nhập với cộng đồng thương mại quốc tế.

FedEx vô cùng tự hào là đã có mặt tại VN trong giai đoạn quan trọng này. Chắc chắn tới đây số lượng công ty nước ngoài đến đầu tư tại VN sẽ gia tăng nhanh chóng.

Gia nhập cộng đồng thương mại toàn cầu, VN sẽ có nhu cầu lớn về các dịch vụ chuyển phát nhanh và bưu chính viễn thông. FedEx đã sẵn sàng cho thời điểm đó. Hiện chúng tôi đang lên kế hoạch chi tiết để chuẩn bị đưa ra những dịch vụ mới tại thị trường VN.

Ông Mark Morrel Ware – quan chức cấp cao của Công ty dầu khí BP (Anh):

Mục tiêu chuyến đi VN của tôi lần này là để gặp gỡ càng nhiều đối tác kinh doanh càng tốt và thúc đẩy hoạt động của BP tại VN. Chúng tôi lấy làm háo hức trước những cơ hội kinh doanh tại VN trong thời gian tới. BP là nhà đầu tư năng động, do đó chúng tôi đang nhanh chóng xúc tiến kế hoạch đầu tư trị giá 2 tỉ bảng (3,8 tỉ USD) vào VN. Kế hoạch đầu tư này không gặp bất cứ trở ngại nào và chúng tôi đang thực hiện theo tiến trình phù hợp với yêu cầu của phía Chính phủ VN.

Phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Hội nghị cấp cao CEO APEC 2006:

Thắt chặt, hợp tác, duy trì đà tăng trưởng cao và bền vững

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Hội nghị cấp cao CEO APEC sáng nay – Ảnh: T.T.D

Tuổi trẻ Online xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch Hội nghị lãnh đạo kinh tế APEC – 14 Nguyễn Minh Triết tại phiên khai mạc Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc Doanh nghiệp APEC ngày 17-11-2006, tại Hà Nội.

>> Khai mạc Hội nghị các tổng giám đốc Doanh nghiệp APEC
>> Ghi nhanh từ VTV1
>> Hội nghị Tổng giám đốc doanh nghiệp APEC: Sẽ đạt đẳng cấp cao

Thưa các vị khách quý,

Thưa quý bà, quý ông,

Việt Nam có niềm vinh dự lớn lao được chọn làm nước chủ nhà của Hội nghị Cấp cao các Tổng giám đốc APEC nhân Năm APEC 2006. Sự có mặt đông đảo của quý vị, những người đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phồn vinh của khu vực là sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Cấp cao APEC lần thứ 14 cũng như đối với đất nước chúng tôi.

Với tư cách là Chủ tịch Hội nghị lãnh đạo Kinh tế APEC Hà-Nội, đồng thời nhân danh Nhà nước và nhân dân Việt Nam tôi xin nhiệt liệt chào mừng quý vị, chúc Cấp cao các Tổng giám đốc APEC thành công tốt đẹp!.

Thưa quý vị,

Trong những ngày này, cả thế giới đang hướng về Hà Nội, nơi đại diện cho 21 nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương đang tụ họp để bàn thảo những biện pháp quan trọng nhằm “Hướng tới một cộng đồng năng động, vì sự phát triển bền vững và thịnh vượng”. Điều đó cũng dễ hiểu vì với 2,6 tỷ dân, chiếm khoảng gần 60% sản lượng và gần 50% thương mại toàn cầu, sự phát triển của kinh tế khu vực chúng ta tác động sâu sắc, nếu như không nói là có ý nghĩa quyết định, tới nền kinh tế thế giới.

Chúng ta có đầy đủ căn cứ để hài lòng rằng, trong những năm qua, vượt qua cuộc khủng hoảng vào cuối thế kỷ trước, kinh tế châu Á – Thái Bình Dương chẳng những đã phục hồi, lấy lại được “phong độ” vốn có của mình mà còn tăng trưởng rất khả quan. Một trong những nhân tố tạo nên sự năng động ấy là sự hợp tác ngày càng gia tăng trong khuôn khổ APEC về thương mại, đầu tư, kinh tế kỹ thuật… mà các nhà doanh nghiệp đứng ở vị trí trung tâm.

Tuy nhiên, các nền kinh tế của chúng ta nói riêng và kinh tế thế giới nói chung cũng đang đứng trước không ít thách thức. Giá cả trên thị trường, nhất là giá dầu mỏ và nguyên liệu đang dao động thất thường ở mức cao, tình hình tài chính tiền tệ có nhiều bất ổn, cộng vào đó dịch bệnh, thiên tai trầm trọng xuất hiện ở nhiều nơi, sự căng thẳng về an ninh và xã hội nảy sinh ở một số khu vực, sự đổ vỡ của vòng đàm phán Doha đang đe dọa hệ thống thương mại đa phưong, sự phân hóa giàu, nghèo ngày càng sâu sắc…

Những thách thức ấy đòi hỏi tất cả chúng ta phải thắt chặt hợp tác, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để ứng phó, duy trì đà tăng trưởng cao và bền vững. Đó cũng là mục tiêu chủ yếu của chúng ta khi họp mặt tại Hà Nội!.

Theo hướng đó, các nhà lãnh đạo các nền kinh tế APEC sẽ thông qua Kế hoạch hành động Hà Nội thực hiện Lộ trình Busan nhằm tới mục tiêu Bogor, thúc đẩy quá trình tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng nhất cho các doanh nghiệp, tăng cường hợp tác về kỹ thuật, bảo đảm an sinh của người dân và an toàn cho kinh doanh, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, kể cả về kỹ thuật số, cải tiến mạnh mẽ cơ chế hợp tác của APEC theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động. Diễn đàn của chúng ta cũng sẽ nói lên tiếng nói của mình về nhu cẩu nối lại Vòng đàm phán Doha, thúc đẩy cơ chế thương mại đa phương trên phạm vi toàn cẩu.

Đó là những thông điệp mạnh mẽ phát đi từ Hà Nội vì sự phồn vinh không chỉ của các nền kinh tế chúng ta mà của cả thế giới. Theo tôi, đây không chỉ là thông điệp của các nhà lãnh đạo mà còn là thông điệp của cả các nhà doanh nghiệp. Các nhà lãnh đạo đã nghiêm túc nghiên cứu các khuyến nghị rất xây dựng của Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC (ABAC), và hôm nay mong muốn đối thoại và chăm chú lắng nghe ý kiến của Cấp cao các Tổng giám đốc. Đây là điều chúng tôi mong đợi từ sự kiện hiếm có này.

Thưa quý vị,

Qua không khí của thủ đô Hà Nội và ánh mắt của mọi người dân, quý vị có thể thấy nhân dân chúng tôi hân hoan đến thế nào khi được đón đông đảo khách quý thập phương đến với đất nước mình.

Người Việt Nam có câu “đất lành chim đậu”. Nhờ đường lối đổi mới về mọi mặt được phát động đúng vào 20 năm trước đây, đất nước chúng tôi đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm, xã hội ổn định, môi trường kinh doanh thông thoáng, quan hệ quốc tế ngày một mở rộng, ngày càng hội nhập sâu hơn với kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là ngày 7-11 vừa qua đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới. Đó là chưa kể những thuận lợi vốn có là vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên phong phú, thị trường đáng kể với gần 85 triệu người với thu nhập ngày một cao, lực lượng lao động dồi dào, siêng năng, có văn hóa, thích nghi nhanh với cái mới. Nói một cách khác, Việt Nam là một miếng đất lành, một đất nước năng động, thanh bình, cởi mở, một địa chỉ làm ăn, kinh doanh đầy tiềm năng, đang mở rộng cửa chào đón quý vị !.

Tôi mong quý vị sẽ đến kinh doanh, hợp tác với chúng tôi.

Chúc quý vị có những ngày thú vị và bổ ích ở Hà Nội, thành phố được công nhận là “thành phố vì hòa bình”. Chúc Cấp cao CEO thu nhiều kết quả tốt đẹp.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp các tập đoàn kinh tế lớn

Sáng 18-11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp ông Martin J. Sullivan – Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành tập đoàn AIG; Paul Jacob – Giám đốc điều hành công ty Qualcomn và ông Craig Mundie – Giám đốc nghiên cứu phát triển tập đoàn Microsoft nhân dịp sang dự Hội nghị các tổng giám đốc doanh nghiệp APEC (CEO Summit 2006) được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng các tập đoàn sang dự Hội nghị các tổng giám đốc doanh nghiệp APEC (CEO Summit 2006), chúc mừng các tập đoàn sang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và cảm ơn sự ủng hộ của các tập đoàn trong việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tác động tích cực trong việc Hoa Kỳ thông qua Qui chế quan hệ bình thường thương mại vĩnh viễn cho Việt Nam (PNTR).

Thủ tướng đánh giá: Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đang phát triển tốt đẹp, nhất là từ khi Hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký kết, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 10 tỷ USD trong năm 2006, tăng gấp 5 lần.

Hoa Kỳ là nước đứng thứ 6 về đầu tư tại Việt Nam. Tiềm năng phát triển hai nước còn rất lớn, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, dự kiến kim ngạch thương mại 2 chiều trong 5 năm tới đạt 17-18 tỷ USD và hy vọng Hoa Kỳ là nước đầu tư và cũng bạn hàng số 1 của Việt Nam.

Ngoài ra, các lĩnh vực hợp tác khác như: văn hóa, du lịch, phòng chống ma túy…hai nước đã triển khai có hiệu quả. Triển vọng đầu tư ở Việt Nam còn rất lớn, bởi vì Việt Nam đang là nước có nền kinh tế tăng trưởng cao ( trên 8%/năm), tình hình chính trị và an ninh xã hội ổn định, là nước có tỷ lệ dân số đông, trong đó 70% là dân số trẻ (dưới 30 tuổi) và có trình độ, Việt Nam đang chuyển đổi thành công nền kinh tế thị trường với chính sách minh bạch…

Thủ tướng cho rằng: Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn nhất quán hướng tới tương lai trong xây dựng quan hệ với Hoa Kỳ trên tất cả các lĩnh vực vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình ổn định ở khu vực và thế giới. Chính phủ Việt Nam khẳng định sẵn sàng hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài, luôn xem đây là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế và tạo moị điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp làm ăn kinh doanh có hiệu quả tại Việt Nam.

Các tập đoàn kinh tế của Hoa Kỳ đã cảm ơn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dành thời gian tiếp và cam kết sẽ đầu tư kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Ông Martin J.fullivan, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành tập đoàn AIG đồng thời là Chủ tịch Ủy ban thương mại Mỹ-ASEAN cho biết: Tập đoàn của ông hiện đang triển khai bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam và có quan hệ tốt với Vietnam Airlines (cho Vietnam Airlines thuê 6 máy bay boing 777) đang tạo nguồn việc làm và đầu tư mới cho Việt Nam. Mong muốn của Tập đoàn là phối hợp với Bộ Tài chính tăng cường đào tạo cho Việt Nam trong lĩnh vực tài chính bảo hiểm…

Tập đoàn này vừa dành 300 nghìn USD cho quĩ khuyến học nhằm tặng cho những học sinh Việt Nam mắc bệnh tim để chữa bệnh. Ông Martin J.Sullivan cho rằng: Mặc dù Hạ viện Hoa kỳ vẫn chưa thông qua PNTR cho Việt Nam nhưng ông tin tưởng họ sẽ lắng nghe Hội đồng doanh nghiệp Mỹ và hy vọng Qui chế được thông qua trước lễ Giáng sinh năm nay. Ông Craig Mundie- Giám đốc nghiên cứu và phát triển tập đoàn Microsoft cho biết đang hợp tác có hiệu quả tại Việt Nam và giúp đại học FPT giáo trình công nghệ đào tạo…

March 25, 2009

Interview of Ms. Ton Nu Thi Ninh, Vice Chairwoman of the Foreign Affairs Committee

Filed under: chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 11:58 pm
Tags: ,

Question 1: Viet Nam has recently turned down US Representative Loretta Sanchez’s visa application to visit Viet Nam. Why?
Answer:
In the past years, Viet Nam – US relations have witnessed encouraging advances in many fields and through different channels, including that between the US Congress and the Vietnamese National Assembly, as demonstrated by the increasing number of US Congressmen who visit Viet Nam and vice-versa. For the sake of promoting relations of cooperation based on an equal footing, mutual benefit and mutual respect, Viet Nam’s National Assembly extends consistent support to US – Viet Nam exchanges and dialogue conducted in an open spirit and with good will. In that spirit, Viet Nam has welcomed many US Congressional and staff delegations. Regrettably however, Ms. Loretta Sanchez altogether lacks objectivity and good will toward Viet Nam. The Vietnamese National Assembly and Vietnamese public opinion share the view that a visit to Viet Nam by Ms. Loretta Sanchez would not serve Viet Nam – US relations.
Question 2: Would it not help Representative Loretta Sanchez gain a better understanding of Viet Nam and its policies if she were allowed to visit Viet Nam?
Answer:
Ms. Loretta Sanchez has already had two opportunities to visit Viet Nam in 1999 and 2000. Differences of views on specific issues are a normal thing between nations and states and we have had frank and constructive discussions with US Congressional delegations, including some who in fact disagreed with us. However, Ms. Loretta Sanchez has never shown any constructive objectivity or any real interest in moving the bilateral relations forward both during those two visits and in her subsequent deeds and statements. Regrettably, we cannot but conclude that thus far, such a visit would not serve any useful purpose either for Viet Nam or for Viet Nam – US relations.
Question 3: Are you not worried that the decision not to grant an entry visa to Representative Loretta Sanchez might send a negative message about Viet Nam’s openness?
Answer:
I believe that most Americans wish to set the past aside and to develop relations with Southeast Asian nations including Viet Nam. That a handful of people keep trying to oppose such relations cannot and should not be allowed to undermine the broad interest of strengthening the equal and mutually beneficial bilateral cooperation. I am travelling in the US in December and would be prepared to meet with Representative Loretta Sanchez if she deemed it might help narrow down differences and find common ground.
VNA’s Interview with Madame Ton Nu Thi Ninh, Vice-chair, Foreign Affairs Committee, National Assembly of Vietnam on US Congresswoman Loretta Sanchez’s remarks with the press in Hanoi (6 April, 2007)
Question: What do you have to say about Congresswoman Loretta Sanchez’s harsh criticisms about democracy and human rights in Vietnam?
Answer: First, that Ms Loretta Sanchez has never come to Vietnam with an open and objective mind, seriously looking at the whole picture. She does not come to observe and discuss but to follow a set activist agenda, dictated by an extremist minority of her constituents in California, who are mired in the past. It is regrettable that instead of responding to the forward looking but less vocal majority of her constituents, she chooses to remain hostage to the backward looking minority. Her gloomy, alarmist pronouncements on the situation in Vietnam were to be expected.
On the other hand, Congresswoman Loretta Sanchez turns a blind eye to Vietnam’s own concerns in the area of human rights. She turned down or ignored requests by the Vietnam Veterans Association and the Association of Victims of Agent Orange/dioxin to meet with her on the latter issue or to visit the Friendship Village where victims of Agent Orange are taken care of.
Moreover, while in Vietnam her misplaced behaviour amounts to blatant interference in our internal affairs under the pretext of “bringing democracy” to Vietnam from outside. She is doing a disservice to US-Vietnam relations. We believe only in homegrown democracy, and the times are long past when developing nations supposedly needed to be enlightened and saved by developed nations. It is puzzling to us that elected officials like Ms Loretta Sanchez focus so much attention and devote such energy on human rights in Vietnam, i.e. abroad. Perhaps some of that attention and energy could be more constructively and appropriately directed closer to home, for example towards Guantanamo.
Question: Is the US Congressional delegation’s visit therefore unproductive?
Answer: I don’t think so. The delegation includes three other members of Congress from the Armed Services Committee, two of whom belong to the US-Vietnam Caucus in the House of Representatives. We had constructive discussions on the many aspects of the overall bilateral relationship, including on security and MIA cooperation as well as economic and trade ties. We welcome this first delegation from the new Congress, especially because it is the first delegation from the Armed Services Committee which we consider as a practical step to implement the joint undertaking adopted a year ago by the Speakers of the two countries to foster contacts and interaction between American and Vietnamese lawmakers in the interest of the expanding and deepening US-Vietnam relationship./.

Vietnam ambivalent on Le Duan’s legacy

Filed under: chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 11:57 pm
Tags: ,

By Quynh Le
BBC Vietnamese Service

Le Duan led the Communist Party for 26 years
Le Duan, who died 20 years ago this month, was arguably the second most powerful Vietnamese leader in the 20th century, although less known to the West than Ho Chi Minh or Vo Nguyen Giap.
As general secretary of the Vietnamese Communist Party for nearly three decades, he was one of the principal architects of the communist victory in the Vietnam War.
His post-war spell in power was characterised by crisis on the economic front, a strong pro-Soviet shift in foreign policy, and diplomatic isolation following Vietnam’s occupation of Cambodia.
His death in July 1986 opened the door for the enactment of doi moi (renovation) policy, which signalled the country’s departure from the old Stalinist-Maoist model.
Twenty years on, the memory of this enigmatic figure still creates ambivalence among the wider population.
Revolutionary
Born in 1907 in Quang Tri province, Le Duan was a founding member of the Indochinese Communist Party (ICP) in 1930.
His formative years were spent in colonial jails, which served to shape him into a determined and implacable revolutionary. Released in 1945 when Vietnam regained formal independence, Le Duan quickly rose through the party ranks.
In 1960 he was elected general secretary of the Communist Party, the post he would hold until his death.
From the outset, Le Duan believed that a policy of armed struggle in the South was the only way to achieve national unification.
Initially the party leadership refused to agree a shift to a militant policy. However, the anti-communist campaign in the South intensified, bringing heavy consequences for the revolutionary movement there.
As a result, Hanoi endorsed the policy of more aggressive action, agreeing to send troops and supplies to the South.
The decision – which was passed against the wishes of many in the party who thought the move was premature – reflected the prevailing pressures of southern revolutionary leaders, including Le Duan, who felt it was their duty to defeat the US and its South Vietnamese allies.
It was Le Duan’s first major victory within the party, and it would not be his last.
Pushed aside
Within the first few years of his role as general secretary, Le Duan became the most powerful figure in Hanoi, enlisting support from many allies.

Some felt Ho Chi Minh was marginalised by Le Duan
According to the biographer William Duiker, from the late 1950s Ho Chi Minh’s role was largely ceremonial, with him increasingly delegating authority to his senior colleagues in the party and the government.
Although Ho’s international prestige and experience meant that he became Hanoi’s chief diplomat, real power at home rested with Le Duan and his trusted deputies.
Other veterans of the revolution were pushed aside as well.
Pham Van Dong, prime minister for more than 30 years, is said to have remarked that he was probably the longest-serving prime minister in the world, but also the most powerless. Vo Nguyen Giap, the architect of the Dien Bien Phu victory over the French, was also sidelined.
By the late 1960s, Le Duan and his allies were able to establish ultimate authority in the party.
Ambivalence
There are different assessments of how that power was put to use.

After Le Duan’s death, the doi moi policy brought economic growth
The official rhetoric about Le Duan as “a bright example in revolutionary virtues for everyone to follow” does not satisfy those who blamed his clique’s disastrous policies for severe post-war conditions and the flight of hundreds of thousands of “boat people”.
Even the communist leaders did not find it easy to deal with the memory of Le Duan.
In the 1990s, a memoir written by Tran Quynh, former secretary for Le Duan and later vice-prime minister, was circulated underground in Hanoi.
In it, the author said that after Le Duan’s death, “many of the country’s leaders, who had applauded the general secretary and never dared to criticise him, now turn a blind eye to the smear campaign against Le Duan”.
There is a reason for such a level of ambivalence. Le Duan’s ambitious programmes intensified divisions within the leadership and alienated segments of the population.
During his tenure, Le Duan found enemies almost everywhere and power became centred in his hands and among few of his confidants.
The general feeling was that political power should have been more evenly shared.
It is no coincidence that since 1986, the country’s top three posts have been divided among the North, Central and South regions – although last month, for the first time since unification, two southerners were chosen to lead the country.
Despite, or perhaps because of, this ambivalence, Vietnam has not seen a critical reassessment of Le Duan and of the pre-reform decades.
The state, in seeking to maintain political stability, does not encourage it. Nor does it seem that at the moment there is strong social demand to bring the past into public debate.
At school, students are not taught about some uncomfortable episodes in the country’s recent history. But sooner or later, Vietnam will have to come to terms with the past by re-examining the enduring effects of Le Duan’s regime.

Ho Chi Minh under TIME magazine

Filed under: chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 11:57 pm
Tags: ,

Ho Chi Minh under TIME magazine
Born May 19, 1890 in Nghe An province
1930 Founds the Communist Party of Vietnam
1941 Starts Viet Minh independence movement
1954 Viet Minh defeat French at Dien Bien Phu; country divided after Geneva Accords, with Ho as President of the North
1956 War with South begins; U.S. sends troops in 1965 to fight Viet Cong insurgents
1969 Dies Sept. 2 in Hanoi, six years before North wins the war

Vietnam’s independence leader was a hero to his countrymen, a wise uncle to friends and a monster to enemies
By BUI TIN

Ho Chi Minh was a friend of my father’s. They lived side-by-side in the jungle during the resistance struggle. Over the years, they exchanged poems. I recall vividly the poem Ho dedicated to my father in 1948:

The mountain birds sing at my windows

The spring flowers flutter down on my inkwell

The panting horses bring news of victories

And my thoughts go to you with this poem

Isn’t it touching that Ho should write this in the jungle in the midst of the resistance? And when my father died in April 1955, it was Ho who came to console my family. He arranged the funeral and granted my father’s wish that he be buried not in the official cemetery, as befitting a former president of the National Assembly, but in our village. That’s the way Uncle Ho was.

Communist propaganda elevates Ho to the status of sage, national hero, saint. He has become the Strategist, the Theoretician, the Thinker, the Statesman, the Man of Culture, the Diplomat, the Poet, the Philosopher. All these names are accompanied with adjectives like “legendary” and “unparalleled.” He has become Ho the Luminary, Ho the Visionary. Peasants in the South build shrines to him. In the North old women bow before his altar, asking miracles for their suffering children.

Others–boat people, anti-communist fanatics, those who suffered in the re-education camps–see him in a negative light. They label him the enemy of the nation, the traitor who sold out Vietnam, the source of all misery.

What is the truth? It is difficult to know because Ho’s life is shrouded in shadows and ambiguities. Even the date of his birth has been obscured by the authorities, who believe this uncertainty will somehow add to his mystique. The official date is May 19, 1890, but archives in Paris and Moscow show six different dates from 1890 to 1904.

Similarly, Ho’s official biography says that he left Saigon in 1911 on a French boat in order to rescue the revolutionary cause, which had stalled. But recent scholarship indicates that his motivations may have been quite different. We now discover that Ho’s father, a mandarin in Binh Dinh province, had been cashiered by the French after beating a peasant to death while drunk. Shamed, he fled to the South to eke out a miserable living practicing traditional medicine. Ho was so shocked by this that he left school early to petition, in vain, to have his father reinstated. Ultimately Ho went abroad, where he worked as a cook, a street cleaner, a photographer. And only in Europe, in 1918, did he begin his political education, when he was welcomed into French socialist circles.

There is more ambiguity–more shadows and fog–in the official biographies regarding the period from 1934 to 1938. Recently opened archives in Moscow show that Ho was subjected to Stalinist discipline there. He was required to undergo re-education for failing to display the proper class spirit and identify with the international proletariat.

Ho himself aided in the creation of his myth. A booklet written in 1948 under the name of Tran Dan Tien describes President Ho as a modest man of the people who was nonetheless the father of the nation and a hero greater than Le Loi and other luminaries of Vietnamese history. When in 1990 I pointed out that Tran Dan Tien was a pseudonym used by Ho and thus Ho was praising himself, I was called a traitor and berated for attempting to tarnish the image of Uncle Ho.

Perhaps the most serious charge facing Ho is that he was responsible for starting a brutal and fratricidal war. The truth is that he did all he could to avoid war. The responsibility for the war falls to the French and to Charles de Gaulle, who wanted to re-establish the French Empire after World War II. Even the French communists rallied to support this policy. And what about the Americans? Truman abandoned Roosevelt’s anti-colonial policy and supported French imperial aspirations. And who undermined the 1954 Geneva Accords and prevented the general elections in 1956? U.S. officials, who also ignored letters from Ho pleading for support.

The policies of the Western democracies pushed Ho and his people into the open arms of the Soviet Union and China. He took their tanks, ships, airplanes and missiles, but he refused to allow foreign combat troops on Vietnamese soil. And he declined Russian and Chinese advice on how to conduct the war. The Russians did not want him to fight for the liberation of South Vietnam because they feared an escalation of the war with the U.S. might lead to international catastrophe. And the Chinese favored a long, patient guerrilla war. But Ho and his crowd decided to follow their independent course on the war and thus bear some responsibility for it.

Ho made other mistakes. It was he who wholeheartedly adopted a Stalinist political and economic model for Vietnam. Thus, there was the development of heavy industry, hasty collectivization, the elimination of the bourgeoisie, the starting of concentration camps and the mistreatment of intellectuals. All those policies led to disaster. Ho later took responsibility for them.

Had Ho lived to see the fall of Saigon and the liberation of the South, would things have worked out differently? Would the re-education camps have been avoided? Or the exodus of the boat people? Or the occupation of Cambodia and the war with China? Would Vietnam have suffered economic isolation during the 1980s? I think Ho would have avoided these disasters. He always cautioned people not to lose their heads after a victory. Had there been proper leadership, victory could have been managed more smoothly and the country more readily accepted into the international community.

In Hanoi these days the leadership is using Ho’s name to justify its policies, as if he were still alive. What would Ho have thought of doi moi, Hanoi’s half-baked economic reform plan? Would he have seen it as a forced marriage between socialism without soul and capitalism without backbone? Perhaps. The government should not use Uncle Ho, cold in his tomb, as a defense against the opposition forming around such people as the mathematician Phan Dinh Dieu or the physicist Nguyen Thanh Giang.

In times like these I have a great desire to approach Ho–our luminous Uncle Ho–to ask him to clarify his famous slogan: “Nothing is more precious than independence and freedom.” Does this mean the collective freedom of the kind being fostered by the regime’s intellectuals at the Marx-Lenin Institute in Hanoi and not individual and civic freedoms? If so, the heroic people of Vietnam are two centuries behind the times. Poor Vietnam! Poor old Uncle Ho!

Translated by Phuong Nga and Barry Hillenbrand. Bui Tin, a refugee living in France, is a former North Vietnamese colonel and deputy chief editor of Nhan Dan, the Communist Party newspaper

March 21, 2009

Những chi tiết “chết người” trong giao dịch quốc tế – Kỳ 1: Dùng luật ở phía đối tác nào? 110607

Filed under: chính sách,thông tin — ktetaichinh @ 6:44 pm
Tags: ,

Giáo sư Olivier Goarnisson (GS môn luật thương mại quốc tế khoá học MBA của học viện UBI (Bỉ)) bắt đầu bằng một câu hỏi tưởng chừng là đơn giản nhất: “Một công ty Việt Nam với một công ty Mỹ ký hợp đồng, trong điều khoản hợp đồng, nên ghi là khi phát sinh tranh chấp, thì phải tuân theo phán quyết của toà án ở đâu, theo bộ luật của nước nào?”. Giả định đưa ra là phía Việt Nam có quyền chọn điều khoản này.

Điều đơn giản nhất, mà có lẽ ai cũng nghĩ ra, là nếu mình có quyền lựa chọn, thì cách tốt nhất là chọn toà án Việt Nam, luật lệ Việt Nam. “Đá sân nhà” lúc nào cũng đầy lợi thế cơ mà. Vậy mà, ý kiến của giáo sư Olivier làm mọi người… chưng hửng: “Cách khôn ngoan nhất, là ghi vào hợp đồng điều khoản là phải tuân thủ pháp luật và phán quyết của toà án của quốc gia đối tác đang sinh sống”.

Ông giải thích: “Chúng ta giả định là cuộc làm ăn này phát sinh tranh chấp phải giải quyết tại toà. Nếu là toà án Việt Nam, thì sẽ là một kịch bản diễn tiến như sau: có thể chúng ta sẽ thắng kiện. Và toà phán quyết rằng đối tác phải bồi thường cho chúng ta một khoản tiền nào đó. Rồi sao nữa? Luật sư của bên Mỹ sẽ nói rằng thân chủ của anh ta không có tiền của hay tài sản gì ở Việt Nam cả. Và chúng ta sẽ phải cầm bản án sang Mỹ để yêu cầu đối tác thi hành. Lúc này thì bắt đầu phát sinh chuyện phức tạp.

Đối tác kia hoàn toàn có thể trả lời: “Tôi là công dân Mỹ, chịu quản lý của luật pháp Mỹ, tôi không có nghĩa vụ phải thi hành bản án của Việt Nam trừ khi có chỉ định của toà án Mỹ về chuyện này. Và bạn sẽ bắt đầu một cuộc hành trình mỏi mệt, tốn kém kinh khủng về thời gian, sức lực và tiền bạc để yêu cầu toà án Mỹ công nhận chuyện này, rồi mới bắt đầu thi hành án. Thời gian cho toàn bộ quá trình này chắc phải kéo dài ít nhất vài năm đằng đẵng…”.

Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm đồng ý: “Ông bà ta dạy từ lâu: nắm kẻ có tóc chứ ai đi nắm kẻ trọc đầu. Điều đó cũng có tác dụng ở chiều ngược lại. Giả sử ta chọn toà án phía Mỹ, mà ta bị thua trong cuộc tranh chấp này, thì họ cũng phải làm một lô thủ tục, chờ đợi và chờ đợi để có thể biến một phán quyết của toà án Mỹ có giá trị thi hành tại Việt Nam. Mà khi đó, có khi cái tranh chấp này không còn là chuyện lớn nữa”. Đây thực sự là một thủ thuật dựa vào sự hiểu biết.

T.Nguyên ghi

Làm quen với tập tính “thích kiện” của những đối tác nước ngoài
Ở nhiều quốc gia Âu Mỹ, việc kiện tụng và ra toà rất thường xuyên xảy ra. Điều này khác hẳn với các quốc gia châu Á. Chúng ta bị ảnh hưởng bởi yếu tố pháp trị của nền văn hoá phương Đông, nên thường rất ngại việc ra toà, còn với các đối tác nước ngoài, đó là… “một phần tất yếu của cuộc sống”. Điều cần ghi nhớ, là người chủ doanh nghiệp không cần xuất hiện trong các phiên toà, dù diễn ra ở bất cứ đâu. Đó là công việc của luật sư đại diện, nên không cần lo ngại việc phải tốn thời gian để đi tham dự các phiên toà nước ngoài nếu bất đắc dĩ xảy ra.

DN quốc doanh: Thắt túi tiền Nhà nước lại để phát triển (bài của Hải Yến) 112907

Filed under: chính sách,thông tin — ktetaichinh @ 6:18 pm
Tags: , ,

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), giải pháp tốt nhất là hạn chế nguồn cung cấp tài chính cho khu vực kinh tế này dưới mọi chính sách, hình thức hỗ trợ, phân bổ một cách đồng đều các cơ hội về đất đai, tín dụng, đào tạo… cho tất cả các thành phần kinh tế.

Kinh tế quốc doanh: Càng ưu đãi sẽ càng yếu kém

Đòi hỏi các DNNN cư xử như DN tư nhân phải chăng là duy ý chí, bởi sự khác nhau về bản chất khi người ta tiêu tiền của mình và tiêu tiền của người khác (ở đây là tiền của Nhà nước và là tiền thuế của dân). Chính vì vậy, chỉ có thể kỳ vọng vào việc sắp xếp lại khu vực kinh tế Nhà nước thông qua chủ trương cổ phần hóa, chỉ để lại trong một số lĩnh vực quan trọng với tỷ trọng hợp lý.

Được ưu đãi hơn hẳn về đất đai, nguồn vốn, chính sách tín dụng, chính sách đào tạo, nhưng các DNNN lại tỏ ra kém hiệu quả hơn hẳn so với các DN tư nhân, vốn ít, non trẻ và hạn chế về nhân lực.

Với các DN tư nhân, không bao giờ có chuyện bỏ hoang hơn 2 triệu m2 đất như ở TP.HCM mà chỉ riêng tiền cho thuê lại diện tích mặt bằng này cũng làm Nhà nước thất thu hàng chục tỷ đồng.

Hay cũng không bao giờ có chuyện đầu tư ào ạt những dây chuyền sản xuất không hiệu quả, nhập khẩu máy móc và thiết bị lạc hậu, tuyển dụng nhiều nhân lực làm phình to bộ máy phải trả lương mà công việc vẫn không hiệu quả, bổ nhiệm nhiều chức vụ chỉ nhằm mục đích giải quyết căng thẳng trong nội bộ.

Bởi vì DNNN không bao giờ phải đối mặt như những ông chủ tư nhân thực sự, chi tiêu thận trọng như đếm tiền trong túi. Và khi gặp khó khăn về tài chính, DNNN luôn tìm được giải pháp từ Ngân sách Nhà nước hay hệ thống ngân hàng cũng của quốc doanh. Thậm chí, trong những trường hợp xấu, người lãnh đạo ra đi, thuyên chuyển công tác, hay về hưu “hạ cánh trong an toàn” là để lại những món nợ khổng lồ cho xí nghiệp, nhà máy và tập thể.

Các nguồn lực và tài nguyên của Nhà nước là hạn hẹp và cả khu vực kinh tế quốc doanh lẫn khu vực kinh tế tư nhân đều có nhu cầu sử dụng. Nhưng khả năng và cơ hội được thụ hưởng lại không ngang bằng nhau. Các DNNN sẵn có những mối quan hệ đã được tạo dựng với các ngân hàng và chính quyền. Đó là chưa kể, bản thân tầm vóc của các DNNN cũng tạo ra nhiều ưu thế để thu hút các nguồn lực.

Chính vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNN không thể duy trì tư duy: Càng phải hỗ trợ cho nó nhiều hơn nữa để xây dựng nên những tập đoàn có tiềm lực lớn, để có khả năng cạnh tranh với DN nước ngoài đang chuẩn bị cho cuộc “xâm thực” thị trường nội địa.

Bài học rõ ràng nhất là công cuộc đầu tư cho ngành dầu khí quốc gia. Việt Nam và Malaysia cùng một xuất phát điểm khi đầu tư cho nền công nghiệp khí từ những năm 1974-1975, nhưng đến nay, Petronas đã được biết đến như một tập đoàn dầu khí quốc tế, có hoạt động kinh doanh với 31 quốc gia khác trên thế giới, có nhiều công trình thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài, trở thành thương hiệu biểu tượng cho Malaysia đối với các quốc gia khác. Còn Petro VN mặc dù cũng đã có những cố gắng nhưng vẫn nhỏ bé và thương hiệu vẫn không vượt ra được ngoài vùng lãnh thổ.

Hạn chế can thiệp Nhà nước

Một quan điểm hoàn toàn trái ngược là, để nâng cao năng lực cạnh tranh cho khu vực kinh tế quốc doanh, ngoài việc sắp xếp chuyển đổi các DNNN làm ăn yếu kém càng nhiều càng tốt thông qua tiến trình CPH, thì phải kiềm chế tối đa các chính sách hỗ trợ, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động cho vay tín dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh, mà như Kornais János, nhà kinh tế học của Hunggary thời kỳ XHCN đã chỉ ra: “Việc tiêu tiền của Nhà nước là việc mà xã hội phải kiểm soát chi li. Đừng đụng tay can thiệp vào khu vực kinh tế tư nhân, nhưng đồng thời cũng đừng nhúng tay can thiệp vào khu vực quốc doanh!”.

Mặc dù không ít người có thể giải thích tầm quan trọng của DNNN, ngoài kinh doanh còn phải gánh vác nhiệm vụ ổn định kinh tế xã hội. Ví dụ như sự lúng túng trong chuyện bình ổn giá xăng dầu vừa qua chẳng hạn, có DNNN chiếm hơn 60% thị phần trong nước nhưng khi giá dầu thế giới tăng cao, đã phải “gồng mình” chịu lỗ khi nhận lệnh kiềm chế không tăng giá xăng dầu trong nước. Và Nhà nước phải có cơ chế bù lỗ cho DN này sau đó để cân đối hoạt động kinh doanh sản xuất.

Giải pháp giá thị trường nửa vời này có thể coi là làm “phá sản” Nghị định 55 được ban hành trước đó không lâu, khi Bộ Tài chính và bộ Công thương đã quyết định cho phép DN được chủ động định giá, trong lộ trình phấn đấu để có cơ chế giá được điều tiết bởi thị trường.

Hậu quả là những mệnh lệnh hành chính mang tính tình thế cũng không thể cưỡng lại được xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường. Xăng dầu vẫn phải tăng giá, kéo việc hình thành một mặt bằng giá cả mới của tất cả các loại sản phẩm khác trên thị trường. Lương cán bộ công nhân viên dù có được điều chỉnh vẫn không theo kịp tốc độ tăng của giá cả. Đời sống người dân đi xuống rõ rệt, khi thậm chí bữa ăn hàng ngày cũng đã nghèo nàn đi vì áp lực giá cả.

Trên thực tế, Nhà nước nên làm tốt việc thu thuế, sử dụng Ngân sách để giải quyết các vấn đề của xã hội (như khi bị tác động bởi tăng giá trong trường hợp này) bằng các công cụ khác, để nâng cao đời sống người dân mà không phải bằng cách can thiệp vào hoạt động kinh doanh của DNNN để điều tiết thị trường.

Hải Yến

Next Page »

Blog at WordPress.com.